Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Lộ thượng – Trên đường

LỘ THƯỢNG

Hĩnh tý tuy nhiên bị khẩn bang,

Mãn sơn điểu ngữ dữ hoa hương;

Tự do lãm thưởng vô nhân cấm,

Lại thử chinh đồ giảm tịch lương.

TRÊN ĐƯỜNG

Mặc dù chân tay bị trói chặt,

Nhưng đầy núi chim hót và hoa thơm;

Tự do thưởng ngoạn, không ai cấm được,

Nhờ thế, đường xa cũng bớt quạnh hiu.

——————————

Mặc dù bị trói chân tay,

Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng;

Vui say, ai cấm ta dừng,

Đường xa, âu cũng bớt chừng quạnh hiu.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Dẫu trói chân tay đến ngặt nghèo,

Khắp rừng hương ngát với chim kêu;

Tự do thưởng ngoạn, ai ngǎn được,

Cô quạnh đường xa, vợi ít nhiều.

HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Thời cơ trong Cách mạng tháng Tám và bài học kinh nghiệm cho đất nước hôm nay

(ĐCSVN) – Cách mạng tháng Tám năm 1945 là biểu hiện mẫu mực của khoa học và nghệ thuật chính trị dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, trong đó nổi bật là khoa học, nghệ thuật chủ động chuẩn bị lực lượng, nắm bắt mau lẹ và chớp thời cơ một cách quyết đoán, hiệu quả.

Ngay từ tháng 5 năm 1941, khi Liên Xô chưa tham chiến, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 được tổ chức tai Pắc Bó (Cao Bằng) đã ra Nghị quyết dự báo một cách chính xác hệ quả trực tiếp của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó cách mạng nhiều nước thành công…”. Thực tiễn lịch sử chứng minh tính đúng đắn của dự báo do Đảng ta đưa ra. Với chiến thắng của Liên Xô và các lực lượng Đồng minh trước chủ nghĩa phát xít, thời cơ cách mạng đã đến với nhiều nước trên thế giới khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Hàng loạt cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã nổ ra thắng lợi, chủ nghĩa xã hội từ một nước trở thành một hệ thống thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ La tinh đứng trước vận hội lớn của lịch sử.

Nhân dân Hà Nội chiếm Bắc Bộ phủ ngày 19/8/1945 (Ảnh tư liệu)

Cũng từ rất sớm, Đảng ta đã phân tích chính xác mâu thuẫn giữa các thế lực đế quốc, nhận định phát xít Nhật sẽ đảo chính hất cẳng thực dân Pháp ở Đông Dương và vạch ra kế hoạch hành động khi xuất hiện tình hình mới. Ngày 15-2-1944, trong bài “Bóc trần mưu gian của đế quốc Nhật! Thống nhất hành động đánh đổ thù chung!” đăng trên Báo Cờ Giải phóng, Tổng Bí thư Trường Chinh xác định sớm hay muộn cuộc đấu súng Nhật – Pháp nhất định sẽ xảy ra. Từ đó đến những tháng đầu năm 1945, vấn đề “cuộc đảo chính của phát xít Nhật” luôn luôn được nhắc tới trong những văn kiện, tài liệu tuyên truyền của Đảng, định hướng công tác chuẩn bị của phong trào cách mạng cho thời điểm “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Vì thế, ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), Hội nghị Thường vụ mở rộng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh, đã khai mạc tại chùa Đồng Kỵ, sau đó họp tiếp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh), ra ngay Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12-3-1945.

Bản Chỉ thị nhận định, cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương tuy gây ra khủng hoảng chính trị, nhưng điều kiện khởi nghĩa chưa thực sự chín muồi. Trung ương xác định kẻ thù mới là phát xít Nhật, đề ra khẩu hiệu đấu tranh mới và dự báo hai khả năng làm xuất hiện thời cơ cho nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước. Một là, quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật; hai là, Nhật đầu hàng Đồng minh.

