Archive | 2012

Lời than vãn của Bà Trưng Trắc (24-6-1922)

Quốc vương nước Nam sắp làm “khách của nước Pháp”. Gọi là có lời chào mừng tí ti, chúng tôi kính dâng ngài giấc mộng này của đồng chí Nguyễn ái Quốc của chúng tôi, người bầy tôi trung thành của ngài.

Đêm tối quằn quại dưới làn mưa nhỏ hạt dầm dề. Mảnh trăng vàng vọt cố bíu trên những mái lều tranh. Cây đẫm ướt đầm đìa nước mắt tuôn rơi. Gió thổi qua những cụm lá mệt mỏi va nhau thành tiếng kinh rợn. Cành cây vặn vẹo như những cánh tay ma quái, và những đám nước bị từng cơn gió đột ngột quất, cứ nức nở. Cảnh vật nước Nam, lồng trong cây cỏ um tùm, vốn tươi vui và thơ mộng thế dưới ánh trăng, nay buồn thảm lạ lùng. Cơn hấp hối đang chơi vơi khắp. Tai ương lảng vảng đâu đây.

ánh sáng lừ đừ của những cây nến thơm chấp chới đầu ngọn bấc cong queo, hắt lên những cây cột sơn mài nhẵn bóng trong cung điện những bóng đen lung lay và những con mắt hấp háy. Bọn quan hoạn lim dim uể oải trên chiếc chiếu trải dưới đất ở một góc nhà. Như cảm thấy được có im lặng đang bò lê.

Trống canh vừa điểm ba tiếng. Tùng, tùng, tùng! Các anh là người phương Tây, các anh chẳng hiểu thế là thế nào cả, hử? Tùng, tùng, tùng! Nhân nó lên năm thế là ba giờ của các anh đấy. Đây là thời khắc ban đêm lúc lương tri cất cao tiếng. Lúc các đống mả khạc ra những kẻ nằm bên trong, họ lìa khỏi những tấm liệm he hé mở, để ra ngoài đi dò đi dẫm, cất lên tiếng rú hoan lạc. Lúc đầu óc con người đầy rẫy những bóng hình, mộng mị. Tùng, tùng, tùng! Nhân nó lên ba, thì ấy là con số chín, con số tận cùng trong những con số chẳng thể chia cũng chẳng thể nhân, mà theo vua Phục Hi thì nó biểu hiện sự suy đốn của một sinh linh được coi như cùng tột (dương cửu) (1) .

Đó chính là lúc Thiên tử nằm mơ. Ngài mơ thấy những con rồng chạm trên tủ, bàn bỗng biến động, hoá thành những con rắn gớm ghiếc, mở thao láo những con mắt đỏ ngầu tia máu. Còn những con phụng hoàng (2) , giống chim tượng trưng cho uy quyền vua chúa, thì vươn chiếc cổ dài ngoẵng tua tủa lông, quệt mỏ xoè cánh, y hệt đám gà trống cáu kỉnh, đáng ghét. Mọi vật bằng ngọc thạch, bằng châu báu, đều xỉn đi, xám xịt lại. Tất cả cứ từ từ quay tròn, và tan dần, tan dần. Rồi một bóng ma trùm khăn, trăng trắng hiện lên. Nhà vua kinh hoàng run lên lập cập, vì không phải vua chúa nào cũng đều can đảm như Hămlét (3) , và thông minh như thế thì lại càng không. Ngài muốn kéo chiếu che mặt mà không được.

Đường bệ và giận dữ, bóng ma nói với vị chủ hoàng cung thế này:

– Mi có nhận ra ta không, đứa con khốn khổ kia ơi! Ta là một trong những người khai sáng nước Nam tươi đẹp này đây. Ta là Trưng Trắc, năm 39 (1) đã cùng em gái ta là Trưng Nhị và đồng bào đánh đuổi bọn xâm lăng, trả thù chồng, giải thoát quê hương. Đừng có run lên như thế, con ơi! Mà phải lắng nghe lấy lời mẹ bảo! Chẳng hay mi có biết rằng, theo tập tục nghìn năm của nước Nam ta xưa cũ thì Hoàng đế là chịu mệnh trời để trị dân, vì thế mà được coi là con của trời, cha mẹ của dân?

“Vua muốn xứng với lòng trời và làm tròn nhiệm vụ chí tôn của mình thì phải chịu khổ trước dân và chia sướng sau dân. Vua phải tuân lệnh trời, mà tiếng dân chính là truyền lại ý trời. Bằng không thì ấy là trời đoạn tuyệt, tổ tiên từ bỏ, nhân dân ruồng rẫy.

“Giở sử đất nước ra mà xem, mi sẽ thấy tổ tiên đã treo bao tấm gương đạo đức và dũng cảm, chí khí và tự tôn. Lý Bôn (544) (2), với một nhúm nghĩa sĩ, đã nổi dậy và bẻ gãy ách đô hộ của Hán tộc. Ngô Quyền (938) đã phá tan đạo quân nước ngoài kéo vào đánh chiếm đất đai Tổ quốc ta.

“Dân ta sống trong hạnh phúc và thịnh vượng dưới triều nhà Đinh. Năm 980 (3) , Lê Đại Hành đã dũng cảm không chịu khuất phục trước yêu sách của láng giềng hùng mạnh hơn mình gấp bội, ông đã đánh thắng địch, giết chết tướng địch. Do đó đã giải thoát được đồng bào khỏi nạn nô dịch.

“Quân Mông Cổ đi đến đâu phá sạch đấy, đã bị nhà Trần vẻ vang của chúng ta đánh bại (1225) (4) . Lê Lợi đã hùng dũng đứng ra lãnh đạo cuộc cách mạng nước Nam, đập tan chế độ tàn bạo và hạch sách mà những kẻ tự xưng là bảo hộ ta bắt ta chịu.

…..

“Thật là nhục nhã thậm tệ, thật là chán ngán ghê gớm, thật là cay đắng ê chề xiết bao cho các vị, nếu từ những tầng mây, tổ tiên mi phải trông thấy dân tộc mà các vị đã giành được tự do nay chịu phận nô lệ, đất nước đã được các vị giải thoát nay lâm vào cảnh nô dịch, kẻ kế tục ngai vàng của các vị nay sống trong ươn hèn.

“Mặc dầu lễ nghi không cho phép các vị nguyên thủ nước ta rời khỏi cung cấm, thế nhưng chúng ta vẫn phải đau buồn nhận thấy rằng vẫn có những bậc quân trưởng phải lưu vong.

“Năm 1407 (1) , Tầu (phong kiến) đánh nhau với ta; nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, nước Nam đã thắng. Chinh chiến lúc đó thế là lại bắt đầu. Giặc biết rằng không khuất phục được ta bằng uy lực, đã dùng chiến tranh hao mòn. Trần Đế Quỹ đã lãnh đạo dân Nam đoạt được thắng lợi, sau thấy dân cùng kiệt, đói khát, máu đổ xương rơi. Ông biết rằng giặc chỉ muốn hại mình ông, và chúng bắt được ông rồi thì dân Nam sẽ được yên ổn. Vì vậy ông ra nộp mình; ông nộp mình để dân ông đỡ hao tổn sinh linh, xương máu. Bị cầm tù giải đi, ông nhảy xuống sông tự tử. Ông thà chết vinh chứ không sống nhục. Ngày nay, mỗi buổi mặt trời mọc lên lặn xuống, muôn nghìn ánh hào quang vàng óng quây trên dòng sông trong nước bạc long lanh, tạo nên đài kỷ niệm vĩnh cửu cho linh hồn bất diệt của con người chiến bại vĩ đại đó…

“Tiếp đó là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân – người ở ngôi ngay trước mi. Chính những kẻ xưng xưng là tôn trọng phong tục, luật lệ nước ta đã đày ải ba vị và mai đây sẽ dùng mi làm món đồ rao hàng thuộc địa, cổ động đế quốc. Có thấy không, con! Chẳng thể bao giờ trong niên giám nước mi lại có một vua Nam nào chịu làm tôi tớ đến như mi, lại có một cuộc ngự giá tuần du nào thảm hại đến mức này. Trước đây, mi đã từng phạm tội báng bổ là bệ lên bàn thờ linh thiêng của ông vải hình ảnh ghê tởm của thằng da trắng ngái ngủ và bụng phệ nọ, nó sặc lên mùi tỏi, ớn mùi thây ma. Tại sao, ừ, tại sao mi lại làm thế? Nay mi lại sắp lẩn xa tôn miếu. Tay mi sẽ không thắp hương vào những tiết đầu xuân, đầu thu nữa. Mi sẽ không tự tay mở hương án dâng hoa quả đầu mùa và cúng cơm mới nữa. Vẫn hay, con ạ! rằng tất cả những cái ấy chẳng qua đều là nghi lễ cổ hủ ! nhưng mi cũng thừa biết rằng chỉ còn độc nghĩa vụ đó là mi còn làm được với tổ tiên và mi cũng chỉ còn độc cái uy tín đó mà thôi trước mắt thần dân.

“Giờ thì mi lại sắp làm tệ hại hơn nữa. Mi sắp ca ngợi công đức của những đứa bóc lột và hiếp đáp dân mi. Mi sắp phô trương sự thịnh vượng của đất nước mi, cái thịnh vượng được sắp đặt đâu ra đấy trong trí tưởng tượng quá giàu của bọn bóc lột. Mi sắp tâng bốc công ơn vô ngần và tưởng tượng của nền văn minh đã thâm nhập sơn hà xã tắc của mi bằng mũi nhọn của lưỡi lê và bằng họng súng ca-nông.

“Ôi, nhìn, hãy nhìn nào, đứa con thảm thương kia ơi! Hãy nhìn quanh mi! Thấy chăng Trung Hoa đang thức tỉnh, Nhật Bản đang duy tân…? Thấy chăng toàn cầu đang tiến, chỉ có dân mi là, nhờ mi và lũ quan thượng của mi, cứ phải chìm ngập mãi trong vũng lầy dốt nát và tôi đòi khốn nạn?

“Hãy nhìn Triều Tiên, Ai Cập và ấn Độ, tất cả các nước đó đều đang đứng lên đòi hỏi quyền lợi, công lý và tự do!

“Chính giữa lúc đó thì mi… Im… Nghe kìa! Nghe thấy chăng… Nghe thấy chăng những tiếng kêu gào…? A! Người ta đến kia kìa, đông quá, tất cả những người dân nước Nam đã bị thiệt mạng cho cuộc chiến tranh ở châu Âu. Người ta đến đòi những gì mà bọn quan thầy mi đã cùng mi hứa hẹn với người ta, anh em người ta. Trả lời người ta đi nào! A! Người ta giận dữ, người ta bỏ đi.

“Bây giờ thì người ta quay lưng đi rồi, người ta đang đi đến phía đằng kia. Có thấy người ta không? Đằng kia ấy, nơi mặt trời đang mọc huy hoàng khôn xiết, nơi tung bay kiêu hãnh lá cờ Nhân đạo và Lao động. Đấy! Chính đấy là nơi yên nghỉ tâm linh những người đã khuất, là tương lai của dân tộc mà mi đã phụng sự chẳng ra gì!

“Gà sắp gáy sáng. Sao Bắc đẩu tiến ngang trời. Nhạc tiên đang giục giã ta. Thôi, chào!”.

Mồ hôi nhớp nháp đẫm trán vị chúa thượng đang ngủ. Ngài muốn kêu lên. Nhưng không kêu được. Lưỡi ngài líu lại vì sợ.

Một quan hoạn bước vào, khom khom cái lưng ba lần, rồi the thé cái giọng đàn bà:

– Ngai dưới (1) ! Đã có lệnh lên đường của Tòa Khâm truyền sang rồi đấy ạ!

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 24-6-1922.

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, năm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 24-6-1922.
cpv.org.vn

————————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, năm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

Những kẻ đi khai hoá (1-7-1922)

Dưới đầu đề “Bọn kẻ cướp ở thuộc địa”, đồng chí Víchto Mêrích đã thuật lại cho chúng ta nghe sự độc ác không thể tưởng tượng được của một viên quan cai trị thuộc địa nọ đã đổ nhựa cao su vào bộ phận sinh dục của một người phụ nữ da đen khốn khổ. Sau đó, hắn bắt chị phải đội một tảng đá lớn đứng phơi nắng cho đến chết.

Tên công chức dâm bạo đó hiện đang tiếp tục những thành tích của hắn trong một tỉnh khác với chức vị cũ.

Khốn thay, những việc bỉ ổi như vậy lại không hiếm gì ở cái nơi mà báo chí của các nhà cầm quyền thường gọi là “nước Pháp hải ngoại”.

Hồi tháng 3 nǎm 1922, một nhân viên nhà đoan Bà Rịa (Nam Kỳ) đã đánh gần chết một phụ nữ An Nam làm nghề gánh muối, lấy cớ rằng người này đã làm mất giấc ngủ trưa của hắn, vì làm ồn ào ngoài hiên nhà hắn ở.

Hay ho nữa là người đàn bà này còn bị doạ đuổi khỏi nơi làm việc nếu bà thưa kiện gì.

Hồi tháng 4, một nhân viên nhà đoan khác đến thay cũng thật xứng đáng với tên trước về những hành động tàn ác của hắn.

Một bà cụ người An Nam, cũng làm nghề gánh muối, vì bị khấu lương nên cãi nhau với mụ cai. Mụ cai đến thưa với viên đoan. Viên này chẳng xét xử gì cả, tát bà cụ thợ muối hai cái thật mạnh và khi bà cụ già đáng thương cúi xuống nhặt nón, thì nhà khai hoá ấy, chưa vừa lòng với trận đòn mà hắn vừa trừng phạt bà cụ, liền đá một cái rất mạnh vào bụng bà cụ khiến cho máu ộc ngay ra lênh láng.

Khi bà cụ người An Nam đáng thương bị ngã quay xuống đất, đáng lẽ phải cấp cứu cho bà, thì người cộng tác viên của ông Xarô ấy lại cho gọi lý trưởng đến và ra lệnh cho lý trưởng đem người bị thương đi nơi khác. Lý trưởng từ chối không làm. Viên đoan liền cho gọi chồng người bị nạn đến, – ông này bị mù, – ra lệnh bắt ông phải đem vợ đi. Hiện nay, bà cụ già khốn khổ đó đang nằm nhà thương.

Bạn có muốn đánh cuộc rằng hai ông đoan của chúng ta ở Nam Kỳ, cũng như bạn đồng nghiệp của họ là vị quan cai trị nọ ở châu Phi, có bị làm rầy rà gì không ? Họ hẳn đã được thǎng chức nữa kia đấy.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 4, ngày 1-7-1922.
cpv.org.vn

Thù ghét chủng tộc (1-7-1922)

Vì nói đến đấu tranh giai cấp và quyền bình đẳng giữa con người mà đồng chí Ludông của chúng ta đã bị kết án là đã tuyên truyền thù ghét chủng tộc. Vậy ta hãy xem tình yêu thương giữa các chủng tộc đã được quan niệm và thực hiện ở Đông Dương như thế nào trong thời gian gần đây.

Hôm nay, chúng ta sẽ không nói đến tội ác của chính quyền thực dân là dùng rượu và thuốc phiện để đầu độc quần chúng và làm cho họ ngu muội đi. Việc ấy các đồng chí chúng ta trong đảng đoàn nghị sĩ tất sẽ có ngày bàn đến.

Mọi người đều biết rõ những thành tích lớn lao của tên quan cai trị sát nhân Đáclơ. Tuy nhiên đâu có phải chỉ mình hắn mới có những thủ đoạn tàn ác đối với người bản xứ như thế.

Một gã Puốcxinhông nào đó, đã hùng hổ nhảy ra đánh một người An Nam chỉ vì người này dám tò mò và cả gan nhìn ngôi nhà của người Âu trong mấy giây đồng hồ. Hắn đánh anh và cuối cùng giết anh bằng một phát súng lục bắn vào đầu.

Một nhân viên sở hoả xa, đã dùng roi mây đánh một người lý trưởng Bắc Kỳ.

Ông Béc đấm vỡ sọ người lái xe cho ông ta.

Ông thầu khoán Brét, sau khi cho chó cắn một người An Nam đã trói tay người này lại, đá cho đến chết.

Ông Đépphi, chủ sở thuế đã giết chết người đầy tớ An Nam của ông ta bằng một cái đá hết sức mạnh vào mạng mỡ.

Ông Hǎngri, thợ máy ở Hải Phòng, nghe ngoài phố có tiếng ồn ào; cửa nhà ông vừa mở thì một người đàn bà An Nam chạy xộc vào, sau lưng có một người đàn ông đuổi theo. Hǎngri tưởng là một người bản xứ đang đuổi một Con gái (1) , liền vớ lấy khẩu súng sǎn nổ một phát. Người đàn ông ngã vật xuống chết ngay. Đó là một người Âu. Hỏi thì Hǎngri trả lời: “Tôi tưởng đây là một thằng bản xứ”.

Một người Pháp buộc ngựa của mình vào một cái chuồng trong đó đã có sẵn con ngựa cái của một người bản xứ. Con ngựa đực nhảy chồm lên, làm cho người Pháp tức điên ruột. Ông ta đánh người bản xứ hộc cả máu mồm, máu mũi, rồi đem trói lại treo lên cầu thang.

Một nhà truyền giáo (Vâng! một vị linh mục nhân từ) nghi một học sinh trường thầy dòng người bản xứ ǎn cắp của mình 1.000 đồng, ông ta trói người học sinh này lại, treo lên xà nhà, tra khảo. Người học sinh đáng thương ấy ngất đi. Họ hạ anh xuống. Khi anh hồi tỉnh, họ lại treo lên tra khảo. Anh đã gần chết. Có lẽ hôm nay thì chết rồi.

Vân vân và vân vân.

Toà án có trừng phạt những tên đó, những con người đi khai hoá đó hay không ?

Có tên thì trắng án, có tên thì không ai đụng đến lông chân. Sự tình là như vậy. ấy thế mà bây giờ thì:

– Bị cáo Ludông, đến lượt anh nói đi!

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 4, ngày 1-7-1922.
cpv.org.vn

——————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Con người biết mùi hun khói (20-7-1922)

Xin tặng Nahông (1) , người đã bị quân phiệt thực dân ám hại, bài ký này.

“Chính cuộc chinh phục hệ thống thuộc địa đã rèn luyện tài nǎng chiến đấu của số đông những nhà chỉ huy quân sự lớn của ta, những con người đã đưa ta đến chiến thắng, đã được dư luận Pháp ca ngợi vinh quang và chiến công ngay khi mang lá cờ nước ta đến dưới những bầu trời châu Phi hay châu Á”.

Anbe Xarô
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa

Haútxa (2) , tháng 1 nǎm 1998.

Thành phố Haútxa cờ xí tưng bừng. Tưởng đâu như một vị chúa xuân đã gõ cây đũa thần lên gỗ ván khô khốc ở các bao lơn và các cửa sổ, làm mọc ra muôn vàn tấm lá đỏ phấp phới yêu kiều trước gió. Đây là lễ kỷ niệm lần thứ nǎm mươi ngày thành lập Cộng hoà liên hiệp Phi. Chưa bao giờ dân chúng lại tham gia với mức độ ấy những hội hè loại này. Từ sáng sớm, các đường phố, các quảng trường y như một dòng sông người. Từng đoàn học sinh, giương cờ đi đầu, vừa diễu qua các phố vừa hát Quốc tế ca, được dân chúng vỗ tay hoan nghênh. Trên quảng trường Xôviết, một cụ già hô hào đám đông. Đó là cố Kimengô, mệnh danh là Con người biết mùi hun khói.

Cụ Kimengô, tuổi đã chín mươi, là một cựu chiến sĩ của quân đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hoà da đen. Được phú bẩm một trí thông minh đặc biệt sắc sảo, lại am hiểu tường tận mọi sự kiện chính trị và xã hội của thời đại, cụ Kimengô không những đã ra sức thức tỉnh anh em cùng màu da ra khỏi giấc ngủ mê say của con người nô lệ, mà còn cố gắng phá tan mọi thành kiến dân tộc và chủng tộc, tập hợp những người bị bóc lột thuộc các màu da trong cuộc đấu tranh chung. Cụ đã thành công. Kimengô là một trong số hiếm những người đã chịu gian khổ lớn để gieo hạt và được hưởng hạnh phúc lớn gặt vụ mùa thắng lợi. Mái tóc cụ bạc phơ như tuyết khuôn rực rỡ bộ mặt màu mun. Đôi mắt cụ hiền dịu và nhìn sâu thẳm. Miệng cụ luôn tươi cười, dù trước những nguy nan nghiêm trọng nhất hay trong những giờ phút đen tối nhất. Từ toàn bộ con người cụ toát ra nhân từ và cao quý. Cụ đáng tôn kính và được tôn kính.

Chúng tôi đến nơi thì cụ đã nói được nửa chừng, và đây là những lời mà chúng tôi nghe được:

“… Có những từ ngữ mà người già các bác trước kia thường nghe thường nói, thì nay không còn trong từ ngữ của các cháu nữa. Và như thế là tốt. Bây giờ các bác nói đến toà án, cảnh sát, quân đội, nhà tù, thuế khoá, thì các cháu chẳng mấy người hiểu những cái đó là cái gì.

