Thượng Đức-Địa danh nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

QĐND Online – Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Thượng Đức ở phía tây tỉnh Quảng Đà (nay là Quảng Nam), cách thành phố Đà Nẵng 40 km theo đường chim bay, là tiền đồn bảo vệ căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng, một trong những căn cứ lớn của địch ở miền Nam. Sau Hiệp định Pa-ri (1973), Thượng Đức trở thành căn cứ xuất phát các cuộc hành quân lấn chiếm của địch. Nông Sơn nằm trong thung lũng sông Thu Bồn. Thượng Đức nằm trong thung lũng sông Vu Gia, như hai nhánh cây xòe ra, cắm sâu vào lòng dãy Trường Sơn mà gốc cây là vùng B- Đại lộc và quận lỵ Đức Dục. Nhìn từ góc độ quân sự ở mặt trận Quảng Đà, thì vùng này có tầm quan trọng đặc biệt. Từ trước tới đây, nó là hậu cứ của Quân giải phóng ở mặt trận 4, nhưng sau ngày ký Hiệp định Pa-ri, bị quân ngụy lấn chiếm trái phép nên trở thành vùng tranh chấp. Ba phía: bắc, tây, nam đều là vùng căn cứ của ta, được nối với nhau bằng đường sông, đường bộ rất thuận tiện cho việc cơ động lực lượng. Thượng Đức nằm trên một địa hình rất hiểm yếu, ba bề là núi cao có nhiều dốc đứng, phía đông bằng phẳng là nơi hợp điểm của sông Côn và sông Vu Gia, nước sâu và chảy xiết. Ở đây chỉ có đường 14 qua Ái Nghĩa về Đà Nẵng. Đoạn đường từ Thượng Đức lên Bến Hiên, địch đã bỏ từ lâu. Phía tây và tây bắc, địch tổ chức nhiều tiền đồn trên các điểm cao.

Thượng Đức là một cứ điểm phòng thủ kiên cố, địch lợi dụng thế hiểm của địa hình xây dựng một hệ thống phòng thủ liên hoàn, tất cả các cơ quan chỉ huy, trung tâm thông tin, trạm thương binh và các kho tàng dự trữ đều nằm sâu dưới lòng đất. Trong các năm 1968, 1969, 1970, ta đã nhiều lần đánh Thượng Đức, nhưng không thành công. Mỗi lần bị đánh, địch lại tăng cường hệ thống phòng ngự kiên cố hơn. Chúng còn thiết kế hệ thống hầm ngầm hoàn chỉnh và các hỏa điểm bí mật. Địch mệnh danh Thượng Đức là : “Mắt ngọc”, là “Cánh cửa thép bất khả xâm phạm” và huênh hoang tuyên bố: “Khi nào nước sông Vu Gia chảy ngược thì Việt Cộng mới lấy được Thượng Đức”. Lực lượng địch ở đây có tiểu đoàn 79 biệt động biên phòng, đại đội bảo an 704, một trung đội pháo 105 ly, một trung đội cảnh sát dã chiến, một trung đội thám báo, một biệt đội sưu tầm và 21 trung đội dân vệ. Tổng số địch có 884 tên (chưa kể lực lượng phòng vệ dân sự). Ba ban hội đồng của 3 xã Lộc Bình, Lộc Vinh, Lộc Ninh có nhiều tên ác ôn khét tiếng chưa bị diệt. Hỏa lực của địch ở 3 xã này có 18 khẩu pháo cối các loại, 27 đại liên.

Lực lượng ta tham gia đợt mở đầu giải phóng Thượng Đức (28-7/7-8-1974) trong chiến dịch Nông Sơn – Thượng Đức có sư đoàn 304 (thiếu), được tăng cường một tiểu đoàn công binh của Lữ đoàn 209, đại đội tên lửa A.72, đại đội tên lửa B.72 của Quân đoàn 2, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương của tỉnh Quảng Đà, 2 đại đội địa phương, một tiểu đoàn đặc công của Quân khu 5. Sau đó được tăng cường thêm trên một đại đội bộ binh có xe tăng và hỏa lực pháo binh, không quân chi viện.

Qua 10 ngày nổ súng chiến đấu, đợt tiến công mở đầu đánh chiếm Thượng Đức kết thúc thắng lợi. Cùng với lực lượng địa phương, các đơn vị của Quân đoàn 2 tham gia chiến dịch đã thực hiện trọn vẹn mục tiêu của đợt hoạt động, san bằng chi khu Thượng Đức và toàn bộ các vị trí địch ở xung quanh, diệt 1.600 tên địch (trong đó có 900 tên bị bắt sống và tiểu đoàn 79 Biệt động quân bị diệt gọn), bắn rơi 13 máy bay, thu hơn 1000 súng các loại; giải phóng quận lỵ Thượng Đức và 4 xã Lộc Ninh, Lộc Vĩnh, lộc Bình và Lộc Quang với hơn 13.000 dân, mở ra một bàn đạp quan trọng uy hiếp căn cứ quân sự liên hiệp Đà Nẵng của địch từ hướng tây nam.

TRANG THU
qdnd.vn

Advertisements