Archive | 2012

Dưới cuộc “khai hoá cao cả” – (30-5-1922)

Ông Anbe Xarô đã tuyên bố với nhóm thuộc địa trong Hạ nghị viện rằng: “Trung thành với sứ mệnh cao cả đã làm rạng danh nước Pháp trên thế giới và lịch sử, nước Pháp đầy lòng bác ái đang theo đuổi tại hải ngoại một sự nghiệp tiến bộ, chính nghĩa, sự nghiệp dìu dắt các chủng tộc, sự nghiệp khai hoá cao cả; tính chất cao quý của sự nghiệp đó làm cho truyền thống rực rỡ lâu đời của nước Pháp ngày càng thêm phần rực rỡ”.

Thế mà người ta đã đem thực hiện cái sự nghiệp tiến bộ, chính nghĩa, v. v. đó như thế này:

Mượn cớ bài trừ nạn du đãng, người ta thi hành một chế độ khổ sai với dân bản xứ ở Mađagátxca. Như là: trên mặt trái một tờ giấy trong thẻ căn cước của người bản xứ, có dành riêng vài ô nhỏ để người chủ ghi chú. Trong ô thứ nhất, có in những điều ghi chú chủ yếu, người chủ phải ký nhận ở dưới.

Làm thuê cho ông

Tại

Từ đến

Người chủ:

Người bản xứ nào mà thẻ căn cước không hợp lệ như đã chỉ dẫn trên đây đều bị coi là du đãng, sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến một năm, và sau khi mãn hạn tù, có thể còn bị đày biệt xứ từ 5 đến 10 năm.

Bây giờ ta hãy xem các ông chủ đi khai hoá ấy đối xử với công nhân bản xứ như thế nào.

Có một bác cai đến hỏi tiền công cho một người thợ của mình, thì một ông chủ nọ đã viết giấy trả lời như sau: “Bảo cái con lợn ấy lấy c… (1) mà ăn, chỉ có món ấy là hợp với nó thôi”.

Một ông chủ khác, khi thấy nhà bị mất trộm 1.000 phrăng, liền lôi tám người bản xứ làm thuê cho mình ra tra điện để bắt họ thú nhận. Về sau, người ta tìm ra kẻ trộm chính là cậu ấm con ông chủ. Nhà khai hoá – con, đã ăn chơi thoả thích. Nhà khai hoá – bố, thì không bị lôi thôi gì cả. Và những người có phúc được nước Pháp bảo hộ thì còn nằm trong nhà thương ở Tananarivơ.

Nguyễn Ái Quốc

Báo La Vie Ouvrière, ngày 29-5-1922.
cpv.org.vn

Pari (30-5-1922)

(Trích “Những bức thư gửi cô em họ” do tác giả dịch từ tiếng An Nam (1) )

Ở Pari (23) có một vùng, cô em họ thân mến của tôi ạ, tự một mình nó nó trình diễn ra được đủ bộ mặt và đủ tâm lý của cả Pari, cả nước Pháp, cả vũ trụ. Ai muốn nghiên cứu tình hình xã hội thời buổi ta ngày nay, thì chỉ cứ đi ngang vùng này mà thôi là đáng giá cả một pho sách lớn cỡ bách khoa toàn thư vậy.

Vùng gồm ba xóm chính, là Êtoan, Batinhon, Êpinét. Cô vốn có trí tưởng tượng phong phú, nên tôi chắc thế, chỉ cần đọc tên mấy xóm đó là cô đã đoán ra được thứ bậc xã hội của những nhóm này rồi. Tôi ở đây như đang nghe thấy cô tự thì thầm với mình: Êpinét, Êpinét – Những cái Gai con! cuộc sống ở đây hẳn phải chật vật lắm, gai góc lắm. Còn Êtoan – Ngôi sao, cái đó hẳn phải là nơi cư ngụ của những kẻ diễm phúc, có đặc quyền đặc lợi; một Bồng Lai tiên cảnh chứ gì nữa.

Vâng, cô em họ nhỏ của tôi ơi, cô đoán đã gần gần đúng thế đấy, ấy nhưng tôi vẫn cứ phải tả cho cô thấy cái sang trọng của bên này và cái đau khổ của phía kia, sang trọng ra sao, đau khổ ra sao thì cái đầu óc xinh xắn của cô chẳng thấy nổi nó mênh mang đến thế nào đâu. Xóm Êtoan thì bắt đầu với Khải hoàn môn. ấy là một đài kỷ niệm nguy nga dựng lên để ghi nhớ tài danh quân phiệt của Napôlêông. Bây giờ thì nó dùng làm mồ chôn một người lính không tên tuổi chết trong đại chiến.

Sự đời sao nó mỉa mai thế, cô nhỉ! Người ta đem thu lại để cùng một chỗ cả cái hư vinh của tác giả bao cuộc giết chóc kinh khủng ở châu Âu và cả nắm di hài của nạn nhân cuộc tàn sát thế giới!

Cái đài này là nơi lưu tồn tượng trưng những nguyên nhân của mọi cuộc chiến tranh trước kia và sau này; cũng như người lính không tên tuổi này là hiện thân tượng trưng của tất cả những ai bị giết hại để thoả mãn cái tham vọng và cái kiêu kỳ của bọn tướng lãnh. Bởi vì ai mà đã đọc tên những chiến trận đầy tràn lịch sử từ đầu đến cuối, ai mà đã đọc bấy nhiêu tên khắc lên riêng một đài kỷ niệm này thôi (1) , thì phải kinh hoàng thấy, biết bao nhiêu là nông dân, bao nhiêu là công nhân đáng thương đã ngã xuống không tên tuổi, như kẻ đang nằm đây!

Để một chuyến thư sau, tôi sẽ kể cho cô nghe về anh lính tội nghiệp này, khi còn sống đã phải đương đầu với những tràng súng đại bác liên thanh như thế nào, nay vẫn phải đương đầu như thế nào với những tràng diễn văn ngoại giao và tỏ tình thân thiết vờ vịt của các vị sứ thần và của các cụ Phị (2) . Hôm nay, hãy trở lại câu chuyện vùng này đã.

Vậy, tôi đang nói với cô rằng Êtoan là xóm các phủ đệ thênh thang, các vườn cây hoa nở sum suê, các cỗ ngựa xe vương giả. Đó là một ổ xa hoa, tứ xứ, thừa thãi tràn trề và biếng lười loè loẹt. Đó là thiên đường bọn ăn bám đủ các cỡ và đủ các xứ. Sang trọng là sang trọng cho đến cả con vật. Chả nói làm gì đến cái giá ngông cuồng thả ra bao một con mèo hảo hạng hay một con ngựa loại khoái (3) , nó đủ để nuôi sống toàn bộ dân cư một tỉnh nước ta, cứ cái con khuyển xóm này là cũng được sống lộng lẫy và tốn kém hơn người đi làm thợ nhiều.

Rời chính lộ Vagơram và đại lộ Cuốcxen, là vào xóm Batinhon. Xóm này là xóm kiểu con dơi, nghĩa là dân bản địa nơi này thuộc một giai cấp trung gian. Họ không giàu sụ để bay nhảy như bọn cừ khôi trong giới tư bản, mà cũng chẳng đủ nghèo để phải vất vả giống đám thợ thuyền. Phong vũ biểu đo mức giàu có của họ cứ là theo sự thăng trầm kinh tế hằng ngày mà lên xuống; họ có thể hôm nay thì thư thái trồng bắp cải, để rồi hôm sau là phải bán đứt vườn tược đi. Dân đây là tiểu thương, là ông xếp phòng giấy, là ông cò về hưu. Bà đi đâu là có một con chồn (1) to quấn quanh cổ và một con chó con bồng trên tay. Ông thì bao giờ cũng có cái gì chểnh mảng cài khuyết ve áo, một củ kiệu Công huân Nông nghiệp hoặc là bông hoa tím của vị chức sắc Học chính (2) . Bà canh cửa thì sáng sáng chăm chút tưới những chậu hoa thu hải đường cổ truyền của bà bày trên cửa sổ, sáng sáng giũ cái thảm trải cầu thang chính – tấm thảm này bướng bỉnh nhất định không chịu leo cao hơn tầng gác ba (3) . Cứ suy quy luật vận hành của vạn vật thì dân cư xóm này có nhiều khả năng vô sản hoá hơn là sản sinh ra những đức ngài tư bản chủ nghĩa.

Xóm Êpinét là phía chân của cái thang. Nó là người bà con khốn khó, kẻ thừa kế bị gạt bỏ của hai xóm kia. Nó gần như là thuộc một giống người khác, ra vẻ bẽn lẽn, khiêm nhường, bị cái khốn cùng nó đè bẹp. Này cô, hãy xem ông bác mình ép mía lấy đường theo cái kiểu nghìn năm xưa cũ của dân ta, thì cô nghĩ ra được cái cảnh xã hội ở đây nó thế nào. Có bao nhiêu nước ép ngon ngọt thì cứ tuôn cả ra một bên cối, còn bên kia thì chỉ có bã, bẹt ra, quắt lại. Đây cũng thế. Một bên là giàu sang và nhàn rỗi, một bên là cần cù và thiếu thốn. Lôi thôi và gầy guộc như ngón tay khoằm khoằm của con mụ phù thuỷ già, ống lò sưởi ở Êpinét mùa hè thì um khói và mùa đông thì lại như tắt ngấm. Trông xa, nhà cửa khẳng khiu trong xóm giống y mặt người vậy, những bộ mặt người ngơ ngác mà cái bề mặt tiệm của một bác buôn giẻ rách hay của một hiệu thịt ướp lạnh thì làm ra dáng cái miệng móm, còn cửa sổ đã toác toạc thì dùng làm những con mắt nhẻm những dử lại cận thị. Xóm những con người làm lụng, sản xuất và đói meo. Xóm người làm thợ, xóm người nghèo, xóm người cùng khốn.

Giữa xóm, có một mẩu phố dài chừng dăm chục mét. Quanh phố thấy tề tựu một ngôi trường tiểu học, một nhà máy và một quán cháo bình dân. Có phải thế không nào, cô em họ thân mến, cả cái bộ sậu ấy thế là rất mực tiêu biểu? Khi còn bé, thì trẻ con đi học để mà biết tôn trọng quyền thiêng liêng của các ông chủ. Lớn lên, anh thợ rời nhà trường đi góp phần làm giàu cho giới chủ nhân ông mà mình đã được học tập sùng bái cái uy nghi. Già rồi yếu đi, thì ông lão được, vẫn giới chủ nhân ông đó, mà cụ đã làm giàu cho, tống cụ ra ngoài đường để nhờ chẩn bần mà sống nốt cuộc đời hay lam hay làm của mình!

Mỗi sáng, tôi phải đi ngang quán cháo bình dân để đến xưởng làm việc của tôi. Trời đẹp hay xấu, nắng ấm hay tuyết rơi, thì tôi cũng cứ thấy tụm lại trước cửa ngôi nhà công này lối ba chục các cụ. Các cụ ăn bận thật không tưởng tượng được. Người thì khoác cái chăn trên lưng, người thì lại mặc cái áo dài bó của hầu bàn trưởng – đầu đội cái mũ rơm đã vàng úa, người khác nữa tả tơi đụp vá muôn màu sắc. Giày các cụ, mõm há ra như hộp thư cả, cười nhạo với mọi khách qua đường. Trong lúc đợi cửa mở và để giết thời giờ, các cụ xem mấy mẩu báo Le Matin (24) hay tờ Le Petit Parisien (25) nhặt được chẳng biết ở đâu nữa. Trời có lạnh quá thì các cụ thổi thổi lên ngón tay hoặc là giở điệu nhất bộ ra nhảy (1) để tự sưởi ấm. Một cụ nhìn tôi cả cười: “Chú xem, sưởi kiểu trung tâm (2) của bọn này đấy!”.

Dáng các cụ tồi tàn thế, nhưng ai nấy đều thật dễ thương, và các cụ trông thấy tôi mãi rồi, thì cuối cùng ấy cũng là có quen biết. Một thứ tình bằng hữu thế là nảy ra giữa chúng tôi và hai bên chào nhau khi đi qua.

Tôi đặc biệt để ý một cụ già trong số đó. Ông cụ sạch sẽ, tươm tất, và bộ dạng biểu lộ một nỗi buồn phiền được nén xuống, một niềm tự trọng chẳng chịu để ngã khuỵu, ngay trong cơn quẫn bách. Cụ có đeo một dải huy chương thưởng công cứu nạn. Cụ bao giờ cũng cứ đứng đằng sau người khác.

Một hôm, tôi đến bắt tay cụ và nói với cụ: “Cố ơi, cố có vui lòng cho phép được mời cùng dùng một bữa lót dạ, chủ nhật tới, được không?”. Cụ đáp: “Ông tử tế quá, thưa ông, thế cho nên tôi từ chối thì hoá ra phụ lòng tốt của ông, vậy xin nhận”.

Chúng tôi cùng đến một quán ăn nhỏ. Đặt xong món ăn, chúng tôi chuyện trò, và ông cụ bảo tôi: “Tôi không dám tự tiện ngỏ lời trước với ông, bởi vì trước hết ông là người nước ngoài, thế rồi tôi lại ngại làm phật lòng ông, thanh niên dễ tự ái thấy có người đến bắt chuyện lại như tôi, một lão già nghèo khổ, chẳng khác đứa ăn mày vậy. Nhưng mà cứ mỗi lần ông đi qua trước mặt tôi, là lòng tôi lại tràn ngập một niềm đau đớn khôn cùng, tôi chỉ muốn khóc. Tôi rất hiểu ông lấy thế làm lạ, nhưng ấy là tại thế này: thấy ông, là tôi lại nhớ thằng con thứ của tôi, tôi đã mất nó trong trận giặc. Nó cũng khoảng tuổi ông đấy. Chắc ông hăm nhăm, hăm sáu chứ gì? – Hăm sáu, cố ạ, tôi trả lời. – Đúng rồi, nó kém ông một tuổi. Ông không chán tai thì để tôi kể chuyện nó ông nghe, chuyện nó mà thật ra là chuyện tôi. – Xin mời cố, nghe chuyện cố sẽ thích thú lắm. – Thời tôi còn ít tuổi, ông bạn cùng bàn đáng kính của tôi kể, tôi làm nghề hàng hải đăng bạ (1) . Tôi đã có đi vòng quanh thế giới nhiều lần. Tôi cũng có lần đến xứ ông, đến Sài Gòn, đến Hải Phòng. Sau tôi tằn tiện cưới một cô gái nông thôn hiền lành. Vợ chồng đến lập nghiệp ở vùng Bắc. Nhà tôi mở một cửa hàng nhỏ bán gia vị vặt vãnh, còn tôi thì vào làm một nhà máy. Vợ chồng tôi có hai trai, một gái, ba cháu thật là của trời cho ông ạ! Nhà tôi với tôi, bọn tôi chịu khó kham khổ cũng nhiều, nuôi được các cháu ăn học, nó giỏi giang lắm. Bà con lối xóm đều lấy làm thèm thuồng, vì các cháu nết na, thật là ngoan ngoãn, chăm làm, lại có học. Cháu Môrixơ là cháu lớn, làm nghề thợ vẽ. Cháu Anbe thì làm thợ máy. Em gái các cháu, là cháu Yvon, nó là một bông hoa xinh xinh mười tám cái xuân xanh- như ở xứ tôi người ta hay nói văn hoa thế – hoa làm si ngây lứa trai khắp vùng, cháu nó đánh máy chữ. Mỗi đứa kiếm được đồng tiền cũng kha khá, đủ cho mình và cho vợ chồng chúng tôi. Ban ngày thì các cháu đi làm, tối đến cả mấy cháu mải mê học hành. Chủ nhật nào cũng cả ngày bàn luận với nhau những cái học được trong tuần. Nói thật tình để ông hay, cứ nghe các cháu nó bàn nó nói là sướng lạ sướng lùng; ấy chính các cháu đã dạy chúng tôi, mẹ các cháu với tôi, biết được không biết bao nhiêu thứ. Vậy là vợ chồng chúng tôi thật là đôi bố mẹ sướng nhất trần đời.

“Chiến tranh bùng nổ. Cháu Môrixơ bị thương nặng từ đầu, ít lâu sau thì chết. Cháu Anbe thì bị ghi là mất tích, sau ba tháng chiến trận. Cứ thế là nhà tôi và cháu gái hoá điên lên, điên vì đau đớn. Làng tôi là cái đích cho pháo nã, đạn Pháp đến với chúng tôi cũng nhiều ngang đạn Đức; đạn nó không có quốc tịch, nên đạn bên này hay bên kia thì cũng đều phá phách đồ đạc, cũng đều giết hại người ta, dửng dưng như nhau, tàn khốc như nhau.

“Một hôm nọ, trong gian nhà chúng tôi ở đã đổ vỡ đến nửa, vợ tôi cùng cháu gái tôi đang nấu nướng, thì một cái nồi (1) – chẳng phải loại nồi Na Uy nổi tiếng của Lui Phorextơ đâu, mà là cái loại nồi nó giập be giập bét tuốt – nó bổ xuống.

“Một tiếng nổ kinh hồn, rồi tất cả hất tung lên. Tôi thoát thân vì đang xuống tầng hầm lấy cái gì đó. Đến khi lại người, từ dưới hầm lên, thì lên hết cầu thang, tôi chẳng còn thấy nhà, thấy cửa, thấy vợ, thấy con đâu cả nữa, mà chỉ thấy một khoảng trống không, một khoảng trống không khủng khiếp, hãi hùng, một khoảng trống không nó lấp đặc không trung bằng cái não nuột, cái tận cùng, cái chết chóc, cái tan hoang. Tôi quá sững sờ để còn hoảng hốt… Nhưng hãy chờ đấy, đã hết đâu! Cái lúc ghê gớm nhất trong cả đời tôi, là lúc mà tôi nhận ra trong đống nhà cửa vụn nát, một cái bàn tay máu me của cháu Yvon tội nghiệp của tôi, rồi cách mấy bước, là một cái chân còn giày tất y nguyên của người vợ đáng thương của tôi. ấy bấy giờ, ấy bấy giờ…”.