“Thời bác thì nước Cộng hoà của chúng ta là thuộc địa Pháp. Trong nước, có người giàu và người nghèo. Người giàu là những kẻ hưởng tất cả, tuy gì cũng chẳng làm. Người nghèo là những kẻ gì

cũng làm, mà chẳng được hưởng gì cả. Người nghèo phải chịu chết chóc cho người giàu khi nào bọn này bất hoà với nhau: cái đó gọi là thuế máu. Người nghèo làm ra được cái gì đều phải nộp cho người giàu: cái đó gọi là thuế tiền.

“Vậy nhé, bọn tư bản da trắng lấy nước ta làm thuộc địa xong, nó bắt các bác phải nộp các thứ thuế, mặc dầu các bác nào có của nả gì đâu. Nộp thì không có gì để nộp; để khỏi bị hành hạ, các bác phải bỏ trốn vào rừng. Chúng nó đem chó và đem súng đuổi theo, các bác đành phải ẩn vào một cái hang, ngày nay gọi là hang Tuẫn nạn.

“Bọn bác hơn hai trǎm mạng, đàn ông có, đàn bà có, trẻ em có. Cứ tưởng rằng như thế là tạm yên thân, nên mặc dầu phải chịu ẩm, chịu tối, chịu đói, cực lắm, các bác có ý định cứ nán lại đó càng lâu càng hay, vì biết rằng bọn nó vẫn rình ở ngoài hang với súng ống. Hang tối như bưng ngày cũng như đêm, bác chẳng biết ở trong đó bao lâu.

“Chẳng trông thấy gì hết, chẳng nghe thấy gì hết, trừ tiếng chó sủa dữ dội, xa xǎm, nhắc nhở rằng tình thế vẫn hiểm nghèo.

“Một ngày nọ, nói đúng hơn là một đêm nọ, các bác ngửi thấy có cái mùi khét lẹt tràn vào chỗ náu trong lòng đất. Mùi khét nặng lên nhanh và trở thành không thể chịu nổi. Gì thế? Chẳng ai biết… Trẻ nhỏ thì khóc, đàn bà thì la, đàn ông thì chửi. Hoảng loạn! Chạy đi ư? Nhưng chạy đâu chứ? Khủng khiếp quá! Tiếng rǎng lập cập, tiếng thét xé tai, tiếng nấc, tiếng thân người đổ xuống, tiếng khóc điên rồ, làm cho cái xó tối ám khói đó hệt như là một địa ngục.

“Bấy giờ bác ở tận cuối hang. Bác theo bản nǎng nhắm mắt, ngậm miệng, áp mặt vào vách hang. Như thế cảm thấy dễ thở hơn và ngủ đi lúc nào không biết. Tỉnh dậy thì thấy có tia sáng chiếu chếch vào mặt, đấy là một kẽ hở qua đất, nhờ đó mà bác thở được và thoát chết. Bác nhằm đào một lối ra phía đó, nhưng chỉ mệt xác vô ích. Bác bèn quyết định thôi đành liều mạng cứ phía cửa hang mà ra. Quờ quạng và dẫm qua hai trǎm xác chết hun mới trở lại được với khoảng trời tự do.

“Bác ǎn cỏ, ǎn rễ cây, đi lang thang hết làng này sang làng nọ; cuối cùng thì được bố của đồng chí người da trắng này đây thu nhận về nuôi như con. Ông đã dạy dỗ bác theo những nguyên tắc của tình hữu ái và của chủ nghĩa cộng sản; ông cũng đã cho bác biết tên thằng da trắng vì muốn thu thuế mà đã hun các bác chết ngạt một cách man rợ như vậy.

“Thằng hun khói, tên nó là Bruye, là đại diện của nước Pháp và là công sứ ở Haútxa”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 20-7-1922.
cpv.org.vn

——————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

“Hỏng mắt, con tạc tượng Người”

Lê Duy Ứng sinh ra ở làng Cổ Hiền, xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Truyền thống quê hương sớm khơi dậy trong Lê Duy Ứng tinh thần hiếu học. Thừa hưởng tài năng của người cha, một “Anh Bộ đội Cụ Hồ” thời chống Pháp và tính chịu thương, chịu khó của bà mẹ hay lam hay làm, ngay từ khi học lớp 1, Ứng đã bộc lộ khả năng vẽ tranh. Bức tranh đầu tiên Ứng nhận giải thưởng, được treo trưng bày tại phòng tranh của huyện nhà có tên “Xấu nên tránh, tốt nên theo”.

hong mat a1
Họa sĩ Lê Duy Ứng trước chân dung Bác Hồ

Tốt nghiệp phổ thông, Ứng trở thành sinh viên Trường Mỹ thuật Hà Nội. Học chưa hết năm thứ 3, cũng như cả thế hệ thanh niên “Ba sẵn sàng” thời đó, nghe theo tiếng gọi non sông, Lê Duy Ứng tạm “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”. Sau một thời gian huấn luyện tại Nhã Nam (Yên Thế, Bắc Giang), Ứng trở thành lính trinh sát.

Năm 1972, Ứng có mặt tại chiến trường Quảng Trị nóng bỏng, được biên chế vào Ban Tuyên huấn Trung đoàn 101. Tại chiến trường ác liệt này, họa sĩ Lê Duy Ứng có được nhiều ký họa phản ánh cuộc sống chiến đấu của quân và dân Quảng Trị anh hùng. Năm 1973, theo chân các anh Giải phóng quân, tham gia đánh trận Cửa Việt thắng lợi, ông vẽ bức tranh “Chiến thắng Cửa Việt” tặng Đại tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh Sư đoàn 312, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Kể lại chuyện này người họa sĩ già, Đại tá Lê Duy Ứng đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm” bồi hồi: “Đó là giai đoạn hào hùng của dân tộc. Bắt đầu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chúng tôi tiến vào giải phóng Huế, Đà Nẵng để “tiến về giải phóng Thành Đô” như câu hát cửa miệng của chiến sĩ ta “Thần tốc! Thần tốc! Thần tốc” xốc tới. Thiếu tướng Lê Linh, Chính ủy Quân đoàn 2, gọi tôi lên, cho tôi xem bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và yêu cầu tôi vẽ tranh cổ động treo trên xe tiến vào thành phố mang tên Bác. Tôi đã vẽ bức tranh “Hành quân thần tốc, xốc tới lập công”. Và ngay lúc ấy, tôi nghĩ đến hình ảnh Bác nên vẽ bức “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” để cổ vũ tinh thần đồng đội”.

Sáng 28-4-1975, trong trận đánh căn cứ Nước Trong, cách cửa ngõ Sài Gòn 30 cây số, Lê Duy Ứng đang ngồi trên chiếc xe tăng 847 làm nhiệm vụ quay phim, chụp ảnh, vẽ ký họa, thì súng chống tăng của giặc bắn đứt xích xe bên phải. Chiếc tăng khựng lại, quay ngang đường hắt Lê Duy Ứng xuống vệ đường ngất lịm “khi tôi tỉnh dậy – ông Ứng kể – sờ thấy người đồng đội bên cạnh đã hy sinh, mắt tôi lòng thòng ra bên ngoài, khắp người đầy máu, đầu óc vẫn tỉnh táo. Tôi nghĩ chắc mình khó qua, tôi dồn sức lực còn lại, vẽ một cái gì thật có ý nghĩa trong giờ phút lịch sử này. Tôi nghĩ đến hình ảnh danh họa Diệp Minh Châu, thay mặt đồng bào miền Nam vẽ tranh bằng máu tặng Bác. Thế là tôi lấy máu đang ứa ra ở mắt của mình vẽ chân dung Bác với nền là lá cờ đỏ sao vàng tung bay phất phới. Tên bức tranh là “Ánh sáng – niềm tin”, với lời chú thích “Con nguyện dâng Người tuổi thanh xuân…”.  Đồng đội kịp đưa ông vào Viện Quân y Nha Trang điều trị một tháng trước khi chuyển ra chữa chạy tại Viện Mắt Trung ương, Hà Nội.

Họa sĩ Lê Duy Ứng trầm ngâm ngước đôi mắt “nhìn” tôi. Thực ra mắt ông đã mù trở lại sau một thời gian dài được Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Nhân mổ ghép giác mạc, trả cho họa sĩ đôi mắt sáng để ông thỏa chí vẽ tranh, nặn tượng. Ông tâm sự: “Những ngày đầu tiên khi biết mình bị hỏng mắt là những ngày buồn nhất trong cuộc đời tôi. Là họa sĩ, không nhìn thấy thì còn làm gì được nữa. Nhiều lúc tuyệt vọng tôi chỉ muốn chết. Vào lúc khó khăn nhất của cuộc đời, gia đình, đồng đội ở bên cạnh, động viên, an ủi, giúp tôi tiếp tục sống, chiến đấu, chiến thắng bệnh tật.

Thượng tá Đào Xuân Trà, Viện phó kiêm Trưởng khoa Mắt bảo tôi: “Tôi sang Liên Xô thấy có những người mù không nhìn thấy gì nhưng nặn tượng rất giỏi, Ứng thử nặn tượng xem”. Một lần nữa tôi thấy mình “sống lại”, không vẽ được thì tôi nặn tượng”. Bức tượng đầu tiên Lê Duy Ứng tạc là tượng Bác Hồ. Ông đặt tên cho bức tượng bằng hai câu thơ: “Hỏng mắt con tạc tượng Người/ Niềm tin ánh sáng trọn đời trong con”. Ông kể tiếp “Ngày đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xem tôi tạc tượng, vô cùng xúc động, Đại tướng động viên tôi: “Ứng tạc tượng Bác rất giống. Ứng có đôi bàn tay vàng đấy”. Từ đó họa sĩ Lê Duy Ứng tập trung làm nhiều tượng và gặt hái nhiều thành công với 41 cuộc triển lãm, khoảng 3.000 tranh, 500 tượng, 500 bức kí họa chiến trường, 8 giải thưởng trong và ngoài nước.

Ông nhâm nhi cùng tôi một tách trà Thái đặc sánh, chậm rãi nói những lời như đúc kết kinh nghiệm cho chính mình “Một người bình thường làm nghệ thuật đã thấy gian khổ thì với những người hỏng mắt như tôi gian khổ nhân lên gấp bội. Nhiều lần thất bại, nhiều khi tôi thấy chán nản, tuyệt vọng, thấy mình vô dụng. Những lúc ấy tôi lại nhớ đến lời dạy của Bác Hồ “Làm việc theo khả năng của mình. Thương binh tàn nhưng không phế”. Học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tá, họa sĩ, Lê Duy Ứng với nghị lực phi thường, vượt lên chính mình, sống có ích cho đời, luôn xứng đáng là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.

Lê Sĩ Tứ
Theo http://www.anninhthudo.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Tấm gương tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) chỉ rõ: “Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát”(1). Nghị quyết đã đưa ra nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên và yêu cầu: “Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương tiến hành kiểm điểm, đánh giá liên hệ bản thân về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao liên quan đến một số vấn đề cấp bách nêu trong Nghị quyết, đề ra biện pháp khắc phục. Tập trung làm rõ trách nhiệm cá nhân, gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức, lối sống; Các đồng chí ủy viên ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các ban của Trung ương Đảng, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy các cấp nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nêu gương bằng hành động thực tế”(2); “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc làm theo gương Bác một cách thiết thực, hiệu quả”(3).

Bài viết này muốn đề cập đến tấm gương tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh để chúng ta cùng suy nghĩ, học tập, thực hiện tự phê bình và phê bình đạt kết quả tốt.

Khi nói về ý nghĩa và tầm quan trọng của tự phê bình và phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí, cũng như người có bệnh, nếu giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mạng”(4). Vì vậy, Người yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh và Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng”(5).

Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta rất vĩ đại, nhưng đầy khó khăn, thử thách, mới mẻ, nên sai lầm và khuyết điểm là điều không thể tránh khỏi. Đối với Đảng cầm quyền cũng vậy, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống”(6), nên Đảng có những sai lầm, có nhiều nguyên nhân dẫn đến sai lầm. Theo Hồ Chí Minh đó là: “Vì chúng ta kém về trình độ lý luận và về mặt nắm tình hình thực tế. Vì trong Đảng ta chưa xây dựng hẳn hoi các chế độ công tác thích hợp. Vì dân chủ nội bộ chưa thật mở rộng. Vì phê bình và tự phê bình chưa được phát huy nhất là phê bình từ dưới lên”(7).

Nói sai lầm, khuyết điểm là không tránh khỏi. Vậy thái độ của một chính Đảng cách mạng trước sai lầm của mình nên như thế nào. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có những khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm cách sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(8).  Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ kêu gọi, nhắc nhở mọi người, mà bản thân Người luôn luôn gương mẫu làm trước, thể hiện một sự nhất quán giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức và nêu gương đạo đức. Hồ Chí Minh đã chân thành nhắc nhở đồng chí và các học trò của mình  không được ngần ngại trong việc góp ý cho mình. “Tôi làm điều xấu các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy lại lấy cớ “nể cụ” không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần mà không nói cho người ta sửa, tức là hại người”(9). Trên tinh thần đó, Người viết bài “Tự phê bình” đăng trên báo Cứu quốc số ra ngày 28-01-1946. Hồ Chí Minh đã nêu lên nhiều việc lớn chưa làm được như: Các nước chưa công nhận quyền độc lập của ta; kháng chiến ở Nam bộ chưa thắng lợi; tệ tham nhũng chưa quét sạch; chính trị chưa vào nề nếp… Từ đó, Người kết luận: “Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng, những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi”(10).

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ở một vài nơi thuộc Liên khu IV cũ, một số cán bộ địa phương đã làm sai đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ để lại những hậu quả nghiêm trọng, gây ra oan ức cho đồng bào. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giử thư cho đồng bào liên khu IV, trong đó Người tự nhận lỗi về mình: “Tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thực thà phê bình khuyết điểm của tôi – là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo” (11). Đây cũng là tấm gương sáng về tinh thần tự phê bình cho lãnh đạo các địa phương, các ngành, các cấp về trách nhiệm không thể thoái thác đối với những sai phạm của cán bộ dưới quyền mình.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (mở rộng) thảo luận về cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã  tự phê bình và phê bình rất nghiêm túc là: “Đã quan liêu, không sát quần chúng, không sát thực tế, chỉ xem báo cáo, tin vào người báo cáo”. Về phương hướng sửa chữa, Người yêu cầu “Từ Trung ương đến chi bộ xã đều phải làm đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách; đều phải chống các tệ sùng bái cá nhân và quan liêu, mệnh lệnh; đều phải thật thà tự phê bình và phê bình thẳng thắn; đều phải thực sự dân chủ”(12). Sau này Hồ Chủ tịch đã thay mặt Đảng, Chính phủ tự phê bình và nhận lỗi trước Quốc hội và đồng bào. Đó thực sự là tấm gương sáng về tự phê bình và phê bình để cán bộ, đảng viên noi theo. Theo Người: “Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm và e sợ quần chúng phê bình”(13). Đối với đa số người dân, niềm tin vào Đảng lãnh đạo, vào chế độ thường được xây dựng trên niềm tin vào đạo đức của những người cầm quyền, những cán bộ có chức, có quyền như Bác Hồ đã nói: “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được, mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”(14).

Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện… Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm.

Thang thuốc đặc trị cho căn bệnh suy thoái đạo đức, lối sống lúc này chính là phải thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc làm theo gương Bác một cách thiết thực, hiệu quả, kiên quyết thực hiện theo Di chúc của Người: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng”(15).

Võ Thanh Bình
Trường Chính trị tỉnh Kon Tum
xaydungdang.org.vn

……………………………………

(1); (2); (3): NQHNTW4 Khóa XI của Đảng. (4); (5); (6); (8); (9) HCMTT – NXBCTQG H. 1995 (Tập 5. Tr 233, 239, 262, 261, 224).(7); (12) HCMTT – NXBCTQG H. 1996 (Tập 8. Tr 157; 255). (10) HCMTT – NXBCTQG H. 1995 (Tập 4. Tr 166). (11) HCMTT – NXBCTQG H. 1995 (Tập 6. Tr 65). (13) HCMTT – NXBCTQG H. 1996 (Tập 10. Tr 578). (14) HCMTT – NXBCTQG H. 1996 (Tập 7. Tr 59). (15) HCMTT – NXBCTQG H. 1996 (Tập 12. Tr 511).

Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Mỗi bước phát triển và sự trưởng thành lớn mạnh của Đảng, những thành quả cách mạng giành được đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cũng như tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, dù ở những tình thế khó khăn, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, Đảng vẫn vững vàng đưa cách mạng nước ta vượt qua những cam go, những khúc quanh của lịch sử tiếp tục tiến lên. Đặc biệt trong bối cảnh thoái trào của CNXH, Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ và hiện nay, với những cơn lốc xoáy suy thoái về tài chính, kinh tế toàn cầu nhưng nước ta vẫn vững vàng, giữ vững được ổn định chính trị, đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội, đời sống các mặt của nhân dân ta được cải thiện đáng kể; vị thế nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, thì trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng vẫn còn những hạn chế, bất cập, có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng. Nhất là khi thực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã để mặt trái của cơ chế thị trường thường xuyên tác động vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Tình trạng trên, chẳng những chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, tính chất sai phạm biểu hiện ngày càng nghiêm trọng hơn, với quy mô rộng hơn, không chỉ có đảng viên thường, còn có cả những đảng viên là cán bộ cao cấp giữ vị trí quan trọng trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các cấp, nếu không kịp thời ngăn chặn sẽ đe dọa đến sự ổn định và phát triển của đất nước, sự tồn vong của chế độ và vai trò lãnh đạo của Đảng. Bởi vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Trong đó, đánh giá về những hạn chế, yếu kém của đội ngũ cán bộ, đảng viên, Trung ương nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện vô nguyên tắc…”(1).

Với tinh thần của Đảng cách mạng, Trung ương đã nhìn thẳng vào sự thật, đề ra chủ trương, giải pháp để khắc phục những yếu kém, khuyết điểm, nhằm xây dựng Đảng ta thật sự là đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, Trung ương đã xác định lấy “Tự phê bình và phê bình (TPB và PB), nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu của cấp trên” là nhóm giải pháp đầu tiên. Vì thế, hơn lúc nào hết, cần thấm nhuần và vận dụng sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh về TPB và PB. Bác từng chỉ rõ: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống… Đảng là người nên cũng có lúc sai lầm… Vì vậy, Đảng cách mạng cần TPB và PB như ta cần không khí”(2).

TPB và PB phải nhằm tu dưỡng phẩm chất cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bởi trong hoạt động thực tiễn đa dạng và phong phú của thời kỳ quá độ, trong xã hội còn đan xen nhiều hình thái ý thức xã hội, nên phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên cũng bị tác động nhiều chiều, nhiều mặt của đời sống xã hội, cái cũ và cái mới cũng đan xen nhau. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Sinh trưởng trong xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều, hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen… vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân”(3). Người đã phân tích khá sâu sắc về tác hại của chủ nghĩa cá nhân là lấy của công vun vén cho lợi ích cá nhân, việc gì cũng lo cho lợi riêng mình, không lo cho lợi ích chung của tập thể. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa… coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền… cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm. Từ đó, Người khẳng định phải đấu tranh, phải TPB và PB để chống chủ nghĩa cá nhân. Muốn chống chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả cao thì phải bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng thì mới đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân.

Đạo đức cách mạng không phải là bẩm sinh, vốn có mà cán bộ, đảng viên phải rèn luyện, tu dưỡng một cách kiên trì, bền bỉ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện, củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(4). Theo Người, cán bộ, đảng viên là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ tuyên truyền, giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để từ đó đề ra chính sách cho đúng với nguyện vọng của nhân dân và yêu cầu của thực tiễn. Vì thế cán bộ, đảng viên mà không có đạo đức tốt thì ảnh hưởng rất lớn đến quần chúng, đến uy tín của Đảng. “Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không”(5). Vì thế từng cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ giữ vị trí chủ chốt phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, TPB và PB, nói phải đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức và lối sống.