Dưới ánh sáng của bản Chỉ thị lịch sử đó, các cấp bộ đảng từ trung ương đến địa phương đã theo dõi sát sao diễn biến mặt trận Thái Bình Dương. Đúng giữa trưa ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh. Như vậy, thời cơ xuất hiện như khả năng thứ hai mà Đảng ta đã dự báo. Tại lán Nà Lừa, Tân Trào (Tuyên Quang), lãnh tụ Hồ Chí Minh thể hiện quyết tâm “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do, độc lập!”. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban ra Quân lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”. Tiếp đó, Hội nghị Đảng toàn quốc và Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Tân Trào quyết định phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.

Như vậy, trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng 20 hôm, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 15-8) và kết thúc khi quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pốt-xđam (ngày 5-9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 15-8 quân Nhật còn mạnh và sau ngày 5-9 trên đất nước có nhiều kẻ thù, cách mạng đều không có khả năng thành công. Đảng và nhân dân ta đã chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền thắng lợi trong ngưỡng thời gian khắc nghiệt đó. Như cơn sóng trào dâng, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đạp đổ chính quyền phát xít Nhật và tay sai. Ngày 30- 8- 1945, vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị. Ngày 2-9-1945, lãnh tụ Hồ Chi Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội). Ba ngày sau, ngày 5-9-1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Nhờ chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho phong trào cách mạng ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng; hiểu biết sâu sắc về thời cơ cách mạng; dự báo chính xác, nắm bắt kịp thời và chớp thời cơ mau lẹ, tuy mới 15 tuổi và chỉ với hơn 5 nghìn đảng viên, trong vẻn vẹn chưa đầy 20 ngày của Mùa thu lịch sử năm 1945, Đảng ta đã lãnh đạo quần chúng nhân dân làm cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền, tuyên bố thành lập nước, thành lập Chính phủ lâm thời… mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc cho quốc gia dân tộc. Bài học và tấm gương mẫu mực về tận dụng thời cơ trong cách mạng tháng Tám năm 1945 không ngừng được phát huy, phát triển trong các thời kỳ chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của toàn quân, toàn dân ta, lập nên Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm 1954 và chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 mang tầm cao thời đại…

Công cuộc đổi mới ở nước ta từ năm 1986 đến nay được triển khai trong bối cảnh chứa đựng cả thời cơ, thuận lợi và nguy cơ, thách thức đan xen. Những thời cơ, thuận lợi lớn đã được Đảng và nhân dân nhận thức đầy đủ, kịp thời. Đó là: hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ yếu của thế giới ngày nay; cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hoá đang tạo điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần nhau, tăng cường hội nhập, phát huy lợi thế; xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng định vai trò, vị trí của mình. Bên cạnh đó, nhiều khó khăn, thách thức, nguy cơ đang cản trở con đường phát triển của các quốc gia dân tộc: an ninh thế giới bị đe doạ nghiêm trọng bởi các nhân tố truyền thống và phi truyền thống (bạo loạn, xung đột, khủng bố, chiến tranh, tội phạm tài chính – tiền tệ, tội phạm công nghệ cao, thảm hoạ môi trường…); các thế lực phản động tăng cường chiến lược diễn biến hoà bình chống phá chủ nghĩa xã hội và nhiều chính sách khác cản trở độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của các nước trên thế giới…

Những thời cơ và nguy cơ nêu trên, tự nó, chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng. Chúng trở thành thuận lợi và khó khăn thực tế hay không, điều đó phụ thuộc vào nhân tố chủ quan, trong đó có sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, các chủ trương, chính sách, các hoạt động thực tiễn nói chung. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc, đầy đủ về thời cơ và nguy cơ trong thế giới đương đại, Đảng, Nhà nước đã chủ động xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời và tổ chức thực hiện có hiệu quả; đã tranh thủ tốt các thời cơ, thuận lợi và ứng phó phù hợp trước các nguy cơ, thách thức, đẩy lùi nhiều khó khăn. Nhờ vậy, từ năm 1986 đến nay, đất nước đã đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: bảo vệ, đổi mới và phát triển chủ nghĩa xã hội trước những thử thách nghiệt ngã của lịch sử; khắc phục khủng hoảng, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển; chính trị xã hội ổn định, đời sống nhân dân có nhiều bước cải thiện rõ rệt, đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; quốc phòng, an ninh vững chắc, đối ngoại rộng mở, đảm bảo môi trường hoà bình, thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế… Thế và lực của đất nước, sức mạnh tổng hợp quốc gia được nâng cao, tạo tiền đề quý báu cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Trong từng thành tựu của công cuộc đổi mới và trong mỗi bước phát triển của đất nước hôm nay đều khởi nguồn từ những bài học kinh nghiệm quý báu đúc kết từ các thời kỳ cách mạng trước đây. Trong đó, bài học kinh nghiệm nắm bắt và chớp thời cơ của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 luôn luôn có giá trị lâu bền và ý nghĩa thời đại./.

