Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Đồng Chính (Thập nhất nguyệt nhị nhật) – Đồng Chính Ngày 2 tháng 11

ĐỒNG CHÍNH
(Thập nhất nguyệt nhị nhật)

Đồng Chính chính đồng Bình Mã ngục,
Mỗi xan nhất chúc đỗ không không;
Thuỷ hoà quang tuyến hẩn sung túc,
Nhật nhật hoàn khai lưỡng thứ lung.

ĐỒNG CHÍNH)
(Ngày 2 tháng 11)

Nhà lao Đồng Chính giống hệt nhà lao Bình Mã,
Mỗi bữa một bát cháo, bụng thường rỗng không;
Nước và ánh sáng thì đầy đủ,
Mỗi ngày còn hai lần mở cửa buồng giam.

————————–

Bình Mã thế nào Đồng Chính vậy,
Bữa lưng bát cháo bụng cồn cào;
Nước và ánh sáng thì dư dật,
Ngày lại hai lần mở cửa lao.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Nạn hữu đích chỉ bị – Chiếc khǎn giấy của người bạn tù

NẠN HỮU ĐÍCH CHỈ BỊ

Cựu quyển, tân thư tương bổ xuyết,
Chỉ chiên do noãn quá vô chiên;
Ngọc sàng cẩm trướng nhân tri phủ,
Ngục lý hứa đa nhân bất miên?

CHIẾC KHĂN GIẤY CỦA NGƯỜI BẠN TÙ

Quyển cũ, sách mới cùng bồi chắp lại,
Chǎn giấy còn ấm hơn không có chǎn;
Người trên giường ngọc trướng gấm có biết chǎng,
Trong ngục bao nhiêu người không ngủ?

—————————-

Quyển xưa, sách mới bồi thêm ấm,
Chǎn giấy còn hơn chẳng có chǎn;
Trướng gấm, giường ngà, ai có biết?
Trong tù bao kẻ ngủ không an?

NAM TRÂN – BǍNG THANH dịch

Bản dịch khác:

Sách xưa vở mới khéo đem bồi,
Chǎn giấy hơn không đã hẳn rồi;
Giường ngọc màn thêu ai có thấu,
Trong lao không ngủ biết bao người.

HOÀNG NGÂN dịch
cpv.org.vn

Dạ lãnh – Đêm lạnh

DẠ LÃNH

Thu thâm vô nhục diệc vô chiên,
Súc hình cung yêu bất khả miên;
Nguyệt chiếu đình tiêu tǎng lãnh khí,
Khuy song Bắc Đẩu dĩ hoành thiên.

ĐÊM LẠNH

Đêm cuối thu không đệm cũng không chǎn,
Nằm co cẳng cong lưng vẫn không ngủ được;
Trǎng soi khóm chuối trước sân càng tǎng thêm khí lạnh,
Nhòm qua cửa sổ, sao Bắc Đẩu đã ngang trời.

—————————

Đêm thu không đệm cũng không chǎn,
Gối quắp, lưng còng, ngủ chẳng an;
Khóm chuối trǎng soi càng thấy lạnh,
Nhòm song, Bắc Đẩu đã nằm ngang.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Cuối thu chǎn đệm cũng đều không,
Co quắp nằm mà ngủ chẳng xong;
Sân chuối trǎng soi thêm lạnh lẽo,
Ngang trời, Bắc Đẩu hiện ngoài song.

TRẦN ĐẮC THỌ dịch
cpv.org.vn

Kiên trì lý tưởng, mục tiêu Cách mạng Tháng Mười

Từ khi còn là một thanh niên, Bác Hồ đã một mình bôn ba đến nhiều quốc gia trên thế giới, với một mong muốn cháy bỏng tâm can: Quyết tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ của thực dân, phong kiến. Khi được nhìn thấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, được đọc “Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê-nin, Bác đã nhận ra ánh sáng chân lý của con đường giải phóng dân tộc mình và đặt trọn niềm tin vào đó. Sau này, Người nhớ lại: “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta””.

