Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Điện gửi ông M.Hêtơrích

Gửi ông Hêtơrích thân mến,

Tôi vừa đọc lướt cuốn sách “Độc lập” của ông. Ngoài một vài điều cân nhắc, tôi phải nói rằng cuốn sách đó là khách quan và chân thật.

Khi nói về Việt Minh và sự hợp tác Pháp – Việt, ông viết:

“Dù muốn hay không muốn, dù có những sai sót… Việt Minh đang đại diện cho tâm hồn hiện tại của Đông Dương, của Việt Nam. Ngọn gió độc lập đang thổi trên toàn châu á…

“… Một nhân dân như nhân dân Việt Nam, nếu họ có phải học tất cả để có thể tự quản lý mình, họ cũng sẽ không bao giờ chịu rơi vào sự thác quản nữa.

“Và cuối cùng, lý tưởng của Việt Nam trước hết là sự thống nhất của Việt Nam, sự thống nhất của cả ba xứ Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ mà dân chúng ở đây đều cùng chung một nòi giống và nói chung một thứ tiếng…

“Chỉ có một cuộc trưng cầu ý kiến trung thực mới có thể giải quyết được vấn đề. Nếu việc thống nhất của Việt Nam được thực hiện, thì với sự thoả thuận, một sự thoả thuận thẳng thắn với họ, nền hoà bình ở Đông Dương sẽ có chỉ trong vài tuần lễ. Đó là sự hợp tác để tái thiết.

“Nếu bằng những thủ đoạn ít nhiều ranh mãnh, chúng ta định xoá bỏ và tách Nam Kỳ ra khỏi khối Việt Nam, chắc chắn chúng ta không bao giờ có được sự hợp tác của nhân dân Việt Nam. Điều đó có nghĩa rằng Hồ Chí Minh dù có cúi mình trước bạo lực, tình trạng mất ổn định vẫn sẽ xảy ra cho đến ngày mà những sự nổi dậy mới dẫn đến những hy sinh mới”.

(Thưa tác giả thân mến, tôi phải nói với ông rằng, tôi phải nói với nhân dân Pháp và nhân dân Việt Nam rằng Hồ Chí Minh không bao giờ chịu cúi mình trước bạo lực vì Hồ Chí Minh là một phần không thể chia cắt của nhân dân ông ta, ông ta mong muốn những gì mà nhân dân mong muốn, ông ta hành động điều mà cả nhân dân ông hành động).

“Là những kẻ chiến thắng hay mãi mãi là những người bạn, nước Pháp chọn điều nào?”.

Về điểm này, ông đã tiếp cận được chân lý. Và tôi tin chắc rằng chân lý sẽ chiến thắng.

Rất thân ái,
Hồ Chí Minh

Bút tích tiếng Pháp,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử – Bàn về kế hư thực

Muốn chiến đấu thắng lợi, bao giờ cũng phải chiếm địa vị chủ động. Xem xét nơi nào quân địch có thực lực mạnh để tránh và nơi nào quân địch yếu để tiến công, như thế là xem xét tình hình hư thực của bên địch. Biết rõ được thế hư thực của địch, mới có thể bày được mưu kế tiến thoái. Lúc nên tiến sẽ tiến, lúc nên thoái sẽ thoái là giữ được địa vị chủ động. Vậy kế hư thực là một kế rất thần diệu trong tất cả các binh pháp. Theo Tôn Tử, muốn thực hành kế hư thực, phải theo mấy nguyên tắc sau đây:

1) Tiến ra mặt trận trước quân địch để chiếm lấy những địa điểm quan trọng về chiến lược. Có như thế mới chuẩn bị được hoàn thiện, chỉ đợi quân địch tiến đến là đánh, không hốt hoảng, không hấp tấp, không nhọc mệt mấy mà thu công được nhiều. Chiếm lấy thế lợi, đợi quân địch tự dẫn mình lại làm mồi cho súng đạn, chứ không chịu hãm vào địa vị bị động để quân địch giầy xéo, đó là mưu trí của các bậc tướng giỏi.

2) Dử quân địch đến chỗ mình định đánh. – Làm cho quân địch tưởng lầm chỗ mình định đánh rồi kéo quân đến, nghĩa là làm cho quân địch tưởng hư là thực, hoặc làm cho quân địch thấy địa điểm mình đóng quân rất kiên cố, không dám tiến quân đến, sợ bị hại, nghĩa là làm cho quân địch tưởng thực là hư.

3) Khi quân địch đã chiếm được địa thế có lợi rồi và đã chuẩn bị sẵn sàng để chiến đấu thì phải lợi dụng mọi phương pháp làm cho quân địch đuổi đánh mải miết đến nỗi quân hao, lực kiệt.

4) Thấy lương thực của quân địch sung túc, phải dùng thủ đoạn cắt đứt đường vận tải hoặc đốt huỷ kho tàng, khiến địch quân bị hãm vào cảnh đói rét, mất nhuệ khí chiến đấu.

5) Quân địch đương ở yên, mình tìm cách quấy rối hoặc đánh úp.

6) Quân địch dự đoán ta sẽ đánh mặt nào, tất nhiên đem quân phòng bị, vậy ta phải phái một tiểu độ 1 ra mặt đó để tỏ cho địch biết ta định đánh thật, rồi sẽ phái đại đội 2 tiến đánh vào mặt nào mà quân địch không phòng ngự.

