Archive | 2012

Chuyện đặt tượng Bác ở thành Len

Làm rể Việt Nam, GSTS Vladimir Kolotov là người làm rất nhiều việc có ích cho quê vợ. Anh là một trong những người chủ chốt trong việc lập Viện Hồ Chí Minh đầu tiên ngoài lãnh thổ Việt Nam và đặt tượng Bác Hồ ở Đại học Quốc gia Saint Petersburg, Liên bang Nga.

len 1Khai trương tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện Hồ Chí Minh ở St. Petersburg.

Tôi gặp Vladimir Kolotov lần đầu ở Trung ương Hội Hữu nghị Việt – Nga cuối năm 2009. Khi ấy nhà khoa học người Nga trẻ trung, phong độ ấy để lại cho tôi ấn tượng là một người dễ xúc động: Tôi thấy anh rơi nước mắt khi nghe nhắc đến việc Việt Nam vừa khánh thành tượng đài tưởng niệm quân nhân Nga/Xô Viết hi sinh khi làm nhiệm vụ ở căn cứ hải quân Cam Ranh.

Bẵng đi gần hai năm, hôm bật ti vi xem lại cầu truyền hình trực tiếp Hà Nội – Mátxcơva “Bài ca chiến thắng” đầu tháng 11 năm 2011, tôi thấy Vladimir cầm mic dẫn chương trình ở đầu cầu Mátxcơva bằng tiếng Việt. Hôm gặp lại cũng ở Hội Việt-Nga cuối tháng 11 năm 2011, tôi hỏi về việc làm chương trình, anh bảo: “Tôi không dám xem lại nữa. Tiếng Việt của tôi hôm đó khủng khiếp”.

Té ra hôm đó người đảm nhiệm bản dịch tiếng Nga cứ đọc gần như đồng thời với Vladimir, mà anh thì không được trang bị tai nghe cách âm, thành ra mọi thứ cứ loạn cả lên, không giữ được sự điềm tĩnh cần thiết.

Tuy nhiên, việc một ông Tây dẫn cầu truyền hình của Đài quốc gia Việt Nam bằng tiếng Việt là một món quà bất ngờ thú vị với khán giả Việt và khó có ai nỡ trách anh về sự thiếu hoàn hảo. Câu chuyện Vladimir kể như một bằng chứng. Một tiếng đồng hồ sau chương trình, anh bỗng nhận được điện thoại của một nhân vật lớn Đảng cầm quyền Nước Nga Thống nhất: “Này, cậu làm cái gì trên truyền hình mà một lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam gọi điện cho tôi cảm ơn thế?”

len 2Vladimir Kolotov

Vladimir Kolotov là giáo sư, tiến sĩ, Chủ nhiệm bộ môn lịch sử các nước Viễn Đông tại khoa Phương Đông, Đại học Tổng hợp Quốc gia Saint Petersburg (Leningrad trước đây), Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh của Đại học này, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt tại cố đô Nga, thành viên Ủy ban  Quốc gia Nga của Hội đồng Hợp tác an ninh Châu Á – Thái Bình Dương (CSCAP).

Tiếng Việt của Vladimir có thể dùng thoải mái ở mọi hoàn cảnh, kể cả các hội thảo khoa học, hội nghị chính thức. Hỏi về bí quyết học, anh cười: “Có người trong khách sạn nhìn cách chọn món và cách ăn của tôi đã đoán: Chắc anh có từ điển tiếng Việt tóc dài?” Đúng rắp! Vợ anh là cô gái Việt anh đã gặp ở Thành phố Hồ Chí Minh trong một chuyến công tác.

Hỏi vì sao chọn chuyên ngành liên quan Việt Nam và Phương Đông, Vladimir chỉ lên trời nói: “Trên đó còn chưa tiết lộ cho tôi lý do. Một tập hợp các hoàn cảnh ngẫu nhiên đã khiến tôi chọn lĩnh vực này, tôi cũng không thật hiểu vì sao. Có lẽ do định mệnh”. Có thể là định mệnh, nhưng một điều chắc chắn là tình cảm của anh với quê vợ tựa trên một cái nền vững chắc tri thức của một nhà Việt Nam học.

Xem danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố của anh, thấy đụng chạm nhiều đến các vấn đề chính trị, xung đột và đặc điểm tôn giáo Việt Nam. Đặc biệt, anh phân tích rất kỹ việc các thế lực từ bên ngoài sử dụng các yếu tố tôn giáo trong mô hình “quản lý xung đột” để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam trong quá khứ và hiện tại.

Cuối thế kỷ 16 – đầu thế kỷ 17, các thế lực thực dân Phương Tây đã lợi dụng các giáo sĩ để thâm nhập vào Việt Nam. Trong thuyết quản lý xung đột có 3 giai đoạn: Một là cải đạo dân bản địa và xây dựng cộng đồng tôn giáo tại chỗ; hai là, gây mâu thuẫn giữa giáo dân và bên lương; ba là thực hiện sách lược gây mất ổn định cục bộ có tính quản lý và tiến tới xâm lược đối tượng.

Lịch sử cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã diễn ra theo kịch bản như vậy. Vladimir chỉ rõ: Chiến thuật đó, cơ chế đó, “mô hình quản lý xung đột” đó cũng đang được các thế lực thù địch với Việt Nam áp dụng ngày hôm nay với việc truyền đạo trái phép ở các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc…

Vladimir cũng nghiên cứu sâu về các chuyển động chính trị của vùng Đông Nam Á. Phân tích chiến lược của các cường quốc đối với khu vực cực kỳ quan trọng đối với thế giới hiện đại này, anh đánh giá cao vai trò, vị trí của Việt Nam. Trong bài “Yếu tố Việt Nam trong hệ thống an ninh khu vực” mà anh viết riêng cho Đài BBC tháng 12 năm 2008, anh nhận định các cường quốc “đều hiểu là họ không thực hiện được chính sách của mình nếu họ coi thường yếu tố Việt Nam. Điều đó khiến chúng ta phải coi yếu tố Việt Nam là hết sức quan trọng trong hệ thống an ninh khu vực đang trong giai đoạn biến đổi”.

Trong các phát biểu khác trên Thanh niên và BBC, anh nhận xét ý đồ chiến lược của Trung Quốc là “rất rõ ràng đó là kiểm soát tài nguyên ở Biển Đông và kiểm soát tuyến đường giao thông hàng hải quan trọng bậc nhất của thế giới này”, là “độc chiếm Biển Đông”. Anh khẳng định: “Theo luật pháp quốc tế, Trung Quốc hoàn toàn không có quyền kiểm soát đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…”.

Vladimir là một trong những người chủ chốt tham gia thành lập Viện Hồ Chí Minh ở Khoa Phương Đông thuộc Đại học Quốc gia Saint Petersburg, đặt tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện, tổ chức nhiều hoạt động phong phú của Hội hữu nghị Nga – Việt thành Petersburg mà anh là Chủ tịch…

Viện Hồ Chí Minh được khai trương ngày 19-5-2010, đúng vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Bác. Ngoài các vấn đề liên quan đến Việt Nam, Viện Hồ Chí Minh nghiên cứu các vấn đề quốc tế rộng. Chẳng hạn vừa qua, Viện tổ chức 3 semina khoa học về hiện tượng “Mùa xuân Arập”, phân tích rõ các thủ đoạn, thủ thuật kích động, gây xung đột để can thiệp của một số thế lực. Như việc một clip “biểu tình giải phóng” (cảnh bạo loạn) ở thủ đô Tripoli của Lybia lại được dàn dựng và quay ở Qatar, tại địa điểm có bối cảnh na ná Tripoli…

len 3V. Kolotov thuyết trình về việc dùng mô hình
“Quản lý xung đột” để can thiệp vào Việt Nam .

Vladimir kể rằng ý tưởng thành lập Viện Hồ Chí Minh và đặt tượng Bác Hồ trong khuôn viên Viện trở thành hiện thực là nhờ công lao và sự phối hợp ăn ý của rất nhiều người, trong đó vai trò cực kỳ quan trọng thuộc về GS.TS E.I. Zelenev – Trưởng khoa Phương Đông, GS.TS N.M.Kropachev – Hiệu trưởng trường ĐHQG St. Petersburg, hai Hiệu phó; hai vị Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga là các ông Bùi Đình Dĩnh và Phạm Xuân Sơn.

Khoa Phương Đông báo cáo ý tưởng thành lập Viện lên Hiệu trưởng và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình. Đại sứ Bùi Đình Dĩnh là người thảo văn bản đầu tiên báo việc này với nguyên thủ Việt Nam lúc đó là Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Tháng 4 năm 2010, Đoàn đại biểu ĐHQG St. Petersburg đã sang làm việc với Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh về vấn đề này.

Sau khi được sự chuẩn y của Chủ tịch nước Việt Nam, một đoàn đại biểu lãnh đạo Việt Nam do ông Tô Huy Rứa dẫn đầu đã sang ký hiệp định hợp tác và khai trương Viện Hồ Chí Minh đầu tiên ở nước ngoài tại St. Petersburg vào ngày 19-5-2010. Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga đã tặng Viện bức tượng Bác Hồ bằng đồng.

Trường và Viện quyết định đặt tượng Bác trong khuôn viên Viện. Cán bộ của sứ quán Việt Nam ở Nga đã chọn ngày giờ rất cẩn thận, lại đặt la bàn tỉ mỉ để tượng Bác quay hướng nhìn đúng về Tổ quốc Việt Nam. Khuôn viên ngoài tượng Bác còn có tượng Khổng Tử và được hưởng quy chế của bảo tàng ngoài trời.

Lê Xuân Sơn
Theo tienphong.vn
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với ngành giáo dục

Bác rất quan tâm đến con trẻ – Vũ Kỳ kể

Untitled

Bác Hồ yêu các cháu, hiểu các cháu, tin tưởng các cháu. Vì đó là tương lai của dân tộc. Đó là những mầm, những búp trên cành…

Tình yêu đó thấm đậm chất người.

Một sự tình cờ đầy ý nghĩa – sau Ngày sinh của Bác Hồ là sắp đến Tết Thiếu nhi Quốc tế 1-6.

07 giờ ngày 27.

Bác gọi chị Thu Trà đến hỏi về tình hình có một số cháu học sinh miền Nam nghịch ngợm, quấy phá mà Bác được nghe báo cáo. Việc đó là có thật.

Nhưng Bác hỏi về khía cạnh khác: Các cô, các chú dạy dỗ thế nào? Bởi lúc ba má các cháu gửi ra ngoài Bắc thì các cháu đều ngoan và ba má các cháu đều tin tưởng ở hậu phương.

Bác nhắc phải chú ý đến việc các cháu thiếu tình cảm gia đình, phải tìm cách bù đắp.

Rồi Bác kết luận: Lỗi các cháu một phần thì lỗi của người lớn chúng ta mười phần.

Quả nhiên, sau này đưa các cháu đến với sự chăm sóc của các gia đình cán bộ khác thì các cháu đỡ hẳn chuyện gây gổ, nghịch ngợm. Phần Bác cũng nhận chăm sóc một cháu trai, hai cháu gái, con đồng chí Nguyễn Hữu Thọ

Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam.

Bác luôn luôn coi trẻ em cũng là một nhân cách, một thực thể đáng tôn trọng, chứ không chỉ đáng yêu mến.

Nhớ hồi năm 1957, một hôm Bác hỏi tôi chuyện riêng tư:

– Chú Kỳ này! Có bao giờ chú đánh con không?

Tôi ấp úng vì quả là lúc giận quá tôi cũng có đánh các cháu.

Không dám giấu Bác, tôi thú thật:

– Thưa Bác! Khi nóng giận cũng có lúc tôi đánh dọa vài roi ạ.

Bác vẫn không cao giọng, nhưng nghe thấy nghiêm khắc hơn:

– Thế là dã man đấy, chú ạ.

Tôi suy ngẫm thấy rất đúng.

Bác nhìn nhận khuyết điểm, nhược điểm của con người một cách bình tĩnh như hiểu cái lẽ tự nhiên “bàn tay có ngón dài ngón ngắn vậy”. Tấm lòng Bác mở rộng, bao dung cho tất cả…

Bác không nói trẻ em hư, không nói con người hỏng, mà nhận xét có một số chậm tiến, có một số cụ thể có lúc nào đó, ở chỗ nào đó chưa tốt, chưa hay lắm. Cái chưa hay, chưa tốt ấy cần được uốn nắn một cách chân tình và kịp thời.

(Trích theo sách của Hoàng Giai: Ai yêu các nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh, Nxb.Thanh niên, H.1999, tr.134-136)

Bác nhớ các cháu – Đoàn Văn Luyện kể

Bh GD 1

Tháng chạp năm 1968, các dũng sĩ thiếu niên miền Nam đang học ở Tả ngạn thì có mấy chú đưa xe ô tô đến đón về Hà Nội. Luyện, Thu, Nết, Phổ, Mên, Hoà,… chưa hiểu có chuyện gì. Về thủ đô hôm trước thì năm giờ chiều ngày hôm sau có xe đến đón đi.

Vào đến sân Phủ Chủ tịch mới biết là được vào gặp Bác Hồ.

Vừa bước chân xuống xe, đã nom thấy Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở một cái ghế gỗ dài kê trước cửa nhà, tất cả chạy ào tới chào Bác.

Bác cháu trò chuyện với nhau. Sau đó hai Bác bảo:

– Thôi, các cháu vào ăn cơm với hai Bác!

Bữa cơm không có thịt cá gì nhiều nhưng rất ấm cúng. Các dũng sĩ thiếu niên được ngồi ăn cùng với Bác Hồ và Bác Tôn. Nết, người nhỏ quá, cái đầu chỉ lấp ló cạnh bàn, được Bác gắp thức ăn cho luôn.

Vừa ăn, bác cháu vừa nói chuyện rất vui. Ăn xong, hai Bác cho mỗi cháu một bông hồng, một quả táo, một quả lê và ba quyển sách “Người tốt, việc tốt”. Sau đó, Bác Hồ bảo:

– Các cháu lại cả đây hôn hai Bác rồi ra về.

Các dũng sĩ hôn hai Bác xong, Bác Hồ lại dặn:

– Các cháu về trường cố gắng học tập cho giỏi.

Tất cả đều rất cảm động. Đoàn Văn Luyện lên tiếng thưa với Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu cứ tưởng hai Bác gọi các cháu về có việc cần.

Bác Hồ cười hiền từ và bảo:

– Hai Bác nhớ các cháu cho nên gọi các cháu về để hai Bác gặp hỏi chuyện.

Nghe Bác nói, Luyện và các bạn cảm động, muốn trào nước mắt. Hai Bác tuổi đã cao, trăm nghìn công việc, vậy mà hai Bác vẫn nhớ đến các cháu miền Nam. Luyện nghĩ: “Mình được ở ngoài Bắc mà hai Bác còn lo và thương như vậy, các bạn còn ở trong Nam, hai Bác còn lo và thương biết chừng nào!…”

(Trích trong sách: Bác Hồ kính yêu, Nxb. Kim Đồng, H.1979, tr 151-152.)

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với việc tăng gia sản xuất

BH tang gia

Bác rất chú ý tới việc tăng gia sản xuất và bản thân Người cũng tích cực tham gia. Thời kỳ kháng chiến, lúc mới lên rừng khó khăn nhiều, thóc gạo hiếm, nhân dân đói, cán bộ cũng đói, cơ quan di chuyển luôn Bác thường động viên chúng tôi tăng gia sản xuất, Bác nói:

– Các chú làm mà không ăn thì dân ăn, đi đâu mà thiệt.

Bác còn chỉ thị phải học và làm theo những người dân địa phương, Bác nói:

– Các chú phải phát nương, muốn phát được nương thì phải hỏi dân.

Chúng tôi học tập kinh nghiệm phát nương, trồng mướp, khoai lang, đậu, rau và bắp. Kết quả là chẳng thiếu thứ gì. Hàng ngày, đến giờ tăng gia, Bác cũng tham gia.

Bác thích ăn hoa quả và lá bí. Hồi ở thác Khấu Lấu năm 1949-1950, chúng tôi trồng rất nhiều bí đỏ, có lần Bác hỏi:

– Bí của các chú có bao nhiêu quả. Chúng tôi trả lời không biết.

Bác bảo:

– Sáng mai các chú cho chặt một ít que nứa, vót nhọn rồi đếm xem bao nhiêu que, đến chỗ nào thấy quả bí thì cắm một que, sau đó đếm số que còn lại thì ra số bí.

Nghe lời Bác, chúng tôi đếm được ba trăm quả. Khi thu hoạch Bác bảo đem sang biếu Văn phòng Trung ương và các đồng chí công an. Kết quả đã khuyến khích được việc tăng gia sản xuất, phong trào nhân rộng và phát triển mạnh.

Chúng tôi ăn sáng bằng bí đỏ thoải mái. Anh Cả(1) đưa 200 vạn tài chính chỉ để mua gạo, muối và mắm. Anh Dũng và anh Định đi câu cá ở suối. Chúng tôi vào làng mua thóc, xay giã ăn dần, có cám nuôi gà, trứng đủ để Bác ăn thường xuyên không phải mua. Vậy là sinh hoạt cũng tạm đủ.

Ở chiến khu, công việc kháng chiến bận rộn. Tuy vậy đôi lúc Bác cũng tìm được cho mình một chút thư giãn, đó là thả mình trong cảnh vật thiên nhiên của núi rừng. Bác nuôi một đôi chim bồ câu trắng, Bác cho chim ăn. Đôi chim quấn quít cạnh Người, có khi đậu lên hai vai. Chúng tôi ngắm Bác, giữa khung cảnh núi rừng Việt Bắc trông Bác như một ông tiên, tạm thời quên hết mọi việc nhọc nhằn, khó khăn của những ngày kháng chiến.

Khi về Hà Nội, phá đất trồng rau, trồng chuối, Bác cũng tham gia, vườn nhài Bác góp nhiều công chăm sóc. Ao cá chúng tôi vét bùn, Bác nhận cho cá ăn. Lúc đầu Bác luyện cho cá ăn bằng mõ, sau vỗ tay. Thế là cứ nghe tiếng vỗ tay là cá bơi đến ăn dầy đặc cả bờ ao, trông thật vui mắt.

Hữu Kháng

(1) Đồng chí Nguyễn Lương Bằng

Theo http://www.mattran.org.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với ngày hội đoàn kết toàn dân

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 80 năm, giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh đang diễn ra rầm rộ, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh, đây là hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam. Ngày 19/5/1941, theo sáng kiến của đồng chí Hồ Chí Minh, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) thành lập tại Pắc Pó (Cao Bằng). Tháng 5 năm 1946, cũng theo sáng kiến của Người, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) được thành lập. Đến tháng 3 năm 1951, Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt lấy tên là Mặt trận Liên Việt.

Để mở rộng khối đoàn kết dân tộc, Đại hội Mặt trận Liên Việt toàn quốc họp từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 10-9-1955 tại Hà Nội quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiếp tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên Việt. Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đại hội bầu làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận.

Tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời với chương trình hành động 10 điểm mà nội dung cơ bản là đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Sau khi thống nhất nước nhà, tháng 01 năm 1977, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam quyết định thống nhất 3 tổ chức Mặt trận ở hai miền lấy tên chung là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân để cùng phấn đấu.

Trải qua quá trình lịch sử cách mạng, Mặt trận dân tộc thống nhất (nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) ra đời và trưởng thành gắn liền với sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời Người cũng là một tấm gương sáng mẫu mực về đoàn kết dân tộc, xây dựng các phong trào cách mạng, gắn kết tinh thần tập thể trong các lực lượng cách mạng của cả nước. Đồng thời, Người đã trực tiếp xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc, tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới. Có thể coi đại đoàn kết là một chiến lược lớn của cách mạng, chiến lược về tổ chức nhằm tập hợp lực lượng đến mức đông đảo nhất, rộng rãi nhất mọi tầng lớp nhân dân.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, tháng 5 năm 1995 nhân kỷ niệm 105 năm Ngày sinh của Người, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động trong cả nước Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”nay là Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Đây là Cuộc vận động nhân dân rộng lớn trong cả nước của thời kỳ đổi mới có nội dung toàn diện, diễn ra trong thời gian dài. Hơn 17 năm qua được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện của các cấp chính quyền, các tổ chức thành viên Mặt trận, sự hưởng ứng tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, cùng với các phong trào thi đua yêu nước khác, Cuộc vận động đã đạt được những kết quả tốt đẹp góp phần từng bước nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững an ninh trật tự, ngày càng tạo ra các mối quan hệ gắn bó, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau của nhân dân cả nước.

Trong những thực hành lớn của cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng thực hành đoàn kết và đại đoàn kết, từ đoàn kết trong Đảng đến đoàn kết trong dân và đoàn kết quốc tế. Đó là sự gặp gỡ và kết hợp nhuần nhuyễn giữa đường lối chiến lược, phương pháp tổ chức và hoạt động, lãnh đạo và quản lý, với chính sách và biện pháp nhằm gây dựng lực lượng, nuôi dưỡng phong trào thi đua ái quốc, dùng người tài đức, trọng đãi nhân tài, hiền tài để giữ vững nền độc lập tự do, xây dựng đất nước phú cường, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đồng bào. Đường lối chiến lược và chính sách đại đoàn kết của Hồ Chí Minh còn đồng thời là văn hóa ứng xử tinh tế của Người mà ngày nay toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức vận dụng, phát huy để vượt qua mọi khó khăn, thách thức hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và hiện đại hóa vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Bác Hồ với đại biểu công giáoBác Hồ với đại biểu Công giáo

Để đại đoàn kết với mọi người, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đến mọi người và chăm lo lợi ích cho mọi người. Bác Hồ quan tâm đến lợi ích của mọi tầng lớp, từ người cộng sự, người phục vụ gần gũi đến quảng đại quần chúng, từ miền xuôi đến miền ngược, mọi tôn giáo, mọi dân tộc. Người quan tâm đặc biệt đến lợi ích vật chất: Dân đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở, được học hành. Ngoài sự chăm lo lợi ích vật chất, Người còn quan tâm đến đời sống văn hóa, đời sống tinh thần của mọi tầng lớp. Với các tăng ni phật tử, đồng bào Công giáo, Người đều gửi gắm những quan điểm tích cực, đậm chất nhân văn và mang đậm tinh thần đoàn kết, bác ái, không phân biệt người có đạo và người không đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu tấm gương đoàn kết rộng rãi bởi một lẽ rất giản đơn: Người muốn huy động tiềm năng của cả dân tộc vào sự nghiệp chung, Người luôn mong muốn thêm bạn bớt thù. Người tin ở tính hướng thiện của mọi người và trong bất cứ con người nào, Người cũng tìm thấy những nhân tố tốt đẹp đó. Tấm gương đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ Người có phương pháp xử lý đúng đắn những bất đồng, những cản trở cho sự đoàn kết. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết song không phải là kiểu đại đoàn kết một chiều. Người luôn luôn khuyên đoàn kết song phải đấu tranh, đấu tranh để đoàn kết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm đến xây dựng tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng. Theo Người, sự đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng sự đoàn kết trong nhân dân. Đảng đoàn kết, dân tộc đoàn kết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân sẽ tạo lên sức mạnh để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, đi tới thắng lợi cuối cùng của cách mạng. trong Di chúc để lại, điều đầu tiên Bác nói về Đảng Bác căn dặn: Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải “giữ gìn sự đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Thực hiện Di chúc cảu Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn bốn mươi năm qua, Đảng ta đã rất đề cao tinh thần đoàn kết, nhất trí trong nội bộ Đảng, giữa Đảng với nhân dân. Nhờ vậy, Đảng ta đã phát huy trí tuệ của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng; phát huy nội lực, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân dưới ngon cờ của Đảng.

Trong giai đoạn phát triển xã hội hiện nay đầy những biến động và thách thức lớn lao đặt ra cho toàn Đảng và toàn dân ta nên muốn tồn tại và phát triển đi lên một cách bền vững thì hơn lúc nào hết chúng ta phải quán triệt và thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công đại thành công”.

Kỷ niệm 82 năm thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, chúng ta khắc sâu lời dạy của Bác Hồ: “Chính sách Mặt trận là chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”, nguyện cùng nhau tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch trả lời chất vấn qua lời kể Tướng Giáp

Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về phần trả lời chất vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I cách đây gần 65 năm.

Ho Chu tich tra loi chat van qua loi ke cua Tuong Giao
Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm
Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1962

… Quốc hội khóa I, kỳ 2 khai mạc trọng thể vào sáng ngày 28 tháng 10 tại Nhà hát Lớn thành phố. Quốc hội nghe báo cáo của Chính phủ về những công việc đã làm từ ngày thành lập, trong đó có cuộc đàm phán của Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Pháp tại Fontainebleau và việc ký Tạm ước ngày 14 tháng 9.

Ngày 31 tháng 10, các đại biểu chất vấn Chính phủ. Có 88 câu hỏi nêu lên thuộc các vấn đề quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, tài chính, tư pháp, nội vụ. Những câu hỏi được chuyển tới các Bộ hữu quan, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ trả lời về chính sách ngoại giao của Chính phủ, việc ký Tạm ước ngày 14 tháng 9, việc Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh tự ý bỏ đi.

Người nói: Về chính sách ngoại giao của Chính phủ và việc ký bản Tạm ước ngày 14 tháng 9 trong các báo cáo trước đã nói nhiều. Tóm lại đối với các nước dân chủ, hết sức gây thiện cảm. Các nước ấy tuy chưa công khai thừa nhận ta, nhưng ít nhiều thiện cảm với ta. Còn về ngoại giao với Pháp thì từ khi ký Hiệp định ngày 6 tháng 3, qua các Hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau đến Tạm ước ngày 14 tháng 9, Chính phủ quyết tâm giữ vững nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, đồng thời hợp tác thật thà và thân thiện với Pháp. Cố nhiên, người Pháp cũng phải cộng tác với ta trên nguyên tắc bình đẳng…

Người nói tiếp: Tạm ước này có ảnh hưởng tới các Hiệp ước ký sau không? Trong xã hội loài người, có cái gì mà không ảnh hướng tới cái khác. Tuy vậy, những sự điều đình sau đây không thể vì bản tạm ước này mà bị ràng bó. Bản Tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ tạo điều kiện đẩy cho những cuộc điều đình sau mau chóng đạt kết quả.

Người chuyển qua vấn đề khác: Về ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, ông Phó Chủ tịch Quân ủy hội Vũ Hồng Khanh, các ông ấy không có mặt ở đây. Lúc Nhà nước đương gặp bước khó khăn, quốc dân tin ở người nào trao người ấy làm công việc lớn mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải hỏi lương tâm thế nào? Những người đã bỏ việc đi kia, họ không muốn gánh vác việc nước nhà hoặc họ cũng không đủ năng lực gánh vác, nay chúng ta không có họ ở đây chúng ta cũng cứ gánh vác được như thường. (Tiếng vỗ tay nổi lên). Nhưng nếu các anh em đấy biết nghĩ lại, dối không nổi lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về, thì chúng ta vẫn hoan nghênh,

Trước khi bước xuống, Người nói: Nếu trong Chính phủ có các người khác lầm lỡ, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

Buổi chiều và buổi tối, các bộ trả lời những điều đại biểu đã hỏi. Nhưng khi các bộ giải đáp xong, nhiều đại biểu vẫn tiếp tục chất vấn. Chờ mọi người nêu hết những câu hỏi, một lần nữa, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ để trả lời. Vẫn bằng những lời lẽ giản dị, ôn tồn, Người nói:

Vấn đề Quốc kỳ, Chính phủ không bao giờ dám đòi thay đổi Quốc kỳ. Có một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy nên Chính phủ phải đệ qua Thường trực Quốc hội xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ Sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu các chiến sỹ Việt Nam ở Nam bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Đôi mắt sáng rực, bằng giọng nói nhấn mạnh, Người tiếp: Bây giờ trừ 25 triệu đồng bào ra còn không ai có quyền gì mà đòi thay đổi Quốc kỳ. Cả Hội trường vang lên tiếng vỗ tay, Bác nói tiếp:

Vấn đề liêm khiết của Chính phủ thì Chính phủ hiện thời đang cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở ủy ban làng đông lắm. Dù sao Chính phủ cũng đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong sẽ dùng pháp luật trừng trị những kẻ ăn hối lộ, đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết. (Tiếng vỗ tay hoan nghênh lại nổi lên).

Còn có đại biểu nói rằng bản Tạm ước ngày 14 tháng 9 là bất bình đẳng thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản Tạm ước ấy, mỗi bên đều nhân nhượng ít nhiều, ta bảo đảm cho Pháp một phần những quyền lợi văn hóa ở đây thì Pháp cũng phải bảo đảm thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị bắt bớ. Còn nói Pháp thành thật thi hành bản Tạm ước hay không thì ta hiểu rằng Pháp cũng có người tốt, có người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng đa số nhân dân Pháp bây giờ tán thành chúng ta độc lập và thống nhất lãnh thổ…

Bằng những lời nói thật giản dị nhưng cũng thật sáng rõ, khúc chiết chặt chẽ, Bác tiếp tục trả lời tất cả những vấn đề mà các đại biểu đã nêu ra. Người nói xong, không ai hỏi gì thêm. Cuộc chất vấn Chính phủ kết thúc đúng vào nửa đêm…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp
(Theo sách Hồi ký đại biểu Khóa I)

Theo Khampha.vn
Huyền Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Chiến dịch Xuân Lộc mở “cánh cửa thép”

Kỷ niệm 37 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2012)

QĐND – Với sức tiến công mạnh mẽ của các binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược của Quân giải phóng miền Nam và sự nổi dậy phối hợp kịp thời của nhân dân địa phương, trong mùa Xuân 1975, chúng ta đã lần lượt xóa sổ Quân khu 2 – Quân đoàn 2, Quân khu 1 – Quân đoàn 1 của Chính quyền Việt Nam cộng hòa, giải phóng hoàn toàn địa bàn Tây Nguyên và miền Trung, trong đó có hai tập đoàn phòng ngự mạnh của địch là Huế và Đà Nẵng, đẩy chính quyền và quân đội Sài Gòn vào tình trạng bị động đối phó.

Để ngăn chặn, đẩy lùi, làm chậm tốc độ hành tiến của binh đoàn chủ lực Quân giải phóng, tạo thêm thời gian cho việc điều nghiên, bố trí lực lượng và thế trận phản công giành lại thế chủ động trên chiến trường, dưới sự chỉ đạo của cố vấn Mỹ, quân lực Việt Nam cộng hòa huy động hầu hết lực lượng còn lại kết hợp với các đơn vị thu dung quân thất trận từ Tây Nguyên và miền Trung chạy vào, nhanh chóng thiết lập nên tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn – Gia Định, kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh, trong đó, Xuân Lộc được xác định là điểm trọng yếu – “cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn.

Xuân Lộc là một vị trí chiến lược trọng yếu trên chiến trường Bà Rịa – Long Khánh, cách Sài Gòn 80km theo hướng Đông, án ngữ Quốc lộ 1 và 20 – những tuyến cơ động chủ yếu vào Sài Gòn. Chính diện tuyến phòng ngự Xuân Lộc khoảng 40km, kéo dài từ Túc Trưng qua Dầu Giây, thị xã Long Khánh đến ngã ba Tân Phong. Nơi đây có nhiều núi cao, rừng già che phủ, địa thế rất hiểm yếu cho hoạt động quân sự: “Tiến có thế công, thoái có thế thủ”. Cũng cần nhớ thêm rằng, tại khu vực Xuân Lộc – Long Khánh, dưới thời Pháp thuộc, cùng với việc đầu tư vốn vào các đồn điền cao su để thu lợi, chúng đã thiết lập một hệ thống đồn bốt phòng thủ rất vững chắc không chỉ để bảo vệ nguồn lợi tại chỗ mà còn nhằm để bảo vệ hậu cứ chiến lược Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định từ xa.

Quân giải phóng phát triển tiến công đánh chiếm Sở chỉ huy sư đoàn 18 ngụy trong Chiến dịch Xuân Lộc tháng 4-1975. Ảnh tư liệu.

Với lực lượng gồm sư đoàn 18 bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp (100 xe), 1 liên đoàn biệt động quân, 9 tiểu đoàn bảo an, 2 tiểu đoàn pháo binh (42 khẩu), 3 đại đội biệt lập, 4 trung đội pháo và các lực lượng cảnh sát, dân vệ, nghĩa quân tại chỗ (tương đương 2 sư đoàn bộ binh)…, theo chỉ đạo trực tiếp của tướng Uây-en – Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ và tướng Cao Văn Viên – Tổng Tham mưu trưởng quân đội Việt Nam cộng hòa, một thế trận phòng thủ đã được nhanh chóng thiết lập.

Tất thảy những diễn biến tư tưởng của những người đang đứng bên kia chiến tuyến đều đặt hy vọng cuối cùng vào Xuân Lộc. Bởi, giá trị của Xuân Lộc không chỉ đơn thuần là ở địa thế chiến lược đối với phần đất còn lại của chính quyền Việt Nam cộng hòa, mà quan trọng nữa chính là sư đoàn 18 – một biểu tượng sức mạnh còn lại – con “át chủ bài” canh giữ cửa “cấm thành” Sài Gòn – Gia định của chúng. Và với ta, Xuân Lộc đã thực sự là vấn đề chiến lược liên quan trực tiếp đến thời gian, tốc độ của những chiến dịch kế tiếp trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà trực tiếp nhất là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Nhạy bén nắm bắt diễn biến mau lẹ của tình hình chiến trường, quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: “… Một mặt cần cơ động lực lượng nhanh chóng, thần tốc, mặt khác sử dụng ngay lực lượng hiện có để kịp thời hành động, không chờ đợi lực lượng đông đủ mới làm ăn”, Bộ tư lệnh Miền quyết định sử dụng Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long), mở chiến dịch tiến công Xuân Lộc, nhằm: Tiêu diệt sư đoàn 18, phá thế phòng thủ bảo vệ Sài Gòn từ xa của quân đội Sài Gòn; cắt giao thông, tạo thế và mở đường cho chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Định.

Quân đoàn 4 là đơn vị chủ lực của chính đất miền Đông Nam Bộ, nên sau khi nhận được mệnh lệnh chiến đấu, việc tập kết lực lượng và triển khai thế trận tiến công diễn ra thuận lợi; duy chỉ có kế hoạch cơ động pháo vào gần để bắn thẳng chi viện trực tiếp cho bộ binh xung phong là rất khó khăn, bởi hầu hết các điểm cao khống chế khu vực địa bàn chiến dịch đã hoàn toàn do địch chiếm giữ. Tuy nhiên, sau khi cân nhắc, bàn thảo, Bộ tư lệnh chiến dịch vẫn quyết định chọn phương án tiến công chính diện vào đội hình phòng ngự của địch ở thị xã Long Khánh.

Đúng như kế hoạch hiệp đồng, sáng 9 tháng 4, với đợt hỏa lực chuẩn bị bắn cấp tập vào những mục tiêu trọng yếu trong thị xã, chiến dịch tiến công Xuân Lộc chính thức mở màn. Tuy bị địch dồn sức chống trả quyết liệt các hướng, mũi tiến công và gây cho ta những tổn thất nhất định, nhưng kết thúc ngày đầu chiến dịch, ta đã đánh chiếm được toàn bộ khu hành chính, cơ bản làm chủ được một nửa thị xã, đưa được 3 tiểu đoàn vào ém sát các mục tiêu trong lòng địch.

Chiến sự ở Xuân Lộc – Long Khánh diễn ra ngày càng thêm ác liệt và đã gây tổn thất lớn cho cả ta và địch. Quyết “tử thủ” Xuân Lộc, ngày 12-4, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn quyết định tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh cho Xuân Lộc: Đổ lữ đoàn 1 dù xuống chốt tại ngã ba Tân Phong; đồng thời, nhanh chóng bố trí lại thế trận phòng thủ ở thị xã: Đưa lữ đoàn 3 thủy quân lục chiến, chiến đoàn 318 biệt động quân đến chốt giữ Trảng Bom, chiến đoàn 322 biệt động quân đến chốt ở Bàu Cá và điểm cao 122; đưa trung đoàn 8, sư đoàn 5 từ Lai Khê sang tăng cường cho Bàu Cá; lệnh cho các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất tập trung 80 lần chiếc máy bay chiến đấu mỗi ngày trực tiếp chi viện cho các mũi phản kích. Chỉ sau thời gian ngắn, lực lượng địch ở Xuân Lộc – Long Khánh đã gia tăng đột biến: Chiếm 50% bộ binh, 60% pháo binh, hầu hết số lượng xe tăng thiết giáp của Quân đoàn 3 – Quân khu 3 và lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân đội Sài Gòn.

Vậy là, tương quan lực lượng giữa ta và địch ở Xuân Lộc đã thay đổi lớn, đẩy cuộc chiến vào tình thế hết sức cam go, ác liệt. Tuy đã chiếm được một số mục tiêu quan trọng, tiêu hao được một phần lực lượng và phương tiện chiến tranh của địch, giữ được địa bàn đứng chân trong lòng địch, nhưng ta cũng bị tổn thất rất nghiêm trọng. Phương án tiến công chính diện đã không mang lại kết quả như mong muốn, ngày 13-4, Bộ chỉ huy chiến dịch buộc phải tạm thời ngừng tiến công, lệnh cho mỗi sư đoàn chỉ để một bộ phận lực lượng ở lại kiềm chế, nghi binh địch, còn đại bộ phận nhanh chóng rút về tuyến sau để củng cố lực lượng, chuẩn bị thực hiện phương án tác chiến mới.

Thấy bộ đội ta rút khỏi thị xã, chỉ huy quân địch cho rằng, sức mạnh và ý chí tiến công của “Việt Cộng” đã bị đè bẹp, sức chiến đấu của chúng đã được phục hồi, niềm hy vọng vào khả năng giữ được chế độ lại chợt “lóe” lên trong tâm tưởng của giới cầm quyền chóp bu chính phủ và quân đội Sài Gòn. Nhưng rồi chỉ 2 ngày sau đó – rạng sáng 15-4, khi hỏa lực pháo binh chiến dịch tiến hành tập kích mãnh liệt vào sân bay Biên Hòa, Sư đoàn 6 có sự tăng cường của Trung đoàn 95B đã tiến công diệt chiến đoàn 52, 1 tiểu đoàn pháo, 1 chi đoàn thiết giáp, chiếm giữ chi khu Gia Kiệm, ngã ba Dầu Giây, cắt đứt Quốc lộ 1 (đoạn Xuân Lộc đến Bàu Cá) và đường 20 (đoạn Túc Trưng đến ngã ba Dầu Giây), tạo thế bao vây, cô lập hoàn toàn thị xã Long Khánh – khu vực trọng yếu trên tuyến phòng thủ Xuân Lộc của địch.

Trước hiểm họa tồn vong của chế độ như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, từ ngày 16-4, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn khẩn cấp đưa lữ đoàn 3 thiết giáp, trung đoàn 8, Sư đoàn 5; huy động hơn 100 khẩu pháo cỡ lớn ở các căn cứ Nước Trong, Hốc Bà Thức, Long Bình, Đại An và 125 lần chiếc máy bay chiến đấu chi viện mỗi ngày, mở cuộc phản kích quy mô lớn, quyết chiếm lại Dầu Giây. Và, Dầu Giây bỗng chốc trở thành điểm quyết chiến khốc liệt nhất trong cuộc đọ sức giữa ta và địch tại Xuân Lộc. Tổn thất của cả hai bên tiếp tục tăng lên mỗi ngày, song bộ đội ta vẫn kiên cường chiến đấu giữ vững mục tiêu. Cùng thời gian này, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 tiếp tục tiến công, đánh bại các chiến đoàn 43 và 48, tiêu hao nặng lữ đoàn 1 dù của địch; Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B tiến công Hưng Nghĩa và điểm cao 122, đẩy quân địch xuống Bàu Cá. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của chủ lực, bộ đội địa phương và du kích nhanh chóng tiêu diệt, bức hàng, bức rút hệ thống đồn bốt địch ở dọc các trục giao thông bao quanh thị xã.

Khi chiến sự ở Xuân Lộc còn đang diễn ra trong thế giằng co, thì Cánh quân duyên hải, nòng cốt là Binh đoàn Hương Giang sau khi đập tan “lá chắn Phan Rang”, giải phóng Phan Thiết, Hàm Tân đã tiến vào khu vực Rừng Lá. Sức mạnh của một binh đoàn chiến lược thọc sâu vừa đánh tan những tập đoàn cứ điểm phòng thủ mạnh nhất của quân đội Sài Gòn ở Huế, Đà Nẵng, rồi Phan Rang như được nhân lên gấp bội, không chỉ góp phần cô lập trực tiếp đối với quân địch ở Xuân Lộc, mà còn tạo sức ép mạnh đối với toàn bộ quân địch còn lại ở miền Nam. Nhận thấy không thể đủ sức giành lại Dầu Giây – chiếc “then” của “cánh cửa thép” không còn, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn xuống lệnh rút khỏi Xuân Lộc để bảo toàn lực lượng. Theo đó, vào lúc 22 giờ ngày 20-4, lợi dụng lúc trời mưa lớn, theo tỉnh lộ 2, toàn bộ quân địch ở Xuân Lộc đã tháo chạy về hướng Bà Rịa – Vũng Tàu. Nhưng do chủ quan, mất cảnh giác, chậm phát hiện được hành động của địch, nên ta chỉ kịp chặn đánh được bộ phận rút quân sau cùng của chúng.

Ngày 21-4-1975, Chiến dịch tiến công Xuân Lộc kết thúc thắng lợi, thị xã Long Khánh được hoàn toàn giải phóng. “Cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn – Gia Định đã mở toang. Thừa thắng, quân và dân các địa phương đã tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Long Khánh.

Sự kiện Xuân Lộc diễn ra cách nay đã 37 năm và đã có nhiều cuốn sách và công trình khoa học nghiên cứu, giải trình dưới những góc độ, cách nhìn nhận khác nhau; song điều khẳng định là, việc chọn địa bàn và thời điểm mở chiến dịch tiến công Xuân Lộc – Long Khánh là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và rất kịp thời trong thời điểm lịch sử chuyển biến hết sức mau lẹ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Giá trị của chiến thắng Xuân Lộc không chỉ dừng lại ở chỗ mở thông cửa ngõ phía Đông cho các binh đoàn cơ động chiến lược Quân giải phóng miền Nam tiến vào Sài Gòn, tạo chấn động mạnh đến cả hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp bao quanh cơ quan đầu não của chính quyền và quân đội Sài Gòn cũng như những phần đất còn lại của chúng; mà hơn thế, thắng lợi này đã tạo nên một địa bàn hội quân, tập kết lực lượng – bàn đạp xuất phát tiến công của Cánh quân hướng Đông – một trong 5 mũi chủ lực cơ động của đội hình chiến dịch mang tên Bác Hồ kính yêu tiến vào giải phóng Sài Gòn – Gia Định. Cần phải nói thêm rằng, chiến công cùng những tổn thất xương máu cần thiết, những bài học kinh nghiệm thành công và chưa thành công được rút ra từ Xuân Lộc thực sự cũng là động lực hối thúc toàn thể cán bộ, chiến sĩ Cánh quân hướng Đông có thêm sức mạnh và ý chí quyết chiến quyết thắng khi bước vào cuộc tiến công chiến lược cuối cùng, giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định. Chỉ với những nét khái quát như vậy cũng đủ khẳng định rằng: Chiến dịch tiến công Xuân Lộc (từ 9 đến 21-4-1975) thực sự là bước đà trực tiếp, hữu hiệu cho Cánh quân hướng Đông nói riêng, cho Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 26 đến 30-4-1975), giải phóng Sài Gòn – Gia Định, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam nói chung.

Đại tá Nguyễn Huy Thục
qdnd.vn

Chiến dịch Thượng Lào – Một biểu tượng của liên minh chiến đấu Việt – Lào (Bài 2)

Nhân Năm hữu nghị Việt-Lào

QĐND – Trên hướng đường số 7, ngày 17-4, một bộ phận lực lượng Đoàn 81 quân tình nguyện và Đội vũ trang Pat Chay Lào phối hợp với hai Trung đoàn 66 và 9 (Đại đoàn 304) tiến công tiêu diệt đồn Noọng Hét, tiếp đó đánh địch ở Bản Ban, buộc chúng phải rút chạy về phía Khang Khay. Được tin, một bộ phận lực lượng Đại đoàn 304 đánh chặn địch ở gần Bản Sao, gây cho chúng một số thiệt hại, bọn địch còn lại buộc phải rút về Cánh Đồng Chum. Tỉnh Hủa Phăn và vùng lân cận được hoàn toàn giải phóng.

Nhân dân Lào thăm hỏi và tặng quà bộ đội tình nguyện Việt Nam sau chiến thắng Thượng Lào năm 1953. Ảnh tư liệu

Ở hướng nam đường số 7, hai tiểu đoàn thuộc Đại đoàn 312 phối hợp với một đơn vị Bạn truy kích địch về Sầm Tớ. Hoảng sợ trước sức tiến công của Liên quân Việt-Lào, quân địch đóng giữ ở Mường Sồi, Bản Phiềng và Sầm Tớ lần lượt rút chạy. Ngày 18-4, các đơn vị thuộc Đoàn 81 và bộ đội địa phương Mường Mộc, du kích Xảm Chè phối hợp với Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) vượt qua Then Phun tiến áp sát thị xã Xiêng Khoảng. Trước khí thế tiến công của Liên quân Việt-Lào, lực lượng địch ở đây hoảng sợ rút chạy về co cụm ở Cánh Đồng Chum. Quân địch đóng ở các vị trí Mường Ngạ, Mường Ngạn hoảng sợ cũng lần lượt rút chạy về Tha Thơm, Tha Viêng. Phát huy thắng lợi, một đơn vị Bạn do đồng chí Thao Tu chỉ huy tiến về phía đường số 7, kiểm soát đoạn đường dài từ biên giới Việt-Lào đến Xiêng Khoảng.

Trước nguy cơ Cánh Đồng Chum bị Liên quân Việt-Lào tiến công, Bộ chỉ huy Pháp vội điều động một số tiểu đoàn từ Nà Sản, kể cả lực lượng từ đồng bằng Bắc Bộ (Việt Nam) sang hỗ trợ, xây dựng Cánh Đồng Chum thành tập đoàn cứ điểm mạnh, cố giữ bằng được vị trí chiến lược quan trọng này.

Như vậy, sau hơn một tuần thực hiện cuộc truy kích quân địch rút chạy trên chặng đường 270km, từ Sầm Nưa về Cánh Đồng Chum, Liên quân Việt-Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.500 tên địch, diệt và bức rút hàng loạt cứ điểm dọc đường từ Mường Pơn, Hủa Mường…, chỉ có hàng trăm tên địch chạy thoát về Cánh Đồng Chum.

Phát huy thắng lợi trên hướng Sầm Nưa – đường số 7 – Xiêng Khoảng, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị trên hướng sông Nậm U (hướng phối hợp) tích cực đánh địch. Ngày 21-4, Trung đoàn 148, Đoàn 82 quân tình nguyện phối hợp với đơn vị Quân đội Pa-thét Lào và du kích đẩy mạnh hoạt động, trong đó diệt một đại đội địch ở Mường Ngòi, thu nhiều vũ khí. Quân địch đóng ở Nậm Bạc hoảng sợ bỏ chạy về Pạc U. Ngày 26-4, Trung đoàn 98 và 148 tổ chức lực lượng tiến công cứ điểm Pắc Seng, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên địch, thu một số vũ khí, quân trang, quân dụng. Tiếp đó, một bộ phận chủ lực và quân tình nguyện tiến công diệt địch ở Bản Vẽ.

Cuối tháng 4 năm 1953, các đại đoàn chủ lực cùng quân tình nguyện và lực lượng vũ trang Bạn tiếp tục truy kích đánh địch rút chạy từ khu vực sông Nậm U về Luông Phra-băng, uy hiếp kinh đô nước Lào. Phát hiện Liên quân Việt-Lào tiến xuống Luông Phra-băng, tướng Xa-lăng gấp rút điều động hai tiểu đoàn cơ động thuộc binh đoàn cơ động số 1 (GM1) từ Nà Sản sang, tổ chức thành tập đoàn cứ điểm bảo vệ Luông Phra-băng. Cuộc truy kích quân địch rút chạy và tiến công các vị trí địch của Liên quân Việt-Lào kéo dài đến ngày 18-5-1953 thì kết thúc với trận tiến công cụm cứ điểm Mường Khoa, diệt và bắt gần 300 tên địch. Kết quả toàn chiến dịch, Liên quân Việt-Lào đã diệt và bắt gần 2.800 tên địch, giải phóng tỉnh Hủa Phăn, phần lớn tỉnh Xiêng Khoảng và một số huyện của tỉnh Phông-xa-lỳ với 30 vạn dân, mở rộng căn cứ kháng chiến Lào, nối liền với vùng Tây Bắc Việt Nam.

Đây là chiến dịch Liên quân Việt-Lào thực hành vận động truy kích quân địch rút chạy dài ngày lớn nhất kể từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Thành công của chiến dịch là ta và Bạn chủ động và kịp thời tạo yếu tố thắng lợi từ quá trình chuẩn bị đến khi thực hành chiến dịch. Trên hướng Sầm Nưa (hướng chủ yếu), bộ đội ta và Bạn đã hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch trong điều kiện chưa được chuẩn bị đầy đủ trước, lúc đầu mục tiêu chủ yếu là đánh tập đoàn cứ điểm Sầm Nưa, song khi ta tiếp cận mục tiêu thì địch vội rút quân để tránh đòn tiến công lớn của ta và Bạn. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch đã kịp chuyển từ cách đánh công kiên sang đánh vận động truy kích địch đường dài (270km) trên chiến trường rừng núi hiểm trở, gây cho địch nhiều thiệt hại. Đồng thời, đẩy mạnh tiến công tiêu diệt các đồn, bốt và vị trí địch trên hướng Xiêng Khoảng (hướng thứ yếu) và hướng sông Nậm Hu (hướng phối hợp) giành thắng lợi.

Đánh giá về thắng lợi của sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội hai nước trong chiến dịch Thượng Lào, tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Thượng Lào (2 đến 3-5-1953), Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu rõ: “Thắng lợi này là thắng lợi đầu tiên của quân đội nhân dân ta, của bộ đội chủ lực ta trong quá trình phối hợp chiến đấu với quân đội và nhân dân nước bạn, thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta, của nhân dân ta đối với cách mạng Pa-thét Lào. Đó cũng là thắng lợi lớn nhất của nhân dân và quân đội Pa-thét Lào kể từ ngày bắt đầu kháng chiến đến nay”(1). Trong diễn văn đọc tại lễ mừng chiến thắng Thượng Lào tổ chức tại thị xã Sầm Nưa (19-5-1953), Hoàng thân Xu-pha-nu-vông khen ngợi: “Bộ đội chủ lực và Quân tình nguyện Việt Nam sát cánh với Quân đội Lào Ít-xa-la, đã chiến đấu dũng cảm, có kỷ luật rất nghiêm và tinh thần quốc tế cao… Thay mặt Chính phủ và nhân dân Lào, xin tỏ lòng hoan nghênh và biết ơn sự giúp đỡ to lớn của nhân dân và quân đội Việt Nam đối với công cuộc giải phóng Lào”(2).

Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào đánh dấu bước phát triển mới của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai nước Việt-Lào. Lần đầu tiên sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội hai nước trong một chiến dịch lớn đã giành thắng lợi vẻ vang, tạo tiền đề cho sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước ngày càng chặt chẽ và giành thắng lợi to lớn hơn. Với thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào, quân và dân Lào có điều kiện thuận lợi xây dựng, phát triển Sầm Nưa trở thành trung tâm căn cứ địa Trung ương, hậu phương kháng chiến của cả nước Lào, nối thông với nhiều vùng tự do của Việt Nam. Thế phối hợp tác chiến giữa quân đội hai nước trên chiến trường Thượng Lào và Bắc Đông Dương có điều kiện phát triển thuận lợi, góp phần đưa cuộc kháng chiến của quân và dân hai nước giành thắng lợi to lớn trong Chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, tiến tới kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ba nước Đông Dương.

Đại tá, TS Dương Đình Lập
qdnd.vn


1. Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam (1930-2007), Nxb CTQG, H, 2011, tr.260.

2. Lịch sử quân tình nguyện Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại Lào (1945-1954), Nxb QĐND, H, 2002, tr.283-284.

Chiến dịch Thượng Lào – Một biểu tượng của liên minh chiến đấu Việt – Lào (Bài 1)

Nhân Năm hữu nghị Việt-Lào

QĐND – Trong lúc các Đại đoàn chủ lực 308, 312, 316, 304 và Trung đoàn bộ binh 148 chuẩn bị hành quân sang chiến trường Thượng Lào, ngày 3-4-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch. Bác căn dặn: “Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước Bạn. Mà giúp nhân dân nước Bạn tức là mình tự giúp mình”(1).

Thấm nhuần lời căn dặn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 8-4-1953, các đại đoàn chủ lực Việt Nam nhận lệnh hành quân sang chiến trường Thượng Lào theo ba cánh: Cánh chủ yếu gồm các Đại đoàn bộ binh 308, 312 (2 trung đoàn), 316 (1 trung đoàn), từ Mộc Châu theo đường 6 hành quân lên biên giới Việt-Lào sang Sầm Nưa. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông cùng đi với các đại đoàn ở cánh chủ yếu sang Lào. Cánh thứ hai gồm Đại đoàn Bộ binh 304, từ Nghệ An theo đường số 7 tiến sang Xiêng Khoảng. Cùng đi theo cánh này về phía Lào có đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít. Cánh thứ ba gồm Trung đoàn bộ binh 148, từ Điện Biên tiến vào lưu vực sông Nậm U. Trên cơ sở phương án tác chiến chiến dịch, các đơn vị của Việt Nam và Lào tham gia chiến dịch được giao nhiệm vụ tiến công theo ba hướng:

Lễ kết nghĩa bộ đội Việt Nam và bộ đội Pa-thét Lào trong Chiến dịch Thượng Lào năm 1953. Ảnh tư liệu.

Trên hướng Sầm Nưa (hướng chủ yếu), phía Việt Nam có các Đại đoàn bộ binh 308, 312 (2 trung đoàn), 316 (1 trung đoàn), có nhiệm vụ đánh tập đoàn cứ điểm Sầm Nưa và Đoàn 80 quân tình nguyện Việt Nam (2 đại đội tập trung, 4 đại đội độc lập, 4 trung đội vũ trang tuyên truyền). Phía Lào có khoảng 500 bộ đội địa phương, trong đó có một đại đội tập trung của tỉnh Hủa Phăn và lực lượng dân quân du kích các huyện Xiềng Khọ, Mường Xon.

Trên hướng Xiêng Khoảng (hướng thứ yếu), phía Việt Nam có Đại đoàn bộ binh 304, có nhiệm vụ đánh vào thị xã Xiêng Khoảng và Đoàn 81 quân tình nguyện Việt Nam (gồm 1 đại đội tập trung, 4 đại đội độc lập, 1 trung đội vũ trang tuyên truyền). Phía Lào có khoảng 400 bộ đội địa phương và 1.400 dân quân du kích Mường Mộc và Bản Thín.

Trên hướng khu vực sông Nậm U thuộc tỉnh Luổng Phạ-bang (hướng phối hợp), có Trung đoàn bộ binh 148 (Quân khu Tây Bắc) và Đoàn 82 quân tình nguyện Việt Nam (4 đại đội độc lập). Phía Lào có 1 đại đội tập trung, 5 trung đội bộ đội địa phương và 300 du kích huyện Mường Ngòi.

Trong quá trình các đại đoàn chủ lực Việt Nam chia làm ba cánh hành quân từ Việt Nam sang chiến trường Thượng Lào, địch phát hiện lực lượng ta từ các ngả đang tiến về phía Sầm Nưa. Ngay sau khi nhận được báo cáo của Trung tá Man-phát-tơ, chỉ huy Phân khu Sầm Nưa, trưa 12-4-1953, Tướng Xa-lăng liền ra lệnh rút toàn bộ lực lượng khỏi Sầm Nưa hòng tránh bị tiêu diệt khi ta tiến công. Đêm 12-4, toàn bộ lực lượng địch gồm khoảng 1.900 quân lần lượt rút khỏi thị xã Sầm Nưa và đến trưa 13-4 thì rút hết về phía Mường Hàm.

Như vậy, tình huống chiến dịch đã thay đổi. Ta dự định tổ chức đánh quân địch trong công sự vững chắc ở Sầm Nưa, nhưng địch đã rút chạy trước khi ta đến. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: Tinh thần địch mệt mỏi, sút kém, đường rút lui dài, chúng lại thoát ly khỏi công sự nên ta có điều kiện tiêu diệt. Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm là phải truy kích thật nhanh, tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy.

Không bỏ lỡ thời cơ, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đại đoàn chuyển sang truy kích quân địch rút chạy. Cuộc truy kích địch bắt đầu từ ngày 13-4 và diễn ra trên chặng đường dài, từ Sầm Nưa đến đường số 7, Bản Ban và Lát Bua. Mặc dù vừa trải qua chặng đường hành quân hơn 300km còn mệt, nhưng khi nhận được mệnh lệnh, các Đại đoàn 308, 312, 316 nhanh chóng tổ chức 4 tiểu đoàn (888, 23, 79, 166) và hai đại đội trang bị gọn nhẹ bám đuổi, truy kích địch. Những đơn vị còn lại của các đại đoàn cùng Bạn tiến vào chiếm thị xã Sầm Nưa và các vị trí xung quanh, đồng thời chuẩn bị lực lượng truy kích địch trên các hướng. Do công tác tổ chức chậm, một số đơn vị ta xuất phát truy kích chậm hơn bộ phận rút lui cuối cùng của địch 8 giờ. Đêm 13-4, Tiểu đoàn 888 (Đại đoàn 316) và quân tình nguyện truy kích kịp địch ở Mường Hàm, cách Sầm Nưa 30km. Tiểu đoàn triển khai chiến đấu, bắt toàn bộ ngụy quyền tỉnh Hủa Phăn và 40 lính dõng. Đây là trận đánh giành thắng lợi đầu tiên của bộ đội ta trong chiến dịch này.

Ngày 15-4, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) tổ chức truy kích gặp cơ quan chỉ huy Phân khu Sầm Nưa, một đơn vị lính lê dương và tàn quân của tiểu đoàn biệt kích ngụy Lào thứ 8 ở Nà Noọng. Bằng cách tiến công dồn dập từ ba hướng, bộ đội ta đã diệt và bắt hơn 200 tên địch. Bọn địch còn lại khoảng 200 tên rút chạy về khu vực Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng. Trong khi đó, Đại đội 216 (Đoàn 81) quân tình nguyện hoạt động ở phía bắc thị trấn Bản Ban (thuộc huyện Mường Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng), tuy chưa biết tin địch bỏ chạy khỏi Sầm Nưa, nhưng thấy chúng hoảng hốt chạy qua, đã tập hợp đơn vị nổ súng tiến công địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên; sau đó bao vây một toán địch khác, gọi hàng hơn 100 tên, thu 70 súng các loại.

Cuộc truy kích quân địch rút chạy của Liên quân Việt-Lào tiếp tục diễn ra khẩn trương, quyết liệt. Ngày 17-4, Tiểu đoàn 79 và một bộ phận của Tiểu đoàn 66 thuộc Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) truy đuổi kịp địch khi chúng vừa rời khỏi Húa Mường khoảng 5km về phía Mường Lạp. Lập tức, quân ta tổ chức lực lượng bao vây, chia cắt, nổ súng mãnh liệt vào đội hình chốt chặn của địch, bắt một số sĩ quan Pháp, diệt nhiều địch, trong đó có cả lính Âu-Phi. Bọn địch còn lại khoảng 200 tên rút chạy về Mường Lạp, Tam La (cách Sầm Nưa 135km), sau đó chúng rút về khu vực Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng cố thủ.

Quân địch ở Sầm Nưa rút chạy đến đâu kéo theo binh lính địch trấn giữ ở các đồn, bốt và hệ thống chính quyền do chúng dựng lên ở các địa phương hoang mang, dao động. Tại các khu vực Sầm Tớ, Mường Xôi, Hứa Mường thuộc tỉnh Hủa Phăn, quân địch hoảng sợ rút chạy. Chớp thời cơ, Đoàn 80 quân tình nguyện phối hợp với bộ đội địa phương và du kích Bạn truy kích, gây cho địch thiệt hại nặng. (Còn nữa).

Đại tá, TS Dương Đình Lập
qdnd.vn

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H, 1996, tr.64.

Cửa biển Lộc An- điểm hẹn đường Hồ Chí Minh trên biển

QĐND Online – Cửa biển Lộc An thuộc địa phận hai xã Lộc An, huyện Long Đất và Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Trước 1945, vùng đất này thuộc tổng Phước Hưng Hạ, Phủ Phước Tuy, tỉnh Bà Rịa.

Hoàng hôn trên biển Lộc An. Những giá trị cổ điển thì không bao giờ lỗi thời… Ảnh Internet

Di tích lịch sử cách mạng cửa biển Lộc An trải dài 15km thuộc hạ lưu sông Ray, con sông bắt nguồn từ suối Gia Liên. Dọc hai bên sông Ray là màu xanh bạt ngàn của khu rừng nguyên sinh nhiệt đới ngập mặn. Rừng có khoảng 200 loài thực vật thuộc 60 họ, trong đó có nhiều loại gỗ quí: cẩm lai, căm xe, gõ, bằng lăng,… ngoài ra còn có các loài thú sinh sống, trong đó có cả những loài thú quí hiếm nằm trong sách Đỏ.

Với vị trí chiến lược quan trọng, ngay từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, cửa biển Lộc An đã trở thành tuyến giao thông nối liền giữa miền Bắc và miền Đông Nam Bộ. Vào tháng 9/1946 tại cửa biển Hồ Tràm, xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, cách Lộc An 5km về phía bắc, chuyến hàng của Trung ương chở vũ khí đã cập bến an toàn góp phần quan trọng giúp quân và dân tỉnh Bà Rịa gây dựng, phát triển lực lượng vũ trang đánh thực dân Pháp. Từ 1952 vùng biển này là địa bàn hoạt động của tiểu đoàn 230 – tiểu đoàn vận chuyển hàng chiến lược cho miền Đông Nam Bộ.

Đầu 1961, Trung ương Cục miền Nam, sau khi nghiên cứu địa hình đã quyết định chọn cửa biển Lộc An làm điểm đón tàu vận chuyển vũ khí của “Đường Hồ Chí Minh trên biển” từ miền Bắc vào.

Chuyến tàu đầu tiên do đồng chí Lê Văn Một làm thuyền trưởng được khởi hành đêm23/9/1963 từ đảo Cát Bà (Hải Phòng) chạy ngược về phía đảo Hải Nam (Trung Quốc) rồi quay mũi tàu theo hải phận quốc tế để tới phía Nam. Đêm 3/11/1963 tàu cập bến Lộc An. Con tàu dài 30m, rộng 5,8m, trọng tải 20 tấn. Khi con nước cường đang lên mạnh, thuyền trưởng Lê Văn Một cho nổ máy tăng ga hết tốc lực để chạy đua với con nước vì trời đã sắp sáng. Gần tới bến thì một cồn cát ngầm nhô lên chặn mũi con tàu lại. Trời sáng dần. Ban chỉ huy đoàn vận chuyển đã huy động lực lượng chuyển toàn bộ số vũ khí về địa điểm đã qui định; đến 10 giờ trưa thì số hàng trên tàu đã giải tỏa an toàn. Lúc này, chiếc máy bay trinh sát của địch quần đảo nhiều lần, nhưng chúng chỉ thấy chiếc ghe mắc cạn và mấy ngư dân ở trần đang phơi lưới!

Toàn bộ số vũ khí của chuyến tàu này đã bổ sung kịp thời cho các đơn vị vũ trang của tỉnh Bà Rịa-Long Khánh mở rộng vùng giải phóng và góp phần giành thắng lợi trong chiến dịch Bình Giã 1964-1965, đòn tiến công quan trọng đánh bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ-ngụy trên chiến trường miền Nam.

Kế tiếp thắng lợi của chuyến tàu này, vào hồi 22 giờ đêm 22/12/1964, một chuyến tàu khác dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Lê Quốc Thắng đã cập an toàn vào cửa biển Lộc An chuyển 75 tấn hàng lên Bến Tranh an toàn, kịp thời cung cấp vũ khí cho các đơn vị lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, góp phần lập nên những chiến công vang dội: Dầu Tiếng, Đồng Xoài, Bầu Bàng, Phước long… mùa hè năm 1965.

Trở lại cửa biển Lộc An thăm di tích lịch sử, nơi đã từng ghi dấu những chiến công thầm lặng mà oanh liệt của quân và dân ta trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, lòng mỗi chúng ta không khỏi bồi hồi, xúc động. Mỗi địa danh Cồn Cửa, Bến Tranh, Rạch Ông Sao, Sông Sau… chỉ cần nhắc tên cũng gợi lại biết bao sự tích anh hùng, mãi mãi làm nức lòng các thế hệ mai sau.

Vinh Quang
qdnd.vn

Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) – Nơi vang vọng tiếng gọi lương tâm

QĐND Online – Xã Sơn Mỹ (Tịnh Khê), thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nằm cách thị xã khoảng 12km về phía đông, có 4 thôn: Tư Cung, Mỹ Lai, Trường Định và Cổ Lũy. Thôn Cổ Lũy nằm sát biển, phía trước là bờ biển dài trên 7 km với bãi cát vàng óng ả, một bãi biển đẹp của duyên hải miền Trung Nam Bộ. Phía sau là con sông Kinh- một nhánh của sông Trà Khúc chảy ra biển Đông qua cửa Sa Kỳ. Trước biển, sau sông như một ốc đảo, là một trong 12 cảnh đẹp của tỉnh Quảng Ngãi, có mỹ danh “Cổ Lũy cô thôn”. Xóm Khê Hội (Mỹ Lai 2) là xóm nhỏ đầu thôn Cổ Lũy. Thôn Tư Cung nằm phía tây xã, án ngữ con đường tỉnh lộ 24B từ thị xã Quảng Ngãi xuống. Nơi đây, ruộng nước xen lẫn với xóm làng; các xóm dân cư ngăn cách bởi các cánh đồng. Quanh thôn có lũy tre bao bọc, đầu thôn có cây to bóng mát, đường vào thôn từ xóm này qua xóm khác chỉ có một, lỗ chỗ vết chân trâu … Hai thôn Mỹ Lai và Trường Định nằm giữa xã, đất rừng pha cát, cao ráo và bằng phẳng, thuận tiện cho việc đi lại, kể cả cơ giới. Thời miền Nam còn nằm dưới ách thống trị của Mỹ- ngụy, trên bản đồ tác chiến của quân đội Mỹ, chúng lấy địa danh một vị trí trung tâm (Mỹ Lai), sau đó thêm các con số để chỉ các vùng lân cận. Do đó, hai thôn Mỹ Lai và Trường Định còn có tên Mỹ Lai 2, Mỹ Lai 3, Mỹ Lai 5, Mỹ Lai 6.

Cách đây 41 năm, chỉ trong buổi sáng ngày 16-3-1968, tại hai xóm Khê Hội (Mỹ Lai 2) và Thuận Yến (Mỹ Lai 4) thuộc xã Sơn Mỹ, quân xâm lược Mỹ đã gây ra một tội ác tày trời làm nhức nhối lương tâm nhân loại, thảm sát 504 đồng bào ta, trong đó có 182 phụ nữ (17 người đang mang thai), 173 trẻ em (có 56 em dưới 5 tháng tuổi), 60 cụ già trên 60 tuổi, 89 trung niên, cùng 247 ngôi nhà bị thiêu hủy, hàng ngàn trâu bò, gia súc bị giết.

Sáng ấy, như lệ thường, nhân dân Sơn Mỹ dậy sớm, chuẩn bị cho một ngày lao động mới, bỗng đâu những loạt đạn pháo từ các trận địa ở núi Răm (Bình Liên, Bình Sơn), chi khu Sơn Tịnh, tiểu khu Quảng Ngãi cấp tập bắn vào Sơn Mỹ. Pháo nổ rung chuyển trời đất, khói lửa mù mịt như xé nát không gian, bầu trời, muốn chôn vùi tất cả: nhà cửa, sinh vật, đến từng ngọn cỏ, lá cây… Hơn 30 phút bắn pháo vừa dứt thì đến lượt trực thăng vũ trang oanh kích. Cuộc oanh kích của pháo binh và trực thăng kéo dài hơn một tiếng đồng hồ thì đến lượt từng toán trực thăng chở quân (mỗi toán từ 9 đến 11 chiếc) từ hướng Chu Lai bay vào đổ quân xuống vạt ruộng phía tây thôn Tư Cung và bãi đất trống trên rừng bà Chín Cựu, gần xóm Khê Hội, thôn Cổ Lũy. Lính Mỹ vừa chạm chân xuống đất liền triển khai ngay đội hình chiến đấu, bao vây hai xóm nhỏ (đã chấm dấu đỏ sẵn trên bản đồ) là Mỹ Lai 2 (xóm Khê Hội) và Mỹ Lai 4 (xóm Thuận Yên). Những người ẩn nấp trong các căn hầm tránh pháo ở ngoài đồng tưởng chỉ là một cuộc càn quét bình thường như mọi khi, ai dè… Một cảnh tượng khủng khiếp đã diễn ra ở hai xóm Khê Hội và Thuận Yên: Cây cối đổ nát, nhà cháy, người chết la liệt. Hầm trú ẩn nào cũng bị bọn lính bộ binh Mỹ dùng mìn đánh sập giết những người trong hầm, ai còn sống hay bị thương chạy lên thì bị chúng dùng lê đâm hoặc dùng tiểu liên bắn chết ngay tại chỗ. Nhà nào cũng có người chết, toàn người già, đàn bà, trẻ em. Chết dưới hầm, chết trên miệng hầm, chết trong nhà… Xác chết nằm la liệt.

Tuy nhiên, cuộc “xạ kích’ vào Mỹ Lai 2 cũng chỉ là thứ yếu, mũi chủ yếu vẫn là Mỹ Lai 4. Ở đây, chúng sử dụng lực lượng 2 đại đội, một làm nhiệm vụ bao vây, một dùng để tàn sát. Và cuộc tàn sát theo kiểu phát xít Hít-le của chúng diễn ra ở đây rất bài bản, chính quy: Dùng trực thăng và lính bộ binh bao vây không cho một người dân nào chạy ra khỏi làng. Hễ trông thấy một vật di động nào là ngay lập tức phóng rốc- két, dùng đại liên và tiểu liên của bộ binh đặt trên máy bay tiêu diệt ngay. Khi đã bao vây chặt ngôi làng, lính Mỹ “như một bầy thú hung hăng xông thẳng vào thôn xóm bắn giết. Chúng chia nhau làm ba tốp: một tốp giết người, một tốp giết súc vật, tàn phá hoa màu và tốp còn lại đi đốt nhà. Chúng đi tới đâu là gây cảnh người chết, nhà cháy, cây cối xơ xác, tiêu điều đến đó” (Thông báo ngày 28-3-1968 của Ủy ban Dân tộc giải phóng tỉnh Quảng Ngãi). Thây người chồng chất, máu chảy ngập đồng, chỉ trên một đoạn mương chưa đầy 30m đã có 170 dân thường bị sát hại dưới họng súng của tên trung úy Mỹ Calley và binh lính của hắn. Nhiều người bị thương rên la còn cựa quậy, chúng liền dùng tiểu liên điểm xạ từng người một để kết liễu đời họ.

Chỉ một năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được một năm (năm 1976), Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã cho xây dựng Khu chứng tích Sơn Mỹ để tưởng nhớ đến những người dân thường bị lính Mỹ sát hại dã man trong chiến tranh. Quần thể Khu chứng tích nằm trên phần đất từng xảy ra vụ thảm sát, từ cổng Khu đi vào, ở cuối con đường là tượng đài chính, nghi ngút khói hương. Trên bệ là nhóm tượng các nạn nhân với vẻ mặt đau đớn tột cùng. Hai bên lối vào còn nhiều tượng cỡ nhỏ miêu tả tư thế của các nạn nhân xấu số. Nhà chứng tích nằm bên trái lối vào. Đó đây và phía trước hai bên lối vào là những cây xén tỉa hình các nấm mồ. Các vật trưng bày trong Nhà chứng tích là những tư liệu ảnh, vật dụng minh chứng về vụ thảm sát. Ngoài khuôn viên Nhà chứng tích còn có con mương là nơi 170 người bị thảm sát tập thể; 11 nền nhà với 11 tấm bia trong số 24 gia đình không còn người nào sống sót, trên mỗi tấm bia đều ghi tên tuổi những thành viên trong gia đình; nấm mồ chôn chung 11 người, giếng nước cụ Hương Thơ bị lính Mỹ đẩy xuống… Đi qua nơi đây, không ai cầm được nước mắt. Khu Chứng tích Sơn Mỹ không phải là nơi khơi gợi sự thù hận mà là nơi vang vọng tiếng gọi lương tâm nhân loại đang khao khát cuộc sống hòa bình./.

TRANG THU
qdnd.vn

Tân Kỳ (Nghệ An) – Nơi khởi đầu Đường Hồ Chí Minh huyền thoại

QĐND Online – Mặc dù Tân Kỳ là huyện ra đời muộn nhất trong các huyện của tỉnh Nghệ An (tháng 4-1963), nhưng đất này đã có từ lâu đời, từng là địa bàn chiến lược quan trọng qua các thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đời Trần, đây là đất phên dậu. Vua tôi nhà Trần đã dựa vào đất này để giữ yên bờ cõi phía tây của đất nước. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược (thế kỷ XV), đất này từng là “đất đứng chân” của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng áo vải Lê Lợi. Hào khí “Trúc chẻ, tro bay” của cuộc khởi nghĩa, sau phát triển thành chiến tranh giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ tàn bạo của nhà Minh cũng bắt đầu từ đây. Thế kỷ XVIII, vùng này là nơi dấy binh của nghĩa quân Lê Duy Mật chống lại chúa Trịnh. Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, nơi đây là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Cần Vương và các cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ, Lang Văn Thiết.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tân Kỳ là một bộ phận của miền hậu phương Khu 4, đồng bào các dân tộc trong huyện đã tích cực đóng góp máu xương và của cải vào cuộc kháng chiến, đặc biệt góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy non sông, chấn động địa cầu”. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nơi đây là trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ do địa bàn huyện nằm trên tuyến đường chiến lược 15 và là nơi khởi đầu của đường chiến lược Hồ Chí Minh lịch sử. Dưới mưa bom, bão đạn của kẻ thù, nhân dân các dân tộc trong huyện đã ra sức thi đua chiến đấu và phục vụ chiến đấu, chi viện sức người sức của cho tiền tuyến với khẩu hiệu: “mỗi xóm, mỗi thôn là một trận địa bắn máy bay”, “thóc thừa cân, quân thừa người”. Trên các tuyến đường chiến lược, nhân dân và các lực lượng vũ trang của Tân Kỳ xác định rõ “xe chưa qua, nhà không tiếc”, hăng hái tham gia phá bom nổ chậm, bom từ trường, san lấp, sửa chữa hơn 100 km đường qua địa bàn huyện luôn thông suốt để đêm đêm từng đoàn xe yên tâm lăn bánh chi viện cho tiền tuyến. Những Phà Sen, Khe Thiềm, Trại Lạt trở thành những địa danh nổi tiếng do chiến công bắn máy bay Mỹ và đảm bảo an toàn giao thông; trở thành địa danh thân thuộc, tin cậy của những chiến sĩ lái xe mỗi lần qua đây. Tân Kỳ còn là hậu cứ quan trọng của Quân khu 4, nơi các binh đoàn chủ lực tập kết, huấn luyện để tăng cường cho các chiến trường B, C, K.

Đặc biệt, trong 6 năm (1968-1973), Đảng bộ, nhân dân Tân Kỳ đã đón nhận, đùm bọc hơn 3 vạn đồng bào tuyến lửa thuộc các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam lộ (Quảng Trị) sơ tán chiến tranh. Vừa phải đối phó với chiến tranh phá hoại leo thang của Mỹ, vừa phải đảm bảo đời sống cho nhân dân huyện nhà, đóng góp nuôi quân, Tân Kỳ còn phải lo cho 3 vạn đồng bào sơ tán có cái ăn, chỗ ở, nơi học tập, đất sản xuất… Nhân dân Tân Kỳ đã nêu cao nghĩa đồng bào, tình thân ái chia sẻ ngọt bùi, nóng lạnh cùng Quảng Trị những ngày đồng bào đi sơ tán chiến tranh khiến nhiều người coi đây là quê hương thứ hai của mình.

Trong cuộc chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Tân Kỳ đã hăng hái sản xuất, đóng góp hang vạn tấn lương thực, thực phẩm cung cấp cho các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong đóng quân trên địa bàn. Có tới 17.300 nam nữ thanh niên Tân Kỳ nhập ngũ trực tiếp đánh giặc, đi thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến phục vụ các chiến trường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đánh giá cao công lao đóng góp của nhân dân các dân tộc trong huyện Tân Kỳ vào cuộc kháng chiến Mỹ, cứu nước, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho Lực lượng vũ trang Huyện và các xã: Kỳ Sơn, Nghĩa Hợp, Nghĩa Đồng, Nghĩa Bình, Tiên Kỳ, Giai Xuân.

Ngày nay, cơ hội để huyện Tân Kỳ bứt phá nhanh trên bước đường phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH đã bắt đầu. Con đường Hồ Chí Minh thời bình đi qua 8 xã và thị trấn mở hướng phát triển cho dịch vụ thương mại và du lịch. Các cơ sở công nghiệp của Trung ương, của tỉnh như đường, bột giấy, chế biến sữa, chế biến bột sắn, sản xuất nước dứa cô đặc sẽ đưa Tân Kỳ vào vùng nguyên liệu tạo cho nhân dân khai thác hiệu quả hơn mọi tiềm năng mà thiên nhiên ưu đãi cho miền đất lịch sử này.

TRANG THU
qdnd.vn

Phà Bến Thuỷ trong cuộc chiến chống Mỹ, cứu nước

QĐND Online- Phà Bến Thủy qua dòng sông Lam (còn gọi sông Cả) ở đoạn cuối địa phận phía nam tỉnh Nghệ An. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phà Bến Thủy vượt sông Lam là một trong những điểm trung chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ.

Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ chính thức gây cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Trong ngày này, máy bay Mỹ đã bắn phá phà Bến Thủy, làm 2 công nhân-tự vệ phà hy sinh. Từ tháng 4-1965 trở đi, máy bay Mỹ đánh phá phà Bến Thủy liên tục. Trong trận chiến đấu quyết liệt với máy bay Mỹ ngày 8-4-1965, một phà sắt và một ca nô bị địch đánh chìm. Từ ngày 15 đến ngày 18-4-1965, cứ mỗi ngày địch dùng từ 5 đến 10 lần tốp máy bay đánh phá vào thành phố Vinh và khu vực phà Bến Thủy. Địch kéo dài lối đánh bất ngờ, đánh tập kích nhiều hướng, không ngày nào, tháng nào trong năm 1965, phà Bến Thủy không bị đánh phá. Năm 1966, địch đánh nhiều trận ác liệt hơn, điển hình là ngày 30-6-1966, địch dùng 162 lần máy bay đánh phá suốt ngày đêm, khống chế mọi hoạt động của ta trên bến, trên sông. Ngày 24-7-1967, địch cho 27 lần tốp máy bay đánh liên tục bến phà. Trận này tiếp trận kia, vùng trời phà Bến Thủy nóng bỏng trong đạn bom và nắng gió Lào. Hầu hết trong các trận chiến dấu với không quân và hải quân Mỹ, để bảo vệ bến phà thông xe, thông tuyến, các chiến sĩ tự vệ ta đều phải chịu thương vong, có trận thương vong đến 7-8 người… Cứ thế trong suốt 8 năm (1964-1972) chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Đội công nhân – tự vệ phà Bến Thủy đã lập nên kỳ tích trên mặt trận giao thông vận tải. Họ đã chiến đấu bảo vệ và bảo đảm thông phà, thông tuyến. Trong điều kiện cực kỳ khó khăn, 100 cán bộ, công nhân-tự vệ phà Bến Thủy đã biết phối hợp toàn diện, trong ngoài, trên dưới, đặc biệt phối hợp cùng bộ đội hải quân và các đơn vị pháo cao xạ vừa tổ chức đánh máy bay địch, vừa tổ chức vượt sông nên dù tình huống phức tạp đến đâu họ đều vượt qua.

Trải 8 năm chiến đấu qua hai cuộc chiến tranh phá hoại, mỗi cán bộ, chiến sĩ phà Bến Thủy phải chịu 150 quả bom và đạn các loại. 26 cán bộ, chiến sĩ bến phà hy sinh, 92 người bị thương, đã có lúc số hy sinh và thương vong lên tới 75% quân số, nhưng bến phà vẫn thông suốt. Điều đó khẳng định sức mạnh chân lý thời đại Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân do Đảng lãnh đạo, sức mạnh của một tập thể luôn biết phát huy khả năng của mọi thứ vũ khí, trang bị có trong tay, luôn luôn chủ động, kiên quyết, triệt để, bền bỉ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đoàn kết gắn bó, chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh vô điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ. Tập thể cán bộ, chiến sĩ phà Bến Thủy xứng đáng được Nhà nước hai lần tuyên dương Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các đồng chí Nguyễn Trọng Tường, Nguyễn Hữu Tùng vinh dự được phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Phà Bến Thủy là một hiện tượng lịch sử của mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu 4 thời chống Mỹ, cứu nước.

HÀ THÀNH
qdnd.vn