Tiếp thu tư tưởng của Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười, Bác Hồ đã kiên trì mục tiêu, lý tưởng giải phóng dân tộc Việt Nam và đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lập nên Nhà nước Dân chủ Cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á đến chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” và đỉnh cao là đại thắng Mùa Xuân năm 1975 thống nhất đất nước, đưa nước ta tiến lên Chủ nghĩa xã hội.

Với Lê-nin, Bác Hồ đã dành trọn niềm tin yêu, kính phục đối với vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân toàn thế giới. Khi Lê-nin mất, Bác viết “Khi còn sống, Người là người cha, thầy học đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cách mạng xã hội”. Bác cũng nói rõ: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á”…, “đối với các dân tộc châu Á, cũng như các dân tộc khác trên toàn thế giới đang đấu tranh cho hòa bình, độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, học thuyết của Lê-nin khác nào mặt trời đưa lại nguồn sống tươi mở”.

Với Cách mạng Tháng Mười, Bác khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Thực tế vận động của lịch sử nhân loại cho đến nay đã chứng minh cho nhận định của Bác Hồ về Cách mạng Tháng Mười từ những năm 1920 – “Đó là thắng lợi vĩ đại của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức do giai cấp công nhân và đội tiên phong của họ là Đảng Bôn-sê-vích lãnh đạo” – là hoàn toàn đúng đắn.

Nhân kỷ niệm 90 năm Cách mạng Tháng Mười thắng lợi (1917 – 2007), chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn vì sao Bác Hồ của chúng ta lại tìm đến với Cách mạng Tháng Mười, đến với Chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Đó là con đường đúng đắn, khoa học và cách mạng để giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Chúng ta tiếp tục vững bước theo lý tưởng, mục tiêu mà Bác Hồ kính yêu đã chọn lựa cho dân tộc.

Hướng Dương
baobinhdinh.com.vn

Sáu lỗi lầm phải tránh

Ngày 17.10.1945, chỉ một tháng rưỡi sau khi nhà nước công nông ra đời và tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư gửi “Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” tức là chính quyền các cấp của cả nước. Bức thư được đăng trên báo “Cứu Quốc” số 69. Trong thư, Bác nêu 6 lầm lỗi chính mà người cán bộ có thể mắc phải và tuyệt đối nên tránh.

“Những lỗi lầm chính là:

1- Trái phép- Vì tư thù, tư oán mà bắt bớ và tịch thu làm dân oán thán.

2- Cậy thế- Cậy thế mình trong ban này, ban nọ rồi ngang tàng, phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân chứ không phải để cậy thế với dân.

3- Hủ hóa – Ăn uống cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ấy ở đâu ra ? Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Ông Ủy viên đi xe hơi, rồi bà Ủy viên, cho đến các cô, các cậu Ủy viên cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai phải chịu ?

4- Tư túng – Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ. Người có tài, có đức, không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai.

5- Chia rẽ bênh vực lớp này, chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau, hòa thuận với nhau.

6- Kiêu ngạo – tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt  “quan cách mạng” lên. Không biết rằng thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến uy tín của Chính phủ”.

Sáu mươi năm đã qua kể từ khi Bác viết những dòng này, nhưng ngày nay đọc lại chúng ta đủ thời gian và thực tế để chiêm nghiệm và nhận ra rằng: những lời dạy của Bác thật chí lý và sáng suốt. Những lời dạy này vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay, cũng là lời cảnh tỉnh đối với mỗi cán bộ đang tham gia trong bộ máy chính quyền các cấp, từ Trung ương đến địa phương. Hãy nhớ lời Bác răn “Những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và nhân dân, tội lỗi ấy cũng nặng như tội Việt gian, mật thám”.

Khải Minh
baobinhdinh.com.vn

Học cái hay, tránh cái dở

Bác Hồ quan niệm, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”. Đảng ta gồm những người có tài, có đức nhưng “không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”. Do vậy, trong Đảng luôn luôn thực hiện tự phê bình và phê bình để cho dần dần hết khuyết điểm, đồng thời làm cho ưu điểm ngày càng nhiều thêm.

