Archive | 2012

“Bác Hồ” – Tại sao lại gọi thế?

“Bác Hồ”, định ngữ này được dùng ở khắp nơi. Thời gian cùng những thử thách làm Cụ thêm uy nghiêm. Cùng với năm tháng, khuôn mặt thân thuộc, có thêm một hình ảnh thành kính. Năm 1958 đó là hình ảnh một chiến sĩ gần 60 tuổi mà người ta treo ở khắp nơi, giữa các tấm ảnh lãnh tụ Liên Xô và Trung Quốc.

BacHoChủ tịch Hồ Chí Minh

Từ nửa thế kỷ nay, Cụ đã đào luyện và hướng dẫn cách mạng Việt Nam giành độc lập và thống nhất. Trên góc độ Việt Nam, đó là một Lênin đã sống lâu để chiến thắng chủ nghĩa quốc xã, một Găngđi đã rời bỏ guồng kéo sợi để xây dựng nhà máy và lãnh đạo phong trào phản kháng. Danh tiếng quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, uy tín của Cụ, sự kính trọng của mọi người đối với Cụ trong các giới cộng sản ngoài nước và trong phần lớn các nước “Không liên kết”, đọc thấy rõ ràng. Một người như Nêru đã coi Cụ là bạn. Khi Cụ tham gia Hội nghị các Đảng Cộng sản ở Praha năm 1959, Cụ đã được bao quanh bởi một sự cảm phục khiến các chiến sĩ nước ngoài xúc động.

Cụ Hồ, trước hết là một phong cách và một kiểu quan hệ với nhân dân. Lời ăn tiếng nói mà Cụ đã dùng để nói chuyện với thiếu nhi và chiến sĩ; với cán bộ và phụ lão, người ta đã trích dẫn đủ. Đây là một trong những chìa khóa để hiểu được nhân vật, văn chương kỳ diệu, rõ ràng. Người ta không thấy giọng văn này ở cả Giôdép Xtalin lẫn Uynxtơn Sớcsin hoặc Sáclơ Đờ Gôn. Còn Cụ Hồ thì có thể vươn tới giọng nói của lịch sử. Từ đó có bản chất khác thường của các mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam. Những mối quan hệ có thể tóm tắt trong hai chữ mà báo chí và bộ máy tuyên truyền của Việt Nam hằng gắn liền với cái tên ông Hồ: “Cụ” và “Bác”. “Bác Hồ” tại sao gọi thế? Người ta có thể đi tìm sự giải thích trong sự việc là, đối với các bạn chiến đấu trẻ hơn Cụ chừng 20 tuổi thì xưng hô như vậy là thuận hơn cả. Gọi bằng “Ông” thì quá xa. Còn chữ “Anh” chỉ dùng cho những người bằng vai phải lứa. Chữ “đồng chí” là dùng với đảng viên. Nhưng cũng phải đặt chữ “Bác” vào trong tập tục xã hội Việt Nam xuất thân từ gốc gác Đạo Khổng của nó.

“Bác” là tiếng để gọi người anh của cha, người trong gia đình có tư cách và uy tín cao hơn cha. Khái niệm về tuổi tác là khái niệm rất quan trọng trong xã hội Việt Nam cũ. Người già đã và vẫn là nhân vật then chốt của một tổ chức xã hội lấy ruộng đất, làng mạc và gia đình làm cơ sở. Gia đình này được sắp xếp thứ bậc xung quanh bàn thờ tổ tiên. Đây là một di sản tinh thần cực kỳ sinh động mà cách mạng không hề đụng chạm tới.

Việc trìu mến gọi bằng “Bác Hồ” là có tính chất gia đình, biểu thị lòng yêu quý, và càng biểu thị lòng kính trọng. Thứ bậc, họ hàng có thể không hoàn toàn còn hiệu lực như trước đây nhưng nó vẫn là sự tham chiếu điển hình.

(Trích từ Hồi ký “Người là Hồ Chí Minh”, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995.)

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Ngôi nhà nhỏ và nhân cách lớn

Không một ai đến thăm nơi ở khiêm nhường của Bác mà không trào dâng niềm xúc cảm trước sự vĩ đại của một nhân cách văn hóa lớn đã trở thành huyền thoại ngay trong cuộc sống đời thường của mình. Với nếp sống thanh cao, giản dị trong một tầm suy nghĩ sâu sắc mãi mãi là bài học lớn cho mỗi người chúng ta.

Năm 1954, từ Việt Bắc trở về Hà Nội, từ chối không ở ngôi nhà của toàn quyền Đông Dương để dành làm nhà tiếp khách cho Đảng và Nhà nước, Bác Hồ chọn cho mình gian nhà cấp bốn của người thợ điện. Ngôi nhà 1 tầng khoảng 50m2, ẩm thấp, ở bên góc bờ ao trong Phủ Chủ tịch (cách ngôi nhà sàn hiện nay khoảng 100m). Nhà đổ mái bằng nên mùa hè rất nóng, còn mùa đông thì lạnh.

Mùa hè năm 1958, Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh, Cục trưởng Cục thiết kế Dân dụng, Bộ Kiến trúc (nay là Công ty TVXD dân dụng Việt Nam, Bộ Xây dựng) được giao thiết kế ngôi nhà ở cho Bác.

Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh kể lại: Lúc đó được giao thiết kế nhà ở cho Bác là điều mơ ước của một kiến trúc sư. Bác đã chịu nhiều gian khổ, nay hòa bình rồi, Bác cần phải sống trong một biệt thự sang trọng là điều đương nhiên, hình như Bác biết ý định đó Bác nói: “Bác không phải vua quan nên không thể ở trong những ngôi nhà sang trọng như chú vẽ đây. Chú thiết kế cho Bác ngôi nhà ở phía bên kia bờ ao, giống như nhà sàn Việt Bắc trước kia Bác đã ở. Chú xem nên làm thế nào thật đơn giản, chỉ cần một phòng ngủ và một phòng làm việc nhỏ thôi, không cao lắm, không cầu kỳ”.

Bác căn dặn kiến trúc sư rất cụ thể: Cần làm hành lang xung quanh để khi có các đồng chí lãnh đạo đến làm việc với Bác có lối đi và khi Bác làm việc, các đồng chí phục vụ đi lại không ảnh hưởng đến Người. Bác nói: Lợi dụng vách ngăn hai phòng làm một giá sách cho gọn, tiết kiệm và tiện sử dụng. Người nhắc nhở: Nhà làm bằng gỗ bình thường, gỗ loại một để dành làm tà vẹt đường sắt và trường học. Dưới tầng trệt, Bác bảo làm bệ xi măng thấp ở chung quanh, trên có lát ván tạo thành hàng ghế băng dài cho các cháu thiếu niên vào chơi có đủ chỗ ngồi.

Khi đó, Bác đã gần 70 tuổi, Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đề nghị đặt thêm khu vệ sinh trong nhà để sử dụng thuận tiện, nhưng Bác không đồng ý. Bác bảo: “Khu vệ sinh ở nhà cũ còn tốt, cứ để Bác dùng cho đỡ lãng phí, và tạo điều kiện để Bác đi lại cho khỏe mạnh”.

Sau khi được Bác góp ý, bản vẽ thiết kế đã nhanh chóng hoàn thành và đi vào thi công. Trong thời gian Bác đi công tác, đội thi công 30 chiến sỹ công binh đã khẩn trương xây dựng và hoàn thành ngôi nhà vào ngày 1-5-1958, sau khoảng một tháng. Khi công trình cơ bản đã xong, Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh mời Bác đi thăm nhà, một lúc sau dừng lại Bác cười nói: “Chú Kiến (Bác vẫn gọi thân mật Kiến trúc sư là chú Kiến – kiến trúc, kiến thiết) làm nhà cho Bác sang quá, còn hơn cả nhà quan tể tướng ngày xưa”. Vào dịp sinh nhật năm 1958, Bác Hồ đã chuyển sang ở ngôi nhà này cho tới ngày 17-8-1969.

Buổi khánh thành ngôi nhà sàn, Bác Hồ mặc bộ quần áo nâu, đi đôi guốc mộc. Bác chiêu đãi kiến trúc sư và thợ thi công bằng bữa “tiệc ngọt” tân gia, Bác nói vui: “Kẹo thuốc hôm nay là tiền nhuận bút của Bác bỏ ra mua, không phải của công đâu, Bác khao đấy, các chú cứ thoải mái, không hết thì mang về”. Trước khi về, Bác chờ bằng được “chú Kiến” ra ngồi ở giữa rồi mới chụp ảnh chung kỷ niệm.

Được một thời gian, nghe anh em cảnh vệ kể lại, những đêm làm việc khuya nghe tiếng phất muỗi của Bác, trong lòng thương Bác vô cùng, bởi đèn sáng giữa một khu vực nhiều cây cối và gần hồ nước nên nhiều muỗi. Đây cũng là điều mà Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh chưa thể lường hết được, ông vô cùng xúc động và ân hận. Sau nhiều lần bàn tính cuối cùng ông đã đưa ra phương án tối ưu là dùng lưới đồng nhỏ căng lên các ô cửa sổ, vừa ngăn muỗi mà vẫn có gió mát. Công việc trên làm khi Bác vắng nhà, vẫn sợ khi Bác về lại phê bình là tốn kém.

Ngôi nhà được thiết kế theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc với kích thước đã ở mức tối thiểu: Dài 10,15m rộng 6,82m, có hai tầng, tầng trên cao 2,62m có hai phòng: mỗi phòng rộng 13,50m2 dùng làm phòng ngủ và phòng làm việc về mùa đông. Tầng dưới cao thông thủy 2,20m là nơi Bác Hồ thường làm việc về mùa hè, nơi họp Bộ Chính trị quyết định nhiều vấn đề quan trọng của cách mạng Việt Nam, nơi tiếp khách thân mật. Cầu thang một nhịp 14 bậc đặt ở hướng tây nam, che được ánh nắng ban chiều dọi vào phòng ngủ.

Ngôi nhà sàn này Bác đã sống và làm việc trong 11 năm cuối đời, chỉ có những vật dụng rất đơn sơ: Một chiếc bàn, giá sách, tủ quần áo, giường gỗ cá nhân, tấm chăn đơn, chiếc chiếu cói, cây quạt cọ, chai nước lọc. Điều này đã được nhà thơ Tố Hữu khắc họa trong trường ca “Theo chân Bác”:

Nhà gác đơn sơ một góc vườn

Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn

Giường mây chiếu cói, đơn chăn gối

Tủ nhỏ, vừa treo mấy áo sờn…

Ngôi nhà sàn Bác Hồ không những có ý nghĩa về lịch sử mà còn là một công trình kiến trúc mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn. Một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao”.

Ngày 15-5-1975, ngôi nhà sàn Bác Hồ được xếp hạng là Di tích Lịch sử văn hóa đặc biệt của Quốc gia. Năm 2001, Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh (1908-1975) đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật, đợt 1 về cụm công trình kiến trúc: Lễ đài Ba Đình (1955), nhà sàn Bác Hồ (1958), Lễ đài Ba Đình (1960).

Nhiều năm đã trôi qua, những ngôi nhà ở của Bác Hồ mãi trở thành biểu tượng cho lối sống giản dị, trong sáng của đạo đức một con người Việt Nam chân chính – Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!

Theo Kiến trúc sư Nguyễn Huy Phách/ Báo Bắc Ninh

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

ASEAN ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc

* Đề cao tầm quan trọng Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông
Cuối tuần qua, nhân Khóa họp Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, trong các ngày 27 và 28-9, tại New York (Mỹ) đã diễn ra Hội nghị không chính thức Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (IAMM), Hội nghị không chính thức Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Mỹ, Hội nghị giữa các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc (LHQ) và Chủ tịch Đại Hội đồng LHQ, các Hội nghị giữa ASEAN với đại diện Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) và với Tổ chức Hợp tác kinh tế (ECO). Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh đã dẫn đầu Đoàn Việt Nam tham dự các Hội nghị nói trên.

Tại IAMM, các Ngoại trưởng ASEAN nhất trí tiếp tục tăng cường phối hợp lập trường và nâng cao vai trò của ASEAN tại LHQ; ra Nghị quyết Đại Hội đồng Liên hợp quốc (ĐHĐ/LHQ) về tăng cường hợp tác giữa ASEAN và LHQ; ủng hộ và hỗ trợ lẫn nhau ứng cử vào các vị trí của LHQ. Trên tinh thần đó, các nước ASEAN khẳng định ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016, dự kiến sẽ được bầu trong năm 2013.

Về hợp tác ASEAN, các Ngoại trưởng ASEAN đã thông qua danh mục các kết quả chính của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN 45 và khẳng định quyết tâm triển khai hiệu quả các kết quả này, trong đó có việc thực hiện Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông, thúc đẩy đàm phán chính thức ASEAN-Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)… Các Ngoại trưởng đã xem xét và cho ý kiến chỉ đạo về công tác chuẩn bị cho các Hội nghị Cấp cao ASEAN vào tháng 11, trong đó có việc trình dự thảo Tuyên bố Nhân quyền ASEAN, tổ chức Đối thoại toàn cầu ASEAN (AGD) và một số vấn đề khác.

Cũng dịp này, trong Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN-Mỹ, hai bên bày tỏ hài lòng trước những tiến triển đã đạt được và nhất trí thúc đẩy quan hệ hướng tới tầm đối tác chiến lược, vì mục tiêu chung là hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực. Ngoại trưởng Mỹ khẳng định chính sách của Mỹ đẩy mạnh hợp tác với ASEAN, ủng hộ ASEAN xây dựng Cộng đồng và đóng vai trò trung tâm ở khu vực, cùng ASEAN đóng góp vào thành công của Hội nghị Cấp cao ASEAN-Mỹ lần thứ 4 tháng 11-2012.

Phát biểu tại các Hội nghị, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh nhấn mạnh ASEAN cần tiếp tục tăng cường đoàn kết và hợp tác, phát huy tinh thần trách nhiệm, triển khai hiệu quả các kết quả của Hội nghị AMM-45 và nỗ lực hết sức mình để bảo đảm các Hội nghi Cấp cao của ASEAN tháng 11 tới thành công. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh đề nghị ASEAN càng cần phối hợp chặt chẽ, phát huy vai trò trung tâm thông qua việc đề cao các nguyên tắc cơ bản các nước đã cùng cam kết và được quy định trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), Tuyên bố của EAS…

Về Biển Đông, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh nhấn mạnh các nước cần nghiêm chỉnh tuân thủ và thực hiện các nguyên tắc cơ bản về giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế và Công ước LHQ về Luật Biển 1982, thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); đồng thời, ASEAN cần nỗ lực bảo đảm thực hiện hiệu quả Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

H.M
daidoanket.vn

Muốn lãnh đạo nhân dân phải lãnh đạo chính mình, cán bộ càng cao càng cần phải gương mẫu

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đánh giá cao tác dụng của sự nêu gương. Trong sự nghiệp trồng người, trong rèn luyện, giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác luôn luôn nhắc nhở đến vai trò của sự gương mẫu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:

“Nhân dân ta sẵn có truyền thống tốt đẹp là lao động cần cù, sinh hoạt giản dị, lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Chúng ta cần phát huy truyền thống và tinh thần ấy. Cán bộ phải ra sức tuyên truyền, giải thích và làm gương mẫu…”.

Có thể nói, nhiều lần, rất nhiều lần, Bác Hồ đã nhắc nhở chúng ta về sự gương mẫu.

7.muon lanh dao can phaiBác Hồ đến thăm hội nghị phổ biến máy cấy công cụ cải tiến ở
 Từ Liêm, Hà Nội, tháng 7 năm 1960. Ảnh Tư liệu.

Đọc các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta thấy Bác thường hay dùng hai từ: Gương mẫu và kiểu mẫu. Gương mẫu và kiểu mẫu cũng là những tấm gương mẫu mực, tốt đẹp để mọi người noi theo. Và theo Bác Hồ thì ai cũng phải cố gắng làm gương mẫu. Mỗi người, mỗi nhà, mỗi làng, mỗi cơ quan, mỗi tỉnh… đều phải phấn đấu trở thành gương mẫu. Và gương mẫu phải từ việc nhỏ đến việc lớn. Gương mẫu trong tư tưởng, trong đạo đức, trong sinh hoạt, trong cách ứng xử…

Đối với cán bộ, đảng viên, đoàn viên các đoàn thể thì không những tự mình phải gương mẫu thực hiện đúng Điều lệ Đảng, Nghị quyết của các đoàn thể, pháp luật của Nhà nước, hăng hái tham gia các phong trào thi đua, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, mà còn phải vận động, giáo dục cho gia đình mình, con cái mình cũng phải trở thành gương mẫu.

Phải giáo dục mọi người bằng chính tấm gương sống của mình trước đã, sau đó mới giáo dục bằng lời nói. Nói đến sự gương mẫu là nói đến trách nhiệm, nói đến sự hy sinh. Như Bác Hồ đã nói:

“Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào”.

Bác Hồ cũng thường nói với chúng ta, muốn làm cách mạng trước hết phải cách mạng tấm lòng, muốn cải tạo xã hội trước hết phải cải tạo bản thân mình trước đã. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu tấm gương sáng cho nhân dân noi theo, “đảng viên đi trước làng nước theo sau”.

Trong việc nêu gương, Bác Hồ luôn luôn nhấn mạnh đến viêc nêu gương về đạo đức, lối sống, vì Bác cho rằng đạo đức là cái gốc của một con người. Một người dù tài giỏi đến đâu mà không có đạo đức thì cũng không thể lãnh đạo được nhân dân.

Bác cũng đặc biệt nói đến sự nêu gương của những cán bộ lãnh đạo. Nhân dân chỉ quý mến, tin cậy ở những người có đạo đức cách mạng, chứ không phải vì mình là lãnh đạo mà người ta phải yêu quý. Muốn lãnh đạo nhân dân trước hết phải lãnh đạo chính mình, lãnh đạo gia đình mình, tu thân, tề gia rồi mới trị quốc được. Cán bộ càng cao càng cần phải gương mẫu, vì sự gương mẫu của cấp cao sẽ là tấm gương cho cán bộ lãnh đạo cấp dưới.

Nhiều người trên thế giới, thường đánh đồng sự lãnh đạo với quyền lực, coi chính trị là quyền lực. Nhưng Bác Hồ thì tác động vào xã hội, vào nhân dân bằng chính tấm gương đạo đức và sự nêu gương của chính mình.

Có thể nói, suốt đời Bác là sự nêu gương!

Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết:

“Trong mọi trường hợp, Hồ Chí Minh đã làm gương mẫu để xây dựng Đảng. Tấm gương của lãnh tụ được sự hưởng ứng tự nguyện và nhiệt tình của toàn Đảng, đã tạo nên khuôn phép chặt chẽ và thiêng liêng, để lại truyền thống tốt đẹp về Đảng và sự lãnh đạo của Đảng”.

Trong những ngày kháng chiến đầy hy sinh và gian khổ, noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng là sự vươn lên của cả dân tộc và của từng người để vượt qua những nguy cơ mất còn, giành lấy thắng lợi. Và khi Đảng với dân tộc là một, lãnh tụ với nhân dân là một, thì cách mạng không chỉ là những nỗ lực phi thường, mà còn là niềm vui, là “Tiếng hát át tiếng bom”, là “Đường ra trận mùa này đẹp lắm!”. Và đó cũng chính là một trong những nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Phạm Văn Đồng viết: “Ở gần Bác, tôi thấy một nét nổi bật của Bác là rất coi trọng phẩm chất con người, suốt đời chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân”.

Xã hội Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là xã hội đề cao các giá trị tinh thần, các quan hệ đẹp giữa người với người. Trong xã hội ấy, những con người tiêu biểu là những chiến sĩ dũng cảm bảo vệ Tổ quốc, những người lao động nhiệt tình xây dựng đất nước, những con người biết chăm lo cuộc sống và lợi ích chung của nhân dân… những con người có đức tính vị tha, thương yêu đồng bào, đồng chí.

Suốt đời gương mẫu, đồng cam cộng khổ với nhân dân, hoà mình vào đời sống của nhân dân – Đó là con người Hồ Chí Minh!

Trong lịch sử nước nhà, cũng đã có biết bao tấm gương lớn của những người lãnh đạo đất nước đã được ghi lại trong sử sách, những Lý Nhân Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tông…

Và Trần Thủ Độ người dựng nghiệp nhà Trần, trong chiến tranh chống Nguyên Mông đã từng có câu nói nổi tiếng: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Cũng là người đã từng nói: “… Để lời nói suông mà bảo đời sau thì sao bằng lấy chính thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì gương mẫu là một biểu hiện của đạo đức. Gương mẫu mạnh hơn lời nói. Và chính vì thế, Người suốt đời nêu gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời giản dị, khiêm tốn, gần gũi nhân dân, suốt đời vì nước, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng như pha lê. Và chính vì thế, Người được cả thế giới yêu mến và kính trọng.

Hiện nay, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng đang được tiến hành, đã tạo ra niềm tin và sự chờ đợi của toàn thể nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 đang được nhân dân hy vọng rất nhiều, nên nếu không làm được tốt thì dân sẽ mất lòng tin. Giống như ra trận, chúng ta phải quyết thắng, nếu không thắng ngay thì thắng từng bước, dù phải làm lâu dài, làm đi làm lại. Phải phát huy, giữ vững bản chất cách mạng của Đảng, khắc phục cho được những hạn chế, tiêu cực, đặc biệt là tham nhũng, hư hỏng trong Đảng và trong bộ máy.

Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh đến sự gương mẫu của cán bộ lãnh đạo. Đồng chí nói một cách thẳng thắn: “Cán bộ phải thực sự gương mẫu, chưa có quyền trong tay mà đã nghĩ đến chuyện chấm mút, đến lợi ích của mình, không đặt lợi ích của Đảng của dân lên trước thì sẽ không nói được ai, vì tay đã nhúng chàm. Tự mỗi người phải thấy khuyết điểm của mình để mà điều chỉnh, mà tự sửa, nếu không sửa thì sẽ có tổ chức, có pháp luật”.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, muốn lãnh đạo nhân dân phải lãnh đạo chính mình, lãnh đạo gia đình mình, con cái mình. Cán bộ càng cao, càng cần phải gương mẫu, vì sự gương mẫu của cấp trên sẽ là tấm gương cho cán bộ cấp dưới và cho toàn thể cán bộ, đảng viên.

Bác Hồ đã nói: “Nhân dân chỉ quý mến, tin cậy ở những người có đạo đức cách mạng, chứ không phải vì mình là lãnh đạo mà người ta phải yêu quý”./.

Theo Bùi Công Bính
Báo Nam Định online

Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Từ một lời tuyên bố của Bác Hồ

Trong phiên họp Quốc hội kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá I, ngày 31/10/1946, sau khi được Quốc hội giao trách nhiệm đứng ra thành lập Chính phủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ “tham quyền cố vị”. Chính phủ sau đây phải là Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tuy trong quyết nghị không nói đến không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết…”. Đó là lời tuyên bố dõng dạc, công khai của người đứng đầu một Chính phủ độc lập đầu tiên của nước Việt Nam trước quốc dân đồng bào, trước Quốc hội và trước cả toàn thế giới.

Tôi có cảm giác, tất cả các đại biểu Quốc hội trong phòng họp sau khi nghe lời tuyên bố này của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì không có lý do gì để không tin tưởng vào người đứng đầu Chính phủ cũng như vào Chính phủ mà Hồ Chí Minh là vị Chủ tịch đầu tiên.

3.tu mot tuyen boẢnh Tư liệu

Những gì Bác Hồ nói trong buổi ra mắt Chính phủ giữa lúc nền độc lập Việt Nam mới tròn một năm tuổi là những cam kết về một Chính phủ sẽ trong sạch, liêm khiết, làm việc, đoàn kết và tập hợp lực lượng rộng rãi nhất. Nên nhớ, đó là thời điểm rất khó khăn của cách mạng Việt Nam, khi quân Tàu vào giải giáp quân Nhật thất trận đang gây ra một cơn bão những điều tệ hại ở miền Bắc Việt Nam, còn ở miền Nam Việt Nam, quân Pháp núp sau bóng Đồng minh đang quay trở lại hòng xâm chiếm nước ta một lần nữa.

Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu lúc ấy là một Chính phủ kiến quốc nhưng cũng là Chính phủ chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc kháng chiến sẽ lâu dài và gian khổ nếu nền hoà bình không được cứu vãn. Trong tình thế cực kỳ khó khăn, giữa một Quốc hội tập hợp nhiều đảng phái và không phải đã tìm ra ngay tiếng nói chung, thì lời tuyên bố dõng dạc, mạnh mẽ, đầy sức thuyết phục của Bác Hồ đã khiến cả Quốc hội đứng sát lại gần nhau, khiến quốc dân đồng bào tin tưởng và phấn khởi, khiến thế giới nhìn vào một nước Việt Nam độc lập non trẻ với cái nhìn tôn trọng.

Đó là lần đầu tiên mà hai chữ “liêm khiết” được người đứng đầu chính phủ Việt Nam công khai nhấn mạnh đến như thế! Là lần đầu tiên người đứng đầu Chính phủ công khai rằng mình không “tham quyền cố vị”. Là lần đầu tiên người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh đến tính chất tập hợp, đoàn kết toàn dân và trọng dụng nhân tài không đảng phái của Chính phủ mới.

Một Chính phủ như thế là một bảo đảm bằng “vàng” cho tinh thần đoàn kết dân tộc trong lúc đất nước cần nhất sự đoàn kết và thống nhất lực lượng nhằm kiến quốc và bảo vệ Tổ quốc. Bản lĩnh Hồ Chí Minh, sức mạnh công khai Hồ Chí Minh, sự liêm khiết tận nguồn Hồ Chí Minh đã khiến lời tuyên bố ấy trước Quốc hội trở thành lời thề của Chính phủ mới. Và trở thành lời thề của Quốc hội, của toàn thể quốc dân đồng bào.

Xin hãy tưởng tượng xem, không khí trên toàn cõi Việt Nam như thế nào khi người dân được nghe vị đứng đầu nhà nước, đứng đầu Chính phủ tuyên bố về bản chất của Chính phủ mới thuyết phục đến như vậy! Và đó còn là bài học, là một thông điệp mà Bác Hồ muốn gửi tới Quốc hội, Chính phủ và toàn dân Việt Nam hôm nay: Dân chủ, công khai, liêm khiết, đoàn kết và làm việc hết mình vì dân vì nước./.

Theo baoquangngai.com.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ vào thăm bộ đội giới tuyến

Đúng 14 giờ ngày 15-6-1957, xe của Bác đến Sư đoàn 325. Cùng đi có đồng chí Nguyễn Chí Thanh, đồng chí Trần Quốc Hoàn… Đồng chí Hoàng Văn Thái, Chính ủy kiêm Sư đoàn trưởng hô to: “Chúc Bác Hồ khỏe! Bác Hồ muôn năm!”. Cả đơn vị đang đứng thẳng hàng hai bên đường đón Bác, hô theo: “Bác Hồ muôn năm, muôn năm!”. Bác đưa tay vẫy chào, trìu mến.

BH tham bo doi gioi tuyenChủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ đội miền Nam tập kết

Bác nghỉ ngơi một lát, rồi làm việc với Sư đoàn. Làm việc xong, đồng chí Thái mời Bác và đoàn đi tắm biển. Từ nhà ra bãi tắm khoảng hơn 200m. Bác đi bộ thoăn thoắt trên bãi cát mịn. Đến nơi tắm, có cán bộ, chiến sĩ bảo vệ xuống biển trước, bơi vòng ngoài. Bác cởi quần dài, mặc quần đùi. Bác nói vui: “Ở đây, chúng ta đều là làng đực, hãy tắm cho thoải mái!”. Mọi người đều cười vui.

Bác có bộ ngực đẹp, toát lên vẻ khỏe mạnh của một người thường xuyên rèn luyện thể lực. Bác tắm khoảng 30 phút. Cán bộ bảo vệ mời Bác đến tắm nước ngọt. Bác nói: “Đã lâu, Bác chưa tắm biển, nay vào giới tuyến thăm và tắm biển là một kỷ niệm đối với Bác. Bác không tắm nước ngọt”. Thế là không có ai tắm lại nước ngọt. Bác lấy khăn lau và mặc quần áo. Bác mặc bộ quần áo lụa bà ba màu nâu.

Từ nơi tắm về, các đồng chí của Sư đoàn đi phía sau, đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Trần Quốc Hoàn đi phía trước. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh mặc quần đùi, áo vắt vai để lưng trần. Bác nhìn phía sau lưng đồng chí Thanh và nói: “Lưng của chú Thanh đúng như lưng của nông dân hè”. Đồng chí Hoàn nói: “Thưa Bác, anh Thanh là từ nông dân mà ra”. Mọi người đều cười vui vẻ.

Bác ngồi hóng mát trên hiên nhà nghỉ. Bác hỏi thăm quê quán những đồng chí ngồi xung quanh. Mấy cô văn công và cháu nhỏ xúm đến, ngồi sát bên Bác. Bác vuốt ve các cháu như một người ông thật sự. Đến giờ, đồng chí Thái mời Bác vào ăn cơm chiều. Bác ăn rất ngon miệng. Bác khen những món đặc sản ở Huế và Đồng Hới, như cá, mực, mắm nêm, cà, rau chuối chát, mắm tôm chua ăn với thịt lợn luộc, canh mướp đắng nấu với tôm bóc trần.

Đến 19 giờ 30 phút, Bác gặp cán bộ, chiến sĩ cơ quan Sư đoàn và đơn vị trực thuộc. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh tuyên bố lý do, rồi nói: “Hôm nay, Bác đến thăm vui chung với tất cả mọi người. Ai có thơ, ca, hò, vè thì lên hát vui với Bác. Bác nghe rồi sẽ có thưởng…”. Cơ quan đã chuẩn bị bánh kẹo và dưa hấu. Đồng chí Thanh đem ra một mâm đầy bánh kẹo phân phát cho các cháu. Bác mặc bộ đồ nâu. Bác không ngồi ghế mà ngồi trên nền xi măng. Bác vẫy các cháu bé đến ngồi cạnh Bác. Một cháu gái bé nhất được ngồi vào lòng Bác và được Bác cho nhiều kẹo. Các cháu khác cũng được Bác cho kẹo. Bác bảo: “Có chú nào ra hát ít bài cho vui”. Một số anh chị em lên hát, hò vè, ngâm thơ đều được Bác trực tiếp thưởng cho từ hai đến bốn cái kẹo. Một đồng chí ngâm bài: “Đêm nay Bác không ngủ”. Vừa ngâm xong, Bác nói: “Bác không ngủ nì!” và cho hai cái kẹo. Có đồng chí hò theo điệu “mái nhì Huế”:

“Nhà không có cột thì nhà xiêu

Cây không có gốc thì cây đổ,

Nay ta đã có Cụ Hồ

Dựng xây đất nước cơ đồ Việt Nam”.

Bác nói: “Giọng hò hay, Bác thưởng 2 kẹo. Nhưng nội dung chỉ được 2 câu trên, còn hai câu sau thì Bác phạt. Đáng lẽ được 4 kẹo, nhưng Bác trừ 2 còn 2”. Tất cả vỗ tay reo vui và rất xúc động vì Bác không nghĩ cho riêng mình.

Kết thúc buổi liên hoan, Bác nhắc mọi người công tác giỏi, không tự phụ, mỗi người trồng ba cây dương liễu để phủ xanh cái đồi trọc này.

Bộ Chính trị có điện khẩn đề nghị Bác ra ngay Hà Nội. Bác bảo đồng chí Sư đoàn trưởng: “Bác muốn gặp cán bộ, chiến sĩ cả Sư đoàn trước khi Bác về”. Sư đoàn báo các đơn vị sẽ có mặt tại thị xã Đồng Hới trước 4 giờ sáng ngày 16-6-1957.

Đúng giờ, Bác đến. Bác vẫy tay chào bộ đội và nói về tình hình nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ. Bác đặc biệt xúc động khi nhắc tới cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam đang diễn ra sôi sục ở bên kia sông Bến Hải, đòi địch phải nghiêm chỉnh thi hành hiệp nghị Giơ-ne-vơ, chống khủng bố, đàn áp những người kháng chiến cũ, đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống… Bác căn dặn sư đoàn phải nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu thật tốt. Phải ra sức học tập chính trị, quân sự, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân. Phải kiên quyết làm tròn nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Cuối cùng Bác nói: “Vì bận công việc, Bác phải ra ngay Hà Nội. Bác ủy nhiệm đồng chí Nguyễn Chí Thanh thay mặt Bác nói chuyện tiếp với các chú. Bác chúc các chú khỏe…”.

Đồng chí Hoàng Văn Thái hô to: “Chúng cháu xin hứa với Bác quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ”. Cả Sư đoàn hô to: “Xin hứa, xin hứa, xin hứa!”. Bác ngắm nhìn toàn đội hình của Sư đoàn ân cần trìu mến và vẫy tay chào tạm biệt.

Thiếu tướng Nguyễn Công Trang
Theo http://quangtri-ict.gov.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Dũng sĩ diệt Mỹ và câu chuyện lần đầu gặp Bác Hồ

“Bình Đông có tiếng đánh Tây, có gan đánh Mỹ bao vây quân thù/Giặc đốt nhà ngói ta làm lại nhà tranh, giặc đốt ghe mành ta sắm thúng đi câu…”. Lời dân ca bài chòi của miền quê Bình Sơn, mỗi lần nghe hát mà xao động trong lòng. Một trong những nhân vật trong bài hát này là chị Ngô Thị Tuyết, nữ dũng sĩ diệt Mỹ… mà cách mấy năm rồi, một lần tình cờ được gặp chị ở Đà Nẵng, tôi vẫn không quên câu chuyện cảm động của chị về lần đầu gặp Bác.

Chị Ngô Thị Tuyết sinh năm 1951, lớn lên ở một làng quê nghèo xã Bình Đông (Bình Sơn). Mới 10 tuổi Tuyết đã chứng kiến bao cảnh tang thương của gia đình mình, cha và anh trai bị giặc giết, mẹ bị giặc bắt tù đày, sau đó đã hy sinh trong một trận càn. Nước mắt đau thương hóa thành hành động cách mạng, cô bé Ngô Thị Tuyết đã tham gia làm nhiệm vụ liên lạc cho du kích, sau đó trở thành nữ chiến sĩ nhỏ tuổi gan dạ.

5.dung si diet my 1Chị Tuyết khi là du kích Bình Đông (Ảnh Tư liệu)

Nhờ mưu trí, dũng cảm, nhiều lần chị Tuyết đột nhập vào các căn cứ địch để lấy trộm súng đạn về cho du kích xã. Từ chỗ thiếu vũ khí, dần dần, đội du kích xã Bình Đông đã trở nên lớn mạnh, được mệnh danh là Trung đội “thép” trên “Vành đai diệt Mỹ”. Trong đó, có phần góp sức rất lớn của nữ du kích Ngô Thị Tuyết. Nhiều lần bí mật, bất ngờ, chị đã tiêu diệt nhiều tên địch. Tuổi thiếu niên, nhưng Ngô Thị Tuyết đã được nhận danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

Trong một trận đánh để giải thoát 3 cán bộ huyện vào năm 1965, chị Tuyết bị thương nặng. 2 năm sau, chị được cấp trên cho chuyển ra miền Bắc chữa bệnh. Chị cho biết đó là những tháng ngày đầy kỷ niệm, hạnh phúc của mình, vì được sống trong tình cảm bao la của nhân dân miền Bắc, đặc biệt là được gặp, được nghe lời Bác Hồ dặn dò, dạy bảo.

Chị bồi hồi nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác, đó là đầu năm 1968. Vừa gặp, chị đã được Bác hỏi thăm: “Cháu Tuyết đấy à? Cháu ngồi xuống đây kể chuyện đánh giặc ở miền Nam cho Bác nghe…”. Chị Tuyết chào Bác rồi được ngồi cạnh bên Người, chị kể những trận đánh của du kích quê mình cho Bác nghe. Bác gật đầu khen ngợi. Bác lại hỏi chuyện đi đường ra Bắc thế nào. Chị Tuyết như quên mất những vất vả, hiểm nguy của mình, chị chỉ nhớ đến các anh bộ đội trên đường hành quân vào Nam nhắn gửi những lời tha thiết: “Em ra miền Bắc gặp Bác Hồ nhớ cho các anh gửi lời thăm Bác, và hứa sẽ sớm giải phóng miền Nam để đón Bác vào thăm”. Chị thưa lại với Bác. Bác ngồi im và nước mắt rưng rưng…

Chị được ở lại dùng cơm trưa cùng Bác, bữa cơm rau dưa nhưng chị Tuyết luôn ghi nhớ trong lòng trước những lời dặn dò của Bác. Chị kể, khi thấy mình ăn chén cơm chưa sạch, đã định thôi không dùng nữa mà đặt xuống, Bác bảo: “Cháu cố gắng ăn cho hết những hạt cơm còn lại trong chén, đồng bào mình còn khổ lắm, chúng ta không nên lãng phí…”. Mãi đến giờ, dù không còn đói ăn, khát uống như xưa, chị vẫn khắc ghi lời Bác. Đó là bài học vì dân, vì nước, “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”.

Một buổi sáng đầu thu năm 1969, Bác gọi chị Tuyết vào căn dặn: “Cháu phải cố gắng vượt qua thương tật học tập thật tốt để sau này về giúp miền Nam”. Không ngờ đó cũng là lần cuối cùng chị được gặp Bác Hồ. Bác đi xa, nhưng đối với chị Tuyết, hình như Bác vẫn ở gần bên cạnh chúng ta, mỗi lần làm điều gì, chị đều nghĩ đến Bác, đến đồng bào, và thấy vui khi làm những điều có ích, vì chị nghĩ là mình đã làm đúng lời Bác dạy, như thấy Bác mỉm cười, động viên mình.

Nói về việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang được Đảng và Nhà nước ta phát động trở thành việc làm thường xuyên trong tất cả mỗi cán bộ, đảng viên và toàn dân, chị Tuyết tâm tình: “Chị rất buồn khi thấy nơi phố xá, thị thành chúng ta đầy cảnh xa hoa lãng phí; ở các quán xá, nhà hàng, có những lúc phung phí hàng chục triệu đồng cho mỗi cuộc tiếp khách; nhiều đám cưới vài trăm bàn tiệc dư thừa bỏ đi; chưa nói lãng phí thời giờ, điện nước của công…” Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người của nước ta còn thấp, đồng bào đang gặp bao khó khăn sau lũ lụt, thiên tai. Năm học mới, nhiều gia đình không đủ tiền để nộp cho con; Tết đến xuân về còn bao nhiêu đứa trẻ lang thang, nhiều công nhân không thể về quê với gia đình vì thiếu tiền tàu xe…Nhớ lại bữa cơm trưa lần đầu gặp Bác, nhớ lời Bác nhắc hãy ăn hết những hạt cơm còn sót trong chén, vì đồng bào mình còn khổ lắm, có lẽ mỗi chúng ta phải suy nghĩ về ý thức tiết kiệm, làm lợi cho xã hội, cho nhân dân, cho đất nước. Chúng ta đang hưởng ứng thực hiện việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Hãy bằng hành động thiết thực để làm theo lời Bác.

Theo baoquangngai.com.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Sống trong muôn vàn tình thương của Bác Hồ

Thoát khỏi cảnh ngục tù tăm tối, dã man của bọn xâm lược Mỹ, tôi được đưa ra miền Bắc chữa bệnh. Từ những ngày đầu tháng 11 năm 1958, tôi nằm điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô. Đã mấy lần Bác vào Bệnh viện thăm mà tôi cứ mê man không hay biết gì cả! Lúc tỉnh dậy, có chị thương tôi quá không giấu được nỗi vui mừng, luyến tiếc ấy, bèn kể lại là Bác đến thăm tôi. Tôi khóc òa lên như một đứa trẻ thơ xa mẹ. Một hôm, tôi vừa mở mắt ra, thì thấy một bác sĩ già khoác chiếc áo bờ-lu trắng đứng cạnh giường đang nhìn tôi âu yếm, với nụ cười hiền hậu. Sau giây phút ngỡ ngàng tôi nhận ra Bác, tôi nắm chặt bàn tay Bác và khóc nấc lên. Đúng Bác Hồ rồi, người mà các cô chú trong nhà tù và bà con ở miền Nam hằng ước mơ được gặp. Bác cúi hôn trán tôi. Tôi khóc to hơn và gọi: “Bác ơi, các cô chú trong nhà tù và đồng bào miền Nam mong nhớ Bác lắm!”. Tôi ngất lịm đi. Lúc tỉnh dậy, các chị kể lại là nhìn thấy tôi trong cơn mê sảng Bác không cầm được nước mắt. Đó là buổi tối ngày 14-11-1958, cái ngày không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi. Tình thương bao la của Bác luôn luôn sưởi ấm lòng tôi. Tôi thấy như thêm sức mạnh để chiến đấu với bệnh tật.

songThủ tướng Phạm Văn Đồng (bên trái), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Anh hùng lực lượng vũ trang Trần Thị Lý, năm 1975.

Thế là ước mơ được gặp Bác của tôi đã thành sự thật. Ước mơ đó, tôi ấp ủ từ ngày má tôi thường gọi là “bé Nhâm”. Hồi ấy, tôi ở trong hàng ngũ thiếu nhi cứu quốc. Tôi ước mơ được gặp Bác Hồ, như bạn tôi là Kim Phú được dâng hoa lên Bác ngày 2-9-1945, tại Thủ đô Hà Nội. Bạn Phú về kể lại cho tôi nghe chuyện Bác Hồ, người ông yêu quý của các cháu thiếu niên, nhi đồng. Từ đó, tôi có cảm giác Bác Hồ là người ông trong nhà.

Được sự quan tâm, săn sóc rất mực tận tình của Bác, của Đảng, được sống trong tình thương yêu ruột thịt không bờ bến của đồng bào miền Bắc, và cả sự chia sẻ đau thương của nhân dân thế giới, thân thể tôi lần lượt lành khỏi 42 vết thương do giặc gây ra, sức khỏe tôi dần dần hồi phục. Tôi được đưa về nghỉ dưỡng sức ở một nơi yên tĩnh. Thỉnh thoảng tôi được Bác gọi vào nơi Bác ở.

Bác hỏi về quê quán và bệnh tình của tôi. Bác hỏi thăm sức khỏe các cô chú, anh chị cùng ở nơi an dưỡng với tôi. Tôi kể Bác nghe tình hình đời sống và đấu tranh của chị em phụ nữ miền Nam. Bác cầm tay tôi và nhẹ nhàng xoa bóp các vết sẹo. Bàn tay Bác rung rung. Tôi nhìn Bác, định không kể lại sự tra tấn dã man của giặc, sợ Bác xúc động. Đột nhiên Bác hỏi:

– Chúng nó xâu tay cháu với bao nhiêu người khác?

Tôi giật mình. Sao Bác biết? Rồi tôi dè dặt thưa:

– Dạ, hơn bốn mươi chú…

Thấy tôi ngập ngừng, Bác lại nhắc:

– Cháu kể tiếp đi. Tôi thầm nghĩ, không thể giấu Bác được, tôi thưa:

– Sau những trận đòn tra tấn dữ dội, các chú chân bị cùm, tay bị xâu dây thép cùng với cháu, độ vài ngày sau lên cơn giật rồi chết dần, chết mòn… Chỉ còn lại một mình cháu. Cháu cũng không hiểu tại sao cháu lại không chết.

– Tại sao cháu bị chúng tra tấn dã man mà cháu cũng không khai?

– Cháu nghĩ là nếu cháu khai thì sẽ mất hết tình thương của cách mạng, của Bác và của các chú, các cô đã đùm bọc, dạy dỗ cháu lúc cháu ở trong tù. Cháu khai thì cháu có tội với đồng bào. Lúc nào cháu cũng thấy hình ảnh Bác ở trước mặt cháu. Có lúc cháu nằm mơ thấy Bác đứng hai tay chống nạnh trước quân thù, bọn chúng nhìn Bác hoảng sợ chạy hết và cháu được tự do, sung sướng… Có lúc cháu mơ thấy Bác lấy khăn chặm nước mắt khi Bác nhìn cảnh tra tấn cực kỳ tàn ác của giặc Mỹ và lũ tay sai đối với chúng cháu…

Nói đến đây, tôi úp mặt trong lòng bàn tay Bác, tôi khóc như một em bé. Bác nâng nhẹ đầu tôi lên. Bác rơm rớm nước mắt nói:

– Nghĩ đến cháu, mọi người đều căm thù sâu sắc chế độ Mỹ – Diệm ở miền Nam.

Mỗi lời nói, mỗi ánh mắt, mỗi cử chỉ nhỏ nhất của Bác khắc sâu vào tâm trí tôi. Trong giờ phút thiêng liêng này, tôi không thể không nhớ lại những lúc ở tù, gian khổ, đấu tranh với kẻ thù, chúng tôi chiến thắng được là nhờ có hình ảnh Bác trong trái tim. Bây giờ được thật sự ngồi bên Bác, càng nhìn Bác tôi càng nhớ đến các đồng chí ở trong Nam luôn luôn hướng về Bác để có thêm sức mạnh chiến đấu và chiến thắng. Biết bao nhiêu đồng chí bị tù đày, tra tấn, biết bao nhiêu cán bộ hoạt động trên khắp miền Nam chưa một lần được gặp Bác. Tôi có vinh dự lớn hôm nay là do bao xương máu của đồng bào miền Nam đã đổ xuống trên mảnh đất Thành đồng. Bác kể cho tôi nghe những mẩu chuyện lúc Bác hoạt động ở nước ngoài, những mẩu chuyện trong thời kỳ kháng chiến để động viên, cổ vũ tôi cũng như phụ nữ, thanh niên miền Nam dù hy sinh gian khổ đến mấy cũng luôn luôn phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc ta, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Bác căn dặn tôi phải luôn luôn vui vẻ, lạc quan để chiến thắng bệnh tật.

Tôi thường được các chú dặn: Hễ gặp Bác thì nhớ kể cho Bác nghe những chuyện vui, đừng kể những chuyện đau thương làm Bác xúc động. Nhưng tôi không tài nào giấu Bác được điều gì. Bác hỏi tỉ mỉ về tình hình gia đình, quê hương tôi. Bác biết tôi ra miền Bắc chữa bệnh xa mẹ hiền, người mẹ đã chịu nhiều đau khổ, đang khát khao được có ngày gặp lại con gái thân yêu, và xa bà con ruột thịt, xóm làng. Có lúc Bác thấy tôi ngồi thờ thẫn, dường như suy nghĩ điều gì. Bác liền hỏi:

– Sao cháu lại buồn? Cháu nhớ mẹ à?

Bác hỏi chuyện về chị Trần Thị Vân, một người vừa là chị vừa là bạn chiến đấu thân thiết của tôi. Trước đây, có nhiều tin là chị Vân đã hy sinh, sau khi bị địch tra tấn dữ dội. Nhưng thật ra, chị đã vượt qua mọi thử thách ác liệt, bám chắc lấy cuộc sống cho đến ngày trở về với phong trào. Tôi kể cho Bác biết chị Vân đã bị giặc bắt cùng với đứa cháu gái. Bọn chúng chưa nhận được ai là Trần Thị Vân trong hai người. Thế là cô cháu gái liền nhận mình là Vân. Địch giết người cháu gái và chị Vân đã thoát khỏi bàn tay đẫm máu của chúng. Nghe tôi kể, Bác xúc động nói:

– Hành động của các cháu thật anh hùng. Phụ nữ miền Nam rất anh hùng.

Sau này, chị Vân được ra thăm miền Bắc và ở lại chữa bệnh. Chị đã được gặp Bác Hồ.

Bác biết tôi cố gắng học văn hóa, nhưng còn kém về văn. Nhiều lần tôi vào thăm Bác, Bác dặn:

– Cháu kém về văn thì phải chăm xem sách, đọc báo, đọc xã luận, nghe các chú nói chuyện. Đọc báo có đoạn nào hay thì đánh dấu vòng lại. Lúc khác cần, đọc lại. Đó là một cách học. Học từ từ, kiên nhẫn.

Bác bảo tôi tập viết thư, viết cho Bác. Một lần đi điều trị ở nước ngoài, tôi nhận lá thư đầy tình nghĩa của Bác và tôi trân trọng viết thư về thăm Bác. Tôi chỉ viết được mấy dòng cụt ngủn: “Thưa Bác, hiện nay cháu đang điều trị. Sức khỏe cháu tốt. Các bác sĩ chuẩn bị mổ vết thương cho cháu. Nghe lời Bác dặn, cháu yên tâm chữa bệnh. Bác đừng lo cho cháu”… Tôi moi óc không biết viết thêm gì nữa cho Bác vui. Các chú cười: “Sao viết ngắn thế!”

Khi về nước, tôi đến thăm Bác, được Bác khen:

– Cháu viết, văn không lòng thòng, ngắn gọn, thế là tốt. Bác nghe các chú bảo là từ lớp hai tôi đã cố gắng khắc phục khó khăn về bệnh tật, học bổ túc văn hóa hết lớp 8. Bác mừng lắm. Nhưng Bác khuyên tôi là không nên học nhiều trong lúc sức khỏe chưa vững vàng. Bác bảo: Phải nghe lời bác sĩ, chữa lành bệnh rồi hãy học. Cháu không sợ lạc hậu đâu. Miễn là ta sẵn có tinh thần.

Mỗi lần tôi vào thăm Bác, Bác thường cho tôi ăn cháo đậu xanh vì tôi không ăn được cơm. Lần nào, Bác cũng thấy tôi ăn ít quá, nhìn tôi, Bác lo lắng, thương xót, và nói:

– Cháu ăn ít lắm, phải gắng ăn nhiều hơn. Cháu còn xanh quá, cháu cố gắng ăn nhiều cho chóng khỏe! Những bữa cơm của Bác thật thanh đạm, giản dị như bữa cơm của bao gia đình chúng ta. Nhiều lúc, Bác dắt tôi đi dạo chơi trong vườn Phủ Chủ tịch. Bác không đưa tôi đi trên những con đường sỏi vì Bác biết chân tôi dẫm trên sỏi thì ảnh hưởng đến vết thương trên đầu. Bác chỉ cho tôi những cây dừa, cây bưởi, cây cam Bác trồng.

Tôi thường đeo một sợi dây chuyền giấu kín trong cổ áo. Sợi dây chuyền không làm tăng vẻ đẹp, không che được những vết sẹo do địch gây nên trên cổ, trên vai tôi, nhưng đó là sợi dây gắn bó hai đứa chúng tôi trong cuộc chiến đấu chung, một mất một còn với quân thù xâm lược. Tôi thưa với Bác, tôi đã viết thư về nhắn với người yêu nhiều lần rằng: Anh hãy quên Lý đi vì thân thể Lý bị tàn phế rồi. Anh nên xây dựng gia đình với người khác để bảo đảm hạnh phúc…”. Nhưng anh không chịu. Anh vẫn đợi chờ! Bác dạy tôi rằng: – Ăn ở phải có tình, tình nhà, nghĩa nước, tình yêu thương giai cấp. Phải có tấm lòng chung thủy. Bác rất vui khi nói đến các mối tình chung thủy. Một hôm, Bác nghe tin người yêu của tôi đã ra miền Bắc, Bác tặng cho tôi hai trái táo để mang về cho người yêu một trái.

Có lần bác sĩ thấy bệnh tình của tôi kéo dài do vết thương ở bụng vẫn thường rỉ máu và cho biết nếu mổ dạ con thì đỡ ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi muốn mổ cho đỡ khổ nhưng nghe vậy Bác không đồng ý. Bác nghĩ đến tương lai hạnh phúc của đời tôi. Tình thương của Bác đối với tôi thật không bờ bến. Tôi hiểu rằng Bác dành tình thương đó không chỉ riêng cho tôi mà cho toàn thể phụ nữ, thanh niên và đồng bào miền Nam gian khổ đi trước về sau.
Tôi còn nhớ một chiều xuân 1968, tôi lại được vào thăm Bác. Các chú cho tôi đến trước giờ hẹn. Bác đang làm việc trên chiếc nhà sàn đơn sơ. Tôi rón rén vào đứng sau lưng Bác. Bác đã biết, nhưng không quay lại, Bác bảo:

– Lý đó à. Cháu chờ Bác làm việc xong, một tí thôi!

Tôi thưa với Bác: Thưa Bác! Bác làm việc nhiều quá. Tuổi Bác ngày càng cao. Bác giữ gìn sức khỏe để vào thăm đồng bào miền Nam… Bác xúc động nói:

– Bác phải làm việc nhiều thì miền Nam mau thống nhất, Bác sẽ vui nhiều, khỏe nhiều.

Tôi ứa hai hàng nước mắt và thẫn thờ ngồi nhìn Bác làm việc, lòng nghẹn ngào, không dám nói thêm với Bác một lời nào. Ôi, suốt cuộc đời của Bác, Bác đã đặt hết tâm lực vào cuộc đấu tranh giải phóng đất nước. Từng giờ, từng phút, Bác lo cho miền Nam. Bác đã hy sinh hạnh phúc cá nhân vì nghĩa cả dân tộc.

Theo Trần Thị Nhâm
(Tức Trần Thị Lý, Anh hùng LLVTND, trích từ sách Bác Hồ với đất Quảng, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2000, tr.170-178).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế nào?

Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương đầu tiên thành lập ngày 15/7/1950 theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch. Sau khi phục vụ chiến dịch Biên giới, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường quan trọng: Cao Bằng – Bắc Kạn – Thái Nguyên.

Đội đã tổ chức thành nhiều Liên phân đội rải quân dọc tuyến đường và nhận nhiệm vụ bám trụ những nơi hiểm yếu. Liên phân đội thanh niên xung phong 321 của chúng tôi được nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù (thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn), nằm trên tuyến đường từ thị xã Bắc Kạn đi Cao Bằng. Cầu Nà Cù lúc này không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi.

Trung tuần tháng 9 năm 1950, chúng tôi được tin báo có đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần) sẽ đến thăm đơn vị. Đêm hôm đó, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu để đón khách. Vừa trông thấy ánh đèn pin thấp thoáng từ ngoài cửa rừng đi vào, đoán là khách đã đến, tôi cho anh chị em vỗ tay hoan hô: “Hoan hô đồng chí Trần Đăng Ninh”. Khách vào tới nơi, định thần nhìn lại, tất cả chúng tôi đều sững sờ trước niềm vinh hạnh phúc thật bất ngờ: Bác Hồ đến thăm. Hàng ngũ của chúng tôi trở nên xáo động…, nhưng do việc giữ bí mật đã ăn sâu vào ý thức từng người nên trong hàng ngũ cũng chỉ truyền đi những tiếng reo khe khẽ: “Bác Hồ! Bác Hồ!”. Rõ ràng Bác đang ở trước mắt mà chúng tôi cứ ngỡ như một giấc chiêm bao! Bác vẫn giản dị với bộ quần áo bà ba màu nâu, chiếc khăn quàng cổ che kín cả chòm râu. Đi bên cạnh Bác là đồng chí Trần Đăng Ninh.

Bác tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu:

– Các cháu ngồi cả xuống.

Chúng tôi đều răm rắp nghe theo lời Bác, im lặng ngồi xuống.

Những câu đầu tiên Bác hỏi chúng tôi là những lời hỏi thăm ân cần về tình hình đời sống của đơn vị.

Bác hỏi:

– Các cháu ăn uống có đủ no không?

– Thưa Bác có ạ!

– Các cháu có đủ muối ăn không?

– Thưa Bác đủ ạ!

– Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không?

– Thưa Bác đủ ạ!

Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn thiếu thốn. Bác lại hỏi:

– Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không?

– Thưa Bác có ạ!

– Sau đó Bác lại hỏi tiếp:

– Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào?

Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng.

Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở:

– Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt.

Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp:

– Đào núi có khó không?

Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó, người sợ nói khó bị cho là tư tưởng ngại khó nên trả lời không khó.

Trả lời xong mà cứ nơm nớp sợ Bác hỏi thêm. Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi:

– Có ai dám đào núi không?

Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa:

– Thưa Bác có ạ! Thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ! (Hồi bấy giờ chúng tôi đào núi bằng cuốc, xẻng, không được cơ giới hoá như bây giờ). Nghe xong, Bác cười:

– Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì?

Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao” có người “cần kiên gan bền chí”, “cần vượt khó vượt khổ”, có người “cần xung phong dũng cảm”, toàn là những khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó.

Bác động viên chúng tôi:

– Các cháu trả lời đều đúng cả: Tóm lại việc gì khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. Tục ngữ ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày lên kim”. Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ:

Không có việc gì khó

                                            Chỉ sợ lòng không bền

                                            Đào núi và lấp biển

                                           Quyết chí ắt làm lên.

Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào.

Giữa rừng đêm khuya, dưới ánh lửa bập bùng, Bác cùng chúng tôi hoà nhịp theo bài ca “Nhạc tuổi xanh”. Chúng tôi hát hào hứng, say mê. Đến khi bài hát được hát lại lần thứ hai, nhìn lại thì không thấy Bác đâu nữa! Bác xuất hiện và ra đi như một ông tiên trong chuyện cổ tích huyền thoại. Đám thanh niên chúng tôi ngẩn ngơ nuối tiếc hồi lâu.

Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế đó. Rất mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc. Bài thơ là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong  chúng tôi lao vào cuộc kháng chiến và kiến quốc. Sau này mỗi khi gặp khó khăn, hình ảnh của Bác Hồ và bốn câu thơ của Bác lại được tái hiện trong lòng chúng tôi, tiếp cho chúng tôi thêm sức mạnh để vượt qua.

(Trích trong “Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

Theo www.baclieu.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thật thà tự phê bình

Đảng ta là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động. Đảng lấy nguyên tắc tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là quy luật phát triển của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta luôn luôn quan tâm và đòi hỏi các tổ chức Đảng, đảng viên phải thật thà tự phê bình và phê bình, coi đó là “thang thuốc hay nhất” để “phần tốt ở trong người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”(1).

Sau khi giành được độc lập, Nhà nước Dân chủ Cộng hòa còn non trẻ phải đương đầu với muôn vàn khó khăn chồng chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm giáo dục cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình. Với bút danh Chiến Thắng, Người viết bài đăng trên Báo Cứu quốc số 5, ngày 26-9-1945 dưới nhan đề “Muốn thành cán bộ tốt, phải có tinh thần tự chỉ trích”. Người yêu cầu đảng viên, cán bộ “cần phải có sự thành thực, tự vạch ra những khuyết điểm sai lầm để bồi bổ và sửa đổi đi”(2), “đảng viên và cán bộ cần làm gương mẫu thật thà phê bình và tự phê bình để tự giáo dục mình và giáo dục nhân dân(3) và “cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu thật thà tự phê bình”(4). “Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”(5).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự phê bình là “thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”(6). Tự phê bình và sửa chữa khuyết điểm là một cuộc đấu tranh tư tưởng giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa sự trung thực và thói man trá, giữa bản lĩnh và ươn hèn, do đó trên thực tế, nói tự phê bình thì dễ, nhưng làm thì khó vì nhiều người sợ rằng công khai thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm của mình sẽ làm mất thể diện, mất uy tín, sợ bị kỷ luật, có khi mất chức, mất quyền… do đó thường giấu giếm khuyết điểm hoặc đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan, cho cấp dưới, cho đồng nghiệp hoặc người dưới quyền. Tự mình không vượt qua được chính mình, không chiến thắng được “kẻ địch bên trong” thì không thể giáo dục được quần chúng.

Đảng viên, cán bộ không thật thà tự phê bình là biểu hiện tư tưởng cơ hội, không trung thực với Đảng, không thật thà với đồng chí, đồng nghiệp. “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt, thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân”(7).

Thực hiện được tự phê bình và phê bình, tức là con người đã đạt đến trình độ làm chủ được bản thân, điều chỉnh hoạt động của bản thân và tổng hòa được các mối quan hệ xã hội một cách tự giác. Triết gia người Đức là I.Kant gọi trạng thái này là “tự luật”, nghĩa là con người hành động do sự thôi thúc tự giác của chính mình, chứ không bởi sự hối thúc của ngoại cảnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Trong kiểm thảo, phải làm cho mọi người tự động, tự giác thật thà nêu khuyết điểm của mình, thành thật phê bình anh em”(8). Thật thà tự phê bình và phê bình để gột rửa thói hư, tật xấu, hoàn thiện những khiếm khuyết về tư tưởng và hành vi, về đạo đức và lối sống, không những làm cho hình ảnh người đảng viên, cán bộ ngày càng đẹp lên trong con mắt của nhân dân, mà còn là động lực quan trọng góp phần xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Để đảng viên, cán bộ thật thà tự phê bình, trước hết cần chú trọng giáo dục, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trau dồi phẩm chất, đạo đức, khơi dậy lòng tự trọng của mỗi cán bộ, đảng viên. Thật thà tự phê bình là trách nhiệm và là biểu hiện nhân cách cần có của người cán bộ cách mạng. Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cần thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ, chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”(9).

Cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu gương mẫu thật thà tự phê bình và phê bình nghiêm túc không những sẽ nhận được tình cảm tin yêu, mến phục của quần chúng, uy tín của họ sẽ được giữ vững và nâng lên mà còn có tác dụng tích cực lôi cuốn  đảng viên, cán bộ trong đơn vị học tập, làm theo.

Ngược lại, cán bộ lãnh đạo, quản lý không gương mẫu, không thật thà và công khai tự phê bình, không vui vẻ tiếp thu phê bình, thậm chí có biểu hiện răn đe, trù dập người phê bình thì sẽ  tự đánh mất niềm tin yêu, mến phục của đảng viên và quần chúng, là môi trường thuận lợi cho chủ nghĩa cơ hội hoành hành và phát sinh những nhân tố mất ổn định. Thật thà tự phê bình là một trong những vấn đề mấu chốt, có tính đột phá góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng.

Phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, ngày 28-2-2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả tốt, điều quan trọng là phải thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, người đứng đầu phải có các hình thức dân chủ để quần chúng đóng góp phê bình cán bộ, đảng viên và phải nghiêm túc tiếp thu những ý kiến phê bình đúng đắn. Những trường hợp sai phạm nghiêm trọng mà không thành khẩn, không tự giác, tập thể giúp đỡ mà không tiếp thu thì phải xử lý thích đáng”.

Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đòi hỏi mỗi đảng viên, cán bộ dù ở cương vị công tác nào, còn đương chức hay đã nghỉ hưu, đều phải có tinh thần tự giác rất cao, thật thà kiểm điểm tự phê bình, soi lại mình, đơn vị mình, gia đình mình, phát huy những điều tốt đẹp, kiên quyết điều chỉnh những khiếm khuyết lệch lạc về tư tưởng chính trị, về hành vi, ứng xử trong cuộc sống hằng ngày, xứng đáng là người đảng viên chân chính, góp phần bảo vệ thanh danh cao cả của Đảng, khôi phục lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

(1)-Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2002, tập 10, trang 666, ,(2) tập 4, trang 26; (3) tập 6, trang 241; (4), (8) tập 6, trang 412; (5) tập 5, trang 584; (6) tập 6, trang 209; (7) tập 9, trang 228; (9) tập 10.

Theo Hồng Minh/ Báo Bắc Ninh
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Yêu quý Bác vô cùng

Tôi có người bạn thân là Bùi Văn Phú. Trong những ngày chúng tôi ở Việt Bắc, đã có lần Phú tâm sự: “Ra trận sống chết là chuyện thường, nhưng nếu lỡ chết mà chưa được một lần gặp Bác, ân hận lắm!”. Ước mơ của Phú cũng là niềm ao ước to lớn của tôi. Yêu quý Bác vô cùng! Mong được gặp Bác vô cùng! Vậy mà, chỉ một năm sau, Phú của tôi đã hy sinh bên đồi Độc Lập, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nhớ lại mấy ngày trước Cách mạng Tháng Tám, khi nghe tin “Cụ Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”, anh tôi, Lưu Trọng Thùy, đã nói một câu đầy “bực tức”: Hồ Chí Minh là ai? Cụ Nguyễn Ái Quốc đâu mà lại để cho Hồ Chí Minh làm Chủ tịch?”. Ít hôm sau, khi được giải thích Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, anh tôi hể hả ra mặt: “Ừ! Có thế chứ!”. Rồi anh nhỏ to kể cho tôi nghe đôi điều anh hiểu biết về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đó là lần đầu tiên tôi được biết Nguyễn Ái Quốc là Hồ Chí Minh. Lòng tôi yêu Bác Hồ cũng bắt đầu từ đó.

Vào một ngày tháng 7 năm 1947, tôi cùng Soang, một chiến sĩ du kích, nằm trong vòng vây của 48 tên lính Pháp và lê dương. Tình thế thật nguy ngập. Tôi bàn với Soang: “Quyết không để giặc bắt. Phải hô khẩu hiệu trước khi cho nổ lựu đạn để chiến đấu đến cùng”. Chúng tôi cắn răng rút chốt an toàn. Trong giây phút căng thẳng ấy, tôi hình dung nếu tình huống xấu nhất xảy ra, bị giặc phát hiện, tôi sẽ cùng Soang vụt đứng dậy; sẽ gọi to tên Bác Hồ, tên Tổ quốc rồi hai trái lựu đạn cùng nổ tung… Nghĩ đến đó, hình ảnh Bác bỗng hiện lên trong trí óc, lòng tôi bỗng trở nên thanh thản lạ thường. Nhưng rồi bọn giặc đã không phát hiện ra chúng tôi. Thế là thoát.

64
Bác Hồ luôn dành tình cảm cho mọi tầng lớp nhân dân. Ảnh Tư liệu

Ngày 30-4-1957, Bác Hồ đến thăm Quân y viện 12. Bệnh viện nằm kề bên trận địa pháo cao xạ của tiểu đoàn tôi, ngăn cách bởi một hàng rào dây kẽm gai. Là Tham mưu trưởng Tiểu đoàn, hôm ấy tôi xuống làm việc với cán bộ đại đội. Nhờ một người quen bên bệnh viện báo tin, chúng tôi quyết định tạm xếp công việc, chạy ngay đến hàng rào, nhìn sang.

Bác kia rồi, trong bộ quần áo ka-ki bạc màu, đang từ khoa điều trị thương bệnh binh đi ra. Rồi Bác đứng nói chuyện với anh chị em, ngay giữa sân, bên cạnh chiếc ô tô của Người. Tôi say sưa nhìn Bác, nhưng không nghe Bác nói gì, vì xa quá. Dẫu sao tôi là người hạnh phúc, vì lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy Bác Hồ kính yêu.

Năm 1964, tôi được tham gia phục vụ triển lãm 10 năm kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Một buổi sáng, triển lãm đóng cửa. Lý do: Đón Bác Hồ đến thăm…

Bác xuất hiện từ cuối gian bên. Thấy tôi đứng đó, Bác liền hỏi:

Chú là chiến sĩ Điện Biên? (Có lẽ Bác nhìn thấy tôi đeo Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ).

Thưa Bác, vâng ạ!

Chú ở binh chủng nào?

Thưa Bác, cháu ở Pháo cao xạ.

À! Hồi đó Pháo cao xạ lần đầu ra trận, đánh tốt lắm. Thôi, chú giới thiệu đi. Vắn tắt thôi nhé!

Bác ra về. Chúng tôi tuy không hô “Hồ Chủ tịch muôn năm” nhưng trong tim chúng tôi in đậm bóng hình của Bác.

Ngày 3-9-1969, được tin Bác qua đời, cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị tôi ai nấy đều giàn giụa nước mắt. Lắng nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Hà Nội truyền đi những câu thơ rung động lòng người của nhà thơ Tố Hữu càng làm cho chúng tôi thương nhớ Bác khôn nguôi: “Bác đã đi rồi sao Bác ơi!/ Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời/ Miền Nam đang thắng mơ ngày hội/ Rước Bác vào thăm thấy Bác cười”.

***

Nhớ lại những tháng ngày qua, tôi vinh dự được gặp Bác 7 lần. Lần nào Bác cũng để lại trong tôi một ấn tượng vô cùng sâu sắc. Và, Bác ơi! Đó cũng là những giây phút hạnh phúc nhất đời con.

Theo baomoi.com
Thúy Hằng
(st)
bqllang.gov.vn

Người phi công hơn 8000 giờ bay phục vụ Bác Hồ

Ông Trần Ngọc Bích là một trong những phi công được giao nhiệm vụ chở Bác Hồ và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Lào.

Bữa cơm bình dị bên Người

Tháng 10 năm 1953, khi chưa đủ 19 tuổi, nghe tiếng gọi lên đường của Tổ quốc, ông Trần Ngọc Bích quê ở thôn Vạn Phúc Trung (xã Trường Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh) lên đường nhập ngũ. Đến tháng 2 năm 1956, ông được tuyển chọn đi học lái máy bay phục vụ chiến đấu. Sau đó hai năm, người đàn ông này tốt nghiệp xuất sắc lớp máy bay TU2 (máy bay thả bom).

Vào thời điểm đó, tình hình trong nước có một số biến động nên ông Bích phải chuyển sang học lớp máy bay AN2 (máy bay vận tải). Sau khi hoàn thành khóa học tháng 2 năm 1960, Trần Ngọc Bích về nước tham gia vào Đoàn bay 919, thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam.

Đoàn học viên không quân Việt Nam lúc ấy cử đi 18 người ra nước ngoài học lái máy bay. Trong đó có đồng chí Đào Đình Luyện, sau này là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đến năm 1960, sau khi tốt nghiệp lớp phi công loại xuất sắc, ông Bích cùng với đồng chí Hoàng Trọng Khai được điều về Trung đoàn Không quân vận tải 919. Khi đó, Thiếu úy Trần Ngọc Bích được phân công phụ trách lái máy bay trực thăng Mi-4. Đó là loại trực thăng do Liên Xô sản xuất, tốc độ bay tối đa 220km/giờ, tải trọng 1,4 tấn.

8000 gio bayÔng Trần Ngọc Bích hào hứng kể lại nhưng năm tháng được phục vụ Bác

Khi ấy, nước ta có ba chiếc máy bay trực thăng, tuy nhiên chưa có người lái. Trước tình hình đó, Liên Xô đã cử một chuyên gia dạy lái máy và một thợ sửa máy sang giúp đỡ.

“Khi chuyên gia Menlêép lái máy bay đưa Bác đi công tác đã thiếu lái phụ nên tôi được đảm nhận nhiệm vụ thiêng liêng đó. Không lâu sau, Đoàn bay 919 thành lập một tổ bay phục vụ Bác và Bộ chính trị”, ông Bích tâm sự.

Trong chín năm phục vụ Bác, người phi công trẻ Trần Ngọc Bích không biết mình đã bao nhiêu lần lái chiếc máy bay VN51Đ và chiếc Lốc xoáy 48 đưa Bác đi công tác xa. Nói chuyện với chúng tôi, ông Bích hồi tưởng: Vào 1963, tôi lái máy bay đưa Bác về thăm đồng bào Tuyên Quang, thăm lại căn cứ địa cách mạng ở cây đa Tân Trào. Ngày đó, ở Tuyên Quang, trời nắng như đổ lửa, đất ruộng nứt nẻ như sa mạc. Đi cùng với Bác có đồng chí Phạm Ngọc Thạch, đồng chí Vũ Kỳ và đồng chí Trần Đăng Ninh.

Buổi chiều máy bay đáp xuống Tuyên Quang nên lịch trình của Bác là nghỉ đêm, ăn sáng xong thì mới lên máy bay di chuyển vào Tân Trào. Hôm đó trời đã trưa thì máy bay mới hạ cánh xuống cánh ruộng lúa vừa gặt xong. Bác Hồ đi bộ đến một khe suối và nói với mọi người rửa tay chân rồi ăn cơm.

“Nhìn Bác dùng tay khoát nước lên rửa tay chân, tôi không ngờ trên thế giới này lại có một vị Chủ tịch giản dị như thế”, phi công Trần Ngọc Bích kể. Theo lời ông Bích, không có bữa cơm nào mà bình dị như bữa cơm ở Tân Trào năm 1963. Bác cùng với đoàn đã trải một chiếc ni lông rồi dùng dao thái từng nắm cơm nắm ra ăn. Bác lấy cho mỗi người một miếng cơm và nói: “Các chú ăn no vào, tối chúng ta mới về đến Hà Nội”.

Cảm động chuyến bay cuối được phục vụ Bác

Có lẽ, kỷ niệm ông Bích nhớ nhất trong quá trình bay phục vụ Bác là cú hạ cánh sai địa điểm. Do chưa có sự thống nhất giữa trung đoàn và bộ phận an ninh nên phi công Trần Ngọc Bích đã đáp máy bay xuống sân bê tông ở Sơn Tây để đón Bác.

Thấy Bác đến, họ ùa vây quanh kính cẩn chào hỏi Bác Hồ. Gặp người dân, Bác Hồ đã ân cần hỏi thăm bộ đội và nhân dân gần đó rồi tạm biệt mọi người lên đường.

Ngoài nhiệm vụ bay vận chuyển vũ khí và lương thực chi viện cho chiến trường miền Nam và nước bạn Lào, máy bay Mi-4 do ông Bích lái còn đảm nhiệm nhiệm vụ đặc biệt là bay phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Trung ương Đảng đi công tác.

Một kỷ niệm có lẽ mà trong cuộc đời phi công Trần Ngọc Bích nhớ mãi đó là ngày 15/2/1960, Trung đoàn 919 được đón Bác Hồ đến thăm. Ông Bích nhớ lại: Trong buổi nói chuyện hôm đó, sau khi nói về vị trí, nhiệm vụ của không quân và sự hiệp đồng của ngành hàng không, Bác đã chốt lại ba điều căn dặn: “Điều thứ nhất, Bác muốn dặn mỗi người phải vì dân, vì nước lập công xuất sắc. Điều thứ hai, mọi người phải đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau trong mọi mặt công tác, học hành và đời sống hàng ngày. Điều thứ ba là từ lãnh đạo đến nhân viên phục vụ đã có thành tích rồi thì càng phải cố gắng nhiều hơn nữa.

Người lính già nhớ lại chuyến bay cuối cùng được phục vụ Bác. Đó là tối ngày 23/4/1968. Sau khi hạ cánh an toàn xuống sân bay Bạch Mai, Bác đã gọi Tổ bay lại chia kẹo, thuốc lá cho từng người. Bác hỏi chuyện thân mật và không ai ngờ được đó lại là chuyến bay cuối cùng họ được chở Người.

Ngày 19/12/1975, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Trung đoàn Không quân trực thăng 916 trực thuộc Sư đoàn 371. Đại úy Trần Ngọc Bích được bổ nhiệm giữ chức Trung đoàn trưởng. Năm 1977, ông chuyển về công tác tại Quân chủng Phòng không – Không quân. Năm 1983, người phi công ngày nào đảm nhiệm cương vị Phó Hiệu trưởng Trường Chỉ huy Kỹ thuật Không quân, rồi đến  năm 1990 thì nghỉ hưu. Người lính già trở về với bên dòng sông La hiền hòa.

Hiện nay trong ngôi nhà của mình, Đại tá Trần Ngọc Bích dành một nơi trang nghiêm nhất để thờ Bác Hồ. Phía dưới chân dung Bác là một bức ảnh đặc biệt do đồng đội tặng. Đó là năm chiếc máy bay trực thăng  Mi – 8 mang theo cờ Tổ quốc diễu hành gần Lăng Bác. Trong trái tim người lính già, những kí ức về Bác Hồ mãi mãi khắc sâu.

Hà Hằng – Kim Long
Theo
 
nguoiduatin.vn
Phương Thúy
(st)
bqllang.gov.vn