Chất lượng và hiệu quả của TPB và PB phải thể hiện ở hiệu suất công việc của mỗi cán bộ, đảng viên được nâng lên. Người cán bộ, đảng viên nếu chỉ có đạo đức tốt thì chưa đủ, còn phải có trình độ, năng lực để làm việc và tổ chức quần chúng hành động; thực hiện nói đi đôi với làm. Bác Hồ coi nói đi đôi với làm là nguyên tắc và chính cả cuộc đời cách mạng của mình, Người đã thường xuyên thực hành theo nguyên tắc đó. Đồng thời, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thực hiện nguyên tắc đó một cách nghiêm chỉnh, không được nói suông, hứa suông. Nguyên tắc đó cũng đòi hỏi cán bộ, đảng viên: Việc gì có lợi cho dân, cho nước phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân cho nước thì hết sức tránh. Cán bộ, đảng viên phải là những tấm gương kiểu mẫu về đạo đức và công việc như Bác Hồ từng chỉ rõ: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền”(7). Vì thế, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên nói thì phải làm, phải thực sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Với Đảng ta, TPB và PB đã được coi là quy luật phát triển của Đảng, nhất là trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới và trước thực trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống như hiện nay thì Đảng ta lại càng coi trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả của TPB và PB. Từ đó, khắc phục những khuyết điểm, sai lầm, chống chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện đạo đức cách mạng và lối sông trong sáng, lành mạnh, giữ gìn nhân cách của người cán bộ cách mạng và tư cách đảng viên cộng sản. Trong TPB và PB, cấp trên, trước hết là những cán bộ chủ chốt phải làm gương cho cấp dưới noi theo. Phải dám nhìn thẳng vào sự thật, dũng cảm TPB và PB, xem đó là cách tốt nhất để sửa mình, phát triển ưu điểm, sửa chữa những lỗi lầm, khuyết điểm để tiến bộ hơn. Từ đó, kịp thời biểu dương những cán bộ, đảng viên có phẩm chất cách mạng, đạo đức và lối sống trong sáng, tận tụy với sự nghiệp của Đảng, của dân. Đồng thời phải xử lý nghiêm và kịp thời thay thế những cán bộ, đảng viên phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống suy thoái, năng lực kém, không hoàn thành nhiệm vụ, tín nhiệm thấp, nặng chủ nghĩa cá nhân, sa vào quan liêu, tham nhũng… Có như vậy, mới giữ vững và phát huy truyền thống của một Đảng cách mạng chân chính, đã từng tôi luyện nên đội ngũ đảng viên có nhân cách toàn diện, không chỉ có lý tưởng cách mạng cao đẹp, mà còn biết hành động sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, nguyện đi theo Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Chất lượng TPB và PB chỉ được thực hiện khi tổ chức đảng (TCĐ) trong sạch, vững mạnh, phát huy tốt vai trò lãnh đạo của mình. Bởi tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, nơi trực tiếp rèn luyện, giáo dục và quản lý cán bộ, đảng viên. Đồng thời cũng là nơi tạo ra thiết chế phù hợp bảo đảm phát huy dân chủ thực sự, khích lệ tinh thần TPB và PB trong cán bộ, đảng viên. Không những thế, TCĐ còn có vai trò thông qua công tác quản lý và kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện những khuyết điểm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên để kịp thời phê bình, giáo dục, giúp cách khắc phục.

Thực tế hiện nay còn không ít TCCSĐ chưa thực sự vững mạnh, thậm chí yếu kém, dẫn đến chưa phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở; tính giáo dục và chiến đấu trong sinh hoạt đảng cũng như thực hiện nguyên tắc TPB và PB có nhiều hạn chế. Đúng như Hội nghị Trung ương 4, khóa XI nhận định: “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít TCĐ còn thấp; công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nề nếp, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, TPB và PB yếu”.(8)

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Chi bộ tốt thì mọi việc đều tốt”(9). Xây dựng được chi bộ tốt hay nói như hiện nay là xây dựng được TCCSĐ trong sạch, vững mạnh, sẽ tạo được sự đồng thuận và môi trường dân chủ thật sự trong Đảng để giải quyết tôt mọi công việc. Theo đó, TCĐ đủ sức để phát huy vai trò hạt nhân chính trị của mình; đủ sức quản lý, giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng và năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Có thể nói, chấn chỉnh tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên chính là nhân tố quan trọng bảo đảm nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, nâng cao chất lượng và hiệu quả TPB và PB theo Tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh thần Nghị quyết Trung ương 4.

Ths. Đinh Phú Cường
Học viện Chính trị
xaydungdang.org.vn

————————–

(1,6) Văn kiện Hội nghị Trung ương 4, khóa XI, NXBCTQG tr.24,29,32. (2) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXBCTQG H.1995, tr.165; (3) Sđd, tập 9, tr.283, (4) Sđd, tập 5, tr.252-253; (5) Sđd, tập 7, tr.480; (7) Sđd, tập 3, tr.263; (8) Văn kiện Đại hội Đảng khóa XI, NXBCTQG-ST, H.2011, tr.174; (9) Sđd, tập 10, tr.532.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương

Gương mẫu là một mệnh lệnh không lời. Sức mạnh của nêu gương đạo đức vô cùng to lớn. Thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu gương về đạo đức, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là một tấm gương đạo đức mẫu mực cho mọi người học tập và noi theo. Tấm gương đạo đức của Người đã đạt tới sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức và nêu gương đạo đức, đạt tới sự nhất quán giữa công việc và đời tư, giữa đạo đức vĩ nhân và đạo đức đời thường. Người nhận thức rằng: Đối với các dân tộc phương Đông thì “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(1). Do vậy, khi địa vị càng cao, uy tín càng lớn, Hồ Chí Minh càng ra sức tự hoàn thiện để trở thành tấm gương đạo đức trọn vẹn.

Sinh thời, khi nước nhà vừa giành được độc lập năm 1945, đứng trước nạn đói đang đến gần, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân diệt “giặc đói” bằng một hành động cụ thể, mười ngày nhịn ăn một bữa để lấy số gạo đó cứu những người bị đói và chính Người đã làm gương thực hiện trước. Hồ Chí Minh đã tiếp thu truyền thống “thương người như thể thương” của dân tộc, nâng lên thành triết lý hành động cách mạng vì dân, vì nước trong mỗi con người.

Theo Hồ Chí Minh, nêu gương thì trước hết phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Trong đó chủ yếu trên ba mối quan hệ đối với mình, đối với người, đối với việc. Đối với mình phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt hàng ngày; đối với người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng; đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” (để việc công lên trên, lên trước việc tư), đã phụ trách việc gì thì phải tận tâm, tận lực làm cho kỳ được, không sợ khó khăn, gian khổ, việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh.

Để giáo dục bằng nêu gương đạt kết quả cao, Người chủ trương: “Lấy gương người tốt việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”(2). Trong gia đình, cha mẹ có thể là tấm gương cho các con, anh chị là tấm gương đối với các em; trong nhà trường, thầy, cô giáo là tấm gương cho học trò; trong cơ quan, tổ chức thì cán bộ lãnh đạo là tấm gương cho cấp dưới, người này có thể nêu gương cho người khác. Trong cuộc sống hàng ngày, người cán bộ, đảng viên chẳng những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng mà còn phải là tấm gương giúp nhân dân nhìn vào đó làm những điều đúng, điều thiện, chống lại thói hư, tật xấu.

Xây phải đi đôi với chống. Hồ Chí Minh đã sớm khởi xướng và kiên trì cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong mọi thời điểm cách mạng. Người chỉ rõ: “Muốn xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”(3). Vì chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh chính, đẻ ra trăm thứ bệnh và nhiều thói hư tật xấu trong cán bộ, đảng viên. Nguy hiểm hơn, “những người mắc bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà “tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình”. Người đã tiên lượng, thấy trước tính nguy hiểm, độc hại của chủ nghĩa cá nhân khi nước ta hòa bình, thống nhất: “Việc đấu tranh với kẻ địch ở tiền tuyến còn dễ, nhưng việc đấu tranh với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần là một khó khăn, đau xót”(4). Những dự cảm, tiên lượng đó của Người đã được thực tiễn chứng minh, làm rõ.

Không lâu trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(5). Bởi vì “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(6).

Đảng ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh”. Nghị quyết thẳng thắn chỉ ra rằng: Hiện nay, “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”(7).

Thực hiện Nghị quyết, Đảng nêu 4 nhóm giải pháp, trong đó chú trọng nhất, tiên quyết là “nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên”. Như vậy, để tiếp tục thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, các quy định về xây dựng Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Đảng ta một lần nữa yêu cầu phải “phát huy vai trò tiên phong gương mẫu trong công tác, học tập, lối sống” của mỗi đảng viên ở nơi công tác, trong tổ chức đảng và ở nơi cư trú.

Bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, nước ta đang đối mặt với nhiều thách thức. Thách thức lớn nhất vẫn là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Mất lòng tin của dân là mất tất cả. Bởi vì, một khi quần chúng nhân dân đã mất niềm tin vào đạo đức của người cầm quyền, người lãnh đạo thì niềm tin chính trị của họ cũng không còn. Người lãnh đạo có được dân “tâm phục khẩu phục” hay không là ở chỗ đó. Sau khi Lênin qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết những dòng xúc động về tấm gương đạo đức vĩ đại của V.I.Lênin: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người không gì ngăn cản nổi”(8). Đến lượt mình, Hồ Chí Minh đã để lại một tấm gương đạo đức cao đẹp trong sáng, trở thành một trong những người có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với nhân dân các nước trên thế giới trong thế kỷ XX. Gương mẫu là một mệnh lệnh không lời. Sức mạnh của nêu gương đạo đức vô cùng to lớn.

Thực hiện Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu gương về đạo đức. Nêu gương sẽ có “hiệu ứng lan tỏa, lôi kéo quần chúng noi theo “đảng viên đi trước, làng nước đi sau”, tạo thành sức mạnh tổng hợp thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “ Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Hoàng Ngọc Đạo
Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa
Số 1 Trần Hưng Đạo, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
xaydungdang.org.vn

——————-

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 1, tr.263. (2). Sách đã dẫn, tập 12, tr.558. (3). Sđd tập 11, tr.373. (4). Sđd tập 7, tr.36. (5). Sđd tập 12, tr.557. (6). Sđd tập 9, tr.293. (7). Văn kiện: Hội nghị lần thứ 4 BCHTW khóa XI, NXBCTQG, H.2012, tr.22. (8). Sđd tập 1, tr.295.

Gặp người dân tộc Ba-na được Bác Hồ đổi tên

“Tên Chút là không được. Người chú cao to, thông minh thế này sao lại tên là Chút? Từ nay Bác đặt tên chú là Đinh Văn Thắng, có nghĩa là thắng lợi hoàn toàn” – Trung tá cách mạng về hưu người Ba-na, ông Đinh Văn Thắng, tự hào nhớ lại.

Hẳn rằng với bất kỳ người dân Việt Nam yêu nước nào, được gặp Bác Hồ là cả một vinh dự lớn lao, là kỷ niệm sâu sắc cả cuộc đời. Riêng với ông Đinh Văn Thắng, cuộc gặp ấy còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi trong lần gặp đó, ông đã được Bác Hồ đặt tên. Giờ đây, khi đã sắp chạm gót bên kia cuộc đời, sức khỏe yếu, trí nhớ lúc có lúc không, nhưng ông vẫn luôn tin rằng những ngày ông được gặp Bác, được Bác đổi tên, được Bác gắp thức ăn cho… là những ngày may mắn nhất đời mình.