7) Trong lúc địch đương mạnh, hành quân phải hết sức khéo, tuy đi đường xa mà không cảm thấy nhọc mệt, nguy hiểm như đi vào những chỗ không có bóng quân địch hoặc quân địch không đủ sức chống cự.

8) Đã tiến đánh nơi nào là có thể giữ ngay được nơi ấy, nghĩa là phải đánh vào chỗ địch không phòng giữ hoặc sự phòng giữ rất yếu ớt.

9) Đứng vào thế thủ, thời phải giữ thật chắc, nghĩa là giữ nơi nào địch không tiến đánh được hoặc tiến đánh mà không sao chiếm nổi, như vừa đánh vừa giữ, hoặc tìm cách lừa quân địch để mà giữ hoặc đánh nhau ở xa nơi phòng ngự.

Trên những trận địa chiến ngày nay, người ta đã áp dụng phép công thủ của Tôn Tử rất được công hiệu. Muốn đánh chiếm những nơi có nhiều pháo đài kiên cố, trước hết dùng nhiều súng đại bác hoặc phái nhiều phi cơ để bắn phá thật dữ dội làm huỷ hoại những kiến trúc về quân sự; sau đó sẽ phái xe tǎng che chở cho bộ binh tiến lên và đồng thời vẫn bắn phá, vẫn ném bom để ngǎn trở quân địch không thể đưa viện binh đến được. Như thế, đã định đánh nơi nào là có thể chiếm được. Lại muốn giữ vững một nơi nào, phải xây dựng những cơ quan phòng ngự thật kiên cố, nhất là phải dự bị một số lớn phi cơ, và đại bác để chống với phi cơ và đại bác của bên địch.

Nói tóm lại, kế hư thực của Tôn Tử rất mầu nhiệm. Muốn đánh được thắng lợi, hành động phải bí mật, đừng để cho quân địch biết mà đề phòng. Trái lại, muốn phòng giữ chắc chắn đừng nên để lộ cơ mưu, hư thực của mình, khiến cho quân địch không biết đánh vào nơi nào, đừng nơi nào. Thi hành đúng kế hư, thực, thắng lợi sẽ cầm chắc trong tay.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 358, ngày 27-9-1946.
cpv.org.vn

 

 

 

Binh pháp Tôn Tử – Phương pháp đánh giữ và tiến thoái

Phương pháp dụng binh là phương pháp thiên biến vạn hoá. Tuỳ theo thời cơ, theo địa điểm, theo tình hình bên địch, người làm tướng lúc bày thế trận này, lúc bày thế trận khác. Mỗi lần chiến đấu lại có một thế trận riêng. Tôn Tử đã ví tính chất của mỗi thế trận như tính chất của nước. Nước lúc nào cũng chảy xuống chỗ trũng chứ không thể chảy ngược lên cao được. Dụng binh bao giờ cũng đánh chỗ yếu mà tránh chỗ mạnh của quân địch. Như vậy, cần phải biết rõ tình hình hư thực của quân địch. Để biết tình hình ấy, Tôn Tử có bày ra bốn phương pháp sau đây:

1) Dò xét hành động của bên địch để có thể đoán trước được thế lợi hại, thế hơn thua của mình đối với địch.

2) Khi sắp tiến gần quân địch, phải trinh sát những mưu chước đối phó của chúng.

3) Dò xét cẩn thận địa hình để phân biệt nơi nào tiến quân đến sẽ có lợi, nơi nào mình xông vào sẽ bị bại.

4) Muốn chắc chắn hơn nữa, nên cùng với quân địch giao tranh những trận nhỏ để thử sức của đôi bên.

Ngoài những phương pháp trên, Tôn Tử khuyên nên dò xét để biết trước ngày nào quân địch sẽ tiến đánh và sẽ đánh vào nơi nào. Biết trước được như vậy, mình mới có thể chuẩn bị sẵn sàng và đầy đủ được. Như biết trước quân địch thế nào cũng phải tiến qua đường hẻm, mình sẽ phái quân đi mai phục, đợi địch tiến đến, sẽ đổ lên đánh úp.

Biết rõ được hư thực của bên địch, mới có thể quyết định được nên đánh hay nên giữ, nên tiến hay nên thoái.

Theo phương pháp tiến thoái của Tôn Tử thì đã tiến phải tiến vào nơi nào quân địch không thể chống cự nổi, nghĩa là nơi nào chúng không phòng bị, hoặc có phòng bị nhưng sơ sài, không có thực lực gì.

Nhất là càng đánh bất ngờ được chừng nào, càng thu được nhiều thắng lợi chừng nấy. Biết lợi dụng lúc quân địch có nhiều nhược điểm mà tiến đánh, chẳng những đánh bại được chúng mà còn bảo toàn được thực lực của mình. Khi dùng chiến lược bao vây, cũng phải đánh vào một nơi nào làm cho quân địch phải rút quân chống đỡ mặt này thì mặt khác bỏ hở lại bị mình tấn công thêm. Đồng thời, vòng vây mỗi lúc càng thắt chặt lại, dù quân địch muốn rút lui cũng không thể được.

Lại khi ta muốn đánh nơi nào của quân địch, nhưng chúng cứ cố thủ không chịu đánh, ta phải phái quân tiến đánh nơi xung yếu khác của chúng. Và khi ta không muốn cùng với quân địch giao chiến mà chỉ muốn giữ thế thủ, ta phải bố trí nơi ta định giữ một cách khôn khéo, làm cho chúng tưởng như một nơi nguy hiểm, không dám tiến vào sợ bị mắc bẫy, như kế “không thành” – thành bỏ không nhưng vẫn làm ra dạng giữ gìn nghiêm mật – của Gia Cát dùng để đối phó với Tư Mã ý . Đó là kế hoạch làm cho địch tưởng hư là thực.

Dùng những nơi phòng ngự giả dối như thế, địch không biết đâu mà phán đoán, sẽ chia sẻ lực lượng đi nhiều nơi khác, trong khi mình tập trung lực lượng lại để tiến công chúng ở một nơi xung yếu nhất.

Nhất là không để cho quân địch biết nơi mình định đánh. Chúng phải chia quân đi đề phòng mọi chỗ. Do đó, lực lượng của chúng bị chia sẻ không thể địch nổi với quân mình nhiều hơn.

Còn chiến lược rút lui là chiến lược bất đắc dĩ. Nhưng khi binh sĩ đã tin tưởng ở người chỉ huy thì rút lui cũng không hại gì đến tinh thần chiến đấu.

Khi định kế hoạch rút lui, phải bí mật dự bị, phải rút lui nhanh chóng và có trật tự. Không nên mang theo nhiều lừa, ngựa, xe cộ và những vật cồng kềnh. Nhưng thế nào cũng phải phái một bộ đội nhỏ cầm cự với quân địch đuổi theo để đại đội kịp thời giờ rút lui.

Ngày nay, khi rút lui, người ta có tàu bay trên không hộ vệ, có xe tǎng, xe thiết giáp chống đỡ. Lúc bị đuổi gấp, người ta sẽ đặt chướng ngại vật hoặc phá đường sá, cầu cống sau khi đã qua rồi, để ngǎn cản quân địch không thể tiến nhanh được. Người ta còn hiệu triệu dân chúng thực hành kế hoạch vườn không nhà trống, hoặc chính sách tiêu thổ.

Nói tóm lại, muốn được thắng trận, phương pháp đánh giữ và tiến thoái phải luôn luôn biến đổi hợp với thời cơ, hợp với tình hình trên mặt trận. Nhanh như chớp, biến hóa như thần, đó là bí quyết của phép dụng binh.

Q.Th. thuật

Báo Cứu quốc, số 365,
ngày 4-10-1946.
cpv.org.vn

 

 

 

Chiến tranh tư tưởng

Như chúng ta đã thấy, chiến tranh ngày nay không riêng gì về mặt quân sự, mà cả về chính trị, kinh tế, vǎn hoá nữa. Chiến tranh về mặt vǎn hoá hay tư tưởng so với những mặt khác cũng không kém quan trọng. Mục đích của nó là làm ly gián quân địch, làm nhụt chí chiến đấu của bên địch.

Theo Tôn Tử, muốn đạt mục đích ấy phải thi hành những thủ đoạn sau đây ở trên mặt trận:

1- Tìm cách chia rẽ quân địch ở mặt trước và ở mặt sau, khiến cho chúng không thể liên lạc được với nhau, rồi tiến quân uy hiếp tả dực hay hữu dực của chúng.

2- Làm cho quân chủ lực và các bộ đội lẻ tẻ khác của địch không cùng nhau hợp sức chống giữ với quân mình được.

3- Phái gián điệp phao ngôn khiến tinh thần của tướng sĩ bên địch hoang mang.

4- Làm cho quân địch nghi kỵ nhau, trên không chỉ huy được dưới, dưới không chịu nghe lệnh trên.

5- Gieo sự chán ghét chiến tranh trong quân địch, khiến binh sĩ của chúng không chịu tập trung để ra chiến trường.

6- Làm cho bộ đội của địch đã bị thua chạy không muốn trở lại bộ đội cũ mà chỉ tìm đường trốn thoát.

Nói tóm lại, phải vận dụng phương pháp tuyên truyền cho địch quân trước sau không đồng lòng, trên dưới không bảo được nhau, không muốn tập trung, không cứu giúp nhau trong khi nguy hiểm.

Ngày nay về quân sự, người ta coi phương pháp tuyên truyền là một lợi khí sắc bén nhất. Về tính chất có hai cách tuyên truyền: Tuyên truyền để tấn công, tuyên truyền để phòng ngự. Về đối tượng, người ta chú trọng tuyên truyền nước địch, nước trung lập và dân chúng nước mình.

1/ Đối với nước địch, phải tuyên truyền cho dân chúng hoang mang, rối loạn, mất hẳn nhuệ khí, không tin tưởng ở sự thắng trận. Ngoài ra lại tìm hết cách khiêu khích quân địch, hoặc xúi giục dân chúng nổi lên bạo động để phá hoại những tổ chức kinh tế, quân sự, chính trị, vǎn hoá của chúng.

2/ Đối với những nước trung lập, làm cho họ có thiện cảm với mình mà ác cảm với nước địch để nếu họ không về phe với mình đánh lại quân địch thì ít ra họ cũng đứng trung lập.

3/ Đối với dân chúng nước mình, làm cho họ nổi lòng cǎm hờn quân địch, quyết tâm chiến đấu, tin tưởng ở thắng lợi và trên dưới một lòng thề không đội giời chung với quân địch.