PGS.TS Nguyễn Viết Thảo
Tổng biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
cpv.org.vn

Cách mạng tháng Tám – thắng lợi của con đường cứu nước Hồ Chí Minh

Ảnh tư liệu (nguồn: tvad.com.vn)

(ĐCSVN)Cuối năm 1920, sau khi quyết định theo chủ nghĩa Mác – Lênin và trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh đã xác định con đường cứu nước đúng đắn duy nhất là đi theo con đường cách mạng vô sản. Công cuộc cứu nước đó sẽ được kết thúc bằng cuộc nổi dậy của đông đảo quần chúng bị áp bức lật đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai, giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Vào thời điểm bấy giờ, ở Việt Nam có nhiều phong trào yêu nước, nhưng những đường lối cứu nước ấy còn có mặt những hạn chế về tư tưởng chính trị và phương pháp cách mạng nên đều đi đến thất bại. Tư tưởng cứu nước Hồ Chí Minh là hoàn toàn mới ở nước ta lúc đó.

Sau khi xác định được con đường cứu nước đúng đắn, Hồ Chí Minh với hoạt động cách mạng vô cùng phong phú, từng bước chuẩn bị những tiền đề và trực tiếp lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam. Đầu tiên là truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, đưa lý luận vào soi sáng, làm chuyển biến về chất phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Điều đặc biệt quan trọng là Hồ Chí Minh đã rút ra những vấn đề về lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác – Lênin, gắn với việc giải quyết những yêu cầu cơ bản của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam để truyền bá một cách dễ hiểu, tạo sự chuyển biến tư tưởng, hành động cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân. Đó là lên án chủ nghĩa đế quốc thực dân, thức tỉnh tinh thần đấu tranh giành độc lập, kêu gọi “dân bản xứ” vùng lên, theo con đường cách mạng vô sản, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta, về tình đoàn kết liên minh cách mạng thuộc địa với cách mạng chính quốc…Trên cơ sở tiếp thu sâu sắc lý luận Mác – Lênin, nắm bắt những kinh nghiệm của cách mạng thế giới và nắm bắt đầy đủ lịch sử, hiện thực đất nước, con người Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sớm vạch ra đường lối cách mạng giải phóng dân tộc.

Cuốn sách “Đường Cách mệnh” xuất bản năm 1927 đã chỉ ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, lực lượng và phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Người chỉ rõ con đường cách mệnh Việt Nam là phải theo con đường cách mệnh Nga: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất”[1], nghĩa là phải kết thúc bằng một cuộc khởi nghĩa của đông đảo các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dùng bạo lực cách mạng lật đổ chính quyền thống trị, giành quyền làm chủ đất nước về tay nhân dân.

Trả lời câu hỏi Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[2].

Quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về nước, định ra đường lối cách mạng Việt Nam và thành lập các tổ chức cách mạng, đào tạo cán bộ để chỉ đạo phong trào cách mạng cũng là bước chuẩn bị tiên quyết về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đó là kết quả của sự phát triển phong trào cách mạng trong nước, có sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, nhưng người trực tiếp sáng lập Đảng là lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Chánh cương vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo và Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã nêu rõ:

“Về phương diện chính trị:

a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.
b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.
c) Dựng ra chính phủ công nông binh.
d) Tổ chức ra quân đội công nông”[3].

Như vậy Hồ Chí Minh đã xác định đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân là nhiệm vụ trọng yếu trực tiếp của cách mạng Việt Nam.