Tự phê bình và phê bình liên quan đến vấn đề đoàn kết trong Đảng. Do vậy, mục đích của tự phê bình và phê bình còn nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết, như Bác nói: “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết. Đoàn kết, phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa”.

Nhưng, muốn đạt được mục đích thì cần có phương pháp phù hợp. Theo Bác, phương pháp phù hợp nhất là phải thành khẩn, trung thực, kiên quyết và phải có văn hóa trong tự phê bình và phê bình. Bác cho rằng, tự phê bình và phê bình phải “ráo riết”, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Nếu không kiên quyết thực hiện tự phê bình và phê bình thì cũng giống như giấu giếm tật bệnh ở trong người, không dám uống thuốc và như vậy làm cho bệnh nặng thêm, nguy đến tính mạng.

Bác nhấn mạnh: Tự phê bình và phê bình phải có “tính chất xây dựng”, “không mỉa mai, nói xấu nhau”, “chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm”, không được trù dập người phê bình mình. Bác còn nói: “Phê bình chứ không phải là chửi”, nghĩa là phê bình phải có văn hóa. Trong phê bình, phải đặc biệt thực hành dân chủ. Bác nói: “Có gì cứ bình tĩnh bảo nhau, bàn với nhau. Càng cáu càng khó nghe”. “Muốn dân chủ tốt, kỷ luật cao, cán bộ phải gương mẫu phê bình và tự phê bình”. “Mục đích phê bình và tự phê bình là để học cái hay, tránh cái dở, chứ không phải để nói xấu nhau”. “Phải phê bình những thói hư tật xấu, để tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”…

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta cần nhớ lời căn dặn của Bác trong Di chúc: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.

Yên Chi
baobinhdinh.com.vn

Đặt niềm tin vào thế hệ trẻ

Nhận rõ vai trò to lớn của thế hệ trẻ, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong ngày khai trường đầu tiên, Bác đã gửi gắm niềm tin yêu của mình vào thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Ngày 17.8.1947, trong “Thư gửi các bạn thanh niên”, Bác viết: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị tương lai đó”. Đến thăm đơn vị thanh niên xung phong làm đường trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác đã khuyên thanh niên: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”.

Để giáo dục thanh niên, Bác đã lấy những tấm gương tiêu biểu hy sinh vì nước, vì dân để thanh niên học tập. Bác viết: “Đồng chí Lý Tự Trọng đã nêu gương chân chính cách mạng cho chúng ta noi theo. Ngày nay được Đảng giáo dục, có Đoàn dìu dắt, thanh niên chúng ta phải xung phong gương mẫu trong đạo đức, trong sinh hoạt, trong học tập, trong chiến đấu phải thực hiện “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm”. Như thế, chúng ta mới xứng đáng là thế hệ thanh niên xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”.

Thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, muốn xứng đáng vai trò làm chủ thì phải học tập. Vì vậy, Bác rất quan tâm đến việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ của thanh niên. Bác chỉ rõ: “Nhiệm vụ chính của thanh niên, học sinh là học. Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh tức là để làm trọn nhiệm vụ người làm chủ nước nhà”. Và, “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà, phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”. Bác luôn chăm lo bồi dưỡng đội ngũ thanh niên trí thức. Bác căn dặn: “Đối với thanh niên trí thức cần phải đặt câu hỏi: Học để làm gì? Học để phụng sự ai?”.

Minh Anh
baobinhdinh.com.vn

Mùa thu trên quê hương cách mạng Hà Tĩnh

(VOV) – Những ngày tháng Tám lịch sử này, từ khu di tích Ngã ba Nghèn nhìn đâu cũng thấy những xóm làng trù mật, những con đường khang trang, thoáng rộng…

Cách đây 82 năm tại thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh diễn ra những cuộc biểu tình lớn từ tháng 5/1930 – 7/1931 trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Phong trào cách mạng này là kinh nghiệm quý giúp Đảng ta hoàn thiện đường lối và chiến lược cách mạng, lãnh đạo toàn dân vùng lên tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong Cách mạng tháng 8 năm 1945.

