Archive | 2012

Xuân Lộc- Địa danh làm rung chuyển Nhà Trắng mùa Xuân 1975

Thị xã Xuân Lộc (trước 30 – 4- 1975) thuộc tỉnh Long Khánh, nằm cách Sài Gòn 60 km về phía Đông Bắc, án ngữ trên nhiều trục giao thông quan trọng như: quốc lộ 1, quốc lộ 20, tỉnh lộ 3 và tuyến đường sắt Bắc-Nam. Trong thị xã gồm 6 ấp, 1 khu gia đình binh sĩ với 28.000 dân, đa số là gia đình những ngụy quân của Pháp, người miền Bắc di cư sau năm 1954; số này được bố trí ngay ở những vùng ven, tạo thành vành đai ngăn chặn sự xâm nhập của ta từ xa. Xác định đây là địa bàn phòng thủ trọng yếu, án ngữ trước cửa ngõ Sài Gòn, nên ngay từ khi nhảy vào xâm lược miền Nam, Mỹ đã xây dựng thị xã này thành một căn cứ quân sự lớn, với nhiều căn cứ như: sư đoàn 18 ngụy, bộ chỉ huy khu 33 chiến thuật, căn cứ thiết giáp, căn cứ pháo binh Hoàng Diệu, sân bay Cáp Rang, cơ quan cố vấn Mỹ…

Để cơ động phòng thủ, chúng xây dựng các đường hành lang trải nhựa chạy quanh thị xã tiếp giáp các ấp vùng ven. Đặc biệt, sau khi thành phố Đà Nẵng bị quân ta đánh chiếm và làm chủ, tướng Uây-oen, tham mưu trưởng lục quân Mỹ đã trực tiếp đôn đốc quân ngụy tổ chức một tuyến phòng thủ mới, kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh, trong đó Xuân Lộc là điểm trọng tâm, nhằm ngăn chặn bước tiến quân của ta theo đường số 1 và đường số 20 đánh vào Biên Hòa-Sài Gòn. Uây-oen chỉ thị cho Nguyễn Văn Thiệu và các tướng ngụy: phải giữ cho được Xuân Lộc, mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn. Vì vậy, Nguyễn Văn Thiệu đã dốc lực lượng và phương tiện “tử thủ” ở Xuân Lộc với mong muốn tạo được một thắng lợi để củng cố lại tinh thần cho quân ngụy và hối thúc viện trợ của Mỹ, đợi mùa mưa tới chuyển sang phản công giành lại những vùng đã bị mất. Từ dự tính như vậy, quân ngụy đã tập trung một lực lượng lớn phòng thủ Xuân Lộc gồm: sư đoàn 18 (còn đủ ba chiến đoàn), trung đoàn 5 thiết giáp, 8 tiểu đoàn bảo an, 20 đại đội địa phương quân, hàng nghìn cảnh sát và phòng vệ dân sự cùng lực lượng pháo binh, không quân chi viện tối đa. Lực lượng ứng cứu trực tiếp có lữ đoàn thiết giáp 3 ở Biên Hòa, lữ dù 1 ở Sài Gòn…

Về ta, Quân đoàn 4 được giao nhiệm vụ tiến công Xuân Lộc trong điều kiện thời gian chuẩn bị chiến đấu ngắn, một số đơn vị bị thương vong chưa được củng cố bổ sung kịp thời, đạn pháo và phương tiện vận chuyển thiếu, đường cơ động xa, sức khỏe của bộ đội chưa được hồi phục sau đợt chiến đấu liên tục, dài ngày, lại phải đột phá vào nơi phòng thủ mạnh của địch ở địa hình không thuận lợi. Nhưng trước tình hình địch đang hoang mang, dao động, để chớp thời cơ, giành quyền chủ động ngay từ đầu, Quân đoàn chủ trương vừa “đánh chắc, tiến chắc”, vừa “khẩn trương, táo bạo” sử dụng tập trung bộ binh, xe tăng, pháo binh tiến công thẳng vào sở chỉ huy tiểu khu và sư đoàn 18 ngụy. Theo phương án tác chiến, ta sử dụng Sư đoàn 7 tiến công hướng chủ yếu, từ phía đông đánh chiếm căn cứ sư đoàn 18 ngụy. Sư đoàn 341 đảm nhận hướng thứ yếu, từ phía Bắc đánh xuống, chiếm tiểu khu Long Khánh và các mục tiêu trong thị xã…

5 giờ 40 phút ngày 9-4, quân ta từ hai hướng đồng loạt tiến công Xuân Lộc. Trên hướng bắc, Trung đoàn 226 (Sư đoàn 341) thọc sâu đánh chiếm khu thông tin, khu cố vấn Mỹ, khu cảnh sát; nhưng ngay sau đó, địch đã tập trung lực lượng phản kích quyết liệt, ta phải dừng lại bên ngoài sở chỉ huy tiểu khu. Trên hướng đông, Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7) có xe tăng dẫn đầu tiến công vào căn cứ sư đoàn 18 ngụy, nhưng chỉ chiếm được một phần hậu cứ chiến đoàn 52 ngụy. Tại vòng ngoài, các Trung đoàn 270, Trung đoàn 209 đánh bại hai tiểu đoàn, diệt 7 xe tăng của chiến đoàn 43 và 48 ngụy từ Tân Phong và Núi Thị vào cứu viện cho thị xã, giải phóng ấp Bảo Toàn. Sư đoàn 6 diệt 5 chốt trên đường 1, thu 2 khẩu pháo 105 ly, buộc chiến đoàn 52 ngụy phải bỏ Túc Trưng kéo về ngã ba Dầu Giây.

Những ngày tiếp sau, tình hình chiến đấu trở nên căng thẳng, ta sử dụng lực lượng dự bị vào chiến đấu và gây cho địch nhiều thiệt hại nhưng chúng vẫn ngoan cố dựa vào công sự và được chi viện cả về binh lực và hỏa lực, tiếp tục chống trả ta một cách điên cuồng. Máy bay địch đánh phá ác liệt vào đội hình ta và hủy diệt các mục tiêu của chúng đã mất. Thương vong của các đơn vị ta tăng cao, 9 xe tăng ta sử dụng vào trận đánh đã bị bắn cháy và hỏng 6 chiếc, pháo 85 và 57 hỏng gần hết vì bom, pháo địch… Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Quân đoàn tổ chức đánh giá lại tình hình, thay đổi cách đánh mới, ngừng tiến công các vị trí địch trong thị xã, tổ chức giữ vững bàn đạp, duy trì áp lực thường xuyên, thực hiện các biện pháp nghi binh, làm cho địch tưởng rằng ta đang chuẩn bị đánh tiếp. Đồng thời, sử dụng Sư đoàn 6 cùng Trung đoàn 95B đánh chiếm Dầu Giây, tạo thế cô lập hoàn toàn Xuân Lộc. Trong khi Nguyễn Văn Thiệu tuyên truyền rùm beng về “chiến trắng Xuân Lộc”, về “khả năng chiến đấu của quân lực Việt Nam cộng hòa đã được phục hồi” thì quân ta đã tiến công làm chủ ngã ba Dầu Giây, giải phóng toàn bộ đường 20. Đường số 1 từ Xuân Lộc tới Bàu Cá bị cắt, Biên Hòa trở thành điểm tiền tiêu nhưng địch không còn mấy lực lượng để phòng thủ, chúng buộc phải bỏ Xuân Lộc tháo chạy về Biên Hòa… Thị xã Xuân Lộc được hoàn toàn giải phóng.

“Cánh cửa thép” Xuân Lộc ở cửa ngõ Sài Gòn bị đổ vỡ không chỉ làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở xung quanh Sài Gòn, làm suy sụp thêm tinh thần chiến đấu của quân ngụy, mà còn làm rung chuyển cả Nhà trắng và Lầu năm góc. Ngay sau khi được tin Xuân Lộc thất thủ, Uây-oen – tác giả của công trình lập tuyến phòng thủ Xuân Lộc đã phải thốt lên “Thế là hết! Tình hình quân sự là tuyệt vọng”. Còn Tổng thống Pho đã ngậm ngùi nói: “Chiến tranh đã kết thúc với Mỹ, không thể giúp Sài Gòn được nữa, họ phải đương đầu với bất cứ số phận nào đang đợi họ”./.

Tạ Quang
qdnd.vn

Thượng Đức-Địa danh nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

QĐND Online – Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Thượng Đức ở phía tây tỉnh Quảng Đà (nay là Quảng Nam), cách thành phố Đà Nẵng 40 km theo đường chim bay, là tiền đồn bảo vệ căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng, một trong những căn cứ lớn của địch ở miền Nam. Sau Hiệp định Pa-ri (1973), Thượng Đức trở thành căn cứ xuất phát các cuộc hành quân lấn chiếm của địch. Nông Sơn nằm trong thung lũng sông Thu Bồn. Thượng Đức nằm trong thung lũng sông Vu Gia, như hai nhánh cây xòe ra, cắm sâu vào lòng dãy Trường Sơn mà gốc cây là vùng B- Đại lộc và quận lỵ Đức Dục. Nhìn từ góc độ quân sự ở mặt trận Quảng Đà, thì vùng này có tầm quan trọng đặc biệt. Từ trước tới đây, nó là hậu cứ của Quân giải phóng ở mặt trận 4, nhưng sau ngày ký Hiệp định Pa-ri, bị quân ngụy lấn chiếm trái phép nên trở thành vùng tranh chấp. Ba phía: bắc, tây, nam đều là vùng căn cứ của ta, được nối với nhau bằng đường sông, đường bộ rất thuận tiện cho việc cơ động lực lượng. Thượng Đức nằm trên một địa hình rất hiểm yếu, ba bề là núi cao có nhiều dốc đứng, phía đông bằng phẳng là nơi hợp điểm của sông Côn và sông Vu Gia, nước sâu và chảy xiết. Ở đây chỉ có đường 14 qua Ái Nghĩa về Đà Nẵng. Đoạn đường từ Thượng Đức lên Bến Hiên, địch đã bỏ từ lâu. Phía tây và tây bắc, địch tổ chức nhiều tiền đồn trên các điểm cao.

Thượng Đức là một cứ điểm phòng thủ kiên cố, địch lợi dụng thế hiểm của địa hình xây dựng một hệ thống phòng thủ liên hoàn, tất cả các cơ quan chỉ huy, trung tâm thông tin, trạm thương binh và các kho tàng dự trữ đều nằm sâu dưới lòng đất. Trong các năm 1968, 1969, 1970, ta đã nhiều lần đánh Thượng Đức, nhưng không thành công. Mỗi lần bị đánh, địch lại tăng cường hệ thống phòng ngự kiên cố hơn. Chúng còn thiết kế hệ thống hầm ngầm hoàn chỉnh và các hỏa điểm bí mật. Địch mệnh danh Thượng Đức là : “Mắt ngọc”, là “Cánh cửa thép bất khả xâm phạm” và huênh hoang tuyên bố: “Khi nào nước sông Vu Gia chảy ngược thì Việt Cộng mới lấy được Thượng Đức”. Lực lượng địch ở đây có tiểu đoàn 79 biệt động biên phòng, đại đội bảo an 704, một trung đội pháo 105 ly, một trung đội cảnh sát dã chiến, một trung đội thám báo, một biệt đội sưu tầm và 21 trung đội dân vệ. Tổng số địch có 884 tên (chưa kể lực lượng phòng vệ dân sự). Ba ban hội đồng của 3 xã Lộc Bình, Lộc Vinh, Lộc Ninh có nhiều tên ác ôn khét tiếng chưa bị diệt. Hỏa lực của địch ở 3 xã này có 18 khẩu pháo cối các loại, 27 đại liên.

Lực lượng ta tham gia đợt mở đầu giải phóng Thượng Đức (28-7/7-8-1974) trong chiến dịch Nông Sơn – Thượng Đức có sư đoàn 304 (thiếu), được tăng cường một tiểu đoàn công binh của Lữ đoàn 209, đại đội tên lửa A.72, đại đội tên lửa B.72 của Quân đoàn 2, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương của tỉnh Quảng Đà, 2 đại đội địa phương, một tiểu đoàn đặc công của Quân khu 5. Sau đó được tăng cường thêm trên một đại đội bộ binh có xe tăng và hỏa lực pháo binh, không quân chi viện.

Qua 10 ngày nổ súng chiến đấu, đợt tiến công mở đầu đánh chiếm Thượng Đức kết thúc thắng lợi. Cùng với lực lượng địa phương, các đơn vị của Quân đoàn 2 tham gia chiến dịch đã thực hiện trọn vẹn mục tiêu của đợt hoạt động, san bằng chi khu Thượng Đức và toàn bộ các vị trí địch ở xung quanh, diệt 1.600 tên địch (trong đó có 900 tên bị bắt sống và tiểu đoàn 79 Biệt động quân bị diệt gọn), bắn rơi 13 máy bay, thu hơn 1000 súng các loại; giải phóng quận lỵ Thượng Đức và 4 xã Lộc Ninh, Lộc Vĩnh, lộc Bình và Lộc Quang với hơn 13.000 dân, mở ra một bàn đạp quan trọng uy hiếp căn cứ quân sự liên hiệp Đà Nẵng của địch từ hướng tây nam.

TRANG THU
qdnd.vn

Đồng Xoài – nơi đánh dấu sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ

QĐND Online – Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cứ điểm Đồng Xoài, còn gọi là Đôn Luân, nằm ở phía nam thị xã Phước Long, trùm lên quốc lộ 14 và tỉnh lộ 2, là cứ điểm mạnh trong tuyến phòng thủ sông Bé bảo vệ phía bắc Sài Gòn.