Sau khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh đã kiên trì đấu tranh để toàn Đảng, toàn dân thống nhất về tư tưởng, hành động thực hiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Trải qua những cuộc đấu tranh tư tưởng và những cuộc đấu tranh cách mạng, đến cao trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945, tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh mới được nhận thức đầy đủ và thống nhất tin theo. Đó là một động lực lớn thúc đẩy cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 9 – 3 – 1945, phát xít Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Nhiều cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra ở các địa phương cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

Mùa Thu năm 1945, sau khi Hồng quân Liên Xô và các lực lượng Đồng minh tiêu diệt phát xít Đức, Ý, Liên Xô tuyên chiến và đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật, buộc phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.

Thời cơ cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đã đến. Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương. Bác Hồ đã nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”[4].

Từ ngày 13 đến ngày 15 – 8 – 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang). Hội nghị nhận định điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi và phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị cử ra Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc. Đêm 13 – 8, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc.

Ngày 15 – 8 – 1945, tại Tân Trào, Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập khai mạc. Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng và cử ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng tức Chính phủ cách mạng lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay sau Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”[5].

Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lệnh khởi nghĩa của Uỷ ban Khởi nghĩa, hơn 20 triệu đồng bào cả nước đã nhất tề vùng dậy. Suốt một dải non sông hừng hực khí thế chiến đấu. Lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng đã giành được thế áp đảo chính quyền thống trị. Từ ngày 14 đến ngày 25 – 8 – 1945, chỉ trong 12 ngày, 12 ngày sôi nổi tinh thần yêu nước và khí thế cách mạng tiến công, Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi huy hoàng trong cả nước. Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 – 9 – 1945, tại cuộc mít tinh mừng độc lập ở vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, mở ra thời đại mới của dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của đường lối chiến lược và phương pháp cách mạng của Đảng, là thắng lợi của lực lượng đoàn kết, chiến đấu hy sinh toàn dân tộc, là thắng lợi của sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại…Tất cả những yếu tố đó đều bắt nguồn từ con đường cứu nước Hồ Chí Minh. Vì thế, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trước hết là thắng lợi của con đường cứu nước Hồ Chí Minh.

Sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đất nước ta đã hoàn toàn độc lập, thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hơn 35 năm qua, nhất là qua 25 năm đổi mới, nhân dân ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Tuy nhiên, hiện nay tình hình thế giới còn đang có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định.

Tình hình trong nước, thành tựu của công cuộc đổi mới đã tạo ra thế và lực mới, sức mạnh tổng hợp để nhân dân ta xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, trong đó có sự chống phá của các thế lực thù địch hòng làm thay đổi chế độ chính trị và xâm hại chủ quyền lãnh thổ của nước ta. Trước tình hình đó, không gì khác hơn, chúng ta phải tiếp tục kiên định con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và tiến hành từ hơn 80 năm qua là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ XI: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”[6].

[1] . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1998, t. 1, tr. 39, 24.
[3] . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1998, t. 2, tr. 4.
[4] . Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, H. 1977, tr. 203.
[5] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t. 3, tr. 554.
[6] . Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 65.

PGS. TS Vũ Như Khôi
cpv.org.vn

 

 

 

Trưng binh gia quyến – Gia quyến người bị bắt lính

TRUNG BINH GIA QUYẾN

Lang quân nhất khứ bất hồi đầu,

Sử thiếp khuê trung độc bão sầu;

Đương cục khả liên dư tịch mịch,

Thỉnh dư lai tạm trú lao tù.

GIA QUYẾN NGƯỜI BỊ BẮT LÍNH

Chàng ra đi không trở về,

Để thiếp chốn buồng the một mình ôm sầu;

Nhà đương cục ý hẳn thương thiếp cô quạnh,

Nên mời thiếp đến ở tạm nhà tù.

————————

Biền biệt anh đi không trở lại,

Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu;

Quan trên xót nỗi em cô quạnh,

Nên lại mời em tạm ở tù!

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Giải trào – Pha trò

GIẢI TRÀO

Ngật công gia phạn, trú công phòng,

Quân cảnh luân ban khứ hộ tòng;

Ngoạn thuỷ du sơn tuỳ sở thích,

Nam nhi đáo thử diệc hào hùng!)

PHA TRÒ

Ǎn cơm nhà nước, ở nhà công,

Lính quân cảnh thay phiên nhau đi hộ vệ;

Dạo núi chơi sông tuỳ ý thích,

Làm trai đến thế cũng hào hùng!

—————————–

Ǎn cơm nhà nước, ở nhà công,

Lính tráng thay phiên đến hộ tòng;

Non nước dạo chơi tùy sở thích,

Làm trai như thế cũng hào hùng!

VǍN TRỰC – VĂN PHỤNG dịch
cpv.org.vn

Vãng Nam Ninh – Đi Nam Ninh

VÃNG NAM NINH

Thiết thằng ngạnh thế ma thằng nhuyễn,

Bộ bộ đinh đang hoãn bội thanh;

Tuy thị hiềm nghi gián điệp phạm,

Nghi dung khước tượng cựu công khanh.

ĐI NAM NINH

Xích sắt cứng đã thay thừng gai mềm,

Bước mỗi bước leng keng như tiếng ngọc;

Tuy là người tù bị tình nghi gián điệp,

Nhưng bộ dạng lại giống vị công khanh ngày trước.

———————————

Hôm nay xiềng sắt thay dây trói,

Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung;

Tuy bị tình nghi là gián điệp,

Mà như khanh tướng vẻ ung dung.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Cảnh binh đảm trư đồng hành – Cảnh binh khiêng lợn cùng đi

CẢNH BINH ĐẢM TRƯ ĐỒNG HÀNH

I

Cảnh sĩ đảm trư đồng lộ tẩu,

Trư do nhân đảm, ngã nhân khiên;

Nhân nhi phản tiện ư trư tử,

Nhân vị nhân vô tự chủ quyền!

II

Thế thượng thiên tân hoà vạn khổ,

Mạc như thất khước tự do quyền!

Nhất ngôn nhất động bất tự chủ,

Như ngưu, như mã, nhậm nhân khiên.

CẢNH BINH KHIÊNG LỢN CÙNG ĐI

I

Cảnh binh khiêng lợn đi cùng đường,

Lợn thì người khiêng, ta người dắt;

Người lại bị coi rẻ hơn lợn,

Chỉ vì người không có quyền tự chủ.

II

Trên đời nghìn vạn điều cay đắng,

Không gì cay đắng bằng mất quyền tự do;

Mỗi lời nói, mỗi hành động đều không được tự chủ,

Mặc cho người dắt như trâu, như ngựa.

I

Khiêng lợn, lính cùng đi một lối,

Ta thì người dắt, lợn người khiêng;

Con người coi rẻ hơn con lợn,

Chỉ tại người không có chủ quyền!

II

Trên đời nghìn vạn điều cay đắng,

Cay đắng chi bằng mất tự do ?

Mỗi việc mỗi lời không tự chủ,

Để cho người dắt tựa trâu bò!

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Điệt lạc – Hụt chân ngã

ĐIỆT LẠC

Dạ nhưng hắc ám dĩ đǎng trình,

Lộ hựu kỳ khu thậm bất bình;

Điệt nhập thâm khanh nguy hiểm thậm,

Hạnh nǎng dược xuất liễu thâm khanh .

HỤT CHÂN NGÃ

Đêm còn tối mịt đã phải lên đường,

Đường lại gồ ghề, không chút bằng phẳng;

Hụt chân thụt xuống hố sâu, nguy hiểm quá,

May sao đã nhảy được ra khỏi hố.

————————

Còn tối như bưng đã phải đi,

Đường đi khúc khuỷu lại gồ ghề;

Trượt chân nhỡ bước sa vào hố,

May nhảy ra ngoài suýt nữa nguy!

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Quyết định lịch sử của Hồ Chí Minh trong thời khắc Cách mạng Tháng Tám

Phủ Khâm Sai (Bắc Bộ Phủ) 19-8-1945

Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, với tầm nhìn của một lãnh tụ thiên tài, Hồ Chí Minh nhận định: Chiến tranh không chỉ là nguy cơ cướp đi hàng triệu sinh mạng con người ở các nước tham chiến, đồng thời là cơ hội để nhân dân các nước nhược tiểu đứng lên giành độc lập. Trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình thế giới, với tư duy chiến lược sắc sảo, nhạy bén, bằng nhạy cảm chính trị thiên tài, Người đã giải quyết thành công vấn đề giải phóng dân tộc. Người đề nghị Quốc tế Cộng sản để Người trở về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam và được chấp nhận. Rời Liên Xô về nước, Người tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho cách mạng Việt Nam. Tháng 6-1940, tại Trung Quốc, Người bắt đầu liên lạc được với Đảng ta. Tại buổi gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng ở “Ban hải ngoại”, Người nêu một nhận định chính xác: Chủ nghĩa phát xít nhất định bị tiêu diệt, đây là thời thuận lợi cho các dân tộc dứng lên tự giải phóng. Được tin Pháp đầu hàng Đức, Người phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(1).