Đối với địch, tuyên truyền thành công, có thể không phải đánh mà khuất phục được họ. Trong trận Âu chiến, dân chúng Đức bị tuyên truyền rất mãnh liệt. Mỗi ngày, các nước Hiệp ước cho rải 20 vạn truyền đơn trên mặt trận. Đồng thời, nước Mỹ lại đưa ra khẩu hiệu: “Dân tộc tự quyết” làm cho các nước trung lập kéo về phe Hiệp ước quốc rất đông. Gần đây, Hồng quân Nga ngoài việc tuyên truyền lại còn chú trọng đến việc phiến động 1 nữa, vì tuyên truyền chỉ có mục đích làm cho một số ít người hiểu rõ rệt một tư tưởng gì, còn phiến động là để kêu gọi và thúc đẩy đại đa số dân chúng.

Muốn phiến động dân chúng phải chú trọng mấy điểm sau đây:

1/ Phải lợi dụng những điểm khác nhau giữa quân ta và quân địch.

2/ Chú ý đến đời sống thực tế của quân địch.

3/ Rải truyền đơn viết bằng chữ của nước địch, nhưng không nên rải vào lúc hai bên đương đánh nhau, bom đạn đương nổ, vì như vậy chỉ mua ác cảm với dân chúng mà thôi.

4/ Gửi thư cho binh sĩ bên địch. Trong thư, gửi kèm cả những dụng phẩm hàng ngày nữa hoặc dùng phi cơ, ném xuống mặt trận bên địch, diêm thuốc, hay giấy bút.

5/ Ném xuống cho binh sĩ bên địch những giấy chứng minh hay giấy thông hành. Họ nhặt được, họ sẽ nảy ra ý bỏ mặt trận để đi nơi khác.

6/ Điều tra những sự bất bình giữa các tướng sĩ bên địch rồi lợi dụng những điểm bất bình ấy để ly gián họ.

7/ Dò xét số binh lính bên địch đảo ngũ hay vẩn vơ ở hậu phương có nhiều hay ít rồi tìm cách dẫn dụ họ.

8/ Lợi dụng ngay những dân chúng ở gần mặt trận để làm việc tuyên truyền và phiến động.

9/ Nếu ở hậu phương của địch, thấy có nhiều phần tử bất bình với chính phủ nước họ, phải cấp tiền và vũ khí cho họ, rồi xúi giục họ nổi loạn chống chính phủ.

Nói tóm lại, về quân sự, không từ một thủ đoạn nào là không làm miễn có lợi cho mình là được.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 372,
ngày 11-10-1946.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của các nhà báo Việt Nam, Pháp và Trung Hoa

Hỏi – Cảm tưởng của Chủ tịch khi ở Pháp?

Trả lời – Cảm tưởng rất tốt. Chúng tôi đi đến đâu, bất kỳ người giới nào, từ chính trị, vǎn hoá cho đến bình dân, đàn ông, đàn bà, thanh niên và nhi đồng đều tỏ ra có một cảm tình nồng hậu. Một cảm tưởng chung nữa của tôi là thấy: may mắn cho dân Pháp và cả thế giới nữa, thành phố Ba Lê, cái kho tàng vǎn hoá của nhân loại ấy, bị tàn phá rất ít. Trong hồi chiến tranh, nước Pháp cũng bị thiệt hại nhiều về người và vật liệu, nhưng bây giờ đã bắt đầu kiến thiết và dân chúng Pháp rất nỗ lực, tôi tin rằng chẳng bao lâu nữa sẽ được như cũ. Về tinh thần, phần đông dân chúng Pháp có thể nói là đến 90% đều tỏ ra muốn hoà bình và dân chủ, còn 10% kia tôi không gặp nên không được biết. Đối với nước Việt Nam, đa số dân Pháp cũng tỏ ra có một cảm tình, rất nghiêng về nền độc lập của ta. Lý lẽ của họ rất đơn giản nhưng cũng rất sâu xa: nước Pháp muốn dân chủ, không có lý gì lại muốn cho nước khác và nước Việt Nam không dân chủ, nước Pháp muốn độc lập và suốt bốn nǎm trời đã phấn đấu và hy sinh nhiều để cố giữ lấy độc lập, không có lý gì lại muốn nước Việt Nam không được độc lập. Trong những lời người Pháp nói với chúng tôi, đều thấy nói như vậy. Nhất là trong khi nói chuyện, chúng tôi bảo rằng: dân Việt Nam đòi độc lập không phải là muốn đoạn tuyệt với Pháp mà trái lại muốn độc lập ở trong khuôn khổ khối Liên hiệp Pháp, thì bà con càng tán thành hơn nữa.

Hỏi – Vì cớ gì mà Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp đã ký bản Tạm ước?

Trả lời – Rất dễ hiểu. Một là cả hai bên đều muốn cho người Pháp và người Việt được làm ǎn dễ dàng. Hai là người Pháp và người Việt đều nghĩ rằng hai dân tộc đã khó chịu với nhau khá lâu rồi, giờ là lúc nên đi đến chỗ bắt tay nhau. Ba là Hội nghị Phôngtennơblô chưa kết thúc, còn cần phải tiếp tục, bản Tạm ước ấy chính là để làm công việc hội nghị sau đây được dễ dàng.

Hỏi – Chủ tịch ở Pháp, tình hình tiếp xúc với người ngoại quốc thế nào?

Trả lời – ở Pháp, ở Ba Lê, thường có nhiều người ngoại quốc. Nhất là lúc này, Hội nghị hoà bình đương họp ở Luýchxǎmbua, nên số người ngoại quốc càng đông. Vì vậy, tôi được gặp nhiều. Người về giới nào cũng có, phần nhiều trong giới vǎn hoá, chính trị và ngôn luận. Họ đều hỏi thǎm tin tức về dân Việt Nam. Tôi cũng hỏi lại tin tức dân các nước họ. Nói tóm lại, các người tôi gặp đều tỏ tình thân thiện với tôi và cố nhiên, tôi cũng tỏ tình thân thiện với họ.

Hỏi – Cảm tưởng của Chủ tịch khi về đến nước nhà?

Trả lời – Tốt. Một là vì mùa màng được, dân sự khỏi lo đói. Hai là trông thấy dân ai cũng chǎm làm, chǎm học. Ba là thấy cảm tình giữa dân Việt Nam với người Pháp và các người ngoại quốc ở đây càng ngày càng tiến bộ. Bốn là thấy không khí ở đây cũng như ở Pháp sẵn sàng có thể đưa đến một sự cộng tác bình đẳng và thành thật.

Hỏi – Ngoại giao và quốc sách Việt Nam từ đây về sau có gì biến đổi không?

Trả lời – Có thể trả lời là không biến đổi gì hết. Về nội chính, Chính phủ từ trước tới giờ vẫn chủ trương đoàn kết để xây dựng nước Việt Nam mới. Về ngoại giao, Chính phủ quyết đòi độc lập, quyết đòi thống nhất, nhưng quyết định ở trong khối Liên hiệp Pháp; đối với các hữu bang, từ trước đến giờ, vẫn theo một con đường thân thiện. Trước thế thì nay vẫn thế, không thay đổi.

Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về vấn đề có quan hệ trực tiếp với báo giới hiện thời:

Tờ báo chỉ là giấy trắng mực đen mà thôi. Nhưng với giấy trắng mực đen ấy, người ta có thể viết những bức tối hậu thư, người ta có thể viết những bức thư yêu đương. Từ trước đến giờ, báo chí Việt- Pháp đều chỉ dùng giấy để viết những “tối hậu thư” nhiều hơn. Bây giờ về sau, chúng ta phải dùng giấy ấy để viết những bức thư thân ái.

Một tờ báo có ảnh hưởng trong dân chúng rất mạnh, có thể giúp Chính phủ rất nhiều. Báo chí Việt – Pháp bây giờ có thể giúp nhiều về chỗ làm dễ dàng mối quan hệ giữa hai dân tộc. Bởi vậy nên trong bản Tạm ước, hai Chính phủ rất trọng thị địa vị của nhà báo, đã có một khoản riêng về các nhà báo. Cố nhiên, chúng ta tôn trọng tự do của báo chí, nhất là hai nước tôn trọng dân chủ như nước Pháp và nước Việt Nam. Vì vậy, hai Chính phủ có hứa với nhau rằng từ đây về sau, các báo hoặc của Chính phủ, hoặc của dân chúng, sẽ thôi chửi nhau. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Lời nói chẳng mất tiền mua, liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau”.

Không phải chúng tôi có cái không tưởng rằng: báo chí hai bên sẽ luôn luôn gửi thư yêu đương cho nhau. Nhưng bao giờ một bên nào có sự khuyết điểm, bên kia phải phê bình, thì cũng sẽ phải đứng trên lập trường hữu nghị mà phê bình cho bên kia sửa lại khuyết điểm. Làm như vậy, có ích cho cả hai bên cùng tiến bộ. Nếu không, cùng việc ấy, mà lại thêu dệt thêm lên, dùng những lời vô phép, thô bỉ, thì bên kia thấy vậy chưa biết phải trái ra sao hãy bất bình đã và không ngần ngại gì mà không đối phó lại cùng một cách.

Kết luận, hai Chính phủ hai bên cùng hy vọng rằng: Báo chí và truyền thanh hai bên sẽ giúp cho hai dân tộc càng ngày càng tiến tới chỗ hiểu biết nhau, đến một cảm tình tốt đẹp, nghĩa là, tóm lại, các báo chí Việt cũng như Pháp sẽ đừng dùng những lời lẽ quá đáng, những tin tức không đúng nữa.

Sau cùng, chúng tôi cảm ơn tất cả các anh em báo giới và hy vọng thêm rằng không những các báo chí giúp cho sự gây nên một cảm tình giữa các dân tộc mà còn ngay trong báo giới nữa cũng gây lấy một cảm tình hữu nghị.

Trả lời ngày 22-10-1946.

Báo Cứu quốc, số 384,
ngày 23-10-1946.
cpv.org.vn

Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về

Hỡi đồng bào toàn quốc,

Tôi đi Pháp đã hơn 4 tháng. Hôm nay về đến nước nhà. Trông thấy Tổ quốc, trông thấy đồng bào, lòng tôi thật là vui vẻ. Tôi có mấy lời báo cáo để đồng bào đều hay:

1. Trong lúc tôi đi Pháp, lúc tôi ở Pháp, và lúc tôi từ Pháp về, vì muốn tỏ lòng cộng tác với Việt Nam, Chính phủ Pháp tiếp đãi tôi một cách rất long trọng. Vì thật lòng thân thiện với nhân dân ta, nhân dân Pháp đối với tôi một cách rất thân mật.

Tôi xin thay mặt đồng bào, mà trân trọng cảm tạ Chính phủ và nhân dân Pháp.

Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh quyền Chủ tịch, sự sǎn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khǎn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ.

Tôi xin cảm ơn Chính phủ, Quốc hội và toàn thể đồng bào.

Tôi cũng luôn luôn nhớ đến kiều bào ở hải ngoại, đã ra sức hy sinh phấn đấu, dù cực khổ bao nhiêu cũng một lòng trung thành với Tổ quốc.