Thời tiết Tây Nguyên đã bắt đầu vào mùa mưa, những cơn mưa đầu mùa đột ngột khiến người ta thêm uể oải, đặc biệt đối với người già. Thật vậy, đã mấy ngày nay toàn thân ông Thắng mệt mỏi, ông cũng chẳng buồn ăn cơm, cả ngày chỉ nằm bất động dưới sàn nhà. Vậy nhưng khi chúng tôi hỏi chuyện về Bác Hồ thì mọi mệt mỏi trong ông dường như biến mất, ông như được tiếp thêm sinh lực…

Ông nói ông là người dân tộc Ba-na sinh ra tại huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai, Kon Tum cũ. Cũng như bao nhiêu người Ba-na khác, ông không có họ, cũng chẳng biết mình sinh ngày, tháng, năm nào và chỉ được cha mẹ đặt cho cái tên có độc nhất một chữ: Chút.

Thuở thiếu niên, ông Chút may mắn được bộ đội Việt Nam tuyên truyền, giảng giải, động viên giác ngộ cách mạng. Đến năm 1948, ông được thoát li ra Bắc học chính trị. Và trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1959, ông và đồng đội liên tục được gặp Bác Hồ tại cơ quan Z10 Trung ương (ông không nhớ chính xác địa điểm).

Một hôm, Bác bỗng nhiên hỏi: “Các chú ở đây có ai là người dân tộc thiểu số không?”.Mọi ánh mắt nhìn đều đổ về ông Chút. Một cảm giác ngại ngùng xen lẫn hạnh phúc lan tỏa trong người ông. Kể từ đó, ông là người may mắn thường xuyên được nói chuyện trực tiếp với Bác mỗi lần Bác tới thăm.

nguoi ba na
Ông Đinh Văn Thắng bồi hồi nhớ lại những ngày được gặp Bác Hồ

Ông Kể, mỗi lần tới thăm Bác đều hỏi han, quan tâm ông rất nhiều như: Bố mẹ chú ở quê có khỏe không? Nhà chú trồng có nhiều lúa không? Chú đã bắt được con nai chưa? Con cọp trên đó nhiều không?…

Không chỉ quan tâm, hỏi han về gia đình và cuộc sống trước đây của ông Thắng và bà con xóm làng, Bác cũng luôn giành những câu hỏi hài hước cho ông Thắng:

– Chú có vợ chưa?

– Dạ thưa bác cháu chưa lấy vợ ạ?

– Chú có con chưa?

– Dạ cháu chưa có vợ thì làm sao mà có con được ạ?

– Có người chưa có vợ cũng có con đấy thôi. Chú lớn tuổi rồi nếu có con, con chú cũng lớn lắm rồi.

Rồi Bác hỏi ngày sinh của ông Chút. Ông trả lời không biết, bởi cha mẹ không nhớ. Từ đó, Bác lấy ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là năm sinh tháng đẻ cho ông.

Không chỉ vậy, những lần được ăn cơm chung với Bác, ông và những đồng đội của mình đều được Bác quan tâm, gắp từng chút thức ăn và Bác nói: “Các chú còn trẻ phải ăn nhiều cho khỏe”, khiến ai cũng cảm động.

Tất cả những ký ức về Bác, ông không quên một chi tiết nhỏ nào. Có lần Bác nói với ông:“Tên Chút là không được, người chú cao to, thông minh thế này sao lại tên Chút? Từ nay Bác đặt chú tên là Đinh Văn Thắng – có nghĩa là thắng lợi hoàn toàn”. Kể từ đó, cái tên Thắng gắn với ông suốt cuộc đời. Và đến bây giờ về làng Đê Tar, xã Kon Chiêng, Mang Yang, Gia Lai hỏi đến ông Thắng được Bác đặt tên, ai cũng biết.

Chuẩn bị tham gia chiến đấu ở chiến trường ác liệt, điều khiến ông Thắng băn khoăn và thắc mắc nhất là cơ sở của ông và đồng đội là gì? Bác liền nói: “Cơ sở chính là dân, phải gần dân, lấy dân là gốc, định hướng tư tưởng cho dân…” Rồi Bác động viên: “Khi nào đất nước thống nhất, Bác sẽ đến thăm bà con dân tộc Tây Nguyên, Bác sẽ vào tận nhà chú.”

Trước sự quan tâm tận tình của Bác kính yêu, ông Thắng không còn bất cứ một e ngại gì trước Bác. Ông liền buột miệng “sao Bác không lấy vợ?”. Trước câu hỏi thật thà của chàng trai Ba-na, cả Đại đội bỗng trầm xuống, e ngại. Đại đội trưởng hất ánh nhìn về ông như muốn nói: “Sao cậu lại hỏi ngớ ngẩn thế hả?”. Đến lúc này, toàn thân ông run lên bần bật, khuôn mặt tím tái vì sợ hãi.

Bác điềm đạm cười: “Cảm ơn chú đã quan tâm đến đời tư của Bác. Nếu Bác muốn lấy vợ thì nước nào Bác cũng có, ở Pháp người ta cũng yêu, ở Nga người ta cũng yêu… nhưng với Bác Việt Nam là cao cả nhất, nước Việt Nam còn nhiều đau khổ nên Bác chỉ nghĩ đến Việt Nam.

Bây giờ đồng bào miền Bắc còn khó khăn thiếu thốn đang ra sức lao động sản xuất để ủng hộ miền Nam. Đồng bào miền Nam thì còn đau khổ dưới ách xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai bán nước. Khi nào đất nước thống nhất, Nam Bắc một nhà, khi đó Bác sẽ lấy vợ, sẽ có nhiều con cháu. Lấy vợ đơn giản thôi, mình già sẽ lấy vợ già, trẻ sẽ lấy vợ trẻ.”

Nghe xong, cả đơn vị cùng cười vui vẻ, còn ông Thắng như nhẹ cả người: Không ngờ Bác lại bao dung và giản dị đến thế! Tất cả tình cảm Bác đều dành cho dân tộc Việt Nam.

Phút chia tay Bác để vào Nam chiến đấu, ông Thắng được Bác dặn kỹ: “Thống nhất đất nước, chú cố gắng sắp xếp đi thăm Hà Nội, nếu Bác còn sống thì nói chuyện vui vẻ, nếu Bác mất thì đi để thăm Thủ đô.”

Ấy vậy mà khi đất nước chưa kịp thống nhất Bác đã chìm sâu trong giấc ngủ ngàn thu. Còn ông, sau khi giải phóng, ông về lại nơi mình sinh ra để tiếp tục làm cán bộ xã giúp bà con chống Fulro và làm ăn. Đến nay, mong ước được một lần được ra thăm Hà Nội như lời hẹn với Bác, ông vẫn chưa thực hiện được!

Thiên Thư
Theo http://dantri.com.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Nghệ nhân say mê khảm chân dung Hồ Chủ tịch

Với lòng ngưỡng mộ dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 20 năm qua, nghệ nhân Nguyễn Đình Vinh (Tiên Du, Bắc Ninh) đã truyền thần thành công hàng trăm bức ảnh chân dung về Người bằng vỏ ốc trên nền đồng tinh xảo.

Chiều cuối tháng 8 tại cơ sở sản xuất của anh ở xã Liên Bão (Tiên Du, Bắc Ninh), anh Nguyễn Đình Vinh đang miệt mài thể hiện từng nét khắc trên bức khảm truyền thần chân dung Hồ Chủ tịch. “Khó nhất là khâu thể hiện khuôn mặt, đặc biệt là bộ râu của Bác. Ngoài việc làm cho giống thì phải thể hiện được cái hồn của tác phẩm”, vừa quệt mồ hôi, anh vừa chia sẻ với khách.

nghe nhan kham trai 1
Anh Vinh bên tác phẩm đầu tay được giải nhất về tuổi trẻ sáng tạo

Sinh năm 1976 tại mảnh đất nổi tiếng với nghề khảm trai truyền thống, thôn Ngọ, xã Chuyên Mỹ (Phú Xuyên, Hà Nội), ngay từ nhỏ, Nguyễn Đình Vinh đã thích khảm trai. Học hết cấp 2, anh nghỉ học và quyết tâm theo đuổi ước mơ trở thành nghệ nhân khảm trai.

Anh may mắn được theo học nghệ nhân Trần Bá Dinh, người nghệ nhân dân gian đã “giữ lửa” cho làng. Với 7 năm kiên trì học hỏi, cộng thêm tố chất thông minh, không ngại khó, ngại khổ nên anh được thầy Dinh yêu mến và truyền thụ cho những bí quyết về nghề khảm truyền thần.

Khác những người thợ trong làng, ngay từ ngày đầu bước vào nghề, Nguyễn Đình Vinh đã chọn hình ảnh Hồ Chí Minh để thể hiện. “Ngày nhỏ, tôi thường được nghe cha kể về tấm gương đạo đức của Bác Hồ kính yêu, hình ảnh của Bác trở nên thân thiện. Vì thế tôi muốn thể hiện tình yêu và lòng tôn kính Bác qua tác phẩm của mình”, anh Vinh tâm sự.

Thời gian đầu vào nghề đầy khó khăn, nhiều bức chân dung phải truyền thần lại nhiều lần, mỗi lần như thế anh không nản mà tâm niệm: “Không có gì là không thể làm được, tất cả là do mình đã cố gắng hết sức hay chưa mà thôi”. Và anh lại miệt mài khảm cho đến khi tác phẩm thật ưng ý.

Nỗ lực từng ngày, năm 1998, tác phẩm truyền thần chân dung Hồ Chủ tịch khảm ốc trên nền đồng đầu tiên của anh đã được Tỉnh Đoàn tặng giải Nhất Tuổi trẻ sáng tạo. Anh cũng là nghệ nhân đi tiên phong trong lĩnh vực mới mẻ này. Năm 2008, anh được Hội tinh hoa làng nghề Việt Nam tặng Bằng khen công nhận bức chân dung Bác Hồ cười là tác phẩm đẹp nhất và tinh hoa nhất.

nghe nhan kham trai 2
Bức chân dung Bác Hồ cười” được hội tinh hoa làng nghề Việt Nam
công nhận là tác phẩm đẹp nhất, tinh hoa nhất. Ảnh: 
Nguyễn Anh.

Anh chia sẻ, nhìn qua thì tưởng khảm ốc đơn giản, nhưng để tạo ra một tác phẩm không dễ chút nào, đòi hỏi người thợ phải có trí tưởng tượng phong phú, sự kiên trì và niềm đam mê sáng tạo. Để hoàn thành một tác phẩm chân dung Bác khảm ốc trên nền đồng với kích thước 30×40 cm, anh phải mất khoảng một tháng làm việc liên tục.