Tháng Tám mùa thu này, bầu trời Can Lộc trong xanh lạ kỳ. Dường như tâm điểm của những hoạt động kỷ niệm phong trào Xô Viết lừng danh năm nào ở tỉnh Hà Tĩnh đều hướng về thị trấn Nghèn. Lịch sử thật khéo léo khi chọn Ngã ba Nghèn là nơi khởi đầu của cao trào Xô Viết ở Hà Tĩnh thì ngày nay lại là trung tâm quần tụ các di tích trên một địa phương giàu truyền thống yêu nước. Điểm gặp nhau của Quốc lộ 1A và đường liên xã từ huyện Can Lộc qua Khánh Lộc về Đồng Lộc, Trung Lộc, Ngã ba Nghèn trước thuộc làng Trảo Nha, sau Cách mạng đổi tên là Đại Lộc, huyện Can Lộc, là nơi diễn ra những cuộc biểu tình lớn trong những năm 1930-1931.

Tượng đài Khu di tích ở ngã ba Nghèn, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh

Dù còn nhiều khó khăn, còn bao vất vả quanh năm chống chọi với bão lũ, thiên tai, nhưng Hà Tĩnh luôn biết cách trân trọng và phát huy truyền thống lịch sử để ngày nay tại ngã ba Nghèn đã có một khu di tích xứng tầm, với cụm tượng đài oai hùng khắc tạc vóc dáng của những chiến sỹ cách mạng ngày ấy.

Nhiều khách thập phương đến đây để cảm nhận được tinh thần cách mạng quật cường của nhân dân Hà Tĩnh thuở nào, nhưng với ông Ngô Đức Mách, cán bộ tiền khởi nghĩa ở thị trấn Nghèn, không khí sôi nổi về cao trào cách mạng vẫn nguyên vẹn trong ký ức.

Năm nay 97 tuổi, đã 81 năm trôi qua từ khi diễn ra phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh nhưng với ông Ngô Đức Mách-một trong số ít nhân chứng của cao trào Xô Viết còn sống- mỗi lúc nhắc đến những ký ức lịch sử bỗng minh mẫn lạ thường. Ông cho biết: ngày đó Can Lộc có nhiều cuộc biểu tình ở phạm vi tổng và huyện với hàng ngàn người tham gia. Tháng 8/1930 quần chúng kéo về huyện đường hô vang các khẩu hiệu:Đánh đổ chủ nghĩa đế quốc và Nam triều phong kiến…Trước khí thế mạnh mẽ của cuộc biểu tình, tri huyện Trần Mạnh Đàn phải ra tận cầu Nghèn ký vào bản yêu sách.

Ông Ngô Đức Mách nhớ lại: “…Khí thế của phong trào những năm 1930 đó, sôi động lắm. Hai lần biểu tình của nhân dân, tri huyện Trần Mạnh Đàn phải ra chấp nhận yêu sách của những người biểu tình. Phong trào sôi nổi, cờ đỏ của ta bay khắp nơi…”.

Cuộc biểu tình lớn thứ hai vào cuối năm 1930, nhân dân các vùng trong huyện có tới 5.000 người mang nhiều khẩu hiệu, cờ đỏ búa liềm rầm rập tiến đến huyện đường chống đàn áp khủng bố, đòi giảm sưu thuế. Bọn lính bắn vào đoàn biểu tình làm 42 người chết. Ngã ba Nghèn lại ghi nhận nhiều chiến tích và chứng kiến sự hy sinh anh dũng của nhiều chiến sỹ.

Từ cao trào Xô Viết 1930- 1931 đến Cách mạng tháng Tám, những cái tên như Nghèn, Đỉnh Lự, bến đò Thượng Trụ đã trở thành nơi ghi dấu rất nhiều sự kiện lịch sử trọng đại. Ngã ba Nghèn, trung tâm huyện lỵ Can Lộc nay đã trở thành một trong những địa chỉ đỏ nổi tiếng của Hà Tĩnh. Đó không chỉ là nơi ra đời của chi bộ Trảo Nha, 1 trong 4 chi bộ Đông Dương Cộng sản liên đoàn được thành lập đầu tiên trong tỉnh, không chỉ là nơi diễn ra những cuộc biểu tình lớn trong cao trào Xô viết mà còn là những cuộc mít tinh, biểu tình đầy khí phách của nhân dân trong Cách mạng tháng Tám. “…Phong trào 30-31 có tác động lớn đến việc cướp chính quyền sau này. Từ năm 30 có gián đoạn đi đến năm 1936. Năm 1936 củng cố được đảng bộ Quang Lộc, đến tháng 6/1945 thành lập đảng bộ huyện Can Lộc. Thị trấn Nghèn thành lâp đảng bộ đầu tiên của huyện Can Lộc…”-Ông Ngô Đức Mách nói.