Trung đoàn 2, Quân giải phóng miền Nam sau khi tiêu diệt chi khu Phước Bình ngày 15-5-1965, được giao nhiệm vụ đánh Đồng Xoài. Ngày 9-6-1965, trong khi bộ đội ta đang lao vào chiếm lĩnh trận địa thì bất thình lình địch báo động. Tiểu đoàn 2 đang bí mật mở cửa tưởng bị lộ liền nổ súng. Trước tình huống bất ngờ ngoài dự kiến, Ban Chỉ huy Trung đoàn đã phải ban lệnh tiến công sớm hơn dự định 70 phút. Ta bị thương vong nhiều. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 2 phải đối phó gay go với lưới lửa dày đặc của địch trong gần 2 tiếng đồng hồ mới khai thông được cửa mở. Bộ đội ta xung phong đánh chiếm xong khu bảo an thì trời gần sáng. Ở hướng Tiểu đoàn 1, lợi dụng được thời cơ địch đang lo đối phó với Tiểu đoàn 2, bộ đội ta nhanh chóng tiến thẳng vào khu biệt động quân. Địch bị thiệt hại một số, số còn lại ra hàng. 4 giờ sáng ngày 10-6, quân ta làm chủ đại bộ phận cứ điểm Đồng Xoài. Địch co cụm về sở chỉ huy, khu cố vấn Mỹ, dựa vào hầm ngầm để cố thủ. Ta trụ lại, bao vây.

Trưa ngày 10-6, địch đổ một tiểu đoàn xuống Thuận Lợi hòng giải tỏa cho Đồng Xoài. Trung đoàn 1 Quân giải phóng nhanh chóng vận động đến bao vây, tiêu diệt gọn tiểu đoàn địch vừa đổ xuống. Đây là trận đánh địch đổ bộ đường không đạt hiệu suất cao của Quân giải phóng Nam Bộ. 15 giờ ngày 10-6, địch dùng Tiểu đoàn 52 biệt động phản kích chiếm lại Đồng Xoài, nhưng bị ta đánh diệt một đại đội, số còn lại chạy tan tác. Quân viện bị đánh tan, địch không còn hy vọng cứu số quân đang cố thủ, đã ném bom xuống cứ điểm, làm quân chúng bị chết và bị thương thêm một số.

17 giờ ngày 10-6, quân ta mở đợt công kích cuối cùng, tiêu diệt toàn bộ quân địch và làm chủ trận địa. Ngày 12-6, các chiến sĩ Trung đoàn 1 phục kích đánh diệt gần hết Tiểu đoàn dù 7 ngay từ khi chúng từ Đồng Xoài lên Thuận Lợi. Qua ba ngày chiến đấu ác liệt, ta tiêu diệt và đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn chủ lực ngụy, làm chủ cứ điểm Đồng Xoài. Mỹ phải thừa nhận sự thất bại của quân ngụy.

Thắng lợi của trận Đồng Xoài rất to lớn, nó khẳng định giá trị chiến lược của đòn tiến công của các binh đoàn chủ lực trong quá trình phát triển của chiến tranh cách mạng miền Nam và đã cắm một cột mốc đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến tranh đặc biệt của Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam./.

THU TRANG
qdnd.vn

Ninh Thuận với chiến công bắt sống tướng Ngụy trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

QĐND Online – Ninh Thuận là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, bắc giáp Khánh Hòa, tây giáp Lâm Đồng, nam giáp Bình Thuận và đông giáp biển Đông.

Ninh Thuận được bao bọc ba mặt là núi: Phía bắc và nam tỉnh là hai dãy núi nhô cao ra sát biển; phía đông là vùng núi cao của tỉnh Lâm Đồng. Địa hình có ba dạng: Miền núi, đồng bằng, vùng ven biển. Tỉnh có hai hệ thống sông chính: Hệ thống sông Cái, bao gồm các sông nhánh như sông Mê Lam, sông Sắt, sông Ông, sông La, sông Quao… và hệ thống các sông, suối nhỏ phân bố ở phía bắc và phía nam tỉnh như sông Trâu, sông Bà Râu. Thị xã Phan Rang (của tỉnh) nằm trên giao điểm của ba trục giao thông chiến lược là đường sắt Bắc-Nam, quốc lộ 1A, đường số 11 đi Đà Lạt. Phan Rang – Tháp Chàm cách thành phố Nha Trang 105km, cách Đà lạt 110km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350km.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, việc Mỹ-ngụy để mất vùng đất quân khu 1 và phần lớn quân khu 2 vào tay quân giải phóng, thì việc tổ chức tuyến phòng thủ Phan Rang nhằm che đỡ cho Sài Gòn từ xa trở thành vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Địch tính toán rằng, sau khi giải phóng xong các tỉnh miền Trung, ta sẽ phải để lại nhiều đơn vị giữ các địa phương đó. Ta chỉ có khả năng tăng cường cho Nam Bộ nhiều nhất một quân đoàn, hành quân nhanh nhất thì cũng mất hai tháng. Nếu chúng cầm cự được với các quân đoàn chủ lực của ta trên các mặt trận cho đến mùa mưa (tức là đầu tháng 6) thời tiết sẽ gây nhiều khó khăn, ta sẽ không thể tổ chức đánh lớn Sài Gòn trong mùa tới. Địch sẽ có thời gian để củng cố lực lượng và tổ chức phản công giành lại những vùng đất đã mất. Với sự tính toán chủ quan như vậy, ngày 2-4-1975, chính quyền Sài Gòn quyết định sáp nhập các phần đất còn lại của quân khu 2 vào quân khu 3; đồng thời lập bộ tư lệnh tiền phương quân khu 3 đóng tại sân bay Thành Sơn (bắc thị xã Phan Rang) do trung tướng Nguễn Vĩnh Nghi cầm đầu. Đồng thời, chúng tổ chức tuyến phòng thủ Phan Rang với lực lượng hơn 10.000 quân cùng địa hình có lợi, lại được sự chi viện lớn của cả lực lượng hải quân và không quân.

Thế nhưng chúng đã lầm, theo chỉ thị của Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh cánh quân Duyên Hải, Sư đoàn 3 (Quân khu V) gấp rút hoàn thành công tác chuẩn bị đánh Phan Rang, mở cửa cho Quân đoàn 2 tiến vào giải phóng Sài Gòn. Bằng lối đánh thần tốc, dũng cảm và mưu mẹo, rạng sáng ngày 16-4-1975, Sư đoàn 325 phối hợp với Sư đoàn 3 (Quân khu V) giải phóng thị xã Phan Rang. Vấn đề cấp thiết được đặt ra sau đấy là ta phải chiếm nốt sân bay Thành Sơn, bẻ gãy sự kháng cự cuối cùng của địch ở Ninh Thuận. Để nhanh chóng dứt điểm mục tiêu sân bay Thành Sơn, Bộ Chỉ huy Quân đoàn 2 đã chỉ thị cho sư đoàn 325 tổ chức thêm một mũi bộ binh, xe tăng, từ thị xã Phan Rang đánh lên sân bay Thành Sơn. Ngay sau khi nhận được mệnh lệnh của Quân đoàn, Sư đoàn, Trung đoàn 101 lập tức phái Đại đội 3 bộ binh cùng với xe tăng và hai trung đội của Đại đội 2 bộ binh tiến lên phía tây bắc, đánh chiếm sân bay Thành Sơn. Khi xe tăng và bộ binh Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 101 vận động đến quận lỵ Bửu sơn (Tháp Chàm) phát hiện địch, bộ đội ta lập tức tách làm 2 mũi: mũi số 1 chọc thẳng vào cổng số 1 sân bay Thành Sơn; mũi thứ 2 đánh vào quận lỵ Bửu Đức. Đến 9 giờ 20 phút, Đại đội 2 và xe tăng chiếm gọn quận lỵ Bửu Sơn. Thừa thắng, bộ binh và xe tăng ta đánh thẳng vào khu vực đường băng chính. Trên hướng bắc sân bay, lúc này, các chiến sĩ Trung đoàn 25 và Sư đoàn 3 dùng mìn liên kết phá tung 11 lớp rào kẽm gai, đánh tràn vào căn cứ. Một mũi khác dánh thẳng vào cổng số 2. Đến 9 giờ 30 phút, Trung đoàn 101 bộ binh có xe tăng của Lữ đoàn 203 phối hợp, cùng với các mũi tiến công của bộ binh Trung đoàn 25, Sư đoàn 3 gặp nhau ở khu vực đài chỉ huy sân bay. Quân ta hoàn toàn làm chủ sân bay, thu 40 máy bay còn nguyên vẹn.

Do quân ta bất ngờ ập vào chiếm đường băng, bộ chỉ huy tiền phương quân khu 3 của địch không kịp lên máy bay rút chạy. Nguyễn Vĩnh Nghi cùng một số tướng tá, nhân viên thân cận đành phải vượt rào, cải dạng thành thường dân, tìm đường chạy trốn về phía nam. Nhưng mọi ngả đường đã bị vít chặt. Tối 16-4, trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Sang cùng nhiều sĩ quan của bộ chỉ huy tiền phương quân khu 3 địch đang lủi trốn ở khu vực bãi mía thuộc thôn Mỹ Đức (nằm giữa sân bay Thành Sơn và thị xã Phan Rang) bị lực lượng truy quét tàn binh của Sư đoàn 3 tóm gọn.

HÀ THÀNH
qdnd.vn

Những kiểu “làm giàu” của sĩ quan Quân đội Sài Gòn

QĐNDTrong những năm đầu thập niên 1970, Quân đội Sài Gòn từng lan truyền câu nói: “Nhất Trí, nhì Quang, tam Lan, tứ Quảng” nhằm đồn thổi về mức độ giàu có của các viên tướng: Đỗ Cao Trí, Đặng Văn Quang, Lữ Lan và Đoàn Văn Quảng. Chưa rõ thực hư về số tài sản của các viên tướng trên, song qua lời kể của các sĩ quan chế độ cũ – từng học tập, cải tạo ở Trại cải huấn của ta – thì phần đông sĩ quan Quân đội Sài Gòn từ cấp đại đội trở lên đều có mức sống khá “sung túc” do biết “kiếm thêm” những khoản thu nhập từ các chức vụ của họ.

Gieo mộng “hưởng thụ” trong sĩ quan trẻ

Sĩ quan Quân đội Sài Gòn có hai loại ngạch là hiện dịch và trù bị. Sĩ quan hiện dịch là đối tượng lấy quân đội làm nghề nghiệp suốt đời, được thăng cấp nhanh và ưu tiên sắp xếp những vị trí quan trọng, đến tuổi giải ngũ được hưởng lương hưu. Còn sĩ quan trù bị là những đối tượng có lệnh Tổng động viên vào phục vụ quân đội trong thời hạn 4 năm. Sau 2 năm, sĩ quan ngạch trù bị được xét chuyển sang ngạch hiện dịch với điều kiện sức khỏe tốt và sau 6 tháng không vi phạm kỷ luật. Trên thực tế, sau 4 năm, chính quyền Sài Gòn không hề giải ngũ cho số sĩ quan trù bị mà chỉ xem xét trong những trường hợp đặc biệt.

Theo Luật “Tổng động viên” của chính quyền Sài Gòn, tuổi quân dịch của nam thanh niên là 18 và thành phần được xếp vào hàng ngũ sĩ quan là những thanh niên đã có bằng tú tài. Người có bằng tú tài nếu không tình nguyện vào học 4 năm tại Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (ra trường được phong hàm Thiếu úy hiện dịch) thì sẽ bị gọi trình diện và vào học 8 tháng tại Trường bộ binh Thủ Đức (ra trường được phong hàm sĩ quan trù bị, cấp bậc Chuẩn úy). Đa số sĩ quan hiện dịch xuất thân từ gia đình các quân nhân, cựu quân nhân hoặc công chức phục vụ trong chính quyền Sài Gòn, ngoài ra còn có những sĩ quan trước đây từng phục vụ trong chế độ thực dân của Pháp; số khác thuộc nhóm hạ sĩ quan được thăng lên sĩ quan. Ngạch sĩ quan trù bị lại bao gồm đủ các thành phần xã hội, trong đó có nhiều người xuất thân từ các gia đình công nhân và nông dân.

Trong bản tường trình viết trong Trại cải huấn ở Yên Bái (tháng 11-1976), Tướng Nguyễn Xuân Trang, người từng giữ chức Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Sài Gòn, cho biết: “Trong các năm 1974-1975, sĩ quan Quân đội Sài Gòn có 40% là sĩ quan hiện dịch, còn lại thuộc ngạch trù bị. Sở dĩ tỷ lệ sĩ quan trù bị cao như vậy là vì số thanh niên thi hành Luật Tổng động viên và vào học tại Trường bộ binh Thủ Đức mỗi năm trung bình lên tới 5000 người, trong khi Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt hằng năm chỉ đào tạo khoảng 200 sĩ quan. Tỷ lệ sĩ quan hiện dịch trong hàng ngũ sĩ quan cấp tướng, tá cũng luôn cao hơn sĩ quan cấp úy”.

Với quan niệm: Trở thành sĩ quan hiện dịch sẽ được hưởng một chế độ lương bổng ưu đãi và nhất là sau này được ưu tiên đảm nhận những chức vụ quan trọng nên đa phần sĩ quan trù bị luôn cố gắng “thể hiện” mình để sớm trở thành sĩ quan hiện dịch. Nắm bắt được động cơ tiến thân của số sĩ quan trẻ, chính quyền Sài Gòn đã tung ra “miếng mồi” hưởng thụ nhằm mua chuộc, động viên họ “chiến đấu tốt” để “chức vụ càng cao, quyền lợi càng tăng”. Chẳng hạn, số sĩ quan là Chỉ huy các đơn vị hoặc giữ chức vụ từ Trưởng phòng trở lên đều có tiêu chuẩn xe riêng; một số người còn được cấp hoặc mua nhà trả góp. Sĩ quan nắm chức Đại đội trưởng sẽ được tiêu chuẩn một binh sĩ cận vệ và giúp việc; chức Tiểu đoàn trưởng có từ 2-3 binh sĩ giúp việc; lên tới cấp tướng thì có tiêu chuẩn một sĩ quan Chánh Văn phòng, một sĩ quan tùy viên và 3 binh sĩ giúp việc. Sĩ quan cấp tướng khi về hưu còn được hưởng tiêu chuẩn 1 sĩ quan và 3 binh sĩ phục vụ. Với chính sách kết hợp giữa quân sự và dân sự, sĩ quan cấp tá còn được chuyển sang giữ các chức vụ hành chính như: Quận trưởng, Tỉnh trưởng, Đô trưởng, Tổng giám đốc, Đổng lý văn phòng… hoặc ra ứng cử các ghế dân biểu, nghị sĩ.

Muôn kiểu “làm giàu” của các tướng, tá

Tướng Lê Minh Đảo, từng giữ chức Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 18, đã viết trong bản tường trình trong thời gian học tập ở Trại cải huấn của ta: “Khi Ngô Đình Diệm nắm quyền, lương của quân nhân được trả tương đối cao so với vật giá bên ngoài, do đó gia đình quân nhân có được một cuộc sống ổn định. Thời ấy, Quân đội Sài Gòn đã cấm sĩ quan và gia đình kiếm việc làm thêm để mưu sinh. Nhưng đến thời Nguyễn Văn Thiệu và những năm sau đó, do lạm phát, vật giá leo thang nên đồng lương của sĩ quan không đủ sống, Quân đội lại cho phép quân nhân có thể kiếm việc làm ngoài giờ, đó cũng chính là nguyên nhân phát sinh những thủ đoạn kiếm tiền của sĩ quan và gia đình họ”. Viên tướng một sao này đã tự chia ra những kiểu kiếm tiền của đội ngũ sĩ quan cùng thời là những kiểu kiếm tiền “lương thiện” và “không lương thiện”. Theo đó, khá đông sĩ quan ở các đơn vị đồn trú trong đô thị thường tìm việc làm thêm vào ban đêm để kiếm sống như: Dạy học, lái taxi, chạy xe máy chở khách… còn một số bà vợ của các sĩ quan thì chọn cách buôn bán hoặc hùn vốn làm ăn tùy theo cơ hội. Ngoài ra, có không ít sĩ quan (thường từ cấp úy đến cấp thiếu tá) là những người không nắm chức vụ quan trọng, vợ con không kiếm được công ăn việc làm nên đời sống gia đình cũng không mấy dư giả. Tuy vậy, số này vẫn phải tỏ ra là những gia đình sĩ quan có cuộc sống sung túc và chính Lê Minh Đảo đã từng chua chát gọi họ là những thành phần “bần hàn mạ vàng”.

Tướng Đỗ Cao Trí – nhân vật được đồn thổi là giàu có nhất trong số các tướng lĩnh Quân đội Sài Gòn đầu thập niên 1970.

Với kiểu kiếm tiền mà Lê Minh Đảo cho là “bất lương”, số này thường rơi vào những sĩ quan đảm nhiệm các chức vụ hậu cần và phụ trách hành chính. Những chức vụ ấy đã tạo điều kiện để các sĩ quan – không hẳn ở cấp bậc và chức vụ cao – có thể cấu kết để tham nhũng. Đôi khi một sĩ quan cấp úy hoặc một hạ sĩ quan vẫn có cơ hội làm giàu bất chính, thậm chí giàu hơn hẳn một đại tá hoặc một viên tướng trong Quân đội Sài Gòn.

Trong tài liệu tham khảo “Về cơ sở kinh tế của sĩ quan Quân đội Sài Gòn” do Cục Địch vận (Tổng cục Chính trị) khảo sát năm 1973, các cán bộ địch vận đã tiến hành nghiên cứu đời sống kinh tế của 154 sĩ quan (trong đó có 10 sĩ quan cấp tướng, 135 sĩ quan từ đại úy đến đại tá, 9 sĩ quan từ chuẩn úy đến trung úy) thuộc các chức vụ từ trung đội trưởng đến các chức danh dân sự do sĩ quan đảm nhiệm như: Tỉnh trưởng, Quận trưởng, Nghị sĩ, cán bộ bình định… Tài liệu nghiên cứu cho thấy, tất cả trong số này đều dựa vào chức, quyền để kiếm tiền và có tới… 21 biện pháp để sĩ quan Quân đội Sài Gòn “làm giàu” thông qua những khoản thu nhập bất chính.

Để có được cuộc sống sung túc, các tướng, tá trong Quân đội Sài Gòn còn lợi dụng những mối quan hệ thông qua phe cánh hoặc người thân ở trong và ngoài nước. Có người lợi dụng mối quan hệ với giới tư sản trong nước và tư sản Hoa Kiều; có người dựa vào những phi vụ làm ăn với Mỹ và các nước đồng minh; số khác đứng sau để vợ dựa thế chồng đi buôn… “Kín đáo” hơn, một số sĩ quan chọn cách “bật đèn xanh” hoặc dựa vào đàn em để làm tiền. Đỗ Cao Trí và Lữ Lan – hai trong số bốn viên tướng từng bị đồn thổi trong dư luận: “Nhất Trí, nhì Quang, tam Lan, tứ Quảng” – đã chọn cách này. Lúc còn nắm chức Tư lệnh Quân đoàn 3, Đỗ Cao Trí đã từng đưa tướng Đào Duy Ân vào ghế Phó tư lệnh Quân đoàn và gạt Đỗ Kế Giai khỏi vị trí Tư lệnh Sư đoàn 18 của Quân đoàn 3 bởi Giai là người cạnh tranh trực tiếp với Trí trong việc buôn bán gỗ và da trên địa bàn Vùng 3 chiến thuật. Khi là Tư lệnh Quân đoàn 2, Lữ Lan lại dựa vào “đệ tử” của mình là Đại tá Nguyễn Mộng Hùng (Tỉnh trưởng Bình Định) đứng ra nhận tiền hối lộ từ chỉ huy các đơn vị trên địa bàn Vùng 2 Chiến thuật. Lữ Lan đã thu được hàng chục triệu đồng từ những vụ chia chác để dàn xếp, hình thành phe cánh hơn 10 sĩ quan thân tín. Ngoài ra, trong Quân đội Sài Gòn còn có những viên tướng mang biệt danh gắn với những phi vụ buôn bán như “vua gỗ” Võ Văn Cảnh, “vua quế” Nguyễn Văn Toàn. Khi đang là Tư lệnh Sư đoàn 23, Cảnh từng giàu lên bằng việc bắt lính khai thác gỗ về bán, còn Nguyễn Văn Toàn lại lợi dụng công sức của binh sĩ Sư đoàn 2 để khai thác, buôn bán quế khi viên tướng này đang nắm chức Tư lệnh Sư đoàn 2…

Bản ghi lời kể của các sĩ quan Quân đội Sài Gòn trong thời gian ở Trại cải huấn, năm 1975. Ảnh tư liệu.

Qua số liệu ngẫu nhiên thu thập từ 154 sĩ quan, phần lớn trong số này đều trở nên giàu có bằng cách vừa kết hợp kinh doanh tại gia đình, vừa dựa vào chiến tranh để tham nhũng quỹ viện trợ, phương tiện máy móc của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đồng thời kết hợp tổ chức các vụ buôn bán, áp phe, cắt xén tiêu chuẩn và bắt binh sĩ lao động kiếm tiền. Tư liệu cũng thống kê, trong số 154 sĩ quan có tới 70% trong số này có xe hơi; 83% có biệt thự, nhà riêng và đại đa số đều có tiện nghi sinh hoạt sang trọng, trong đó các chức vụ thấp nhất từ Đại đội trưởng trở lên đều có một đời sống sung túc… Tuy vậy, theo bản tường trình của tướng Văn Thành Cao, từng giữ chức Tổng cục phó Tổng cục Chiến tranh chính trị, từ sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, tư tưởng sĩ quan và binh lính Quân đội Sài Gòn đã bắt đầu rệu rã do các cấp chỉ huy bắt đầu chuẩn bị tiền bạc và thu xếp các phương án để rời khỏi miền Nam, phần lớn trong số này đã xác định “không sớm thì muộn, miền Nam sẽ nhanh chóng rơi vào tay cộng sản”.

Thực tế đã chứng minh sự “lo xa” của số đông tướng, tá Quân đội Sài Gòn là sự thật và những kiểu “làm giàu” của họ đã không có cơ hội được “phát huy” sau sự kiện 30-4-1975…

Bùi Quang Huy
qdnd.vn

Những người Việt ở Hoàng Sa năm 1937-1938

Ghi chép

QĐND-LTS: Đại tá Nguyễn Văn Bính, giảng viên Học viện khoa học Quân sự vừa chuyển cho chúng tôi một ghi chép đề năm 1998 của cha mình là nhà thơ Nguyễn Minh Hiệu (1924-1998), nguyên hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

“Giáá như gặp được ông bạn kiều bào nào ở Pa-ri về nước lần này, tôi thử gợi ý xem, khi trở sang bên ấy, nhờ bà con ta ở Pháp hỏi xem có biết gia đình, con cháu ông Nguyễn Kỳ, kỹ sư mỏ ở Đông Dương hồi những năm 30, hiện còn những ai? Chắc là những tư liệu riêng của ông ta trong chuyến đi ra Paracels tức đảo Hoàng Sa năm 1938 ấy vẫn còn nhiều đấy.

Mà chẳng riêng gì ông Kỳ và 4 người chúng tôi trong nhóm cán bộ kỹ thuật thuộc sở mỏ Đông Dương (Service des Mines de l’Indochine francaise) cử theo ông ta mới có mặt ở Hoàng Sa từ tháng 4 đến tháng 8-1938. Trước đó, đã có 60 người lính Việt, phần lớn quê ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, ra đóng ở đảo này, dưới quyền của một viên chỉ huy người Pháp lai – nhìn rất “Việt Nam” chỉ có cái mũi là hơi giống người Âu, mà lúc đó thường gọi tắt là ông Môn. Đơn vị quân sự này ra đảo từ năm 1937. Họ xây dựng những công sự ngầm, những kho tàng ngầm chứa lương thực, thực phẩm và cả nước ngọt, đủ dự trữ cho hai, ba năm. Nói chính xác hơn là xây loại kho tàng công sự nửa nổi nửa chìm hoặc một phần nổi hai phần chìm. Tất cả đều khéo nguỵ trang. Chúng tôi ăn chung bếp với lính, ông Nguyễn Kỳ ăn cơm với lão Môn tây lai. Nhưng nhóm kỹ thuật không được phép tò mò quan sát đến các công trình, công sự của họ. Điều đó không chỉ là nguyên tắc mà còn là một kỷ luật nghiêm ngặt lắm. Họ xây cả trụ đèn biển. Và trong số các kho ngầm còn có chứa riêng những vỏ ốc quý trên đảo. Khi chúng tôi trở về đất liền, công việc của nhóm nhà binh này vẫn còn tiếp tục”.

Bác Nguyễn Hựu, 75 tuổi (thời điểm năm 1988-SK&NC), nguyên Giám đốc mỏ Cổ Định, nay đã nghỉ hưu ở Thị xã Thanh Hóa đã kể với tôi như vậy.

Quê gốc bác Hựu cũng chính ở Nam Ngạn, phía Nam cầu Hàm Rồng. Ngày ấy ở Hoàng Sa về được ba năm gì đó, bác lại được cử về khảo sát các mỏ vùng Vĩnh Lộc, Hà Trung (Thanh Hóa). Ở đây bác được đồng chí Nguyễn Văn Huệ (nay đã 80 tuổi), tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Sau Tổng khởi nghĩa năm 1945 thành công, Nguyễn Hựu đã từng có thời gian công tác ở Tiểu ban kinh tài của Liên khu 4; họ tổ chức khai thác các mỏ phốt-pho-rít ở Vinh và Thanh Hóa. Sau này đánh Pháp, ông được giao xây dựng và quản lý nhà máy phốt phát Nam Phát Thanh Hoá, rồi mới lên nhận công tác ở Crô-mít Cổ Định.

Bác Hựu kể tiếp:

“Chuyến ra đảo năm 1938 ấy đối với chúng tôi hết sức bất ngờ về tất cả các mặt, từ kỹ thuật nghiệp vụ cũng như nếp sống sinh hoạt và tâm lý, ứng xử, giao tiếp. Một ngày vào hạ tuần tháng ba dương lịch, kỹ sư Nguyễn Kỳ đột ngột triệu tập chúng tôi tới phòng ông ta nói là có lệnh trên cho ra đảo khảo sát. Bốn người được chỉ định có anh Trịnh Đình Hướng quê ở Bắc Ninh, chuyên hóa nghiệm; anh Lê Đức Bảo quê ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, chuyên về đo đạc; anh Nguyễn Thế Trừ ở vùng cửa sông Ghép và tôi là khảo sát.

Hai giờ chiều hôm sau, chúng tôi xuôi Hải Phòng. Năm giờ sáng hôm sau nữa, cả đoàn đáp chuyến tàu chở hàng của hãng Xô-va (Sauvage), thường gọi là hãng tàu “Tây điếc”, đi Đà Nẵng. Tàu chạy bằng guồng máy. Lênh đênh trên biển mất 5 ngày mới tới nơi. Kỹ sư Nguyễn Kỳ ở khách sạn Tây, 4 chúng tôi được bố trí ở một khách sạn của người Hoa.

Ở Đà Nẵng gần một tuần thì một hôm có hai người đến gặp, đưa cho mỗi chúng tôi một tờ khai theo mẫu thống nhất, cam đoan ra đảo phải làm theo sự hướng dẫn của bộ phận quản lý ngoài đảo, còn phần chuyên môn thì do ông kỹ sư Nguyễn Kỳ phụ trách. Gần sát ngày lên đường, họ mới cho biết nơi đảo sắp đến đã có một cơ đội lính của Nam triều (chính phủ Bảo Đại) ra trước từ gần một năm rồi, các điều kiện sinh hoạt ngoài đó đến lúc này đã được chuẩn bị, không có gì thay đổi lắm so với đất liền.

Hôm sau nữa, chúng tôi được phát giấy tờ tùy thân xem như ngư dân ra đảo đánh cá làm nước mắm. “Nào chúng tôi có biết chút gì về nghề cá mú đâu!”. Họ trả lời: “Đây chỉ là hình thức bên ngoài phải làm như vậy, còn khảo sát thăm dò mỏ vẫn cứ là phần việc riêng của các anh chứ!”. Miễn là phải nhớ, bất cứ có ai hỏi đến, tất cả đều nói là được tuyển mộ ra làm nghề cá cho Nam triều.

Tiếp đó họ phát cho chúng tôi mỗi anh hai bộ quần áo bà ba nâu, hai mảnh vải làm khố, một áo tơi lá và một chiếc nón đan theo kiểu ngư dân miền biển. Chúng tôi mua thêm mỗi người một cái bếp cồn, mua thuốc lá và mấy thứ lặt vặt khác.

9 giờ ngày 2-4-1938, đoàn chúng tôi chính thức khởi hành trên chiếc tàu nhà binh Clốt Sáp (Claude Saf) của Pháp. Hôm đó gió to, sóng lớn, chiều 3-4-1938 mới tới nơi cả nhóm đều say sóng, lên đảo nằm li bì mất hai ngày mới tỉnh táo trở lại.

Trụ sở hành chính của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.

Căn nhà của 4 chúng tôi ở căng bằng vải bạt. Trước mặt có cột cờ. Lá cờ vàng của Nam triều bay phần phật. Cách đấy dăm chục mét là dãy nhà bạt của bộ phận ra trước đánh cá. Kỹ sư Nguyễn Kỳ ở trên nhà bạt với ông Tây lai chỉ huy (được đóng giả như một ông chủ thầu đánh cá). Chúng tôi không tò mò nhưng rồi cũng biết đó là viên quan Một, những người kia là một cơ lính khố xanh. Thời kỳ này, quân đội Nhật đã chiếm Mãn-Châu (1931), gây sự kiện Lư Cầu Kiều (7-1937), mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra cả Trung Quốc và hải quân Nhật đã hoạt động mạnh cả ở vùng biển phía này. Chính quyền Pháp phải tổ chức phòng ngự ở Hoàng Sa, nhưng buổi đầu hãy tạm ngụy trang như đơn vị làm kinh tế của chính phủ Nam triều ở Huế

Cụm Hoàng Sa lúc bấy giờ có khoảng bốn năm chục hòn đảo, nhưng chỉ có đảo Paracel là rộng hơn cả, diện tích quy lại cũng được khoảng một ki-lô-mét vuông. Mặt đảo là bãi cát bồi bằng đá san hô phong hóa, có nhiều ụ con nổi lên cao hơn mặt nước biển ba, bốn mét. Các đảo khác cũng có cát bồi và đá san hô nham nhở, nhưng diện tích đều hẹp. Có đảo chỉ thực sự thấy được khi nước triều rút xuống. Trên hòn đảo Paracel có loại cỏ lá dài, mép lá rất sắc. Có loại cây thân như cây núc nác nhưng lá lại như kiểu tàu chuối rừng. Ngoài mép nước gần bờ có những cụm sú vẹt. Sau này, trong những ngày chúng tôi đã xong công việc, chỉ còn chờ tàu ra đón vào đất liền, mấy anh nấu bếp của cơ lính khố xanh mới thuật kể cho nghe thêm nhiều truyền thuyết và những mẩu chuyện về Hoàng Sa do các cụ vùng quê Quảng Nam, Quãng Ngãi của những ông bạn này từng kể lại. Thì ra từ đời Minh Mạng hay trước và sau đó nữa, các vua nhà Nguyễn đã sai chở nhiều giống cây từ đất liền ra trồng trên đảo làm điểm tiêu cho tàu bè từ xa đã biết có đảo san hô mà lựa tránh khỏi mắc đá ngầm. Nhưng thuyền ra nhỏ, chở được có hạn. Nhiều cây không hợp thủy thổ, lại gió lộng suốt ngày suốt tháng, cây khó trụ nổi.

Ở Hoàng Sa có nhiều loại chim hải âu, màu lông trắng có, đen có, hoặc màu đen nâu như chim két cũng có. Đêm đến hải âu về đảo trú ngụ. Sáng ra, trên bãi có hàng ngàn quả trứng. Chúng tôi đốt bếp cồn luộc lên nếm thử mới biết trứng hải âu vị chát, rất khó ăn. Mùa đồi mồi sinh sản, hàng đêm những con đồi mồi cái cũng tìm lên mép đảo đẻ trứng ấp con. Đặc biệt là ở đây rất nhiều vỏ ốc quý, có hàng trăm loại, nhiều màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng. Có nhiều loại chỉ bằng móng tay. Có nhiều loại to bằng quả bưởi, ánh mặt trời chiếu vào nhấp nhánh như kim cương. Có những chiếc vỏ ốc gần như trong suốt, soi lên đèn thấy ánh lên những vân màu khác nhau rất đẹp. Anh em cho biết còn có những loại vỏ trai, vỏ ốc lớn hơn nhiều, nhưng các lớp người đến trước đã thu nhặt mất.

San hô ở đây cũng nhiều màu: Ngà trắng, vàng, xanh xanh… Chung quanh các kẽ đá san hô là nơi ẩn náu của họ hàng cua bể và cá hồng. Khi có giờ rỗi, chỉ cần đem ít gạo rang hay một dúm cơm xuống là hàng đàn cá hồng kéo đến tranh nhau ăn. Chúng tôi lấy kim găm uốn thành lưỡi câu, luyện cơm dẻo làm mồi cũng có bận câu được hàng yến. Cho nên thức ăn cua cá chẳng thiếu mà chỉ thèm rau xanh. Và ở đây cũng còn một nét bất ngờ nữa là cả ngày lẫn đêm lộng gió, vùng đảo không hề có muỗi mà vẫn có đàn dơi khá đông, loại màu nâu, loại màu đen. Anh em quê Nam, Ngãi cho biết loại này cũng từ đất liền ra. Chúng ăn moi biển nên rất béo, có con to bằng con chim sáo. Lúc no mồi cần nghỉ ngơi, chúng náu mình trong các kẽ đá san hô.

Dụ số 10 của Bảo Đại ký ngày 29-3-1938 khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Kỹ sư Nguyễn Kỳ chỉ huy nhóm chúng tôi khảo sát, thăm dò trữ lượng và chất lượng phân chim ở Hoàng Sa. Nhưng được phép khảo sát ở hòn đảo nào lại do bộ phận quản lý đảo quy định chứ không thể tự do như những chuyến đi thăm dò mở trên đất liền. Anh Bảo đem máy đo đạc, xác định tọa độ kinh vĩ xong là chúng tôi bắt tay vào việc đào hào thám sát. Hào đào rộng mỗi bề một mét, sâu xuống hai đến ba mét, tùy nơi, chỗ cát ào xuống thì đem gỗ chèn. Gặp đá san hô rắn thì dùng búa đục. Trữ lượng phân chim ở đây có tới vài vạn tấn, chất lượng vào loại tốt, trong đó có chất diêm tiêu làm thuốc súng, có nitrat kali đem bón ruộng càng tốt. Phân tích tụ đã từ rất lâu đời, có chỗ dày tới ba mét. Hào đào xuống vài mét đã thấy một thứ nước khoáng rỉ ra, màu hơi vàng vàng. Bộ phận hóa nghiệm cũng phải làm phân tích cả thứ nước khoáng này.

(Xem tiếp số sau)

Minh Hiệu
qdnd.vn

Người Hà Nội đầu tiên

Năm 823, viên quan đô hộ của Nhà Đường là Lý Nguyên Hỷ, đã phải tổ chức một cuộc tế lễ lớn để phong ông là “Đô phủ Thành hoàng”.

Năm 866, võ tướng khát máu, quan cai trị cáo già của Nhà Đường, đồng thời là phù thủy cao tay Cao Biền, cũng đã phải xây đền phụng thờ ông, và gia phong ông là “Đô phủ Thành hoàng thần quân”.

Đến năm 1010 thì chính người khai sinh kinh đô Thăng Long Lý Thái Tổ đã đề bạt vinh danh ông tới đỉnh cao tôn quý trong cõi tâm linh là: “Quốc đô định bang Thành hoàng Đại vương”.

Khởi từ chức thiêng là thần linh của ngôi làng Hà Nội gốc, tọa lạc đầu tiên ở chỗ có ngọn núi Nùng mà sau đấy những kẻ ngoại bang từ phương Bắc đến, lấy đất làng để xây đắp tòa phủ thành đô hộ, có tên là “La Thành” của chúng. Ông đã hiển linh giữa dòng sông-được ông “cho mượn” nhân danh để mà thành thủy danh-chảy ngang qua dãy tường lũy phía Bắc của tòa phủ thành đô hộ. Đúng vào mùa mưa, nước ở mé trong nội đồng dâng cao hơn mực nước ngoài cửa sông, khiến sông không chảy từ cửa vào đồng, mà đổi dòng chảy ngược. Ông đã làm cho kẻ đô hộ Lý Nguyên Hỷ phải hoảng sợ khi tin rằng: Dòng sông mang tên ông, sở dĩ thành “nghịch thủy”-giống như phong trào chống đối của dân chúng khi ấy đang dâng cao-là do oai linh của ông. Cuộc tế lễ long trọng năm 823 để tôn ông làm thần Thành hoàng của tòa phủ thành đô hộ, có lý do từ đó.

Đền Bạch Mã, 76 Hàng Buồm, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Gần nửa thế kỷ sau, ông lại hiển linh giữa đám mây ngũ sắc. Vẫn ở trên dòng sông mang tên ông, nhưng lần này thì uốn khúc mé ngoài cửa Đông tòa phủ thành đô hộ-bấy giờ đã được viên “Kinh lược sứ” Cao Biền mở mang thành “Đại La” – một lần nữa. Và cuộc chiến huyền kỳ trong cõi tâm linh, giữa ông-đại diện và tượng trưng cho dân chúng cùng văn hóa bản địa-với kẻ đứng đầu thế lực ngoại bang thống trị đã dẫn đến kết cục toàn thắng thuộc về ông khi những trận sấm sét kinh hoàng đã đánh nát vụn như cám đám bùa yểm bằng kim loại mà phù thủy Cao Biền toan dùng để diệt trừ ông. Ngôi đền cổ nhất đất Thăng Long-Hà Nội, về sau và đến tận bây giờ vẫn có tên quen thuộc “Bạch Mã”, do chính kẻ thất trận đã cho xây cất để “chào thua” ở ngay nơi đã diễn ra trận chiến tâm linh năm 866, và để tôn phong ông lên hàng “Thần quân”-đứng đầu các vị thần linh, đã xuất xứ từ hoàn cảnh đó.

Ngôi đền thiêng “Bạch Mã”, có tên lạ này, và trở thành tòa “Đông trấn chính từ” (đền chính, trấn giữ mạn Đông) kinh thành Thăng Long là bởi những lần hiển linh còn quan trọng hơn nữa của ông ở buổi đầu thời định đô Thăng Long. Trong đó đặc sắc nhất là cuộc hóa thân thành hình tượng Ngựa Trắng, để giúp Lý Thái Tổ xây vòng thành lũy bao quanh Kinh thành.

Trong thế giới của ngôn ngữ biểu tượng, Ngựa Trắng chính là hình ảnh của Mặt Trời. Nếu bằng chu kỳ đều đặn của một ngày đêm, Mặt Trời thực hiện một vòng tuần hoàn linh diệu trên vũ trụ: Mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây, để rồi hôm sau lại tái hiện từ phương Đông… Thì Ngựa Trắng trong giấc mơ cầu mộng của Lý Thái Tổ cũng hiện ra từ ngôi “Đông trấn chính từ”. Đi một vòng thần thánh trên vùng đất thiêng “Rồng hiện lên” mới được đặt định là Thành Kinh đô nước Việt từ Đông sang Tây, rồi lại trở về điểm xuất phát, biến mất vào trong ngôi đền cổ, để khoanh lại miền đế đô Kinh kỳ ấy cho thành một vùng “Thánh địa” có “Địa linh nhân kiệt” ở bên trong.

Người định đô Thăng Long, khi cứ nương theo dấu chân Ngựa Trắng mà xây đắp thành công vòng tường lũy bao quanh Kinh thành, thì chính là đã thực hiện được cái “quy hoạch” linh thiêng cho tòa Kinh đô nước Việt, do ông-trong hình tượng Ngựa Trắng-vạch ra. Vì thế, ông phải và xứng đáng được nhận danh hiệu cùng thiên chức thiêng quý nhất: “Quốc đô định bang Thành hoàng đại vương” để ngự tại ngôi đền Bạch Mã đặng bảo trợ cho cái địa bàn mà ông đã là người cắm đất xây ngôi làng-Hà Nội – gốc đầu tiên. Ngôi làng cổ ấy, ngay từ thời gian đầu Công nguyên, đã nhờ “cặp mắt xanh” của ông, mà có thế “Nhìn sông tựa núi” tuyệt hảo.

Sông, ở đây chính là dòng “Nước chảy trong ngần/ Có con buồm trắng chạy gần chạy xa”. Từ hai nghìn năm trước, vốn là một nhánh chính bên bờ phải của dòng sông Mẹ (sông Cái, Hồng Hà) uốn lượn tắm tưới và nối đường đi lại cho cả một miền “ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam, Bắc, Đông, Tây” – Như lời Người định đô Thăng Long nghìn năm sau sẽ nói.

Còn núi, thì vốn là một doi đất cao ở bên và là sản phẩm đắp bồi, từ dòng chảy của nhánh sông rồi sẽ mang tên của ông, có cảnh trí tự nhiên cực kỳ tươi tốt, nên đã thành tên gọi núi Nùng. Những cái nhìn huyền thoại và phong thủy, từ rất lâu trước khi có tên gọi núi Nùng (nghĩa là tươi tốt), đã nhận ra ở đấy có một “huyệt đạo”. Dưới thông sâu đến âm ty địa phủ, trên nối cao tới thiên đường thượng giới. Vì thế gọi đây là núi Long Đỗ (Rốn Rồng).

Ngôi làng-Hà Nội-gốc đầu tiên đã tựa vào ngọn Long Đỗ (Rốn Rồng) ấy mà xây dựng. Vì thế, có tên đầu tiên là Hương Long Đỗ (Làng Rốn Rồng). Và tên của vị thần bảo hộ của làng, vì thế cũng được gọi là Thần Long Đỗ. Chính là vị thần đã hiển linh trong thời chống Bắc thuộc làm khiếp vía những kẻ ngoại bang đã xây phủ đô hộ ở ngay trên đất làng của thần, và trợ giúp Lý Thái Tổ khi Người định đô Thăng Long, cũng lấy ngôi làng của thần làm tiêu điểm để mở rộng ra thành tòa Kinh đô nước Việt.

Đấy là những điều đã được các bộ sách địa chí, sưu tập thần tích: “Tây Hồ Chí” thế kỷ thứ 19, “Lĩnh Nam chích quái” thế kỷ thứ 14, và nhất là “Việt điện u linh” thế kỷ thứ 14 ghi lại theo phương pháp tư duy và bằng bút pháp trung cổ: Phủ mây mù và vàng son huyền thoại lên trên và lẫn vào trong những hạt nhân hiện thực của lịch sử.

Gạn lọc và giải ảo cho những hiện thực lịch sử ấy, đã thấy được mấy câu quý giá trong sách “Việt điện u linh”, nhưng là dẫn lại các sách “Giao châu ký” và “Báo cực truyện” đầu Công nguyên mà viết rằng: “… Có người họ Tô tên Lịch, đời đời ở đất (núi) Long Đỗ, dựng làng bên bờ sông (Tô Lịch), nhà không giàu có lắm, nhưng tề gia lại biết lấy đạo hiếu đễ làm đầu, ba đời biết nhường nhịn mà ở chung với nhau… Gặp năm mất mùa, thóc thiếu, biết đem của cải trong nhà chia cho mọi người trong làng. Vì thế, lấy tên Tô Lịch đặt làm tên làng…”.

Một chuỗi liên hệ dễ dàng nhận ra ở đây, câu sử bút này: Tô Lịch là người “già làng” đứng đầu hương Long Đỗ. Ông đã cho hương Long Đỗ “mượn” nhân danh của mình để thành địa danh làng Tô Lịch. Một tên gọi khác nữa của hương Long Đỗ (Cũng như đã cho con sông chảy bên làng “mượn” tên thành sông Tô Lịch) – làng Tô Lịch, tức hương Long Đỗ, có thần làng là thần Long Đỗ. Thần Long Đỗ là linh khí của người đứng đầu làng Tô Lịch khi đã lìa đời mà thành thần, hóa thánh. Vậy cuối cùng – thần Long Đỗ, chính là ông Tô Lịch.

Cuộc gạn lọc, giải ảo cho hiện thực lịch sử thế là đã đi đến đích: Người họ Tô tên Lịch, chính là nhân vật lịch sử có thật, ở thời gian đầu Công nguyên, đã là người đứng đầu làng (hương) Long Đỗ, dựa vào núi Long Đỗ (núi Nùng) mà cắm đất lập ngôi làng – Hà Nội – gốc đầu tiên, có vị thế “tựa núi nhìn sông”, mà nghìn năm về sau vẫn luôn là ở chỗ chính tâm của tất cả các tòa: từ Phủ thành Đại La, đến Kinh thành Thăng Long.

Ông là người Hà Nội gốc đầu tiên, cũng là người đầu tiên sống, nêu gương và để lại truyền thống nghìn năm văn hiến thi thư, bên cạnh và cùng với truyền thống đấu tranh anh hùng, cũng nghìn năm, cho lịch sử và văn hóa Thăng Long-Hà Nội, bằng phẩm chất sống nhân nghĩa, hiếu thuận của mình.

Giáo sư Lê Văn Lan
qdnd.vn

Hà Nội những đổi thay về hành chính thời thuộc địa

Thống trị về hành chính

Chiếm Hà Nội năm 1883, ngoài các hành động quân sự, việc đầu tiên mà người Pháp quan tâm là tổ chức lại bộ máy cai trị thành phố theo kiểu mới. Một viên công sứ được chỉ định làm công việc quản lý hành chính thành phố. Đó là ông Bon-nan (Bonnal), người đã chọn một ngôi nhà trên phố Hàng Gai làm trụ sở. Trên tấm ảnh chụp năm 1884 ta còn thấy ngôi nhà trước cửa treo tấm biển hình bầu dục ghi tên “Tòa công sứ Pháp” (vị trí nhà này về sau là nhà in Lê Văn Phúc, nay là Công ty sản xuất và xuất khẩu Thủ công mỹ nghệ, 80 Hàng Gai). Công việc của công sứ buổi đầu chủ yếu là việc trị an và ổn định việc chiếm đóng của người Pháp. Về sau tòa công sứ lại được chuyển về phố Nhà Chung, gần với dinh cơ của Tổng đốc Hà Nội. Còn cảnh binh Pháp thì đóng tại hai ngôi nhà xây kiểu Tàu ở phố Hàng Bồ và Hàng Bè. Nhưng các ngôi nhà đó quá đổ nát nên đến năm 1893 lại phải chuyển sang đóng tạm ở phố Cầu Gỗ và trên đất trường thi hương cũ của Hà Nội. Mãi đến tháng 9-1904, doanh trại chính thức của cảnh binh mới được xây dựng trên đất trường thi cũ, để trở thành phố Trường Thi.

Tòa Công sứ Pháp ở phố Hàng Gai. Ảnh tư liệu

Nhưng Hà Nội không thể duy trì lối cai trị như các tỉnh, mà phải được tổ chức như các thành phố ở châu Âu. Vì vậy, ngày 19-7-1888 Thống sứ Bắc Kỳ ký quyết định thành lập Hội đồng thị chính thành phố Hà Nội và chỉ định một viên đốc lý trong thời hạn 3 năm. Cùng lúc đó, chính quyền bảo hộ Pháp yêu cầu triều đình Huế chuyển Hà Nội thành lãnh thổ của Pháp tức là thành khu nhượng địa, do người Pháp trực tiếp cai trị, khác với các tỉnh khác ở Bắc Kỳ là đất bảo hộ (theo dụ ngày 1-10-1888 của vua Đồng Khánh). Địa giới Hà Nội cũng được mở rộng, năm 1899 phần đất còn lại của hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận và một số xã thuộc hai huyện Từ Liêm, Thanh Trì được nhập vào thành phố thành khu ngoại thành. Năm 1915, Pháp đổi tên khu này thành huyện Hoàn Long, nhưng lại nhập vào tỉnh Hà Đông. Đến năm 1942, huyện Hoàn Long gồm 8 tổng, 60 xã được nhập lại vào thành phố, gọi là Đại lý đặc biệt Hà Nội, tồn tại cho đến năm 1945.

Viên đốc lý Hà Nội do Thống sứ Bắc Kỳ chỉ định, về sau do chính Toàn quyền Đông Dương quyết. Ông đốc lý gọi theo tiếng Pháp là “công sứ-thị trưởng” (résident-maire), có nghĩa là ông ta chỉ như một viên công sứ cai trị một tỉnh của xứ bảo hộ, không có quyền quyết định về ngân sách, mà phải theo chỉ thị của Thống sứ Bắc Kỳ.

Hội đồng thị chính đầu tiên gồm 12 người Pháp, 2 người Việt và 2 người Tàu. Họ họp 4 lần mỗi năm, và quyết định của nó chỉ có giá trị thực hiện sau khi được Thống sứ chuẩn y. Tòa thị chính tất nhiên có một thành huy với một câu châm ngôn bằng chữ La-tinh rất kỳ quặc, biểu trưng cho tính tự trị của thành bang phương Tây, nhưng lại phụ thuộc chặt chẽ vào chính quyền cấp trên. Châm ngôn của Hà Nội là Dislecta fortitudine prosfera, có thể là tiếng La-tinh của các giáo sĩ Dòng Tên thế kỷ 17, nhưng thực ra nghĩa của nó không rõ ràng, có thể suy diễn theo nhiều cách, hoặc do viết sai chính tả. Có thể hiểu là “Cái ta muốn được phát hiện bằng lòng dũng cảm”, cũng có thể hiểu “Của cải ta mong muốn chỉ đạt được bằng lòng dũng cảm”. Thành huy của Hà Nội là hình tượng hai con rồng quấn hai bên thanh kiếm đâm xuống hồ (truyền thuyết về Lê Lợi), trên có một mặt trời màu đen, có tường thành bao quanh.

Từ năm 1891, hội đồng thị chính được cử tri đoàn bầu lên, được chia thành hai đoàn: Cử tri đoàn người Pháp, bầu ra 10 ủy viên bằng bầu cử phổ thông trực tiếp và một cử tri đoàn “bản xứ”, chỉ những người đóng thuế đến một mức nào đó mới có quyền đi bầu. Cử tri đoàn bản xứ bầu ra 4 ủy viên người Việt, không có người Tàu nữa. Họ không đại diện cho ai vì đều là những người thuộc tầng lớp giàu có mới nổi lên, phần lớn đã Pháp hóa và gắn với hệ thống thuộc địa, bảo đảm sự giàu sang của họ. Cho nên, các ủy viên này không gây trở ngại cho công việc cai trị vì người Pháp vẫn giữ quyền quyết định.

Nhà sử học Pháp Phi-líp Pa-panh (Philippe Papin), khi tìm hiểu lịch sử Hà Nội đã lưu ý đến hình ảnh ông hội đồng thị chính Nguyễn Lễ, sinh năm 1895 ở Bắc Ninh, du học ở Pháp và trở về Việt Nam năm 1914 với tấm bằng kỹ sư cho phép ông ta vào làm ở Hãng rượu Đông Dương. Năm 1926, ông tham gia Hội đồng thị chính thành phố Hà Nội, biểu quyết một cách ngoan ngoãn mọi quyết định do người Pháp đưa ra, rồi nhờ sự ủng hộ của họ, đã trở thành người đứng đầu hướng đạo sinh và ra tờ bán nguyệt san Thẳng Tiến, in đến 1.500 bản. Rõ ràng Nguyễn Lễ và các đồng nghiệp của ông không có cái gì chung với người dân thường thành phố. Có lẽ vì thế mà nhà văn Vũ Trọng Phụng đã dùng hình mẫu này để xây dựng nhân vật trong cuốn tiểu thuyết Giông tố.

Nhà số 80 Hàng Gai ngày nay. Ảnh tư liệu.

Hội đồng thị chính quản lý thành phố Hà Nội trong 60 năm. Nó có phương tiện để đạt tham vọng của mình, vì tòa Thống sứ Bắc Kỳ không muốn mang gánh nặng cai trị thành phố Hà Nội, từ năm 1891 đã giao cho nó quản lý phần thu trực tiếp (thuế đất đai, thuế môn bài và thuế thân). Nhưng các chương trình đô thị hóa, xây dựng và phát triển thành phố rất tốn kém, và tòa thị chính vì thiếu tiền, buộc phải vay mượn, tăng đảm phụ khiến thuế khóa thêm nặng nề. Tăng thuế, khủng hoảng tài chính và các vụ bê bối tạo thành cái nền của lịch sử tòa thị chính Hà Nội.

Bị chiếm đất đai

Trước khi người Pháp đến, 15% đất đai thuộc khu buôn bán của thành phố Hà Nội, cùng với 55% đất đai vùng ngoại vi, đều thuộc sự quản lý của tập thể cộng đồng dân cư địa phương. Sau khi thành lập, Hội đồng thị chính tìm cách chiếm đoạt những đất đai đó nhằm thực hiện chính sách đô thị hóa và xây dựng các công trình công cộng. Được nhà cầm quyền bảo hộ chấp thuận năm 1903, tòa thị chính tuyên bố từ nay sẽ là chủ sở hữu duy nhất những đất công làng xã thuộc thành phố. Đường lối của người Pháp được tiến hành theo ba giai đoạn: Trước hết là tịch thu đất công, rồi cộng đồng người Pháp tìm cách mua lại ồ ạt đất tư, cuối cùng tòa thị chính thi hành chính sách cấm xây dựng đối với người bản xứ, bị coi là làm mất mỹ quan và kém vệ sinh.

Tòa thị chính mở một cuộc “săn lùng đất công” rộng lớn, chỉ trong mấy tháng đã tịch thu gần một phần ba số đất công (2.333 thửa trên 8.528 thửa). Nhưng người dân thành phố đã nhanh chóng phản ứng lại, với sự đồng lõa của chức sắc địa phương. Họ làm giấy chứng nhận các đất công đó thực tế là đất tư, và nộp đơn kiện khiến tòa thị chính lúng túng, không thể trả tiền để chuộc lại và cũng không thể thắng kiện được. Đành phải đi đến thỏa hiệp: Tòa thị chính sẽ thuê những đất công đó, khiến nó trở thành “đất của thành phố”, còn người chiếm hữu vẫn được sử dụng như cũ. Như vậy, người chủ sở hữu có một vị thế hợp pháp và thành phố, ngoài việc được thu tiền thuê đất, còn đảm bảo là trên đất đó sẽ nhanh chóng được xây dựng nhà gạch, nhằm loại bỏ nhà tranh và những kiến trúc tạm bợ. Tiếp đấy, do ngân sách thiếu hụt, thành phố phải không ngừng bán lại những mảnh đất thuộc thành phố cho dân, mà ưu tiên bán cho những người đã thuê sẵn. Năm nhiều năm ít, việc cho thuê đất và bán đất công xưa đã đem lại 5% cho ngân sách hằng năm của thành phố.

Tòa Thị chính thành phố. Ảnh tư liệu

Trong các khu phố nội thành, tình hình có khác vì đất ở đây nằm trong quy chế đất tư. Đến năm 1927, 4.000 người Pháp và Âu đã chiếm hữu một nửa diện tích hiện có, còn lại 120.000 người Việt bị dồn vào trong 45% đất đai. Người Hoa chiếm 5% dân số, nhưng không phải là những chủ đất lớn, vì họ thích đầu tư vào việc buôn bán đem lại nhiều lời lãi hơn. Diện tích trung bình của các chủ sở hữu là 265m2 đối với người Việt, 504m2 đối với người Hoa và 2.037m2 đối với người Âu. Trong số này, gia đình Ê-mi-năng-tơ (Éminente) chiếm 46 mảnh đất và 6ha, gia đình Đờ-măng-giơ (Demange) chiếm 19 mảnh và 2,5ha, nhà Vi-téc-bô (Viterbo) 1,5ha liền một mảnh trên đại lộ Găm-bét-ta (Gambetta) (Trần Hưng Đạo), hiệu tạp hóa Đờ-bô (Debeaux) có 16 mảnh và 2ha, nhà Đờ-lút-xtan (Deloustal) 6,5ha…

Nhưng trong những khu phố khá giả, vẫn có những chủ đất lớn người Việt. Lê Văn Phúc, người đã mở nhà in ở số 80 Hàng Gai đã có 3.000m2 đất, nhà doanh nghiệp Bạch Thái Bưởi có gần 4.000m2, Hoàng Gia Luận có gần 6.000m2 liền một mảnh, và Vũ Thị Tín có hơn một héc-ta ở ngoại ô phía nam thành phố. Trong 6 mảnh đất tư có diện tích hơn một héc-ta, thì một của người Pháp, 2 của người Hoa và 3 của người Việt. Người Pháp chiếm một nửa đất đai thành phố, nhưng không phải chỉ có họ. Cho nên trên bốn con đường tiêu biểu cho khu phố Tây là đại lộ Gambetta (Trần Hưng Đạo) và Gia Long (Hàng Bài), đường Pôn Be (Paul Bert) (Tràng Tiền) và Thợ Nhuộm, những doanh nhân, luật sư, giáo sư, bác sĩ người Việt cũng sở hữu 42 mảnh đất và gần 20% đất đai. Đó là những nhân vật mà người Pháp hy vọng có thể dựa vào để thiết lập nền bảo hộ của mình. Nhìn chung, người Pháp và giới thượng lưu Việt chiếm hai phần ba đất đai thành phố, điều đó minh họa rõ nét bản chất của chế độ thuộc địa.

Nhiều vị ủy viên Hội đồng đã mua đất của thành phố với giá rẻ mạt, rồi chỉ cần một chữ ký để chuyển đổi rồi bán lại đắt hơn vài tuần sau. Hệ thống đó phổ biến dưới thời thuộc địa đã khiến cho nhiều người trở nên giàu có. Năm 1896, viên kế toán tòa thị chính bị tù vì biển thủ. Năm 1905, nhà chức trách cấp trên buộc phải giải tán Hội đồng thị chính và kiểm soát chặt chẽ tòa thị chính. Một vị ủy viên Hội đồng người Pháp là bác sĩ Le Lan đã vạch trần mọi thủ đoạn làm giàu của các nhân viên xung quanh ông đốc lý, bắt đầu từ ông chủ sự lục lộ Ma-la-ba (Malabar), mà tên tuổi đã xuất hiện trong mọi vụ bê bối thời đó.

Mâu thuẫn trong chính sách cai trị

Trong thời gian đầu, chính quyền thuộc địa tiếp tục sử dụng các quan lại người Việt thuộc hai huyện của thành phố, để quản lý công việc thường ngày như thu thuế, điều tra, xử án, giải quyết tranh chấp… Nhóm giúp việc nhỏ đó chỉ có 11 người gồm tri huyện, 4 thư lại và 6 lính. Vị thế của họ thật chông chênh vì họ vừa bị nhà chức trách thành phố kiểm soát, lại nằm dưới sự quản trị của tổng đốc thành phố, mà ông này lại thuộc về triều đình Huế.

Từ tháng ba 1889, Hà Nội trở thành của Pháp, nha môn tỉnh được chuyển đi, kéo theo sự ra đi hàng loạt của các quan và sự lưu tán của tầng lớp nho sĩ. Mãi đến tháng Sáu năm 1896, các nha môn huyện mới được xóa bỏ, thay bằng một quan chức mới gọi là hiệp lý, giữ vai trò liên kết với tòa thị chính Pháp. Nhưng vừa lập ra, các chức trách của hiệp lý đã bị bãi bỏ, vì người ta nhận ra ngay rằng nó không cần thiết, vì từ đây người Việt ở Hà Nội được đặt dưới sự xét xử của tòa án Pháp (tuy họ không có quốc tịch Pháp), cho nên sự can thiệp của pháp luật bản xứ là vô dụng. Cùng lúc, thành phố được áp dụng chế độ pháp lý làm nổi lên đặc tính riêng của nó: Một người Việt ở thành phố không bị xét xử như người dân ở các tỉnh, quyền của họ không được bảo đảm bằng những điều luật như nhau.

Trừ lĩnh vực chính trị, người Hà Nội như vậy đã được pháp luật bảo vệ. Hồ sơ lưu trữ còn đầy những bản khiếu kiện của người dân chống lại người Pháp hay nhà chức trách thành phố. Hà Nội có luật sư của mình, những người này không bỏ qua khách hàng người Việt khi họ trả tiền nhiều và nhanh chóng, tức là tầng lớp thượng lưu bản xứ. Ngoài ra, nhiều người Hà Nội đã biết khai thác sự trì trệ ngập ngừng và những mâu thuẫn nội bộ của chính quyền Pháp đôi khi bị tê liệt. Điều đó thấy rõ ở sự tranh chấp giữa viên cảnh sát, người biết rõ kẻ tình nghi phạm tội, với ông quan tòa, vì không có bằng chứng, vẫn tuyên bố tha bổng. Người Việt Nam đã lợi dụng, dựa vào sự can thiệp của thống sứ, để ngăn chặn việc chiếm đoạt đất đai của tòa thị chính, rồi lại kêu gọi sự giúp đỡ của tòa thị chính khi quyền lợi của họ bị nhà chức trách bảo hộ đe dọa (ở làng quê, ở nông thôn chẳng hạn). Một chân trong thành phố, và chân kia ở ngoài, mối quan hệ chồng chéo đó với chính quyền cho phép khai thác những mâu thuẫn.

Tuy không được như Sài Gòn theo chế độ thuộc địa, nhưng người Hà Nội nếu biết vận dụng luật pháp của chính quốc, vẫn có thể tìm ra những kẽ hở để đấu tranh. Cho nên có một thời việc ra báo và xuất bản ở Hà Nội được tương đối dễ dàng hơn ở các thành phố và tỉnh lỵ khác. Đó cũng là điều kiện để các tổ chức yêu nước tranh thủ quần chúng, vận động thành lập các tổ chức yêu nước, để đấu tranh chống lại chính quyền bảo hộ.

Đào Hùng
qdnd.vn

Tướng Nguyễn Sơn văn võ song toàn

QĐND – Ngày 1-10-1908, Nguyễn Sơn cất tiếng khóc chào đời tại phố Yên Ninh, Ba Đình, Hà Nội với tên khai sinh là Vũ Nguyên Bác. Ông là người con thứ tư trong một gia đình nông dân kiêm tiểu thương gốc ở làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm. Trong gia đình sáu anh em (năm trai, một gái), ông là người được học hành chu đáo hơn cả. Tốt nghiệp trung học, ông vào học Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Kỳ. Tuổi học trò thường hay nghịch ngợm, gây gổ đánh nhau. Có một lần, ông rủ đám bạn trường ông cùng với đám bạn bên trường Bưởi đánh học trò trường Tây cho chừa cái thói lên mặt con nhà giàu, thói “chó cậy gần nhà” của lũ hợm. Ông bị cảnh sát làm phiền. Và có lẽ vì thế, ông thôi học. Rồi ông gặp Nguyễn Công Thu, phái viên của Nguyễn Ái Quốc từ Quảng Châu, Trung Quốc về. Bởi đã có sẵn lòng ghét Tây, ông đã bị chinh phục bởi những lời tuyên truyền của phái viên cách mạng. Ông được Nguyễn Công Thu đưa sang Quảng Châu tham dự lớp huấn luyện chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Ông mang tên mới là Lý Anh Tự cùng với gia đình họ Lý của những nhà cách mạng Việt Nam tại đây mà tộc trưởng là Lý Thụy, tức Nguyễn Ái Quốc như ta đã biết. Tốt nghiệp, ông được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng trước mộ Liệt sĩ Phạm Hồng Thái trong Nghĩa trang Hoàng Hoa Cương, nơi yên nghỉ của 72 chiến sĩ cách mạng Tân Hợi. Tiếp đó, ông được Nguyễn Ái Quốc lựa chọn gửi sang học Khóa IV, Trường Quân chính Hoàng Phố của Chính phủ Cách mạng Quảng Châu do chuyên gia quân sự Xô-viết trực tiếp giảng dạy. Ông học tập rất chăm chỉ trên lớp cũng như ngoài thao trường bởi vì ông ý thức rằng những kiến thức thu nhận được ở đây sẽ rất cần cho sự nghiệp tương lai của ông và dân tộc. A.I. Trê-rê-pa-nốp, một giáo viên Xô-viết của trường đã nhận xét về những học viên Việt Nam, trong đó có ông: “Trong số những học viên của chúng tôi có khoảng 30 người Việt Nam. Họ rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc mọi sức lực để học tập bởi vì họ biết rằng, để giành chính quyền về tay công nông phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài” (A.I. Trerepanop, Ghi chép của một cố vấn quân sự ở Trung Quốc. M. 1976). Cũng có thể nói, dưới mái trường này lần đầu tiên những thanh niên yêu nước Việt Nam, trong đó có ông, tiếp nhận những kiến thức cơ bản về nghệ thuật quân sự theo quan điểm Mác – Lê-nin (Soviet Volunteers in China 1925-1945, Progress Publishers, M.1980). Đang học thì xảy ra chính biến Tưởng Giới Thạch. Nhận rõ bản chất của cánh hữu trong Chính phủ Quảng Châu, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc chiến đấu cho quyền lợi của quần chúng nghèo khổ. Tháng 12-1927, ông tham gia Khởi nghĩa Quảng Châu theo tiếng gọi của những cộng sản Trung Quốc chân chính như Trương Thái Lôi, Diệp Đình, Diệp Kiếm Anh, Nhiếp Vĩnh Trăn. Công xã Quảng Châu bị dìm trong máu. Cánh hữu trong Chính phủ Quảng Châu nhân đó đàn áp khốc liệt Đảng Cộng sản Trung Quốc và tổ chức cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở đây. Quảng Châu không còn là miền đất hứa của các nhà cách mạng Việt Nam. Việt Nam Thanh niên Cách mạng phải di chuyển địa bàn hoạt động đến hai nơi: Hồng Công và Xiêm. Nguyễn Sơn về vùng Đông Bắc nước Xiêm hoạt động trong Việt kiều. Ông đã góp phần vào sự ra đời của một số Chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng trong Việt kiều yêu nước. Tháng 6-1928, ông trở lại Trung Quốc và được điều về phụ trách công vận của Nghiệp đoàn thủy thủ Hồng Công. Nhưng khi Đệ tứ phương diện quân dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, Chu Đức, Trần Nghị thoát vòng vây, tiến về vùng Đông Giang, Quảng Đông cần được tăng cường những cán bộ quân sự được đào tạo chính quy, ông liền xung phong. Khi đến nơi thì Đệ tứ phương diện quân đã di chuyển, nên ông ở lại Đông Giang, gia nhập Quân đoàn Hồng quân số 11, tham gia chiến tranh du kích ở đây. Câu chuyện đổi tên “Hồng Thủy-Mãnh thú” của ông cũng diễn ra tại đây. Xin được dẫn một đoạn văn khái quát về những năm tháng chiến đấu của Hồng Thủy trên đất Trung Quốc của Lý Linh thay cho sự miêu tả dài dòng:

“Hồng Thủy là một cuốn sách ghi lại toàn bộ quá trình về Trường Quân sự Hoàng Phố, khởi nghĩa Quảng Châu, năm lần chống vây quét, cuộc trường chinh hai vạn năm nghìn dặm và tám năm kháng chiến.

Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn. Ảnh tư liệu

Hồng Thủy là một khối thép không han gỉ trong đói rét cực nhọc, không run sợ trước mọi sự hăm dọa, không ngã gục trong mưa bom bão đạn, không giận hờn bởi sự hiểu lầm hoặc bị xúc phạm. Ánh thép như ngời lên một chân lý sâu xa: Trong lò luyện của những nghịch cảnh và chà xát không loại sáp nào có thể tồn tại, còn gang thép vẫn là gang thép, tôi luyện càng nhiều chất thép càng tinh.

Hồng Thủy là một ngọn đèn, đốt cháy hết mình mà không mảy may tính toán thiệt hơn, chỉ cốt rọi sáng vào thế giới u tịch không cần phân biệt nơi đó là đâu, càng làm tăng thêm giá trị của nguồn sáng. Một người yêu nước chưa hẳn đã là một chiến sĩ quốc tế, còn trong cơ thể của người chiến sĩ quốc tế thì bao giờ cũng dồn dập chảy dòng máu yêu nước.” (Trần Kiếm Qua. Hồng Hà nhớ, Hoàng Hà thương).

Cách mạng Tháng Tám thành công. Nước ta thành nước độc lập, dân ta thành người tự do. Nhưng các lực lượng thù địch không muốn thế – cây muốn lặng, gió chẳng đừng. Dân Sài Gòn đứng dậy chống thực dân Pháp quay trở lại. Theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông mang tên mới Nguyễn Sơn trở về giúp nước trong lúc nguy nan. Ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Trung Bộ. Ông đã tổ chức chiến đấu dũng cảm bảo vệ những vùng đất chiến lược và tích cực xây dựng lực lượng, đặc biệt là đã mạnh dạn cho ra đời Trường Lục quân Quảng Ngãi nổi tiếng một thời.

Từ năm 1947, ông được điều về đảm nhiệm Tư lệnh Khu IV, đóng tại Nông Cống, Thanh Hóa. Một trong những vấn đề Tư lệnh Nguyễn Sơn quan tâm hàng đầu là bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Các lớp học ngắn ngày được tổ chức, đầu tiên là lớp bồi dưỡng cán bộ trung cấp gồm 50 người, tiếp đến là các lớp bổ túc cán bộ đại đội, lớp bồi dưỡng ngắn ngày cho các ủy viên thường vụ, thường trực ủy ban các tỉnh Liên khu IV, riêng khóa 7 đã có 120 người theo học. Theo sáng kiến của Tư lệnh Nguyễn Sơn, ngày 30-11-1947, Đại hội tập, tức Hội thao quân sự, lần đầu tiên được tổ chức rầm rộ tại núi Nưa, Nông Cống. Học tập lý thuyết quân sự được kết hợp nhuần nhuyễn với thực hành là như vậy. Trên nền tảng đó, Nguyễn Sơn đã viết, dịch và cho xuất bản vào năm 1949 những tác phẩm về lý luận quân sự như: Chiến thuật, Dân quân, một lực lượng chiến lược, Chủ nghĩa Lê-nin, Chiến tranh cách mạng và vấn đề chiến lược của Béc-tôn Phrai-xen và Chiến tranh cách mạng Trung Hoa và vấn đề chiến lược của Mao Trạch Đông. Tư lệnh Nguyễn Sơn còn là cha đẻ của Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV ở Thọ Xuân.

Đất Thanh Hóa còn là vườn ươm của đội quân văn hóa tư tưởng mà Mạnh Thường Quân không ai khác, chính là Tư lệnh Nguyễn Sơn. Ông là người đã thành lập Trường Văn hóa Kháng chiến đào tạo nhiều khóa. Và chính ông là người đã giúp đỡ và mạnh dạn sử dụng nhiều nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ những ngày đầu kháng chiến còn gian khổ và lưỡng lự phân vân quyết tâm đi theo kháng chiến. Chính ông là người đã tập hợp và cộng tác với các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhà phê bình… cùng nhau bước đầu xây dựng lý luận văn nghệ kháng chiến ở Liên khu IV, đã bảo tồn tuồng chèo, bài hát trữ tình, khôi phục điệu múa Xuân phả đã bị mai một… Là một nhà quân sự, nhưng ông rất mê văn học nghệ thuật. Ông đã từng lên bục thuyết trình say sưa và hấp dẫn về Truyện Kiều của Nguyễn Du suốt một ngày cho học viên Trường Thiếu sinh quân và Trường Văn hóa kháng chiến.

Tháng 1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh phong quân hàm Thiếu tướng cho Nguyễn Sơn vì công lao to lớn của ông trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 9-10-1948, Thứ trưởng, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, phái viên của Hồ Chủ tịch từ Việt Bắc vào Thanh Hóa chủ trì Lễ thụ phong cho Thiếu tướng Nguyễn Sơn. Nhân chuyến đi này, Phạm Ngọc Thạch chuyển tận tay tướng Nguyễn Sơn bức Thiếp thư của Hồ Chí Minh với 12 chữ Hán được viết nắn nót, ngay ngắn dặn dò ông:

“Đảm dục đại (Mật phải lớn)

Tâm dục tế (Tâm hồn trong sáng, tế nhị)

Trí dục viên (Suy nghĩ phải vẹn toàn, chu đáo)

Hành dục phương” (Hành động phải ngay thẳng, đúng đắn).

Tháng 10-1950, Nguyễn Sơn trở lại Trung Quốc. Ông tốt nghiệp xuất sắc Học viện Quân sự Nam Kinh, sau đó được phân công đảm nhiệm chức Phó cục trưởng Cục Điều lệnh, Giám đốc Tòa soạn tạp chí Huấn luyện chiến đấu. Ông đã viết nhiều bài xã luận, bình luận về các vấn đề quân sự, góp phần vào sự nghiệp hiện đại hóa quân đội Trung Quốc. Năm 1955, Nguyễn Sơn là người nước ngoài duy nhất được Chính phủ Trung Hoa phong quân hàm Thiếu tướng.

Mùa hè năm 1956, do nhiều năm “Bắc chiến Nam chinh” đầy gian khổ, ông mắc bệnh hiểm nghèo. Chính phủ và Quân đội Trung Hoa hết lòng chữa chạy theo Đông y và có ý định đưa ông sang Mát-xcơ-va chữa chạy theo Tây y, nhưng ông cảm thấy không thể vượt qua căn bệnh quái ác này. Ông muốn được trở về Tổ quốc và được trút hơi thở cuối cùng trên mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” của mình. Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã bố trí một chuyến tàu hỏa đặc biệt để ông trở về nước. Buổi tiễn biệt ông tại sân ga Bắc Kinh thật lưu luyến và cảm động. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, các tướng lĩnh cao cấp và các nhà ngoại giao không cầm được nước mắt. Ngày 27 tháng 9 năm 1956, chuyến tàu đặc biệt đưa Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn rời đất nước Trung Hoa về lại Việt Nam, quê hương ông.

Ngày 21 tháng 10 năm 1956, tướng Nguyễn Sơn trút hơi thở cuối cùng trong sự luyến tiếc, đau buồn của gia quyến, bạn bè và những đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 22-10-1956, lễ tang tướng Nguyễn Sơn được tổ chức trọng thể tại Hà Nội. Trong Lời điếu đọc trước linh cữu ông, đồng chí Hoàng Anh, thay mặt Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, đã khẳng định, tướng Nguyễn Sơn mất “quân đội chúng ta mất một Thiếu tướng có tài, Tổ quốc và Chính phủ, Đảng mất một người cán bộ tốt” .

Và trước linh cữu khói hương nghi ngút tướng Nguyễn Sơn, đồng chí Hoàng Anh, thay mặt Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân xin hứa với ông: “Vĩnh biệt đồng chí hôm nay, chúng tôi biến lòng thương nhớ đồng chí thành sức mạnh trong công việc xây dựng Quân đội nhân dân tiến dần từng bước tới chính quy hóa và hiện đại hóa, góp phần vẻ vang của mình trong công cuộc củng cố hòa bình cho nước nhà”.

Tướng Nguyễn Sơn về với cõi vĩnh hằng không vượt qua tuổi mụ 49. Trong bài thơ khóc tướng Nguyễn Sơn, nhà thơ Hữu Loan, người đã có thời làm việc với tướng quân trên đất Thanh Hóa, tác giả bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim (vừa mới mất), đã phần nào phác họa được tính cách mạnh mẽ, pha chút ngang tàng của ông:

“Nguyễn Sơn như con tàu biển khổng lồ

Mang giông tố đại dương đi đến đâu

không cho sóng ngủ

Nguyễn Sơn như núi lửa mọc ở đâu

Là gây những đám cháy

Vòng quanh…”.

Con người Nguyễn Sơn là thế. Những nơi Nguyễn Sơn đi qua, những công việc Nguyễn Sơn đã làm đã để lại những dấu ấn không phai mờ. Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn là con người văn võ song toàn. Chiến công của quân dân ta trong hai cuộc trường chinh chống Pháp, chống Mỹ vĩ đại có một phần trải nghiệm của Nguyễn Sơn. Và cuối cùng, bức tượng đài tình hữu nghị Việt – Trung được kết dính bởi một phần máu thịt của Nguyễn Sơn.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

Bác sĩ Trần Duy Hưng với Hà Nội những năm đầu Độc lập

QĐND – Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng lâm thời Hà Nội đã mời các nhân sĩ Hà Nội như cụ Nguyễn Văn Tố, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, bác sĩ Trần Duy Hưng… tham gia chính quyền nhân dân. Các “sĩ phu Bắc Hà” đã vui vẻ nhận lời. Khi về Hà Nội, nhận thấy ở bác sĩ Trần Duy Hưng một nhân cách, một tấm lòng son sắt vì nước, vì dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị ông làm Thị trưởng Thành phố Hà Nội. Ông đã đáp lại rằng: “Thưa Cụ, chức Chủ tịch xin Cụ chọn người khác xứng đáng hơn, tôi không quen làm…”. Nghe vậy, Cụ Hồ đã động viên: “Tôi có quen việc làm Chủ tịch nước đâu, chúng ta cứ làm rồi sẽ quen…”. Và từ ngày 30-8-1945, ở tuổi 33, ông đã là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.

Các đại biểu Quốc hội của Hà Nội ra mắt cử tri ngày 12-1-1946, trên sân vận động ở khu Việt Nam Học xá (Trường Đại học Bách khoa hiện nay). Từ trái sang phải: Kỹ sư Nông lâm Hoàng Văn Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh, bác sĩ Trần Duy Hưng, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, luật sư Vũ Đình Hòe, nhà giáo Nguyễn Thị Thục Viên.

Bác sĩ Trần Duy Hưng sinh ngày 16-1-1912, là con trưởng trong một gia đình trung lưu và có truyền thống hiếu học. Cha ông là một viên chức quê ở thôn Hòe Thị, nay thuộc xã Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội, mẹ là con gái họ Phạm, một dòng họ lớn ở làng Ngọc Hà. Sau khi tốt nghiệp Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An), ông theo học Trường Y khoa Đông Dương. Ngay trong thời kỳ này, ông cùng với Tạ Quang Bửu, Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Tùng… là những người sáng lập Hướng đạo sinh ở Việt Nam, một phong trào có uy tín của thanh niên trí thức lúc đó, do Hoàng Đạo Thúy làm thủ lĩnh. Với cây đàn vi-ô-lông và cùng bạn bè, ông đã nhiều lần về các vùng quê đàn hát những bài ca yêu nước.

Sau khi tốt nghiệp, ông và em gái mở phòng khám tại nhà riêng ở số nhà 73 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Là một bác sĩ đa khoa giỏi, nhưng điều ông được đồng nghiệp và người dân Hà Nội thời đó yêu quý nhiều hơn là ở tấm lòng đức độ của một người thầy thuốc sẵn sàng cưu mang và cứu giúp dân nghèo. Em gái ông, bà Trần Thị Mỹ, lúc đó đã tham gia Việt Minh, nên chính tại cơ sở chữa bệnh này, hai anh em ông đã cứu giúp và chở che cho những cán bộ Việt Minh như Nguyễn Đình Thi, Văn Cao… giữa vòng vây ráp của mật thám Pháp.

Với cương vị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Hà Nội (theo Sắc lệnh ngày 22-11-1945, được đổi thành Ủy ban hành chính) trong những ngày đầu của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp quần chúng nhân dân Thủ đô ủng hộ cách mạng, bảo vệ chính quyền non trẻ, “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Ông được nhắc đến với tác phong giản dị, gần gũi, lắng nghe và giải quyết kịp thời các phản ánh và tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đêm Giao thừa Bính Tuất năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và bác sĩ Trần Duy Hưng đã đi thăm các gia đình nghèo ở Hà Nội. Là chủ tịch của một thành phố lớn, nhưng ông tự soạn thảo các công văn, diễn văn, thư từ, điện tín và tự lái ô tô.

Ngày 6-1-1946, nhân dân cả nước đi bầu đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Nhân dân Hà Nội đã lựa chọn được 6 đại biểu. Chủ tịch Hồ Chí Minh được số phiếu cao nhất và sau đó là bác sĩ Trần Duy Hưng. Tại cuộc họp Quốc hội thứ nhất vào ngày 2-3-1946 tại Nhà hát Lớn, Hà Nội, ông đã được Quốc hội bầu vào Ban soạn thảo Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với trọng trách này, bác sĩ Trần Duy Hưng không chỉ chăm lo tới người dân trong nước mà kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Báo Cứu quốc, cơ quan của Tổng bộ Việt Minh số 398, ra ngày 6-11-1946, có tường thuật lại ý kiến của bác sĩ Trần Duy Hưng trong buổi họp Quốc hội góp ý kiến cho bản Hiến pháp 1946: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bảo đảm về quyền lợi” với mục đích “là để nước ngoài nhận cái địa vị của nước Việt Nam và nhận cái chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Chính vì vai trò và sự tận tâm của bác sĩ với Thủ đô nên kẻ thù luôn tìm cách mua chuộc, hãm hại ông, nhằm làm giảm uy tín của chính quyền cách mạng. Nhiều báo những năm đó đã đăng tải vụ kẻ thù tiến hành bắt cóc ông. Báo Dân quốc số ra ngày 21-12-1945 có thuật lại vụ này: “Hồi hơn 12 giờ trưa ngày 19-12-1945, bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, bị một bọn 3 tên mang súng định bắt cóc ở ngay trước cửa nhà ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Một trong 3 tên đó mặc giả lính Trung Hoa, hai tên kia mặc âu phục. Trong khi ông Hưng đang quay xe để vào nhà thì nhân lúc không để ý, 3 tên Việt gian đã ngồi chờ sẵn ở một hàng nước trước cửa, nhảy xổ lên ô tô gí súng vào người và bắt ông lái xe đi. Nhưng ông Hưng vẫn giữ được cấp trí, tắt ngay máy đi và bóp còi lên. Kẻ gian thấy bị lộ bèn xô ông Hưng vào một bên giữ chặt lấy ông và định cầm lấy tay lái nhưng không vặn được xe đi. Trong khi ấy, người nhà bác sĩ Hưng biết có sự biến chạy ra và đồng thời anh em tự vệ trong phố cùng đổ đến. Thấy nguy, 3 tên Việt gian bỏ chạy, ông Hưng được tự do, rút súng bắn chỉ thiên, nhưng bọn bắt cóc cứ chạy, 2 tên tẩu thoát được, còn 1 tên đến đầu phố thì bị anh em tự vệ bắt”.

Cũng trong giai đoạn này, thực hiện Thông cáo của Chính phủ “về việc đặt tên đường phố và công viên tại các thành phố và tỉnh lỵ” đáp ứng mong muốn của nhân dân Thủ đô được sống trong một đất nước độc lập, ngày 1-12-1945, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Trần Duy Hưng đã ký tờ trình về việc đặt tên phố và công viên Hà Nội. Nguyên tắc đặt tên phố là: Giữ nguyên tên cũ của Hà Nội 36 phố phường; đường phố Hà Nội mang tên các “anh quân, danh tướng, văn gia, chiến công, các nhà cách mạng cũ và mới”; các danh nhân ngoại quốc có liên lạc với Việt Nam; các tên phố và vườn hoa trong từng khu vực có liên lạc với nhau; các vĩ nhân danh tiếng nhất đặt phố to nhất, và được chia ra từng khu vực có liên quan đến nhau. Ví dụ: Khu độc lập có vườn hoa Độc lập (nay là quảng trường Ba Đình) và các phố Dân chủ Cộng hòa (nay là Điện Biên Phủ), Tự Do (nay là Bà Huyện Thanh Quan), Hạnh phúc (nay là Tôn Thất Đạm), Dân Quyền (nay là Hoàng Văn Thụ), Hùng Vương (nay vẫn giữ tên cũ); Khu Quốc Tử Giám có các phố như Chu Văn An, Ngô Sĩ Liên…; Khu trường đại học có các phố Lê Thánh Tôn, Trạng Trình, Hàn Thuyên…; Khu quanh thành cổ có tên các phố Phan Đình Phùng, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu…; Khu bờ sông tên phố là tên các chiến công và các tướng đã đánh các trận Bạch Đằng, Tây Kết, Vạn Kiếp, Vân Đồn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái… Khu hồ Hoàn Kiếm có Vườn hoa Chí Linh, các phố Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi, Lê Lai, Lê Thạch…; Khu giải phóng có phố Gia Phong, Đô Lương, Thái Nguyên, Tân Trào. Ngoài ra có mấy khu không liên lạc với tên phố nhưng để nhắc lại cảnh đau đớn của ách nô lệ: Cổ Am, Nghĩa Lộ… Theo nguyên tắc trên, tên một số phố thời kỳ bác sĩ Trần Văn Lai (Đốc lý Hà Nội thời chính phủ Trần Trọng Kim) đã cho đổi tên vẫn được giữ.

Tháng 2-1947, sau hai tháng chiến đấu anh dũng chống quân Pháp, Chính quyền Hà Nội rút lên Việt Bắc. Quân Pháp tạm chiếm Hà Nội. Tại chiến khu, bác sĩ Trần Duy Hưng được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ (năm 1947), Thứ trưởng Bộ Y tế (năm 1954). Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 10-10-1954 bác sĩ Trần Duy Hưng, lúc này là Phó chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội, đã cùng đoàn quân chiến thắng vào tiếp quản Thủ đô. Sau đó ông trở lại với chức danh Chủ tịch Ủy ban Hành chính, rồi Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Năm 1977, ông xin nghỉ hưu. Ông mất ngày 2-10-1988 tại Hà Nội.

Thiếu tướng Vương Thừa Vũ và bác sĩ Trần Duy Hưng (trái) cùng bộ đội tiếp quản Thủ đô trong buổi lễ chào cờ tại sân Cột Cờ Hà Nội. Ảnh: Phan Xuân Thúy

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có nhận xét về ông: “Một con người của nhân dân, vì nhân dân; là một trí thức để lại tấm gương sáng cho các thế hệ trí thức cả hôm nay và mai sau học tập, noi theo”.

Để ghi nhận công lao của ông, năm 2005, Nhà nước đã truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh. Tháng 1-1999, một con đường đẹp của Thủ đô mới được mở trong thời kỳ đổi mới mang tên ông: phố Trần Duy Hưng. Các đường phố quanh đó mang tên những người đã từng lãnh đạo Hà Nội như Nguyễn Ngọc Vũ, Lê Văn Lương, Nguyễn Khang, Khuất Duy Tiến. Và mới đây, chuẩn bị cho đại lễ 1000 năm Thăng Long, tại cuộc họp chiều 14-7-2010 của Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội, các đại biểu đã nhất trí đặt tên đoạn đường nối dài từ phố Trần Duy Hưng đến Hòa Lạc là Đại lộ Thăng Long.

Ngô Thế Long
qdnd.vn

Những kỷ niệm, những bài học không quên từ Người

“Tôi có diễm phúc nhiều lần được gặp Bác, thậm chí có những lần được trực tiếp phục vụ Bác trong một số hoạt động đối ngoại. Mỗi lần như vậy đều để lại trong tôi những kỷ niệm và những bài học nhớ mãi không quên”.

Đồng chí Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm thiêng liêng về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

44Bác Hồ với thiếu nhi quốc tế

Tấm lòng chân thành từ những món quà nhỏ

Lúc nào Bác cũng sống giản dị, chắt chiu từng đồng của nhân dân, của đất nước. Ngoài vài lần dẫn đầu các đoàn đại biểu đi thăm chính thức nước ngoài, còn hầu hết các chuyến thăm và làm việc khác của Người, không bao giờ Bác dùng chuyên cơ. Bác chỉ đi máy bay dân hàng.

Đi theo người cũng chỉ có vài ba người, anh Vũ Kỳ là thư ký của Bác kiêm luôn cần vụ. Trong va li của Bác chỉ có độc một bộ quần áo dạ, còn hàng ngày Bác vẫn mặc quần áo ka ki bạc mầu như chúng ta thường thấy.

Thường thường, trong mỗi chuyến thăm, Bác chuẩn bị quà biếu lãnh đạo nước bạn là hoa quả trồng trong vườn Bác như cam, nhãn, bưởi.

Tôi nhớ có lần trước khi rời nhà khách của bạn, Bác bảo tôi biếu các cô phục vụ những hộp thuốc lá Bác đã hút hết bằng bìa cứng rất đẹp để các cô đựng kim chỉ.

Tôi buột miệng thưa với Bác, ở nước bạn thiếu gì hộp kim chỉ, Bác ôn tồn rằng, Bác cũng biết vậy nhưng đây là tấm lòng của Bác, giá trị của những hộp thuốc lá là ở chỗ đó.

Điều đặc biệt trong những chuyến làm việc tại nước ngoài là quà của các địa phương nước sở tại biếu Bác nhưng khi rời sân bay biên giới, Bác nhờ chuyển lại cho lãnh đạo nước bạn chứ không mang về.

Bác thường bao giờ cũng nghĩ tới người khác trước mà ít khi lo cho mình. Khi ở nhà khách chúng tôi cứ thấy Bác tự giặt quần áo lót, khăn mùi xoa. Anh em đi cùng xin với Bác để họ giặt hoặc gửi lại phục vụ nhà khách nhưng Bác không chịu.

Có một chuyện in dấu ấn trong tôi tới tận bây giờ. Ở nhà khách của bạn, tới bữa ăn họ bày la liệt đồ ăn, thức uống trên bàn. Vốn còn trẻ, ăn khỏe, tôi gắp hết món này đến món kia để ăn.

Bác liền khẽ nhắc: “Cháu ăn món nào thì ăn hết món ấy, đừng để thừa cho người khác”. Từ đó tôi cứ chọn những món mình ưa thích, ăn hết rồi mới chuyển sang món khác.

Trong những bữa tiệc đứng, không bao giờ Bác để cho nhân viên nhà khách phục vụ đồ nóng mà yêu cầu để trên mặt bàn, ai ăn tự ra lấy và khi ăn xong tự mang bát đĩa xuống bếp.

Cách hành xử của Bác rất tự nhiên, thấy vậy, ngay các nhà lãnh đạo cấp cao của nước bạn cũng vui vẻ làm theo.

Không được dạy đời

Bác luôn luôn rất chu đáo từ việc nhỏ trở đi. Một lần đi theo Bác tiếp khách ở Phủ Chủ tịch, đang đi chúng tôi ngạc nhiên khi thấy Bác lấy ngón tay quệt vào bậu cửa sổ xem còn bụi bẩn không!

Là một nhà lãnh đạo tầm cỡ quốc tế, một chiến sĩ lão thành trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhưng Bác luôn khiêm tốn.

Một lần chuẩn bị đón đoàn đại biểu cấp cao của nước bạn sang thăm, trong đề cương hội đàm do anh em chuẩn bị có những câu, những đoạn hơi cao giọng, Bác bèn ghi bên cạnh: “Không được dạy đời!” và tự tay sửa lại câu từ cho khiêm tốn, dễ nghe.

Trong giao tiếp Bác luôn ứng xử vừa có lý, vừa có tình –  đó cũng là một phương châm Bác để lại trong Di chúc khi Bác đi xa. Tôi nhớ mãi lần Đoàn đại biểu cấp cao của một nước bạn sang thăm nước ta.

Trên đường đưa đoàn đại biểu về thăm địa phương, anh em đoàn phục vụ đã có hành vi sơ suất làm cho vị Trưởng đoàn phật ý. Sáng sớm hôm sau, tôi trực ở Nhà khách 12 Ngô Quyền bỗng thấy Bác đi tới.

Bác bảo tôi báo cho ông bà Trưởng đoàn biết. Do Bác tới sớm quá nên vị khách chưa kịp thay quần áo, ông Trưởng đoàn chỉ kịp quấn khăn tắm quanh người, còn bà vợ vẫn mặc áo ngủ.

Bác kéo ghế ra sân thượng ngồi chờ. Ông Trưởng đoàn tỏ ý ái ngại vì từ lúc đặt chân tới Việt Nam chưa kịp lên chào Bác lại để Bác phải tới thăm. Bác ôn tồn mở đầu câu chuyện:

“Phương Đông có câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (dạy một chữ hay nửa chữ cũng là thầy), đồng chí đã từng giảng dạy tại trường Đại học Cộng sản Matxcơva, nơi tôi có nghe giảng, vậy đồng chí là thầy, tôi là trò. Trò phải thăm thầy trước là lẽ đương nhiên.

Còn cô ấy (Bác chỉ phu nhân của Trưởng đoàn) là em gái nuôi của tôi khi sống và hoạt động trong Quốc tế cộng sản ở Mátxcơva, lẽ nào tôi không thăm em mình?”.

Thế là mọi sự phiền muộn của ông bà Trưởng đoàn biến mất, thay vào đó là sự chân tình và khâm phục với Bác.

Những mẩu chuyện trên nói lên cách đối nhân xử thế rất nhân ái, khiêm nhường, thu phục lòng người của Bác. Chúng ta hãy cố làm theo Bác từ những việc cụ thể, thiết thực.

Noi theo gương Bác Hồ không thể chỉ trên lý thuyết và trong các cuộc vận động mà phải học, nhất là phải làm suốt đời. Rất mong các bạn trẻ ghi nhớ điều này.

Theo Tiền Phong

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Việt Nam tích cực và chủ động tham gia các hoạt động trong Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc

Khóa họp thứ 21 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) tại Giơnevơ (Geneva, Thụy Sĩ) vừa kết thúc cuối tuần qua sau hơn 2 tuần làm việc. Tại khóa họp này, Việt Nam đã tích cực và chủ động tham gia các hoạt động trong Hội đồng Nhân quyền để tiến tới việc ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016.

Theo phóng viên tại Thụy Sĩ, trong các ngày họp từ 10/9 đến 28/9, Hội đồng Nhân quyền đã thảo luận báo cáo của 10 báo cáo viên đặc biệt, nhóm làm việc và chuyên gia độc lập phụ trách các chủ đề về trẻ em trong xung đột vũ trang, người bản địa, lính đánh thuê, tác hại chất thải độc hại, nước sạch, đói nghèo cùng cực, chống phân biệt chủng tộc, các hình thức nô lệ hiện đại, nhân quyền và đoàn kết quốc tế, dân chủ và trật tự quốc tế công bằng. Hội đồng Nhân quyền cũng đã thảo luận báo cáo về tình hình nhân quyền tại Xyri, Xômali, Xuđăng và Campuchia, xem xét thông qua báo cáo kết quả của nhóm làm việc theo Cơ chế Kiểm điểm định kỳ (UPR) của 14 nước, trong đó có Philíppin, Inđônêxia, Ấn Độ, Braxin, Nam Phi, Angiêri, Êcuađo…

Đại sứ Nguyễn Trung Thành, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam bên cạnh cơ quan LHQ, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các tổ chức quốc tế khác đã phát biểu đánh giá cao và ủng hộ nỗ lực bảo đảm và thực thi quyền con người tại các nước Philíppin, Braxin, Nam Phi và Inđônêxia, tại các phiên họp xem xét báo cáo UPR các nước này. Đại sứ Nguyễn Trung Thành cho biết: “Chúng tôi quyết tâm không ngừng để đóng góp hơn nữa cho các tổ chức quốc tế và khu vực. Chúng tôi vô cùng cảm kích và hướng tới sự phối hợp và hợp tác rộng rãi với mọi quốc gia và các nền kinh tế trong việc thúc đẩy sự nghiệp chung và chia sẻ các mục tiêu bảo đảm hòa bình, an ninh, thịnh vượng và phát triển con người. Trong lĩnh vực này, tiếp sau việc là thành viên tích cực trong Ủy ban Nhân quyền (2001-2003), Chính phủ Việt Nam đã đệ trình với tư cách là ứng cử viên cho Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Chúng tôi rất hy vọng nhận được sự ủng hộ và hợp tác mạnh mẽ trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người”.

Trong phiên đối thoại với Báo cáo viên đặc biệt về tình hình Campuchia ngày 25/9, Đại sứ Nguyễn Trung Thành nêu rõ chính sách láng giềng hữu nghị, đoàn kết hợp tác giữa Chính phủ và nhân dân Việt Nam với Chính phủ và nhân dân Vương quốc Campuchia, hoan nghênh những thành tựu đạt được của nước bạn trong việc bảo đảm ổn định chính trị, phát triển kinh tế và cam kết sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ để xây dựng một đất nước Campuchia hòa bình, ổn định và phát triển.

Trong khuôn khổ khóa họp, Hội đồng Nhân quyền cũng tiến hành 4 phiên thảo luận chuyên đề về nhân quyền gồm Ngày quốc tế Nenxơn Manđêla (Nelson Mandela), tiếp cận pháp lý của người bản địa, tăng cường vai trò của phụ nữ và các quyền kinh tế-văn hóa-xã hội, vấn đề đe dọa và trả đũa trong hợp tác với các cơ chế nhân quyền LHQ.

Kết thúc khóa họp, Hội đồng Nhân quyền đã thông qua 31 nghị quyết, 14 quyết định, bổ nhiệm 2 báo cáo viên đặc biệt về Bêlarút và Êritơria, bầu 4 chuyên gia thành viên Ủy ban Tư vấn của Hội đồng Nhân quyền./.

Các từ khóa theo tin: (Theo TTXVN)
cpv.org.vn