Đến đây, ông già tái nhợt. Tôi đọc thấy trong đôi mắt cụ, bỗng dại đi, một nỗi niềm đau xót và căm hờn không sao tả xiết. Một cơn co giật làm cụ toàn thân run rẩy. Cụ tỳ hai bàn tay đang quắp lại lên mép bàn. Hai chân cụ di di đều nhịp, như phát sốt, trên sàn nhà, mà căng gân cốt ra như vậy, thì là khi nào con người ta đang cố kìm lại một niềm xúc động đang muốn bùng ra. Tôi nhỏ nhẹ bảo cụ: “Thôi vừa rồi, cố ơi! Xin để hôm khác cố kể cho nghe. Cố xơi củ khoai rán, cố nhé!”. Ông cụ như không nghe thấy tôi nói; cụ thở dài một hơi, nói tiếp: “Đấy ông xem, ông thân mến, chiến tranh, cuộc chiến tranh trời tru đất diệt này tôi có cái gì thì nó đã giết sạch cả, nào là hạnh phúc, nào là nhà cửa, nào người vợ quý, nào bầy con yêu. Còn tôi, thì bây giờ tôi nhờ thiên hạ bố thí để sống qua ngày, sau bấy nhiêu năm trời làm ăn, cực nhọc. Biết đâu, vâng, biết đâu chẳng phải chính cháu Anbe đáng thương của tôi là người bây giờ đây đang nằm đó dưới Khải hoàn môn!”.

Cụ gạt một giọt nước mắt thật to, tay run run nâng cái cốc mà tôi vừa rót rượu vào, miệng nói: “Nào, chúc sức khoẻ ông!”.

—————————————–

Báo L’Humanité, ngày 30 và 31-5-1922.
cpv.org.vn

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, năm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(23) Pari : Thủ đô lâu đời của nước Pháp, một trong những thành phố lớn trên thế giới. Trước đây, Pari vốn nổi tiếng là một trung tâm văn hoá nghệ thuật. Từ cuối thế kỷ XVIII và trong thế kỷ XIX, Pari còn là một trung tâm cách mạng của châu Âu. Cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và cuộc cách mạng vô sản Pháp chống tư bản năm 1871 lập lên Công xã Pari, là hai điển hình cách mạng của nhân dân thành phố này. Nguyễn Ái Quốc đến nước Pháp cuối năm 1917 và đã ở Pari khoảng 6 năm. Tại đây, Người đã hoà mình trong đời sống lao động và đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân Pari, Người đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin, tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba, trở thành một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (1920). Người đã sáng lập Hội những người An Nam yêu nước, gửi đến Hội nghị Vécxây bản yêu sách của nhân dân An Nam, tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa và báo Le Paria, đề xướng báo Việt Nam hồn cùng nhiều hoạt động cách mạng khác. Người đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn nhất để giải phóng dân tộc. Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pari đi Mátxcơva (Liên Xô) để họp Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và sau đó về Trung Quốc để chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Tr.67.

(24) Báo Le Matin : Báo xuất bản ở Pari từ tháng 2-1884. Tr. 71.

(25) Báo Le Petit Parisien : Báo xuất bản hằng ngày ở Pari từ ngày 15-10-1876. Tr.71.

Mẹ Anh hùng, con bất tử

QĐND – Sau chiến tranh, Tổ quốc và nền báo chí cách mạng tôn vinh, ghi công 260 nhà báo liệt sĩ Thông tấn xã Việt Nam, trong đó riêng Thông tấn xã giải phóng Khu 8 có tới 21 nhà báo liệt sĩ. Ở Mỹ Tho, có bà má kiên gan cầm súng đánh Pháp, đuổi Mỹ, lặng thầm dìu dắt con trở thành nhà báo từ những năm 1960. Rồi cũng chính người má ấy thắt ruột, thắt gan lần lượt chứng kiến, chôn cất hai con khi họ ngã xuống giữa chiến trường khốc liệt.

Người má ấy là cô Tám Nghiệp (Đoàn Thị Nghiệp), Tỉnh ủy viên, Tỉnh đội phó tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ngày 6-11-1978, má Đoàn Thị Nghiệp được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và năm 1995 được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Anh hùng LLVT nhân dân Đoàn Thị Nghiệp.

Dìu dắt hai con làm báo

Má Tám Nghiệp sinh ra, lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Hội Cự, huyện Cái Bè giàu truyền thống yêu nước. Ông nội là nghĩa quân của thủ lĩnh Đoàn Trưng nổi dậy chống Tự Đức xây “Vạn niên thành”. Cuộc binh biến “Chày vôi” tại kinh đô Huế bị tàn sát đẫm máu, người ông mang dòng máu họ Đoàn phải chạy loạn, vào ẩn cư tận Đồng Tháp Mười. Người cha của má Tám Nghiệp cũng không cam chịu nô lệ đã theo Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Thủ Khoa Huân mài gươm chống Pháp. Ngày 23-9-1945, Nam Bộ kháng chiến, thừa hưởng khí tiết bất khuất của ông, cha, ngoài 20 tuổi, má Tám Nghiệp theo hai người anh Đoàn Văn Lệ, Đoàn Hữu Huynh đứng vào đội quân “Nóp với giáo, tầm vông vạt nhọn” đánh giặc. Ngày 18-12-1945, binh đoàn thuộc địa Lê Dương số 3 đánh chiếm huyện Cái Bè, má Tám Nghiệp lúc này làm Bí thư xã đoàn được phân công phối hợp với Chi đội 17 Mỹ Tho cản địch trên Quốc lộ 4. Trong trận chống càn ấy, má Tám Nghiệp được anh vệ quốc đoàn Bùi Văn Thô hướng dẫn gài mìn, ném lựu đạn và sử dụng khẩu súng “Mút-cơ-tông” dài ngoẵng. Má Tám Nghiệp đâu có ngờ về sau nên duyên vợ chồng với người lính quê ở miệt vườn Bình Phú, Cai Lậy. Cưới nhau “năm toàn quốc kháng chiến”, cuối năm 1947, vợ chồng má Tám Nghiệp có Bùi Văn Thưởng và năm 1950, Bùi Văn Tấn chào đời trong căn cứ Mỹ Phước, nơi đặt cơ quan của xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, rồi Bộ tư lệnh khu 8 sau này.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954), tiễn chồng đi tập kết với niềm tin chỉ hai năm là gia đình sum họp, má Tám Nghiệp dắt díu hai con về Đồng Tháp Mười. Sắm cái bàn may kiếm sống, má nuôi hai con ăn học và hoạt động công khai, đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn chấp hành Hiệp nghị, tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà. Thế nhưng, bè lũ Ngô Đình Diệm được Mỹ hậu thuẫn đã xé bỏ Hiệp nghị, điên cuồng đánh phá thành quả cách mạng, tàn sát, bỏ tù những người kháng chiến cũ, thiết lập bộ máy ngụy quyền, ráo riết bắt lính xây dựng ngụy quân.

Hai anh em nhà báo, liệt sĩ Bùi Văn Thưởng (bên trái), Bùi Văn Tấn. Ảnh tư liệu

Bị vây ráp, kìm kẹp, tổn thất trong chiến dịch “Tố cộng”, “Diệt cộng”, “Ly khai cách mạng”, Tỉnh ủy Mỹ Tho chỉ đạo cơ sở rút vào hoạt động bí mật, xây dựng căn cứ, kháng chiến lâu dài trong bưng biền Đồng Tháp Mười. Vừa len lỏi vượt ấp chiến lược, khâu nối, xây dựng cơ sở cách mạng, má Tám Nghiệp vừa tìm cách lo cho hai con ăn học ở Trường Nguyễn Đình Chiểu. Nhiều tháng, má phải ăn củ chụp, củ bình báng, dành suất gạo ít ỏi cho hai con đang tuổi ăn, tuổi lớn. Đồng Khởi ở Bến Tre được ít lâu, ngày 20-12-1960, Thông tấn xã Giải phóng ra đời. Tỉnh ủy Mỹ Tho cử Tám Thạnh (Hồ Văn Thạnh) phụ trách tiểu ban báo chí tuyên truyền. Mặt trận dân tộc giải phóng Mỹ Tho có tờ báo “Tranh đấu” xuất bản năm 1960, đến tháng 12-1961 thì đổi thành “Giải phóng”. Sau chiến thắng Ấp Bắc, đánh bại chiến thuật “Thiết xa vận”, “Trực thăng vận” của Mỹ, ngụy, để cổ vũ phong trào thi đua với Ấp Bắc giết giặc lập công, tờ “Giải phóng” được mang tên “Ấp Bắc”.

Từng đọc, tuyên truyền cho báo “Liên Việt”, cơ quan của Mặt trận Việt Minh Mỹ Tho-Gò Công từ năm 1951, má Tám Nghiệp mong muốn Bùi Văn Thưởng đánh giặc, giải phóng quê hương bằng cây bút, trang giấy. Năm 1960, Bùi Văn Thưởng vừa học xong chương trình Đệ tứ (tương đương lớp 9 phổ thông ngày nay), má Tám Nghiệp đã xin ông Tám Thạnh cho con mình vào cơ quan Thông tấn xã Mỹ Tho. Thế là ở tuổi 13, cậu bé Bùi Văn Thưởng háo hức làm “chú nhà báo Giải phóng” chuyên quay máy Ra-gô-nô, phát điện truyền tin tức, bài vở về Tổng xã Giải phóng Miền. Cậu còn có nhiệm vụ chép tin đọc chậm từ Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Tiếng nói Giải phóng chuyển cho lãnh đạo và các cơ quan Tỉnh ủy, Mặt trận dân tộc Giải phóng Mỹ Tho. Bùi Văn Thưởng còn học nghề ở các chú, các anh nhà báo cấp miền, cấp khu rồi viết tin, bài cho báo “Tranh đấu”, “Tin tức Mỹ Tho”, “Giải phóng”, “Ấp Bắc”. Thế rồi 3 năm sau, 1963, theo lời khuyên của má Tám Nghiệp, chú em Bùi Văn Tấn cũng vào công tác ở Phân xã Mỹ Tho. Và có một điều trùng lặp đến lạ lùng là Bùi Văn Tấn bước vào nghề báo cũng vừa lúc 13 tuổi và cũng vừa học xong chương trình Đệ tứ.

Tên tuổi hóa thân vào châu thổ Cửu Long

Địa bàn hoạt động của Phân xã Mỹ Tho chỉ cách cơ quan đầu não chính quyền Sài Gòn 70km.

Thời Mỹ, ngụy, Sài Gòn, Mỹ Tho gần như nằm kẹp giữa căn cứ quân sự Vùng 3 và Vùng 4 chiến thuật, trực tiếp đối đầu với những trận càn quét liên miên của các sắc lính: Sư đoàn 1 Thủy quân lục chiến Mỹ, Sư đoàn bộ binh số 9 và số 7 ngụy, chưa kể bọn giang thuyền hải quân, cảnh sát dã chiến, dân vệ…

Ông Tám Thạnh chỉ đạo Phân xã phải “ém quân” an toàn, cơ động “nhảy cóc” linh hoạt để phát tin trong mọi tình huống bị vây ráp. Bùi Văn Thưởng nhỏ con mà gan lì số một. Quanh thắt lưng lúc nào cũng lèn chặt lựu đạn, đụng địch là chủ động đánh mở đường cho phân xã rút an toàn. Túi mìn Cờ-lây-mo của Thưởng bao giờ cũng có tấm vải nhựa. Gặp trận càn đột ngột, Thưởng dùng tấm vải nhựa bọc kín máy phát sóng, máy Ra-gô-nô giấu dưới nước. Phân xã thiếu thiết bị, phụ kiện thay thế phương tiện phát điện, phát sóng, Thưởng nài nỉ chú Tám Thạnh cho theo các đơn vị Giải phóng tập kích căn cứ Mỹ quanh lộ 4, vừa lượm được nhiều tin chiến thắng vừa thu lắm “chiến lợi phẩm ngon”. Có trận, Thưởng mang về máy phát tin 15W, bình ắc quy điện, rồi nào máy ảnh, phim chụp ảnh của Mỹ. Trong trận chống càn tại Ấp Bắc (xã Tân Phú Trung, Cai Lậy, Mỹ Tho) ngày 2-1-1963, Bùi Văn Thưởng bám theo ông Hai Hoàng (Nguyền Văn Điều), Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261. Ông Hai Hoàng được Bộ tư lệnh khu 8 giao chỉ huy Tiểu đoàn 261, Tiểu đoàn 515, bộ đội địa phương Châu Thành, Cai Lậy, du kích xã Tân Phú Trung đánh phủ đầu chiến thuật “Trực thăng vận” và “Thiết xa vận” của Mỹ, ngụy. Bùi Văn Thưởng có bài tường thuật nóng hổi: “Ấp Bắc, trận đầu đánh thắng chiến thuật Trực thăng vận, thiết xa vận”. Bài báo được phân xã Mỹ Tho phát nhanh sau trận thắng càn. Các Báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Cứu quốc, Thống nhất, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh Giải phóng miền Nam đăng và phát vào ngày 3-1-1963 làm nức lòng quân, dân cả nước. Không bao lâu Bộ tư lệnh quân Giải phóng miền, Trung ương cục phát động phong trào “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công”. Hậu phương miền Bắc xây nhiều công trình, tăng sản phẩm, cánh đồng 5 tấn, xưởng máy năng suất cao, đoàn xe, đoàn tàu an toàn mang tên “Ấp Bắc”.

Để anh trai rảnh rang chân tay làm phóng viên chiến trường, năm 1963, Bùi Văn Tấn thay thế vị trí báo vụ đài CFM truyền tin tức từ Phân xã Mỹ Tho về Tổng xã Giải phóng Miền. Chú bé lấy tin tức toàn miền qua chiếc thu thanh bán dẫn hằng ngày, chép tin đọc chậm Đài Tiếng nói Việt Nam cung cấp tình hình chiến sự cho Tỉnh ủy.

Ngoài phiên trực báo vụ phát tin, Bùi Văn Tấn vui vẻ làm cả phần việc công vụ cho cơ quan Tuyên huấn Mỹ Tho. Chú như con sóc mang tài liệu, công văn băng qua vành đai pháo chụp, pháo bầy, trực thăng quần thảo đến cơ quan Tỉnh đội của má Tám Nghiệp, Tỉnh hội phụ nữ, ban Binh vận, nhiều đợt chèo ghe vượt kênh Cái Xáng vào căn cứ Khu ủy Khu 8.

Tháng 3-1967 trên đường công tác về Tân Phú, Cai Lậy, gặp trực thăng vây bắt, Bùi Văn Tấn tách đoàn công tác, phóng mình ra giữa trảng cát kéo tụi giặc bám theo. Cả đoàn cán bộ an toàn nhưng Bùi Văn Tấn bị trọng thương. Bởi thiếu thuốc, phương tiện cứu chữa, mất máu nhiều quá nên Tấn trút hơi thở cuối cùng ở trạm xá Hưng Thạnh (nay là huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang). Hai năm sau, tháng 6-1969, người anh Bùi Văn Thưởng cũng hy sinh khi anh mở đường máu cứu đồng đội trong trận càn ở Mỹ Đức Tây, Cái Bè của địch.

Ngày 6-4-1972, trong trận phá vây tại kênh Bùi Tường, Phú Nhuận, Cai Lậy, má Tám Nghiệp cùng đội công tác Tỉnh đội Mỹ Tho chiến đấu với một trung đoàn thuộc Sư đoàn 7 ngụy. Má Tám Nghiệp cùng đồng đội đánh trả quyết liệt, bắn tới viên đạn cuối cùng trước khi hy sinh.

Miền Nam giải phóng, đất nước liền một dải. Trong căn nhà của Trung tá Bùi Văn Thô, Chủ tịch Hội cựu chiến binh Cai Lậy, mỗi khi có khách tới thăm, người cha hai nhà báo liệt sĩ, người chồng nữ liệt sĩ Anh hùng Đoàn Thị Nghiệp lại bùi ngùi lật giở tờ báo “Ấp Bắc” đăng bài Bùi Văn Thưởng và cuốn sổ phóng viên đã ngả màu. Kỷ vật của ba người thân yêu chỉ có vậy. Ông day dứt bởi đánh giặc miết không có mấy thời gian gần gũi vợ con, chở che cho cái tổ ấm của mình. Rồi ông chậm rãi nói như với riêng mình: Má mày cùng hai con chắc giờ đã hóa đất đai châu thổ Cửu Long rồi.

Văn Hiền
qdnd.vn

Lời nói cuối và tượng đài bất tử

Uống nước nhớ nguồn

QĐND– Giữa đại ngàn Chiến khu Đ có một nghĩa trang nhỏ, chừng ba chục ngôi mộ liệt sĩ, một đền thờ, linh thiêng và đặc biệt, nổi bật và trang trọng nhất là tượng đài liệt sĩ bằng đá vừa được xây dựng hơn một năm nay. Tượng đài khắc họa người chiến sĩ hy sinh, nụ cười thể hiện niềm tin chiến thắng vẫn nở trên môi, ngã xuống trong vòng tay đồng đội. Nguyên mẫu của nhân vật trong tượng đài là liệt sĩ Phạm Văn Xem. Câu chuyện về người chiến sĩ ấy đẹp giản dị, thiêng liêng và cảm động như một bài thơ về lý tưởng sống và tình yêu Tổ quốc.

“Đóng giùm tôi đảng phí tháng ba”…

Đó là lời nhắn gửi đồng đội, lời trăng trối cuối cùng của chiến sĩ 23 tuổi Phạm Văn Xem, quê ở Tân Uyên, Bình Dương, là chiến sĩ thông tin thuộc căn cứ thông tin 505 trước khi anh ra đi vĩnh viễn vào ngày 16-3-1966. Vào thời điểm này, tình hình chiến sự ở Miền Đông Nam Bộ bước vào giai đoạn căng thẳng, quyết liệt. Quân đội Sài Gòn được sự chi viện và yểm trợ của Mỹ mở cuộc hành quân mang tên “Thành phố Bạc” (SilverCity) đánh mạnh vào Chiến khu Đ. Nắm được ý đồ của địch, ta bố trí lực lượng tập kích nhằm kìm hãm, đẩy lùi, phá tan chiến dịch hành quân của chúng. Một trong những trận tập kích tiêu biểu diễn ra tại khu Bàu Sắn rạng sáng ngày 16-3. Bị đánh tơi tả, địch kêu gọi chi viện. Vài giờ sau đó, địch điều động máy bay B52 đến rải thảm ở Chiến khu Đ. Đơn vị bị tổn thất nặng nề nhất là căn cứ thông tin 505 (Ban thông tin liên lạc Miền Đông). Chiến sĩ Phạm Văn Xem vừa được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Anh đã chiến đấu anh dũng và bị thương rất nặng. Khi các y tá đến cứu chữa, băng bó vết thương cho anh thì anh xua tay, nói yếu ớt: “Các đồng chí hãy dùng những thứ này để cứu mạng sống cho các chiến sĩ bị thương nhẹ hơn tôi. Tôi biết, mình không qua khỏi được. Nhờ các đồng chí nhắn giùm anh em trong tiểu đội của tôi, lấy tiền sinh hoạt phí tháng ba đóng giùm tôi đảng phí tháng ba”. Nói xong, Phạm Văn Xem ngất lịm vì máu ra quá nhiều. Anh được đồng đội của mình cáng đến dân y viện gần đó. Trên đường đi, Phạm Văn Xem tỉnh lại, kêu khát nước. Hai đồng chí cáng thương, bên lưng vẫn đeo bình tông nước nhưng trả lời trong nước mắt rằng, nước đã hết, bởi các anh biết nếu cho Xem uống nước, cái chết sẽ đến với anh nhanh hơn vì máu càng ra nhiều, không cầm được. Anh Xem nhìn đồng đội mỉm cười với ánh mắt thông cảm và lặp lại: “Các đồng chí nhớ nhắn với tiểu đội lấy tiền sinh hoạt phí đóng giùm tôi đảng phí tháng ba…”. Anh ra đi mãi mãi khi nụ cười chưa kịp tắt trên môi. Thi hài của anh được đồng đội an táng gần vị trí dựng tượng đài hiện nay.

Tượng đài bất tử

Tượng đài ở Chiến khu Đ được xây dựng từ nguyên mẫu liệt sĩ Phạm Văn Xem.

Người có công đầu trong việc xây dựng tượng đài này là đồng chí Bùi Đình Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai. Cảm phục tinh thần, lý tưởng sống và chiến đấu của chiến sĩ Phạm Văn Xem qua lời kể của nhiều đồng đội ngày ấy, đồng chí Bùi Đình Thành đã chỉ đạo ngành văn hóa tỉnh, thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo tồn, phát triển di tích lịch sử, vận động xây dựng công trình mang ý nghĩa tâm linh cao đẹp này. Cái chết của người chiến sĩ đã trở thành bất tử. Tượng đài liệt sĩ là biểu tượng của tình đồng chí, đồng đội, thể hiện lý tưởng sống cao đẹp của một thế hệ thanh niên Việt Nam. Dù đã nằm xuống nhưng súng vẫn chắc trong tay, miệng vẫn cười, lạc quan niềm tin chiến thắng.

Trong khi viết bài này, chúng tôi tình cờ đọc được thông tin trên một tờ báo, Ban thi đua truyền thống – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đăng thông báo tìm mộ liệt sĩ Phạm Văn Xem. Các thông tin về liệt sĩ trong bản tin trùng khớp với thông tin về liệt sĩ Phạm Văn Xem chúng tôi nêu trong bài viết này. Vậy, xin kính báo và mời đại diện Ban thi đua truyền thống – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam liên hệ với Ban quản lý Di tích lịch sử – văn hóa Chiến khu Đ tỉnh Đồng Nai để thực hiện các phần việc uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa với hương hồn liệt sĩ và thân nhân, gia đình liệt sĩ Phạm Văn Xem theo tâm nguyện mà quý cơ quan đã bày tỏ.

Bài và ảnh: Thanh Kim Tùng
qdnd.vn

Thu tin “Ấp chiến lược” từ mật vụ địch

QĐNDLTS: Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng số 220 (tháng 4-2012) đã ghi lại lời kể của Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn (bí danh Hai Trung) trong thời gian ông hoạt động dưới vỏ bọc là Phóng viên Tạp chí Time của Mỹ. Kỳ này, chúng tôi tiếp tục giới thiệu với bạn đọc câu chuyện Phạm Xuân Ẩn đã tìm cách tiếp cận được tài liệu nguyên bản về “Kế hoạch ấp chiến lược” của chính quyền Ngô Đình Diệm khi ông đang là phóng viên thường trú của hãng Roi-tơ (Reuters) tại Sài Gòn…

Sau cuộc đảo chính bất thành ngày 11-11-1960 của nhóm Nguyễn Chánh Thi – Vương Văn Đông, Hai Trung nắm được thông tin Mỹ quyết định gây sức ép nhằm buộc Diệm sửa đổi cơ cấu chính quyền, tăng cường củng cố, huấn luyện quân đội, đẩy mạnh hoạt động kiểm soát vùng nông thôn và tổ chức lại guồng máy hành chính tại đây, từng bước “dân chủ hóa” miền Nam Việt Nam theo kiểu Mỹ, trên cơ sở đó quy tụ lực lượng, gia tăng khả năng chống cộng sản. Những diễn biến tiếp theo cho thấy thông tin trên là hoàn toàn chính xác. Tháng 4-1961, ngay sau khi tái đắc cử Tổng thống, Diệm đã thành lập thêm Bộ Xây dựng nông thôn và Bộ Công dân vụ, đồng thời tiến hành một số cải cách về hành chính, khiến Mỹ khá hài lòng. Giữa tháng 5-1961, Mỹ cử Phó tổng thống Giôn-xơn (Johnson) sang thăm Sài Gòn, bày tỏ sự ủng hộ đối với Diệm và thể hiện quyết tâm giữ vững miền Nam Việt Nam nằm trong vòng ảnh hưởng của Mỹ.

Rõ ràng Mỹ – Diệm đang có sự thay đổi lớn về chiến lược. Trong lĩnh vực quân sự, Hai Trung đã thu được nguyên bản tài liệu “Tactics and Technics of Counter Insurgency” (Các chiến thuật và kỹ thuật chống nổi loạn) do Trung tướng L.C Mắc Ga-rơ (Lionel Charles Mc Garr), chỉ huy trưởng Phái bộ cố vấn quân sự Mỹ (Military Assistance Advisory Group – MAAG) tại Sài Gòn soạn thảo, nhưng trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội… thì anh vẫn chưa hiểu rõ ý đồ, kế hoạch của địch ra sao. Đây cũng là yêu cầu điều tra chủ yếu mà Trung tâm đặt ra đối với anh.

Để triển khai tìm hiểu, Hai Trung tới gặp Trần Kim Tuyến (Giám đốc Sở nghiên cứu chính trị – xã hội trực thuộc Phủ tổng thống, trùm mật vụ của chế độ Diệm), Lê Văn Thái (tức Thái trắng, phụ tá của Trần Kim Tuyến). Hai Trung nói với họ rằng sau khi đi tham quan khu trù mật Vị Thanh, khu trù mật Ba Thê và một số khu trù mật khác, ở đâu cũng thấy cả dân chúng lẫn quan chức chính quyền kêu ca, oán thán. Tuyến bèn tiết lộ Diệm sắp ra lệnh ngừng thực hiện kế hoạch khu trù mật. Được đà, Hai Trung hỏi luôn kế hoạch đó sẽ được thay thế bằng kế hoạch nào, bởi chính tướng Mắc Ga-rơ đã xác định nếu không bình định được nông thôn thì không thể chống lại chiến tranh du kích. Tuyến, Thái còn cho biết, Phủ tổng thống chưa có kế hoạch mới nào, song Diệm đã giao cho hai bộ mới thành lập cùng lo việc đó. Mấy hôm sau, nhằm tạo dư luận thuận lợi để tiến hành công việc, Hai Trung đề nghị sếp của mình là Pi-tơ Xmác (Peter Smark – người Ô-xtrây-li-a, Trưởng phân xã Roi-tơ ở Sài Gòn) cho ra một loạt bài viết về sự thất bại của kế hoạch khu trù mật và loan tin chính quyền Sài Gòn đang nghiên cứu xây dựng một kế hoạch mới để thay thế. Pi-tơ Xmác đồng ý ngay vì thấy đề nghị này hết sức hợp lý.

Phạm Xuân Ẩn (ngoài cùng, bên trái) thời kỳ làm cho Tạp chí Time của Mỹ .Ảnh tư liệu.

Cuối tháng 5-1961, Hai Trung tình cờ gặp lại R. Phi-líp (R.Phillips) – người quen cũ từ ngày Hai Trung còn làm ở Bộ tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn khi Phi-líp là phụ tá cho Đại tá tình báo Ét-uốt Lên-xđên (Edward Lansdale) – và nghe Phi-líp nói rằng, mới quay trở lại Việt Nam làm việc tại Bộ Công dân vụ, là cố vấn cho Kiều Công Cung (vốn phụ trách Đặc ủy Công dân vụ – cơ quan tiền thân của Bộ Công dân vụ), Hai Trung đoán ra ngay Mỹ – Diệm đang chủ trương tăng cường mạng lưới tình báo ở nông thôn, nhất là các vùng được phía ta bàn giao theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Vào một ngày giữa tháng 6-1961, khi tới dự buổi họp báo định kỳ do Bộ Thông tin của chính quyền Sài Gòn tổ chức, Hai Trung rất mừng vì được nghe Sta-lây (Eugene Staley) (Giáo sư kinh tế của Viện nghiên cứu Standford thuộc Trường ĐH Stanford – bang California – Mỹ) giới thiệu khái quát về một bản phúc trình nhằm nâng cao đời sống ở nông thôn mà Sta-lây cho rằng, chắc chắn hữu hiệu hơn kế hoạch khu trù mật. Kết thúc buổi họp báo, Hai Trung lập tức tới gặp Sta-lây. Sau khi trình bày với Sta-lây về sự thất bại của kế hoạch khu trù mật và tán dương bản phúc trình Sta-lây mới đưa ra, Hai Trung khéo léo cài thêm: “Tôi vẫn băn khoăn là liệu chính quyền Sài Gòn có đánh giá đúng mức và thực hiện đầy đủ bản phúc trình tuyệt vời của giáo sư hay không? Giáo sư có thể cho tôi biết rõ hơn một chút về bản phúc trình này và có thể cung cấp một ít tài liệu để tôi viết một bài dài về nó cho Hãng thông tấn Roi-tơ không?”. Sta-lây vui vẻ trình bày thêm một số chi tiết rồi bảo: “Tài liệu nguyên bản thuộc diện tuyệt mật, tôi không thể cung cấp cho anh được. Tuy nhiên, nếu muốn biết rõ hơn, anh có thể tới gặp Giáo sư Vũ Quốc Thúc (Khoa trưởng của Luật khoa ĐH đường, tức giám đốc Trường ĐH Luật Sài Gòn), người cùng tôi chủ trì việc soạn thảo bản phúc trình này”.

Nghe vậy, Hai Trung mừng hơn bắt được vàng. Những tin tức, tài liệu mấy tháng qua anh ra sức tận dụng các mối quan hệ để thu thập mà vẫn chưa có kết quả gì đáng kể, giờ đã xuất hiện manh mối rõ ràng. Về tới nhà, Hai Trung gọi điện báo ngay với Trần Kim Tuyến và Lê Văn Thái rằng Mỹ vừa xây dựng một kế hoạch mới về bình định nông thôn, gợi ý họ nên lấy danh nghĩa Sở nghiên cứu chính trị – xã hội, yêu cầu Vũ Quốc Thúc cung cấp một bản để báo cáo với Ngô Đình Nhu (em ruột, cố vấn chính trị của Diệm). Hai ngày sau, Thái gọi Hai Trung tới rồi cho anh mượn nguyên bản tài liệu trên, đồng thời đề nghị Hai Trung nghiên cứu, tham khảo, góp ý kiến để giúp Tuyến, Thái “ghi điểm” với Ngô Đình Nhu. Hai Trung phấn khởi đem tập tài liệu về đọc và dĩ nhiên là trước khi đem trả đã chụp lại toàn bộ, gửi về Trung tâm. Hai Trung được Trung tâm biểu dương và chỉ thị tập trung theo dõi sát những diễn biến của địch xung quanh việc hoàn chỉnh, phê duyệt, triển khai kế hoạch này.

Được khoảng dăm hôm, Trần Kim Tuyến cùng phụ tá của ông ta lại mời Hai Trung tới gặp và tiết lộ Ngô Đình Nhu đã sơ bộ chấp nhận kế hoạch mới của Mỹ và giao cho Nguyễn Văn Khoa (bạn thân của Nhu) cùng Sở nghiên cứu chính trị – xã hội căn cứ kế hoạch này và tham khảo kế hoạch xây dựng làng chiến đấu (kibbutz) của I-xra-en, kế hoạch bình định Mã Lai Á (Malaysia) của Anh mà soạn thảo một kế hoạch thật sự mang tầm chiến lược. Tuyến, Thái cung cấp cho Hai Trung một số tài liệu, đề nghị Hai Trung đem về đọc rồi cho ý kiến.

Tối hôm ấy, khi tới một sàn nhảy, nơi các công chức cao cấp và sĩ quan ở Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn thường tụ tập, thấy Đặng Đức Khôi ngồi một mình để chờ cô vũ nữ mà hắn mê tít, Hai Trung bèn tới bắt chuyện vì biết Khôi rất thân với Vũ Quốc Thúc và trước khi chuyển sang Bộ Ngoại giao, Khôi từng làm việc cho Trường Đại học Michigan State. Do đã quen biết Khôi nên sau vài câu tán gẫu, anh vào chủ đề chính luôn: “Cậu làm ngoại giao, đi nhiều, vậy có để ý tới kế hoạch xây dựng làng chiến đấu của I-xra-en và kế hoạch bình định Mã Lai Á của Anh không? Tớ không hiểu sao chúng được rất nhiều người khen ngợi trong khi kế hoạch khu trù mật ở Việt Nam lại phá sản. Tớ còn nghe nói Mỹ mới đưa ra bản phúc trình Sta-lây – Vũ Quốc Thúc có nội dung rất hấp dẫn. Cậu đã nghiên cứu nó chưa?”. Khôi cười, đáp: “Bản phúc trình ấy, tớ đọc rồi. Tớ còn đọc cả cuốn “Modern Warfare: A French View of Counterinsurgency” (Chiến tranh hiện đại: Một cách nhìn của Pháp về chống nổi dậy) vừa mới được xuất bản của cựu Đại tá Pháp Roger Trinquier nữa cơ. Đọc xong, tớ có nảy ra mấy ý tưởng mới mẻ về việc bình định vùng nông thôn Việt Nam. Tớ mới thảo luận chúng với tướng Chác-lít Tim-mít (Charles J. Timmes) ở MAAG để thu thập thêm ý kiến bổ sung của giới quân sự Mỹ. Cha đó rất đồng quan điểm với tớ. Kế hoạch xây dựng làng chiến đấu của I-xra-en và kế hoạch bình định Mã Lai Á của Anh thì tớ thấy khó mà áp dụng ở Việt Nam”.

Hai Trung cẩn thận tổng hợp ý kiến của mình và các ý kiến thu thập được, viết thành một văn bản khá rành mạch rồi đưa cho Thái để Thái đem trình bày trong các buổi làm việc với Tuyến và Nhu. Ít bữa sau, Thái gọi điện mời anh tới ngay, nói là có việc gấp. Anh vừa bước vào cửa văn phòng của Thái thì Thái đã chìa ra một tập tài liệu dày viết bằng tiếng Việt có tiêu đề “Kế hoạch ấp chiến lược” và khoe rằng Nhu đã thông qua. Thái nhờ anh khẩn trương dịch tập tài liệu này ra tiếng Anh để Nhu đưa cho các cố vấn Mỹ và Anh đọc.

Vậy là một kế hoạch chiến lược tuyệt mật của đối phương đã được Hai Trung chuyển về Trung tâm tình báo của ta. Ngoài tập tài liệu trên, cuối năm 1962, Hai Trung còn thu thập nguyên bản tài liệu “Kế hoạch chiêu hồi” do Bộ Công dân vụ soạn thảo để bổ trợ, tăng cường cho “Kế hoạch ấp chiến lược” của chính quyền Sài Gòn.

Vũ Sáng
qdnd.vn

Chúng tôi đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

QĐND – Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) làm nhiệm vụ thọc sâu trên hướng chủ yếu, tiến công theo trục lộ số 1 vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn.

Sau một ngày hành tiến đánh địch, 6 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, Trung đoàn 24 của Sư đoàn tiêu diệt địch chốt giữ ở ngã tư Bảy Hiền, tiến công vào Bộ Tổng tham mưu và sân bay Tân Sơn Nhất. Lực lượng đi đầu, Tiểu đoàn 5 bị quân địch có xe tăng và pháo binh chống trả quyết liệt, bộ đội ta tổ chức nhiều đợt tiến công nhưng vẫn không tiến lên được. Cùng lúc đó, không quân địch lại tập trung đánh phá vào đội hình Tiểu đoàn 4 đang cơ động lên, lực lượng và phương tiện bị tổn thất lớn, sức mạnh và khả năng chiến đấu của trung đoàn đã bị suy giảm.

Trước tình hình đó, chỉ huy Trung đoàn 24 quyết định sử dụng Tiểu đoàn 6 do tôi làm Tiểu đoàn trưởng mở hướng tiến công mới theo trục đường Hoàng Hoa Thám, đánh thẳng vào sở chỉ huy của sư đoàn dù, phát triển bắt liên lạc và bảo vệ phái đoàn quân sự ta ở trại Đa-vít, đánh chiếm Bộ Tư lệnh không quân và sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi được Trung đoàn trưởng Vũ Văn Tài giao nhiệm vụ qua máy 2W: Khẩn trương chuẩn bị cho đơn vị chuyển sang đánh địch ở hướng tiến công mới. Nhiệm vụ chiến đấu cụ thể sẽ do anh Chu Minh Thực, tham mưu phó xuống giao trực tiếp.

Thiếu tướng Bùi Thanh Sơn. Ảnh: Trung Nguyên.

Nhận nhiệm vụ chiến đấu, Ban chỉ huy tiểu đoàn chỉ biết được mục tiêu đánh địch qua bản đồ hành chính của thành phố Sài Gòn lúc đó. Khó khăn lớn nhất với đơn vị lúc này là lực lượng địch ở từng mục tiêu có bao nhiêu, chúng tổ chức bố phòng thế nào, sức mạnh chiến đấu ra sao… ta chưa nắm được. Địa hình lại mới lạ, lực lượng biệt động dẫn đường không còn. Cán bộ và chiến sĩ trong đơn vị vừa trải qua thời gian dài chiến đấu, liên tục đánh địch từ Buôn Ma Thuột, trên trục đường 21, đến Nông Trại, quận lỵ Phước An, đèo Phượng Hoàng xuống thành phố Nha Trang và quân cảng Cam Ranh. Sau đó lại hành quân thần tốc vào tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng các đơn vị bạn đánh địch trong quá trình thọc sâu ở quận lỵ Củ Chi, trung tâm huấn luyện Quang Trung, ngã ba Bà Quẹo… Mặc dù có nhiều khó khăn, tôi cùng với anh Hòa, anh Bùi Văn Đảo và Nguyễn Văn Việt trong Ban chỉ huy tiểu đoàn nhanh chóng trao đổi và hạ quyết tâm: Đại đội 9 tiến công ở hướng chủ yếu, đánh theo đường Hoàng Hoa Thám vào sở chỉ huy của Sư đoàn dù, phát triển sang bắt liên lạc và bảo vệ phái đoàn quân sự ta ở trại Đa-vít. Đại đội 11 tiến công trên hướng quan trọng, đánh chiếm Bộ Tư lệnh không quân ngụy. Đại đội 10 là lực lượng dự bị sẵn sàng bước vào chiến đấu trên cả hai hướng, sau đó phát triển tiến công đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 5 không quân và sân bay Tân Sơn Nhất. Để tạo thuận lợi cho các hướng tiến công khi gặp địch, tiểu đoàn tổ chức đợt hỏa lực mạnh, bắn phá sở chỉ huy Sư đoàn dù và Bộ Tư lệnh không quân ngụy, các đơn vị nhanh chóng vận động tiếp cận, tổ chức hỏa lực bắn gối, đồng loạt xung phong đánh chiếm mục tiêu theo quy định.

Ảnh chụp ở Trại Đa-vít năm 1976. Thứ ba từ trái sang: Tác giả, Trung đoàn trưởng Vũ Văn Tài, Chính trị viên Nguyễn Văn Việt cùng đồng đội. Ảnh do tác giả cung cấp.

Trước quyết tâm và sức mạnh đánh địch của bộ đội ta, quân địch lúc đầu tuy có bị bất ngờ, nhưng Sư đoàn dù là lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch vẫn ngoan cố dựa vào công sự và trận địa để chống trả quyết liệt. Do có kinh nghiệm tác chiến, nhất là sự vận dụng sáng tạo cách đánh của bộ đội ta: Khi tiến công vào các mục tiêu, các hướng đều tập trung lực lượng đánh vào hai bên sườn quân địch là chính. Bằng sức mạnh và cách đánh hiểm đó, quân địch đã lần lượt bị tiêu diệt, lực lượng còn lại buộc phải rút lui từng bước, các đơn vị nhanh chóng chuyển sang hành tiến. 10 giờ, Đại đội 9 đánh chiếm được sở chỉ huy Sư đoàn dù, phát triển sang trại Đa-vít bắt liên lạc với phái đoàn quân sự ta. Giây phút mừng vui đã đến, gặp lại chiến sĩ ta, tuy trên khuôn mặt và quần áo còn lấm đầy bụi khói chiến trường, những cái ôm hôn thắm thiết, những giọt nước mắt xúc động sau bao ngày xa cách. Các đồng chí trong phái đoàn quân sự phải trải qua thời gian dài sống trong sự o ép, vây hãm và đe dọa của kẻ thù, nay được tự do gặp lại đồng chí và đồng đội của mình, lại được đón mừng ngày đại thắng của toàn dân tộc sắp đến, ai nấy đều rất vui mừng và phấn khởi. Đoàn trưởng Hoàng Anh Tuấn, Đoàn phó Võ Đông Giang đều căn dặn chỉ huy và chiến sĩ trong đơn vị: Kẻ thù còn đó, chúng vừa bị đánh, buộc phải rút lui, súng còn đang nổ rất dữ dội ở khắp mọi nơi. Tuy vậy, giờ chiến thắng sắp đến, các đồng chí phải tìm ra cách đánh thắng quân địch, hạn chế không để cán bộ và chiến sĩ ta bị thương vong nhiều…

11 giờ 10 phút ngày 30-4-1975, Tiểu đoàn 6 của chúng tôi đã làm chủ hoàn toàn sân bay, cắm cờ ở sở chỉ huy Sư đoàn dù, Bộ Tư lệnh không quân, đài chỉ huy và cụm cảng hàng không ở sân bay Tân Sơn Nhất… Sau đó, một mũi tiến công của tiểu đoàn đã nhanh chóng phát triển sang, phối hợp với đơn vị bạn đánh địch ở lục quân công xưởng, hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu được giao.

Thiếu tướng, PGS. TS. Bùi Thanh Sơn
qdnd.vn

Chiến sĩ Điện Biên “dấn thân” vào trận tuyến mới

Tới thăm nhà riêng của ông tại khu C7 – Nghĩa Tân (Cầu Giấy, Hà Nội), tôi ngạc nhiên khi thấy ông khá rành vi tính, internet và cả… chuyện thương trường. Ông bảo, từ ngày về hưu, rồi cùng cô con gái mở công ty riêng, người ta vẫn hay gọi ông là doanh nhân, nhưng với ông, hai chữ “doanh nhân” vẫn cần phải bàn thảo nhiều. Gặp và trò chuyện với ông, ít ai nghĩ rằng Đại tá, Cựu chiến binh Phạm Xuân Phương đã ở tuổi 81 và từng là cán bộ tiền khởi nghĩa…

Cuộc đối thoại thú vị với tướng Pháp Bi-gia

Ông Phạm Xuân Phương là người được sinh ra trong một gia đình viên chức có nghề thợ nhuộm ở phố Hàng Đào (Hà Nội). Khi mới 16 tuổi và đang học trường Tây, cậu học sinh Phạm Xuân Phương được bạn bè rủ tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào học sinh cứu quốc của Hà Nội. Có tên trong số hai chục thanh niên được chọn lên Chiến khu hoạt động, Phạm Xuân Phương đã bí mật bỏ nhà đi theo cách mạng. Được biên chế vào trung đội Giải phóng quân, ông là người ít tuổi nhất. Ông tâm sự: “Ngày ấy, chúng tôi hiểu rất rõ điều gì đã thôi thúc các cô, cậu học trò sớm trở thành những chiến sĩ Việt Minh, đó là vì dân ta chết đói quá nhiều, vì dân ta đang phải chịu ách áp bức “một cổ hai tròng” của Pháp, Nhật,… Cảnh tượng ấy đã thôi thúc chúng tôi đi theo cách mạng và nhiều người đã trở thành những “ngòi nổ” mạnh mẽ trong các cuộc kháng chiến”.

Tấm ảnh ông Phương chụp với tướng Bi-gia tại Hà Nội được  đăng trên tạp chí truyền hình “Telé 7 ngày” của Pháp (số ra ngày 1-7-1994).

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được cử đi học tại Trường Quân chính kháng Nhật rồi trưởng thành từ một cán bộ tiểu đội ở địa bàn Chiến khu 3. Là người lính trải qua hai thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Cam-pu-chia và bảo vệ biên giới phía Bắc, ông vinh dự có mặt ở nhiều chiến dịch lớn. Ông kể với tôi kỷ niệm trong lần trở lại Điện Biên Phủ năm 1994, khi ông được Trung ương Hội Cựu chiến binh giới thiệu đi cùng đoàn khách du lịch Pháp tới thăm lại chiến trường xưa, trong đoàn có tướng Mác-xen Bi-gia (Marcel Bigeard) – nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù 6 – người từng bày tỏ nguyện vọng sau khi chết được rải tàn tro xác mình xuống chiến trường Điện Biên Phủ. Khi đi cùng, ông mới biết mục đích chuyến đi của họ là làm bộ phim tài liệu về tướng Bi-gia. Sau khi được phép của các cơ quan chức năng, đoàn làm phim đã mời ông Phương cùng cộng tác với vai trò người đối thoại với tướng Bi-gia. Ông Phương là người sành tiếng Pháp, qua những cuộc trò chuyện với đoàn làm phim, ông đã làm họ ngạc nhiên bởi thứ tiếng Pháp ông  đang dùng là một thứ ngôn ngữ cổ điển, giàu hình ảnh, phong phú về từ vựng, đôi lúc ông còn dùng cả tiếng lóng của quân đội Pháp. Họ hỏi ông học tiếng Pháp ở đâu, ông bảo: “Tôi học ở Việt Nam, chính người Pháp các anh dạy tôi đấy!”. Hôm tới cứ điểm Hồng Cúm, tướng Bi-gia hỏi ông Phương:

– Ông có nhớ sự kiện ngày 16-3-1954?

– Đó là ngày ba tiểu đoàn dù của các ông đổ bộ xuống Điện Biên Phủ và có một tiểu đoàn đổ bộ ở đây, không biết đó có phải tiểu đoàn của ông?

– Chính tôi là người chỉ huy tiểu đoàn đó.

– Ông nhớ nhất điều gì?

– Khi tôi lơ lửng trên trời, thấy những làn đạn của các ông bắn lên và lúc đáp xuống bãi đổ bộ là những loạt đại bác…

– Tôi chính là người có mặt trong Trung đoàn đang bao vây Hồng Cúm. Hồi đó, may mà chúng tôi… bắn trượt ông đấy.

Câu nói dí dỏm của ông Phương và cuộc đối thoại sau 40 năm của hai người lính từng ở hai chiến tuyến sau đó đã được phát trên truyền hình Pháp. Rất nhiều người thân, bạn bè ở Pháp đã nhận ra ông Phương – người chiến sĩ tham gia Chiến dịch Điện Biên khi ở tuổi 25…

“Dấn thân” vào chốn thương trường

Sau 48 năm quân ngũ, năm 1992, ông Phương về nghỉ hưu với quân hàm đại tá. Khi biết bố mình tuy nghỉ hưu nhưng vẫn còn trăn trở với cuộc chiến chống đói nghèo, lạc hậu, cô con gái cả Phạm Thị Lan Anh đã khởi xướng ý tưởng lập công ty riêng và mời ông Phương đảm đương vai trò quản lý. Ông nhớ lại: “Vào những năm đầu thập kỷ 90, cả hai cha con tôi còn mang nặng tư duy và lối sống bao cấp, hiểu biết về chủ trương, chính sách pháp luật liên quan đến doanh nghiệp cũng còn giản đơn, nhưng tôi coi đây là một sự “dấn thân” trên trận tuyến mới”. Sau những khó khăn ban đầu, Công ty TNHH Anh Phương do ông làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, con gái ông là Giám đốc đã dần đứng vững với thương hiệu bê tông thương phẩm và dịch vụ công nghiệp. Giờ đây, sau hơn 10 năm, công ty do cha con ông gây dựng đã trở thành Công ty cổ phần Bê tông và xây dựng A&P với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt mức 20-25%, lương bình quân của người lao động đạt 3,4 triệu người/tháng. Ông bảo: “Một công ty do hai cha con cùng khởi nghiệp, nhưng chính con gái tôi là người táo bạo khởi xướng, khác hẳn với công ty gia đình kiểu phương Tây trong đó người cha gây dựng, quản lý và điều hành rồi chuyển giao cho con cái”.

Ở tuổi 81 nhưng hằng ngày ông Phương vẫn miệt mài làm việc bên máy vi tính.

Không muốn là người đóng vai trò “danh dự” trong công ty, ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, giúp con gái định hướng, tổng kết hoạt động. Thông qua các mối quan hệ cũ, mới ở trong và ngoài nước, ông trực tiếp phụ trách các hoạt động xã hội, từ thiện và mảng chấp hành chính sách với người lao động. Doanh nghiệp của ông đã tham gia nhiều hoạt động từ thiện như: viện trợ xây dựng Bệnh viện Bình Gia (Lạng Sơn); hỗ trợ nuôi dạy trẻ em đường phố Đà Nẵng; đóng góp, tôn tạo di tích làng cổ Đường Lâm và chùa Mía (Sơn Tây, Hà Nội). Như ông tự nhận: “Tôi chỉ làm chỗ dựa tinh thần cho con gái và đảm đương vai trò “người cầm trịch” trong công ty”, nhưng với ý thức trách nhiệm của một đảng viên làm kinh tế tư nhân, ông còn đóng góp ý kiến, tham luận tại một số diễn đàn, hội thảo.

Năm 1998, tại cuộc gặp gỡ 800 doanh nghiệp tiêu biểu do Văn phòng Chính phủ phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Phương đã có bài phát biểu được nhiều người đánh giá cao. Ý kiến của ông khi đó có nhiều điểm khá mới bởi ông đã mạnh dạn đề cập tới chuyện đảng viên làm kinh tế tư nhân. Theo ông, mặt trận chống đói nghèo đòi hỏi đảng viên phải là người tiên phong bởi mình là đảng viên mà nghèo, lại không biết làm ăn thì khó có thể vận động được người khác. Bởi vậy, người đảng viên không những phải tự mày mò, tìm bước đi để thành công trong việc làm kinh tế mà còn phải tự đổi mới tư duy để chiến thắng cái cũ kỹ, lạc hậu. Ông nêu lên những trăn trở của mình về hai chữ “doanh nhân”, khi mà những người từ tầng lớp “con buôn” trước đây đã trở thành lớp người được trọng thị và có nhiều đóng góp trong xã hội. Theo ông, các cấp, ngành cần dày công nghiên cứu, tìm hiểu kỹ hơn về họ, phải nhận diện doanh nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau và đi sâu tìm hiểu những nét khác biệt của từng thành phần kinh tế trong một cộng đồng doanh nhân đa dạng về quy mô, tính chất, từ đó mới có thể đưa ra được nhiều đường lối, chính sách “đúng và trúng” về đội ngũ này.

Như lời ông tâm sự, cả đời ông trước sau vẫn chỉ là một người lính, một đảng viên bình thường với niềm tự hào nho nhỏ là đã đem hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ ở mỗi “trận tuyến”. Những năm tháng thử sức trong cơ chế thị trường đã đem lại cho ông nhiều niềm vui, nhưng đó cũng là quãng thời gian ông da diết nhớ tới đồng chí, đồng đội, những người đã cùng ông chia ngọt sẻ bùi và mãi mãi nằm xuống để ông, gia đình ông và tất cả chúng ta có được ngày hôm nay…

Bài và ảnh: Minh Tuệ
qdnd.vn

Hỏi cung Đại tá tù binh Nguyễn Văn Thọ

Cựu chiến binh Phan Thiện Quốc – người tham gia hỏi cung Nguyễn Văn Thọ trong Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Ảnh: Hùng Khoa.

QĐND – Năm 1971, ông Phan Thiện Quốc đang là trợ lý ở Cục Nghiên cứu – Tổng cục Chính trị (nay là Cục Dân vận-Tổng cục Chính trị) thì được cử làm phái viên Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào với nhiệm vụ theo dõi công tác binh địch vận kết hợp với tác chiến của các đơn vị. Ông nhớ lại kỷ niệm trong lần tham gia hỏi cung viên Đại tá tù binh Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3 ngụy…

“Đầu tháng 3-1971, chúng tôi nhận được điện chỉ đạo từ Hà Nội là phải kiểm tra thông tin và tranh thủ khai thác viên Đại tá tù binh Nguyễn Văn Thọ – Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3 – bị Quân Giải phóng bắt sống ngày 25-2-1971 để kịp thời đáp trả những tin tức bịa đặt mà báo chí của chính quyền Sài Gòn đang rêu rao là: “Đại tá Thọ đã thoát về hậu cứ an toàn”. Thật dễ hiểu bởi trước thất bại đau đớn, địch đành cố lấy lại tinh thần của quân lính và vớt vát hư danh của một binh chủng từng được coi là “Thiên thần mũ đỏ”, “con át chủ bài tin cậy của nền Cộng hòa”, kẻ địch lo sợ binh chủng dù mà thua trận thì khác nào “gươm kề tận cổ”.

Nhận chỉ thị của cấp trên, trong một gian nhà lá đơn sơ tại Mặt trận Đường 9 – Nam Lào, tôi, anh Mặc Lâm cùng Cục phó Nguyễn Văn Thường và một số phóng viên mặt trận đã có mặt để chuẩn bị cho buổi khai thác viên Đại tá tù binh. Chúng tôi đang chăm chú ngồi theo dõi tấm bản đồ chiến dịch thì một Chiến sĩ giải phóng dẫn một tù binh mang sắc phục binh chủng dù ngụy có thân hình béo mập, mặt ỉu xìu đi tới. Anh Thường cho phép tên tù binh được ngồi. Viên tù binh rón rén ngồi xuống sau khi được cởi trói. Vẫn động tác rất nhà binh, anh ta ngồi nghiêm, mắt nhìn phía trước. Có lẽ trong đầu viên sĩ quan này đang hình dung những ngón đòn từ roi điện, dùi cui… như đã từng thấy trong các cuộc tra hỏi của Mỹ ngụy. Thật bất ngờ với kẻ có tội vừa mới bị bắt, đồng chí Thường dùng từ “anh” và xưng “tôi” để hỏi cung: “Anh khai họ tên, chức vụ, ngày và nơi bị bắt?”. “Dạ thưa ông, tôi tên là Nguyễn Văn Thọ, Đại tá, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3, bị bắt ngày 25-2-1971 tại đồi 31, khu vực cao điểm 456 Đường 9 – Nam Lào…”.

Từ lời khai của Thọ và theo thông tin do các cán bộ địch vận của ta nắm được, viên Lữ trưởng Nguyễn Văn Thọ quê ở Vũng Tàu và được sinh ra trong một gia đình có 11 người con. Năm 1969, Thọ về nắm Lữ đoàn dù 3 từ tay Nguyễn Khoa Nam, sau đó Thọ tham gia các trận đánh tại Cuộc hành quân Chen-la 1 ở chiến trường Cam-pu-chia và bị thương ở chân. Với cái chân cà nhắc, nhưng Thọ vẫn tuân lệnh cấp trên lao vào chiến dịch “Lam Sơn 719” theo cách gọi của quan thầy Mỹ. Thọ có kể lại rằng anh ta đã từng rất hy vọng sau chiến dịch sẽ được cấp trên “quan tâm” cất nhắc cho cái lon tướng để sớm được “bằng anh bằng em”… Nhưng sự thất bại của Lữ đoàn dù 3 tại Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào đã làm cho giấc mộng “đeo lon tướng” của Thọ bị tiêu tan.

Nguyễn Văn Thọ (ngồi thứ hai từ phải sang) trình diện trước các nhà báo sau khi bị bắt. Ảnh tư liệu

Tại buổi hỏi cung, Thọ kể quân lính Việt Nam Cộng hòa khá bất ngờ với sự xuất hiện của xe tăng Quân Giải phóng, vì thế quân ngụy đã hốt hoảng nằm rạp xuống công sự, súng chống tăng M72 cũng không phát huy tác dụng. Viên đại tá tù binh còn kể khá chi tiết tại thời điểm bị bắt: “Quân lính chúng tôi khi bị các ông tấn công mạnh thì ai nấy tìm đường tháo chạy. Còn tôi, tứ phía đang bị vây hãm, không biết tính sao, tôi đành giả chết để lẩn trốn. Tôi vẫn nghe bên ngoài tiếng la thét xung phong, tiếng xe tăng gầm rú, biết binh lính của các ông đã đánh chiếm sở chỉ huy, xộc vào các chiến hào. Tôi thoáng nghe tiếng loa: “Không thoát được đâu, hàng thì sống, chống thì chết!”. Tôi chỉ kịp đứng dậy, giơ hai tay lên và bị bắt”. Khi được hỏi: “Anh nghĩ sao về cuộc hành quân Lam Sơn 719?”, Thọ khai báo rõ ràng, trôi chảy những vấn đề như đã được cân nhắc, suy nghĩ kỹ: “Ngay sau cuộc họp của các sĩ quan cao cấp trong Quân lực Việt Nam cộng hòa để tổ chức hợp đồng giữa các quân binh chủng trong chiến dịch, chúng tôi đã nói nhỏ với nhau rằng cuộc hành quân sẽ thất bại vì năm 1968 quân Mỹ ở Đường 9 – Khe Sanh trong một hệ thống công sự kiên cố lại được chi viện phi pháo tối đa mà còn thất bại. Đến Đường 9 – Nam Lào, chúng tôi không có bộ binh Mỹ tham gia, chỉ có yểm trợ bằng phi pháo, lại đụng độ với các ông, một đội quân chủ động trên một chiến trường đã được “lót ổ” thì thất bại là một điều đã được báo trước”. Khi trả lời câu hỏi cuối: “Anh có nguyện vọng gì?”, Nguyễn Văn Thọ đứng bật dậy, quên rằng mình đang là một tù binh, anh ta nói như muốn khóc: “Dạ thưa, cho tôi được nhắn về gia đình, vợ con rằng tôi vẫn mạnh khỏe và được đối xử khoan hồng”.

Phan Thiện Quốc (kể) – Bùi Vũ Minh (ghi)
qdnd.vn

Bộ mặt thật của các “nhà dân chủ”

LTS: Sau một thời gian điều tra, thu thập chứng cứ, ngày 2-3-2007, Cơ quan An ninh điều tra, Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án “Tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 88, Bộ Luật Hình sự. Ngày 6-3-2007, Cơ quan An ninh đã ra lệnh bắt, tạm giam đối với Nguyễn Văn Đài, nguyên trưởng văn phòng luật sư Thiên Ân, nguyên giám đốc Công ty TNHH tư vấn Luật Việt và Lê Thị Công Nhân, nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân, có trụ sở tại số 10 Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Báo Quân đội nhândân cung cấp một số thông tin để bạn đọc nhận rõ bộ mặt thật của Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân cùng đồng bọn lợi dụng tự do, dân chủ, tôn giáo tổ chức các hoạt động chống phá nhà nước ta.

Kẻ chủ mưu đội lốt “nhà lý luận”

Đội lốt là “nhà lý luận” của cái gọi là “phong trào dân chủ Việt Nam”, Nguyễn Văn Đài đã viết một loạt bài với nhan đề: “Quyền tự do thành lập đảng”, “Dân trí và dân chủ”, “Xã hội dân sự ở Việt Nam”… đăng trên trang web của một số phương tiện thông tin phương Tây. Mục đích để Đài chuẩn bị dư luận và thông qua đó, móc nối với một số tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài nhằm thực hiện ý đồ hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam. Đặc biệt, Đài còn là người trực tiếp soạn thảo điều lệ của cái gọi là “đảng dân chủ 21” gồm 3 chương, 10 điều với nội dung hết sức sơ sài và khá nực cười. Ví dụ, tại “điều 4” của “điều lệ” trên, Đài viết: “Bất kỳ ai có đủ độ tuổi (15 tuổi trở lên), thừa nhận cương lĩnh chính trị, điều lệ đảng thì tự tuyên thệ là đảng viên đảng dân chủ. Nếu sinh hoạt một mình thì tự ký thẻ đảng”. Hoặc ở “điều 5″ Đài viết: “Khi đảng viên cao tuổi, sức yếu không còn thừa nhận cương lĩnh chính trị, điều lệ đảng thì tự tuyên bố ra khỏi đảng…”. Những nội dung trên cho thấy sự “ra, vào” cái gọi là “đảng dân chủ 21” của Đài còn dễ hơn ra vào một… cái chợ. Đặc biệt, theo những điều mà Đài liệt kê trong cái gọi là “Điều lệ đảng dân chủ 21”, Đài không hề giấu giếm ý đồ muốn giành chính quyền ở Việt Nam khi tính đến khả năng “đảng dân chủ 21” giành thắng lợi trong cuộc bầu cử toàn quốc, chủ tịch đảng sẽ là người đứng đầu chính phủ, hoặc chủ tịch đảng là ứng cử viên đương nhiên và duy nhất của cái gọi là “đảng dân chủ 21” trong cuộc bầu cử toàn quốc để lựa chọn ra người đứng đầu nhà nước Việt Nam. Như vậy, với cái mác là “nhà lý luận”, Nguyễn Văn Đài đã lộ rõ là kẻ lợi dụng quyền dân chủ để thực hiện mưu đồ chính trị của cá nhân.

Nguyễn Văn Đài, sinh ngày 6-5-1969, quê ở Dạ Trạch, Châu Giang (nay là huyện Khoái Châu), Hưng Yên, trú tại phòng 302, Z8, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đài được bố mẹ nuôi cho ăn học và thừa hưởng nhiều ưu đãi của cơ quan nơi bố đẻ công tác, được ưu tiên cho đi đào tạo nghề ở nước ngoài. Sau khi về nước, Đài lại được cơ quan của bố tạo điều kiện thuận lợi để theo học đại học Luật. Đáp lại sự ưu ái và kỳ vọng của không ít người trong gia đình và tập thể, Đài “đền ơn” bằng cách sử dụng những kiến thức đã học, núp bóng dưới danh nghĩa luật sư và công ty hỗ trợ pháp lý để lôi kéo, tụ tập, móc nối với các phần tử phản động trong và ngoài nước, tiến hành nhiều hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Không chỉ lợi dụng quyền tự do ngôn luận mà pháp luật Nhà nước ta cho phép để thực hiện mưu đồ chính trị của mình, Đài còn liên hệ với Hoàng Minh Chính, thống nhất kế hoạch tuyên bố khôi phục hoạt động cái gọi là “đảng dân chủ 21″ và vận động một số phần tử bất mãn trong nước tham gia. Đài còn là người chủ trò trong việc liên hệ và bố trí cho Trần Khuê với danh nghĩa là “phó tổng thư ký đảng dân chủ 21” lén lút gặp một số nhân viên ngoại giao nước ngoài tại Hà Nội để tuyên bố công khai tổ chức này trong nước vào ngày 30-5-2006. Không chỉ “tích cực” lôi kéo các phần tử bất mãn trong nước tham gia cái gọi là “đảng dân chủ 21”, Đài còn cấu kết với Trần Ngọc Thành là “phân bộ trưởng tập hợp dân chủ đa nguyên” và chủ bút báo “Đàn chim Việt” ở nước ngoài thành lập tổ chức có tên là: “Công đoàn độc lập Việt Nam”. Để thực hiện ý đồ này, ngày 20-9-2006, Đài cử Trần Văn Hoà ở Quảng Ninh đi nước ngoài trực tiếp gặp Trần Ngọc Thành để bàn bạc việc thành lập cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam” ở trong nước, đồng thời hứa trả 1000USD/tháng cho Hoà nếu tham gia tổ chức này. Tuy nhiên sau khi bị bắt, nhận thấy âm mưu đen tối của Đài, Trần Văn Hoà đã tỏ rõ thái độ ăn năn. Hoà khai nhận: “… việc thành lập “công đoàn” là trái pháp luật Việt Nam, việc đi nước ngoài để gặp Trần Ngọc Thành là vô tình tiếp tay cho những hành động sai trái không đúng với quy định của pháp luật Việt Nam…”. Do không thực hiện được ý đồ cử Trần Văn Hoà đi nước ngoài để gặp Trần Ngọc Thành, ngày 26-10-2006, Đài lại có ý định cử Lê Thị Công Nhân ra nước ngoài để công khai hoá tổ chức cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam”, đồng thời phối hợp với Thành vận động các công đoàn trên thế giới thành lập tổ chức “Ủy ban yểm trợ công đoàn độc lập Việt Nam” từ bên ngoài.

Nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, Đài đã thống nhất với Trần Ngọc Thành để Nguyễn Khắc Toàn đứng tên làm “chủ tịch” tổ chức cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam”, nhưng thực chất mọi hoạt động đều do Đài trực tiếp điều hành và chỉ đạo. Với bản thân mình, Đài chỉ đề xuất trong vai trò luật sư của cái gọi là “đảng dân chủ 21” và các tổ chức do Đài và đồng bọn dựng lên. Tuy nhiên, khi cần ra nước ngoài, Đài lại chủ động “đặt vấn đề” với ban tổ chức các cuộc hội thảo do một số tổ chức phi chính phủ chủ trì mời Đài sang với tư cách là “đại diện đảng dân chủ Việt Nam”. Dù “hoạt động” tinh vi tới mức nào và núp dưới vỏ bọc gì thì những thủ đoạn của Đài và đồng bọn cũng không thể qua mắt được quần chúng nhân dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Cùng thời gian trên, theo sự “chỉ đạo” của một số cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài như: Vũ Quốc Dụng, Phạm Nam Định, Đoàn Viết Hoạt… và các tổ chức phản động như: “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”, “Họp mặt dân chủ”… để thành lập cái gọi là “Uỷ ban nhân quyền Việt Nam” do Đài đứng đầu, với sự tham gia của Phạm Văn Trội, Bạch Ngọc Dương, Lương Duy Phương. Đài giao cho Lương Duy Phương phụ trách trực tiếp việc liên lạc, tiếp xúc với một số nhân viên cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế tại Hà Nội. Công việc cụ thể được Đài giao cho nhóm của Trội, Phương và Dương là: Hằng ngày thu thập những thông tin mà chúng coi là “bằng chứng Việt Nam đàn áp dân chủ, nhân quyền” để “tổng hợp” đưa lên cái gọi là “hãng tin tự do” (FNA) trên mạng internet và hằng tháng gửi “báo cáo” cho các đối tượng phản động lưu vong người Việt. Thực chất, thông qua những “hoạt động” trên, Đài yêu cầu một số đối tượng phản động lưu vong tài trợ cho cái gọi là “Uỷ ban nhân quyền Việt Nam” hằng tháng là 850USD, trong đó Đài và Phạm Văn Trội được hưởng 200USD/người; Lương Duy Phương và Bạch Ngọc Dương: 150USD/người, chi phí văn phòng: 150USD. Như vậy, dù “tiến hành” dưới hình thức nào, kẻ chủ mưu đội lốt “nhà lý luận” cũng không quên lợi ích cá nhân. Đặc biệt, Đài lợi dụng sự bất mãn của một số đối tượng, cũng như lòng tốt của một số người nhẹ dạ để tuyên truyền, xuyên tạc tình hình đất nước, lôi kéo, kích động hòng hướng họ đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Không chỉ lợi dụng danh nghĩa luật sư, mặc dù gia đình không ai theo đạo, nhưng riêng Đài xin làm tín đồ đạo Tin lành. Đây là quyền tự do tín ngưỡng, hoặc không tín ngưỡng của mỗi công dân Việt Nam đã được pháp luật Nhà nước ta thừa nhận. Khi trở thành tín đồ đạo Tin lành, do có kiến thức về luật, nên Đài được giao giữ chức Uỷ viên pháp chế Hội đồng quản trị sản nghiệp Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc. Tuy nhiên, do có những hoạt động khuất tất, đi ngược lại những điều răn dạy của giáo hội, mặc dù đã được Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc nhiều lần nhắc nhở, thuyết phục, nhưng bất thành, nên tại phiên họp toàn thể ngày 13-6-2006, Ban trị sự Tổng hội đã quyết định miễn nhiệm chức ủy viên pháp chế Hội đồng quản trị sản nghiệp Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc đối với Nguyễn Văn Đài.

Lợi dụng, lôi kéo sinh viên nhẹ dạ

Hòng che đậy những hoạt động đen tối của mình, thực hiện sự “chỉ đạo” của bọn phản động lưu vong người Việt, Đài đã xúc tiến thành lập văn phòng luật sư Thiên Ân. Không giống như các văn phòng luật sư khác, kể từ khi thành lập (2003) cho đến lúc bị bắt, Đài không tham gia bào chữa cho bất kỳ một thân chủ nào. Tuy vậy, Đài vẫn có tiền để hưởng thụ, trả lương nhân viên, chi phí các hoạt động văn phòng và mua sắm trang thiết bị. Thực chất, Đài núp dưới danh nghĩa trưởng văn phòng luật sư Thiên Ân và giám đốc Công ty TNHH tư vấn Việt Luật, để lôi kéo người tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước. Các tổ chức phản động lưu vong đã tài trợ cho hắn triển khai cái gọi là “dự án vì công lý”, hỗ trợ pháp lý cho những người khiếu kiện trong nước. Đài dùng số tiền “kiếm được” từ các tổ chức phản động lưu vong thông qua hình thức hỗ trợ học bổng, tuyên truyền, lôi kéo một số sinh viên ngành luật, nhằm “phát triển lực lượng” đấu tranh lâu dài. Thông qua hình thức này, Đài xúc tiến việc “tuyển chọn” với ý định gửi ra nước ngoài “đào tạo” một số sinh viên, để sau này Đài sẽ dùng làm “hạt nhân” cho việc chống phá ở trong nước. Theo dự định, Đài cùng đồng bọn mỗi năm “mở” từ 3 đến 4 lớp, mỗi lớp khoảng từ 5 đến 7 người. Nội dung “giảng dạy” được Đài và đồng bọn xác định: tập trung giảng dạy cái gọi là “lý luận về dân chủ hoá”, phương pháp lôi kéo, kích động quần chúng, phát triển lực lượng và cách thức phối hợp giữa số chống đối ở trong nước và bọn phản động lưu vong ở nước ngoài. Toàn bộ các nội dung “giảng dạy”, Đài giao cho một số nhân viên thuộc văn phòng luật sư Thiên Ân soạn thảo, đồng thời có sự “chỉ đạo” và “kiểm duyệt” trực tiếp của Nguyễn Đình Thắng-đối tượng phản động đang sống lưu vong ở nước ngoài-thông qua mạng internet.

Trong đơn tố cáo những hành động dụ dỗ, lôi kéo của Đài và đồng bọn, Đồng Thị G, sinh viên Trường cao đẳng Phát thanh-Truyền hình 1, gửi cơ quan chức năng đã viết: “Tháng 5-2006, tôi quen Phạm Văn Trội qua internet. Sau đó Trội giới thiệu tôi với Đài. Qua tiếp xúc với Đài, tôi thấy: Đó là một người hay “giảng giải” về dân chủ, nhân quyền; nói xấu chế độ XHCN. Đặc biệt, Đài dùng nhiều lời lẽ hứa hẹn về những chuyến đi học ngắn hạn và dài hạn ở nước ngoài có tài trợ cho sinh viên chúng tôi để nâng cao trình độ. Do nhận thức còn hạn chế, hơn nữa những tưởng lời nói của Đài là sự thật, tôi đã rủ thêm một số bạn đến văn phòng luật sư Thiên Ân. Những lần Đài “thảo luận”, “trao đổi” với chúng tôi thực chất là những buổi rao giảng, xuyên tạc tình hình dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam”.

Để phục vụ cho mục đích của mình, Đài còn xúi giục một số sinh viên về các địa phương tìm thêm người, vào dịp cuối tuần, tập trung ở văn phòng luật sư Thiên Ân để “bàn thảo” những vấn đề liên quan đến “dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam”. Hành động trên cho thấy, Đài và đồng bọn đã lợi dụng lòng tốt và sự nhiệt tình của một số sinh viên, bằng những lời hứa mỹ miều như: tài trợ đi du học ở nước ngoài; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ; tạo cơ hội tìm việc làm ổn định, có thu nhập cao trong các tổ chức nước ngoài… để lôi kéo và tổ chức “đào tạo” ngay tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Các hoạt động này có sự tham gia tích cực của Trần Thanh, Phan Sỹ Nguyên, Lê Thị Công Nhân và Vũ Quốc Dụng… Đối tượng mà Đài cùng đồng bọn “ưu tiên” tuyển chọn là các sinh viên ngành luật, truyền thông, báo chí. Kinh phí để Đài “mở lớp đào tạo” do một số nhóm phản động lưu vong ở nước ngoài hỗ trợ thông qua cái gọi là “Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ”.

Chống phá, bôi nhọ để nhận tiền

Không chỉ tổ chức kích động, lôi kéo sinh viên và một số người nhẹ dạ, Đài còn nhiều lần “cử” nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân gồm: Trần Thanh, Phan Sỹ Nguyên, Nguyễn Xuân Đệ… đi các tỉnh thuộc Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ gặp gỡ một số chức sắc, tín đồ Tin lành cực đoan thu thập “tài liệu” về những cái được chúng gọi là “bằng chứng Việt Nam đàn áp đạo Tin lành” chuyển cho Ngô Thị Hiền-một đối tượng phản động đang sống lưu vong ở nước ngoài và nhân viên một số đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội sử dụng vào mục đích tuyên truyền, chống phá Nhà nước Việt Nam. Từ các tài liệu mà Cơ quan an ninh thu được cho thấy, Đài khá hào phóng cho việc trả công cho những người đi thu thập “tin tức” hoặc cung cấp “thông tin”. Chỉ tính riêng việc chi trả cho Trần Thanh trong chuyến đi thụ tin ở các tỉnh phía Nam (từ 9 đến 16-11-2006), Đài đã chi hơn 6,3 triệu đồng. Đài cũng nhiều lần trả cho đối tượng có tên là Phùng Quang Lâm mỗi lần 500.000 đồng. Ngoài việc chỉ đạo và tổ chức cho nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân thu thập, tài liệu, móc nối với các phần tử phản động lưu vong, bản thân Đài có mối quan hệ thường xuyên với nhân viên một số đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội. Mọi thông tin mà Đài cho là có liên quan đến vi phạm “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam đều được Đài cung cấp ngay cho số nhân viên đại sứ quán này.

Đài còn chỉ đạo các đối tượng như Bạch Ngọc Dương, Nguyễn Phương Anh, Phạm Văn Trội, Lê Thị Công Nhân và một số đối tượng khiếu kiện cực đoan thu thập thông tin, đơn, thư khiếu nại của quần chúng, phát tán lên mạng internet và chuyển cho các tổ chức phản động lưu vong người Việt sử dụng vào mục đích chống phá Nhà nước Việt Nam. Đài chi trả cho một số đối tượng khiếu kiện như: Dương Đại Dương, Nguyễn Thị Huần… mỗi lần “cung cấp” thông tin và phát tán thông tin lên mạng internet từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Với tư cách “nhà lý luận”, trưởng văn phòng luật sư Thiên Ân Nguyễn Văn Đài đã trả lời phỏng vấn nhiều hãng tin nước ngoài, tham gia “hội thảo” trên mạng internet do bọn phản động lưu vong người Việt ở nước ngoài tổ chức. Nội dung các bài viết, trả lời phỏng vấn, tham gia “hội thảo” đều nhằm tuyên truyền xuyên tạc tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam; phê phán chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta; kêu gọi cộng đồng người Việt ở nước ngoài và người nước ngoài tẩy chay hàng hoá Việt Nam; kêu gọi không cho Việt Nam gia nhập WTO và hưởng quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn với Hoa Kỳ, nếu “không cải thiện về nhân quyền và dân chủ”.

Để duy trì các “hoạt động” tuyên truyền chống phá Nhà nước, Đài thường xuyên nhận sự hỗ trợ về vật chất và lên dây cót về mặt tinh thần của bọn phản động lưu vong và các thế lực thù địch với Việt Nam từ nước ngoài. Đài được nhiều nhóm phản động lưu vong ở nước ngoài tâng bốc đánh giá rằng: “Hoàng Minh Chính chỉ là… viên gạch lát đường, cốt lõi sẽ là thành phần trẻ như Đài”. Đặc biệt, bọn chúng còn cho rằng: “Hoạt động của Đài nằm trong “kế hoạch rộng lớn của phía Tin lành…”. Chúng chỉ đạo Đài xây dựng cái gọi là “ủy ban nhân quyền”, hoạt động cả bề nổi lẫn bề chìm. Theo đó, những đối tượng đã lộ diện tiếp tục hoạt động công khai thách thức với chính quyền; phần chìm là thu thập thông tin, hình ảnh về cái gọi là “vi phạm nhân quyền và dân quyền” chuyển ra nước ngoài. Để thực hiện sự chỉ đạo trên, các tổ chức phản động tài trợ khá nhiều tiền cho các hoạt động chống đối của Đài.

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, Đài đã nhận được hơn 60.000 USD tiền tài trợ của nhóm Phạm Nam Định và Nguyễn Đình Thắng. Đơn cử như Đài đã được Nguyễn Đình Thắng tài trợ 1819,39USD/tháng bao gồm: Lương của Đài: 700USD/tháng; lương cho nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân: 700 USD/tháng, thiết bị, chi phí văn phòng: 299,39USD/tháng; tài trợ học bổng cho 4 sinh viên luật tổng cộng 120USD/tháng… Sau khi bị bắt, tại Cơ quan An ninh, Đài thừa nhận: “Hằng tháng, trung bình “bên ngoài” gửi cho tôi hơn 1000 USD. Tôi giữ lại phục vụ mục đích tiêu xài cá nhân từ 600 đến 700 USD, số còn lại chi trả lương cho nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân và hỗ trợ một số hoạt động khác”.

Như vậy, trước đây, bọn phản động lưu vong tập trung tung hô Hoàng Minh Chính, coi đây là “con bài chiến lược”, người “đại diện” cho nền dân chủ và bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam, thì nay, chúng lại tập trung cho Đài. Thực chất, chiêu bài này cho thấy khi cần, chúng sẵn sàng chi trả và hậu thuẫn ra vẻ hào phóng, nhưng khi không còn phát huy “tác dụng” Đài sẽ lại chỉ là “những viên gạch lát đường” mà thôi. Rõ ràng, Đài chỉ là con bài trong những toan tính vụ lợi của bọn phản động lưu vong. Căn cứ vào những chứng cứ mà cơ quan chức năng thu giữ cho thấy, phần lớn số tiền có được từ sự “tài trợ” của các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, Đài đã dành chi tiêu cá nhân. Việc chi trả lương cho các nhân viên của văn phòng luật sư Thiên Ân, cùng các khoản chi phí hỗ trợ cho các đối tượng khác chỉ chiếm một phần nhỏ.

“Buộc án, gán tội” để lừa gạt

Trong số đồng bọn của Nguyễn Văn Đài thì Trần Khải Thanh Thủy là một trong những trợ thủ đắc lực nhất. Ngày 21-4-2007, sau khi có đầy đủ chứng cứ về hành vi phạm tội tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, theo điều 88-Bộ luật Hình sự, Công an thành phố Hà Nội đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Trần Khải Thanh Thủy. Đúng thời điểm bị các chiến sĩ an ninh bắt giữ, Thủy đang phát tán 30 bài viết có nội dung chống Đảng, chống Nhà nước, xuyên tạc, vu cáo các cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước ta. Thủy là đối tượng chuyên sử dụng “kỹ năng” của mình vào việc lừa gạt, vụ lợi. Những năm qua, đã có không ít người dân nhẹ dạ vô tình đã trở thành nạn nhân của nữ quái Trần Khải Thanh Thủy. Sinh năm 1960 tại Hà Tây, trú tại số 16, ngách 670/25 Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, Long Biên, Hà Nội, Thủy đã từng là giáo viên, rồi phóng viên một số tờ báo, nhưng do thiếu đạo đức nghề nghiệp, vi phạm kỷ luật công tác nên đã bị các cơ quan kỷ luật và sa thải.

Sau nhiều lần bị kỷ luật và buộc thôi việc, Thuỷ đã bộc lộ tư tưởng bất mãn, tỏ thái độ đồng tình với một số cá nhân có quan điểm sai trái, đi ngược lại đường lối, chính sách của Đảng, lợi ích nhân dân. Thuỷ cấu kết với một số đối tượng như Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Dương Thu Hương… sưu tầm, phát tán nhiều tài liệu chống phá Nhà nước ta. Ngày 21-10-2002, Cơ quan An ninh đã bắt quả tang Thuỷ đang phát tán 90 trang tài liệu có nội dung phản động. Khám nhà đối tượng, Cơ quan An ninh còn phát hiện và thu giữ 89 đầu tài liệu gồm hơn 2500 trang đều mang nội dung phản động.

Mặc dù đã nhiều lần được cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân gặp gỡ, giáo dục, răn đe, nhưng với bản chất ngông cuồng, ngoan cố, lại được sự tiếp tay, cổ vũ của các đối tượng phản động trong và ngoài nước, núp dưới danh nghĩa “nhà báo”, Thuỷ đã sử dụng nhiều bút danh khác nhau như: Nguyễn Thái Hoàng, Võ Quế Dương, Phạm Xuân Mai… để “soạn thảo” khoảng 190 bài viết có nội dung xuyên tạc tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ và nhân quyền phát tán lên mạng Internet và chuyển cho bọn phản động người Việt lưu vong. Để có được những “tư liệu” phục vụ cho mục đích của mình, Thuỷ đã mạo danh phóng viên báo Phụ nữ, lợi dụng sự cả tin, tính thật thà của một số người dân đang gặp phải những vướng mắc trong cuộc sống chưa được chính quyền cơ sở giải quyết kịp thời để lừa gạt họ cung cấp thông tin. Từ những thông tin thu được, Thuỷ viết bài bôi nhọ bản chất của chế độ xã hội ta. Trong đơn tố cáo, nhiều người dân cùng ký tên gửi Cơ quan An ninh viết: “… Do biết một số người có những vấn đề bức xúc chưa được chính quyền cơ sở giải quyết, nên khoảng đầu tháng 4-2005, một phụ nữ đến gặp chúng tôi và tự giới thiệu là “nhà văn, nhà báo” có tên là Trần Khải Thanh Thuỷ, ở Đức Giang, Gia Lâm, Hà Nội. Thuỷ còn cho chúng tôi số điện thoại, địa chỉ nhà riêng và mời bà con ai muốn viết bài kêu oan thì đến nhà riêng Thuỷ sẽ giúp. Chúng tôi nghĩ đây là “người tốt”, muốn giúp đỡ bà con, đâu ngờ, những bài Thủy viết, mỗi sự việc cụ thể mà chúng tôi cung cấp đều bị lợi dụng, để vu khống, bịa đặt, “buộc án, gán tội”. Trong các bài viết đó, Thuỷ dùng những câu từ phản động để nói xấu Đảng, Nhà nước ta. Nội dung các bài viết của Thuỷ hoàn toàn sai sự thật. Chúng tôi cho rằng, đó là hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, phải nghiêm trị thích đáng. Cùng là phụ nữ Việt Nam, cùng nòi giống con Lạc cháu Hồng, nhưng Thuỷ táng tận lương tâm, lừa gạt bà con. Chúng tôi vô cùng phẫn nộ trước những hành vi sai trái của Thuỷ, đã lợi dụng sự đau khổ để vu khống, gán ghép, chà đạp nhân phẩm của chúng tôi…”.

Đặc biệt, Thuỷ đã lợi dụng danh nghĩa của nhiều người dân, viết bài xuyên tạc tình hình đất nước, phát tán lên mạng Internet, kích động người dân khiếu kiện, gây rối, biểu tình chống chính quyền để nhận tiền “tài trợ” của các tổ chức phản động lưu vong. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ cuối năm 2005 đến khi bị bắt, Thuỷ đã nhận được 12.350 USD, 200EUR và 400 đô-la Ô-xtrây-li-a từ các cá nhân, tổ chức phản động người Việt lưu vong. Thuỷ luôn mồm rêu rao: Dùng số tiền trên để “hỗ trợ” cho một số người dân đi khiếu kiện và cung cấp “thông tin” cho các bài viết của mình, nhưng thực chất sử dụng phần lớn để tiêu xài cá nhân. Điều này cũng được thể hiện rõ trong đơn tố cáo mà nhiều người dân gửi đến Cơ quan An ninh: “… Chúng tôi được biết, sau mỗi lần “bán mình cho quỷ dữ”, Thủy kiếm được khá nhiều tiền. Trước khi “moi” tin từ chúng tôi, Thuỷ luôn nói: Nhận được tiền “tài trợ” sẽ hỗ trợ cho bà con đi khiếu kiện, đòi lại “công bằng” cho chính mình. Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ có khoảng vài chục người được Thuỷ cho tiền, mỗi lần từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng…”.

Được sự “cổ vũ”, kích động của các cá nhân, tổ chức phản động người Việt lưu vong, Thuỷ ngày càng hoạt động trắng trợn, bộc lộ rõ thái độ chống đối, phủ nhận những thành tựu đổi mới của đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Để trở thành kẻ “nổi tiếng”, Thủy còn ngang nhiên thách thức chính quyền bắt và xử lý. Thủy ảo tưởng rằng, càng bị cơ quan chức năng bắt và xử lý thì càng nhận được nhiều tiền từ các cá nhân, tổ chức phản động.

Không chỉ viết bài xuyên tạc tình hình đất nước, Thuỷ còn đứng ra thành lập cái gọi là “Hội dân oan Việt Nam”. Thực chất đây chỉ là cách để Thuỷ nhận được nhiều tiền từ các nhóm phản động, thu lợi cá nhân. Theo tài liệu mà Cơ quan An ninh thu được, Thuỷ đã nhận được 1.600USD và 400 đô-la Ô-xtrây-li-a tiền “tài trợ” của các cá nhân, tổ chức phản động gửi về nhằm “duy trì hoạt động” cái gọi là “Hội dân oan Việt Nam”. Để tránh sự phát hiện của Cơ quan An ninh, Thủy “đề nghị” các nhóm phản động gửi tiền về qua địa chỉ trung gian của một số người thân. Khi những người từng bị Thủy lừa gạt tỏ thái độ nghi ngờ, phản đối hành động ăn chặn, ngay lập tức bị Thuỷ lăng mạ, khủng bố, thậm chí đe dọa, hành hung. Ngay cả đối tượng cơ hội chính trị như Nguyễn Khắc Toàn cũng cho rằng: “Hội dân oan” của Thuỷ là “hội” ảo được thành lập để trục lợi cá nhân và đề nghị các cá nhân, tổ chức bên ngoài không tiếp tục gửi tiền cho Thủy…

Từ tháng 9-2006, Thủy còn “tích cực tham gia” các diễn đàn chống phá Nhà nước ta trên mạng Internet theo sự chỉ dẫn của Nguyễn Văn Đài. Hàng chục lần trả lời phỏng vấn các phương tiện thông tin của bọn phản động lưu vong và các thế lực thù địch bên ngoài, Thuỷ đều bộc lộ rõ quan điểm, tư tưởng chống đối, vu cáo Việt Nam đàn áp những người được chúng gọi là “nhà dân chủ” ở trong nước, kêu gọi tẩy chay cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII. Điển hình là ngày 11-3-2007, trong khi một số đối tượng của cái gọi là “đảng Việt tân” và các tổ chức phản động lưu vong khác tổ chức biểu tình trước Đại sứ quán Việt Nam tại Ca-na-đa, Thuỷ đã điện thoại đến cổ vũ, kêu gọi người Việt ở nước ngoài “đoàn kết” với cái gọi là “phong trào dân chủ” ở trong nước để “lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam”, kêu gọi biểu tình, gây áp lực cao hơn nữa…

“Thiêu thân” mù quáng

Sinh ngày 23-7-1979 tại Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, năm 2 tuổi Lê Thị Công Nhân không may phải chịu cảnh bố mẹ chia tay. Lên 5 tuổi, Nhân theo mẹ ra Hà Nội sinh sống. Mặc dù kinh tế gia đình lúc bấy giờ còn nhiều khó khăn, nhưng với ý chí và nghị lực, Nhân đã tu chí học hành và thi đỗ vào Trường đại học Luật Hà Nội. Ra trường năm 2001, Nhân tiếp tục theo học và được cấp bằng luật sư. Chỉ sau thời gian ngắn Nhân đã trở thành nữ thư ký của bộ phận quan hệ quốc tế thuộc Văn phòng Luật sư Hà Nội. Do chạy theo những ảo tưởng viển vông, cùng sự lôi kéo, dụ dỗ của Đài, Lê Thị Công Nhân đã trở thành phần tử nòng cốt, giúp sức đắc lực cho số đối tượng cầm đầu chống đối Nhà nước ta, đi ngược lại lợi ích dân tộc như Nguyễn Văn Lý (đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Huế hoạt động vi phạm pháp luật, vừa bị TAND tỉnh Thừa Thiên-Huế tuyên phạt 8 năm tù giam) và Nguyễn Văn Đài.

Tài liệu của Cơ quan An ninh thu được cho thấy: Lê Thị Công Nhân là một trong những kẻ đầu tiên ký tên ủng hộ cái gọi là “Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam 2006” và tham gia “khối 8406” do Nguyễn Văn Lý cầm đầu. Tiếp đó, Nhân còn xin đăng ký gia nhập cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam” và xung phong làm người phát ngôn của đảng này. Trước khi cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam” được “công bố thành lập” trên mạng Internet, theo chỉ đạo của Nguyễn Văn Lý và Nguyễn Văn Đài, Nhân đã trực tiếp vào Huế gặp Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Hoàng Thị Anh Đào để họp “thảo luận”, “chỉnh sửa” nội dung bản “dự thảo cương lĩnh tạm thời” và đưa ra “quyết định” tuyên bố công khai tổ chức này trên mạng Internet vào ngày 8-9-2006. Tại “cuộc họp” trên, nhóm phản động đã thống nhất phân công chính thức cho Lê Thị Công Nhân là “phát ngôn viên” của cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam”. Ngoài ra, thị còn tự nguyện tham gia cái gọi là “liên minh dân chủ nhân quyền Việt Nam” (tổ chức do bọn phản động lưu vong người Việt và các phần tử chống đối trong nước móc nối thành lập trên mạng Internet). Nhân cũng có tên trong “ban cố vấn” của cái gọi là “Hội oan dân Việt Nam” do Trần Khải Thanh Thủy đứng đầu.

Với vai trò của mình, bằng những kiến thức đã học được và ảo vọng viển vông, Nhân mù quáng lao vào các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam XHCN. Cũng như Nguyễn Văn Đài, Nhân trực tiếp viết nhiều bài xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; lôi kéo, dụ dỗ một số sinh viên và những kẻ khiếu kiện cực đoan để “phát triển lực lượng”; soạn thảo tài liệu và trực tiếp “giảng dạy” ngay tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Từ tháng 12-2006 đến tháng 2-2007, Nhân cùng Đài đã lôi kéo một số thanh niên, sinh viên, trí thức trẻ và những người khiếu kiện nhiều lần tụ tập tại văn phòng luật sư Thiên Ân để tuyên truyền cái gọi là “giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây, xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta “đàn áp dân chủ, nhân quyền”; đòi “phải sớm thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng ở nước ta…”. Những hoạt động này thực chất là một bước cụ thể hóa cái gọi là “dự án thúc đẩy, gây men dân chủ” của bọn phản động lưu vong người Việt… Không dừng lại, Nhân còn thường xuyên liên lạc trực tuyến và trả lời phỏng vấn nhiều tờ báo điện tử, đài phát thanh có thái độ thù địch với Việt Nam ở nước ngoài; tập trung tuyên truyền mục tiêu, cương lĩnh, phương thức đấu tranh, điều lệ hoạt động của cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam”; cung cấp thông tin xuyên tạc tình hình đất nước; vu khống Nhà nước Việt Nam “vi phạm dân chủ, nhân quyền”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến”. Nguy hiểm hơn, Nhân cùng đồng bọn dự định kêu gọi một số phần tử chống đối trong nước, thực hiện cái gọi là “Ngày toàn dân mặc áo trắng ủng hộ dân chủ” vào các ngày 1 và 15 hằng tháng; tẩy chay cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII…

Ngày 3-2-2007, Lê Thị Công Nhân đã bị Cơ quan An ninh phát hiện và bắt quả tang khi đang tuyên truyền xuyên tạc tình hình đất nước cho một số thanh niên, sinh viên, tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Tại Cơ quan An ninh, Nhân đã thừa nhận những việc làm vi phạm pháp luật theo sự chỉ đạo của Đài và các phần tử phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài. Nhân đã mở lớp và trực tiếp đứng ra tuyên truyền về cái gọi là “giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Hành động này của Nhân không ngoài mục đích đánh lừa những người nhẹ dạ, cả tin, lôi kéo họ vào những hoạt động chống phá Nhà nước.

Vạch rõ bộ mặt thật

Trước hành động trắng trợn xâm phạm lợi ích quốc gia, đi ngược lại lợi ích của cộng đồng dân tộc mà Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và đồng bọn đã thực hiện, dư luận nhân dân hết sức phẫn nộ. Tối 8-2-2007, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Bách Khoa (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) và nhân dân trong phường đã tổ chức hội nghị nhân dân để đấu tranh với những quan điểm sai trái, những hành động có tính chất phản động của Nguyễn Văn Đài và đồng bọn. Hội nghị có sự tham dự của đại diện các đoàn thể chính trị-xã hội và đông đảo nhân dân trong phường. Theo ông Lý Văn Tiến, đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Bách Khoa và cũng là người chủ trì hội nghị, thì đây là một cuộc họp công khai, với mục đích rất rõ ràng, nhằm chỉ ra những hành động sai trái của Nguyễn Văn Đài, để Đài thấy được lỗi lầm của mình mà thành tâm hối cải. Thế nhưng, Đài đến hội nghị với thái độ hết sức ngạo mạn, tỏ ý coi thường những người có mặt. Trong khi đó nhiều người trong hội nghị đều đáng tuổi ông bà, tuổi cha mẹ của Đài.

Đã có hàng chục ý kiến phát biểu trong hội nghị, tập trung phân tích những hành động sai trái của Đài cùng đồng bọn như Lê Thị Công Nhân, Phạm Văn Trội, Nguyễn Phương Anh, Trần Khải Thanh Thuỷ… Nhưng tất cả những ý kiến nêu ra, Đài đều phủ nhận với thái độ thách thức, hỗn láo. Qua cuộc họp cũng cho thấy, nhân dân không hề mơ hồ trước âm mưu cơ hội chính trị và đều nhận rõ chân tướng của Đài và đồng bọn.

Chiều 18-4-2007, chúng tôi có mặt tại phường Bách Khoa và một lần nữa được chứng kiến thái độ bất bình của nhân dân trước hành động vi phạm pháp luật của Đài cùng đồng bọn. Bác Nguyễn Hồng Ba, trú tại tổ 12, cụm 3, phường Bách Khoa cho biết:

– Tôi đã ngoài 70 tuổi, Đài chỉ là bậc con cháu. Mặc dù không ở sát nhà Đài, nhưng tôi biết, Đài được sinh ra trong một gia đình cán bộ công chức, bố mẹ cũng đã có những cống hiến nhất định. Bản thân Đài được hưởng những thành quả mà Đảng, cách mạng đã mang lại. Lẽ ra với những gì được hưởng, Đài phải biết ơn, trân trọng và cống hiến sức lực, trí tuệ góp phần xây dựng đất nước. Nhưng ngược lại, Đài đã cấu kết với những phần tử xấu, có tư tưởng phản động, lợi dụng kêu gọi “thực hiện quyền dân chủ” để mưu toan phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân. Hành động này của Đài và những kẻ a dua không chỉ vi phạm pháp luật mà còn đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Trong các thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng đã có không ít kẻ “liếm gót ngoại bang”, cam chịu làm tay sai cho đế quốc. Những tên “Việt gian” ấy đã bị nhân dân và pháp luật trừng trị thích đáng. Đó là bài học cho những kẻ như Đài cần phải thấu hiểu. Tuy nhiên, Đài và đồng bọn đã cố tình “đi theo vết xe đổ”. Chúng tôi không bao giờ tin những kẻ như Đài lại có đủ trình độ để “lãnh đạo” mấy cái “tổ chức” mà tự anh ta cùng những kẻ a dua nặn ra, chứ đừng nói là làm lợi cho dân, cho nước. Tôi nghĩ, Đài chỉ như một con rối trong tay những kẻ lưu vong, nhưng lại mang trong mình tham vọng đến mức ngông cuồng về mưu đồ chính trị. Những kẻ như Đài cần phải nghiêm trị bằng pháp luật, chứ không thể dừng ở mức giáo dục thuyết phục”.

Bác Lê Thị Hồng Hảo, trú tại nhà K9, cụm 7, phường Bách Khoa cũng tham dự hội nghị nhân dân phường tổ chức ngày 8-2-2007. Khi gặp chúng tôi, nhắc lại chuyện đó, bác vẫn chưa hết bất bình: “Tôi là một người dân trong phường, không có hiềm khích cá nhân gì với Đài. Vì thế trong hội nghị, tôi cũng như nhiều người khác đã phân tích cho Đài hiểu tính ưu việt của chế độ xã hội ta và quyền dân chủ mà Đảng, Nhà nước đã đem lại cho nhân dân, trong đó có cả gia đình Đài. Thế nhưng, thái độ của Đài trong hội nghị nhân dân hôm ấy là thái độ của một kẻ vô văn hoá, thậm chí là vô học. Đài vừa ngông cuồng, vừa cơ hội, không xứng đáng là thành viên của Hội luật sư Hà Nội nói riêng và các tổ chức khác của xã hội ta nói chung. Tôi cũng hiểu rằng, với mưu đồ đen tối và bản chất của một kẻ cơ hội như Đài cùng đồng bọn thì chúng không bao giờ nhận ra, hoặc là chúng sẽ cố tình không nhận ra những tiến bộ về dân chủ mà Đảng, Nhà nước ta đã và đang đem lại cho nhân dân. Đài đã lợi dụng một vài vụ việc mang tính đơn lẻ để quy kết thành những vấn đề mang tính tổng thể, rồi nói vống lên rằng “xã hội mất dân chủ, mất công bằng”.

Bác Hảo cũng như nhiều bà con khu dân cư cho rằng, việc Đài đã lừa phỉnh, dụ dỗ một số học sinh, sinh viên đến văn phòng của mình để truyền bá, tiêm nhiễm những quan điểm mang tính phản động là một hành vi nguy hiểm cần phải nghiêm trị. Việc cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố Đài và những kẻ tòng phạm như Lê Thị Công Nhân là việc làm đúng, được nhân dân rất ủng hộ. “Quốc có quốc pháp, gia có gia phong”, ở bất kỳ đất nước nào cũng thế, kẻ nào đi ngược lại lợi ích cộng đồng, lợi ích dân tộc thì nhất định phải bị nghiêm trị.

Trong cuộc trao đổi với chúng tôi, bác Võ Ngọc Tặng ở tổ 14, cụm 3, phường Bách Khoa cũng cho rằng: Hành động của Nguyễn Văn Đài cho thấy, hắn đã cấu kết khá chặt chẽ với những đối tượng có tư tưởng phản động trong và ngoài nước, để làm những việc có hại cho đất nước, nhân dân. Tôi cho rằng, khi nhận tiền tài trợ của nước ngoài, chắc chắn Đài cũng hiểu được những việc mình đang làm. Thế nhưng, một phần vì tham tiền, phần vì có những tham vọng chính trị ngông cuồng, nên ngày càng lún sâu vào con đường tội lỗi. Thật tiếc cho những người không nhận ra chân tướng của Đài, đã a dua theo hắn, xuyên tạc sự thật, phủ nhận thành quả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã hy sinh bao xương máu mới xây đắp được.

Bác Lý Văn Tiến, người chủ trì hội nghị nhân dân ngày 8-2-2007 cho biết:

– Đài được nuôi ăn, học tử tế, lại được hưởng nhiều ưu ái mà xã hội, gia đình đem lại như tiêu chuẩn ưu tiên trong học tập, đi nước ngoài… Thế nhưng Đài đã không đền đáp những ưu ái ấy mà ngược lại, đã tráo trở “lấy ân làm oán”, tìm mọi phương cách nói xấu Đảng, chế độ, xuyên tạc, bôi nhọ sự thật. Xem xét hành vi của Đài, tôi thấy anh ta đã phạm tội một cách cố ý, thường xuyên, liên tục và có hệ thống. Không thể coi Đài là một kẻ “trẻ người non dạ”, bởi Đài đã gần 40 tuổi, hiểu cặn kẽ và làm chủ được những hành vi của mình. Những hành động của Đài như: tuyên truyền xuyên tạc, bôi xấu chế độ, lôi kéo, dụ dỗ người khác cùng phạm tội, cấu kết, móc nối với các tổ chức phản động trong và ngoài nước… đều đã được Đài tính toán kỹ lưỡng và còn hy vọng lên làm “thủ lĩnh”. Bản chất những hành động của Đài là cơ hội chính trị đã đến mức phản động, không thể áp dụng biện pháp giáo dục, xử lý thông thường mà phải nghiêm trị bằng pháp luật…

Trả giá và kết cục tất yếu

Sắp tới, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân cùng đồng bọn sẽ bị đưa ra xét xử công khai trước pháp luật với bản án thích đáng dành cho những kẻ cố tình tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của công dân. Với những tham vọng ngông cuồng, lại được xúi bẩy, kích động từ những kẻ có dã tâm phản động, nên đầu óc chúng đã u mê, mờ mắt vì tiền bạc và ảo ảnh quyền lực. Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Những kẻ xâm phạm lợi ích của Nhà nước cũng chính là chống lại lợi ích của nhân dân, tất yếu sẽ bị nhân dân lên án và pháp luật trừng trị. Đó là cái giá, là kết cục tất yếu mà những kẻ ngông cuồng, mù quáng, vị kỷ như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy… và đồng bọn phải gánh chịu.

Lê Ngọc Long và Trần Anh Tuấn
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Mười 8, 2012, in Chính luận.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, văn nghệ

Bác Hồ tiếp đại biểu Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam Việt Nam, năm 1966, tại Phủ Chủ tịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến vai trò của nghệ sĩ. Theo Người, trên mặt trận này, những người làm công tác văn hóa, văn nghệ phải thấm nhuần quan điểm: Nghệ thuật – vũ khí, nghệ sĩ – chiến sĩ. Muốn nghệ thuật trở thành vũ khí và người nghệ sĩ đồng thời là chiến sĩ thì người nghệ sĩ phải đi thực tế, phải “ba cùng” với nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, nghệ thuật được coi là một di sản phi vật thể quý báu của dân tộc Việt Nam. Thế giới suy tôn Người là danh nhân văn hóa bởi Người là một nhà văn hóa hành động theo đúng nghĩa “nếu văn hoá là nhu cầu của sự sinh tồn của loài người thì văn hoá ấy phải phục vụ cho chính con người”. Trong tư tưởng của Người, văn hoá được đề cập đến hết sức bình dị mà sâu sắc, bao hàm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, văn học, nghệ thuật là một trong những cách thể hiện đặc biệt và hiệu quả trên mặt trận văn hoá mà Người đề cập đến. Mặt trận văn hóa cũng như các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế… Xem văn hóa, nghệ thuật là một mặt trận nhằm nhấn mạnh đến tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh trên mặt trận này. Tuy không có tiếng súng, kẻ thù không trực tiếp, nhưng tính chất phức tạp và quyết liệt của mặt trận này đã được thực tiễn lịch sử chứng minh. Quan điểm này từng được Người phát biểu từ thời kỳ trước cách mạng và những năm đầu của cuộc kháng chiến.

Ngược dòng lịch sử, chúng ta thấy văn học, nghệ thuật là một thứ vũ khí đấu tranh có hiệu quả. Từ những câu ca dao, tục ngữ mang nội dung phản phong châm biếm, đả kích giai cấp thống trị đến các loại truyện cổ tích, truyện cười có nội dung đấu tranh xã hội cao. Những áng văn chương lớn trong văn học như “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, “Truyền Kiều” của Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Đồ Chiểu đều có giá trị về tư tưởng và có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ. Nguyễn Đình Chiểu đã từng đề xướng quan điểm tiến bộ về văn học nghệ thuật: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Á Nam Trần Tuấn Khải cũng xem văn chương thực sự có khí phách và linh hồn khi gắn với hồn thiêng đất nước: “Đời không duyên nợ thà không sống/ Văn có non sông mới có hồn”. Năm Đinh Mão 1927, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn “Đường cách mệnh”. Thông qua tác phẩm, Người muốn thay đổi quan niệm phong kiến trước đây bằng cách tạo ra một thế giới quan mới cho thế hệ thanh niên yêu nước. Đó là thế giới quan hiện thực về người chiến sĩ cách mạng có tư cách, dũng khí, có phẩm chất đạo đức cần thiết với mình, với người và với công việc, có tinh thần quốc tế trong sáng. Bác viết tác phẩm này với mục đích thiết thực: Sách này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết với nhau mà làm cách mệnh. Còn trong bài thơ “Cảm tưởng đọc Thiên gia thi”, Người cũng khẳng định: “Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Chất thép là tính chiến đấu, là nội dung đấu tranh xã hội của thơ ca. Đây có thể được coi là tuyên ngôn nghệ thuật của Người và đó cũng là đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng. Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 cũng nhấn mạnh tính chiến đấu của văn hóa, văn nghệ trên lập trường giai cấp vô sản theo phương châm “dân tộc, khoa học và đại chúng”.

Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951, Người căn dặn: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh… Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”.

Quan điểm “văn học, nghệ thuật cũng là một mặt trận” thấm sâu trong nhận thức của các nhà văn, nhà thơ đi theo Đảng suốt những năm tháng kháng chiến cũng như những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà thơ Sóng Hồng đã lên tiếng khẳng định: “Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ/ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Nhà thơ Tố Hữu bộc lộ quan điểm nhân sinh và nghệ thuật của mình qua bài thơ “Từ ấy”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến vai trò của nghệ sĩ. Theo Người, trên mặt trận này, những người làm công tác văn hóa văn nghệ phải thấm nhuần quan điểm: Nghệ thuật – vũ khí, nghệ sĩ – chiến sĩ. Muốn nghệ thuật trở thành vũ khí và người nghệ sĩ đồng thời là chiến sĩ thì người nghệ sĩ phải đi thực tế, phải “ba cùng” với nhân dân. Đây cũng chính là quan điểm của Người trong thư gửi các họa sĩ trong năm Tân Mão 1951: “Về sáng tác, thì cần hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế mới bày tỏ được tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao cho tinh thần ấy”. Có thể thấy, Bác quan tâm đến hầu hết các vấn đề của văn nghệ: từ chức năng, tính chất của nghệ thuật đến vai trò của văn nghệ, từ nguồn gốc của nghệ thuật đến đối tượng phục vụ, phạm vi phản ánh; mối quan hệ giữa nghệ sĩ, tác phẩm và công chúng; sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của tác phẩm; mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, chính trị và văn học, tư tưởng và nghệ thuật, tự do sáng tạo và những nguyên tắc cần tôn trọng; từ mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, phổ cập và nâng cao đến làm thế nào cho tác phẩm có tính hấp dẫn, có sức cuốn hút thông qua cách viết, cách thể hiện…

Trong bài phát biểu tai Hội nghị cán bộ văn hóa năm 1958, Người thân mật căn dặn anh chị em rằng: “Cơ quan trong Bộ Văn hoá, các cơ quan các ngành, các ty văn hoá thì cần xuống nông thôn, vào nhà máy, vào bộ đội nhiều hơn nữa, mà đi vào như thế thì phải cùng làm, cùng ăn, cùng ở với nhân dân. Chứ nếu đi xuống nông thôn mà lại lao động phất phơ, ở riêng thì cảm thông sao cho được, gần gũi sao cho được với công nông, với bộ đội. Muốn thật sự gần gũi quần chúng thì phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm, mới biết sinh hoạt của quần chúng như thế nào, mới biết khó khăn, biết chí khí của quần chúng như thế nào, mới biết nguyện vọng của quần chúng như thế nào”.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, trong đời sống văn nghệ đã hình thành lớp lớp nhà văn chiến sĩ, những nhà văn hăng hái tham gia vào sự nghiệp cách mạng, dùng ngòi bút của mình phục vụ cho cách mạng một cách tận tụy, hết mình. Nhiều nhà văn trong kháng chiến chống Pháp đã lăn lộn ở chiến trường, tham gia các chiến dịch Thu đông, Việt Bắc, Biên giới, Điện Biên Phủ… Trong số đó có nhiều người đã hi sinh anh dũng như các nhà văn – chiến sĩ Nam Cao, Trần Đăng, Trần Mai Ninh… Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, hàng chục ngàn văn nghệ sĩ đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đến với tiền tuyến lớn và có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp thống nhất nước nhà, như các nhà văn Anh Đức, Nguyễn Thi, Nguyễn Sáng, Phan Tứ, Nguyễn Trung Thành, Trần Hiếu Minh, Lê Anh Xuân, Dương Thị Xuân Quý v.v. trong số họ có nhiều người đã ngã xuống trong cuộc chiến dành lại độc lập, tự do cho non sông, đất nước.

Lời dạy văn nghệ sỹ của Bác Hồ nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác, mài sắc ý chí chiến đấu cho những người cầm bút bởi kẻ thù luôn tìm cách tiến công trên mặt trận văn hóa, gieo rắc nọc độc tư tưởng, làm lung lay tinh thần chúng ta trên mặt trận không có tiếng súng này. Với tư cách là người đặt nền móng cho nền văn nghệ cách mạng, Bác Hồ kính yêu đã có công gây dựng một nền văn nghệ mới, đồng thời có những lời chỉ bảo tận tình, cần thiết cho đội ngũ những người làm công tác văn hóa văn nghệ, đặc biệt là các anh chị em nghệ sĩ. Tư tưởng đó của Người chính là ánh sáng soi đường cho sự phát triển của nền văn hóa nghệ thuật của nước ta. Hơn 60 năm trôi qua, nhưng đội ngũ văn nghệ sĩ chúng ta vẫn luôn khắc nhớ, đinh ninh lời Bắc căn dặn ngày nào: “Văn hóa, văn nghệ cũng như mọi hoạt động khác, không thể ở ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”; “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”…

Nguyễn Thị Thọ
Trường CĐSP, 123 Nguyễn Huệ, TP. Huế.
qdnd.vn

————————

Tài liệu tham khảo:
1. Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, NXB Sự thật, H.1970
2. Danh nhân Hồ Chí Minh, NXB Lao động, H.2000.

Cả nhà cùng học theo Bác

Đến xã Quỳnh Thạch (Quỳnh Lưu), hỏi nhà thầy giáo Đậu Xuân Tiêu, từ em bé cho đến cụ già đều nhiệt tình dẫn đường, ai cũng nói “Nhà thầy Tiêu có thư viện sách và ảnh về Bác Hồ, cả xã ai cũng biết”.

Học Bác ngay từ khi còn nhỏ

Năm 1930, do quá nghèo khổ, gia đình cậu bé Tiêu phải bỏ làng ra đi. Để cầm cự, người mẹ đã phải nhai châu chấu nuôi con. Nhờ có cách mạng, có Đảng và Bác Hồ, cuộc đời của gia đình cậu bé Tiêu đã bước sang trang mới. Với những gì người mẹ kể lại, hình ảnh Bác Hồ trở thành ông Tiên trong suy nghĩ của cậu bé Tiêu. Theo lời dạy của Bác “tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, “diệt giặc đói và giặc dốt”, ngoài việc giúp mẹ công việc đồng áng, cậu bé Tiêu còn ra sức thi đua học tập với các bạn cùng trang lứa.

Nhờ chăm chỉ học hành, năm 1954, Đậu Xuân Tiêu được cử đi học tại khu học xá Trung ương ở Nam Ninh (Quảng Tây – Trung Quốc). Trở về nước, theo tiếng gọi của Đảng, chàng trai trẻ xứ Nghệ xung phong lên huyện miền núi Lục Ngạn (Bắc Giang) để đem cái chữ đến cho những người nghèo. Lương của một thầy giáo mới ra trường không cao, nhưng hàng tháng thầy Tiêu vẫn dành một khoản tiền để xuống tận hiệu sách huyện tìm mua các loại sách báo. Qua sách báo, nghe đài, thầy giáo trẻ Đậu Xuân Tiêu càng khâm phục tài năng, đức độ, lòng yêu nước, thương dân của Bác và từ đó anh sưu tầm các bài viết, tranh ảnh về Bác để cất giữ làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy. Cảm mến đức tính đó của “thầy đồ Nghệ”, cô gái xứ Kinh Bắc Nguyễn Thị Dinh đã kết tóc se duyên và trở thành “người giúp việc tận tụy” cho thầy Tiêu trong việc sưu tầm, lưu giữ các tài liệu về Bác Hồ.

Lập thư viện cho mọi người cùng học

Năm 1971, về dạy học tại huyện nhà, từ tủ sách, báo của mình, thầy Tiêu đã dành hẳn một gian nhà để hình thành nên thư viện “Sách và ảnh về Bác Hồ” phục vụ các bạn đồng nghiệp, các em học sinh và hàng xóm láng giềng. Theo thầy Tiêu thì đây là gia tài quý nhất mà ông đã tích cóp từ thời trai trẻ với hàng nghìn tờ báo, hàng trăm quyển sách, tài liệu quý và trên 400 bức ảnh về Bác Hồ được xuất bản trong và ngoài nước qua các thời kỳ như: Bài Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, ảnh Bác Hồ đăng trên Tờ Họa báo Liên Xô năm 1969, tập hợp các bài báo của Bác Hồ đăng trên Báo Nhân Dân… Tất cả các tư liệu, hình ảnh đều đã úa màu thời gian nhưng được sắp xếp rất ngăn nắp và khoa học theo từng thể loại, từng thời kỳ, rất dễ cho người đọc lựa chọn.

hoc theo Bac 1
Bức ảnh Lời Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô
đăng trên họa báo Liên Xô khi Bác mất, được thầy Tiêu lưu giữ cẩn thận.

Thầy Tiêu tâm sự: “Họ đi nước ngoài thường mua cái nọ, cái kia, nhưng tôi thì mang về toàn sách là sách, trong đó có rất nhiều bài báo, tranh ảnh viết về Bác. Tôi rất thích đọc sách, báo, nhất là các tác phẩm của Bác Hồ. Cuốn “Nhật ký trong tù” của Bác tôi thuộc từ lúc còn trẻ. Thấm thía những lời dạy của Bác, tôi càng nghĩ càng thấy hay và mong muốn chia sẻ với mọi người, trước hết là truyền thụ cho học sinh, đó cũng là lý do mà tôi lập nên thư viện này”.

Thấm vào nếp sống thường ngày

Tâm đắc với lời dạy của Bác: Có đạo đức cách mạng thì trong hoàn cảnh nào cũng kiên quyết đấu tranh, chống mọi kẻ thù; ra sức học tập, cải tiến công tác. Có lần thấy những sai phạm trong công tác giáo dục ở huyện nhà, thầy Tiêu đã viết bài đăng báo phản ánh. Mặc dù bị trù dập nhưng ông vẫn đấu tranh và tìm ra lẽ phải để cuối cùng đã chấn chỉnh được tình trạng đó. Trong những năm tháng dạy học, từ những lời dạy của Bác, vợ chồng thầy Tiêu đã ra sức thi đua “dạy tốt, học tốt”, những bài giảng văn của thầy Tiêu được các đồng nghiệp nhận xét là “làm sống dậy từng con chữ, từng nhân vật”.

Học tập tinh thần “tăng gia sản xuất” của Bác, tuy làm nghề giáo nhưng thầy Tiêu vẫn là một “gương làm kinh tế giỏi”. Để có đồng ra, đồng vào nuôi con ăn học, trước đây, vợ chồng thầy còn tranh thủ nuôi thêm bò, hươu, đào ao nuôi cá, trồng rau, những khoản này cho thu nhập mỗi năm hàng trăm triệu đồng.

Từ tấm gương, sự chỉ bảo của bố mẹ, 4 người con của thầy Tiêu (2 trai, 2 gái) đều học tập và làm theo lời Bác từ những việc nhỏ hàng ngày. Đến nay, họ đều trở thành những công dân có ích cho đất nước. Vợ chồng anh con trai đầu đều tốt nghiệp thạc sỹ ở nước ngoài, hiện là Trung tá đang công tác ở Bộ Quốc phòng, người con trai thứ hai là Hiệu trưởng Trường cấp 1 Quỳnh Thắng. Hai cô con gái, một người là Hiệu phó Trường cấp 1, một người là giáo viên dạy văn cấp 2. Các cháu nội ngoại mỗi lúc rảnh rỗi đều về “thư viện” để được nghe ông kể chuyện về Bác Hồ.

Về hưu, có thời gian, thầy Tiêu theo dõi khá kỹ tình hình thời sự trong nước và quốc tế cũng như đời sống của người dân trong tỉnh. Từ những kiến thức học được qua sách báo, thầy đã dành thời gian nghiên cứu kỹ các văn kiện từ tỉnh đến Trung ương rồi viết thư góp ý. Nhiều ý kiến đóng góp của thầy Tiêu đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận. Về lĩnh vực giáo dục, ông cũng nhiều lần gửi thư đóng góp ý kiến. Trong thư Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An gửi ông ngày 4/12/1996, có đoạn viết: “Thay mặt lãnh đạo ngành xin chân thành cảm ơn những ý kiến tâm huyết góp ý xây dựng Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và xin ghi nhận những ý kiến đó trong việc chỉ đạo sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn tỉnh, đồng thời báo cáo lên cấp trên tham khảo. Chúng tôi kính mong ông với kinh nghiệm đã tích lũy được đóng góp thêm nhiều ý kiến, góp phần đưa sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo có thêm những bước phát triển mới đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Đến nay thầy Tiêu đã có hẳn một quyển sách dày trên 200 trang A4 lưu giữ 63 bài viết, góp ý cho các cấp từ huyện đến Trung ương về những vấn đề xã hội, những ý kiến phê bình khuyết điểm của các cấp. Thầy Tiêu cho biết, đó cũng là một cách để xây dựng đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng của Đảng, của Bác Hồ.

Năm nay thầy giáo Tiêu đã bước sang tuổi 84, nhưng mỗi sáng mai, trước bàn thờ gia tiên có đặt tượng Bác Hồ ở vị trí trang trọng, hai bên treo những lời dạy của Bác, thầy Tiêu lại cùng con cháu bật tivi làm lễ chào cờ (lễ chào cờ vào lúc 6 giờ sáng hàng ngày được phát trên VTV1), để được ngắm lá cờ Tổ quốc tung bay trên Quảng trường Ba Đình – nơi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập.

Có người nói: Thầy Tiêu làm như vậy là lẩm cẩm, nhưng với thầy, tấm gương đạo đức của Bác, những báu vật mà thầy gom góp lưu giữ và truyền bá, phổ biến hàng chục năm nay, cả việc chào cờ, tưởng niệm Bác mỗi buổi sáng đã thấm vào máu thịt, trở thành nếp sống như cơm ăn, nước uống thường ngày.

Tạm biệt quê hương Quỳnh Thạch, tôi thầm nghĩ, tấm gương học tập và làm theo đạo đức của Bác Hồ của thầy Tiêu còn ít người biết đến, như là ngọc ở trong đá vậy!

Đức Dũng
Theo http://baonghean.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bình đẳng (1-6-1922)

Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng, v.v..

Nhưng, hãy xem tay chiến sĩ về bình đẳng ấy đã thực hiện bình đẳng như thế nào.

Cùng làm một việc trong cùng một xưởng, người thợ da trắng vẫn được trả lương hậu hơn nhiều so với bạn đồng nghiệp khác màu da.

Trong các công sở, những người bản xứ mặc dầu đã làm việc lâu nǎm và mặc dầu rất thành thạo công việc, vẫn chỉ lĩnh một khoản tiền công chết đói, trong khi một người da trắng mới được vào, làm công việc ít hơn, thì lại lĩnh lương bổng nhiều hơn.

Có những thanh niên bản xứ đã học qua các trường đại học của chính quốc và đậu bằng tiến sĩ y khoa hoặc luật khoa, vẫn không thể làm được nghề nghiệp của mình trong nước mình nếu họ không vào quốc tịch Pháp. (Mọi người đã biết, một người bản xứ muốn được vào quốc tịch Pháp như vậy thì khó khǎn và nhục nhã như thế nào rồi).

Phải bỏ ruộng nương và nhà cửa đǎng vào lính “tình nguyện”, những người dân bản xứ ra lính đã được nếm mùi ngay ý nghĩa mỹ miều của cái thứ “công bằng” quái gở mà họ đang phải bảo vệ này.

Cùng một cấp bậc, nhưng người da trắng gần như bao giờ cũng được xem là cấp trên của người bản xứ. Người sĩ quan bản xứ phải chào và tuân lệnh sĩ quan da trắng. Cái chế độ đẳng cấp phân biệt “nhân chủng – quân sự” ấy lại còn rõ rệt hơn nữa khi những người lính da trắng và lính khác màu da cùng đi chung trên một chuyến xe lửa hoặc tầu thuỷ. Ví dụ như việc mới nhất gần đây:

Hồi tháng nǎm, chiếc tàu Ligiê chở 600 lính người Mangát từ Pháp sang Mađagátxca. Các hạ sĩ quan người bản xứ thì chen chúc dưới hầm tàu, còn đồng nghiệp của họ, những hạ sĩ quan da trắng, thì được đường hoàng nằm trong các buồng dành riêng.

Hẳn những người anh em khác màu da chúng ta, nóng sôi lên vì các nồi súpde nếu không phải vì lý tưởng, và tỉnh dậy vì tiếng động ầm ầm của chân vịt quay hay vì tiếng gọi của lương tri, có thể suy nghĩ và hiểu rằng cái chủ nghĩa tư bản tốt đẹp kia vẫn coi họ và bao giờ cũng chỉ coi họ như những kẻ ôlô malôtô (1) mà thôi.

N.A.Q

Báo L’Humanité, ngày 1-6-1922.
cpv.org.vn

———————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.