Di tích lịch sử Bến đò Thượng Trụ (Can Lộc) – nơi diễn ra hội nghị thành lập tỉnh Đảng bộ Hà Tĩnh tháng 3/1930

Phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương Xô-viết, Can Lộc là địa phương đầu tiên của tỉnh Hà Tĩnh và các tỉnh Bắc Trung Bộ giành chính quyền về tay nhân dân vào ngày 16/8/1945. Hà Tĩnh là một trong bốn tỉnh giành chính quyền sớm nhất trong Cách mạng Tháng Tám vào ngày 18/8/1945.

Chuyện xưa, chuyện nay, câu chuyện của người cán bộ tiền khởi nghĩa Ngô Đức Mách thêm sống động hơn khi nhắc đến sự thay đổi của thị trấn Nghèn, của huyện Can Lộc những năm gần đây. Từng là một thị trấn trọng điểm của bom đạn trong kháng chiến chống Mỹ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá tan hoang ngày nào, nay thị trấn Nghèn, cũng nhưng huyện Can Lộc đã thay da đổi thịt. Là huyện đi đầu trong thực hiện một số chương trình phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng nông thôn mới của tỉnh và của cả nước. Can Lộc đã cơ bản xóa xong 3.000 nhà tranh tre, dột nát và ngói hóa nhà ở cho nhân dân ngay trong năm 2005.

Trong thời gian qua, Can Lộc đã huy động 1.160 tỷ đồng để chỉnh trang bộ mặt thị trấn và vùng nông thôn, đầu tư hàng trăm công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Nhàn, ở thị trấn Nghèn vui mừng: Đời sống nhân dân có rất nhiều thay đổi. Hiện nay đường sá khang trang hơn, các công trình công cộng được đầu tư rất nhiều”.

Không chỉ ở thị trấn Nghèn mà các vùng nông thôn Can Lộc cũng có nhiều khởi sắc. Với tinh thần Xô Viết, nhân dân Can Lộc đã đồng lòng hy sinh quyền lợi cá nhân, xóa bỏ những thửa ruộng manh mún, dồn điền, đổi thửa lần thứ hai thành công, từ 320.000 thửa xuống còn 62.000, tạo tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới theo hướng bền vững. Nhờ đó người nông dân Can Lộc có điều kiện xây dựng nhiều vùng sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa như ở Thiên Lộc, Khánh Lộc… cho thu nhập cao. Kinh tế nông thôn có chuyển biến tốt, đời sống nông dân ấm no, không còn hộ đói, hộ nghèo giảm nhanh, số hộ làm ăn khá giả tăng rõ rệt. Hầu hết các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp 2005-2010 hoàn thành trước thời gian đã phần nào nói lên tinh thần Xô-viết trên mặt trận mới của người dân Can Lộc.

Anh Trần Đức Lai, ở xã Khánh Lộc cho biết: “Các phong trào và đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt, đặc biệt là phong trào xây dựng nông thôn mới, cuộc sống của người dân càng ngày càng đi lên, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp…”.

Những ngày tháng Tám lịch sử này, từ khu di tích Ngã ba Nghèn nhìn đâu cũng thấy những xóm làng trù mật, những cánh đồng thẳng cánh cò bay và những con đường khang trang, thoáng rộng. Mỗi địa danh, mỗi mảnh đất nơi đây đều thấm đẫm sự cống hiến, hy sinh và cả máu xương của bao thế hệ người Hà Tĩnh.

