Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Ngành Y tế Thủ đô báo công dâng Bác

Nhân dịp kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2013), ngày Bác viết thư động viên và giao nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ngành Y tế; trong không khí sôi nổi của cả nước bước vào mùa Xuân mới, với khí thế thi đua lập thành tích mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sáng 26/12/2013, ngành Y tế Thủ đô đã tổ chức lễ báo công dâng Bác, báo cáo những thành tích đạt được trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân năm 2012. Tham dự buổi Lễ có các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Giám đốc Sở, Ban Chấp hành Công đoàn ngành, lãnh đạo các phòng chức năng của Sở, các đồng chí lãnh đạo các đơn vị trong toàn ngành, đại diện cho hơn 17.000 cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của ngành Y tế Hà Nội.

Y te thu do bao congTS. TTƯT Nguyễn Khắc Hiền – Thành ủy viên, Giám đốc Sở Y tế Hà Nội báo cáo thành tích ngành Y tế Thủ đô tại Lễ báo công

Năm 2012, ngành Y tế Thủ đô đã trải qua rất nhiều khó khăn phức tạp, nhưng được sự quan tâm của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố và của các cấp, các ngành, sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của tập thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, ngành Y tế Thủ đô đã đạt được những thành tựu to lớn trong nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn Thủ đô, điển hình là chủ động tuyên truyền và triển khai đồng bộ các biện pháp giám sát dịch và xử lý phòng chống dịch bệnh tại các địa phương, kiểm soát và khống chế thành công các dịch bệnh trên địa bàn thành phố như cúm A/H5N1, sốt xuất huyến, dịch chân, tay, miệng…; chất lượng khám chữa bệnh tại các cơ sở điều trị của thành phố ngày một nâng cao, tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh ngày càng tốt hơn, nhiều dịch vụ kỹ thuật cao, chất lượng tốt được triển khai; mạng lưới y tế cơ sở luôn được củng cố và kiện toàn, các chương trình mục tiêu y tế quốc gia và của thành phố đều hoạt động có hiệu quả; đã tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống ngành Dân số Việt Nam, đầu tư xây dựng mới 5 trụ sở, cải tạo và nâng cấp 4 trụ sở của Trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình các quận, huyện. Triển khai tốt công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm theo yêu cầu của Bộ Y tế và UBND thành phố; tăng cường công tác chỉ đạo tuyến và luân chuyển cán bộ, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án 1816 của Bộ Y tế về việc cử cán bộ hỗ trợ các tỉnh Lai Châu và Điện Biên, góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân các địa phương. Cung ứng đầy đủ, kịp thời các loại thuốc, hóa chất phục vụ khám, chữa bệnh, phòng chống dịch, phòng chống thiên tai, thảm họa và các hoạt động lớn trên địa bàn. Công tác xã hội hóa trong Ngành được chỉ đạo triển khai ở nhiều đơn vị và đã phát huy hiệu quả tích cực góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và giảm tải cho tuyến trên. Đã xây dựng và hoàn thành quy hoạch phát triển ngành Y tế Thủ đô đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, có kế hoạch xây dựng mới bệnh viện 1000 giường tại huyện Mê Linh và Bệnh viện Nhi Hà Nội tại huyện Đan Phượng. Duy trì phong trào thi đua trong toàn Ngành, năm 2012 đã có 3 thầy thuốc được đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân, 32 thầy thuốc được đề nghị phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú, 01 Công dân Thủ đô ưu tú, 01 Huân chương Độc lập hạng Ba, 01 Huân chương Lao động hạng Nhì, 03 Huân chương Lao động hạng Ba….

Hưởng ứng phong trào thi đua của UBND thành phố: “Phát huy truyền thống 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Đảng bộ – Chính quyền và nhân dân Thủ đô đoàn kết, năng động, sáng tạo, thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2015”, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Y tế Thủ đô xin hứa với Bác sẽ quyết tâm thực hiện những điều Bác căn dặn ngành Y tế, thực hiện y đức của người thầy thuốc, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Thành ủy, nhiệm vụ của Thành phố, kế hoạch năm 2013 của Ngành, xứng đáng là niềm tự hào của Thủ đô anh hùng./.

Lan Hương
Vkyno (st)

Dâng Người tiếng hát mùa Xuân

Những ngày đầu năm 2013, tiếp nối thành công Chương trình “Vang câu Quan họ bên Lăng Bác Hồ” của Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội biểu diễn Chương trình “Dâng Người tiếng hát mùa Xuân” đã đọng lại những tình cảm sâu đậm về Đảng, Bác Hồ, về mùa Xuân đất nước và hình ảnh người nghệ sỹ – chiến sỹ “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng đồng bào và bầu bạn quốc tế đến tham quan khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ hơn 12 giờ, gần 3 tiếng nữa mới đến giờ biểu diễn, mà hơn 70 cán bộ, giảng viên, học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội đã có mặt ở khu vực vườn tre phía Nam Lăng Bác. Dù những buổi hợp luyện trước tại Trường đã thuần thục, nhưng đến đây, bên Lăng Bác Hồ ai nấy đều bồi hồi xúc động. Thiếu tá Hồ Hoàng Hà, Giảng viên của Nhà trường, người dẫn chương trình, bày tỏ: “Được biểu diễn trước hàng tre bên Lăng Bác Hồ làm chúng tôi cảm xúc trào dâng. Dường như mình hát cho Bác nghe. Dường như hát ở nơi đây mỗi nghệ sỹ mới bộc lộ được những điều sâu kín, thiêng liêng để dâng lên Bác, mà bình thường mình không thể nói lên lời. Chỉ thông qua nghệ thuật, chúng tôi mới diễn tả được. Bởi Bác là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, nhưng thân thiết như người cha trong mỗi chúng tôi”.

Dang nguoi tieng hat mua xuan1Các nghệ sỹ, ca sỹ chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu tới tham dự buổi biểu diễn 

Chương trình được tổ chức vào chiều thứ Bảy, ngày 02/02/2013, nhưng dưới hàng ghế đại biểu có sự hiện diện của các đồng chí: Thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thủ trưởng Cục Tuyên huấn; Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp đối với các hoạt động văn hoá nghệ thuật ở Lăng Bác và đông đảo khán giả là các cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ bên Lăng Bác Hồ, cùng đồng bào, khách quốc tế tham quan khu vực Lăng.

Mở đầu chương trình, dàn Quân nhạc đã vang lên các ca khúc “Chào mừng Đảng Cộng Sản Việt Nam”; “Việt Nam ơi mùa xuân đến rồi”; “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”; “Việt Nam trên đường chúng ta đi” và “Việt Nam quê hương tôi”, của các nhạc sỹ: Đỗ Minh; Huy Du; Trần Kiết Tường và Đỗ Nhuận. Tiếng kèn trầm bổng, hào hùng vang lên những giai điệu ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi quê hương đất nước, đã bừng lên sức Xuân và gieo vào lòng người niềm tin về mùa Xuân tươi đẹp của dân tộc.

Những tràng pháo tay rộn vang cổ vũ, nhưng chưa san lấp được khoảng cách không gian giữa các nghệ sỹ với khán giả. Bởi đây mới là buổi biểu diễn thứ hai của các nghệ sỹ, ca sỹ ở các đoàn nghệ thuật, nên đồng bào và du khách quốc tế còn phần nào e ngại. Sau khi Thiếu tướng, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đức Trịnh, Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu: “Năm tới Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội sẽ phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tiếp tục tổ chức các chương trình văn hóa văn nghệ ở Lăng Bác Hồ. Đây là hoạt động văn nghệ quần chúng, nên mọi người hãy tiến lại gần và có thể giao lưu, múa cùng nghệ sỹ”, mọi người đều cảm nhận thật gần gũi, cùng xích lại gần hơn, để cảm nhận rõ hơn những tiết mục biểu diễn của các nghệ sỹ, ca sỹ.

Tiếp nối phần nhạc dân tộc với các tiết mục: Hòa tấu: “Nhã nhạc cung đình Huế”; đọc tấu sáo: “Cánh chim tự do” và đọc tấu đàn bầu “Cung đàn đất nước” do dàn nhạc dân tộc, cùng các nghệ sỹ Vàng Minh Dương và Thu Thủy  thể hiện. Vẫn ca khúc ấy, rất đỗi quen thuộc, mà hôm nay, giữa không gian Quảng trường Ba Đình lịch sử, lòng người bỗng thấy dạt dào, xao xuyến, rưng rưng. Trong niềm vui đó, chị Phạm Thanh Hằng, ở Ba Đình Hà Nội đã chia sẻ : “Lời ca, tiếng hát của các ca sỹ đã giúp tôi hiểu thêm về Đảng, về Bác Hồ, về con người và đất nước. Tôi thật sự tự hào mình là người Việt Nam. Và thông qua những chương trình như thế này, tôi cảm nhận mọi người càng thêm tin yêu đất nước chúng ta”. Ông Nguyễn Bá Tống, đến từ Phú Thọ mong muốn: “Văn hoá văn nghệ giúp tôi tinh thần thoải mái hơn, sức khoẻ tốt hơn. Tôi mong muốn mỗi tháng ít nhất được xem một chương trình văn nghệ bổ ích như thế này”. Không chỉ đồng bào trong nước, mà nhiều du khách nước ngoài chưa hiểu rõ tiếng tiếng Việt, chưa hiểu hết những nét đẹp truyền thống văn hoá của Việt Nam, nhưng qua giai điệu các bài hát và ngôn ngữ của âm nhạc, họ đều chăm chú dõi theo và trầm trồ khen ngợi.

Sôi động với những bài ca: “Chúng con canh giấc ngủ cho người”; “Anh hùng Núp”; “Tình ca Tây Nguyên”; “Bài ca người lính”; “Vệt nắng”; “Chuyện đời lính”; “Nắng thao trường”, do các ca sỹ trẻ : Minh Thế; Thúy Hà ; Mai Trang; Đông Hùng và dàn nhạc dân tộc thể hiện, đã tạo nên một âm hưởng mới, âm hưởng khát vọng của tuổi trẻ về mùa Xuân, về cuộc sống và nhiệm vụ của những người chiến sỹ. Vừa được hát cho Bác và mọi người nghe, nghệ sỹ Mai Trang – Giảng viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội bồi hồi xúc động: “Đây là một vinh dự đặc biệt, đối với bất cứ ca sỹ, nghệ sỹ nào cũng mong muốn được hát cho Bác nghe và được đem nét đẹp truyền thống văn hoá của đất nước mình phục vụ đồng bào, khách quốc tế”. Nghệ sỹ Mai Trang còn mong muốn có nhiều chương trình giao lưu văn nghệ giữa các chiến sỹ làm nhiệm vụ bên Lăng Bác và học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội.

Tiết mục song ca “Mừng Xuân mới” do Mai Trang cùng Đông Hùng và dàn nhạc thể hiện đã khép lại chương trình nghệ thuật “Dâng Người tiếng hát mùa Xuân”. Hơn một giờ đồng hồ, các đại biểu và khán giả được đắm mình trong không gian nghệ thuật tràn ngập âm hưởng của mùa Xuân, lay động lòng người của dàn quân nhạc, nhạc cụ dân tộc và những lời ca, tiếng hát của các giảng viên, sinh viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội. Chương trình nghệ thuật“Dâng Người tiếng hát mùa Xuân” thực sự là món quà tinh thần giàu ý nghĩa, một chương trình nghệ thuật đích thực cả về âm nhạc lẫn thị giác dành cho khán giả, nhân dịp “Mừng Đảng, mừng Xuân” của đất nước. Thay cho lời kết, đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm ơn Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, các đại biểu, các ca sỹ, nghệ sỹ cùng đồng bào, khách quốc tế và chúc : “Cán bộ, giảng viên, học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội tiếp tục thành công trên con đường hoạt động nghệ thuật và nhiệm vụ “trồng người”, ươm nhiều tài năng nghệ thuật phục vụ Quân đội, phục vụ đất nước và thường xuyên đến biểu diễn tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh”./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Bức huyết thư gửi tới Bác Hồ của người tử tù chỉ huy biệt động Sài Gòn

Việt Nam - Hồ Chí MinhĐó là liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính – người chỉ huy mưu trí can trường của Ban Công tác Một – tiền thân lực lượng biệt động Sài Gòn ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Một người tử tù với 2 bản án tử hình trong hầm tối đã viết huyết thư gửi lên Bác Hồ và trên pháp trường đã ra cho kẻ địch ba điều kiện: Không cần trói, không cần bịt mắt và được hát Quốc ca. 15 năm sau cũng tại trường bắn này đã xuất hiện liệt sỹ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi với tư thế hiên ngang bất tử như thế. Liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi thì cả nước đã biết, còn liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính – người lãnh đạo tiền thân của biệt động Sài Gòn nức tiếng thì bao điều vẫn còn bỏ ngỏ…

Tung hoành giữa Sài Gòn

Liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính sinh ra ở làng Nguyễn, huyện Đông Hưng, Thái Bình, sau lên sinh nhai ở Thị trấn Đáp Cầu, Bắc Ninh. Tháng 4 năm 1944, anh vào Sài Gòn làm tại Xưởng Sửa chữa tàu Ba Son của Hải quân Pháp. Chỉ mấy tháng làm lính, Chính đã nhận ra cái “vỏ” bình đẳng trong Hải quân Pháp và anh đã cùng thầy đội Thăng – người thường đứng về lính thợ Việt Nam thực hiện kế hoạch đánh chìm chiến hạm Su – ren của Pháp. Tiếc rằng kế hoạch đang tiến hành thì bị lộ, thầy đội Thăng bị bắt còn Nguyễn Đình Chính bị địch truy nã.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Nguyễn Đình Chính được cách mạng giao nhiệm vụ huấn luyện 2 Tiểu đoàn dân quân địa phương để lùng bắt những ổ cướp trong vùng Lộc Ninh, Dầu Tiếng. Khi tiếng súng kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu, anh trở về mặt trận Lái Thiêu là Trưởng ban Ban Võ khí, rồi làm Trưởng ban Ban Công tác Một – đơn vị tiền thân của biệt động giữa sào huyệt giặc Pháp ở Sài Gòn. Ban Công tác Một do Nguyễn Đình Chính chỉ huy chiến đấu trong hoàn cảnh vũ khí cực kỳ thiếu thốn. Có súng lại không đạn, lựu đạn làm ra nhiều nhưng nổ ít, có khi ném trúng địch rồi, lựu đạn không nổ, địch quay ra tấn công lại. Nhưng dưới sự chỉ huy tài trí, dũng cảm của anh, tinh thần chiến đấu kiên cường của toàn Ban, đơn vị đã chiến đấu nhiều trận và lập nhiều chiến công làm nức lòng nhân dân Sài Gòn, làm cho kẻ thù khiếp sợ, báo hiệu cuộc kháng chiến chống Pháp quyết liệt đã bắt đầu ngay tại sào huyệt của chúng.

Xin trích một số đoạn nhật ký được chép lại từ sổ tay ghi lại những trận đánh mà đơn vị Nguyễn Đình Chính trực tiếp thực hiện: “… Tên Cố vấn Hội đồng Nam Kỳ Bê-đi-a bị ám sát bằng lựu đạn ở góc đường Ta-be Véc-đoong. Lựu đạn nổ, tên này bị thương. Vụ ám sát tên Đông Phương Sóc, cảnh sát đặc biệt miền Đông “P.S.E” ở đường Nô-rô-đôm làm tên này bị thương. Một ổ phản động do tên Nguyễn Trọng Hiền cầm đầu bị giết trọn 5 mạng bằng dao găm ở 218 đường La-gơ-răng-đi-rơ. Tên Nguyễn Văn Khoa – nhân viên sưu tầm đặc vụ ở Ca-ti-na bị giết bằng dao găm ở đường Gác-sơ-ri. Tên Ba-lư – một tên khát máu ở Sở Liêm phóng Ca-ti-na bị quân ta vô tận nhà tước khí giới và đâm ba nhát dao. 30.000 lít xăng của địch bị tiêu hủy ở Nhà Bè. Hai Việt gian nghênh ngang qua cầu chữ Y làm tiền bị thủ tiêu… Đặc biệt trận đánh cách đây đúng 60 năm đêm 30 Tết  Đinh Hợi 1947, sau Ban Công tác nội thành Sài Gòn mà nòng cốt là Ban Một đã đồng loạt tiến công nhiều bốt Đồn cảnh sát địch. Ban công tác Một đã bất ngờ tập kích vào các bốt cảnh sát địch ở cầu Mac-ma-hông, cầu Kiệu, cầu Bông, cầu Thị Nghè… gây sự khủng khiếp trong hàng ngũ giặc…”

Theo bản cáo trạng của Toà án Pháp thì chưa đầy hai năm, Nguyễn Đình Chính đã chỉ huy và cùng Ban Công tác Một tham gia chiến đấu 57 trận lớn nhỏ giữa Sài Gòn, làm cho kẻ thù mất ăn mất ngủ, từng được giao trọng trách bảo vệ Khu trưởng Nguyễn Bình (Trung tướng Nguyễn Bình) giữa sào huyệt giặc.

Trưa 16 – 2 – 1947, Nguyễn Đình Chính cùng đồng chí Bát Tròn đã bị Mật thám Pháp bắt khi đến một cơ sở ở quận Phú Nhuận lấy tiền mua thuốc chạy chữa cho một trinh sát trẻ bị thương.

Được tin bắt được Nguyễn Đình Chính, cả bọn mật thám đến xem mặt anh. Tên Ba Danh – Chánh mật thám liên bang trực tiếp chỉ huy tra khảo. Hắn giở trò mua chuộc Chính hòng moi danh sách cán bộ chiến sỹ trong Ban Công tác Một, các ngoại kiều, trí thức, tư sản Việt Nam mà Trung tướng Nguyễn Bình đã gặp. Ba ngày đầu chúng bắt Chính ngồi xem chúng tra tấn Bát Tròn. Ngày thứ tư, hàng chục đứa dùng gậy, dùng búa thi nhau đánh, đánh để Chính khai và cũng để trả thù những cuộc tấn công do anh chỉ huy đánh thẳng vào lực lượng mật thám và cảnh sát địch. Chính đau quá chết ngất, tỉnh lại, chúng lại đánh tiếp. Chúng cùm tay, cùm chân, đóng hàm thiếc vào mồm để anh không chửi chúng được. Bọn Hải quân Pháp cũng đến kết hợp tra tấn. Song tất cả mọi kỹ thuật tra tấn hiện đại của người Pháp đều bất lực trước ý chí kiên cường, lòng trung thành tuyệt đối của Nguyễn Đình Chính. Trong lúc bị tra tấn, có cơ hội là Nguyễn Đình Chính lên án thực dân Pháp. Một lần, anh đã dùng cả hai tay bị còng đập vỡ mặt một tên mật thám. Suốt 3 tháng ròng tra tấn dã man không moi được gì, đầu tháng 5 năm 1947, địch buộc phải đưa Nguyễn Đình Chính vào Khám lớn Chí Hoà. Tại đây, anh đã cùng lực lượng xung kích dẹp nạn “đầu gấu” trong tù, làm cho không khí trong tù đỡ ngột ngạt hơn.

Tháng 10 năm 1947, Toà án binh thủy quân Pháp đã tuyên án tử hình Nguyễn Đình chính vì hai tội: “Âm mưu đánh đắm chiến hạm Su-ren của Pháp và tội đảo ngũ”. Tuyên án xong lập tức Nguyễn Đình Chính bị chúng đưa xuống hầm tử hình 18A – Khám lớn Chí Hoà. Ít lâu sau, thực dân Pháp còn mở tiếp một phiên toà để xử Nguyễn Đình Chính về tội “chống lại nhà cầm quyền Pháp, làm tan rã quân đội Pháp… phương hại đến an ninh quốc gia (!)” và tuyên tiếp bản án tử hình thứ hai. Tại phiên toà này, Nguyễn Đình Chính đã đanh thép đọc bản tự bào chữa bằng tiếng Pháp. Lời văn sâu sắc, giọng nói hùng hồn, Nguyễn Đình Chính đã biến pháp trường thành nơi tố cáo tội ác của thực dân Pháp và tay sai, chỉ ra tương lai tươi sáng của cuộc kháng chiến do Hồ Chủ tịch lãnh đạo. Sau này, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã viết: “Hồi tôi và anh Bình (Trung tướng Nguyễn Bình) ở căn cứ Vườn Thơm, đôi lần Nguyễn Đình Chính từ Sài Gòn ra báo cáo. Lực lượng võ trang của ta một hai năm đầu kháng chiến còn non trẻ, nhất là Thành phố đã bị chiếm như Sài Gòn, địch hơn hẳn ta về quân số và vũ khí, nhưng Chính nổi tiếng là một chỉ huy gan góc. Bị địch bắt, Chính chịu đựng mọi cực hình tra tấn. Các đồng chí cùng ở tù với Chính đều ca ngợi, kính phục. Anh ấy lạc quan cho tới khi ra pháp trường…”.

Trong những ngày đợi chờ lên đoạn đầu đài, Nguyễn Đình Chính đã chạy đua với thời gian: Tìm cách vượt ngục, viết huyết thư gửi lên Bác Hồ, hồi ký, nhật ký, viết báo, viết thư cho mẹ đẻ, cho người má nuôi, cho người yêu của mình là Nguyễn Thị Phẩm. Nguyễn Thị Phẩm cũng là một nữ biệt động Ban Công tác Một – người con quê hương Thái Bình. Trong cuộc chiến đấu ác liệt, tình yêu của họ đã nảy nở. Hai người yêu nhau, rất gần nhau mà không dám công khai báo cáo tổ chức, không dám làm đám cưới. Bởi như vậy, họ không được ở nội thành trực tiếp chiến đấu. Trong hai cuộc kháng chiến có những mối tình cao cả và thiêng liêng như thế!

Bức huyết thư từ hầm tối gửi tới Bác Hồ

Trong những ngày ở hầm tối Khám lớn Chí Hoà. Nguyễn Đình Chính đã nhờ người má nuôi tìm cách chuyển ảnh Bác Hồ vào trong hầm tối và nhờ má tìm cách chụp được bức hình của anh dưới địa ngục trần gian để gửi tới Bác. Tấm ảnh Bác Hồ đã vượt qua bao vọng gác nghiêm ngặt của nhà tù xuống hầm tối nơi giam giữ người tử tù Nguyễn Đình Chính. Đặc biệt ngay sau khi lĩnh tấm thẻ bài tử hình thứ hai, về đến hầm tối, trước tấm hình người Bác kính yêu, Nguyễn Đình Chính đã lấy máu viết liền 4 trang huyết thư gửi tới Bác Hồ, trong đó có đoạn : “Thưa Cha, con sung sướng vì Người Cha bất diệt sẽ nhận được vài hàng vĩnh biệt của đứa con yêu… Gần hai năm trời đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc, con, một chiến sỹ ly hương chỉ biết đem xương máu ra phụng sự Tổ Quốc. Con đã thi hành hết nhiệm vụ và bổn phận để xứng đáng là trai thời loạn, là con của Cha… Ngày chết của con lặng lẽ tới lúc nào? Con chưa hề thấy nao lòng với cái chết. Con thiết nghĩ đã là chiến sỹ thì chết ở cảnh nào cũng vì Tổ Quốc. Bao cái chết anh dũng của các chiến sỹ Việt Nam vẫn sáng tỏ và in sâu trong tâm trí con… Sau khi dừng bút con trịnh trọng đặt bức thư này trên bàn thờ Tổ Quốc, bày biện đơn sơ, quay mặt về hướng Bắc, gửi tới Cha tất cả lòng kính trọng của đứa con yêu sắp trả xong nợ nước..”

Sáng 9/2/1949, Giặc Pháp đã đem xử tử hình Nguyễn Đình Chính tại trường bắn Chí Hòa. Nguyễn Đình Chính lúc này mới 24 tuổi. Luật sư Nguyễn Chí Vịnh người đã có mặt trong trường bắn kể lại: “Nguyễn Đình Chính rất bình tĩnh ra ba điều kiện: Không cần bịt mắt, không cần trói và được hát Quốc ca”. Nguyễn Đình Chính đã ngã xuống và lặng lẽ hóa thân vào đất mẹ. 45 năm sau Đảng, Nhà nước mới truy tặng danh hiệu Anh hùng liệt sỹ cho anh. Tại thành phố mang tên Bác có một mái trường và một con đường mang tên Nguyễn Đình Chính và ở Thành phố Thái Bình quê hương cũng có một con đường mang tên anh.

Thật không ngờ 15 năm sau cũng tại trường bắn này lại xuất hiện người anh hùng với những hành động, lời nói hiên ngang bất khuất, một tình yêu lứa đôi sâu nặng, một tình yêu đất nước nồng nàn, một tấm lòng kính yêu Bác vô hạn. Đó chính là liệt sỹ Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi! Bất chấp mọi ngón đòn tra tấn dã man của kẻ thù Mỹ – Ngụy, Nguyễn Văn Trỗi vẫn giữ lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Trên pháp trường anh Trỗi đã bình thản nhìn thẳng vào mười họng súng của kẻ thù và trước khi hy sinh anh đã gọi Bác kính yêu: “Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Liệt sỹ Anh hùng Nguyễn Đình Chính, liệt sỹ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi  – những liệt sỹ biệt động quả cảm anh hùng, sự tiếp nối tuyệt vời lòng kính yêu và ngưỡng vọng Bác Hồ .

Lã Quý Hưng
Theo Thaibinh.gov.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện nhỏ về Bác Hồ với Tết trồng cây

Những năm 60 của thế kỷ trước, tôi là cán bộ phòng tuyên truyền của Tổng cục Lâm nghiệp. Cứ mỗi độ Tết đến Xuân về, cán bộ tuyên truyền ngành lâm nghiệp chúng tôi lại bận rộn vô cùng. Đó là việc chuẩn bị cho “Tết trồng cây” do Bác Hồ khởi xướng.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

Năm 1969, không ai ngờ đó là năm cuối cùng Bác Hồ đi trồng cây ở xã Vật Lại (Hà Tây cũ). Tôi là người được bác Nguyễn Tạo – Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp – cử đi đưa công văn lên Văn phòng Phủ Chủ tịch. Công văn báo cáo việc trồng cây của các tỉnh và kế hoạch phát động “Tết trồng cây”, đồng thời đề xuất, bố trí địa điểm để Bác chọn và đến trồng cây.

Năm ấy,  đọc xong  báo cáo của các tỉnh, Bác đề nghị ông Nguyễn Tạo mời Bí thư tỉnh Nghệ An cùng đến Phủ Chủ tịch để báo cáo  thêm những vấn đề xung quanh về “Tết trồng cây”. Thấy Bí thư Nghệ An xách chiếc cặp to, Bác hỏi luôn: “Cặp của chú đựng gì mà to thế?”. Đồng chí bí thư bị hỏi bất ngờ nên hơi lúng túng: “Dạ thưa Bác, cháu mang đủ tài liệu của tỉnh để báo cáo Bác”. Bác bảo: “Hôm nay Bác không hỏi chú  nhiều, mà chỉ hỏi một việc về Tết trồng cây của tỉnh chuẩn bị và đã thực hiện như thế nào”.

Nghe đến đây, Bí thư Nghệ An thở phào nhẹ nhõm, liền báo cáo Bác: “Thưa Bác, năm nay Nghệ An đã phát động “Tết trồng cây” sớm, hiện đã trồng được một triệu bảy nghìn sáu trăm tám mươi cây, và sau cấy,  chúng cháu sẽ trồng tiếp mười lăm nghìn cây nữa ạ!”. Nghe xong Bác khen: Tỉnh Nghệ An quê Bác trồng cây như thế là tốt. Nhưng Bác muốn hỏi, Nghệ An trồng hàng triệu cây, vậy có bao nhiêu cây chết, chú có cho đếm được không?

Đồng chí bí thư không trả lời được, Bác nói tiếp: Nghệ An cũng là quê Bác, các chú làm không tốt thì Bác vui sao được, các chú chỉ nghĩ đến thành tích mà không nghĩ đến hậu quả, thế cũng là chưa thật thà với nhân dân. Trồng cây nào phải sống tốt cây ấy, phải biết chăm sóc cây, không để lãng phí công sức và của cải vật chất. Vậy “Tết trồng cây” năm nay Nghệ An phải làm tốt hơn nữa để bác vui.

Đồng chí bí thư xin hứa thực hiện thật tốt lời dặn dò vừa thân tình vừa như phê bình nhẹ nhàng của Bác. Quay về phía đồng chí Nguyễn Tạo, Bác nói: Chú Tạo phát động báo chí viết bài chú ý đến việc trồng cây nào sống tốt cây ấy.

Mấy ngày sau, trên báo Nhân Dân đã có bài  “Trồng cây nào sống tốt cây ấy” của Bác. Xúc tiến những chỉ thị của Bác, một tuần sau, các báo đều đồng loạt có bài viết về “Tết trồng cây”, phát động phong trào “Ông trồng cháu chăm”, rồi hàng loạt tranh cổ động in ra với câu ca: “Mùa xuân là Tết trồng cây/ Vâng lời bác dạy ta gây nên rừng…”. Lúc đầu “Tết trồng cây” còn là phong trào quần chúng,  chưa có quy hoạch cụ thể, vì thế chất lượng cây trồng chưa cao, từng vùng chưa chọn giống cây phù hợp. Sau này khi đi kiểm tra, đồng chí Võ Nguyên Giáp thấy nhiều đồi cây ít được chăm sóc, vì thế đã đề xuất: Thà có một cánh rừng của nhân dân còn hơn để đồi trọc của Nhà nước. Và cũng chính vì ý kiến ấy mà một số chính sách của Nhà nước đã dần dần phù hợp với đời sống, nguyện vọng của nhân dân. Việc giao đất, giao rừng cho gia đình và tập thể hoặc cá nhân đã được thực hiện.

Tết này của năm Quý Tỵ – 2013, đã hơn nửa thế kỷ, lời kêu gọi của Bác Hồ và chính Bác phát động “Tết trồng cây” vẫn mãi còn giá trị và đã đi vào nếp sống thường nhật của nhân dân. Đó là nếp sống văn hóa đầy tính nhân văn, song rất hiệu quả về kinh tế. Tầm nhìn của Bác như đã thấy trước những nguy hại của hiệu ứng nhà kính, của nền công nghiệp hiện đại đang hủy hoại môi trường, và cũng vì thế mà Bác nói: Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ và chăm sóc.

Ấy thế mà nhiều cánh rừng của chúng ta hôm nay đang bị xâm hại, lâm tặc đang hoành hành, sự quản lý lỏng lẻo, thậm chí một vài nơi kiểm lâm còn tiếp tay cho lâm tặc phá rừng, đấy là tội ác! Giờ đây, mỗi lần Tết đến, chúng tôi lại càng nhớ những ngày đầu xuân được đi theo Bác trồng cây. Bác làm thơ, viết báo, lại còn  trực tiếp đi trồng cây, nói chuyện với nhân dân, vận động mọi người tham gia thiết thực “Tết trồng cây”. Tôi cũng được biết, câu thơ “ Mùa xuân là Tết trồng cây / Làm cho đất nước mỗi ngày một xuân”, sau Bác sửa thành “càng ngày càng xuân”. Nhớ lời Bác, chúng ta hãy giữ vững và phát huy nét đẹp ấy trở thành một mỹ tục làm cho “Tết trồng cây” như một ngày hội lớn và đó chính là chúng ta  đã biết “Học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh” không trở thành hình thức.

TRẦN TRƯƠNG
baodanang.vn

Bác Hồ với báo Tết của thiếu nhi Hải Dương


Bác Hồ với thiếu nhi miền Nam Tết 1969.

Mùa Xuân này các bạn và các em có thể xem hàng trăm loại báo tết, trình bầy đẹp đẽ về hình thức, phong phú về nội dung, thể tài với nhiều khuôn khổ khác nhau theo tôn chỉ mục đích của mỗi tờ báo. Nhưng các bạn và các em khó tìm thấy một tờ báo ra đời cách đây hơn 60 năm của các em thiếu niên nhi đồng ở một tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Tờ báo ấy bản in gốc nay chỉ còn ở Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam (Hà Nội). Đó là tờ báo “Xung phong” cơ quan ngôn luận của thiếu nhi yêu nước tỉnh Hải Dương – số tết Mậu Tý, khổ 20*16 dày 16 trang, do anh Quản Tập chủ biên.

Báo “Xung phong” được in hai mầu đỏ và đen, ngoài bìa 1 có vẽ hình hai em bé, một nam, một nữ đứng bên nhau, bụ bẫm, xinh xắn tươi cười hướng về tương lai. Giữa bìa là cảnh một cây nêu bằng ngọn mác xuyên thủng tên thực dân Pháp mũi lõ. Phía xung quanh chân cây “nêu” là bầy các em nhỏ đang quây quần ríu rít. Phía xa nữa là cảnh làng quê lũy tre xanh, lô nhô cờ đỏ sao vàng.

Ngay tết năm ấy, báo vừa xuất bản xong hãy còn thơm mùi mực, các em bàn nhau gửi lên chiến khu Việt Bắc kính biếu Bác Hồ. Bác nhận được báo “Xung phong” đúng vào dịp Tết Nguyên đán năm đó. Đọc xong, Bác tự tay đánh máy vào tấm danh thiếp một bức thư trả lời bằng 8 câu thơ lục bát:

“Bác nhận được báo “Xung phong”
Cảm ơn các cháu có lòng gửi cho
Các cháu nghe bác dặn dò
Phải biết yêu nước, phải lo học hành.
Siêng làm việc, siêng tập tành
Phải giữ kỷ luật mới thành cháu ngoan.
Bác yêu các cháu muôn vàn
Bác gửi các cháu một ngàn cái hôn”.

Vậy là trong làng báo chí cách mạng Việt Nam nói chung và Lịch sử, danh mục báo chí ở Việt Nam, có thêm tư liệu về tờ báo“Xung phong”. Càng vinh dự đó là tờ báo yêu nước đầu tiên của trẻ em cấp tỉnh lại được Bác Hồ gửi thư khen, động viên các cháu. Xuân Mậu Tý (1948) các cháu kính biếu báo tết Bác, Bác tặng thơ các cháu, cả hai món quà đều ý nghĩa. Già yêu trẻ, trẻ kính già.

LÊ HỒNG THIỆN
baohaiduong.vn

Mùa Xuân, nghĩ về Đảng, về học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Theo từng nhịp bước thời gian, hạ phai, thu úa, đông tàn … Mùa Xuân đến, tiết Xuân tươi khơi dậy sức sống cho muôn loài; vạn vật phô bày toàn diện vẻ đẹp huy hoàng, lộng lẫy, sức sống sung mãn, toàn bích. Nơi nơi nô nức, hân hoan chào đón mùa Xuân. Mùa Xuân của thiên nhiên, đất trời chỉ đến một lần trong  năm; mùa Xuân là thời gian vui tươi hạnh phúc và tràn đầy sức sống mà mọi người được hưởng, ai ai cũng có những mùa Xuân tươi đẹp trong cuộc đời!

 4. 1.mua xuan nghi ve DangVới Đảng ta, nhân kỷ niệm lần thứ 30 Ngày thành lập Đảng (3/02/1930), Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng:“ĐẢNG TA THẬT LÀ VĨ ĐẠI”.

Soi rọi lịch sử hình thành và phát triển của Đảng trong 83 năm qua, chúng ta nhận thức được sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng sâu sắc! Bởi lẽ, ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng luôn giáo dục đảng viên phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; mỗi đảng viên phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng, của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân.

Từ đầu năm 2007 đến nay, Đảng ta phát động cán bộ, đảng viên và nhân dân rèn luyện, tu dưỡng, học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, noi theo tác phong, phong cách làm việc của Người, nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu; mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, noi theo đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị của Người.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ ra 3 nội dung trọng tâm: ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị … là những vấn đề, nội dung cơ bản và hệ trọng để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh! Qua đợt sinh hoạt chính trị quan trọng và rộng lớn này, các cấp ủy đảng, các ngành, các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, nội dung những tư tưởng chỉ đạo của Đảng, những công việc phải làm, trên cơ sở đó thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm để gương mẫu thực hiện nghị quyết có hiệu quả trên mỗi cương vị công tác tại địa bàn, lĩnh vực thuộc trách nhiệm lãnh đạo của mình!

Ngày nay, hơn lúc nào hết, Đảng ta kiên định, giữ vững lập trường chủ nghĩa Mác – Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, thống nhất ý chí, hành động trong toàn Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kêu gọi mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên trong hệ thống chính trị trung với nước, hiếu với dân. Chỉ có một Đảng chân chính mới canh cánh nỗi lo chưa xây dựng đất nước giàu mạnh, chưa chăm lo chu đáo cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Lãnh tụ của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm túc chỉ ra trách nhiệm của Đảng và Nhà nước: Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Một Đảng mà thấy hết, nhận hết trách nhiệm khuyết điểm về mình và quyết tâm sửa chữa là một đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh!

Mùa Xuân đến, nghĩ về Đảng, về học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thấy lòng mình ấm lại! Chúng ta tin tưởng tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng bằng nhận thức khoa học, với sự hiểu biết sâu sắc về bản chất vì dân, vì nước, vì dân tộc của Đảng! Năm mới Quý Tỵ – 2013, mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện, thấm nhuần và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Mỗi đảng viên của Đảng phấn đấu mãi mãi là một nhành Xuân của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, góp phần làm cho Đảng gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, làm cho đạo đức, văn minh của Đảng tỏa sáng.

http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ – Người không có tuổi !

Một buổi sáng năm 1960, nhà thơ An-tôn-xki, người dịch “Nhật ký trong tù” vào thăm Bác tại Hà Nội. Nhà thơ viết: “Đúng 6 giờ rưỡi, chúng tôi đến chờ Người. Vừa mới bước qua ngưỡng cửa phòng khách thì từ phía cánh cửa đối diện đã bước ra một người đứng tuổi, vóc người tầm thước, với chiếc áo ka ki màu sáng và chân đi đôi dép. Người niềm nở mỉm cười. Ở đây tôi dùng chữ “đứng tuổi” là vì tôi biết rõ tuổi Hồ Chủ tịch. Đúng hơn cả, nên gọi Bác Hồ là người không có tuổi. Thật vậy, mái tóc Người đã bạc mà dáng dấp vẫn gọn gàng, nhanh nhẹn như tuổi thanh niên”.

7.a1Bác Hồ với một số người cao tuổi tiêu biểu. 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta lúc đó 55 tuổi. Nhìn dáng người mảnh khảnh, đôi mắt sáng, vầng trán cao và bộ râu hơi dài, cả nước kính trọng và tôn vinh Hồ Chủ tịch là Lãnh tụ dân tộc. Báo chí thì gọi Bác là Cụ Hồ Chí Minh.

Nhà thơ Tố Hữu lúc đó chưa được gặp Bác, trong bài thơ “Hồ Chí Minh” viết ngày 26-8-1945, cũng đã gọi Bác Hồ là một người lính già:

“Hồ Chí Minh
Người lính già
Đã quyết hy sinh
Cho Việt Nam Độc Lập
Cho thế giới hoà bình…”

Một lần, một nhạc sỹ đưa một đoàn các cháu thiếu nhi vào thăm Bác. Các cháu cùng hát vang bài ca: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”. Khi nghe đến câu hát: “Bác nay tuy đã già rồi, già rồi nhưng vẫn vui tươi…”, Bác Hồ quay sang tươi cười, nói với đồng chí Trần Duy Hưng:

– Này chú, Bác đã già đâu nhỉ?

Có thể nói, Bác Hồ của chúng ta là một con người không chấp nhận tuổi già. Chúng ta hãy tưởng tượng, một con người 21 tuổi, với hai bàn tay trắng đã ra đi tìm đường cứu nước. Sang Pháp, rồi vượt biển lớn đi vòng quanh Châu Phi, rồi sang Mỹ, Anh, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thuỵ Sỹ, Nga, Trung Quốc… Hầu như đi khắp các châu lục, làm nhiều nghề, vừa học vừa hoạt động cách mạng, vừa phải khôn khéo vượt qua mọi sự bắt bớ của bọn đế quốc. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy thật lạ lùng, là một người Việt Nam trẻ tuổi, vừa đến Thủ đô Paris không bao lâu, đã thâm nhập ngay được vào đời sống chính trị tại đó, làm những việc cực kỳ quan trọng đối với dân tộc mình, đối với các dân tộc thuộc địa và góp phần hình thành chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Pháp”.

Chúng ta cũng biết trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Bác Hồ của chúng ta đã hai lần phải vào tù, và một lần lĩnh án tử hình vắng mặt do Toà án Nam triều ở Vinh, theo lệnh nhà cầm quyền Pháp kết án ngày 11-11-1929. Năm 1931, Bác bị bắt vào nhà tù Hương Cảng, và năm 1942 ở nhà tù Tưởng Giới Thạch ở Tĩnh Tây, Trung Quốc, với bao nỗi đày ải khổ cực. Trong thời gian 1 năm 12 ngày, bị giải đi mấy chục nhà giam, chân bị cùm, răng rụng, đói và rét. Song chính trong tù ngục ấy, Bác đã để lại cho chúng ta tập thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù” mà ngày nay đã được in ra ở 30 nước:  Anh, Pháp, Trung Quốc, Đức, Tiệp, Nga, Tây Ban Nha, Hàn Quốc…

Khi về Pác Bó, Cao Bằng, ở trong hang đá lạnh, ăn uống thì kham khổ “Sáng ra bờ suối, tối vào hang. Cháo bẹ, rau măng, vẫn sẵn sàng…”. Một cuộc đời cách mạng gian khổ như thế, trước Đại hội Tân Trào ở lán Nà Lừa, Bác lại bị một trận ốm rất nặng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp kể: Có đêm Bác đã dặn lại như có ý dối dăng… Thế nhưng Cách mạng Tháng Tám thành công, đã 55 tuổi, Bác Hồ vẫn ngày đêm làm việc, lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những ghềnh thác hiểm nghèo, và Người không hề nghĩ đến tuổi già!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Lần đầu tiên nhân dân ta mừng Ngày sinh của Bác. Bác nói với Đoàn đại biểu Nam Bộ đến mừng Người: “Tôi xin cảm ơn các anh, các chị Nam Bộ đã đến chúc thọ tôi. Thật ra, các báo ở đây đã làm to cái ngày sinh của tôi, chứ 56 tuổi chưa có gì đáng chúc thọ, hãy cũng còn như thanh niên cả…” (Báo Cứu Quốc ngày 20-5-1946).

Sau này trong những bài thơ viết về tuổi thọ, Bác vẫn không chấp nhận tuổi già. Bài thơ “Không đề”, Bác viết năm 1949 tại chiến khu Việt Bắc:

KHÔNG ĐỀ

Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già
Chờ cho kháng chiến thành công đã
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta.

Cho đến năm 78 tuổi, trong bài thơ “Không đề” Bác Hồ vẫn viết:

KHÔNG ĐỀ

Bảy mươi tám tuổi vẫn chưa già
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn
Tiến bước ta cùng con em ta!

Anh em ở gần Bác mới thưa với Bác rằng: “Thưa Bác. 78 tuổi là già rồi ạ!”, thế là Bác chữa lại: “Bảy mươi tám tuổi chưa già mấy/ Vẫn vững hai vai việc nước nhà…”.

Sự nghiệp cách mạng vĩ đại của cả một dân tộc. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, mà Bác là người chèo lái, nỗi lo toan cho hạnh phúc của nhân dân và lẽ sống cao đẹp vì dân, vì nước, khiến Người đã vượt qua cái tâm lý tuổi già thông thường, để luôn hướng tới một mùa xuân đẹp đẽ của đất nước!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Một Đoàn cán bộ của Ban Vận động đời sống mới, do nhà văn Nguyễn Huy Tưởng dẫn đầu, vào chúc thọ Bác. Nhân lúc trò chuyện, nhà văn thưa với Bác:

– Thưa Cụ, nhân hôm nay đến chúc thọ Cụ Chủ tịch, xin Cụ cho Ban Đời sống mới chúng tôi một khẩu hiệu để vận động nhân dân thực hiện.

Bác Hồ vui vẻ hẳn lên, Người nói:

– Khẩu hiệu ư? Thế thì khẩu hiệu đó là: “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

Sau một phút suy nghĩ, nhà văn lão thành đứng dậy thành thật thưa với Bác:

– Thưa Cụ Chủ tịch, khẩu hiệu đó rất hay, nhưng nghe nó cổ cổ thế nào ấy ạ!

Bác Hồ cười:

– Ơ hay! Sao lại cổ? Các cụ ta xưa ăn cơm, bây giờ chúng ta ăn cơm vẫn thấy ngon. Thế thì nó cổ chỗ nào? Cái hay của Tổ tiên thì chúng ta phải học.

Ngày 10 tháng 5 năm 1965.

Năm ấy, Bác Hồ của chúng ta vừa tròn 75 tuổi!

Đúng 9 giờ sáng hôm ấy, Người ngồi vào bàn viết Bản Di chúc “Tuyệt đối bí mật”. Năm ngày sau, ngày 14-5 Người đã viết xong Bản Di chúc lịch sử và tự tay đánh máy. Cuối tài liệu Bác ghi: Hà Nội ngày 15 tháng 5 năm 1965 và ký tên Hồ Chí Minh.

Tối hôm đó, các đồng chí trong Bộ Chính trị vào mừng thọ Bác 75 tuổi. Một bó hoa tươi được đặt trang trọng trên bàn. Đồng chí Trường Chinh thay mặt, nói mấy lời chúc thọ Bác.

Bác xúc động nói:

– Bác cảm ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi việc hết sức khẩn trương, mà lại đi chúc thọ một cá nhân như thế này là không nên!

Mọi người có mặt trong căn phòng đều lặng yên, suy nghĩ… Bác Hồ của chúng ta là như thế đó! Trong cả cuộc đời mình, Người luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng,“Nâng niu tất cả, chỉ quên mình!”.

Ngày 19 tháng 5 năm 1969.

Hồi này sức khoẻ của Bác đã yếu! Đúng 9 giờ, Bác lại ngồi vào bàn xem lại Bản Di chúc đã viết. Người đọc lại rất kỹ toàn bộ các bản viết trong 4 năm qua và chữa lại một số chữ. Trong câu “Khi người ta đã ngoài 70 tuổi”, Bác chữa lại là “70 xuân!”.

Buổi sáng, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ:

– Cháu Trỗi hy sinh cách đây đã gần 5 năm rồi chú nhỉ?

Đồng chí Vũ Kỳ thưa với Bác:

– Thưa Bác, anh Trỗi hy sinh ngày 16 tháng 10 năm 1964, đến nay đã gần 5 năm!

Một thoáng buồn, rồi Bác bảo đồng chí Cẩn nấu món ăn theo kiểu Nam Bộ để Bác mời khách. Trưa hôm ấy, Bác mời đồng chí Phạm Văn Đồng sang cùng tiếp khách. Khách mời của Bác hôm ấy là hai cháu gái miền Nam, chị Phạm Thị Quyên vợ anh Trỗi và chị Nguyễn Thị Châu.

Không ai ngờ, đó là ngày 19 tháng 5 cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác!

Bác Hồ kính yêu của chúng ta là như thế đó. Bằng một nghị lực phi thường, và trí tuệ siêu việt Người đã suốt đời lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta làm cách mạng. Người nói: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không!”.

Trước kia, khi chưa gặp Bác, nhà thơ Tố Hữu viết: “Hồ Chí Minh người lính già/ Đã quyết chí hy sinh…”. Nay được ở gần Bác, nhà thơ lại viết: “Hồ Chí Minh – Người trẻ mãi không già”. Và “Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười. Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi!”.

Bác Phạm Văn Đồng đã nói: “Tưởng nhớ Hồ Chí Minh là biến khẩu hiệu “Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” thành tư tưởng, tình cảm và hành động của mỗi người cộng sản và mỗi người dân”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Mùa Xuân Tân Tỵ 1941 Bác Hồ trở về Pác Bó !

6. 1 bh 1941
Bác Hồ về Pác Bó, Cao Bằng (28/1/1941).

Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc!

Có cái gì đó giống như một câu chuyện cổ tích, kể về một chàng trai từ biệt quê hương. Anh đã ra đi, vượt qua biết bao núi cao, rừng rậm, biển cả… vượt qua biết bao thử thách, đói rét, tai ương… Và sau 30 năm ròng rã anh đã trở về, đem theo một cuốn sách quý thần kỳ…

Trong bài: “Sen của loài người”, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Văn chương thế giới hay dùng chữ thần kỳ khi nói đến Hồ Chí Minh. Chỉ riêng việc “đi” của Người đã lắm nét thần kỳ. Nơi nào là nơi Người chưa đến trên thế giới?”. Ba mươi năm đi khắp các châu lục để tìm đường cứu nước. Một nhà nghiên cứu đã nói: Đó là một cuộc đi dài nhất so với mọi cuộc đi của bất cứ một anh hùng, chí sĩ nào đầu thế kỷ, và cũng có thể nói, đó là một cuộc đi dài nhất so với bất kỳ một lãnh tụ cách mạng nào trên thế giới! (1911-1941).

Mảnh đất Tổ quốc đầu tiên được đón bước chân Bác Hồ, là cái bản nhỏ Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Và chính ở nơi đây, trong những ngày đầu trở về Tổ quốc, Bác đã viết bài thơ:

Pác Bó hùng vĩ

Non xa xa, nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

Hai tay gây dựng một sơn hà.

Tháng 2-1941

Đại tá Dương Đại Lâm, quê ở Pác Bó kể lại: Sau cái đêm đầu tiên nghỉ lại tại nhà một đồng bào Nùng có cảm tình với cách mạng, hôm sau Máy Lỳ – người chủ nhà – dẫn Bác và mấy đồng chí vừa về nước, theo một con đường nhỏ chạy ngoằn ngoèo qua rừng, lên một ngọn núi đá. Từ bờ suối trèo lên phải qua một đoạn dốc khá dài, cây cối rậm rạp, mới lên tới cửa hang. Hang không rộng lắm, có hai ba ngách nhỏ. Trong một ngách có tảng đá khá to, bằng phẳng, sau này mọi người gác cây rồi rải lá lên làm giường nằm. Gần đấy, một con suối nhỏ chảy quanh các tảng đá, rồi đổ xuống phía dưới, tung những bọt trắng xoá. Bác hỏi, Máy Lỳ bảo: “Ở đây mọi người gọi hang này là Cốc Bó, có nghĩa là đầu nguồn!”.

Vốn là một người yêu thích thiên nhiên, Bác tỏ vẻ thích thú. Khi đi xem cảnh vật chung quanh, nhìn ngắm mãi ngọn núi đá hùng vĩ, Bác bảo với mọi người:

– Chúng ta sẽ đặt tên cho ngọn núi này là Núi Các – Mác, còn dòng suối đẹp kia, nước trong vắt bắt nguồn từ ngọn núi ra, chúng ta sẽ gọi là Suối Lê-nin!

Tất cả mọi người đều tỏ vẻ tán thưởng!

Có người nói, nghĩ đến Bác Hồ là chúng ta nghĩ ngay đến sông núi, đất nước, và chính Bác cũng là người đặt tên cho đất nước, sông núi mình. Ngọn núi Các – Mác và dòng suối Lê-nin không những là biểu tượng cho một con đường cách mạng vĩ đại mà cả dân tộc ta ngay từ đầu đã lựa chọn, mà còn làm cho vùng đất núi non này như xa, rộng hẳn ra, gắn liền Việt Nam với Cách mạng thế giới!

Cũng ở hang Pác Bó này Bác Hồ còn viết bài thơ:

Tức cảnh Pác Bó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang!

                                    Tháng 2-1941

Đồng chí Vũ Kỳ kể lại: “Hành trang theo Bác trở về Pác Bó vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ. Và tập tài liệu “Con đường giải phóng” tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm”.

Về Pác Bó, Bác thường mặc bộ quần áo dân tộc Nùng, màu chàm, ống tay rộng. Thức ăn của Bác và anh em chỉ có rau bí, rau rừng, măng đắng, và ốc bắt ở suối. Tháng giáp hạt, nhân dân ăn độn ngô, Bác cũng ăn cháo, ăn ngô. Trời mưa, hang núi ướt lạnh thấu xương, từ các nhũ đá nước nhỏ giọt xuống đều đều không dứt. Để đỡ lạnh, mọi người phải đốt một đống lửa nhỏ. Nhưng thời gian này, Bác đã viết hàng chục bài thơ tuyên truyền cách mạng. Và cũng từ đây, trong hang đá đại bản doanh này, tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng ta đã họp, định ra đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hai mươi năm sau, Bác Hồ lại trở về thăm lại Pác Bó. Người viết bài thơ:

Thăm lại hang Pác Bó

Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay!

                              Ngày 20-2-1961

Trong bài thơ này, không một chữ nói về mình, Bác chỉ nhắc đến Đảng, đến Dân, đến non sông gấm vóc! Với người khác, khi đi xa trở lại, thường kể về những ngày đầu gian khổ, nhưng Bác thì không! Bác Hồ của chúng ta là thế đó! “Nâng niu tất cả chỉ quên mình” (Tố Hữu).

Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, trước sau Bác Hồ đã sống với đồng bào các dân tộc Việt Bắc trên 12 năm. Và núi rừng Việt Bắc, Chiến khu của Cách mạng, cũng đã trở thành tình sâu nghĩa nặng với Đảng, với Bác Hồ, trở thành niềm tin yêu, hy vọng của cả nước trong những ngày kháng chiến gian khổ:

“Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc cụ Hồ sáng soi”

Tố Hữu

Nói đến Việt Bắc, là nói đến “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”,  nói đến những an toàn khu Định Hoá (Thái Nguyên), Chiêm Hoá (Tuyên Quang) trong kháng chiến, nói đến Pác Bó, đã trở thành thơ, thành Di tích lịch sử Cách mạng cho muôn đời con cháu!

Mùa Xuân này trở lại Pác Bó thăm vùng đất “Đầu nguồn” Cách mạng, lòng chúng ta lại bồi hồi nhớ đến Bác kính yêu!

Năm 1911, một buổi sáng Nguyễn Tất Thành đã nói với một người bạn thân:

– Lê này, mình đã quyết định ra nước ngoài, đến nước Pháp và các nước khác. Mình muốn biết ở đấy họ sống và lao động ra sao, rồi sau đó sẽ trở về nước để giúp đỡ đồng bào mình.

– Cậu lấy tiền đâu để đi? Người bạn ngạc nhiên hỏi.

Nguyễn Tất Thành giơ hai bàn tay ra:

– Đây, tiền đây! Mình sẽ lao động, sẽ làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động…

Thế rồi, chuyến đi lịch sử đã diễn ra. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Bến cảng Nhà Rồng tấp nập. Tàu đô đốc La-tút-sơ Trê-vin, một tàu lớn đang đón khách và lấy hàng. Một thanh niên mảnh khảnh, dáng học trò, bước đến trước viên Thuyền trưởng:

– Tôi đến để làm phụ bếp. Tên tôi là Văn Ba (anh là con thứ ba trong gia đình).

Và 30 năm sau, một con người đã mang hàng trăm tên, làm 12 nghề khác nhau, biết hơn 12 thứ tiếng, đã từng đi qua khắp các châu lục trên thế giới lại trở về Tổ quốc thân yêu của mình. Suốt 30 năm trời đằng đẵng, Người chỉ ước mong cái ngày hôm ấy. Đã nhiều lần, Bác tìm cách về nước, nhưng giặc Pháp giăng lưới cảnh sát dày đặc ở dọc biên giới. Trong khi đó Bác đã bị bọn thực dân Pháp và chính phủ Nam Triều kết án tử hình vắng mặt. Còn bây giờ, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi, phải gấp rút tìm mọi cách trở về lãnh đạo cách mạng.

Và Pác Bó, Cao Bằng, mảnh đất vùng biên giới đã có cơ sở cách mạng từ năm 1937 này, đã được Bác Hồ chọn là nơi về nước. Và thật không ngờ, ngày trở về Tổ quốc của mình lại đúng vào những ngày Tết, những ngày Xuân Việt Nam. Hoa mơ nở trên những cánh rừng biên giới như lặng lẽ chào đón người con thân yêu nhất của mình, trở về với một ước mơ lớn. Nhưng thời điểm đó không phải là ngẫu nhiên, chúng ta nhớ Hội nghị thành lập Đảng ở Cửu Long (Trung Quốc) Bác cũng chọn vào ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ. Những ngày Tết dân tộc cổ truyền, là dịp thuận lợi nhất để che mắt địch.

Ngày trở về Pác Bó, Bác Hồ của chúng ta đã 51 tuổi. Và Người lại nhắc lại hình ảnh “Hai bàn tay” trong bài thơ Pác Bó của mình:

“Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà”

Nhưng bây giờ không phải là hai bàn tay trắng lúc ra đi. Hai bàn tay ấy, hôm nay đã có chủ nghĩa Mác – Lê-nin dẫn đường, có đông đảo đồng bào, đồng chí và núi rừng cách mạng chở che.

Trước mắt Người đã là Mùa Xuân Tổ quốc, dù mới chỉ là mùa Xuân trên một cánh rừng biên giới. Song thật là kỳ diệu, lịch sử đã đi những bước đi ngàn dặm. Chỉ bốn năm sau, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dõng dạc tuyên bố với thế giới: Một nước Việt Nam Độc lập, Tự do, Thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ!

Non sông gấm vóc đã mở ra một thời đại mới, một thời đại mang tên Người – Thời đại Hồ Chí Minh!

 Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với mùa Xuân Hà Giang

Mùa Xuân như có một cái gì đó định mệnh gắn liền với Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Có thể bắt đầu từ mùa Xuân năm 1930, khi cách mạng thế giới có những bước phát triển thuận lợi, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, ngày 3.2.1930, Người đã sáp nhập ba tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), tại Hương Cảng, Trung Quốc, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, mở ra một thời kỳ mới của cách mạng vô sản theo học thuyết Mác.

5.a1
Ảnh Tư liệu

Những năm tháng hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác luôn hướng về Tổ quốc, cùng Đảng tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đứng lên từng bước đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc. Để rồi từ Bến Cảng Sài Gòn năm 1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước, đúng vào mùa Xuân năm 1941, khi thời cơ cách mạng đã đến, Người từ Trung Quốc trở về Tổ quốc ngày 28.1.1941 tại vùng biên giới tỉnh Cao Bằng, trực tiếp cùng Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Con đường đi làm cách mạng của Người là cả một chặng đường lịch sử gắn với vận mệnh dân tộc. Có một nhà thơ đã viết: Cuối trời Bác đi ngàn sóng tiễn/ Ngày về hoa nở thắm vùng biên/ Ba mươi năm thức tìm chân lý/ Lập nước Việt Nam sáng vạn niên.

Mùa Xuân này Bác đã đi xa 44 năm. Với Hà Giang, kể từ mùa Xuân 1961 Người lên thăm Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh nhà, đến nay đã 52 năm. Vậy là hơn nửa thế kỷ, trong trái tim đồng bào 22 dân tộc Hà Giang, hình ảnh Bác Hồ vẫn in đậm trong trái tim mỗi người dân như cơm ăn nước uống hàng ngày… Nhớ lại những tháng năm ấy, giữa lúc miền Bắc đang đẩy mạnh hàn gắn vết thương chiến tranh,kiến thiết đất nước tiến lên xây dựng XHCN, nửa nước – miền Nam vẫn còn dưới ách cai trị của đế quốc Mỹ xâm lược. Mặc dù bận trăm công ngàn việc, Bác Hồ đã lên thăm Hà Giang – một tỉnh biên cương cực Bắc của Tổ quốc, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Đảng, Chính phủ, của Người với đồng bào các dân tộc. Ngày lên thăm Hà Giang, trước Lễ đài tại sân vận động Người căn dặn: “Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh phải đoàn kết, ra sức tăng gia, sản xuất, phát triển chăn nuôi, khai thác lâm thổ sản, giữ gìn vệ sinh và cố gắng xóa mù chữ. Các dân tộc từ huyện đến khu cần phải ra sức giúp đỡ đồng bào rẻo cao…”. Thực hiện lời dạy của Người, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, được sự giúp đỡ trách nhiệm của các bộ, ngành Trung ương, trực tiếp là Đảng bộ Hà Giang, 22 dân tộc anh em trong tỉnh luôn đoàn kết bên nhau, vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, thách thức, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng… đã từng bước đưa Hà Giang vươn lên xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, luôn xứng đáng là một tỉnh phên giậu vững chắc biên cương của Tổ quốc. Từ một tỉnh sau tái lập thuộc diện nghèo nhất nước, sau 21 năm chia tách, Hà Giang đã vươn lên trở thành tỉnh có nền kinh tế tốc độ tăng trưởng luôn cao, năm 2012 đạt 10,78%; thu nhập bình quân đầu người đạt 11, 1 triệu đồng/năm; thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 1.200 tỷ đồng, tăng cao so các năm trước. Đặc biệt tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 98%; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 30,06%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,76%; tỷ lệ che phủ rừng đạt 55,6%; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch 64, 5%v.v… Đến nay 100% các xã có đường ô tô trải nhựa đến trụ sở, nhiều xã có đường ô tô xuống thôn. Chương trình: Điện, đường, trường, trạm của tỉnh từ đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII đã làm thay đổi diện mạo nông thôn, đặc biệt ở vùng sâu, xa, biên giới nâng lên rõ nét. 100% các xã có trụ sở làm việc của UBND, nhà trạm xá xã, trường học cao tầng, điện về xã, có nhiều nơi đến thôn… Chương trình bể nước, mái nhà, con bò ở 4 huyện vùng cao nguyên đá Đồng Văn đã cơ bản giúp cho gần 20 vạn đồng bào thoát khỏi cảnh thiếu nước trầm trọng vào mùa đông. Kinh tế thị trường đã tỏa sâu vào tận xóm thôn, làng bản, đồng bào các dân tộc thiểu số không còn xa lạ với từ kinh tế hàng hóa. Bà con ở vùng cao phía Bắc hay phía Tây… của tỉnh đã biết trồng cỏ để phát triển chăn nuôi bò hàng hóa, từ đó hình thành chợ bò ở huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh… Trong lao động sản xuất, XĐGN đã xuất hiện hàng ngàn hộ đồng bào thiểu số lao động giỏi, XĐGN nhanh… Các chương trình đưa báo chí như: PT-TH đến với bà con đạt từ 92 đến 98%; báo Hà Giang và các loại báo ngành trung ương đã đến tận thôn, bản, trường học… không ngừng nâng cao dân trí cho đồng bào… Đặc biệt chương trình xây dựng nông thôn mới do Đảng ta lãnh đạo, hơn 2 năm qua bộ mặt nông thôn Hà Giang như một công trường xây dựng, được gắn với các chương trình, dự án đã nâng cao hiệu quả đầu tư, cộng sự đóng góp của nông dân bước đầu tạo cho nông thôn ở miền núi, biên giới vùng sâu, xa một nền tảng vững chắc để đồng bào xây dựng cuộc sống mới.

Mùa xuân mới lại về trên quê hương Hà Giang. Thị xã Hà Giang ngày Bác lên thăm nay đã thành thành phố khang trang, xanh, sạch, đẹp… Đồng bào các dân tộc Hà Giang đang phấn khởi đón xuân về, trong những cành đào, mận, lê trắng muốt… rộ nở khắp núi rừng, bà con các dân tộc như thấy Bác đang về thăm Hà Giang cùng mùa xuân. Hà Giang đang từng bước thực hiện rất tốt lời căn dặn của Người.

Theo Báo Hà Giang
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ vật và kỷ niệm với Bác Hồ

Câu chuyện đã qua tròn nửa thế kỷ nhưng ông vẫn nhớ rành rọt lắm. Nhất là mỗi lần ngắm nhìn chiếc phù hiệu, thẻ ra vào và giấy giới thiệu là ông lại rưng rưng nhớ tới kỷ niệm với Bác Hồ kính yêu…

Vào cuối năm 1961, Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An lần thứ hai từ ngày 8 đến ngày 10-12-1961. Để phục vụ cho chuyến đi của Bác Hồ về Nghệ An và sau đó thăm tỉnh Thanh Hóa bảo đảm an toàn, Cục Không quân đã cử Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh, lúc ấy đang là Trợ lý Điều phái Chỉ huy Sở – Ban Tác chiến – Cục Không quân đi trước đến hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa để liên hệ công tác làm nhiệm vụ xác định vị trí, chọn địa điểm để máy bay trực thăng chở Bác có thể cất cánh và hạ cánh an toàn. Trước khi đi công tác, Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh được Cục Không quân cấp giấy giới thiệu số 845 ngày 6-12-1961 (hạn đến ngày 16-12-1961). Khi đến tỉnh Nghệ An đồng chí được Công an tỉnh Nghệ An cấp phù hiệu ngày 7-12-1961 có dòng chữ “Lam – Trà nổi sóng”. Nghĩa của dòng chữ này xuất phát từ năm 1960, tại Nghệ An có phát động phong trào An – Ngãi quật khởi, “Lam – Trà nổi sóng” vừa là phong trào, vừa thể hiện tấm lòng của Nghệ An đối với miền Nam tiền tuyến lớn anh hùng mà cụ thể là với tỉnh Quảng Ngãi kết nghĩa. Phù hiệu chỉ cấp trong nội bộ và được ra vào bí mật. Ngày 11-12-1961 khi ra tới Thanh Hóa, Hoàng Ngọc Mạnh còn được Công an tỉnh Thanh Hóa cấp tiếp một thẻ ra vào. Ông đã sử dụng giấy giới thiệu, phù hiệu, thẻ để ra vào Tỉnh ủy, Tỉnh đội, Công an tỉnh, Ủy ban Hành chính của hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An thực hiện nhiệm vụ trong suốt quá trình công tác của mình từ ngày 7 đến ngày 12-12-1961.

3. ky vatGiấy giới thiệu, phù hiệu của CCB Hoàng Ngọc Mạnh.

 Trong chuyến công tác này, có một kỷ niệm sâu sắc với Bác Hồ mà Hoàng Ngọc Mạnh không bao giờ quên. Ông nhớ lại: “Vào lúc 23 giờ đêm 10-12-1961, sau khi liên hoan, xem biểu diễn văn nghệ chia tay quê hương Nghệ An để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm tỉnh Thanh Hóa, Tỉnh ủy Nghệ An đã tổ chức cuộc họp đột xuất thống nhất kế hoạch để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm Thanh Hóa. Cuộc họp có sự tham gia của đồng chí Phạm Kiệt, Thứ trưởng Bộ Công an cùng các cán bộ chủ chốt của tỉnh Nghệ An và đại diện một số ban, ngành liên quan. Đang họp thì Bác trở về, đi qua phòng họp của Tỉnh ủy. Bác vào phòng và hỏi:

– Các đồng chí đang làm gì ở đây?

Đồng chí Phạm Kiệt đứng lên trả lời Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu đang họp chuẩn bị kế hoạch để sáng mai Bác ra thăm Thanh Hóa.

– Tình hình máy bay ngày mai thế nào? Xăng dầu có đủ không? Bác hỏi.

Đồng chí Phạm Kiệt bảo tôi trả lời Bác. Tôi nói:

– Thưa Bác! Máy bay tốt, xăng dầu đủ và còn thừa ạ.

– Thế các anh em phi công ăn, ngủ ở đâu?

– Dạ thưa Bác, anh em phi công ăn ngủ ở giao tế ạ (giao tế là nơi đón tiếp, nghỉ ngơi của nhiều Đoàn khách cán bộ cao cấp trong nước và bạn bè quốc tế).

Bác lại hỏi:

– Giao tế ở đâu? Cách đây bao xa? Bác muốn qua thăm anh em.

Vì đã khuya, ngoài trời rất lạnh và muốn Bác về ngủ giữ sức khỏe để mai còn lên đường nên tôi đã trả lời:

– Dạ thưa Bác xa lắm, cách đây khoảng hơn 400m ạ.

Bác cười:

– Cách đây có hơn 400m mà đồng chí bảo xa.

Tôi suy nghĩ rất nhanh rồi trả lời:

– Thưa Bác, bây giờ đã là 11 giờ, để bảo đảm sức khỏe các đồng chí trong tổ bay đã đi ngủ từ lúc 8-9 giờ tối.

Khi nghe xong câu trả lời của tôi, Bác nói:

– Đồng chí nói thế thì mới đúng, chứ cách đây có hơn 400m mà bảo xa thì không xa.

Bác mỉm cười rồi nói tiếp:

– Các đồng chí tiếp tục làm việc đi, Bác về phòng đi ngủ.

Câu chuyện và kỷ niệm gắn với chuyến công tác phục vụ Bác Hồ về thăm hai tỉnh Nghệ An – Thanh Hóa 50 năm trước vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức người lính không quân năm xưa. Cựu chiến binh Hoàng Ngọc Mạnh đã cất giữ cẩn thận giấy giới thiệu, phù hiệu và thẻ ra vào như một kỷ vật quý của mình và gia đình. Ngày 8-8-2011 vừa qua, ông đã trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam…

Theo qdnd.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

“Đoàn kết là cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh”

Ông Alain Ruscio và phóng viên TTXVN trong cuộc phỏng vấn. (Ảnh : Tiến Nhất)

Nhân kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phóng viên TTXVN tại Pháp đã phỏng vấn nhà nghiên cứu sử học người Pháp Alain Ruscio, Chủ tịch Trung tâm thông tin tư liệu Việt Nam tại Pháp, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề thuộc địa Pháp và Đông Dương.

Ông Alain Ruscio cũng là tác giả của nhiều cuốn sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh và lịch sử cận đại Việt Nam.

Với tư cách là nhà sử học, ông đánh giá như thế nào về di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc Việt Nam?

Alain Ruscio: Khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một bản Di chúc không chỉ mang tính nhân văn mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn. Có thể nói bản Di chúc này thâu tóm tất cả trong một mong muốn to lớn mà Người luôn ấp ủ: đó là sự đoàn kết.

Người kêu gọi sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ cao trào của cuộc chiến tranh. Nhớ lại thời điểm trước khi Người mất một năm, giai đoạn sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, quân Mỹ đã rút ở một số nơi nhưng vẫn tiếp tục ném bom ở nhiều nơi khác. Bác Hồ đã kêu gọi nhân dân Việt Nam luôn luôn đoàn kết: đó là chìa khóa dẫn đến chiến thắng sau này mà Người luôn tin tưởng.

Sự đoàn kết trong Đảng cũng là điều Người mong muốn. Ở vào thời điểm chủ nghĩa tư bản tấn công, đó không phải là lúc để tranh cãi nội bộ mà trước hết cần phải nghĩ đến lợi ích Cách mạng. Thông điệp này của Người mang một ý nghĩa rất to lớn.

Cuối cùng là mong muốn của Người về sự đoàn kết trong phong trào cộng sản quốc tế.

Có ý kiến cho rằng tinh thần đoàn kết mà Bác Hồ đề cao trong Di chúc vẫn giữ nguyên giá trị của nó cho đến tận ngày nay, khi mà cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đã kết thúc và đất nước đã bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển. Ông nghĩ như thế nào về quan điểm này? 

Alain Ruscio: Tôi cho rằng đúng, sự đoàn kết, điều mong muốn của Hồ Chủ tịch, vẫn luôn có giá trị đối với nhân dân của ông ngay cả bây giờ. Trên thực tế, hiện nay ở Việt Nam có những người làm ra tiền, nhưng cũng còn nhiều người sống trong cảnh nghèo nàn. Tôi cho rằng không nên để hố sâu ngăn cách xã hội này rộng thêm.

Cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là nhân dân, các nhà lãnh đạo và các chiến sĩ Cách mạng Việt Nam cần phải tạo thành một khối thống nhất. Khái niệm “Đại Đoàn kết dân tộc” đóng vai trò hàng đầu trong tư tưởng Hồ Chí Minh và tôi nghĩ rằng đó cũng là mục tiêu đồng thời là mong muốn mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang hướng tới.

Trong các câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, câu nào ông tâm đắc nhất?

Alain Ruscio: Đó chính là câu trả lời mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với Tổng thống Mỹ Nixon vào năm 1966: “Không có gì quý hơn độc lập và tự do!”. Đây cũng chính là hai cụm từ dẫn đường cho xã hội Việt Nam. Độc lập dân tộc, các bạn đã giành được, còn tự do hiện đang luôn tiến triển.

Là chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của đất nước hiện nay?

Alain Ruscio: Rất ấn tượng! Tôi biết Việt Nam từ hơn 30 năm nay. Tôi đến Việt Nam hai năm một lần, thậm chí hàng năm, tùy thuộc vào từng giai đoạn và tôi thấy được những biến đổi về mọi mặt của đất nước này. Đó là một dân tộc cần cù, rất năng động, một dân tộc dù phải chịu nhiều đau thương và nghèo đói, nhưng luôn có ý chí vươn lên.

Tuy nhiên, việc xuất hiện sự chênh lệch xã hội và một số khó khăn, cái nghèo dai dẳng và nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang khiến cho Việt Nam bối rối. Tăng trưởng của Việt Nam không cao như những năm trước và xuất khẩu thì bị sụt giảm. Tuy những điều này có gây ảnh hưởng, nhưng tôi vẫn nhìn thấy ở đất nước này một dân tộc luôn phát triển./.

Nhà sử học Alain Ruscio là chuyên gia nghiên cứu các vấn đề thuộc địa và Đông Dương. Từng là phóng viên thường trú báo Nhân đạo (L’Humanité) của Pháp tại Việt Nam giai đoạn 1978-1980, ông Ruscio rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết nhiều cuốn sách về Người.

Từ nhiều năm nay, ông luôn gắn bó với đất nước, con người Việt Nam thông qua nghiên cứu lịch sử Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam và Hồ Chủ tịch, trong đó có các tác phẩm đã được xuất bản như “Hồ Chí Minh,” “Sống ở Việt Nam,” “Việt Nam, lịch sử, đất nước, con người”…

Hiện nay, ông Alain Ruscio là Chủ tịch Trung tâm thông tin tư liệu Việt Nam tại thành phố Montreuil (Pháp). Được thành lập từ năm 1985, Trung tâm này là nơi tập trung nhiều nhất ở châu Âu những tài liệu về Việt Nam. Trung tâm đã và đang góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu và quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra với thế giới.

Nguyễn Thu Hà/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Di chúc màu xanh!

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”

Bác Hồ

Trong cuốn sách “Hồ Chí Minh – Vĩ đại một con Người”, Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Con người là tinh anh của thiên nhiên, thiên nhiên như cha mẹ của con người. Nhưng không phải mỗi ai đều biết yêu thiên nhiên, đều biết gắn thiên nhiên với cuộc sống chiến đấu của mình. Cụ Hồ đem hết nghị lực của mình cho đấu tranh xã hội, ấy vậy mà Cụ Hồ vẫn gắn bó với thiên nhiên đằm thắm. Ở Cụ Hồ thiên nhiên là bạn tri âm”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai người bạn đời luôn cùng sống là con người và thiên nhiên”.

Năm 1959 Bác Hồ phát động Tết trồng cây, và từ đó Người thường xuyên theo dõi, nhắc nhở, động viên phong trào trồng cây cho đất nước xanh tươi.

Nhưng không phải chỉ có mùa xuân, Bác Hồ đã viết: “Tết trồng cây là ngày mở đầu cho việc trồng cây suốt cả năm”.

Nhìn những tấm ảnh Bác Hồ trồng cây ở khắp nơi, chúng ta đều thấy ánh mắt trìu mến và vui tươi, thể hiện một tình yêu cây của Bác.

“Vượt trùng dương chát mặn bốn phương trời
Bác thương nhớ từng bụi sim cằn cỗi
Mỗi cành lá quê mình xanh tiếng gọi
Bác trở về đất Mẹ – Bác trồng cây”

Đặc biệt, lúc sinh thời Bác Hồ đã trồng sáu cây đa. Cây đa đầu tiên Bác trồng mở đầu cho Tết trồng cây là ở Công viên Thống Nhất, Hà Nội. Và cây đa cuối cùng là ở xã Vật Lại, Ba Vì. Xin kể lại một vài sự tích về những cây đa Bác trồng.

Sáng ngày 31 tháng 1 năm 1965, huyện Đông Anh tổ chức Tết trồng cây ở xã Đông Hội. Nhân dân đi trồng cây rất đông. Trong tiếng trống ếch rộn ràng của các cháu thiếu nhi, các cụ già hăng hái đào hố, đặt cây.

Đúng lúc đó thì Bác Hồ đến thăm! Mọi người chen nhau vòng quanh Bác. Bác vẫy tay cho các cháu thiếu nhi im lặng rồi nói vui:

– Các cụ, các chú trồng mười cây sống cả mười cây thì hơn, hay trồng sáu mươi cây chết cả sáu mươi?

– Thưa Bác, chúng cháu quyết trồng mười cây ăn cả mười ạ.

Bác khen như thế là tốt, rồi Bác xắn quần cùng mọi người đi lên gò. Ở đây, bà con đang đào một cái hố rộng. Mọi người mời Bác cùng các cụ già trồng một cây đa. Bác vui vẻ nhận lời. Xem lại cây đa cẩn thận, đặt cây cho thẳng, rồi Bác cùng mọi người xúc đất tốt đắp vào gốc cây.

Từ đấy, các cụ già làng Đông Hội thay nhau chăm sóc cây đa Bác trồng. Cây đa ngày càng lớn, bà con bảo nhau xây tường gạch bao quanh gò, có đường lên xây bậc rất dễ đi. Giờ đây cây đa lớn đã được 48 năm. Mọi người qua lại vẫn thường ngồi nghỉ dưới bóng mát của cây đa Bác Hồ.

Tết Kỷ Dậu 1969 – Cái Tết cuối cùng của Bác.

Hồi này sức khỏe của Bác đã yếu hơn trước. Bác sĩ dặn dò cần tránh để Bác đi lại nhiều. Gần Tết, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ:

– Chú Kỳ, Tết này các chú đã chuẩn bị cho Bác đi thăm những đâu?

Rồi Bác bỗng hỏi thêm:

– Chú có nhớ Bác phát động Tết trồng cây năm nay là năm thứ mấy rồi không?
– Thưa Bác, năm thứ mười ạ.

– Đúng! Nhân dịp kỷ niệm mười năm Tết trồng cây, chú bố trí cho Bác đi trồng cây ở một địa phương có thành tích.

Rồi Bác nói tiếp:

– Chắc chú còn nhớ cách đây năm, sáu năm, khi đi thăm xã trồng cây khá nhất, chúng mình có ghé nghỉ ở gần Trung Hà. Nhìn phía đồi trọc trước mắt. Bác có dặn đồng chí bí thư và chủ tịch Hà Tây là cần động viên các cụ trồng cây. Bây giờ, nơi đó thành một đồi cây đẹp rồi! Cho nên Tết này ta phải đến thăm và chúc Tết đồng bào.

Nơi đó chính là xã Vật Lại, huyện Ba Vì.

Đồng chí Vũ Kỳ kể:

– Nhắc đến đó, tôi đã thấy lo lo vì đường sá hơi xa. Không ngờ Bác lại nói thêm, muốn vào thăm trại chăn nuôi của chú Hồ Giáo, thăm các cháu miền Nam, trường Nguyễn Văn Trỗi và một hợp tác xã nông nghiệp giỏi nữa. Sau đó, chúng tôi phải sang nhờ Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói hộ với Bác, và thế là Tết năm ấy Bác đã đi thăm bộ đội phòng không, không quân, rồi trưa về thăm xã Vật Lại.

Đến Vật Lại, chào hỏi bà con xong, Bác lên ngay trên đồi trồng một cây đa. Trước khi trồng, Bác hỏi đồng chí bí thư đảng ủy:

– Cây đa này có rễ không chú?

– Thưa Bác có rễ chứ ạ!

Chúng tôi chưa hiểu vì sao Bác lại hỏi thế, thì Bác đã giải thích luôn, có lần Bác cũng đi trồng cây thế này, nhưng các đồng chí ấy không chuẩn bị trước, nên chặt luôn một cành cây to cắm xuống, rồi mời Bác xúc đất trồng cây.

Nghe xong, Bác cháu đều cười vui vẻ!

Ngày nay cây đa cuối cùng Bác trồng ở Vật Lại đã hơn bốn mươi năm, cũng là hơn bốn mươi năm Bác đã đi xa! Cây Đa Vật Lại giờ đã to lớn, rễ phụ chằng chịt với hàng chục cành lớn, vươn cao tỏa bóng xanh tốt quanh năm. Mùa xuân này, khách du lịch từ bốn phương về thăm vùng đất cổ Ba Vì, ai cũng muốn dừng chân tại Đồi cây Bác Hồ, để tận hưởng bóng mát của Người.

Ngồi dưới bóng cây đa lớn Bác trồng, lại nhớ đến những câu thơ của Bác đã viết về Tết trồng cây:

“Muốn làm nhà cửa tốt

Phải ra sức trồng cây

Chúng ta chuẩn bị từ rày

Dăm năm sau, sẽ bắt tay dựng nhà”

Hình ảnh Bác Hồ – Người trồng cây vĩ đại đã là đề tài cho biết bao nhà thơ viết về Bác. Và trên đất nước ta đã có biết bao những cây đa xanh và những loài cây khác tỏa bóng theo lời kêu gọi trồng cây của Người. Thiên nhiên là người mẹ, là cái nôi xanh của sự sống và con người khôn ngoan phải biết gìn giữ thiên nhiên, biết sống hòa hợp với thiên nhiên. Những năm gần đây, lũ ống, lũ quét, lở đất… cùng nhiều nguy cơ tiềm ẩn của thiên tai, đều có nguyên nhân do nạn phá rừng nghiêm trọng của chính chúng ta. Tình yêu thiên nhiên là một trong những tình cảm lớn của con người và yêu nước là phải yêu chính những cánh rừng xanh của Tổ quốc!
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người đã để lại cho chúng ta bao thế hệ người, bao thế hệ cây, như nhiều nhà thơ đã viết:

“Trong công cuộc gieo trồng vĩ đại
Bác để lại cho chúng ta
Bao thế hệ người, bao thế hệ cây
Cho mùa Xuân tô điểm nước non này!”

“Bác để lại đây Di Chúc màu xanh
Mà rễ đã ăn sâu vào lòng đất
Bao thế hệ đi qua trong vòm bóng mát
Cho lẽ sống của Người thấm mãi trong ta”

“Tết trồng cây đem lại những Mùa Xuân
Tầng đá ong cũng thấy mình trẻ lại
Thấy cây mọc lại nhớ lời Bác dạy
Thấy màu xanh lại nhớ Bác khôn nguôi!”

Bùi Hải Bình
baotintuc.vn