Với kinh nghiệm hoạt động quốc tế phong phú, trên cơ sở phân tích, đánh giá chính xác tình hình thế giới, mưu đồ của chủ nghĩa phát xít, Người quyết định thành lập “Việt Nam đồng minh hội” ngay trên đất Trung Quốc. Trước mắt, để hợp pháp hóa về mặt tổ chức, có điều kiện về nước một cách công khai; còn lâu dài, để có tổ chức liên lạc với quốc tế. Những quyết định trên thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, sự mẫn cảm chính trị đầy trách nhiệm của Bác Hồ trước vận mệnh của dân tộc, định hướng cho thành công của Cách mạng Tháng Tám. Người tích cực triển khai các hoạt động quốc tế dồn dập: trực tiếp gặp đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc, gửi thư cho Quốc tế Cộng sản yêu cầu giúp đỡ… Người quyết định mở lớp huấn luyện chính trị và quân sự cấp tốc đưa về nước tuyên truyền, tổ chức các đoàn thể cứu quốc, chọn Cao Bằng làm căn cứ địa cách mạng… Những quyết định sáng suốt và kịp thời của Bác Hồ trong việc tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, chuẩn bị thực lực bên trong là bước chuẩn bị cần thiết cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Giữa lúc bão táp cách mạng đang nổ ra dồn dập, mùa xuân năm 1941, Bác Hồ về nước. Đây là cuộc gặp gỡ lịch sử giữa vị lãnh tụ tối cao với cả một dân tộc đang sục sôi đấu tranh và mong chờ sự dẫn đường, chỉ lối. Nhận thức rõ yêu cầu lịch sử đó, ngay từ lúc còn ở đất Trung Quốc, Người đã chỉ thị: “Trung ương Đảng phải chuyển về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào”(2). Tháng 2-1941, sau 30 năm bôn ba, Bác Hồ về đến Cao Bằng, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Về nước được hơn 3 tháng, với danh nghĩa là đại biểu Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám từ ngày 10 đến 19-5-1941, Hội nghị quyết định dương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, xác định rõ: “cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”(3). Đó chính là sự phát triển hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng do Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (tháng 11-1939) và lần thứ 7 (tháng 11-1940) của Đảng đề ra. Chủ trương đó đã thể hiện tư duy chiến lược, nhãn quan chính trị nhạy bén của Bác Hồ, đồng thời phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân là thoát khỏi ách áp bức “một cổ hai tròng” của đế quốc và phong kiến tay sai. Bác Hồ đã chủ động xây dựng lực lượng cách mạng hùng hậu đủ sức tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Người vạch ra đường lối cách mạng trước thời cơ mới: “Sẽ thành lập một Chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ Tổ quốc” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Đông Dương, 5-1941). Hội nghị đã mở ra một trang sử mới trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