Theo anh, truyền thần chân dung rất khó, đặc biệt là chân dung Hồ Chủ tịch vì đòi hỏi nghệ nhân phải thổi được hồn để tạo nên sức sống chân thực trong tác phẩm. Bên cạnh đó phải chú ý quan sát từng chi tiết, từ nếp nhăn trên trán hay nếp nhăn bên mí mắt, chòm râu cũng như nét mặt trong từng thời kỳ thì mới tạo nên sự thành công.

Dành nhiều thời gian để nghiên cứu những bức ảnh của Hồ Chủ tịch qua các thời kỳ, đặc biệt là sự thay đổi trên khuôn mặt, anh Vinh chia sẻ: “Những năm kháng chiến chống Pháp nhìn vào đôi mắt và nét mặt Bác thấy lòng quyết tâm giải phóng dân tộc của Người, nhưng những năm cuối đời khuôn mặt Bác lại hiền từ, nhân hậu khiến mỗi khi nhìn vào tôi cảm thấy tâm hồn mình trong sáng hơn, yêu đời hơn”.

Nhiều người trong làng đã tìm đến nhờ làm những bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh để cho vào khung ảnh treo trong nhà, anh đều vui vẻ nhận lời. Anh nhẩm tính sau hơn 20 năm gắn bó với nghề anh đã truyền thần thành công gần 1.000 bức chân dung lớn nhỏ về Bác.

Người đàn ông ngoài 30 tuổi này đang ấp ủ kế hoạch làm một bức chân dung Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Quảng trường Ba Đình. “Bức tranh sẽ được gắn thiết bị cảm biến thâu lời Bác đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập để mỗi khi ngắm Bác tôi lại được nghe Bác đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, được cảm nhận giây phút lịch sử của đất nước”, anh tâm sự.

Với sự cống hiến và tâm huyết trong nghề, nghệ nhân Nguyễn Đình Vinh đã nhận được nhiều bằng khen của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam năm 2009, Bằng chứng nhận Doanh nhân tiêu biểu, Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Cúp 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Theo trithucthoidai.vn
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

Kẻ cầm đầu Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ bị bắt như thế nào?

QĐND – Ngay sau khi Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ ra tuyên cáo kháng chiến vào ngày 23-9-1945, lực lượng Việt Minh ở Sài Gòn đã lập một chiến công lớn, bắt sống tên cầm đầu Chính phủ Việt gian và xóa sổ tổ chức bán nước này từ trong trứng nước. Người chỉ huy thực hiện cuộc “bắt cọp giữa ban ngày” này là cán bộ Việt Minh Huỳnh Văn Nghệ.

Theo cọp về hang

Tại Sài Gòn lúc bấy giờ, trước khí thế kháng chiến mạnh mẽ của quân dân ta, thực dân Pháp đã gấp rút điều quân tiếp viện từ Pháp sang. Sau khi được bổ sung thêm 1 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 đại đội thủy quân, đầu tháng 10-1945, quân Pháp nổ súng trở lại phá vòng vây. Lợi dụng tình hình hỗn loạn ở giai đoạn này, một số phần tử cơ hội bán nước được sự bảo trợ, tiếp tay của quân Pháp đã đứng ra tập hợp lực lượng phản động thân Pháp để chống lại Việt Minh. Tiêu biểu nhất trong đám Việt gian ở Sài Gòn là Dương Văn Giáo, còn gọi là Trạng sư Dương Văn Giáo. Tên này vừa từ Xiêm về Việt Nam, bám gót Tây thành lập Chính phủ Việt gian bán nước, với tên gọi “Nam Kỳ Cộng hòa quốc”.

Trong hồ sơ của Huỳnh Văn Nghệ được lưu tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, có bản báo cáo thành tích do chính ông viết. Ở mục “Những thành tích kháng chiến” giai đoạn 1945, Huỳnh Văn Nghệ viết như sau (trích nguyên văn): “Bắt được tên Dương Văn Giáo, Thủ tướng Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ: Một mình với một khẩu súng lục, dùng lý lẽ thuyết phục được một đại đội sắp ra đầu hàng địch, kéo đại đội này trở về với ta và dùng ngay lực lượng ấy xông vào bắt tên Dương Văn Giáo và Lê Quang Kim nạp cho chánh phủ xử tội, kết quả giải tán ngay trong trứng chính phủ bù nhìn đầu tiên của địch ở Nam Bộ làm địch rất lúng túng trong việc tìm người để thành lập chính phủ bù nhìn khác”.

Huỳnh Văn Nghệ, người trực tiếp bắt Dương Văn Giáo (ảnh do gia đình cung cấp).

Tài liệu không ghi rõ ngày xảy ra sự kiện cũng như diễn biến của sự kiện ấy. Chúng tôi đã tìm gặp ông Huỳnh Văn Nam, nguyên Tổng giám đốc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, là con trai của “Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ. May mắn cho chúng tôi là trong gia phả tộc họ Huỳnh Văn có khá nhiều tư liệu liên quan đến giai đoạn này của Huỳnh Văn Nghệ, trong đó có bút tích, lưu bút của nhiều người từng sống và làm việc với ông. Nhờ đó, chúng tôi có được tư liệu khá đầy đủ về một trong những chiến công xuất sắc của “Thi tướng” nói riêng và lực lượng Việt Minh nói chung trong giai đoạn Nam Bộ kháng chiến.

Trước ngày nổ ra Nam Bộ kháng chiến, Huỳnh Văn Nghệ được Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ Trần Văn Giàu giao nhiệm vụ làm Ủy viên hành chính phụ trách miền Đông. Nhiệm vụ tối quan trọng đầu tiên Huỳnh Văn Nghệ thực thi là đem hơn 70 vạn tiền Đông Dương sang Cam-pu-chia mua vũ khí phục vụ kháng chiến. Do chưa có kinh nghiệm nên Tám Nghệ (tên thường gọi của Huỳnh Văn Nghệ) đã bị những kẻ lái súng lừa gạt, lấy mất tiền. Trên đường trở về Sài Gòn, Tám Nghệ lòng nặng trĩu, tự dằn vặt mình vì không hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao. Khi về đến phà Mỹ Thuận, Tám Nghệ biết tin Trạng sư Dương Văn Giáo theo giặc đứng ra thành lập Chính phủ Việt gian thông qua nguồn tin của Báo Cứu quốc. Ai chứ tay Trạng sư ma mãnh và trụy lạc này thì Tám Nghệ đâu có lạ. Hắn đã từng có “duyên nợ” với Tám Nghệ. Giai đoạn ở Xiêm trước đó, Dương Văn Giáo từng là nhân vật cốt cán của tổ chức “Việt Nam Phục quốc đồng minh hội”, làm mật thám cho Nhật, lừa gạt, giết hại nhiều đồng chí là kiều bào của ta. Tám Nghệ đã hai lần tìm cách trừ khử tên chó săn này nhưng không có kết quả vì hắn rất ranh ma. Giờ đây, khi quân Pháp tăng chi viện cho Sài Gòn hòng đánh bật Việt Minh, tên Việt gian họ Dương này lại bám gót Pháp, trở về Việt Nam để thành lập Chính phủ Việt gian.

Bao lo âu, phiền muộn về vụ mua súng bị lừa gạt bỗng chốc tan biến trong lòng Tám Nghệ. Phải tìm mọi cách bắt ngay Dương Văn Giáo. Để chậm trễ ngày nào sẽ là tai họa cho cách mạng ngày đó. Tám Nghệ giục người lái xe mở hết tốc độ chạy như bay về Sài Gòn để tổ chức lực lượng truy bắt gấp tên Việt gian này. Sáng ngày hôm sau, trên đường đi gặp người của Ủy ban kháng chiến, Tám Nghệ mừng như bắt được vàng khi phát hiện ra Dương Văn Giáo đang ngồi trên chiếc xe mui trần có cắm cờ của Đồng minh Quốc dân đảng Trung Quốc. Người đi cùng Tám Nghệ là Nguyễn Văn Giỏi, cán bộ Công đoàn Sài Gòn – Chợ Lớn– Gia Định. Sự kiện này được ông Giỏi kể lại:

– Trong lúc Tám Nghệ và tôi chờ xe đến đón ở gần nhà thương (bệnh viện) Chợ Rẫy thì Tám Nghệ thấy một chiếc xe chạy ngược chiều, trong xe có tên Dương Văn Giáo. Tôi đưa cho Tám Nghệ xem danh sách chính phủ Việt gian bắt tay với Pháp. Tám Nghệ tức tốc cho xe rượt theo để bắt chúng. Tôi liền mở cặp táp đưa cho Tám Nghệ khẩu súng Vitkar Đức, còn tôi thì sử dụng khẩu mô-de.

Tám Nghệ bí mật cho xe bám theo và vạch ngay trong đầu các phương án bắt sống Dương Văn Giáo sao cho êm gọn nhất. Trong trường hợp xe của tên Việt gian này chạy về hướng Trường đua (nay là Trường đua Phú Thọ), sẽ sử dụng lực lượng bộ đội Bình Xuyên đón bắt. Bằng không, sẽ phải bám đến cùng xem nó đi đến đâu để có phương án “vào hang bắt cọp”. Phương án thứ nhất không xảy ra. Xe chở Dương Văn Giáo chạy lòng vòng rồi rẽ vào một xóm ở Bà Chiểu, sau đó cả đám xuống xe. Tám Nghệ dừng xe, phân công đồng chí Giỏi chạy thẳng về Gò Vấp xin lực lượng đến vây bắt Dương Văn Giáo, còn mình thì bám theo mấy bóng người đang khuất dần sau khóm tre. Dương Văn Giáo và đám tay chân bước vào một ngôi nhà ngói nằm giữa vườn cây xanh.

Cuộc tập kích không tiếng súng

Tám Nghệ hết sức ngạc nhiên khi phát hiện ra, trong ngôi nhà ấy có một đơn vị quân đội đang đóng trú nhưng không biết là quân của lực lượng nào? Đang lúc đầu óc căng như dây đàn thì bất ngờ từ trong nhà có hai người đeo súng lục bên hông bước nhanh ra cổng. Tám Nghệ kéo sụp chiếc mũ xuống che mặt định bước đi thì một trong hai người đó đã nhận ra ông. Hóa ra đó là một người bạn cùng học với ông từ thời ở Trường Petrus Ký, tên là Hồng Tảo. Cuộc tương ngộ quá bất ngờ. Qua mấy câu thăm hỏi chóng vánh, Tám Nghệ biết, đây là đại bản doanh của nhóm Lê Kim Lễ, Lê Kim Tỵ, là đám Việt gian theo Pháp. Dương Văn Giáo đã lôi kéo bọn này theo mình và cuộc gặp gỡ của bọn chúng hôm nay sẽ rất quan trọng đối với kế hoạch, âm mưu thành lập Chính phủ Việt gian của Dương Văn Giáo. Còn Hồng Tảo là người chỉ huy một đại đội Cộng hòa vệ binh đóng ở đây để bảo vệ. Hồng Tảo cho Tám Nghệ biết, Lê Kim Tỵ là người bỏ tiền ra nuôi lực lượng bảo vệ này.

Tám Nghệ suy tính nhanh, nếu đợi đến lúc bộ đội của ta đến không khéo kế hoạch đã bị bại lộ, bọn Việt gian sẽ thừa cơ trốn thoát. Mặt khác, khó có thể tránh khỏi đụng độ căng thẳng giữa hai bên. Thuyết phục Hồng Tảo đứng về phía chính nghĩa và sử dụng lực lượng này bắt ngay Dương Văn Giáo là thượng sách. Tám Nghệ cho Hồng Tảo biết, vị khách đang đối ẩm với chủ nhà ở trong kia chính là kẻ phản quốc hại dân Dương Văn Giáo. Bằng tài cảm hóa của mình, Tám Nghệ đã thuyết phục Hồng Tảo hợp tác với mình. Hồng Tảo là người yêu thơ, rất mực phục tài thi phú của Tám Nghệ và từ lâu đã coi Tám Nghệ như một bậc đàn anh đáng kính. Sau mấy phút lưỡng lự, Hồng Tảo nói với Tám Nghệ: – “Anh Tám chờ tui ít phút” rồi đi nhanh vào nhà. Nhận thấy có sự xâm nhập của người lạ, những người ở trong nhà tỏ ra lo lắng. Lê Kim Lễ và Lê Kim Tỵ liền đứng dậy trấn an: “Trong tay chúng tôi có hẳn một đại đội bảo vệ. Không có chuyện gì khiến các anh phải lo lắng”. Chừng dăm phút sau, Hồng Tảo bước ra sân lấy khăn tay vẫy vẫy làm ám hiệu cho Tám Nghệ đi vào nhà. Tám Nghệ đường hoàng bước vào, một tay đút vào túi áo nắm chắc khẩu súng lục đã lên đạn. Thấy Tám Nghệ xuất hiện như trên trời rơi xuống, Dương Văn Giáo quát: “Thằng Nghệ, mày đến đây làm gì”? Rồi giục Lê Kim Tỵ lệnh cho quân “xử” Tám Nghệ. Lê Kim Tỵ lập tức ra lệnh cho Hồng Tảo bắt Tám Nghệ. Hồng Tảo từ nhà dưới đi lên dẫn theo chục tay súng. Nhưng thay vì bắt Tám Nghệ, Hồng Tảo lại chĩa nòng súng về phía Dương Văn Giáo, Lê Kim Tỵ và đám tay chân rồi hô lớn: “Tất cả đứng im, giơ tay lên!”. Tám Nghệ bấy giờ mới lên tiếng: “Mời anh Dương Văn Giáo về Ủy ban Nhân dân Nam Bộ để trả lời về tội thành lập Chính phủ Việt gian bán nước”. Tám Nghệ ra lệnh trói cả bọn. Một lúc sau bộ đội của ta đến đưa Dương Văn Giáo và đồng bọn về Gò Vấp giao cho người của Ủy ban quản thúc. Tám Nghệ nhờ người báo tin cho đồng chí Trần Văn Giàu biết vụ việc để có hướng xử lý tiếp theo. Mọi người ôm chầm lấy Tám Nghệ chúc mừng chiến thắng. Tên cầm đầu bị bắt, Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ bị xóa sổ mà không tốn một viên đạn nào.

Minh Thiên
qdnd.vn

Thiếu nữ Mường 5 lần vinh dự được gặp Bác

Với bất cứ mỗi con người Việt Nam, được gặp Bác Hồ kính yêu là niềm vinh dự, tự hào hơn tất cả.

Được gặp Bác Hồ là phần thưởng lớn nhất với mỗi con người.

muong 1
Bà Hiền bên kỷ vật thiêng liêng Bác Hồ tặng

Trở về Hòa Bình lần này, chúng tôi tới thăm nhà người thiếu nữ Mường năm xưa đã vinh dự 5 lần được gặp Bác Hồ. Thiếu nữ Mường năm xưa giờ đã trở thành bà. Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng niềm vinh dự và tự hào những lần được gặp Bác Hồ kính yêu vẫn còn nguyên vẹn, như mới chỉ diễn ra ngày hôm qua. Bà Nguyễn Thị Hiền lật giở lại từ ký ức, những phần thưởng cao quý trong cuộc đời của mình. “Năm 1965 tôi được tham dự với tư cách là đại biểu phụ nữ thành phố, được gặp Bác. Đó là lần thứ 5, tôi vinh dự được gặp Bác Hồ”

Với mỗi con người, dù chỉ một lần được gặp Bác Hồ đã là niềm vinh dự và tự hào lớn. Từ năm 1955 đến năm 1962 khi được chọn đi học tại Trường Kathe – Kollwitz – Heim – Moritzburg (Cộng hòa Dân chủ Đức) thiếu nữ Mường Nguyễn Thị Hiền đã cùng với Đoàn du học sinh Việt Nam có 4 lần vinh dự được gặp và nói chuyện với Người. Những lần gặp ấy, Bác đã ân cần căn dặn, các cháu phải luôn học hành chăm chỉ, chăm ngoan. “Được gặp Bác Hồ, đó chính là phần thưởng lớn nhất trong cuộc đời mà tôi có được”  – bà Hiền tự hào.

Phần thưởng đó xứng đáng với những cố gắng lớn lao của cô bé Nguyễn Thị Hiền từ thủa quàng khăn đỏ. Những năm đó, ở Hòa Bình cửa ngõ Tây Bắc đã nở rộ phong trào thi đua sôi nổi trong thiếu niên, nhi đồng hưởng ứng cùng với đất nước thi đua học hành trở thành con ngoan trò giỏi. Tỉnh đoàn Hoà Bình phát động phong trào “Thiếu nhi Hoà Bình làm công tác Trần Quốc Toản”. Trong phong trào này, cô bé Nguyễn Thị Hiền đã chăm ngoan học giỏi, tích cực tham gia các hoạt động giúp đỡ gia đình chính sách, giúp đỡ các chú thương binh…

muong 2
Bác Hồ trong chuyến thăm du học sinh tại Đức. Bà Hiền vinh dự 

được gặp Bác. (Bà Hiền mặc áo sơ mi trắng)

Với những kết quả nổi bật, cô bé Nguyễn Thị Hiền cùng với bạn Nguyễn Thị Tân ở xóm Đúng, thành phố Hòa Bình được nhận danh hiệu “Thiếu nhi gương mẫu toàn tỉnh”, sau đó được Trung ương đoàn chứng nhận “Thiếu nhi gương mẫu toàn quốc”. Nguyễn Thị Hiền và Nguyễn Thị Tân trở thành tấm gương sáng cho thiếu nhi Hoà Bình thời bấy giờ.

Nổi bật nhất, Đoàn viên thanh niên tỉnh Hòa Bình còn phát động phong trào “Quyết tâm học tập bạn Hiền, bạn Tân” trong thiếu nhi toàn tỉnh. Ai cố gắng sẽ được nhận phần thưởng đi dự học tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Và người thiếu nữ Mường Nguyễn Thị Hiền nhờ đó mà vinh dự được gặp Người.

Kỷ vật vô giá

Trong thời gian học ở Cộng hòa Dân chủ Đức, 149 học sinh chăm ngoan của Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ. Bác Hồ đã tặng mỗi cháu một chiếc chăn len để đề phòng thời tiết giá lạnh ở nước bạn. Chiếc chăn len giờ bà Hiền dành nơi trang trọng trong tủ kính để lưu giữ. Đối với bà Hiền đây không chỉ là kỷ vật và còn là món quà vô giá trong cuộc đời.

Sau 2 năm học tập tại nước Bạn, cuối tháng 7 năm 1957, trong đợt Bác Hồ dẫn đầu Đoàn đại biểu Việt Nam sang thăm và làm việc tại nước Đức, Nguyễn Thị Hiền được vinh dự chọn là người ra sân bay tặng hoa Bác. Chuyến thăm ấy, Bác Hồ đã tới mái trường đang có những học sinh Việt Nam học để động viên, tặng quà. Tại đây, Bác đã đi thăm nơi ăn ở và học tập của Đoàn học sinh Việt Nam. Từ thành tích chăm ngoan, học giỏi, Nguyễn Thị Hiền được trực tiếp báo cáo kết quả học tập của Đoàn học sinh Việt Nam tại với Bác Hồ.

muong 3
Ngôi trường bà Hiền từng học trong thời gian đi du học tại Đức

Bà Hiền bồi hồi nhớ lại: “Năm 1959 tôi vinh dự là một trong 2 học sinh được Bác gửi tặng Huy hiệu”. Cũng trong năm 1959, Đoàn học sinh Việt Nam về nước nghỉ hè đã được đến Phủ Chủ tịch báo cáo thành tích học tập với Bác”. Sau 8 năm vừa học văn hoá, vừa học nghề tại Đức, Nguyễn Thị Hiền có trong tay bằng kỹ sư Hoá phân tích công nghiệp hạng ưu.

Trong thời gian chờ phân công công tác, Nguyễn Thị Hiền cùng các bạn lại thêm một lần nữa được gặp Bác khi Người đến thăm Đoàn tại nơi ở tập trung. Không lâu sau, gần 150 học sinh Trường Moritzburg trong đó có bà Hiền, đã được Bộ Giáo dục phân công công tác ở nhiều vị trí. Nguyễn Thị Hiền được về làm phiên dịch cho chuyên gia người Đức giúp đỡ Việt Nam xây dựng Nhà máy Thuỷ tinh ở Hải Phòng.

Trên cương vị công tác mới mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng Nguyễn Thị Hiền từng bước vượt qua để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đạt được nhiều thành tích trong công tác. Năm 1965, bà được bầu vào Đoàn đại biểu phụ nữ thành phố Hải Phòng tham dự Đại hội thi đua 5 tốt của phụ nữ toàn miền Bắc. Tại Đại hội, Nguyễn Thị Hiền lại thêm một lần nữa được chào đón Bác khi Người đến dự Đại hội thi đua.

Được gặp Bác Hồ là ước mơ của mỗi con người Việt Nam. Chính vì thế mặc dù đã trải qua hơn nửa thế kỷ, ở nhiều cương vị công tác khác nhau nhưng trong tâm trí, trái tim của bà Nguyễn Thị Hiền, giờ đây những lời dặn dò ân cần của Bác Hồ kính yêu vẫn còn đọng mãi.

Mạnh Thu
Theo http://www.anninhthudo.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn