Archive | 2012

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (phần 2)

Chuyện kể về Người5. “Hôn nó một cái thì có mất gì”

Năm 1946, Bác đi thăm Pháp trở về, đến Vịnh Hạ Long, Người có cuộc đàm phán trên tàu với Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ. Khi gặp, Bác đã chủ động ôm hôn Đô đốc. Những người tháp tùng Bác tỏ ý thắc mắc, Bác nói:

– Đánh nhau thì đánh nhau, mình hôn nó một cái thì có mất gì!

Hôm sau báo chí đăng ảnh và bình luận: “Hồ Chủ tịch ôm hôn Đô đốc chính là ôm chặt để bóp chết…”

6. “Ông cụ thân sinh ra mình là”

Năm 1946, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Bác sang thăm Pháp với tư cách một thượng khách. Người phụ trách làm hộ chiếu xin phép Bác làm thủ tục. Bác nói:

– Chú cứ hỏi, mình sẽ khai đầy đủ.

Đến câu hỏi: “Tên cụ thân sinh ra Bác là gì ?”, Bác trả lời:

– Mình là Hồ Chí Minh thì cụ thân sinh ra mình là Hồ Chí Thông.

Mọi người nhìn nhau cười vui.

7. Bộ khung và bức họa

Sau chuyến thăm chính thức nước Pháp với tư cách là thượng khách của nước này năm 1946, Bác về nước bằng tàu thủy. Về đến vùng biển của Cam Ranh, Bác nhận được bức điện của Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ, xin gặp Bác trong cảng, mục đích của chúng là diễu võ dương oai để uy hiếp tinh thần Bác. Trong bộ quần áo giản dị, Bác ngồi giữa một bên là Đô đốc Hải quân Pháp, bên kia là Thống soái lục quân Pháp ở Viễn Đông với những bộ quân phục sáng loáng các thứ bội tinh, quân hàm, quân hiệu. Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ nói đùa nhưng đầy sự ám thị bóng gió:

– Thưa ông Chủ tịch, ông đã được đóng bộ khung rất đẹp của Hải quân và Lục quân đó.

Bác thản nhiên mỉm cười :

– Đô đốc biết đó, giá trị là ở bức họa chứ không phải ở bộ khung. Chính bức họa đem lại giá trị cho bộ khung.

8. Tài ứng khẩu của Bác

Có rất nhiều mẩu chuyện nói lên tài ứng khẩu của Bác, thể hiện một trí tuệ mẫn tiệp, sự phản xạ tuyệt vời và cũng nhiều khi rất dí dỏm. Có lần, một người nước ngoài hỏi Bác:

– Có phải Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc không ?

Bác trả lời:

– Ông cứ đến Nguyễn Ái Quốc mà hỏi.

Một nhà báo nước ngoài xin phỏng vấn Bác, ông ta đặt câu hỏi :

– Thưa Chủ tịch, trước hoạt động ở nước ngoài vào tù ra khám, nay hoạt động ở trong nước, Chủ tịch có thấy gì thay đổi trong đời mình không?

Bác trả lời hóm hỉnh:

– Không, không có gì thay đổi cả, lúc bị tù ở Quảng Tây luôn luôn có hai lính gác giải đi, lúc trong tù mỗi ngày 5 phút được hai người lính bồng súng giải đi dạo chơi. Nay làm Chủ tịch nước, đi đâu cũng có hai người bảo vệ mang súng lục đi theo, ông thấy có gì thay đổi không nào?

9. Những đêm lửa trại

Một buổi chiều tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ tìm ông Hoàng Đạo Thúy, bảo:

– Tối nay, Cụ tổ chức lửa trại nhé!

– Thưa Cụ, chỉ có mấy ông cụ già với mấy ông Bộ trưởng bận bịu, lửa trại khó vui được lắm!

– Có vui chứ!

Ông Hoàng Đạo Thúy nảy ra một ý tinh nghịch:

– Nếu tôi làm “trùm lửa” thì ai cũng phải nghe tôi đấy!

– Nhất định thế!

Bác Hồ vừa trả lời vừa tủm tỉm cười, chắc Người hiểu ý ông Hoàng Đạo Thúy.

Lửa bùng lên. Ngồi quanh có Bác Hồ, bác Tôn Đức Thắng, cụ Phan Kế Toại, cụ Phạm Bá Trực và mười ông Bộ trưởng. Ông Thúy chắp tay:

– Xin mời Cụ Chủ tịch hát mở lửa trại!

Chẳng ngần ngừ gì cả, Bác Hồ vừa bước quanh lửa trại vừa cất tiếng hát:

“Anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu

Dấy binh, lấy lau làm cờ… ”

Ai cũng thấy lạ, vì sao Người biết bài hát ấy? Bác cười:

– Bọn hướng đạo nó dạy tôi đấy!

Một lần khác bác sĩ Trần Duy Hưng được Bác đề bạt làm “trùm lửa”. Bác sĩ Hưng cũng trêu Bác – trêu một cách kính mến thôi – chứ Bác không bao giờ bị bí cả.

Hai người ngồi bên Bác, giang tay làm tàu bay, mồm kêu “ ù, ù” bác sĩ Hưng gọi loa:

– “A lô, a lô! Đồng bào Thành phố Hồ Chí Minh, Cụ Chủ tịch vào thăm đồng bào! Cụ có huấn thị…”

– Bác đứng nhổm ngay dậy:

– “A lô đồng bào! Tôi vào thăm đồng bào. Đi tàu bay mệt quá, xin để bác sĩ Trần Duy Hưng nói với đồng bào thay tôi!”

Thế là Bác sĩ Trần Duy Hưng đâm ra cuống.

Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (Phần 1)

Với danh dự và ý chí kiên quyết, Cụ Hồ đã bảo vệ quyền thiêng liêng của các dân tộc được sống trong độc lập tự do

Con người sống phải có mục tiêu, có lý tưởng và thời nào cũng vậy, những con người chân chính bao giờ cũng có một lý tưởng sống. Lý tưởng cao đẹp ấy, có lẽ nằm trong 4 chữ: “Vì nước vì dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là con người suốt đời vì nước vì dân.

Ngay từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành đã được nghe những người bạn của bố mình như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý… nói về nỗi nhục mất nước. Tuổi trẻ của Nguyễn Tất Thành đã từng biết đến sự kiện Phan Đình Phùng chống Pháp, rồi mất ở trên núi khi mới 49 tuổi và Vua Thành Thái vì yêu nước đã bị Pháp đưa vào Ô Cấp, Vũng Tàu để mấy năm sau đưa đi đày ở nước ngoài.

Cụ Nguyễn Sinh Sắc người cha rất yêu quý của Nguyễn Tất Thành, khi đỗ Phó bảng, vua cho vinh quy về làng, đã nhất định không chịu nằm lên cái võng mà dân làng nô nức kéo nhau ra đón. Cụ chắp tay nói: Tôi đã làm được việc gì có ích cho dân làng đâu, mà dám nằm lên cái võng này! Rồi sau đó cùng bà con đi bộ về làng. Khi nhân dân làm cho ngôi nhà để ở, cụ Phó bảng đã viết lên xà nhà dòng chữ “Vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng” nghĩa là đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình!

Quê hương, gia đình, đất nước… đã giúp Nguyễn Tất Thành nảy nở tấm lòng yêu nước thương dân và sớm nhận ra con đường cứu nước.

Năm 1923, khi ở Pháp, một hôm được Anbe Xarô, Bộ trưởng Thuộc địa mời đến. Mời đến để doạ nạt, nhưng khi thấy không thể doạ nạt được, hắn đã khéo léo phỉnh phờ: “Tôi rất thích những người như anh. Cần gì anh cứ nói với tôi…”. Và Nguyễn Ái Quốc đã nói: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

tranh son dau
Bác Hồ về nước – Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng.

Có lẽ vì thế, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, sau tên nước Bác Hồ đã ghi hai chữ Dân chủ: Việt Nam Dân chủ cộng hoà, tiếp theo đó là những tiêu chí cao cả: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Suốt cuộc đời của Bác, những chữ nhân dân, tổ quốc, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc luôn luôn xuất hiện trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh. Những ngôn ngữ ấy xuất hiện trong Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa, trong Tuyên ngôn Độc lập… Nhưng cảm động hơn, khiến ta phải suy ngẫm sâu sắc hơn, đó là câu nói này của Bác:

“Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước Độc lập, mà dân không được hưởng hạnh phúc – tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Câu nói ấy Bác viết trong: “Thư gửi Uỷ ban nhân dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng” ngay từ những ngày 17 tháng 10 năm 1945.

Ngày 16 tháng 7 năm 1947, trả lời một nhà báo nước ngoài, Bác nói:

“Cảm ơn ngài. Tôi vẫn mạnh khoẻ, mặc dầu tin Pháp mấy lần đồn rằng tôi đã chết rồi.

Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà. Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ.

Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân, du sơn ngoạn thuỷ, đọc sách làm vườn”.

Nghiên cứu về cuộc đời của Bác, Staley Karnow, giảng viên lịch sử Trường Đại học Harvard Mỹ đã viết: “Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chủ tịch chỉ ám ảnh một mục đích duy nhất, đó là nền độc lập cho đất nước”.

Ông Lê Hữu Lập, một trong những người đã có 12 năm giúp việc Bác Hồ từ 1958 đến 1969. Ông là người được vinh dự đứng tên trong sổ tiết kiệm của Bác gửi ở quầy tiết kiệm phố Hàng Gai, Hà Nội. Tiền tiết kiệm của Bác được dành dụm từ tiền lương hàng tháng còn lại ít ỏi, sau khi đã trừ mọi chi tiêu sinh hoạt, và nhiều hơn là tiền nhuận bút mà các báo trong và ngoài nước gửi cho Bác.

Dịp đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền. Nhưng khi về, Bác không nhập số tiền này vào sổ tiết kiệm của mình, mà nhập vào quỹ Đảng. Bác coi số tiền đó là của chung, nên không dùng riêng cho mình.

ben cang sg
Bến cảng Sài Gòn ngày nay. Ảnh: Internet

Tiến sĩ A.Sacơrabôrôty, người Ấn Độ viết:

“Bác Hồ mặc bộ quần áo giản dị, nói giản dị, cách cư xử và tính nết giản dị, viết bằng thứ ngôn ngữ giản dị, xuất hiện một cách giản dị, với vẻ mặt tươi cười làm toả ra sự trong sáng của một tâm hồn giản dị…”.

Phải dùng đến 6 chữ giản dị để nói về Bác, trong một câu ngắn gọn, mà vẫn thấy như chưa đầy đủ.

Có thể nói, suốt đời Bác là sự nêu gương, nêu gương để xây dựng Đảng, xây dựng nước. Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một người học trò xuất sắc, một người cộng sự gần gũi lâu năm bên cạnh Bác đã viết: “Đời sống của Hồ Chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một đời sống khác…”.

Những ngày sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ làm việc suốt ngày đêm, nhưng vẫn ăn chung với những người giúp việc. Một hôm Bác bận họp, anh em phải để phần cơm cho Bác. Bác về, đang ăn thì lại có người báo Cố vấn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại) muốn được gặp Bác. Bác đã đứng dậy, nhưng sau lại bảo chú cứ mời ông Cố vấn xuống đây cũng được. Ông Vĩnh Thuỵ xuống, thấy Bác đang ngồi trước cặp lồng cơm, một đĩa rau muống luộc, một bát nước mắm và quả trứng luộc… Ông Cố vấn cảm động nói:

– Thưa cụ, từ mai xin cụ cho phép tôi được cho người mang cơm đến hầu cụ.

Bác Hồ cảm ơn, rồi nói: Thôi, cứ để tôi ăn cơm với anh em cũng được. Tôi đã quen rồi.

Nhiều người nước ngoài đến Việt Nam đều nói, Việt Nam và Hồ Chí Minh là hai cái tên không thể tách rời nhau: Tên của một đất nước anh hùng và tên của người con vĩ đại nhất của đất nước đó. Người tượng trưng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và chính tấm gương đó của Việt Nam, của Cách mạng Tháng Tám đã cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng lên giành lại quyền sống, độc lập, tự do.

Khi tuổi đã cao, đã nghỉ những công việc của Đảng và Nhà nước, nhiều người nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng là ông nên viết một cuốn hồi ký về cuộc đời mình. Nhưng ông nói, tôi muốn dành những ngày còn lại, để nếu có thể viết được gì, thì đó là viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm nổi tiếng “Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” những trang về Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết:

“Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945 và cả năm 1946, Cách mạng Việt Nam đã trải qua một thời kỳ đầy sóng gió. Vận mệnh của Tổ quốc mong manh như “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong những năm tháng gian lao chồng chất đó, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng dũng cảm, trí thông minh và tài năng sáng tạo, rất nhạy bén với tình thế, ứng phó rất kịp thời, vận dụng nhiều biện pháp khôn khéo để phân hoá kẻ thù. Lúc thì nhân nhượng với quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa để tập trung sức đối phó với thực dân Pháp. Lúc thì tạm hoà với Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước và quét sạch bọn lâu la tay sai của Tưởng.

Dưới tay lái của Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm thất bại mọi mưu đồ độc ác của giặc ngoài thù trong, giữ vững chính quyền cách mạng, tranh thủ thời gian chuẩn bị cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Mỗi khi nhớ lại những năm tháng đó, một ý nghĩ luôn luôn đến với tôi: Nếu bấy giờ không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xảy ra”.

Được nhân dân yêu kính, được thế giới tôn vinh, nhưng có lần Bác Hồ đã nói: “Nếu không có nhân dân thì cũng không có Hồ Chí Minh”. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và cách mạng gắn liền với quần chúng, được nhân dân ủng hộ, được nhân dân đoàn kết, hy sinh, chiến đấu và đã làm nên thời đại Hồ Chí Minh.

Là người sáng lập và xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Người luôn luôn nhắc nhở Đảng và các cấp chính quyền nhiệm vụ chăm lo đời sống nhân dân. Và Bác thường nhắc đến 4 chữ có: “Làm cho Dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, có học hành”.

Đến dự Hội nghị chỉnh huấn cán bộ trung cao cấp ngày 26 tháng 1 năm 1965, Bác nói:“Có Đảng lãnh đạo, dân tộc ta đã trở thành một dân tộc anh hùng, được bè bạn khắp năm châu yêu mến và kính trọng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, thắng lợi của cách mạng là do sự phấn đấu hy sinh và trí thông minh sáng tạo của hàng triệu nhân dân. Mỗi chúng ta phải biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, phải biết quên mình vì nghĩa lớn”. Bác còn nhấn mạnh muốn đánh thắng kẻ thù bên ngoài thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta, đó là chủ nghĩa cá nhân.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Bác Hồ từ biệt chúng ta! 22.000 bức điện chia buồn trên toàn thế giới đã gửi đến Việt Nam. Báo Tin Tức, Cộng hoà Ả Rập thống nhất viết: “Sau 79 năm đấu tranh lâu dài và liên tục, trái tim vĩ đại, trái tim Cụ Hồ Chí Minh đã ngừng đập. Nếu ta nói rằng lịch sử loài người trước đây chưa từng biết đến một kiểu mẫu chiến sĩ nào như thế, thì chỉ riêng cuộc đời của Cụ cũng đã để xác nhận chân lý đó. Còn khi ta nói Cụ Hồ đã qua đời, thọ 79 tuổi, chính là ta muốn nói rằng suốt cả cuộc đời lâu dài đó, ngay từ khi còn trẻ cho đến những giờ phút cuối cùng, Cụ đã nắm chắc vũ khí trong tay, bảo vệ với danh dự và ý chí kiên quyết, quyền thiêng liêng của dân tộc mình cũng như các dân tộc khác trên thế giới, được sống trong độc lập, tự do”.

Còn ông Xanh-tơ-ni, Trưởng đoàn Phái đoàn nước Cộng hoà Pháp sang Hà Nội dự Lễ tang Bác Hồ đã viết: “Chúng tôi đi ngang qua trước quan tài bằng kính, ở đó thi hài mảnh khảnh của người chiến sĩ già đang yên nghỉ. Chúng tôi đã đưa thêm vào cả một biển hoa tràn ngập phòng lớn của Hội trường Ba Đình một vòng hoa đồ sộ, để chứng tỏ lòng ngưỡng mộ của nước Pháp đối với Người!”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.net
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Tự phê bình và phê bình thật sâu sắc, cụ thể

Vừa qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tiến hành kiểm điểm tự phê bình, phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng. Tinh thần gương mẫu, nghiêm túc, kỹ lưỡng trong quá trình chuẩn bị và tổ chức kiểm điểm tập thể và cá nhân các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, được dư luận hoan nghênh. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xác định rõ những việc cần làm tiếp sau khi kiểm điểm, trong đó đáng chú ý là, tháng 9 năm 2012, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ họp lại để thông qua Báo cáo kiểm điểm tự phê bình và phê bình của tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Bản tiếp thu giải trình, đánh giá chính thức về kết quả kiểm điểm và xem xét kỷ luật (có hay không, đến mức nào đối với tập thể và cá nhân) để báo cáo với Trung ương.

tu phe binhHội nghị cán bộ toàn quốc hướng dẫn việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng.

Trong tháng 9, các Đảng bộ cấp tỉnh và tương đương sẽ tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Quá trình chuẩn bị ở các nơi nổi lên một vấn đề nổi bật là, ý kiến đóng góp của các tổ chức Đảng, của các đồng chí nguyên là cán bộ lãnh đạo đều đề nghị phải hết sức rõ ràng, thẳng thắn, liên hệ một cách cụ thể, sâu sắc vào từng nội dung, từng giải pháp, tránh tình trạng phê bình, góp ý chung chung.

Một điểm chung chung thường thấy là khi phê bình, góp ý, nhiều đồng chí thường nói công tác xây dựng Đảng còn có nhiều mặt hạn chế, thiếu sót; công tác chính trị tư tưởng chưa được quan tâm. Nhưng nội dung của những công tác đó là gì thì hiểu không đầy đủ và không dẫn chứng được những việc cụ thể, nguyên nhân do đâu. Nói xây dựng Đảng là nói tới xây dựng tổ chức và xây dựng con người. Vậy thì khi liên hệ tình hình đảng bộ phải có những ý kiến cụ thể, đối chiếu với Điều lệ Đảng, với Nghị quyết để kiểm điểm. Xây dựng tổ chức chưa được quan tâm đúng mức, cụ thể là gì? Chẳng hạn không chăm lo kiện toàn các chi bộ; năng lực cấp ủy còn hạn chế, còn vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; nhiều năm không phát triển đảng viên, nhiều tháng không sinh hoạt chi bộ… Nguyên nhân khách quan, chủ quan, trách nhiệm thuộc về ai, biện pháp khắc phục như thế nào? Rồi nói về xây dựng con người: đảng viên trong chi bộ có thật sự gương mẫu, tiêu biểu cho phẩm chất, năng lực của tập thể đơn vị không; gia đình vợ con có liên quan đến tham nhũng, tiêu cực hay không. Liên hệ một cách cụ thể như vậy thì sẽ tránh được lối nhận xét chung chung, đúng mà không trúng, phê bình theo kiểu “ném cát bụi tre”, không chỉ ra được căn bệnh để bốc thuốc.

Tương tự như vậy, bây giờ đi đến đâu cũng thấy nhiều người nói về tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống. Nhưng hỏi một số đồng chí thì thấy chưa hiểu đúng về suy thoái tư tưởng chính trị. Có trường hợp nhầm lẫn với suy thoái về chính trị. Có trường hợp nhầm lẫn với suy thoái về tư tưởng văn hóa, tư tưởng pháp luật… Nói một cách nôm na rằng, tư tưởng chính trị thể hiện rõ nhất lợi ích dân tộc được đặt lên trên hết. Yêu nước, thương dân đặt lên trên hết. Vì vậy, trong tự phê bình mình và phê bình đồng chí, khi nói suy thoái tư tưởng chính trị chúng ta có thể nêu những biểu hiện cụ thể, không hề trừu tượng. Ai đó xa rời quyền lợi dân tộc, quyền lợi của cộng đồng, sa vào lợi ích nhóm. Ai đó bàng quan trước những sự kiện chính trị quan trọng trong đời sống xã hội, chỉ cốt lo cho riêng mình, gia đình mình, thờ ơ trước đời sống khó khăn, hoạn nạn của đồng bào, của bà con lối xóm, của những người chung quanh, chính là họ đã suy thoái về tư tưởng chính trị. Và điều này gần với suy thoái về đạo đức, lối sống.

Nói về kiểm điểm, liên hệ cụ thể, sâu sắc cũng cần chỉ rõ trách nhiệm của các đồng chí cấp ủy viên, lãnh đạo chính quyền, nhất là người đứng đầu, mà Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu rõ về mối quan hệ này. Rằng đồng chí Bí thư, đồng chí Chủ tịch đã “vào vai” đúng chưa, hay còn bao biện, lấn sân, hoặc vừa đá bóng vừa thổi còi, ngược lại là khoán trắng cho cấp dưới? Rằng đồng chí Phó Bí thư, lãnh đạo các ban của cấp ủy đã nắm vững chức trách, nhiệm vụ chưa, hay lại sa vào công tác của chính quyền, của chuyên môn.

Trong quá trình kiểm điểm, một vấn đề đang có những ý kiến khác nhau, đó là những thiếu sót, khuyết điểm nào thì công bố trong nội bộ và công khai tới đâu. Có đồng chí cho rằng, phê bình là phải nghiêm túc, thẳng thắn, phân tích, mổ xẻ đến cùng, có cả những bí mật về đời tư của cán bộ, vì vậy cũng nên “đóng cửa bảo nhau”, không phải cái gì cũng “phơi” ra cả. “Phơi” ra thì dễ bị kẻ xấu, kẻ cơ hội chính trị lợi dụng. Chúng ta đều biết, dân chủ, công khai thể hiện trí tuệ và văn minh của Đảng. Nếu ở nơi nào thiếu dân chủ, dân chủ hình thức, sẽ dẫn đến cấp dưới xa cấp trên, quần chúng xa cán bộ, nội bộ Đảng thiếu đoàn kết thống nhất. Đương nhiên, công khai đòi hỏi phải theo đúng các quy định của Đảng, pháp luật hiện hành và phù hợp nhận thức của cán bộ, đảng viên, quần chúng, nhằm phát huy vai trò của tổ chức dân cử, Mặt trận, các đoàn thể và nhân dân tham gia giám sát cán bộ, đảng viên.

Có hai loại ý kiến khác nhau là, việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình lần này rất khó đạt yêu cầu như mong muốn, vì đây là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, liên quan sinh mạng chính trị của mỗi đảng viên và tổ chức Đảng; vì chúng ta đã từng có nhiều lần tiến hành chỉnh đốn Đảng, nhưng kết quả không vững chắc, những thiếu sót chậm được khắc phục, có khi ngày càng nghiêm trọng hơn. Ý kiến thứ hai là, sau khi kiểm điểm, tình hình sẽ chuyển biến mau lẹ và cuộc chỉnh đốn Đảng lần này sẽ kết thúc tốt đẹp vào tháng 12 năm 2012 (!). Tuy nhiên, ý kiến thứ hai này đòi hỏi phải xử lý thật nghiêm túc, phải có hình thức kỷ luật nghiêm khắc, phải kiên quyết đưa những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi bộ máy, bất kể người đó là ai, giữ cương vị gì, không có “vùng cấm”, “vùng tránh” trong Đảng. Cả hai loại ý kiến trên đều thể hiện sự quan tâm, mong muốn, ý thức trách nhiệm cao. Chỉ thị 15-CT/TƯ của Bộ Chính trị về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng đã nêu rõ: “Xây dựng Đảng là công việc hệ trọng, khi thực hiện phải bình tĩnh, tỉnh táo, không nóng vội, cực đoan; giữ đúng nguyên tắc, không để các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội lợi dụng, kích động, xuyên tạc, đả kích gây rối nội bộ; đồng thời không được để rơi vào trì trệ, hình thức, không làm chuyển biến được tình hình”. Phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hạn chế, chuyển biến từng bước, tiến bộ từng bước, nhưng phải bảo đảm vững chắc – đó là hướng đi và cách làm cả trước mắt và lâu dài.

Trong quá trình chuẩn bị kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nhiều cấp ủy đã chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, coi đây là bước đột phá trong công tác chuẩn bị. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm tạo nên sự thống nhất cao về nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong thực hiện Nghị quyết. Trong lúc này càng cần phải đấu tranh mạnh mẽ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, phê phán những biểu hiện sai trái, cực đoan, lợi dụng phê bình để kích động, gây rối, làm mất đoàn kết nội bộ. Việc thực hiện Nghị quyết phải gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của các địa phương, đơn vị; gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Không làm tốt công tác tư tưởng sẽ dẫn đến việc kiểm điểm một cách hình thức, chiếu lệ, không liên hệ sâu sắc tình hình tập thể và đối chiếu với bản thân. Nếu ở đâu đó còn có biểu hiện coi đây là vấn đề đã làm thường xuyên, thậm chí đã “yên tâm” rồi thì dễ chủ quan, dễ người dễ ta, bắt tay thỏa hiệp với nhau, nương nhẹ, bỏ qua cho nhau; ngược lại là phê bình theo kiểu “cháy nhà”, bới lông tìm vết, mạt sát, xúc phạm nhau, không có tình đồng chí thương yêu nhau, như Bác Hồ đã căn dặn./.

Theo nhandan.com.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Đài PTTH Hà Nội, phối hợp với báo Quân đội nhân dân, Sư đoàn 361 tổ chức cầu truyền hình đặc biệt, với tên gọi “Bản hùng ca Hà Nội”. Chương trình diễn ra lúc 20h ngày 16/12/2012.

Đây là cầu truyền hình đặc biệt, mang ý nghĩa gắn kết tình quân – dân. Khán giả sẽ được gặp lại những khách mời là các anh hùng lực lượng vũ trang, những người trực tiếp sống và chiến đấu trong 12 ngày đêm đầy vinh quang của Thủ đô và đất nước như Đại tá, anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Đình Kiên (người bắn rơi 4 chiếc B52), Trung tá Dương Thuận (người ấn nút bắn rơi tại chỗ chiếc B52 đầu tiên trên thế giới), Đại tá Đinh Thế Văn (người đã nghĩ ra cách đánh “đón trước nửa góc”)…

Bên cạnh đó, khán giả còn được trò truyện và nghe tâm sự của những người dân Hà Nội, những người đã chứng kiến thậm chí đã gánh chịu hi sinh, mất mát trong 12 ngày đêm máu lửa ấy, như nhạc sĩ Phú Quang, nhà văn Giang Quân, là những người đã từng sống tại phố Khâm Thiên vào những ngày cuối năm 1972…

BTC cũng cho biết, khác với những chương trình trước đây, “Bản hùng ca Hà Nội” không diễn ra trong những khán phòng, studio được bài trí trang trọng và có phần cứng nhắc mà thay vào đó với 6 điểm cầu, là 6 trận địa, lịch sử khác nhau nhằm tái hiện cho khán giả những hình dung chân thật hơn về những trang sử hào hùng, những ngày tháng chiến đấu oanh liệt của quân và dân ta.

Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội” diễn ra lúc 20h ngày 16/12/2012.

Đó là 6 điểm cầu: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sư đoàn 361, Bảo tàng Chiến thắng B52, Đài tưởng niệm Khâm Thiên, Trận địa tên lửa Chèm, hồ Hữu Tiệp. Trong đó, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là điểm cầu chính.

Đặc biệt, chương trình có sự biểu diễn của nhạc sĩ Phú Quang và con gái, nghệ sĩ piano Trinh Hương và con rể, nghệ sĩ violin Bùi Công Duy. Nghệ sĩ Phú Quang sẽ biểu diễn ca khúc “Em ơi Hà Nội phố” trên chính nền đất mái nhà năm xưa của gia đình ông ở phố Khâm Thiêm bị bom kẻ thù đánh sập. Nghệ sĩ violin Bùi Công Duy và nghệ sĩ piano Trinh Hương sẽ biểu diễn bản nhạc “Chuyện kể tình yêu” và “Khi mùa thu đến”…

Bên cạnh tiết mục biểu diễn của các nghệ sĩ, chương trình cũng chiếu trích đoạn phim “Hà Nội 12 ngày đêm”, “Những ngày đêm không thể nào quên”…

Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội” sẽ có thời lượng 150 phút, trên kênh 1 và 2 Đài PTTH Hà Nội. Đài PTTH Đồng Nai, Quảng Trị, Sơn La, Tuyên Quang, Điện Biên… tiếp sóng.

Thiên Kim
cand.com.vn

Bác học tiếng Thái

Ảnh Tư liệu

“Bác tự học rất đều đặn. Ngày nào bận công tác đoàn thể thì hôm sau Bác kiên quyết học bù cho kì được.”

Khi đất nước ta còn chìm đắm trong vòng nô lệ, Bác phải sang Xiêm (Thái Lan bây giờ) với bí danh là Thầu Chín (Cụ Chín) để hoạt động cách mạng… Cán bộ khác theo Bác sang hoạt động bên đó thường trao đổi với nhau bằng tiếng Việt làm cho dân địa phương không hiểu và tỏ ra khó chịu. Biết vậy, Bác tập hợp cán bộ, bàn nhau cùng học tiếng tiếng Thái dễ hòa mình với dân địa phương. Mọi người nhất trí là sau 3 tháng phải nói thạo tiếng Thái để vừa dễ dân vận vừa dễ tuyên truyền cách mạng.

Người thì đề ra kế hoạch mỗi ngày phải thuộc 50 từ, người thì 40 từ… riêng Bác chỉ nhận mỗi ngày 20 từ. Mọi người nhất trí là sau 3 tháng đạt yêu cầu Bác thưởng, ai không đạt, chịu phạt. Mấy ngày đầu anh em hăm hở học, sau đó số lượng tụt dần dần, từ 50 xuống 40 từ, rồi 30, 20 thậm chí 10 hoặc 5… Có lúc lại học cách buổi, rồi cách tuần. Hôm nào hứng lên lại học ào ào, sôi nổi được vài ba ngày rồi tịt hẳn. Trong khi đó, Bác tự học rất đều đặn. Ngày nào bận công tác đoàn thể thì hôm sau Bác kiên quyết học bù cho kì được.

Sau 3 tháng, Bác đã thuộc gần 2000 từ. Đúng hạn 3 tháng, Bác đã tập hợp anh em lại để xem kết quả. Người thì ấp úng người thì đỏ tai và tất cả đều xin chịu bị phê bình vì chẳng ai học đến đầu đến đũa cả. Bác không phạt mà ôn tồn chỉ ra rằng học tiếng nước ngoài còn dễ hơn làm cách mạng rất nhiều. Học chữ mà còn không xong, thì liệu có kiên trì đeo đuổi nổi sự nghiệp cách mạng hay không?

Theo 120 chuyện kể về Bác
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X báo công dâng Bác

Sáng ngày 11/12/2012, Đoàn đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X (nhiệm kỳ 2012-2017) đã tổ chức Lễ báo công và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. 999 đại biểu, đại diện cho hơn 7 triệu Đoàn viên thanh niên trong cả nước đã thành kính, trang nghiêm báo công với Bác Hồ tại Quảng trường Ba Đình.

bao cong
Đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X báo công dâng Bác

Thay mặt cho tuổi trẻ cả nước, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn Nguyễn Đắc Vinh đã báo cáo với Bác những kết quả của công tác Đoàn và phong trào thanh niên nhiệm kỳ 2007-2012: Là tổ chức của thanh niên Việt Nam vinh dự được mang tên Bác kính yêu, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong suốt chiều dài lịch sử đã luôn khẳng định được ý chí quật cường, bản lĩnh, trí tuệ, tính xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ. Trên khắp mọi miền của Tổ quốc hôm nay, mỗi đoàn viên thanh niên luôn mang trong mình niềm tự hào về truyền thống anh hùng cách mạng của các thế hệ cha anh, ra sức học tập, tu dưỡng đạo đức trong sáng, rèn luyện phong cách giản dị, mẫu mực, ý chí vượt khó như lời dạy của Người. Trong nhiệm kỳ qua, với quyết tâm đổi mới về phương thức và nội dung, kiên trì phương châm giáo dục qua thực tiễn hành động cách mạng, nêu gương và nhân rộng điển hình tiên tiến, phát huy vai trò tự giáo dục, rèn luyện của thanh niên, công tác giáo dục của Đoàn đã góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống, ý thức pháp luật cho đoàn viên thanh niên. Với những cố gắng nỗ lực của các thế hệ đoàn viên, thanh niên, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã vinh dự được đón nhận Huân chương Sao Vàng lần thứ hai nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Trong nhiệm kỳ qua, nhiều tập thể, cá nhân cũng đã được trao tặng các huân, huy chương cao quý của Đảng và Nhà nước.

hoa vao lang
Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau Lễ báo công, Đoàn đại biểu dự Đại hội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ. Đại hội được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình trong 4 ngày, từ ngày 11/12/2012 đến ngày 14/12/2012.

tương đài
Đoàn đại biểu dự Đại hội dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ

Duy Hưng
bqllang.gov.vn

Cụ Hồ thách đố

Cuộc sống của Bác Hồ bao giờ cũng giản dị vui tươi. Bác làm từ việc lớn, như lãnh đạo cách mạng, đến việc bình thường nhất như xay bột, giã gạo,vác gỗ…

Có lần Bác đang cặm cụi trồng cây khoai môn trước cửa nhà, thấy chúng tôi vào, Bác liền cười nói:

– “Trồng môn trước cửa nhà”, thử đối lại xem sao.

Câu đối cũng khá hóc búa vì “môn” tức là cửa, làm thế nào chọn được vế kia cho chọi.

– “Bắt ốc sau nhà”! – Chúng tôi cùng nhau cười thưa lại sau một lúc lâu suy nghĩ.

Bác cười một cách vui vẻ.

– Tạm cho được!

… … …

Một đêm trăng sáng. Đồng chí ông Ké cùng các đồng chí và tôi đi tắm đêm. Trông thấy bóng trăng sáng vằng vặc trong lòng suối, đồng chí ông Ké nói:

Tôi có một câu đối. Ai đối được tôi gả con gái cho.

Đồng chí ông Ké liền thong thả đọc vế đối:

– “Nguyệt chiếu khê tâm, tâm chiếu nguyệt”

(Mặt trăng soi xuống lòng khe, lòng khe soi lên trăng)

Ai cũng cố nghĩ để đối lại. Riêng đồng chí Hường đối:

– “Hoa sinh thạch diện, diện sinh hoa”

(Hoa nở trên mặt đá, mặt nở hoa)

Ông Ké thốt lên vui vẻ:

– Ô, thế hóa ra mặt rỗ rồi.

– Mọi người cùng phá lên cười vui vẻ. Nghĩ đến vế đối của ông Ké ra, lời lẽ thanh tao, ý tứ sâu sắc, đối được cũng khó. Nhân nhìn trước mắt có cái động núi đẹp đẽ, lúc trẻ tôi vẫn thường cùng bạn bè vào chơi, hét lên một tiếng có ngàn tiếng vọng lại. Tôi nói:

– “Lôi mình không cốc, cốc mình lôi”

(Sấm gọi hang không, hang gọi sấm)

Ông Ké khen:

– Được. Nhưng đồng chí không làm rể được mình vì đồng chí gần bằng tuổi mình rồi, lại đã có gia đình.

Mọi người cười ồ vui vẻ…

Theo 108 Chuyện vui đời thường của Bác Hồ
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (Phần 1)

421. Bác Hồ trong cuộc liên hoan bế mạc Đại hội Quốc dân Tân Trào

Tối hôm bế mạc Đại hội Quốc dân Tân Trào (họp vào năm 1945) có một cuộc liên hoan. Mọi người được dự bữa “tiệc” có cả rượu “con mèo” và đồ hộp do bộ đội ta đánh Pháp ở Tam Đảo lấy được. Cuộc liên hoan thật vui. Bác Hồ cũng rất vui. Người bảo Đoàn đại biểu Hà Nội hát một bài. Anh Vũ Quang, người phụ trách sinh hoạt của Đoàn, bắt nhịp hát bài “Quảng Châu công xã” của Đỗ Nhuận. Nhạc sĩ trẻ Nguyễn Đình Thi hát bài “Thanh niên cứu quốc”. Bài hát có câu: “Gươm đâu, gươm đâu, thời cơ đang đến – tiến lên, tiến lên theo cờ Việt Minh!”. Bác Hồ ngồi giữa các đại biểu bỗng nói:

– Bây giờ mà các chú còn hát gươm đâu, gươm đâu, thì không hợp nữa. Chú lên hát là gươm đây, gươm đây!

Các đại biểu reo lên vui cười.

2. Những kỷ niệm vui của bà Thanh Thủy

Ở Đại hội Quốc dân Tân Trào, công việc nhiều, thời gian ít, nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian tiếp xúc với những đại biểu và dường như ai cũng có kỷ niệm riêng với Người. Với bà Thanh Thủy (vợ ông Dương Đức Hiền), Người hỏi:

– Cô công tác ở đâu?

– Da thưa cháu công tác ở Hải Phòng, Kiến An và Quảng Yên ạ!

– Ba tỉnh kia à? Thế thì bằng Tổng đốc rồi còn gì!

– Hôm chia tay, một số người còn ở lại quây quần bên Bác Hồ trên nhà sàn. Người lần lượt chia quà. Đến lượt bà Thủy, Người hỏi:

– Cô chú đã có cháu chưa?

– Dạ, chưa ạ!

– Thế tôi tặng bánh xà phòng thơm này, mau có cháu, tắm cho bé nhé!

Mọi người cười ồ. Bà Thủy nắm chặt món quà quý vô cùng xúc động.

3. Thế có “Tính nhà quan” không?

Hồi đầu Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bác hỏi một Bộ trưởng đang mặc quần đùi âu phục:

– Chú mặc “soọc” cơ à?

– Dạ thưa cụ, mặc như thế này cho có vẻ con nhà lính ạ!

– Thế có “tính nhà quan” không? – Bác tiếp luôn rất nhanh.

Mọi người xung quanh cười ồ rất thoải mái.

4. Tôi sẽ vẽ râu cho chú

            Sau ngày 2/9/1945, nhà thơ Cù Huy Cận được giao chức trách Bộ trưởng Bộ Canh nông. Năm đó ông vừa tròn 26 tuổi, Bác Hồ gọi cho ông lên và nói:

– Tôi muốn giao cho chú thêm 1 việc nữa. Đó là làm trong Ban Thanh tra đặc biệt, gồm có 2 người: Chú và cụ Bùi Bằng Đoàn.

Huy Cận thưa với Bác :

– Cụ Bùi Bằng Đoàn là một vị quan có tiếng thanh liêm trong triều đình cũ, còn cháu trẻ quá, nên cháu xin được từ chối.

Bác ôn tồn giải thích :

– Chú sợ trẻ quá không đủ sức để làm thanh tra chứ gì? Vậy thì chiều nay chú mang bút lông và mực Tầu đến đây. Chú mài mực và tôi sẽ vẽ râu cho chú. Thế là chú sẽ thành thanh tra thôi.

Trước những lời chân tình và vui đùa thân mật của Bác như vây, Cù Huy Cận đã nhận lời Người.

Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn

Như giữ đồng bạc trắng

Chuyện kể về NgườiÔng Nguyễn Tiến Sự là người đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang đón Bác Hồ về nhà mình ở.

Trở về thăm mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào, tuổi trẻ Tuyên Quang đã được nghe ông kể chuyện về Bác Hồ muôn vàn kính yêu của thế hệ trẻ Việt Nam

Một bữa chị em phụ nữ bản Tân Lập (Tân Trào, Tuyên Quang) tập trung xay thóc giã gạo chuẩn bị lương thực cho cán bộ, bộ đội thì Bác đi công tác qua, dừng lại hỏi chuyện:

– Chị em có biết mình xay thóc, giã gạo thế này là để làm gì không?

Mọi người chưa hiểu, nên đưa mắt nhìn nhau, Bác nói tiếp:

– Xay thóc, giã gạo để cán bộ và bộ đội có cơm ăn đánh Tây, đuổi Nhật. Như vậy là chị em ta cũng góp phần đánh Tây, đuổi Nhật đó.

Bác lại hỏi:

– Nếu chị em ta có đồng bạc trắng thì cất giấu ở đâu cho khỏi mất?

Chị em vui vẻ trả lời Bác. Người thì nói là cho vào hòm chắc khoá lại. Người thì cho là bỏ vào túi vải luôn luôn mang ở bên mình…

Đợi mọi người nói hết, Bác kết luận:

– Ai nói cũng đúng. Cất như vậy là kín. Bây giờ ở bản ta có cán bộ, bộ đội chúng ta cũng phải bí mật bảo vệ họ cẩn thận như giữ đồng bạc trắng. Vì nếu để lộ ra thì dễ hỏng mất việc nước.

Theo dulichtantrao.com.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Đây là cánh cửa hòa bình

Chuyện kể về NgườiNăm 1958, Bác đi thăm Ấn Độ, Người rời Thủ đô Niu Đêli bằng xe lửa đặc biệt để thăm thành phố Bombay. Đông đảo đại diện ngoại giao các nước và quần chúng Thủ đô Niu Đêli ra tiễn Bác. Các thành viên của Đoàn ta lên các toa tr­ước để khi Bác đến là tàu có thể chuyển bánh được ngay.

Bác đến, rồi đi chào các đại diện ngoại giao đang xếp hàng ngang trong phòng khách của nhà ga. Khi ra sân ga chỉ có Bác, Thủ t­ướng Ấn Độ Nêru và ông Vụ tr­ưởng Vụ Lễ tân của Ấn Độ. B­ước đến toa dành riêng cho Bác, Bác không vào ghế ngồi ngay mà đứng lại ở cửa, nói một vài câu chuyện với Thủ t­ướng Nêru. Khi còi tàu nổi lên báo hiệu tàu sắp chuyển bánh, Thủ tướng Nêru thân mật và ân cần nói với Bác:

– Chủ tịch hãy cẩn thận, tàu sắp chuyển bánh đó.

Tư­ơi cười và rất hiền hoà, Bác Hồ nói với Thủ t­ướng Nêru:

– Ông bạn thân mến cứ yên tâm, đây là cửa của hoà bình.

Nghe Bác nói, Thủ t­ướng Nêru cười vui vẻ, cảm kích và trả lời Bác:

– Thư­a Chủ tịch, cửa hoà bình luôn luôn rộng mở.

Câu chuyện rất thân mật này diễn ra giữa hai người đứng đầu hai quốc gia, đồng thời cũng là hai người bạn yêu chuộng hoà bình, luôn luôn đấu tranh cho hoà bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc đã làm cho các nhà báo Ấn Độ và nước ngoài có mặt hôm ấy rất chú ý.

Sáng hôm sau các báo lớn của Ấn Độ đăng lại cuộc đối thoại lý thú này và đã tạo dư­ luận rất tốt trong quần chúng. Nhiều báo nhắc lại câu nói của Bác: Đây là cánh cửa hoà bình.

Trích những câu chuyện kể về Bác Hồ
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Giao thừa lửa trại

Chuyện kể về NgườiĐó là cái Tết Kỷ Sửu (1949) ở Sơn Dương, Tuyên Quang. Ngày 10-1-1949, theo lệnh của Bác, cơ quan Phủ Chủ tịch di chuyển từ xã Trung Trực, huyện Yên Sơn đến Lũng Tẩu, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Khi cơ quan đã ổn định xong nơi ăn chỗ ở, thì Tết đã đến gần. Năm ấy, đồng chí Hồ Tùng Mậu, Tổng Thanh tra Ban Thanh tra Chính phủ được cơ quan bầu làm Trưởng ban Ban Tổ chức Tết Kỷ Sửu. Đồng chí Hồ Tùng Mậu tổ chức một buổi họp chuyên bàn về việc đón Tết cho cơ quan. Khi cuộc họp đang diễn ra sôi nổi với những quyết định về tramg trí, hái hoa, văn nghệ, thể thao… thì Bác Hồ đến. Không đợi để ai báo cáo, Bác hỏi:

– Tết năm nay, ta tổ chức vui như thế nào?

– Thưa Bác, chúng cháu đang bàn đấy ạ! Đồng chí Hồ Tùng Mậu trả lời.

Bác hỏi tiếp:

– Thế đã bàn mục pháo chưa?

– Dạ chưa ạ!

Một số anh em bàn tán xôn xao về chuyện lấy pháo ở đâu. Thấy vậy, đồng chí Hồ Tùng Mậu liền hỏi ý kiến của Bác:

– Thưa Bác, rừng núi như thế này thì kiếm đâu ra pháo…?

Bác cười, chỉ tay ra rừng nứa:

– Pháo ở rừng đấy, tha hồ!

Anh em có mặt trong buổi họp cùng à lên và hiểu rằng, đốt lửa thì nứa nổ, đấy là pháo, thứ pháo thực vật rất thiên nhiên, gần gũi với con người.
Sau đó, Bác còn “đạo diễn” nhiều hình thức vui Tết nữa rồi mới về.
Đồng chí Hồ Tùng Mậu đề nghị anh em đi chặt nứa, bó lại thành những bó ngắn, vừa dễ vác, dễ xếp đống, khi đốt vừa gọn. Đống nứa ở sân cứ cao dần, khô dần và ngày của cuối năm Tý cũng hết. Anh em trong cơ quan tuy rất mong Bác đến sớm nhưng lại đoán phải mồng hai, mồng ba gì đó Bác mới có thời gian “sang” thăm cơ quan được. Nhưng, đúng đêm 30, giao thừa thì Bác tới. Mọi người chạy ùa ra đón Bác, tranh nhau nói một câu chúc Tết Bác. Bác vui vẻ chúc lại mọi người rồi chỉ một chỗ thuận tiện bảo anh em xếp nứa đốt.

Bác nói:

– Tết này, Bác ăn Tết lửa trại với các chú.

Lửa bốc lên, nứa nổ lép bép như tràng pháo tiếp nhau, nghe rất vui tai. Việc đầu tiên là Bác mở chiếc túi vải đeo bên mình ra rồi nói:

– Đây là quà Tết đồng bào tặng Bác. Bác biếu các chú…

Bác đưa tận tay từng cán bộ, chiến sỹ mỗi người một quả cam. Sau đó, mọi người trong cơ quan ca hát, cầm tay nhau nhảy quanh ngọn lửa trại ấm cúng đầy tình cảm gia đình cách mạng.

Đêm ấy, Bác nghỉ lại cơ quan. Sáng mồng một Tết, Văn phòng tổ chức chúc Tết năm mới Bác. Bác cảm ơn rồi bảo mọi người ngồi lại nghe Bác kể chuyện về tình hình thế giới, tình hình trong nước. Bác cho biết, quân ta vừa thắng địch ở Ba Thá, Tế Tiêu, Ý Yên và đặc biệt ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng ta đánh đoàn tàu gần 20 toa xe, phục kích ở đèo Hải Vân phá hủy mấy chục xe, diệt hàng trăm tên địch. Bác khuyên mọi người thi đua làm tròn nhiệm vụ ở hậu phương để xứng đáng với tiền tuyến.

Khi mọi người trong cơ quan chuẩn bị thi đấu bóng chuyền, Bác nói:

– Để Bác làm trọng tài cho. Các chú chia thành đội ra chơi đi.

Trước khi hai đội chào nhau vào trận đấu, Bác giơ tay thổi một tiếng còi tuyên bố:

– Đội nào thắng, sẽ được trọng tài chính thưởng mỗi người một điếu thuốc lá thơm.

Cuộc đấu bóng chuyền diễn ra thật sôi nổi, hấp dẫn và quyết liệt, vì đội nào cũng muốn giành phần thắng. Nhưng cuối cùng cũng có bên được, bên thua. Bên thắng xếp hàng ngay ngắn, chỉnh tề, hân hoan. Đội trưởng hô nghiêm rồi báo cáo:

– Thưa Bác, chúng cháu thắng ạ!

Bên thua, thấy vậy cũng làm liều nhảy ra xếp vội hàng báo cáo:

– Thưa Bác, chúng cháu cũng thắng đấy ạ. Thắng một séc ạ.

Các cổ động viên thấy thế cũng chạy tới xếp hàng:

– Thưa Bác, thưa Bác, chúng cháu cũng thắng đấy ạ. Cổ vũ phe thắng. Bác cười rất vui rồi nói:

– Đúng, năm nay sẽ là năm đại thắng lợi, không ai được phép thua cả…

Trên đường về, Bác cứ khen mãi là anh em mình “thông minh”.

Theo dulichtantrao.com.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

5 Di thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận là Bảo vật Quốc gia

di thu 1
Tác phẩm Đường Kách mệnh

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/1982 – 20/11/2012, tại khuôn viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội hiện đang trưng bày 5 Di thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng 25 Bảo vật Quốc gia Việt Nam từ ngày 15/11/2012 đến ngày 25/11/2012.

5 Di thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận Bảo vật Quốc gia đó là: Đường Kách mệnh; Nhật ký trong tù; bản thảo “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia); bản thảo “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (văn bản này Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam sáng ngày 17/7/1966, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh); Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (văn bản gốc viết từ ngày 10/5/1965 đến ngày 19/5/1969, lưu trữ tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).

di thu 2

Đầu năm 1927, những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc cho các lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản thành sách với tên gọi là Đường Kách mệnhVì vậy có thể nói  “Đường Kách mệnh” tập hợp những bài giảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Quảng Châu, Trung Quốc những năm 1925 – 1927. Nội dung tư tưởng của cuốn sách là sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về việc đấu tranh giải phóng dân tộc gắn với cách mạng vô sản, là nền tảng cho việc tìm hướng đi mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam và được coi là văn kiện lý luận chính trị đầu tiên của Đảng, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.

di thu 3

di thu 4
Tác phẩm Nhật Ký trong tù

Tác phẩm Nhật ký trong tù (nguyên văn chữ Hán: 獄中日記 – Hán Việt: Ngục trung nhật ký) là một tập thơ của Hồ Chí Minh, viết từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943, trong thời gian Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp 18 nhà giam ở 13 huyện tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Nguyên gốc tập thơ chỉ là một quyển sổ tay nhỏ, bìa xanh đã bạc màu, có ghi bốn chữ “Ngục trung nhật ký” (tức Nhật ký trong tù) kèm theo bốn câu thơ và một hình vẽ hai nắm tay bị xích; bên trong gồm 133 bài thơ chữ Hán và một số ghi chép. Tập thơ được nhiều người đánh giá là một thể hiện khác của con người Hồ Chí Minh qua cách nhìn là một nhà thơ.

Tác phẩm Nhật ký trong tù đã được xuất bản nhiều lần, được dịch và giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới, nhiều lần được thể hiện bằng thư pháp tiếng Việt, Hán, Triều Tiên, Nhật bản…

di thu 5
Bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”

Bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ­- Bản viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lịch sử như một Cương lĩnh kháng chiến, chứa đựng những quan điểm cơ bản về tư tưởng, đường lối chiến tranh nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, truyền thống anh hùng, bất khuất, quyết hi sinh để giành lại độc lập cho dân tộc; là mệnh lệnh tiến công cách mạng, tạo khí thế để nhân dân cả nước đứng lên chiến đấu với mọi vũ khí sẵn có với một ý chí quyết đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi Việt Nam. Bản viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

di thu 6
Văn bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam sáng ngày 17/7/1966, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

di thu 7
Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh( Văn bản gốc Bác Hồ viết từ ngày 10/5/1965 – 19/5/1969, hiện lưu giữ tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).

Bản Di chúc là sự kết tinh tinh thần tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp suốt đời phấn đấu hi sinh vì nước vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước sau khi kháng chiến thắng lợi; là những lời căn dặn thiết tha; là sức mạnh thôi thúc toàn dân tộc hành động trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kim Yến
bqllang.gov.vn