Nhờ sự hiểu biết sáng suốt của Tướng Valuy, Tướng Moóclie và người Pháp ở Bắc và Trung Bộ, gần đây những việc khó khǎn giữa người Việt và người Pháp phần nhiều dàn xếp được.

Tôi cảm ơn Tướng Valuy, Tướng Moóclie và quân dân Pháp. Mong rằng từ nay sự cộng tác giữa hai dân tộc mật thiết hơn nữa.

Tôi không thể không nhớ đến bà con Hoa kiều và kiều dân các nước, ai cũng nhớ câu “Huynh đệ chi bang, đồng chu cộng tế” (1) .

Lúc tôi đi qua các nơi, gặp anh em người Trung Hoa và người ấn Độ, người Mỹ, người Anh, thì luôn luôn tay bắt mặt mừng rất là thân thiện. Bây giờ về đến đất nước Việt Nam cũng thế.

2. Tôi qua Pháp, đáp lại thịnh tình của Chính phủ Pháp đã mời tôi, mục đích cốt để giải quyết vấn đề Việt Nam độc lập, cùng Trung, Nam, Bắc thống nhất. Vì hoàn cảnh hiện thời ở nước Pháp, mà hai vấn đề chưa giải quyết được, còn phải chờ. Nhưng không trước thì sau, tôi dám quyết rằng: Việt Nam nhất định độc lập, Trung, Nam, Bắc nhất định thống nhất.

*

*      *

Thế thì trong mấy tháng giời ở Pháp, tôi và phái đoàn đã làm được việc gì ?

1. Chúng tôi đã đem lá quốc kỳ Việt Nam qua đến nước Pháp. Lá quốc kỳ ta đã được Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp trọng thị, đã được người các nước trọng thị.

2. Chúng tôi đã làm cho Chính phủ và nhân dân Pháp chú ý và hiểu rõ vấn đề Việt Nam hơn trước. Mà thế giới cũng chú ý và hiểu rõ vấn đề Việt Nam hơn trước.

3. Chúng tôi đã làm cho số đông người Pháp trở nên bạn hữu của dân Việt Nam, hết sức tán thành Việt Nam độc lập và Việt – Pháp cộng tác một cách thật thà, bình đẳng.

4. Chúng tôi đã làm cho địa vị các đoàn thể thanh niên, phụ nữ và lao động Việt Nam được nâng cao thêm, vì các tổ chức thế giới đã công nhận các đoàn thể ta là hội viên.

5. Hội nghị Việt – Pháp chưa kết thúc, tháng Giêng nǎm sau sẽ tiếp tục. Nhưng Thoả hiệp tạm thời 14-9, một là làm cho hai bên Việt – Pháp dễ làm ǎn, hai là dọn đường cho cuộc hội nghị sau này tiến hành được thân thiện.

*

*      *

Bây giờ cho đến tháng Giêng, chúng ta phải làm gì ?

1. Chính phủ và nhân dân phải đồng tâm nhất trí, ra sức tổ chức, ra sức công tác, đoàn kết hơn nữa, mở mang kinh tế, xây dựng nước nhà, thực hành đời sống mới khắp mọi phương diện. Bất kỳ gái, trai, già, trẻ, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, toàn thể quốc dân phải ra sức làm việc. Làm cho Chính phủ và nhân dân Pháp trông thấy, làm cho toàn thế giới trông thấy rằng: dân Việt Nam ta đã đủ tư cách độc lập, tự do, không thừa nhận ta tự do độc lập thì không được.

2. Người Pháp ở Pháp đối với ta rất thân thiện, thì người Việt ở Việt đối với người Pháp cũng nên thân thiện.

Đối với quân đội Pháp ta phải lịch sự.

Đối với kiều dân Pháp ta phải ôn hoà.

Những người Pháp muốn thật thà cộng tác với ta, thì ta thật thà cộng tác với họ, ích lợi cho cả đôi bên.

Để tỏ cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc vǎn minh.

Để cho số người Pháp ủng hộ ta càng thêm đông, sức ủng hộ càng thêm mạnh.

Để cho những kẻ khiêu khích muốn chia rẽ, không có thể và không có cớ mà chia rẽ.

Để cho công cuộc thống nhất và độc lập của chúng ta chóng thành công.

3. Hỡi đồng bào Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ.

Trung, Nam, Bắc, đều là đất nước Việt Nam.

Chúng ta đều chung một tổ tiên dòng họ, đều là ruột thịt anh em. Nước có Trung, Nam, Bắc, cũng như một nhà có ba anh em. Cũng như nước Pháp có vùng Noócmǎngđi, Prôvǎngxơ, Bôxơ.

Không ai có thể chia rẽ con một nhà, không ai có thể chia rẽ nước Pháp, thì cũng không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam ta.

Trong một nǎm trường, đồng bào kháng chiến, người thì tan nhà nát cửa, người thì hy sinh tính mạng, người thì bị tù, bị đày. Nhưng lòng yêu nước của đồng bào vẫn trơ như đá vững như đồng.

Đối với gan vàng dạ sắt của đồng bào, toàn thể quốc dân không bao giờ quên, Tổ quốc không bao giờ quên, Chính phủ không bao giờ quên.

Tôi kính cẩn cúi đầu chào trước linh hồn các liệt sĩ và xin lỗi những đồng bào đương khổ sở hy sinh.

Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ǎn không ngon, ngủ không yên. Tôi trân trọng hứa với đồng bào rằng: Với quyết tâm của đồng bào, với quyết tâm của toàn thể nhân dân, Nam Bộ nhất định trở lại cùng thân ái chung trong lòng Tổ quốc.

Chính phủ Pháp đã thừa nhận rằng đồng bào Nam Bộ sẽ bỏ thǎm để quyết định số phận của Nam Bộ.

Trong bản Thoả hiệp tạm thời ký ngày 14-9, Chính phủ Pháp đã nhận thi hành mấy điều chính sau này trong Nam Bộ:

1. Thả những đồng bào bị bắt về chính trị và vì kháng chiến.

2. Đồng bào Nam Bộ được quyền tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do viết báo, tự do đi lại, v.v..

3. Hai bên đều thôi đánh nhau.

Chính phủ Pháp đã ký thì chắc phải thi hành.

Vậy thì đồng bào Nam Bộ phải làm thế nào ?

1. Bộ đội Việt cũng như bộ đội Pháp đồng thời phải thôi đánh nhau.

2. Đồng bào phải hoạt động bằng chính trị theo cách dân chủ.

3. Phải đoàn kết chặt chẽ không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo. Đoàn kết tức là lực lượng. Chia rẽ tức là yếu hèn.

4. Không được báo thù báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ. Ai cũng có lòng yêu nước, chẳng qua có lúc vì lợi nhỏ mà quên nghĩa lớn. Nói lẽ phải họ tự nghe. Tuyệt đối không được dùng cách kịch liệt.

Đó là những việc đồng bào phải làm ngay, để gây một không khí hoà bình, và xây đắp con đường dân chủ để đi tới sự nghiệp Việt Nam thống nhất của chúng ta.

Lời chào thân ái
Ngày 23 tháng 10 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 384,
ngày 23-10-1946.
cpv.org.vn

————————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Thư gửi các cháu thiếu nhi

Cùng các cháu nhi đồng và thiếu niên yêu quý,

Bác đi Pháp mấy tháng. Nhớ các cháu luôn luôn. Chắc các cháu cũng luôn luôn nhớ Bác.

Khi Bác về đến Tổ quốc, từ Hải Phòng đến Hà Nội, các cháu mang nhau đi đón Bác, có lẽ hơn mười vạn cháu. Tay cầm cờ đỏ sao vàng, đứng chật hai bên đường, hai bên bờ ruộng. Reo cười ca hát, vui vẻ như một đàn chim.

Bác thấy cháu nào cũng mặt mũi vui tươi, áo quần sạch sẽ.

Hỏi, thì cháu nào cũng biết chữ quốc ngữ. Bác mừng lắm. Nay Bác viết mấy chữ, để cảm ơn các cháu và khuyên các cháu:

1. Phải siêng học,

2. Phải giữ sạch sẽ,

3. Phải giữ kỷ luật,

4. Phải làm theo đời sống mới,

5. Phải thương yêu giúp đỡ cha mẹ anh em.

Bác lại nói cho các cháu biết rằng: Anh em nhi đồng Pháp có gửi lời hỏi thǎm các cháu.

Thân ái,
Bác Hồ

Báo Cứu quốc, số 385,
ngày 24-10-1946.
cpv.org.vn

Lời phát biểu tại buổi đón tiếp đại biểu các cơ quan đoàn thể, các giới đồng bào Thủ đô sau khi đi Pháp về

Tôi đi mới về, được gặp các cụ, các ông, bà, các anh em, chị em, các cháu đông đủ như thế này, tôi lấy làm cảm động và vui vẻ lắm. Từ trước tới giờ, chúng ta đã đồng tâm hiệp lực chịu khó làm việc, nên chúng ta đã thu được ít nhiều thành công. Bây giờ chúng ta càng phải đồng tâm hiệp lực gánh vác việc nước, việc công hơn nữa. Tôi chắc ngày này nǎm sau, chúng ta sẽ lại được vui vẻ nhiều hơn nữa, hoàn cảnh của chúng ta sẽ dễ dãi hơn trước nữa. Công việc tôi làm ở bên Pháp, tôi đã báo cáo rồi, giờ đây, cũng là trong một nhà, tôi chỉ muốn nói rằng khi còn ở bên ấy, tôi nhớ các đồng bào lắm lắm và bây giờ rất vui sướng được gặp lại các đồng bào.

Nói ngày 24-10-1946.

Báo Cứu quốc, số 386,
ngày 25-10-1946.
cpv.org.vn

Bàn về địa hình

Về quân sự đành rằng phải có binh mạnh, tướng giỏi, nhưng không nghiên cứu địa hình một cách tường tận, không thể xuất trận thành công được. Trên mặt trận, biết lợi dụng địa hình, đánh trận không hao tổn công sức mà được thắng lợi dễ dàng. Một đống cao, một hố sâu, một bụi rậm đối với người thường chỉ là cái đống, cái hố, cái bụi thôi, nhưng về quân sự lại có một giá trị đặc biệt. Có khi nhờ bụi rậm, nhờ hố sâu mà thoát được nguy hiểm và thắng được quân địch. Có khi vì không biết lợi dụng địa hình mà bị bại một cách thê thảm.

Nhưng địa hình hết sức phức tạp. Phải tuỳ địa thế và tính chất từng nơi để bày binh bố trận. Đại để theo Tôn Tử, có thể chia ra mấy địa hình quan trọng sau đây:

1- Địa hình bằng phẳng có thể thông đi bốn ngả được.

Đối với địa hình này, phải tiến quân đến chiếm trước quân địch một nơi nào cao nhất và quay mặt về phía đông nam. Sau đó phải đề phòng cẩn thận mặt sau là đường tiếp tế lương thực và chú ý quân địch tiến đến đánh chung quanh nhất là mặt sau và hai bên sườn.

2- Địa hình tiến đánh dễ hơn là rút lui.

Đó là một trận địa mặt trước thấp, mặt sau cao như quân ta đóng ở sườn núi mà quân địch đóng ở trước mặt ta. Trong trường hợp này, nếu thấy quân địch không phòng bị, phải lập tức thu quân đánh gấp để cướp lấy thắng lợi. Nhưng khi đã thấy quân địch có phòng bị rồi nếu cứ tiến đánh chẳng những không thể thắng được, mà lúc rút lui lại khó khǎn, kết quả làm cho quân ta bị hãm vào vòng nguy khốn.

3- Địa hình không lợi cho quân ta và quân địch tiến công.

Địa hình này có thể bị quân ta hay quân địch lợi dụng để củng cố trận địa, như giữa hai trận địa có xen lẫn hồ ao, sông ngòi. Trong lúc này nếu quân địch lấy lợi dụ ta, ta không nên xuất chiến dễ mắc mưu của chúng. Ta phải dẫn quân đi mặt khác để dụ quân địch xuất trận, đợi khi chúng đi được nửa đường, ta quay lại phản công thì rất có lợi.

4- Địa hình hẻo lánh, nhỏ hẹp.

Ví dụ ở vào chỗ đường hẻm, ta phải tiến đến trước quân địch để ngǎn lối vào, đợi địch kéo vào, ta sẽ trừ diệt. Nhưng nếu thấy địch đã phái đại quân đến chiếm đóng rồi, ta phải dè chừng, kẻo mắc mưu quân địch, trừ khi nào chúng phòng bị không chu đáo mới sẽ thừa cơ tiến đánh.

5- Địa hình hiểm trở.

Đó là địa hình có nhiều núi non, hiểm trở. Đối với địa hình này, ta phải tiến đến trước quân địch để chiếm nơi nào cao nhất về phía nam cho tiện việc trông rộng và bắn xa. Nếu thấy quân địch đã chiếm mất nơi đó rồi, ta phải dẫn dụ chúng đánh về ngả khác, chứ không nên đánh thẳng, vỗ mặt nghĩa là phải theo chiến thuật đánh quanh co mới có lợi.

6- Địa hình đối lập và cách nhau rất xa.

Đó là hai trận địa ở cách xa nhau bởi một vùng rộng lớn như Mỹ với Nhật cách nhau bởi Thái Bình Dương, Nhật với Nga cách nhau bởi Tây Bá Lợi á (1) . Trong trường hợp này nếu hai bên đều có binh lực ngang nhau, bên nào mạo hiểm đem quân tự xa đến đánh là bên ấy bị đứng vào địa vị bất lợi.

Sáu thứ địa hình trên đây là những địa hình thiên nhiên thường gặp trên các mặt trận nên các nhà quân sự cần phải nghiên cứu kỹ càng.

Gặp địa hình nào phải tuỳ cơ ứng biến để có thể lợi dụng một cách có hiệu quả trong cuộc chiến đấu với quân địch.

Q.T.

Báo Cứu quốc, số 386,
ngày 25-10-1946.
cpv.org.vn

—————————

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

 

 

 

Về nhiệm vụ và quyền lợi của công đoàn Việt Nam hiện nay (1)

1) ở thế giới, công nhân nước nào có tổ chức mạnh thì được địa vị hơn; nếu tổ chức yếu thì địa vị kém.

2) Các công đoàn Việt Nam phải là một tổ chức đơn giản, vững vàng.

3) Công đoàn có nhiệm vụ gìn giữ quyền lợi cho công nhân và giúp cho Chính phủ trong việc xây dựng nước.

4) Chính phủ Việt Nam là một Chính phủ dân chủ, sẽ hết sức giúp đỡ về tinh thần cho Công đoàn.

Bộ Luật lao động Việt Nam sẽ nhận cho công nhân Việt Nam có quyền tự do tổ chức, quyền tự do bãi công. Luật lao động sẽ ấn định giờ làm, tiền công, bảo vệ đàn bà, người già và trẻ con.

5) Viên chức và công nhân đều là những người phải làm mới có ǎn.

6) ở Nam Bộ không những là công nhân có quyền tổ chức mà tất cả các tầng lớp nhân dân đều có quyền tự do tổ chức và các quyền tự do dân chủ khác đúng như bản Tạm ước.

Nói ngày 27-10-1946.

Báo Cứu quốc, số 390,
ngày 29-10-1946.

cpv.org.vn

—————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Lời tuyên bố trước Quốc hội

Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội uỷ cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận.

Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thǎng quan phát tài.

Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam.

Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết.

Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà.

Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và quốc dân, dầu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho.

Đọc ngày 31-10-1946.

Báo Cứu quốc, số 394,
ngày 3-11-1946.
cpv.org.vn

Điện vǎn gửi Chủ tịch nước Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch

Nhân dịp lục tuần đại khánh của Ngài, tôi là Hồ Chí Minh, xin thay mặt Chính phủ và toàn thể quốc dân Việt Nam, kính chúc Ngài vạn thọ vô cương (1 )

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
Hồ Chí Minh

Báo Sự thật, số 60,
Ngày 1-11-1946.
cpv.org.vn

———————————

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.