Mùa thu này, trời xanh cao vời vợi. Khu di tích thêm hấp dẫn lạ kỳ, ai đến đây cũng cảm nhận được và tin rằng dẫu còn nhiều khó khăn nhưng tương lai không xa Hà Tĩnh sẽ trở thành tỉnh phát triển. Bởi trên con đường đó truyền thống luôn là hành trang và động lực để vững bước./.

Đình Hiếu-Văn Hiếu
vov.vn

Bang – Giây trói

BANG

Hỉnh tý trường long hoàn nhiễu trước,
Uyển như ngoại quốc vũ huân quan;
Huân quan đích thị kim ti tuyến,
Ngã đích ma thằng nhất đại đoan.

DÂY TRÓI

Rồng dài quấn quanh cẳng chân và cánh tay,
Giống hệt dây tua quan võ nước ngoài;
Dây tua quan võ là tơ kim tuyến,
Còn của ta là một sợi thừng gai lớn.

———————————-

Rồng quấn vòng quanh chân với tay,
Trông như quan võ đủ tua, đai;
Tua đai quan võ bằng kim tuyến,
Tua của ta là một cuộn gai.

NAM TRÂN – BǍNG THANH dịch

Bản dịch khác:

Rồng dài vòng quấn khắp chân tay,
Quan võ nước ngoài thắng bộ đây;
Quan võ đeo tua kim tuyến thật,
Còn ta, quấn một cuộn thừng đay!

HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Lạc liễu nhất chích nha – Rụng mất một chiếc rǎng

LẠC LIẾU NHẤT CHÍCH NHA

Nhĩ đích tâm tình ngạnh thả cương,
Bất như lão thiệt nhuyễn nhi trường;
Tòng lai dữ nhĩ đồng cam khổ,
Hiện tại đông tây các nhất phương.

RỤNG MẤT MỘT CHIẾC RĂNG

Tính tình anh rắn rỏi và kiên cường,
Chẳng mềm và dài như lão lưỡi;
Trước nay vẫn cùng anh chung ngọt bùi, cay đắng,
Bây giờ phải xa nhau, người một phương.

——————————–

Cứng rắn như anh chẳng kém ai,
Chẳng như lão lưỡi dẻo và dài;
Ngọt bùi cay đắng từng chia sẻ,
Nay kẻ chân mây, kẻ cuối trời.

TÂN ĐẮC THỌ dịch
cpv.org.vn

Long An – Đồng Chính – Long An – Đồng Chính

LONG AN – ĐỒNG CHÍNH)

Thử gian thổ địa quảng nhi bần,

Sở dĩ nhân dân kiệm thả cần;

Thính thuyết kim xuân phùng đại hạn,

Thập phân thu hoạch lưỡng tam phân.

LONG AN – ĐỒNG CHÍNH

Vùng này ruộng đất rộng nhưng cằn cỗi,

Vì thế nhân dân tiết kiệm và siêng nǎng;

Nghe nói mùa xuân nǎm nay gặp đại hạn,

Mười phần chỉ thu hoạch được vài ba phần.

——————————

Vùng đây tuy rộng, đất khô cằn,

Vì thế nhân dân kiệm lại cần;

Nghe nói xuân nay trời đại hạn,

Mười phần thu hoạch chỉ đôi phần.

NAM TRÂN – BǍNG THANH dịch
cpv.org.vn

Nhai thượng – Trên đường phố

NHAI THƯỢNG

Nhai thượng nhân tranh khán Hán gian,

Hán gian dữ ngã bản vô can;

Vô can nhưng thị hiềm nghi phạm,

Sử ngã tâm trung giác điểm hàn.

TRÊN ĐƯỜNG PHỐ

Trên đường phố mọi người tranh nhau xem
Hán gian,

Hán gian vốn chẳng liên can gì với ta;

Nhưng không liên can mà vẫn là người tù
bị tình nghi,

Khiến lòng ta cảm thấy có chút ghê lạnh.

——————————-

Ngoài phố tranh nhau xem Hán gian,

Hán gian, ta vốn thực vô can;

Vô can vẫn bị nghi là có,

Thực khiến lòng ta lạnh tới gan.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn