Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tượng Bác Hồ giữa lòng thủ đô Mexico lịch sử và văn hoá.

Thật là xúc động và vui mừng khi mà đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất, ở nước ngoài” vừa được Bộ Ngoại giao phát động trong năm “Ngoại giao văn hóa 2009” thì từ miền đất xa phía Tây bán cầu, tại Trung tâm Lịch sử của Thủ đô Mexico, đất nước của nhiều nền văn hóa cổ, đã tiến hành trang trọng và ấm cúng Lễ khánh thành tượng đài Hồ Chí Minh và Công viên “Tự do cho các dân tộc”.

Đại sứ Việt Nam tại Mexico Phạm Văn Quế (bên phải), Thị trưởng Mexico Marcelo Ebrand cùng các cháu thiếu nhi tại Lễ khách thành Tượng Bác, ngày 16/1 tại Thủ đô Mexico.

Đó là bức tượng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phỏng theo bức ảnh Bác bên bộ bàn ghế mây giản dị, đọc báo trong vườn Chủ tịch Phủ được nhiếp ảnh gia Đinh Đăng Định ghi lại năm 1960. Đằng sau và bên trên bức tượng là hàng chữ vàng quen thuộc “Không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây Ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ trên bức tường thành bán nguyệt ốp đá trắng ngọc, soi bóng trên mặt gương nước lung linh, cùng những cánh bèo xanh và đóa hoa súng hồng rung rinh, làm ấm lòng hàng trăm vị quan khách đến với ngày hội tôn vinh Hồ Chí Minh.Ngày 16 tháng 1 năm 2009 “ngày thiên hỷ” theo lịch cổ Việt Nam, trong cái rét ngọt và dưới làn mưa xuân lất phất như đón Bác về chúc Tết, mừng xuân năm nào, hàng trăm bạn bè, dân chúng thủ đô và quan chức Mexico cùng hàng chục người con Việt Nam đang sinh sống xa Tổ quốc đã tận mắt chứng kiến ông thị trưởng thành phố Mexico, Marcelo Ebrad và Đại sứ Việt Nam tại Mexico, Phạm Văn Quế vén tấm lụa hồng, chính thức khánh thành Công viên và Tượng Bác trong tiếng vỗ tay và hò reo không ngớt “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”. Hàng chục phóng viên, nhà nhiếp ảnh, quay phim chuyên nghiệp và nghiệp dư của cả hai nước đã xúc động ghi lại những giây phút thiêng liêng, nhất là cảnh nhiều lượt người chen nhau len vào chỗ đặt tượng Bác bởi người nào cũng muốn tranh thủ lưu lại bên Người ít giây phút để có được những tấm hình lưu niệm đẹp nhất. Chúng tôi, những người con Việt Nam xa xứ hoàn toàn ấn tượng và bị cuốn hút bởi tình cảm mà người dân Mexico dành cho Việt Nam nói chung và Bác Hồ nói riêng. Ai ai cũng thầm cám ơn nghệ sĩ tạc tượng trẻ tài ba Ponzanelli, người đã khắc họa hình tượng Bác rất có thần thái, ở đó toát lên những đức tính cao quý của một nhà hiền triết, một vĩ nhân, người cha già dân tộc giản dị, nhân ái và gần gũi thân quen.

Phát biểu trong buổi lễ, ông Thị trưởng Marcelo Ebrard đã khẳng định những chiến công lẫy lừng của dân Việt Nam thắng quân xâm lược trong thế kỷ 20 đã đi vào lịch sử nhân loại như những trang chói lọi nhất. Việt Nam, Hồ Chí Minh là những biểu tượng sống đã thôi thúc các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh, giành độc lập tự do. Hồ Chí Minh xứng danh là lãnh tụ thế giới… Tượng đài Hồ Chí Minh ở đây là dành cho tất cả các dân tộc đã và đang đấu tranh vì độc lập tự do của mình.

Đại sứ Phạm Văn Quế đã cám ơn Ngài Thị trưởng và nhân dân Thủ đô Mexico, với những tình cảm tốt đẹp và sự ngưỡng mộ đối với nhân dân Việt Nam và cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã cho xây dựng công viên “Tự do cho các dân tộc” và đặt tượng đài Hồ Chí Minh tại Thủ đô bằng chính kinh phí của mình. Đại sứ cũng nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là chiến sĩ lỗi lạc đấu tranh vì độc lâp, tự do cho các dân tộc, mà Người còn là nhà văn hóa lớn được UNESCO công nhận trên toàn thế giới. Câu nói bất hủ của Người “Không có gì quý hơn độc lập tự do” vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay.

Ông Virgilio Caballero, Chủ tịch Hội Hữu nghị và hợp tác Mexico – Việt Nam, người đã chọn bức ảnh Bác làm đề tài để nghệ nhân tạc tượng Mexico sáng tác, với mái tóc bạc trắng đã không ít lần nghẹn ngào bày tỏ: thật là tuyệt vời! Thế hệ chúng tôi xuống đường những năm 60 để phản đối chiến tranh Việt Nam đâu nghĩ tới có ngày được tạc và đặt tượng Bác Hồ giữa lòng Thủ đô Mexico; giấc mơ bấy lâu chờ mong nay đã thành hiện thực! Bác ngồi đó dung dị trong lòng bạn bè quốc tế và nhân dân chứ không cao xa, cách biệt trên bệ cao quyền lực.

Công viên “Tự do cho các dân tộc” với kiến trúc chủ đạo mang đậm nét Việt Nam là kết quả của sự vận động, phối hợp và hợp tác chặt chẽ giữa tập thể cán bộ nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Mexico, đứng đầu là kiến trúc sư – Đại sứ Phạm Văn Quế cùng với Viện Hữu nghị và hợp tác Mixico – Việt Nam và các cơ quan chức năng của thành phố Mexico. Rất khẩn trương và quyết tâm, chỉ trong vòng hơn hai tháng làm việc liên tục và miệt mài, từ một khu vườn um tùm và tối bụi, các bạn Mexico đã cải biến thành một công viên tươi xanh với hệ thống chiếu sáng hiện đại, đậm nét á đông, nhất là với các cây trồng Việt Nam quen thuộc như tre, trúc, sả, sen, bèo, muống cạn và nhiều cây thảo dược nhiệt đới… và giữa thiên nhiên tuyệt vời ấy, nổi lên hình ảnh Bác Hồ rất đời thường, đang thư thái làm việc.

Tượng đài Hồ Chủ tịch trong công viên “Tự do cho các dân tộc” thực sự là biểu tượng cao quý của tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân hai thủ đô và hai nước Việt Nam – Mexico, một không gian độc đáo giữa thành phố Mexico cổ kính. Đây là một công trình văn hóa và công cộng nằm trong khu Trung tâm lịch sử của Thủ đô mà bạn đã quy hoạch dài lâu để hướng tới những hoạt động thiết thực cho lễ kỷ niệm 200 năm ngày phát động cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc vào năm 2010.

Từ nay trở đi, bất kỳ người con Việt nào khi đặt chân lên miền đất của các nền văn hóa cổ lớn là Azteca và Maya, quê hương của những vũ điệu trữ tình Mariachi và của những vị anh hùng đã chiến đấu vì độc lập tự do của Mexico như Miguel Hidalgo, Benito Juarez, … đều có thể tự hào và vinh dự đến thăm công viên “Tự do cho các dân tộc”, ngắm tượng Bác Hồ và thậm chí ngồi bên Bác, lâng lâng trong tình cảm bao la của bạn bè quốc tế.

Năm nay mùa xuân như đến sớm hơn với cộng đồng Việt Nam nhỏ bé nhưng gắn kết tại Mexico. Bác ơi, thế là tết này chúng con đã có thể dâng lên Bác những cành đào hồng thắm, bánh chưng xanh, chút mứt sen và ấm trà thơm thắm đậm tình quê và thắp cho Người nén hương trong khuôn viên Việt giữa trời đất Mexico để cầu chúc cho dân tộc Việt Nam mãi trường tồn, mãi hạnh phúc, an khang và thịnh vượng. Tượng đài Hồ Chí Minh giữa Trung tâm lịch sử của Thủ đô Mexico thực sự là món quà sớm của năm “Ngoại giao Văn hóa 2009”.

Thành phố Mexico. 17/1/2009
Ngô Tiến Dũng, Tham tán công sứ
Đại Sứ quán Việt Nam tại Mexico.

lamdong.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin dùng tri thức

Bác HồSau tuyên ngôn Độc lập, ngày 3-9-1945 Chính phủ họp để cụ thể hóa chương trình hành động 6 điểm, nhiệm vụ hàng đầu diệt giặc đói, giặc dốt, còn nguy hiểm hơn giặc ngọai xâm. Tháng 10-1946, nói chuyện với đông đảo giới trí thức cả nước, Bác Hồ nhắc lại: Đói, dốt còn nguy hiểm hơn giặc ngọai xâm, đói không đánh giặc được, dốt thì mất nước, kiến thiết nước nhà cho dân giàu nước mạnh càng cần trí thức…

Luật sư Phan Anh, nguyên Bộ trưởng Bộ Thanh Niên trong Chính phủ Bảo Đại- Trần Trọng Kim, sau Cách mạng tháng tám được cử làm Bộ trưởng Quốc phòng, rồi Bộ trưởng Ngoại thương mà không phải đảng viên cộng sản. Ông Phan trả lời người bạn Na Uy rằng: Mấu chốt là Hồ Chí Minh áp dụng chính sách tín nhiệm đối với trí thức. Tính ra có hơn một năm trời mà có 4 lần thay đổi trong Chính phủ.

Lần đầu, từ Ủy ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân đại hội ở Tân Trào cử ra ngày 25-8-1945 về Hà Nội mở rộng thành phần mang tên Chính phủ Lâm thời ra mắt ngày 2-9-1945, có 15 bộ trưởng thì 9 bộ trưởng thuộc tầng lớp gọi là trí thức tiểu tư sản.

Lần hai, 20 vạn quân lính Tàu Tưởng vượt biên giới vào Việt Nam theo quyết định của Hội nghị Postdam (7-1945), để giải giáp quân đội Nhật. Chúng kéo cả vợ con nhếch nhác, cả các tổ chức đảng phái phản động để chống phá cách mạng nước ta với mục tiêu trước mắt: “Diệt cộng, cầm Hồ”. Rủi cho chúng, Việt Nam đã có chủ, Chính phủ cụ Hồ ra mắt và tuyên bố độc lập trước thế giới ngày 2-9 rồi. Trong tình huống “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chính Minh đã tỏ rõ bản lĩnh “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của mình. Thực tài tình và bất ngờ khi người mời thủ lĩnh Việt Cách (Việt Nam Cách mạng đồng minh) Nguyễn Hải Thần chuyên nghề xem bói bốc thuốc bên Vân Nam vào ghế Phó Chủ tịch Chính phủ liên hiệp Lâm thời ngày 1-1-1946.

Lần ba, để “danh chính ngôn thuận” khẳng định chủ quyền độc lập, trong muôn vàn khó khăn, lần đầu tiên nước ta tổ chức tổng tuyển cử vào ngày 6-1-1946. Thực hiện sách lược “Tạm hòa với Tưởng” Hồ Chủ tịch đề nghị Quốc hội dành cho tổ chức Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng) và Việt Cách 70 ghế, chấp nhận 2 ghế quan trọng giao cho người không phải đảng phái – Bộ Nội vụ do Cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ chức bộ trưởng (Bác đã tính trước, mời cụ từ Quảng Ngãi ra Hà Nội). Bộ Quốc phòng do ông Phan Anh giữ chức. Cựu hoàng Bảo Đại được mời giữ chức cố vấn tối cao. Mặc dù sau đó, một số thành viên trong chính phủ đã tự đào thải mình, chạy theo quân Tưởng về nước như “Phó chủ tịch” Nguyễn Hải Thần, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam…

Lần bốn, ngày 3-11-1946 tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I, Bác Hồ tuyên bố thành phần chính phủ đoàn kết, toàn dân, tập hợp nhân tài, không phân biệt đảng phái, đó là Chính phủ Liên hiệp quốc dân. Các nhân sỹ trí thức được giữ trọng trách trong Chính phủ gồm các Bộ: Nội vụ – Huỳnh Thúc Kháng, Giáo dục – Nguyễn Văn Huyên, Giao thông công chính – Trần Đăng Khoa, Y tế – Hoàng Tích Trí, Tư pháp – Vũ Đình Hòe, Canh nông – Ngô Tấn Nhơn, Cứu tế – Chu Bá Phượng… Hầu hết những người được “chọn mặt gửi vàng” sau này đều xứng đáng với sự tin cậy của Bác.

PHÚC KHÁNH (ST)
xaydungdang.org.vn

Bình đẳng dân tộc đặt nền móng cho đại đoàn kết

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã để lại cho Đảng, nhân dân, dân tộc ta nhiều di sản tư tưởng, văn hóa có ý nghĩa giá trị nhân văn sâu sắc.

Nhân dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010) và 20 năm Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam (1990 – 2010), Vietnam+ xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một số bài viết trong cuốn Kỷ yếu của Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” diễn ra trong hai ngày 12-13/5, tại Hà Nội.

Dưới đây, xin trích đăng bài viết của bà Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương:

Một trong những di sản quý mà Hồ Chủ tịch đã để lại cho nhân dân Việt Nam chính là tư tưởng của Người về bình đẳng dân tộc. Tư tưởng này đã đặt nền móng cho việc củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bình đẳng dân tộc trong quan niệm của Hồ Chí Minh khác xa bình đẳng dân tộc của giai cấp tư sản. Hồ Chí Minh cho rằng, bình đẳng dân tộc không chỉ cụ thể hóa về mặt pháp lý, mà quan trọng hơn là phải được thực hiện trên thực tế. Và chính Người đã thực hiện điều đó.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định, các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng và Chính phủ sẽ hết sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số về mọi mặt.

Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng ta tiếp tục đề ra những chính sách nhằm thực hiện bình đẳng dân tộc. Tháng 8-1952, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về dân tộc. Tiếp đó, tháng 6-1953, Chính phủ đã ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam với tinh thần cơ bản là đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ lẫn nhau. Hiến pháp của nước ta cũng khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và được cụ thể hoá bằng chính sách dân tộc qua các thời kỳ của cách mạng.

Bình đẳng dân tộc và độc lập dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, độc lập dân tộc là nền tảng để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó. Khi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, chúng đã thi hành những chính sách đi ngược lại với nguyện vọng và quyền của các dân tộc ở Việt Nam. Đó là chính sách “chia để trị”, “dùng người Việt đánh người Việt”, dùng người dân tộc này đánh người dân tộc khác, nhằm chia rẽ các dân tộc, phục vụ cho mưu đồ thống trị của chúng.

Vì vậy, có giành được độc lập dân tộc, mới có điều kiện để chăm lo cho đồng bào các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng và Chính phủ đã có những kế hoạch và hành động cụ thể để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, từng bước mang lại cuộc sống mới cho đồng bào.

Mặt khác, thực hiện bình đẳng dân tộc cũng là nhân tố quyết định để củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Khi một dân tộc này chà đạp, ép buộc các dân tộc khác thì sớm hay muộn cũng tạo nên sự chia rẽ, ly khai dân tộc. Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy điều đó khi cho rằng để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thì phải thực hiện bình đẳng dân tộc, đại đoàn kết dân tộc không những phải dựa trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, mà còn phải thực hiện đoàn kết các dân tộc.

Cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc là bình đẳng dân tộc, vì lợi ích của tất cả các dân tộc trong một quốc gia. Khi các dân tộc được đối xử bình đẳng, cả về nghĩa vụ và quyền lợi, sẽ tạo ra tiếng nói chung và tạo nên sự đồng thuận giữa các dân tộc và ngược lại.

Vì thế, nếu không đảm bảo và không có những chính sách và hành động cụ thể để thực hiện bình đẳng dân tộc, làm cho bình đẳng dân tộc ngày càng trở thành hiện thực thì khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị lung lay, làm ảnh hưởng đến sự tập hợp lực lượng của cách mạng.

Để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, cần phải có một xã hội mà ở đó quyền bình dẳng giữa các dân tộc có điều kiện và cơ sở để thực hiện. Xã hội đó, không thể khác là xã hội xã hội chủ nghĩa. Kết luận trên của Hồ Chí Minh được Người rút ra trong quá trình khảo nghiệm các con đường cứu nước và trong quá trình khảo sát các xã hội tư bản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong quan hệ giữa dân tộc đa số có trình độ phát triển cao hơn với các dân tộc thiếu số có trình độ thấp hơn rất dễ nảy sinh tư tưởng kỳ thị dân tộc, và thường có hai thái cực: một là người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo, và hai là cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc nhỏ bé, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không cố gắng.

Người cho rằng, cần phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi và tự ti dân tộc. Trong nhiều hội nghị, trong nhiều bài viết, bài nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng những từ rất thân mật, ruột thịt để nói về tình đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, như “anh em một nhà”, “giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”… Người nhấn mạnh rằng, đồng bào miền xuôi với trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật phát triển hơn phải giúp đỡ đồng bào thiểu số, để cùng tiến bộ.

Người cũng đã khẳng định nhiệm vụ của Trung ương, Chính phủ và cấp ủy đảng là phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc, phải giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số về mọi mặt.

Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc chung sống, trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số, còn lại 53 dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 13,8% dân số cả nước. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước tạo nên một dân tộc Việt Nam thống nhất.

Các dân tộc ở nước ta sinh sống gắn bó với nhau từ lâu đời, đã sớm có ý thức đoàn kết, giúp nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước. Sự đoàn kết gắn bó giữa các cộng đồng dân tộc đã tạo nên một quốc gia đa dân tộc bền vững, thống nhất.

Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán, theo nguyên tắc: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc của Đảng đã được thể hiện ở các nghị quyết của Đảng.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá IX về công tác dân tộc đã khẳng định chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay là: “Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.”

Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ….”

Để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc và miền núi, nâng cao dần mức sống của đồng bào các dân tộc, trong những năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số một cách đồng bộ và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.

Song song đó, Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án đầu tư phát triển trên địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc như: Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng; Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trong số đó, Chương trình 135 – giai đoạn 2, đang đầu tư cho 1.841 xã và 3.149 thôn, bản đặc biệt khó khăn với tổng vốn đầu tư gần 13 nghìn tỷ đồng; quyết định số 134/2004 về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số và tập trung giúp đỡ 62 huyện khó khăn nhất; thực hiện sâu rộng Chương trình xoá đói giảm nghèo và chăm lo các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội, người có công với cách mạng.

Nhờ vậy, cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa từng bước được cải thiện rõ rệt, quyền của các dân tộc thiểu số được bảo đảm đầy đủ và toàn diện; đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, tích cực phát huy truyền thống cách mạng, yêu nước, tinh thần đoàn kết để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc, như Bác Hồ hằng mong muốn./.

Hà Thị Khiết (Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương)
vietnamplus.vn

Nguyễn Ái Quốc và văn học Pháp ngữ

Nguyễn Ái Quốc“Nguyễn Ái Quốc được coi là một trong những nhà văn Pháp ngữ Việt Nam không những sớm nhất mà còn thành công nhất “- Đó là đánh giá của giáo sư Alain Guillemin, chuyên gia hàng đầu của Pháp về Văn học Pháp ngữ Việt Nam.

Văn học Việt Nam, ngoài bộ phận viết bằng tiếng Việt (dùng chữ Nôm hoặc chữ Quốc ngữ), và bộ phận viết bằng chữ Hán, còn có một bộ phận ít được biết đến: văn học viết bằng tiếng Pháp.

Cho đến nay, chỉ có một cuốn sách viết riêng về để tài này là cuốn The Vietnamese Novel in French: A Literary Response to Colonalims (Tiểu thuyết Pháp ngữ Việt Nam: Văn chương đáp lại Chủ nghĩa thực dân) của giáo sư Mỹ Jack A. Yeager 1, dựa trên luận án tiến sĩ của ông. Ngoài ra, còn có một luận án tiến sĩ khác, cũng ở Mỹ, viết về Phạm Văn Ký 2.

Giáo sư Alain Guillemin, chuyên gia hàng đầu của Pháp về lĩnh vực này, trong La Littéature Vietnamienne Francophone: Entre Colonisalisme et Nationalisme (Văn học Pháp ngữ Việt Nam: Giữa chủ nghĩa thực dân và Chủ nghĩa dân tộc) cho biết rằng từ năm 1913, thời điểm xuất bản tập thơ “Mes heures perdues” (Những giờ khắc tôi đã mất) của Nguyễn Văn Xiêm, cho đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, đã thu thập được khoảng một trăm tác phẩm của 47 tác giả, bao gồm 62 tác phẩm văn xuôi (34 tiểu thuyết, 18 tập truyện kể, 8 tập tiểu sử tự thuật, 2 tập truyện ngắn), 31 tập thơ, và 6 vở kịch.

Phạm Văn Ký, tác giả của 10 tiểu thuyết và tập truyện ngắn, 4 tập thơ, 3 vở kịch, do các nhà xuất bản lớn ở Paris như Fasquelle, Le Seuil, Grasset, Gallimard, NRF phát hành, đoạt Giải thườn Lớn của Viện Hàn lâm Pháp năm 1961 3 có lẽ là tác giả hội nhập sâu sắc nhất vào xã hội Pháp.

Bên cạnh đó, theo tôi, Nguyễn ái Quốc cũng phải được coi là một trong những nhà văn Pháp ngữ Việt Nam không những sớm nhất mà còn thành công nhất.

Theo Yeager, tập văn xuôi Pháp ngữ đầu tiên của Việt Nam là Contes et Légendes du Pays d’Annam (Truyện cổ và thần thoại nước An Nam, 1913). Nhưng cuốn tiểu thuyết, và có lẽ cũng là tác phẩm văn xuôi hư cấu đầu tiên, Mademoiselle Lys (Cô Huệ) của Nguyễn Phan Long, mãi đến năm 1921 mới xuất bản.

Theo Alain Guillemin, trước năm 1945, ảnh hưởng của văn học Pháp ngữ Việt Nam chỉ đóng khung ở địa phương, vì trong 44 tác phẩm, 32 in tại Hà Nội và Sài Gòn, và trong số 25 tác phẩm văn xuôi, chỉ có 3 in ở Pháp. Tuy nhiên, Alain Guillemin khi cho rằng có lẽ mảng chuyện ngắn đã bị đánh giá chưa đúng mức, bởi lẽ đó mới chỉ là các tuyển tập, vì thế “cần khảo sát các báo và tạp chí Pháp ngữ xuất hiện trong thời thuộc địa 4”.

Điều đó rất đúng với trường hợp Nguyễn ái Quốc. Như chúng ta đều biết, Nguyễn ái Quốc đến sống tại Pháp vào khoảng cuối năm 1917. Chàng trai Việt Nam hai mươi bảy tuổi kết thân với nhiều nhà hoạt động cách mạnh quốc tế, và nhanh chóng trở thành một cây bút quan trọng của báo chí các nhóm cách mạng thuộc địa hoạt động ở Paris.

Giáo sư Hayes Edwards (Rutgers University), trong bài The Shadow of Shadows5, khi so sánh sự tương đồng giữa Nguyễn ái Quốc và nhà hoạt động cách mạng Senegal Lamine Senghor, có viết: “Trong bài này, tôi sẽ tập trung vào tác phẩm của Nguyễn ái Quốc, ông là cây bút quan trọng và kỳ lạ nhất trong các nhóm cách mạng ở Paris trong nửa đầu thập kỷ 1920, người ta đã cho đăng cả một cơn lũ bài viết thuộc nhiều thể loại không chỉ trên tờ Le Paria, mà cả trên L’Humanité, Le Journal du Peuple, La Voix ouvrière, Le Libétaire, Clarté, và L’action Colonialé 6”.

Riêng với tờ Le Paria, Nguyễn ái Quốc vừa là người phụ trách, người biên tập, vừa là cây bút chính, nhiều khi phải viết bài thay cho những tác giả không viết kịp.

Không chỉ viết báo, tiểu luận, Nguyễn ái Quốc còn viết truyện. Giáo sư Hayes Edwards gọi nhiều bài viết của Nguyễn ái Quốc là những “Kiệt tác nhỏ về thể văn nhại và tiểu luận (“There are a number of little masterpieces of parody, essays”) và đánh giá cao những cách tân văn chương của Nguyễn ái Quốc mà ông coi là đóng vai trò không thể thiếu trong sự phát triển tư duy chính trị của các chiến sĩ cách mạng thuộc địa7.

Những truyện ngắn đầu tiên của Nguyễn ái Quốc như Lời than văn của bà Trưng Trắc (Les lamentations de Trung – Trac), Paris (Trích Những bức thư gửi cô em họ – extrait de Letters à ma cousine), Con người biết mùi hun khói (“enfumé”) đều in trên tờ L’Humanité trong năm 1922, như vậy chỉ một năm sau Mademoiselle Lys (Cô Huệ) của Nguyễn Phan Long.

Truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc khá độc đáo và hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh đầu thập niên 1920, nghĩa là mấy năm trước Tố Tâm và hàng chục năm trước Tự Lực Văn Đoàn.

Văn xuôi của Nguyễn ái Quốc, cũng như của Hồ Chí Minh sau này, rất đa dạng tùy theo đối tượng bạn đọc và các yêu cầu cụ thể: khi khá cầu kỳ, như trong Paris (1922), khi lại mộc mạc, như trong Giấc ngủ mười năm (1949). Truyện Con rùa (1925) đầy chất trào lộng mà sau này ta sẽ gặp lại ở Nguyễn Công Hoan, còn Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922) lại đầy chất mộng mị, ma quái mà ta có thể nhận thấy rất rõ dù đã qua dịch thuật: “Đó chính là lúc Thiên tử nằm mơ. Ngài mơ thấy những con rồng chạm trên tủ, bàn bỗng biến động, hóa thành những con rắn gớm ghiếc, mở thao láo những con mắt đỏ ngầu tia máu. Còn những con phụng hoàng, giống chim tượng trưng cho uy quyền vua chúa, thì vươn chiếc cổ dài ngoẵng tua tủa lông, quệt mỏ xoè cánh, y hệt đám gà trống cáu kỉnh, đáng ghét. Mọi vật bằng ngọc thạch, bằng châu báu, đều xỉn đi, xám xịt lại. Tất cả cứ từ từ quay tròn, và tan dần, tan dần. Rồi một bóng ma trùm khăn, trăng trắng hiện lên. Nhà vua kinh hoàng run lên lập cập, vì không phải vua chúa nào cũng đều can đảm như Hămlét, và thông minh như thế thì lại càng không. Ngài muốn kéo chiếu che mặt mà không được 8”.

Con người biết mùi hun khói, đúng như Hayes Edwards nhận định, là một truyện ngắn đặc sắc về nhiều mặt. Trước hết là tính quốc tế – tác phẩm của một người Việt Nam được bắt đầu bằng lời đề tặng một người Algeria bị một sĩ quan pháp tên là Vidart giết hại: “Xin tặng Nahông, người đã bị quân phiệt thực dân ám hại, bài viết này”. Lời đề tặng này lại được đặt trong sự tương phản với đoạn trích lời Albert Sarrault, bộ trưởng bộ thuộc địa: “Chính cuộc chinh phục hệ thống thuộc địa đã rèn luyện tài năng chiến đấu của số đông những nhà chỉ huy quân sự lớn của ta, những con người đã đưa ta đến chiến thắng, đã được dư luận Pháp ca ngợi vinh quang và chiến công ngay khi mang lá cờ nước ta đến dưới những bầu trời châu Phi hay châu Á”.

Nhưng độc đáo nhất là tính viễn tưởng, Sáng tác năm 1922, nhưng bối cảnh câu chuyện lại diễn ra vào năm 1998, nghĩa là sau đó 75 năm. Hãy đọc đoạn mở đầu:

“Thành phố Haoussas cờ xí tưng bừng. Tưởng đâu như một vị chúa xuân đã gõ cây đũa thần lên gỗ ván khô khốc ở các bao lơn và các cửa sổ, làm mọc ra muôn vàn tấm lá đỏ phấp phới yêu kiều trước gió. Đây là lễ kỷ niệm lần thứ năm mươi ngày thành lập Cộng Hòa Liên Hiệp Phi. Chưa bao giờ dân chúng lại tham gia với mức độ ấy những hội hè loại này. Từ sáng sớm, các đường phố, các quảng trường y như một dòng sông người. Từng đoàn học sinh, giương cờ đi đầu, vừa diễu qua các phố vừa hát Quốc tế ca, được dân chúng vỗ tay hoan nghênh. Trên quảng trường Xô viết, một cụ già hô hào đám đông. Đó là cố Kimengo, mệnh danh là Con người biết mùi hun khói”.

Trong cảnh lễ hội đó, cố Kimengo kể lại câu  chuyện xưa: những người dân thuộc địa Pháp nghèo khổ không có tiền nộp thuế, phải bỏ trốn vào hang. Bọn thực dân hun khói làm những người trong hang chết ngạt. Riêng cố Kimengo may mắn ở gần một kẽ nứt, đào một cái ngách, thoát ra được và trở thành “chiến sĩ của quân đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hòa da đen”. Cụ Kimengo “không những đã ra sức thức tỉnh anh em cùng màu da ra khỏi giấc ngủ mê say của con người nô lệ, mà còn cố gắng phá tan mọi thành kiến dân tộc và chủng tộc, tập hợp những người bị bóc lột thuộc các màu da trong cuộc đấu tranh chung”.

Con người biết mùi hun khói của Nguyễn ái Quốc có lẽ là tác phẩm đầu tiên thuộc thể loại viễn tưởng ở Việt Nam. Đặc biệt hơn, nếu lưu ý rằng lễ kỷ niệm lần thứ 50 ngày thành lập Cộng hòa liên hiệp Phi trong truyện diễn ra vào năm 1998, ta sẽ thấy Nguyễn ái Quốc đã tiên đoán rất chính xác sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa cuối thập kỷ 1940.

Nhân đây, cũng xin nói thêm rằng sau này Hồ Chủ tịch còn trở lại với thể loại viễn tưởng trong Giấc ngủ mười năm (1949). Nông Văn Minh, nhân vật trong truyện, là người Nùng, vào Vệ Quốc quân đánh Tây. Trong trận đánh đèo Bông Lau, Minh bị thương vào đầu, ngất đi, khi tỉnh lại, thấy mình đang nằm trong bệnh viện. Một cô gái trẻ ôm chầm lấy anh hôn lấy hôn để làm Minh ngượng nghịu. Mãi lúc đó Minh mới sửng sốt nhìn thấy tờ lịch đề ngày 15 tháng 8 năm 1958. Cô gái chính là con gái anh, nay đã lớn, đang học đại học y khoa, ngồi kể cho bố nghe về những đổi thay trên quê hương đã hoàn toàn độc lập.

Xin trở lại với những tác phẩm Pháp ngữ của Nguyễn ái Quốc. Theo Hayes Edwards, sáng tác của nhà cách mạng trẻ tuổi Việt Nam còn âm vang nhiều năm sau khi anh rời Paris đi Moskva năm 1923. ảnh hưởng của Nguyễn ái Quốc có thể thấy rất rõ trong sáng tác của Lamine Senghor (Sénégal).

Chẳng hạn, một câu trong tác phẩm Con người biết mùi hun khói, “cụ Kimengo đã ra sức thức tỉnh anh em cùng màu da ra khỏi  giấc ngủ mê say của con người nô lệ”, dường như vọng lại trong đoạn kết bài diễn văn Lamine Senghor đọc tại Đại Hội Phản Đế tại Bruxelles. Cũng theo Hayes Edwards, giọng văn châm biếm, cũng như việc sử dụng hình minh họa trong La violation d’un pays (ức hiếp một dân tộc) có lẽ cũng được Lamine Senghor học theo gương Nguyễn.

——————-

1. J.A.Yeager, The Vietnamese Novel in French: a literary Response to Colonialism, Hanover, New Hampshire University Press, 1990.

2. Nguyen Hon Nhiem Lucy, L’échiquier et l’antinomie: Je/moi comme singe et substance du conflit Occident-Extrême-Orient dans les oeuvres de Pham Van Ky, University of Massachussets Amhers, 1992 (Chú thích của Alain Guillemin).

3. Giáo sư Alain Guillemin, hiện làm việc tại Viện nghiên cứu Đông Nam á (Institut de Reserche sủ le Sudét Asiatique, Marseille). Bài La Littérature Vietnamienne Francophone: Entre Colonisalisme et Nationalisme được ông gửi riêng cho tôi.

4. “II est probable que le poids des nouvelles est-sous – estimé car, surtout en ce qui concerne les récits  courts édités au Vietnam, il ne s’agit que de publications en volume. Une enquête dans les nombreux journaux et revues francopohnes parus pendant la période coloniale serait nécessaire”.

5. Hayes, Brent Edwards, The Shadow of Shadow, Xin xem bản trên internet: <http://muse.jhu.edu/journals/positions/v011/11.1edwards.html>

6. “I will concentrate here oarticularly on the work of Nguyen Ai Quoc, who may well stand as the most important and prodigious writer in radical circles in Paris during the first part of the 1920s, publishing a torrent of wide-ranging articles not only in Le Paria but also in L’Humanité, Le Journal du Peuple, La Voix Ouvrière, Le Libétaire, Clarté, and L’Action Coloniale”.

7. “It is even more surprising that literary innovation-and efforts in fiction in particular-play an indispensable role in the development of a number of anticolonial militants’ sense of politics”.

8. Tìm hiểu truyện và ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sở Văn hoá Thông tin Đồng Tháp, 1985.

Nhà văn Ngô Tự Lập (từ Hoa Kỳ)
tienphong.vn

Nhớ lời Bác Hồ căn dặn tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II

(TCTG)- Từ tuổi trẻ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu và đồng cảm với thanh niên sinh viên – đó là lớp người trẻ tuổi đang chuẩn bị bước vào đời, khát khao lý tưởng, có nhiều hoài bão. Là những người ham hiểu biết, khám phá, cũng ham hành động, lại nhiều xúc cảm, dễ chịu tác động của tập thể và đặc biệt là đó mới chỉ là lớp người đang trưởng thành, chứ chưa phải là những người trưởng thành nên họ rất dễ vấp ngã, nản lòng. Từ đó, Người khuyên sinh viên hãy thực hiện “6 cái yêu”. Theo Người, 6 điều đó, vừa thể hiện rõ tinh thần và quyết tâm của tuổi trẻ, vừa là cái đích để mỗi sinh viên hướng tới và phấn đấu.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo đến thế hệ trẻ, trong đó sinh viên là những “người lao động trí óc trẻ” được Bác chú trọng nhiều. Người thư­ờng xuyên thăm hỏi, động viên họ, khuyến khích họ miệt mài học tập và không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng, để trở thành những người có đức, có tài, đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong hành trình tìm đ­ường cứu n­ước, tìm con đường giải phóng dân tộc, đem lại tự do hạnh phúc cho đồng bào, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm đến “bộ phận quan trọng” này của dân tộc. Người đã cổ vũ, cuốn hút những thanh niên, sinh viên Việt Nam, đưa họ đến với cách mạng bằng chính những năm tháng tuổi trẻ đầy nhiệt huyết cách mạng và khát khao đấu tranh ginàh độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào của mình. Khi nước nhà chưa giành được độc lập, từ điều kiện cụ thể của Việt Nam, một đất nư­ớc với hơn 90% dân số là nông dân, đa phần là mù chữ, Người đã bằng những hoạt động thiết thực của mình, tuyên truyền, khuyến khích và tạo điều kiện giúp họ được học hành để góp sức cho cách mạng.

Sau khi cách mạng thành công, tin yêu và hy vọng ở thanh niên, sinh viên, những con ng­ười như­ Lênin nói: Nhiệm vụ thật sự xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa chính là của thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thanh niên là người chủ tư­ơng lai của nư­ớc nhà. Thật vậy, nư­ớc nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”[1]. Để thanh niên có thể trở thành những ng­ười chủ xứng đáng, những con ngư­ời đủ đức, đủ tài, gánh vác đư­ợc những trọng trách mà cách mạng giao phó, bên cạnh việc tự bản thân họ phải rèn luyện, tu d­ưỡng đạo đức, năng lực chuyên môn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã luôn tạo điều kiện để họ được học tập, được sinh hoạt trong tổ chức và hư­ớng dẫn họ tập dư­ợt làm việc, để họ ngày một trưởng thành và đảm đương tốt những nhiệm vụ đ­ược giao.

Không chỉ dừng lại ở việc hoạch định một chiến lược đào tạo con người, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp cách mạng lâu dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thông qua những bức thư, những bài phát biểu thể hiện rõ sự quan tâm của mình đối với thanh niên. Đến thăm và nói chuyện với các sinh viên Việt Nam tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II (5-7/5/1958), Người nói: Hồi Người còn đồng tuổi với các sinh viên, những người đang được hưởng sự chăm lo, giáo dục của chế độ xã hội mới, được Đảng và Chính phủ nâng niu giúp đỡ, thì Người không có điều kiện được học hành như họ, mà phải “đi rửa bát hoặc làm nhiều công việc khác để lấy tiền mà đi học”. Hơn nữa, khi đó đất nước đang đắm chìm trong đêm trường nô lệ, người dân thuộc địa không có một chút tự do dân chủ nào, nên không được học hành “cho đến nơi đến chốn”, và càng không thể “phát triển hết khả năng của mình”. Tuy nhiên, đánh giá đúng vị trí và vai trò của thanh niên (sinh viên) trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước sau này, ngay từ những ngày cách mạng còn trong thời kỳ trứng nước, cùng với việc tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Hồ Chí Minh khi đó với tầm nhìn chiến lược cảu một vị lãnh tụ, đã kịp gửi những thanh niên Việt Nam đi đào tạo ở trường Quân sự Hoàng Phố, ở trường Đại học phương Đông Mátxcơva, trường Không quân Mátxcơva, v.v..

Và sau 9 năm kháng chiến, miền Bắc đã được giải phóng. Sau những năm dài chiến tranh, một kỷ nguyên mới với những nhiệm vụ mới, nhằm hướng đích Độc lập tự do và CNXH đang đòi hỏi sự cố gắng phấn đấu về mọi mặt của thanh niên, đặc biệt là những sinh viên- “những người đang được đào tạo dưới mái trường XHCN”. Nhấn mạnh điều này, Hồ Chí Minh khẳng định: họ là những người không chỉ tiếp sức cho thế hệ già, mà còn có trách nhiệm dìu dắt các em nhỏ và chính họ là thế hệ, là lớp người kế cận, tiếp tục tực hiện con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn, trong hành trình đấu tranh vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, tự do và CNXH.

Đề cao nhiệm vụ đào tạo và phát triển con người Việt Nam mới XHCN “vừa hồng vừa chuyên”, Người từng nhiều lần nhấn mạnh: thanh niên phải có cả đức và tài mới hoàn thành được nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân tin tưởng giao phó. Người quan niệm “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người”[2]. Mặc dù nhấn mạnh: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang”[3], song được sinh ra và lớn lên từ trong lòng chế độ xã hội cũ, họ ít nhiều còn mang trong mình những tàn dư của tầng lớp tiểu tư sản, nên để xứng đáng với vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: bản thân mỗi người phải “tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng mình”, cải tạo tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Bởi rằng, từ cá nhân chủ nghĩa sẽ “đẻ ra tư tưởng danh lợi”, ham chuộng địa vị, quyền chức, từ đó lại sinh ra căn bệnh sợ khó nhọc và sợ khổ, “coi khinh lao động chân tay”, “coi khinh người lao động chân tay”.

Nêu ra những căn bệnh vốn là tàn dư, là dấu vết của tầng lớp tiểu tư sản, Người cũng đồng thời chỉ ra biện pháp để sửa chữa những căn bệnh đó. Thấm nhuần lời dặn của cổ nhân, người cách mạng hãy “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, vị Chủ tịch nước chân tình nói với lớp cán bộ trí thức tương lai: “Muốn sửa chữa cá nhân chủ nghĩa thì khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào”, “làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau”[4]. Trên tinh thần đó, Người nhấn mạnh: chừng nào mỗi người sinh viên tự hỏi và trả lời được 2 câu hỏi có ý nghĩa: đó là Học để làm gì ? và Học để phục vụ ai? thì chừng đó, trong tư tưởng của họ đã dứt khoát xác định rõ mục tiêu để học, để phấn đấu. Bởi rằng, tư tưởng thông suốt thì hành động sẽ đúng đắn.

Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II diễn ra trong bối cảnh miền Bắc đang tiến hành thực hiện kế hoạch 3 năm khôi phục và cải tạo kinh tế văn hoá xã hội để bước đầu xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Trước những khó khăn của thực tế và con đường đi lên CNXH đầy chông gai thử thách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với những sinh viên Việt Nam, những người trí thức XHCN là: Để xây dựng CNXH thì cần phải có “lao động trí óc và lao động chân tay”. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể của nước nhà, Người nêu rõ: Chúng ta cần “lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại”[5]. Ngược lại, Người cũng khẳng định rằng: Lao động trí óc mà không có lao động chân tay, “chỉ biết lý luận mà không biết thực hành” thì cũng chỉ là “trí thức một nửa”.Vì vậy, sinh viên các cháu phải luôn nhớ rằng: “Trong lúc học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành”, “học tập kết hợp với lao động”.

Từ tuổi trẻ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu và đồng cảm với thanh niên sinh viên – đó là lớp người trẻ tuổi đang chuẩn bị bước vào đời, khát khao lý tưởng, có nhiều hoài bão. Là những người ham hiểu biết, khám phá, cũng ham hành động, lại nhiều xúc cảm, dễ chịu tác động của tập thể và đặc biệt là đó mới chỉ là lớp người đang trưởng thành, chứ chưa phải là những người trưởng thành nên họ rất dễ vấp ngã, nản lòng. Từ đó, Người khuyên sinh viên hãy thực hiện “6 cái yêu”. Theo Người, 6 điều đó, vừa thể hiện rõ tinh thần và quyết tâm của tuổi trẻ, vừa là cái đích để mỗi sinh viên hướng tới và phấn đấu.

1. Đó là yêu Tổ quốc và “phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu mạnh”. Luận giải điều vĩ đại này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cắt nghĩa rất giản dị: để “Tổ quốc ta giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”[6].

2. Đó là yêu nhân dân và muốn làm được như vậy, “phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, biết chia sẻ những lo lắng, những vui buồn, những công tác nặng nhọc với nhân dân”. Đây đồng thời cũng là thực hiện mối quan hệ gần dân, lắng nghe ý kiến của dân, gắn bó máu thịt với nhân dân.

3. Đó là yêu CNXH, vì chỉ “có tiến lên CNXH thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”.

4. Đó là yêu lao động. Theo Người, “muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH thì phải yêu lao động”, vì lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là trách nhiệm của mỗi người. Một người trí thức nói yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH mà không yêu lao động, thì đó “chỉ là nói suông”.

5. Đó là yêu khoa học và kỷ luật, bởi “tiến lên CNXH thì phải có khoa học và kỷ luật”.

Cuối cùng, Người kết luận: Bây giờ là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, là thời đại của CNXH và là thời đại của anh hùng, vì vậy mà “mỗi người lao động tốt đều có thể trở thành anh hùng” và 6 là: “Mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Từ những chỉ dẫn tâm huyết, cụ thể và đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sinh viên, từ những đòi hỏi cụ thể của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH ở miền Bắc, Người đã cùng Đảng, Chính phủ chú trọng đến sự nghiệp đào tạo, giáo dục thanh niên sinh viên, đồng thời sử dụng, tạo điều kiện để những trí thức XHCN phát huy mọi khả năng của mình trên mọi lĩnh vực. Mặt khác, Người cũng luôn lấy g­ương ng­ười tốt việc tốt để cổ vũ, động viên và khuyến khích thanh niên sinh viên, giúp họ định hướng tốt, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hơn nửa thế kỷ đã qua đi kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự và căn dặn sinh viên Việt Nam, cùng với sự phát triển của cách mạng, thanh niên sinh viên ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình. Họ thực sự là những người được đào tạo chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, có đạo đức cách mạng, tinh thần giác ngộ XHCN và tinh thần quốc tế vô sản cao cả. Những phong trào Sinh viên tình nguyện, Tiếp ứng mùa thiVòng tay nhân ái, v,v..những sẻ chia của họ đối với nhau, đối với cộng đồng, những gương sáng Sinh viên nghèo vượt khó, những Sinh viên đạt giải cao tại các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế về học thuật, về âm nhạc,… trong những năm đất nước chuyển mình, thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển, đã thực sự làm cho những mong mỏi, những tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây hoan 50 năm toả sáng trong thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về với cõi vĩnh hằng, song những điều Người dặn, những việc Người đã làm, đặc biệt là tình cảm, sự quan tâm của Người đối với thanh niên, sinh viên Việt Nam thì vẫn luôn là nguồn động viên nội lực, là sức mạnh tinh thần, để mỗi thanh niên, sinh viên không ngừng phấn đấu vươn lên, trở thành những người “vừa hồng vừa chuyên”, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./ .

Ths. Nguyễn Đoàn Phượng

Trung tâm bồi dưỡng cán bộ lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội
tuyengiao.vn


[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.5, tr.185

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.173

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.173

Bác Hồ với thế hệ trẻ

Hỏi chuyện đồng chí Vũ Kỳ

– Làm thư ký cho Bác đã hai mươi bốn năm, có bao giờ anh thấy Bác tự cho mình là một “ông già” không? Và Bác đã làm gì để chống lại tâm lý “ông già” ấy? 

Như tất cả các cụ già Việt Nam, Bác cũng muốn có cái thú vui bình dị của tuổi già như Bác đã thể hiện trong thơ: Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau. Nhưng ở Bác, tôi không bao giờ thấy bộc lộ tâm lý mệt mỏi của một “ông già”. Chắc đồng chí còn nhớ bài thơ của Bác: 

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm, 
Vẫn vững hai vai việc nước nhà. 
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn, 
Tiến bước, ta cùng con em ta!

Việt Nam - Hồ Chí MinhXuất xứ của bài thơ là thế này. Sáng 20 tháng 5 năm 1968, Bác dậy sớm hơn để chuẩn bị 6 giờ 15 tới dự kỳ họp khai mạc của Quốc hội. Vào hội trường, với tư thế trẻ trung và hóm hỉnh, Bác nói: Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi như trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy tôi có bài thơ này: “Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm…”. Cả hội trường sôi động hẳn lên. Các đại biểu Quốc hội ai cũng cảm thấy cùng trẻ lại với Bác.

Từ khi bước chân vào hoạt động cách mạng cho đến lúc từ giã cuộc đời, Bác luôn luôn quan tâm đến thế hệ trẻ. Năm 1925, Bác đã lo đào tạo nhân tài trẻ bằng cách gửi Lê Hồng Phong, Trương Văn Lễnh sang học trường quân sự Hoàng Phố, gửi Trần Phú và một số thanh niên khác sang học trường đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va. Các cháu thiếu niên, nhi đồng, Bác cũng chú ý nhiều. Đó là những cháu ở Trung Kỳ phải sống lưu lạc vì bố mẹ bị thực dân Pháp bắt bớ, tù đày, được Bác đưa từ Phi Chít (Thái Lan) sang Quảng Châu để tổ chức thành nhóm “Thiếu niên tiền phong Việt Nam”. Năm 1926, Bác đưa một số cháu sang học ở Liên Xô kèm theo bức thư gửi Uỷ ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Lê-nin: “… Khi chúng tôi nói cho các em nghe về Lênin, về các bạn, những học trò nhỏ Nga của Lê-nin, các em rất thích và muốn đến nước các bạn để gặp các bạn, sống với các bạn, học tập các bạn, và thật sự trở thành những học trò của Lê-nin như các bạn… Chúng tôi hy vọng rằng các đồng chí không từ chối nhận ba hoặc bốn đồng chí nhỏ tuổi Việt Nam chứ?” Thật là cảm động, Bác lo cho các cháu những điều rất nhỏ, được viết trong lá thư: “… Vào tháng mấy thì ở Mát-xcơ-va bắt đầu lạnh (vì các em thiếu niên này từ một nước nóng bức tới, phải chọn lúc thời tiết thích hợp cho các em đi)… Đến Mát-xcơ-va, các em tới địa chỉ nào?…” 

Khởi đầu lịch sử Đảng ta cũng là do lực lượng thanh niên được Bác dìu dắt. Hồi đó, Bác đã tổ chức “Thanh niên cách mạng đồng chí hội” và tự tay Bác soạn thảo cuốn “Đường kách mệnh” để giảng dạy. 

Năm 1961, trong Đại hội lần thứ ba của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, Bác vui mừng nói: “Từ chỗ chỉ có một Lý Tự Trọng đến ngày nay chúng ta có 78 vạn đoàn viên Đoàn thanh niên lao động hăng hái ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Tiến bộ đó làm cho Bác rất vui sướng và trẻ lại. Nó làm cho lòng Bác phơi phới như hoa nở trong mùa xuân”. 

– Theo anh, trong tất cả các tổ chức của tuổi trẻ, Bác chú ý đến tổ chức nào nhất? 

Tất cả các hình thức tổ chức để tập hợp thanh niên, thiếu niên, nhi đồng nhằm phụng sự Tổ quốc, Bác đều chú ý, quan tâm giáo dục để tổ chức đó ngày càng vững mạnh. Trong đó tổ chức thanh niên xung phong được Bác đặc biệt quan tâm. Bài hát truyền thống của Thanh niên xung phong cũng là bài ca chính thức của Đoàn thanh niên bây giờ, được nhạc sĩ Hoàng Hà phổ nhạc bốn câu thơ của Bác: 

Không có việc gì khó 
Chỉ sợ lòng không bền, 
Đào núi và lấp biển 
Quyết chí ắt làm nên!

Trên đường đi chiến dịch Biên giới, ghé thăm một lán trại thanh niên xung phong làm đường, Bác trò chuyện thân mật rồi hỏi “Các cháu có thích nghe thơ không?”. Tất cả đồng thanh: “Chúng cháu thích nghe thơ ạ”. Thế là Bác ứng khẩu đọc bốn câu thơ này. Ngay sau đó, nhiều thanh niên xung phong và cả bộ đội Vệ quốc đoàn đều truyền cho nhau và học thuộc trong chiến dịch Biên giới. 

Về tổ chức thanh niên xung phong, Bác nói với tôi: “qúy hồ tinh, bất quý hồ đa, lựa tuyển cẩn thận để thanh niên xung phong thật sự là một trường đào tạo thanh niên bằng những công việc thiết thực”. Bác trực tiếp xem và sửa chữa bản điều lệ về nhiệm vụ và bổn phận của Đoàn thanh niên xung phong. 

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Bác theo dõi rất sát các hoạt động của thanh niên xung phong, kịp thời viết bài, nêu gương những điển hình tốt và gửi thư khen các đơn vị thanh niên xung phong có nhiều thành tích trong xây dựng và chiến đấu. 

Tháng 5 – 1968, trong phần viết thêm vào Di chúc, có đoạn: “Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. 

Như vậy, Bác xem tổ chức Thanh niên xung phong không chỉ để làm những việc cụ thể như đắp đường, xây cầu, khai hoang…, mà còn là một trường học để rèn luyện và đào tạo cán bộ tốt cho đất nước. Nếu không nhận thức đầy đủ như vậy tức là chưa thấu hiểu được lời dạy của Bác đối với thanh niên xung phong. 

– Là người được thường xuyên gần gũi Bác, chắc anh thấy rất rõ sự quan tâm bồi dưỡng và giáo dục thế hệ trẻ được thể hiện trong công việc và sinh hoạt thường ngày của Bác? 

Một lần, Bác đi công tác xa hơn một tháng, lúc trở về, Bác lại ngồi bên cầu ao vỗ tay gọi cá đến để cho ăn. Hôm ấy Bác không thấy con cá gáy vây đỏ đến ăn. Bác hỏi tôi. Tôi không biết trả lời thế nào. Tối, tôi hỏi anh em, được biết không ai câu cả. Khoảng mười ngày sau, ngồi bên Bác cho cá ăn, Bác bảo: “Kìa, chú coi, con cá gáy vây đỏ miệng đỏ đã đến rồi đấy”. Rồi Bác nói thêm: “Các chú ở nhà chắc không cho cá ăn đều và đúng giờ cho nên nó mới phải đi kiếm ăn lăng băng như thế”. Bác hạ giọng như tự nói với mình: “Đối với con người cũng thế, nhất là tuổi thanh niên, không quan tâm giữ nếp sống tốt thì cũng như thế”. Tôi nghe mà thấm thía sâu sắc làm sao! 

7 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm ấy, tức là trước ngày Thiếu nhi quốc tế 1-6, Bác gọi chị Thu Trà đến. Hồi đó chị Thu Trà làm chủ tịch Uỷ ban thiếu niên – nhi đồng. Bác hỏi về tình hình một số cháu học sinh miền Nam nghịch ngợm, Bác nói: ba má các cháu gửi các cháu ra miền Bắc để yên tâm công tác với niềm tin là được dạy dỗ tốt. Tại sao có tình trạng này? Lỗi các cháu một phần thì trách nhiệm của các cô các chú gấp mười phần… Bác căn dặn: vì các cháu xa nhà, thiếu tình cảm gia đình, cho nên phân trách nhiệm cho một số gia đình cán bộ chăm sóc các cháu như con em trong nhà. Bác cũng nhận chăm sóc con của đồng chí Nguyễn Hữu Thọ một cháu trai, hai cháu gái. 

Ngày 23 tháng 5 năm 1969, Bác tiếp ông Chủ tịch Thượng nghị viện Chi-lê X. Agienđê, sau này là Tổng thống. Sau đó, Agienđê đã ghi lại những ý nghĩ chân tình của mình trong một bài báo: “Chúng tôi ngồi quanh một cái bàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở chiếc phong bì lấy ra một tấm ảnh và nói với chúng tôi: “Đây là một kỷ niệm”. Chủ tịch lần lượt giới thiệu với chúng tôi những em thiếu nhi anh hùng miền Nam có nét mặt ngây thơ đang ngồi quây quần quanh Chủ tịch trong tấm ảnh. Chủ tịch nói: “Tôi rất vui lòng về các cháu thiếu nhi ngày nay… Hồi còn nhỏ, tôi không làm được những việc mà các cháu đã làm. Thiếu nhi thời tôi cũng vậy”. Sau đó, Chủ tịch mở một quyển vở cũ và với giọng dịu hiền, Chủ tịch đọc những con số chỉ rõ những thanh niên, thiếu nhi đã đạt được thành tích xuất sắc trong học tập, lao động và trong những việc làm anh hùng. Con số này ngày một tăng, nói lên sự nỗ lực của thanh niên”. Agienđê kết luận: “Chưa bao giờ một người khi nói với chúng tôi về các em nhỏ lại giáo dục chúng tôi nhiều như vậy”. 

Sự quan tâm và niềm tin của Bác Hồ đối với các thế hệ trẻ, người chủ của tương lai, một phần quan trọng đã được thể nghiệm trong chính thời thanh niên của Bác. Với hai bàn tay trắng, chàng trai xứ Nghệ Nguyễn Tất Thành 21 tuổi đã quyết tâm đi khắp năm châu bốn biển, tự kiếm sống, tự học tập để tìm đường cứu nước. Quyết tâm ấy, niềm tin ấy, Bác dồn tất cả cho các thế hệ trẻ, mùa xuân của xã hội.

Võ Văn Trực thực hiện

Tạp chí Tia sáng, số 5/2000

thanhdoanquynhon.org.

Nói thì phải làm – Đó là đạo đức của người cách mạng

Trong đời sống của dân tộc ta, từ xưa đến nay, những người chỉ nói mà không làm, hoặc nói nhiều mà làm ít, đều bị nhân dân chê trách, thậm chí khinh ghét và bị coi là hạng người không chính đáng. Trong ca dao, tục ngữ, tiếng nói của nhân dân, còn ghi lại biết bao những câu nói đáng để chúng ta suy ngẫm: “Một điều bất tín, vạn sự chẳng tin”, “Trăm voi không được bát nước sáo!”, hoặc “Nói chín thì phải làm mười/Nói mười làm chín, mọi người cười chê!”. Nghĩa là nhân dân mong muốn làm phải nhiều hơn nói.

Cũng phải nói một cách thẳng thắn rằng, có một số không ít cán bộ và đảng viên ta, trong số đó có cả những người lãnh đạo, đã nói nhưng không làm, hoặc làm không đến nơi đến chốn. Thậm chí có những điều đã hứa hẹn với dân, nhưng nói xong rồi lại quên ngay, khiến nhân dân mất lòng tin. Gần đây trong nhân dân có từ “chém gió”, để chỉ những cán bộ khi nói thì vung tay, mạnh mẽ, hứa hẹn đủ điều, nhưng lời nói rồi gió bay, chẳng có điều nào thành sự thật!.

Trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” viết từ năm 1927, cách đây vừa đúng 85 năm, khi nói về tư cách một người cách mạng, trong 23 điều thì điều thứ 10, Bác Hồ đã viết: “Nói thì phải làm”. Nói và làm đúng những điều mình nói, là một phẩm chất của người cách mạng. Chính điều này tạo ra niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Và cũng chính điều này, làm cho công tác cách mạng của chúng ta ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương lớn về “Nói thì phải làm”.

Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, Bác đã nói: Tôi muốn ra đi tìm hiểu thế giới, rồi sau đó trở về giúp đỡ đồng bào ta. Và Bác đã làm đúng như thế. Sau 30 năm bôn ba khắp các xứ người, chịu đựng biết bao gian khổ, tự kiếm sống, tự học, tham gia đấu tranh, hai lần vào tù, một án tử hình vắng mặt, ngày đêm viết báo lên án chủ nghĩa thực dân, rồi thành lập Đảng và năm 1941 Người đã trở về Tổ quốc, cùng với Đảng và nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công, giành lại nền độc lập cho đất nước. Bác dạy chúng ta phải: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và nói cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức của cách mạng. Và Bác đã làm đúng như thế. Cả cuộc đời của Bác, từ khi còn ở Pác Bó, Tân Trào… cho đến khi giành được chính quyền, trở về Thủ đô Hà Nội, Người vẫn sống một cuộc sống giản dị, thanh bạch, hoà vào đời sống của nhân dân.

Tìm hiểu thực tế sản xuất của nông dân xã Ái Quốc (Hải Hưng) năm 1958Bác Hồ đi tìm hiểu thực tế sản xuất của nông dân xã Ái Quốc (Hải Hưng)
năm 1958
. Ảnh:Internet

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nạn đói đang đe doạ, Bác vận động nhân dân ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Người còn viết bài “Xẻ cơm nhường áo” in trên Báo Cứu Quốc số 53, ngày 28-9-1945: “… Lúc chúng ta bưng bát cơm để ăn, nghĩ đến người đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói…”. Và Bác đã cùng Văn phòng Chính phủ thực hiện đúng như vậy.

Một hôm, đúng vào ngày Văn phòng Chính phủ nhịn ăn, thì Bác được Trung tướng Tiêu Văn – một người chỉ huy của quân Tưởng – mời gặp. Sau đó lại chiêu đãi Bác. Để tranh thủ quân Tưởng, Bác đã nhận lời. Khi về, mặc dù đã được các đồng chí ở nhà báo cáo lại là đã góp một bơ gạo của Bác vào số gạo cứu đói. Nhưng Bác nói, hôm nay Bác vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ nhịn ăn như mọi người và ngày hôm sau Bác đã nhịn ăn một bữa.

Giáo sư Phan Ngọc đã viết: “Bác là một người không thay đổi. Khi gian khổ thế nào thì khi làm Chủ tịch nước Bác vẫn thế. Gian khổ ăn củ khoai lang như thế nào, thì khi làm Chủ tịch cũng ăn củ khoai lang như vậy. Bác không chấp nhận một cái gì đặc biệt cho mình hết. Không những không chấp nhận, mà còn ghét đặc quyền. Người ta nhịn thì mình cũng nhịn. Người ta ở cái lán thì mình cũng ở cái lán. Không có một người như vậy, thì không thể nào lôi cuốn được toàn dân”.

Cũng chính vì thế, chúng ta hiểu vì sao những lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đi sâu vào lòng người mạnh mẽ và xúc động như vậy. “Bác bảo đi là đi, Bác bảo thắng là thắng…”. Toàn dân nhất tề xông lên, không ngại gian khổ hy sinh, vì nhân dân có niềm tin mãnh liệt ở người lãnh đạo của mình. Người lãnh đạo ấy vì mình, vì nhân dân chứ không phải chỉ vì bản thân họ, con cái họ. Người lãnh đạo ấy, ngày đêm lo lắng, ngày đêm làm việc cũng là vì mình, vì nhân dân. Do đó người lãnh đạo và nhân dân là một, và đó chính là sức mạnh của dân tộc ta để đánh thắng những kẻ thù to lớn hơn mình, không phải chỉ hôm nay mà còn trong cả lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc.

*

Nói đi đôi với làm, làm nhiều hơn nói, và nhiều khi chỉ làm mà không nói. Đó là phong cách Hồ Chí Minh!

Bác khuyên mọi người tiết kiệm, và chính Bác nêu gương tiết kiệm trước. Không phải chỉ ở trong nước, mà khi ra nước ngoài, ở nhà khách chính phủ nước bạn, thấy nhiều bóng điện sáng không cần thiết, Bác cũng tự tắt bớt đi.

Bác khuyên mọi người trồng cây thì năm nào Bác cũng đi tham gia trồng cây ở các địa phương. Rồi đến thăm, viết thư, động viên mọi người cùng trồng cây cho đất nước xanh tươi.

Bác khuyên mọi người “Chí công vô tư” thì khi đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô về, được Đảng bạn biếu một số tiền, Bác đã không nhập vào sổ tiết kiệm của riêng mình, mà nhập vào quỹ Đảng.

Cũng xin nói thêm, Bác có một sổ tiết kiệm cá nhân, nhờ một đồng chí ở văn phòng đứng tên gửi ở quỹ tiết kiệm phố Hàng Gai. Đây là số tiền nhuận bút mà các báo ở trong và ngoài nước gửi cho Bác. Năm Hà Nội đánh trả máy bay Mỹ, Bác đã bảo đồng chí Vũ Kỳ lấy tất cả số tiền tiết kiệm của Bác là 25 nghìn đồng (tương đương với 25 cây vàng lúc đó) để gửi cho Bộ Tư lệnh Phòng không mua nước ngọt cho các chiến sĩ bắn máy bay.

Chúng ta có kể cả ngày, cũng không hết những điều nói đi đôi với làm của Bác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng phê bình một số cán bộ chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, nhưng những công việc thiết thực thì không làm được. Người mong muốn cán bộ, đảng viên tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước.

Song nói và làm không phải chỉ là vấn đề quan trọng đối với từng cán bộ, đảng viên, kể cả những người lãnh đạo, mà lớn hơn còn là những chủ trương, đường lối, những nghị quyết của Đảng và Nhà nước đã ban hành có được thực hiện một cách đầy đủ không.

Người chỉ rõ: Đảng cũng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào? Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó không những hoá ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI về xây dựng Đảng, một lần nữa chúng ta lại cùng nhau học tập và làm theo Bác, nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm, làm nhiều hơn nói và luôn nhớ lời dạy của Bác: Nói thì phải làm, đó là đạo đức của người cách mạng.

*

Một nhà văn Đức, tác giả cuốn “Hồ Chí Minh một biên niên sử” đã viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn trung thành với lý tưởng của mình – Đó là quên mình. Dáng vẻ lãnh đạo, sự xa hoa, ưu đãi, huân chương và các hình thức vinh danh khác là những thứ người ta chỉ hoài công tìm ở Người. Đối với Người, sự gần gũi với nhân dân, với dân tộc là quan trọng hơn cả”. Một nhà văn khác lại viết: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Một con người huyền thoại, đã làm thay đổi số phận và tương lai của một dân tộc. Người suốt đời nói và làm là một, lý luận và hành động là một, lời nói và việc làm là một. Chính vì thế, niềm tin ở Việt Nam là Hồ Chí Minh!

Bùi Công Bính
baonamdinh.com.vn

Đảng và mùa xuân dân tộc!

Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời!

83 năm đã qua, Đảng vĩ đại, anh hùng đã gắn bó với nhân dân làm nên Mùa Xuân đất nước.

83 năm dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Việt Nam đã viết thêm vào lịch sử dân tộc những trang hào hùng nhất, rực rỡ nhất của thời đại Hồ Chí Minh. Trong cuộc hành quân thế kỷ ấy, nhân dân ta đã phải trải qua 30 năm chiến đấu gian khổ, đánh thắng những kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn mình, để hôm nay đất nước hoà bình, độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội và hoà nhập cùng thế giới. Câu nói ngắn gọn ấy, nhưng là mục tiêu vĩ đại, là con đường quang vinh mà gần thế kỷ qua dân tộc ta dưới ngọn cờ đại đoàn kết của Đảng đã tiến lên giành nhiều thắng lợi.

Những con người và những sự kiện lớn, càng lớn lên với khoảng cách thời gian. Lịch sử diễn ra và tiến về phía trước, càng làm nổi bật tầm cao và chiều sâu của sự nghiệp vĩ đại mà Đảng cùng với nhân dân ta đã thực hiện.

Biết bao Mùa Xuân đã trôi qua, nhưng một Mùa Xuân thực sự, một Mùa Xuân khởi đầu, đặt nền móng cho hạnh phúc của chúng ta hôm nay lại chính là Mùa Xuân thành lập Đảng – Mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930. Hôm nay nhớ lại thời dựng Đảng, chúng ta càng thấy Đảng ta thật là vĩ đại.

Cuối năm 1929, nhận được liên lạc của Đảng, Bác Hồ của chúng ta đã từ một vùng quê ở Thái Lan, đáp xe lửa đi Băng Cốc, rồi từ đó đi tàu thuỷ đến Singapo. Tại đây Người chuyển sang một con tàu khác đi Hồng Công. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đã ra tận cảng biển đón Bác. Và Bác đã quyết định họp Hội nghị thành lập Đảng vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, Tết Nguyên đán là ngày Tết lớn nhất trong năm và thường kéo dài nhiều ngày liền. Đó chính là dịp để những đại biểu tham gia Hội nghị có thể đi khỏi đất nước mà không ai để ý. Còn ở Cửu Long thì một cuộc họp mặt như vậy cũng sẽ có nhiều thuận lợi.

Mãi mãi niềm tin theo Đảng.Mãi mãi niềm tin theo Đảng.

Và thế là ngày 3-2-1930, đúng ngày mồng 5 Tết Canh Ngọ, Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp tại Cửu Long (Trung Quốc) dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Đảng ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của Cách mạng Việt Nam. Ngày 7-2-1930 ngày cuối cùng của Hội nghị, Bác Hồ tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Khi các đại biểu đã ngồi xung quanh bàn, Người xúc động nói:

“Các đồng chí, hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lê-nin vĩ đại đã nói, chỉ có đảng nào có được một lý luận tiền phong mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ, chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt những năm ấy, Nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này, và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt Nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành Độc lập, Tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Như vậy là ngay trong những ngày đầu tiên thành lập Đảng, trong lời phát biểu ngắn gọn ấy, Bác đã ba lần nhắc đến nhân dân ta.

Năm 1960, kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người Cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại… Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng là trí tuệ, là phẩm chất của cả dân tộc, kế thừa tinh hoa của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Sức mạnh của Đảng chính là sự gắn bó máu thịt với nhân dân, là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Và Bác Hồ đã nói: “Nhiệm vụ của Đảng ta có thể nói gọn trong 8 chữ: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Và chính Người là đỉnh cao của đạo đức và văn minh đó. Người là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân, và Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân.

Liên hệ và gắn bó chặt chẽ với nhân dân, là điều Bác Hồ đã nói với chúng ta rất nhiều lần. Bác đã nhiều lần nhấn mạnh:

“Đảng phải liên hệ với quần chúng như chân tay ruột thịt… Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân. Học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối”.

Chưa ở đâu mà tình cảm giữa lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như Hồ Chủ tịch với nhân dân ta. Một nhà văn nước ngoài đã viết: “Bác Hồ – cách xưng hô quen thuộc của Việt Nam, chứa đựng cả sự kính trọng sâu sắc và sự ngưỡng mộ của cả một dân tộc đối với một người cha. Không có một từ nào có thể diễn tả được một cách trong sáng và đẹp đẽ như hai tiếng đó!”.

Hồ Chủ tịch nói: Dân là gốc của nước, Dân là gốc của cách mạng, do đó Dân cũng là người tham gia xây dựng Đảng.

“Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”

Người nói thế, và suốt đời Người luôn luôn gương mẫu làm đúng, làm hơn cả những điều mình nói… Người luôn luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân. Trong Di chúc của mình, Người dặn dò: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Trong bản Di chúc của mình, Bác đã 17 lần nhắc đến chữ “Nhân dân”. Và trong Di chúc của Người những chữ “Nhân dân” Bác đều gạch dưới.

Đồng chí Nguyễn Thọ Chân kể lại, hồi còn làm Phó Bí thư Thành uỷ Hà Nội, một lần vào làm việc với Bác, đồng chí đã đề nghị Bác cho xây dựng trụ sở của Trung ương Đảng tại Hà Nội cho có bề thế.

Bác im lặng, rồi trả lời:

– Trụ sở bề thế của Đảng ta, phải xây dựng ở trong lòng dân ấy, chú ạ!

*

Một nhà văn lớn đã nói: “Lịch sử không đơn thuần là chiếc cầu thang thuận tiện hướng thẳng tới tương lai. Và con đường của nhân loại ít khi chạy trên con đường bằng, mà thường là vắt qua những núi non hiểm trở”. Cách mạng Việt Nam cũng thế, cũng đã từng trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Nhưng Bác Hồ đã viết: Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy đúng hướng. Trong mỗi bước gian lao đó, có Đảng sáng suốt dẫn đường, dân tộc ta đã đoàn kết tiến lên giành thắng lợi.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nghiệp đổi mới của nước ta đã được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực. Việt Nam đã hội nhập với thế giới, trong nước thì chính trị xã hội ổn định, kinh tế phát triển, an sinh xã hội được chăm lo, quốc phòng và an ninh được tăng cường, chủ quyền và lãnh thổ được giữ vững.

Mùa xuân này, mỗi người Việt Nam trong cuộc sống mới của mình, ai cũng có thể trực tiếp cảm nhận thấy những gì mà Đảng đã đem lại cho gia đình mình, cho đất nước mình, và cho mỗi người chúng ta.
Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Ngày biết Đảng, mắt ta còn ngơ ngác
Mà nay dưới chân mình,
một thế giới đã đi qua
Ai ngờ ngọn cờ búa liềm trên
những cành đa
Màu son ấy thổi dậy hồn non nước
Rồi ta sống những năm dài hạnh phúc
Mà trống đồng nhịp với giọng thơ ta!”

Trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:

“Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ, phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Trong đoạn văn ngắn này, Bác Hồ đã viết bốn chữ Thật: Thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Mùa Xuân này, đọc lại những lời căn dặn của Bác, chúng ta càng thấm thía và suy nghĩ về những chữ Thật ấy của Bác!

Đảng ta thành lập đúng vào ngày 5 Tết Canh Ngọ năm 1930!

Ra đời vào Mùa Xuân. Và Đảng đã cùng với nhân dân ta làm nên Mùa Xuân đất nước.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, và công cuộc Xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng càng làm cho chúng ta thêm tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta./.

Thanh Bình
baonamdinh.com.vn

Bác Hồ với nông dân!

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề nông dân – một lực lượng to lớn của cách mạng.

Ngày 10-10-1923, Đại hội Quốc tế Nông dân đầu tiên, khai mạc tại gian phòng lớn An-đrây-ep-xki ở Điện Krem-li. Ngày 12-10, dưới đầu đề “Tại Đại hội Nông dân toàn thế giới”, báo Pra-vđa đưa tin: “Tại phiên họp thứ hai, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt Đông Dương phát biểu ý kiến. Diễn giả chỉ ra rằng nông dân Đông Dương bị hai tầng áp bức, một là với tư cách nông dân nói chung, hai là với tư cách nông dân một nước thuộc địa”.

Trong bài phát biểu tại một phiên họp của đại hội, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một quốc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đều tham gia…”. Cả đại hội đã sôi nổi vỗ tay, tán thành ý kiến của Người.

Bác Hồ dùng thử máy cấy tại trại thí nghiệm lúa thuộc Sở Nông lâm Hà Nội, năm 1960Bác Hồ dùng thử máy cấy tại trại thí nghiệm lúa
thuộc Sở Nông lâm Hà Nội, năm 1960
.

Và chính trong Đại hội này, đã tiến hành bầu các cơ quan lãnh đạo của Quốc tế Nông dân. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc một nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng, thay mặt nông dân châu Á đã được bầu vào đoàn chủ tịch. Lúc đó Bác của chúng ta 33 tuổi.

Năm 1927, khi viết cuốn “Đường Kách mệnh”, ở mục “Ai là những người Kách mệnh” Bác Hồ viết:

“Vì bị áp bức mà sinh ra cách mệnh, cho nên ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết. Khi trước tư bản bị phong kiến áp bức cho nên nó cách mệnh. Bây giờ tư bản lại đi áp bức công nông, cho nên công nông là người chủ cách mệnh”…

Mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu tiên ấy, Bác đã sống với những người nông dân miền núi và giác ngộ họ làm cách mạng. Đồng thời những người nông dân nghèo khổ và bị áp bức ấy đã chở che, giúp đỡ Bác và các đồng chí của mình. Pác-Bó, Cao Bằng đã vinh dự trở thành “Đại bản doanh” đầu tiên của cách mạng nước ta.

Rồi trong những năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Định Hoá (Thái Nguyên), Tân Trào, Chiêm Hoá (Tuyên Quang) đã trở thành an toàn khu của cách mạng. Những người nông dân đã che chở, bảo vệ, nuôi dưỡng lực lượng kháng chiến, cũng như hàng chục triệu người nông dân trong cả nước vừa đánh giặc vừa góp gạo nuôi quân, góp phần làm nên chiến thắng.

Tháng 11-1949, trong Thư gửi Hội nghị cán bộ Nông dân cứu quốc toàn quốc, Bác viết:
“Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thực sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân. Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh”.

Trong Di chúc của mình Bác dặn dò:

“Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.     

*

Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ kể lại: Tết Kỷ Dậu 1969 – Cái Tết cuối cùng của Bác, Bác vẫn bảo tổ chức cho Bác đi thăm nông dân. Bác hỏi:

– Chú Kỳ! Các chú đã chuẩn bị cho Bác đi thăm những đâu? Mồng 1 Tết này, chúng ta xuất hành phương nào?

Thấy Bác hỏi, tôi rất lo lắng vì năm ấy Bác đã 79 tuổi, lần khám sức khỏe gần nhất Hội đồng bác sĩ đã nói Bác cần tránh đi lại nhiều và tránh những xúc động mạnh. Bác lại hỏi:

– Chú có nhớ Bác phát động Tết trồng cây năm nay là năm thứ mấy rồi không?

– Thưa Bác, năm thứ 10 ạ!

– Đúng! Nhân dịp kỷ niệm 10 năm Tết trồng cây, các chú bố trí cho Bác đi trồng cây ở một địa phương có nhiều thành tích…

Mặc dù biết sức khỏe của Bác không được tốt, nhưng chúng tôi cũng không ngăn được lòng mong muốn của Bác đến với nông dân. Và Tết năm ấy, sau khi đi thăm bộ đội phòng không, không quân, khoảng 11 giờ trưa Bác mới đến được xã Vật Lại, Ba Vì. Trồng cây đa xong, Bác vui vẻ cùng mọi người quây quần dưới tán bạch đàn. Bác rất vui, trò chuyện với bà con nông dân, với các cụ phụ lão và các cháu thiếu nhi. Bác dặn đồng chí nữ bí thư đảng ủy xã: Phải dân chủ với dân, phải để cho dân phê bình cán bộ, đảng viên.

Thật là cảm động khi nhìn thấy Bác Hồ vui vẻ ngồi giữa những người nông dân như một cụ già trồng cây hiền từ ngồi cùng con cháu. Và chúng ta còn cảm động hơn nữa, khi biết lúc ấy trong Di chúc của mình Bác Hồ đã viết:

“Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các Hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Nhà báo Mỹ Đa-vit Han-bớt-stem đã viết:

“Ông Hồ thường mặc bộ quần áo đơn giản… Địa vị càng cao, ông càng giản dị, trong sạch hơn. Ông luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam”.

Mùa xuân này, khi đời sống của những người nông dân đã đổi mới khác xưa. Nước Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Nhiều con cái của những người nông dân đã trở thành những giáo sư, tiến sĩ, những cán bộ lãnh đạo đất nước. Trong niềm vui ấy, lòng chúng ta càng nhớ đến Bác kính yêu – Người xây dựng nên nước Việt Nam mới, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và của dân tộc, người suốt đời quan tâm, gần gũi với nông dân và nông thôn Việt Nam./.

Vũ Thái
baonamdinh.com.vn

Nhớ lời Bác dặn về Đảng cầm quyền

Đến xuân này, sau một năm triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng là dịp chúng ta suy ngẫm những lời căn dặn của Bác về Đảng cầm quyền để thấm nhuần và vận dụng tốt hơn vào việc thực thi nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn mới của sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước.

Đảng phải chăm lo phát triển kinh tế để không ngừng nâng cao đời sống nhân dân

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Trong bản Di chúc lịch sử, điều đầu tiên Bác nói về Đảng và khẳng định: Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Người căn dặn Đảng ta những việc cần phải làm để tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất Tổ quốc, hàn gắn các vết thương chiến tranh, xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế… Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng ta phải hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân.

Yêu dân, trọng dân là tình cảm và tư tưởng của Bác muốn giáo dục và truyền lại cho Đảng ta phải tiếp tục phát huy trong mọi thời kỳ để sự nghiệp cách mạng đi lên vững chắc.

Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong DI CHÚC, thể hiện tình cảm thương dân, tự hào vô hạn về nhân dân ta và trách nhiệm nặng nề của Đảng với nhân dân: Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Đồng chí Nguyễn Khắc Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh. Ảnh: Xuân ThuĐồng chí Nguyễn Khắc Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh. Ảnh: Xuân Thu

Hơn bốn mươi bốn năm qua, thực hiện Di chúc của Bác, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm tốt nhiều điều căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hàn gắn các vết thương chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Từ năm 1986, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới, đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng, thực hiện CNH-HĐH đất nước, mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế thế giới, xã hội ổn định, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên.

Nhờ có đường lối đổi mới và các chính sách kinh tế phù hợp, được sự ủng hộ và thực hiện sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, từ một nước nghèo, chậm phát triển, trong mấy chục năm qua Việt Nam đã vượt lên thoát khỏi nước nghèo, có tốc độ phát triển kinh tế khá cao ở châu Á. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp đã có những thành tựu to lớn, nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu ở tốp các nước hàng đầu thế giới. Kinh tế phát triển gắn liền với thực hiện các chính sách xã hội, chăm lo cho con người mà Bác Hồ căn dặn. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt những thành tựu to lớn được thế giới đánh giá cao. Các đối tượng chính sách được hưởng chế độ đãi ngộ ngày càng nâng cao, bảo đảm ngang bằng và cao hơn mức sống trung bình của người dân. Đời sống của đại đa số nhân dân có mức tăng trưởng, ngày càng cải thiện. Trong công cuộc đổi mới, nhiều phong trào thi đua phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá đã lan toả và phát triển mạnh mẽ tạo ra những thay đổi nhanh chóng trên mọi vùng, miền của đất nước.

Những năm gần đây, trước những khó khăn mới do tình hình suy giảm kinh tế toàn cầu và những yếu kém trong quản lý nền kinh tế đất nước, trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, dù có nhiều cố gắng của Đảng, Nhà nước và nhân dân song chúng ta nhận thấy việc thực hiện tâm nguyện và lời dặn của Bác về phát triển kinh tế và văn hoá để không ngừng nâng cao đời sống nhân dân vẫn còn phải tiếp tục lâu dài. Đặc biệt cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu phải được đẩy mạnh hơn. Những khuyết điểm, sai phạm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước cần phải được sửa chữa, xử lý theo tinh thần của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Ra sức giữ gìn truyền thống đoàn kết của Đảng

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đoàn kết trở thành chiến lược lớn nhất được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng, vấn đề hết sức quan trọng là phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân – tập thể. Trong giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý tới lợi ích cá nhân và coi đó là động lực trực tiếp để kích thích tính tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân. Hồ Chí Minh chỉ ra: trong cuộc sống, mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là cái xấu… Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh yêu cầu: Mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng, lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài. Người nhấn mạnh: Nếu gặp lợi ích nói chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người căn dặn: Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Hiện nay, trong bối cảnh quốc tế, mở cửa, hội nhập, toàn cầu hoá, đoàn kết toàn dân và xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất là xuất phát từ nhu cầu khách quan, việc xử lý những mâu thuẫn xã hội, các nhóm người có quyền lợi khác nhau cần theo hướng phát triển cộng đồng, có lợi cho quần chúng nhân dân lao động, tránh đẩy tới mâu thuẫn đối kháng, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chia rẽ. Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo và là linh hồn. Đoàn kết nội bộ Đảng là chỗ dựa, là cơ sở để đoàn kết dân tộc và khối đại đoàn kết dân tộc chỉ có thể xây dựng được khi đường lối cách mạng có mục tiêu, phương pháp phù hợp với nguyện vọng, quyền lợi của đại đa số nhân dân. Trong tiến trình hội nhập quốc tế rất đa dạng và phức tạp, chứa đựng những vấn đề thống nhất và đối lập, cơ hội và thách thức đan xen, cần thực hiện một nguyên tắc trong quan hệ quốc tế được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ngắn gọn “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” để giữ vững độc lập tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi, vì hoà bình, hữu nghị và phát triển, tranh thủ những thời cơ và vận hội trong quá trình xây dựng đất nước, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh có ý nghĩa lâu dài, mãi mãi, là sức mạnh của chúng ta. Sự đoàn kết nhất trí của Đảng cầm quyền vì thế là nhân tố đặc biệt để lãnh đạo nhân dân, lãnh đạo xã hội để xây dựng đất nước vì trong xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, khi nhân loại tiến đến nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng thông tin, điện tử và sinh học… bùng nổ, Việt Nam tiến hành hội nhập kinh tế, quan hệ hợp tác quốc tế sâu rộng hơn, bên cạnh những thuận lợi cũng có nhiều thách thức, khó khăn mới. Đó cũng là bài học lớn của tiến trình đổi mới phải bảo đảm và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, ra sức phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, sức sáng tạo của nhân dân làm nên lịch sử. Đổi mới trước hết phải phát huy yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất là nhân tố con người, mà căn bản nhất là giải phóng năng lực trí tuệ con người, giải phóng mọi tiềm năng xã hội để phát triển con người và phục vụ con người, đem lại cuộc sống xứng đáng với lao động và cống hiến của mỗi người.

Gần 3 thập kỷ qua, công cuộc đổi mới ở nước ta được tiến hành từng bước vững chắc và toàn diện là nhờ có đường lối ĐỔI MỚI đúng đắn và sự đoàn kết chặt chẽ của Đảng. Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, chăm lo xây dựng đời sống văn hoá mới là ba trụ cột của xã hội. Cùng với cải cách, đổi mới kinh tế là đổi mới hệ thống chính trị, phát huy dân chủ trong Đảng và dân chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền vì dân, làm lành mạnh hoá xã hội, chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm và các tệ nạn xã hội khác. Nhờ đó mà thế và lực của nước ta ngày càng lớn mạnh và có vị thế mới trên trường quốc tế.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng, những điều Người căn dặn về Đảng cầm quyền là di sản tinh thần thiêng liêng, tài sản quý giá của Đảng và nhân dân ta. Đó là cội nguồn sức mạnh cho Đảng, để Đảng ta luôn luôn xứng đáng là Đảng của dân tộc Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện và xây dựng./.

TS Phạm Văn Khánh
baonamdinh.com.vn

Nhớ lời Bác Hồ dặn khi Tết đến

Bác Hồ của chúng ta lúc sinh thời có viết tác phẩm “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào ?”. Trong tác phẩm, Người căn dặn: “Suốt năm chúng ta thi đua lao động, sản xuất, những ngày Tết Nguyên đán chúng ta vui chơi một hôm để chào xuân, việc đó cũng đúng thôi… Chúng ta mừng xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không xuân”.

Vào những dịp Tết hàng năm, Bác dành thời gian đi chúc Tết không những các cơ quan, xí nghiệp mà còn đến thăm một số gia đình khó khăn, lam lũ làm ăn.

Chúng ta còn nhớ, qua những mẩu chuyện Bác đi chúc Tết đã được ghi lại. Cảm động nhất là Bác đến thăm chị Nguyễn Thị Tín, một người gánh nước thuê ở ngõ 16 Lý Thái Tổ trong đêm 30 giá rét và mưa phùn của Tết Nhâm Dần năm 1962. Với đôi thùng trên vai, chị vừa ra đến ngõ thì gặp Bác. Quá bất ngờ trước sự xuất hiện của Bác, đôi thùng trên vai chị rơi xuống đất. Tay chị run run nắm lấy tay Bác và nói trong sự xúc động chen lẫn tiếng nấc nghẹn ngào: “Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm”. Bác vỗ vai an ủi chị: “Bác không đến thăm những gia đình như thím thì thăm ai…”.

Dịp Tết năm 1965, Bác đi thăm các cơ quan, đoàn thể ở Hà Nội, sau đó lên thăm công trường ở Việt Trì, nơi có chuyên gia và cán bộ, công nhân các nước bạn đang giúp ta, Bác nhắc nhở lãnh đạo đơn vị đại ý là phải chú ý chăm lo sinh hoạt của anh chị em trong ngày Tết. Đối với các đồng chí xa nhà trong dịp Tết Nguyên đán này, càng chú ý chăm sóc, các anh em công nhân người Âu, Phi lâu nay đã quen với phong vị Tết Việt Nam, nên làm sao cái Tết được vui vẻ hơn so với những năm trong kháng chiến… Tình cảm của Bác không chỉ dành riêng cho nhân dân mình mà còn cho bè bạn năm châu, thật là xúc động biết bao!

Không chỉ vậy, Bác còn căn dặn chúng ta phải hết sức tiết kiệm và chống lãng phí. Trong lúc đất nước đang khó khăn, việc cần, kiệm để xây dựng Tổ quốc là một nhiệm vụ, không ai được phép quên. Bác chê trách khi phát hiện có những nơi làm không đúng, gây lãng phí tiền của, công sức của nhân dân và Người từng nói:

“Mừng xuân mừng cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân”.

Nhân dịp Tết Kỷ Dậu – 1969, đúng ngày mồng Một, Bác Hồ đến trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây nay thuộc TP. Hà Nội. (Ảnh TL, TNN st)

Tết Nguyên đán Quý Tỵ – 2013 lại đến, cả nước ta tưng bừng đón chào năm mới. Mỗi chúng ta cùng khắc ghi lời Bác Hồ căn dặn. Đón Tết, vui Xuân mới với tấm lòng biết ơn Người, chúng ta nguyện quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và nhất là tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, để xây dựng Đảng ta luôn trong sạch vững mạnh, xứng đáng là người đầy tớ, là người lãnh đạo trung thành của nhân dân.

LÊ THANH SƠN
binhthanh.hochiminhcity.gov.vn

Bác Hồ và hạnh phúc của dân

Tại sao dân ta ai cũng gọi Hồ Chủ tịch là Bác Hồ, kể cả ngay từ sau Cách Mạng Tháng Tám, nghĩa là khi bác mới có 55 tuổi.

Một nhà văn cho biết: Lần đầu tiên Hồ Chí Minh xưng bác và gọi cháu là trong “Trả lời thư chúc mừng của Hội Nhi đồng Công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông” ngày 10/5/1947. Bác viết: “Bác cảm ơn các cháu. Bác khuyên các cháu: Biết giữ kỉ luật, siêng học siêng làm, yêu Chúa yêu nước. Bác hôn các cháu”. Và ký với Hồ Chí Minh, chứ không với Bác Hồ. Ba tháng sau, trong “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân kỉ niệm Cách mạng Tháng Tám, năm 1947″, danh xưng Bác Hồ xuất hiện và từ đó được sử dụng. Song phải nhấn mạnh: Hồ Chí Minh chỉ xưng bác trong hai trường hợp quan hệ. Thứ nhất, trường hợp bác – cháu, với nhi đồng. Điều này không có gì là chướng.

Ở tuổi 55 khi lên làm Chủ tịch nước, đối với người Việt thuở đó Hồ Chí Minh đã là một người già. Phóng viên báo chí thường gọi là Cụ Chủ tịch, cũng như Chủ tịch gọi những người trạc tuổi mình là cụ. Trong bối cảnh ấy, xưng hô bác – cháu của Hồ Chí Minh với nhi đồng là tự nhiên… Cuối thư gửi nhi đồng, Hồ Chí Minh thường hôn các cháu. Trong một bức thư, còn hôn các cháu rõ kêu, một cử chỉ rất Tây được diễn đạt rất Việt. Trường hợp xưng bác thứ hai của Hồ Chí Minh là trong quan hệ với những người kém tuổi mình. Bác ở đây không phải là bác – cháu, mà là bác – cô/chú”.

Như vậy việc toàn dân gọi Bác Hồ không phải là chủ ý của Bác mà chính là từ lòng thật sự kính yêu Bác của tuyệt đại đa số nhân dân, từ các bậc trí thức cao niên cho đến các cháu bé ở vùng núi cao. Bác tôn trọng mọi người trên tinh thần Đại đoàn kết toàn dân tộc, nhưng diều đặc biệt là Bác thực sự quan tâm đến những người nghèo khổ nhất trong xã hội.

Đồng chí Vũ Kỳ kể rằng: Trong cuộc “vi hành” đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết… Kể từ mùa Xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, mỗi lần Tết đến, Xuân về, Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc.

Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc. Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc Mừng Năm Mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài. Và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội… Nếu Bác chỉ đến thăm các gia đình theo chương trình của các cơ quan đã bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Tín vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai mùng một Tết có cơm ăn cho bốn đứa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay của Bác: – Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm… Chỉ nói được vậy, chị đã òa lên khóc nức nở. Vị Chủ tịch nước đã an ủi chị: – Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai… Và Bác đã vào nhà thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như một túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi Tết mà không có Tết”.

Cách đó 15 năm, Tết độc lập đầu tiên, Bác đã đau lòng chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có Tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ. Đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ, kháng chiến đã thắng lợi, hòa bình đã sáu năm, mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ở ngay Thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng là no ấm, tươi vui…

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ. Vẻ đăm chiêu thoáng hiện trên gương mặt của Người. Bác đã từng tâm sự với các đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”. Về đến nhà, các đồng chí Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Mọi người băn khoăn khi thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh gia đình chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện Bác nói: “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số lãnh đạo các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng, nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta” (Thư ký Bác Hồ kể chuyện, NXB Chính trị quốc gia, 2008).

Chưa có ai bảo Bác kê khai tài sản nhưng Bác là vị lãnh tụ hiếm hoi công khai tài sản. Tất cả tài sản ấy nhân dân ta và cả các khách quốc tế đều biết rõ khi viếng thăm ngôi nhà sàn của Bác.

Trong bốn đức được Bác Hồ nhiều lần nhấn mạnh Cần Kiệm Liêm Chính, Bác đã giải thích chữ Liêm như sau: “Liêm là trong sạch, không tham lam… Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM. Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư… Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử nói: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”… Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân… Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”. (Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, tr.640-641).

Bác để lại những câu nói nổi tiếng về tự do cho nhân dân: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.8, tr.216); “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.4, tr.56).

Chúng ta đang bàn chuyện sửa đổi Hiến pháp. Phải chăng không nên thiếu các quyền tự do được ghi trong điều 10 Hiến pháp 1946 mà Bác Hồ là người đã đích thân chỉ đạo.

NGUYỄN LÂN DŨNG
nongnghiep.vn