Sau Hội nghị, Người chỉ đạo soạn thảo các Văn kiện của Mặt trận Việt Minh như Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Những văn kiện này thể hiện đầy đủ sự thống nhất quan điểm giữa Bác Hồ và Trung ương Đảng ta về những vấn đề thuộc chiến lược của cách mạng Việt Nam. Thành lập Mặt trận Việt Minh là quyết định sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đáp ứng đúng yêu cầu của lịch sử, dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Có thể nói không có Việt Minh thì không có Cách mạng Tháng Tám. Song song với việc xây dựng lực lượng chính trị, Đảng và Bác Hồ chú trọng từng bước xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định duy trì, phát triển Đội du kích Bắc Sơn làm vốn quân sự lâu dài cho cách mạng. Đây là một quyết định sáng suốt và táo bạo. Chính nhờ có chủ trương đúng đắn đó, Đảng đã xây dựng được các trung đội cứu quốc, lực lượng quân sự chính quy đầu tiên của các mạng nước ta. Tháng 9-1944, xét thấy khởi nghĩa vũ trang chưa chín muồi, Bác Hồ ra chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao – Bắc – Lạng, lựa chọn trong hàng ngũ du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên xuất sắc nhất làm nòng cốt cho đội quân chủ lực. Đồng thời, Người ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và chỉ rõ: “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh… Tuy lúc đầu quy mô nó còn nhỏ nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(4). Lực lượng cách mạng chính trị và lực lượng vũ trang không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đã tạo điều kiện vô cùng quan trọng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi nhanh chóng. Mùa thu năm 1945, Người chỉ thị thành lập Khu giải phóng và cử ra Ủy ban cách mạng để lãnh đạo các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Khu giải phóng đã trở thành căn cứ địa cách mạng, hậu phương vững chắc để tiến tới tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Chiến tranh thế giới chuyển biến nhanh chóng, Bác Hồ phát hiện ra mâu thuẫn giữa Mỹ – Anh – Pháp về thuộc địa nói chung, về Đông Dương nói riêng. Bác Hồ gặp đại diện Mỹ ở Côn Minh bàn phương thức hợp tác Việt Minh – Mỹ. Thực hiện kế hoạch hợp tác đó, Mỹ đã giúp Việt Minh một số súng đạn, thuốc men, nhân viên điện đài và một số quân tình nguyện Mỹ huấn luyện cho lực lượng vũ trang Việt Minh, cách sử dụng các loại vũ khí, điện đài và kỹ thuật, chiến thuật trận địa. Ngược lại, Việt Minh đã cung cấp cho Mỹ những thông tin quan trọng về hoạt động của Nhật, đã cứu và giúp đỡ nhiều phi công Mỹ rơi trên đất nước ta. Bác Hồ quan hệ với Quốc dân đảng Trung Hoa và Mỹ là những quyết định sáng suốt, nhằm vừa tranh thủ họ, vừa hạn chế họ, thêm bạn, bớt thù cho cách mạng Việt Nam; đồng thời cho họ thấy rõ cuộc đấu tranh của dân tộc ta là cuộc đấu tranh của lực lượng dân chủ trong mặt trận đồng minh chống phát-xít mà họ cần quan hệ. Đây là minh chứng điển hình cho quan điểm của Bác Hồ về đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, thực hiện cho được mục tiêu độc lập, tự do. Với tầm nhìn chiến lược, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Người chỉ rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc xã tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa, thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh”(5). Ngày 12-8-1945, qua chiếc đài thu thanh nhỏ, Bác Hồ biết Nhật đàm phán với Đồng Minh, trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, phát xít Đức đầu hàng đồng minh, ở Đông Dương quân Nhật hoảng loạn, phong trào cách mạng cả nước sôi sục, những điều kiện cho tổng khởi nghĩa đã chín muồi. Chớp thời cơ, Bác Hồ cùng Trung ưởng Đảng ta đã chuẩn bị gấp “Hội nghị toàn quốc của Đảng” và “Đại hội đại biểu quốc dân” ở Tân Trào. Người nhấn mạnh: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Và “Cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”(6). Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ngày 14 và 15-8-1945, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc trước khi Đồng minh vào, đề ra đường lối đối nội và đối ngoại sau khi Tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân họp quyết định thành lập Ủy ban ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ. Ngay sau Đại hội, Người gửi Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa tới đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy dùng sức ta mà giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ”(7).

Hội nghị toàn quốc, Đại hội quốc dân và Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương, kế hoạch Tổng khởi nghĩa kịp thời, đúng thời cơ, động viên được sự đoàn kết nhất trí của toàn dân trong giờ phút quyết định của lịch sử dân tộc dể giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Hưởng ứng Lệnh Tổng khởi nghĩa của Đảng, đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới ngọn cờ Việt Minh, nhân dân ta triệu người như một nhất tề đứng lên khởi nghĩa, giành thắng lợi từng phần tiến tới giành thắng lợi trên toàn quốc, làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945 lịch sử, Người quyết định soạn thảo Tuyên ngôn độc lập, ấn định ngày ra mắt quốc dân và tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước khi quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Đây là quyết định nhạy bén, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình quốc tế sau chiến tranh; đồng thời khẳng định ý chí sắt đá của dân tộc ta quyết tâm bảo vệ nền độc lập mới giành được.

Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, trước cuộc mít-tinh của hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(8). Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam mới là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam, cũng là thắng lợi đầu tiên của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con của lịch sử, quyết định sáng suốt những bước đi của cách mạng, tiên đoán chính xác, lãnh đạo Đảng và nhân dân ta chớp thời cơ, giành thắng lợi. Ở thời điểm lịch sử 1945, Người trở thành huyền thoại đẹp nhất. Cống hiến của Người đã giúp cho dân tộc ta hồi sinh, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ đã đóng góp quan trọng vào tiến trình cách mạng thế giới, phá vỡ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử nhân loại là chế độ thực dân, thực hiện vai trò tiên phong trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội. Thắng lợi đó gắn liền với những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chứng minh tính đúng đắn và khoa học của những tư tưởng cách mạng của Người trong thời đại mới…

Trương Thị Hoài
Trường Sĩ quan Lục quân 2,
HT: 3cb, 38, Biên Hòa, Đồng Nai

———————————

(1). Đầu nguồn, Nxb Văn học, H,1975, tr.234. (2). Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử Nxb CTQG, H, 1993, tr.54. (3). Văn kiện Đảng toàn tập, t7, tr.119. (4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.507-508. (5). Hồ Chí Minh, Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.505-506.(6). Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nxb QĐND, H, 1969, tr.212. (7). Hồ Chí Minh Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.554. (8). Hồ Chí Minh Toàn tập,t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr557.

Trương Thị Hoài, Trường Sĩ quan Lục quân 2
HT: 3cb, 38, Biên Hòa, Đồng Nai
xaydungdang.org.vn

Bán lộ tháp thuyền phó Ung – Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh

BÁN LỘ THÁP THUYỀN PHÓ UNG

Thừa chu thuận thuỷ vãng Ung Ninh,

Hĩnh điếu thuyền lan tự giảo hình;

Lưỡng ngạn hương thôn trù mật thậm,

Giang tâm ngư phủ điếu thuyền khinh.

GIỮA ĐƯỜNG ĐÁP THUYỀN ĐI UNG NINH1)

Đáp thuyền xuôi dòng đi Ung Ninh,

Chân bị treo lên giàn thuyền như tội hình treo cổ;

Làng xóm hai bên sông thật là đông đúc,

Giữa lòng sông, thuyền câu của ông chài lướt nhẹ.

————————

Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh,

Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình;

Làng xóm ven sông đông đúc thế,

Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Nam Ninh ngục – Nhà ngục Nam Ninh

NAM NINH NGỤC

Giam phòng kiến trúc đính “ma đǎng”,

Triệt dạ huy hoàng chiếu điện đǎng;

Nhân vị mỗi xan duy hữu chúc,

Sử nhân đỗ tử chiến cǎng cǎng.

NHÀ NGỤC NAM NINH

Nhà lao xây dựng rất “môđéc” ,

Suốt đêm đèn điện sáng rực;

Nhưng vì bữa ǎn nào cũng chỉ có cháo,

Khiến cho bụng người ta cứ run bần bật.

————————–

Nhà lao xây dựng kiểu tân thời,

Đèn điện thâu đêm sáng rực trời;

Nhưng mỗi bữa ǎn lưng bát cháo,

Cho nên cái bụng cứ rung hoài.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Nạp muộn – Buồn bực

NẠP MUỘN

Hoàn cầu chiến hoả thước thương thiên,

Tráng sĩ tương tranh phó trận tiền;

Ngục lý nhàn nhân nhàn yếu mệnh,

Hùng tâm bất trị nhất vǎn tiền.

BUỒN BỰC

Lửa chiến tranh trên hoàn cầu nóng chảy
cả trời xanh,

Tráng sĩ đua nhau ra mặt trận;

Trong tù, người nhàn lại nhàn quá đỗi,

Chí lớn mà không đáng giá một đồng tiền.

——————————

Tráng sĩ đua nhau ra mặt trận,

Hoàn cầu lửa bốc rực trời xanh;

Trong ngục người nhàn nhàn quá đỗi,

Chí cao mà chẳng đáng đồng trinh.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn