Archive | Tháng Mười Hai 2012

Khoét sâu điểm yếu của B52

QĐND – Trong chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, bộ đội ta đã chủ động, sáng tạo nghiên cứu, nắm vững quy luật, thủ đoạn chiến thuật của máy bay B52 để bắn hạ.

Theo lý thuyết máy bay B52 được bảo vệ kỹ lưỡng bằng hệ thống nhiễu rất mạnh và hàng rào máy bay bảo vệ nhiều tầng, nhiều lớp. Tuy nhiên, qua trực tiếp chiến đấu, bộ đội ta đã khẳng định: Máy bay B52 có nhiều điểm yếu, ta hoàn toàn có thể tiêu diệt bằng vũ khí trang bị hiện có. Nghiên cứu tính năng kỹ thuật, chiến thuật của máy bay B52, bộ đội ta nhận thấy, loại máy bay này, bên cạnh những điểm mạnh, còn có những điểm yếu có thể khoét sâu như trọng lượng nặng, khả năng cơ động kém, đường bay, tốc độ và tọa độ theo quy luật ổn định và luôn có “dải nhiễu đặc biệt” đi cùng; luôn bật đèn tín hiệu khi bay đêm. Để tập kích Hà Nội, máy bay B52 bắt buộc phải bay ổn định qua vùng hỏa lực của ta, độ cao ném bom nằm trong tầm bắn hiệu quả của tên lửa phòng không SAM-2 (SA-75) và tầm hoạt động của máy bay Mig 21.

Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn tên lửa 257) cơ động chiếm lĩnh trận địa. Ảnh tư liệu.

Đối với nhiễu điện tử của không quân Mỹ, mặc dù có cường độ rất mạnh, hỗn tạp, nhưng cũng có quy luật về thông số kỹ thuật, hoạt động trên các dải tần nhất định. Mặt khác, địch chỉ chú trọng phát nhiễu che chắn phía trước đội hình tiến công, rất sơ hở bên sườn, phía sau và phía dưới bụng máy bay khi ở trạng thái bay chếch, bay ngang, bay ra, hoặc lúc vào gần…

Trên cơ sở đó, các đơn vị phòng không-không quân từng bước điều chỉnh cách đánh và đội hình chiến dịch, chú trọng bố trí ở hướng địch có sơ hở, tận dụng khả năng mọi loại khí tài, tạo thế trận liên hoàn đánh cả phía trước, bên sườn, phía sau, đánh trúng các điểm yếu của địch. Nhờ nắm chắc quy luật của “dải nhiễu đặc biệt” và đặc điểm đường bay tiến công của máy bay B52 kết hợp với các hình thức chiến thuật “kiểm tra” độc đáo, các trắc thủ ra-đa nhiều lần phân biệt các tốp nghi binh giả B52 của địch. Trận đánh ngày 20-12, ta cơ động Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257) chốt tại trận địa Chèm (Từ Liêm, Hà Nội), phục kích bên sườn đường bay tiến công trên hướng chủ yếu của B52 từ phía tây bắc vào Hà Nội. Lúc 4 giờ 39 phút, ra-đa phát sóng và bắt tín hiệu B52 gọn và rõ, chớp thời cơ, đơn vị tổ chức đánh ở cự ly 36km, bắn rơi tại chỗ một chiếc máy bay B-52D. Đối với không quân, khi ra-đa chỉ thị mục tiêu trên máy bay Mig-21 bị nhiễu nặng, lợi dụng việc B52 bật đèn, đêm 26 và 27-12-1972, các phi công Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều nhanh chóng xác định và tiếp cận mục tiêu, phóng tên lửa, bắn rơi 2 máy bay B52.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Gửi…xác B-52 cho bố ở chiến trường

QĐND Online – Ngày 19-12-1972, ngày thứ hai của Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, đúng 4 giờ 32 phút, Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không-Không quân) đã phóng 2 quả đạn tên lửa, biến một chiếc B-52 thành bó đuốc rừng rực cháy giữa trời rồi rơi xuống cánh đồng xã Tân Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội.

Hoàng Hà, một cậu bé khi đó 13 tuổi, sơ tán về xã Tân Hưng, đã chạy ra cánh đồng để tận mắt chứng kiến “con ngáo ộp” B-52 bị đền tội.

Mảnh xác chiếc B-52 được anh Hà gửi cho bố ở chiến trường.

Bố Hà là Hoàng Bình, khi đó đang chiến đấu tại Quảng Nam. Một ngày đầu năm 1973, ông Hoàng Bình nhận được thư và quà của gia đình. Mở gói quà, ông vô cùng bất ngờ khi thấy trong đó có một mảnh kim loại, vài tờ tài liệu viết bằng tiếng nước ngoài, mấy bài báo được cắt từ các báo đăng về “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, tháng 12 năm 1972”. Đọc thư của con trai, ông Hoàng Bình mới biết, mảnh xác B-52 và những tờ tài liệu được in bằng tiếng nước ngoài kia là do con trai ông nhặt được tại điểm chiếc B-52 rơi.

Món quà nhỏ, nhưng mang ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với những người lính đang đứng nơi hòn tên, mũi đạn. Món quà ấy như lời khẳng định, quân và dân Thủ đô Hà Nội nói riêng, miền Bắc nói chung, đã kiên cường chống trả và đánh bại cuộc tấn công đường không bằng B-52 của đế quốc Mỹ, với tham vọng đưa miền Bắc “trở về thời kỳ đồ đá”; quân và dân Hà Nội đang sát cánh cùng các mũi tiến công của ta trên chiến trường, quyết tâm đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của cả dân tộc sớm đi đến ngày toàn thắng.

Món quà của cậu con trai gửi mình năm xưa đã được Đại tá Hoàng Bình trao tặng Bảo tàng Phòng không-Không quân, nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày Bộ đội Tên lửa đánh thắng trận đầu (24-7-1995).

Món quà của anh Hà cùng bức thư của Đại tá Hoàng Bình, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Phòng không-Không quân.

Trong một chiếc tủ kính của Bảo tàng Phòng không-Không quân, bên cạnh “món quà độc đáo” của anh Hà, còn có lá thư Đại tá Hoàng Bình gửi Bảo tàng, trong đó có đoạn: “Món quà trên đã khẳng định sức mạnh và sự hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ của Hậu phương lớn, góp phần cổ vũ chúng tôi đi đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975…Riêng tôi có niềm tự hào là có đứa con tuy nhỏ tuổi, nhưng đã biết động viên cha anh chiến đấu”.

Sau này, anh Hà trở thành sĩ quan Tên lửa của Quân chủng Phòng không-Không quân.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Lực lượng vượt trội vẫn thất bại

QĐND – Chiến dịch Lai-nơ-bêch-cơ 2, mà không quân Mỹ tiến hành tháng 12-1972 trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng của Việt Nam là một hình mẫu về việc tập trung lực lượng lớn, tạo ưu thế chiến dịch hơn hẳn đối phương trước khi tiến công. Chiến dịch thể hiện cách đánh rất phổ biến của không quân Mỹ, được vận dụng trong nhiều cuộc chiến tranh.

Học thuyết tác chiến không quân Mỹ đối với chiến dịch tiến công đường không là coi trọng tập trung lực lượng lớn, tạo ưu thế hơn hẳn đối phương trước khi tiến công, coi đây là “điểm tựa” của chiến thắng chiến dịch. Những yếu tố để tạo nên ưu thế quân sự của không quân Mỹ là có học thuyết quân sự tiên tiến, quy mô lực lượng lớn, sử dụng hệ thống vũ khí công nghệ cao

Để tạo ưu thế chiến dịch tiến công đường không tháng 12-1972 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng trên miền Bắc Việt Nam, không quân Mỹ đã tập trung một lực lượng lớn chưa từng có, gồm hàng trăm máy bay B-52, một liên đội máy bay F-11A với 48 chiếc, 5 liên đội máy bay F-4H, F-105 với tổng số 400 chiếc, 5 liên đội máy bay A-6 và máy bay A-7 lên tới 360 chiếc. Mỹ còn điều thêm 50 chiếc máy bay tiếp dầu KC-135 đến Phi-líp-pin; thành lập Bộ chỉ huy Sư đoàn Không quân chiến lược; đưa thêm 2 tàu sân bay, nâng tổng số lên 5 tàu sân bay phục vụ cuộc chiến ở Việt Nam.

Với lực lượng áp đảo như trên, không quân Mỹ dự tính sẽ dễ dàng vượt qua hệ thống phòng không của Việt Nam để “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá”- như Tổng thống Mỹ khi đó từng tuyên bố. Song ưu thế về lực lượng tác chiến trên không, trên biển và ưu thế về vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại không giúp cho Mỹ giành chiến thắng, bởi nghệ thuật quân sự tài tình và tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, ngoan cường của quân và dân ta.

Tân Vũ
qdnd.vn

“Trồng rừng” che trận địa

QĐND – Bước vào giai đoạn căng thẳng nhất của chiến dịch phòng không tháng 12-1972, Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân quyết định điều động Tiểu đoàn Tên lửa 72, thuộc Trung đoàn 285 (Sư đoàn 363) từ Hải Phòng về tăng cường cho Sư đoàn 361 bảo vệ Thủ đô Hà Nội.

Nhận lệnh, Tiểu đoàn 72 thu hồi khí tài, xác định đường hành quân theo hai tuyến. Tuyến 1 theo đường số 5, tuyến 2 theo đường 18 hướng Phả Lại-Bắc Ninh. Ngày 25-12-1972, Tiểu đoàn 72 đã đến vị trí tập kết, triển khai trận địa tại thôn Đại Chu, xã Long Châu, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Đến vị trí mới, tiểu đoàn được nhân dân địa phương nhường đất, di dời mồ mả, phục vụ xây dựng trận địa, triển khai khí tài nhanh chóng.

Thấy trận địa tên lửa của Tiểu đoàn 72 nằm giữa cánh đồng trống trải, dễ bị máy bay, nhất là các loại máy bay trinh sát, máy bay ném bom chiến thuật của địch bắn phá, nhân dân thôn Đại Chu và các xóm xung quanh đã khẩn trương cùng cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn ngụy trang trận địa. Người dân trong các thôn, xóm đào cây trong vườn ra trồng xung quanh trận địa. Chỉ trong đêm, một “cánh rừng” rộng hàng nghìn mét vuông đã mọc lên, che chắn kín đáo toàn bộ trận địa tên lửa.

Không phụ lòng dân thức đêm “trồng rừng”, ngụy trang trận địa, cán bộ, trắc thủ Tiểu đoàn 72 ngày 26-12-1972 đã bắn rơi một chiếc máy bay F4. Đặc biệt, ngày 27-12-1972, tiểu đoàn bắn rơi chiếc máy bay B-52 khi chưa kịp cắt bom gây tội ác. Xác chiếc máy bay này rơi trên hồ Hữu Tiệp, làng Ngọc Hà và trên đường Hoàng Hoa Thám, Hà Nội. Đây cũng là một trong những trận đánh đặc biệt nhất của bộ đội tên lửa phòng không.

Xuân Giang
qdnd.vn

Phân tuyến, dự trữ, bảo đảm tốt hậu cần cho chiến dịch

QĐND – Một trong những yếu tố góp phần làm nên chiến thắng trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là nghệ thuật tổ chức bảo đảm hậu cần cho các lực lượng của quân chủng chiến đấu.

Nắm vững phương án tác chiến của Tư lệnh Quân chủng, sự chỉ đạo của Tổng cục Hậu cần, ngành hậu cần Quân chủng Phòng không- Không quân đã chủ động, tích cực tiến hành công tác chuẩn bị hậu cần. Do không gian tác chiến diễn ra trên địa bàn rộng, có những trung đoàn cách nhau hàng chục cây số, địa bàn bị chia cắt bởi sông Hồng, sông Đuống, nên ngành hậu cần quân chủng xác định tổ chức thành 3 cụm kho hậu cần bố trí ở Bắc sông Đuống, Nam sông Đuống và Nam sông Hồng để bảo đảm trực tiếp cho các lực lượng của quân chủng chiến đấu.

Ngành hậu cần quân chủng đã dự trữ vật chất bảo đảm cho sinh hoạt của các trung đoàn từ 7 đến 10 ngày, sư đoàn dự trữ từ 3 đến 5 ngày; tổ chức dự trữ đạn pháo cao xạ trên nhiều khu vực, theo từng cấp, đủ từ 2 đến 3 cơ số bảo đảm cho từ 2 đến 3 đợt chiến đấu trong khoảng từ 5 đến 7 ngày; trong ngày tiêu thụ đến đâu thì bổ sung thêm đến đó. Về đạn tên lửa, các trung đoàn chuẩn bị sẵn sàng từ 1,8 đến 2,1 cơ số. Các sân bay dự trữ xăng dầu cho máy bay đủ theo sức chứa của từng sân bay, riêng sân bay Nội Bài có lượng dự trữ cao hơn. Ngành hậu cần quân chủng còn tổ chức hệ thống kho dự trữ dầu bay ở các kho khu vực. Cùng với kho dự trữ của quân chủng, kho dự trữ chiến lược của Tổng cục Hậu cần trên địa bàn tác chiến cũng chuẩn bị sẵn sàng chi viện bảo đảm cho Sư đoàn 361 bảo vệ Hà Nội, Sư đoàn 363 bảo vệ Hải Phòng, Sư đoàn 365 bảo vệ tuyến Hà Nội – Lạng Sơn, Sư đoàn 375 bảo vệ tuyến Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh.

Phương tiện của cơ quan ngoại giao cũng được huy động tham gia phục vụ cứu thương trong Chiến dịch phòng không tháng 12-1972. Ảnh tư liệu.

Phương thức bảo đảm rất linh hoạt: Một số loại vật chất bảo đảm cho sinh hoạt, một phần xăng dầu và đạn pháo cao xạ được Tổng cục Hậu cần chuyển thẳng tới các sư đoàn phòng không trên các hướng theo hiệp đồng của hậu cần quân chủng; lượng còn lại, hậu cần quân chủng chuyển thẳng từ kho quân chủng xuống sư đoàn, trung đoàn, thậm chí xuống tận các tiểu đoàn chiến đấu theo hiệp đồng, kết hợp tiếp nhận vận chuyển thương binh về tuyến sau. Về bảo đảm lương thực, thực phẩm, hậu cần quân chủng phân cấp cho các trung đoàn hiệp đồng khai thác tại địa phương khu vực tác chiến. Đạn pháo cao xạ tổ chức dự trữ trên từng khu vực gần trận địa, dựa vào lực lượng dân quân địa phương tổ chức vận tải tới trận địa sau từng đợt hoặc từng ngày chiến đấu.

Về bảo đảm quân y, hậu cần quân chủng chỉ đạo các đơn vị tổ chức kết hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế địa phương trên các địa bàn để kịp thời cứu chữa, vận chuyển cả quân và dân bị thương. Các cơ sở quân y và y tế địa phương được kết hợp với nhau hình thành 4 tuyến, gồm: Tuyến tại chỗ, tuyến kết hợp giữa quân y đơn vị với trạm y tế địa phương, tuyến kết hợp giữa quân y đơn vị với các bệnh viện huyện, cuối cùng là tuyến các bệnh viện quân y kết hợp với bệnh viện tỉnh, thành phố. Các thành phố Hà Nội, Hải Phòng tổ chức các đội, tổ cấp cứu lưu động kết hợp với lực lượng tại chỗ để cứu người bị thương, vận chuyển tới các cơ sở cứu chữa. Hà Nội tổ chức được 105 tổ, đội cấp cứu dân y và 30 tổ đội cấp cứu quân y; TP Hải Phòng tổ chức 53 tổ, đội cấp cứu dân y và 15 tổ đội cấp cứu quân y.

Trong 12 ngày đêm thực hành bảo đảm cho chiến đấu, nhờ tổ chức hệ thống kho trạm dự trữ trên từng khu vực, vừa phân cấp bảo đảm, đồng thời dựa vào lực lượng địa phương trong tổ chức vận tải tiếp tế đạn tới các trận địa, nên đạn được bổ sung đầy đủ, kịp thời sau từng ngày, từng đợt chiến đấu. Việc tổ chức cấp cứu vận chuyển thương binh được tiến hành nhanh chóng, kịp thời do tổ chức các tuyến hợp lý. Lực lượng quân dân y kết hợp chặt chẽ với lực lượng chống sập, cứu sập, đã cấp cứu, cứu chữa hàng nghìn người bị thương, trong đó 85% là nhân dân, 15% là bộ đội. Các kho tàng, cơ sở hậu cần được bố trí phân tán, bảo vệ chặt chẽ, nên khi địch đánh phá, tổn thất không đáng kể.

Với phương châm chủ động tích cực chuẩn bị, cùng với việc xác định đúng phương án tổ chức bố trí, phương thức bảo đảm, tổ chức dự trữ và hiệp đồng phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền, nhân dân địa phương trong khu vực chiến đấu, nên trong suốt 12 ngày đêm chiến đấu liên tục, quyết liệt, ngành hậu cần Quân chủng Phòng không- Không quân đã bảo đảm cao nhất đáp ứng nhu cầu tiêu thụ vật chất, đạn dược cho chiến dịch, góp phần làm nên thắng lợi “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 lịch sử.

Đại tá Đỗ Khắc Yên
qdnd.vn

Thế trận phòng không nhiều tầng, nhiều lớp

QĐND – Tỉnh Bắc Ninh nằm trên hướng đông bắc Hà Nội, có nhiều mục tiêu, chân hàng và đầu mối giao thông quan trọng. Đây cũng là hướng mà Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân dự kiến là đường bay bất ngờ đột nhập, đánh phá ác liệt bằng máy bay B-52 của địch vào Hà Nội. Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy Bắc Ninh đã chủ động lãnh đạo các lực lượng xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững mạnh, rộng khắp, phối hợp với Hà Nội và các tỉnh lân cận, kiên quyết đập tan cuộc tập kích chiến lược của địch.

Khẩu đội súng máy dân quân tự vệ bắn máy bay chiến thuật của Mỹ trong Chiến dịch phòng không tháng 12-1972. Ảnh tư liệu.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển kinh nghiệm phòng không nhân dân đánh máy bay trong chiến tranh phá hoại, Tỉnh ủy Bắc Ninh xây dựng nghị quyết chuyên đề về tổ chức xây dựng lực lượng và thế trận phòng không dày đặc, nhiều tầng nhiều lớp, bảo đảm đánh địch ở nhiều hướng. Tỉnh dự kiến hướng chính đánh phá của không quân địch, chú trọng bảo vệ các mục tiêu trọng yếu; phối hợp chặt chẽ với các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa phòng không đứng chân trên địa bàn để thiết lập thế trận phòng không. Cấp ủy Đảng các cấp chú trọng lãnh đạo việc tổ chức nghiên cứu quy luật đường bay của máy bay địch, củng cố về tổ chức và lực lượng, bổ sung vũ khí trang bị kỹ thuật, huấn luyện thành thạo cách bắn máy bay cho dân quân, tự vệ.

Tỉnh ủy phân công các đồng chí tỉnh ủy viên bám sát việc tổ chức bảo đảm giao thông thông suốt trên Quốc lộ 1A, kế hoạch, địa điểm sơ tán nhân dân, chuyển tải, giải phóng hàng hóa. Lực lượng công an tăng cường bảo đảm an ninh, phá các chuyên án, bóc gỡ các tổ chức gián điệp, phá hoại, chỉ điểm mục tiêu, phối hợp đào đắp công sự cho khí tài tên lửa, đường cơ động, vận tải đạn. Tỉnh đội cơ động một số đơn vị pháo cao xạ 37mm và các trận địa của dân quân tự bảo vệ vòng ngoài cho trận địa tên lửa của Tiểu đoàn 94 (Trung đoàn 261) tại xã Phù Chẩn, huyện Từ Sơn, đến ngày 20-12-1972, Tiểu đoàn 94 bắn rơi một máy bay B-52. Phát hiện tên lửa của ta, máy bay Mỹ nhiều lần đánh phá trận địa tên lửa Tiểu đoàn 94, nhưng đều bị bộ đội pháo cao xạ 37mm và súng bộ binh của dân quân Phù Chẩn đánh hất lên cao, bảo vệ an toàn trận địa. Đặc biệt, qua quan sát, chiến đấu dân quân phát hiện máy bay trinh sát không người lái của địch nhiều lần bay thấp dọc sông Thái Bình. Ngày 21-12-1972, trung đội nữ dân quân thôn Guột (xã Việt Hùng, huyện Quế Võ) tổ chức trận địa phục kích và bắn hạ máy bay trinh sát bằng súng bộ binh.

Trần Văn Toản
qdnd.vn

Những khoảnh khắc không thể nào quên

“Hà Nội, những ngày đêm năm 1972”

QĐND – Cách đây 40 năm (ngày 11-10-1972), trụ sở Cơ quan đại diện của Pháp tại Hà Nội đã trở thành mục tiêu ném bom của Không quân Mỹ. Sự kiện này không chỉ gây bất ngờ cho chính người Pháp mà cả cộng đồng thế giới. 40 năm sau, sự kiện này đã được tái hiện trong một phần của triển lãm mang tên “Hà Nội, những ngày đêm năm 1972”. Triển lãm, xuất phát từ ý tưởng của Viện Viễn Đông Bác Cổ và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, đã chính thức khai trương tối 11-10 tại Trung tâm Văn hóa Pháp-L’Espace, 24-Tràng Tiền-Hà Nội.

Triển lãm thu hút sự quan tâm của nhiều bạn trẻ Việt Nam

Vụ ném bom và sự ngạc nhiên của Pháp

Đối với ông Giăng Mác Gra-vi-ê (Jean Marc Gravier), nhân viên mật mã Phái đoàn của Chính phủ Pháp tại Hà Nội năm 1972, ngày 11-10-1972 là một ngày không thể nào quên. “Vụ nổ diễn ra vài giây sau khi có còi báo động. Tôi nhớ có tiếng nổ trầm đục giữa tiếng ồn ào của lực lượng phòng không bắt đầu bắn ít lâu sau khi có còi báo động. Tôi thấy sức ép rất mạnh từ bên tai. Tôi vừa kết thúc việc xem xét tin tức phát thanh từ Phnôm Pênh và đang xếp hồ sơ vào tủ đặt trong căn phòng nhìn ra vườn hoa của tòa nhà Phái bộ Pháp. Khi ra tới cửa gian phòng chính trong văn phòng của mình nhìn ra khu nhà ở, tôi chỉ trông thấy một đám khói dày màu cam. Cửa sổ không đóng, kính cửa bật ra và vỡ tan. Một trong các máy điện báo bị hất xuống đất còn cái đài của tôi thì bị đẩy ra… Khi chúng tôi tới trước khu nhà ở, nhiều người đã hối hả tìm cách cứu Pi-e Xu-xi-ni (Pierre Susini). Đầu ông ấy lộ ra bên ngoài đống đổ nát của hàng cột quanh nhà”.

Ông Pi-e Xu-xi-ni chính là Tổng đại diện Pháp tại Việt Nam lúc đó. Vào thời điểm 11 giờ 30 phút ngày 11-10-1972, ông Pi-e Xu-xi-ni đang tiếp Đại biện lâm thời An-ba-ni ngay lối vào của tư dinh thì bất ngờ một quả bom phát nổ ở ngay khu vực cầu thang. “Bị thương nặng, ông qua đời 9 ngày sau đó tại Pa-ri. Vợ ông, người Ai Cập, và 4 người Việt Nam (trong tổng số 16 nhân viên) ở Cơ quan đại diện Pháp, chết ngay tại chỗ. Nhà ngoại giao người An-ba-ni bị thương nhẹ. Các Đại sứ quán Ấn Độ và An-giê-ri cũng bị trúng bom nhưng chỉ bị thiệt hại về vật chất”, Tiến sĩ sử học Pi-e Giuốc-nu (Pierre Journoud), phụ trách nghiên cứu tại Viện nghiên cứu chiến lược của Trường Quân sự (IRSEM-Bộ Quốc phòng Pháp), cho hay.

Quang cảnh Cơ quan đại diện Pháp tại Hà Nội sau vụ ném bom ngày 11-10-1972 (ảnh chụp lại tại triển lãm)

Vụ ném bom Cơ quan đại diện ngoại giao Pháp gây chấn động ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài. Tổng thống Mỹ Ních-xơn ngay trong ngày hôm đó đã gửi “những lời thương tiếc sâu sắc của mình” tới Tổng thống Pháp Pôm-pi-đu. Tuy nhiên, trong một cuộc họp báo, đại diện của Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố không loại trừ khả năng vụ ném bom là do tên lửa đất đối không SAM của Bắc Việt gây ra! Nhưng ngày 20-10, tức chỉ 9 ngày sau vụ ném bom, bản báo cáo của Lầu Năm góc hé lộ một phần bức màn bí ẩn: Vụ nổ đúng là do bom Mỹ có định vị laser đã kích hoạt ngẫu nhiên do trục trặc từ hệ thống thả bom.

Sau khi vụ việc xảy ra, người Pháp rất ngạc nhiên và không hiểu vì sao Cơ quan đại diện của mình bị đánh bom. Các nhà ngoại giao Pháp đã bày tỏ sự bất bình với chính quyền Mỹ. “Mặc dù bày tỏ sự hối tiếc, song Chính quyền Mỹ chưa bao giờ họ xin lỗi Pháp về điều này”, Tiến sĩ Pi-e nói.

Tái hiện lịch sử bằng ảnh

Để triển lãm “Hà Nội, những ngày đêm năm 1972” ra mắt công chúng đúng kỷ niệm 40 năm sự kiện Cơ quan đại diện Pháp tại Hà Nội bị đánh bom, Viện Viễn Đông Bác Cổ và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam cùng các nhà tổ chức đã sử dụng nhiều phim, ảnh tư liệu và tài liệu từ các nguồn tài liệu khác nhau tại Việt Nam (Thông tấn xã Việt Nam, Bảo tàng Phòng không – Không quân, Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương…) và tại Pháp (Viện nghe nhìn quốc gia, Cục thông tin và sản xuất nghe nhìn La Défense, Trung tâm lưu trữ Ngoại giao La Courneuve) cùng với các nguồn tư liệu của tư nhân do chủ sở hữu cung cấp (như ông Giăng Mác Gra-vi-ê, ông A-lanh Oa-smết, ông Ni-cô-la Coóc-nê, ông Chu Chí Thành và nhiều nhân chứng người Việt khác).

Theo ông Ô-li-vi-ê Tê-xi-ê (Olivier Tessier) thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp, triển lãm nhằm tái hiện những khoảnh khắc đáng nhớ nhất của năm 1972, năm mấu chốt cho việc giải quyết cuộc xung đột Việt Nam-Mỹ với kết cục là việc ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, một kết cục không thể che khuất số phận bi thương của hàng nghìn thường dân bị chết hoặc bị thương trong những đợt ném bom vào Hà Nội. Bên cạnh sự kiện Cơ quan đại diện Pháp tại Hà Nội bị đánh bom, triển lãm còn tái hiện cuộc sống của người dân Hà Nội và số phận bi thương của hàng nghìn thường dân bị chết hoặc bị thương trong chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ thông qua những tư liệu và nhân chứng lịch sử.

“Mục tiêu tổ chức triển lãm không nhằm tiết lộ một cái gì mới với công chúng Việt Nam, nhưng chỉ mong muốn truyền tải tới người xem cách nhìn cuộc chiến tranh ở Việt Nam trong năm 1972 từ hai phía Pháp và Việt Nam”, ông Ô-li-vi-ê nói.

Bài và ảnh: Linh Oanh
qdnd.vn

Triển lãm ảnh “Hà Nội- những ngày đêm năm 1972”

QĐND Online– Những bức ảnh trong triển lãm ảnh “Hà Nội- những ngày đêm năm 1972” tổ chức tối 11-10 tại Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội đã làm sống lại không khí của những ngày đêm hào hùng, oanh liệt của quân dân Thủ đô năm 1972.

Một bức ảnh trưng bày tại triển lãm.

Triển lãm được tổ chức từ ý tưởng của Viện Viễn đông bác cổ Pháp và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam.

Các phim, ảnh tư liệu và các tài liệu được cung cấp từ các nguồn tài liệu khác nhau tại Việt Nam như: Thông tấn xã Việt Nam, Bảo tàng Phòng không – Không quân, Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương… và tại Pháp (Viện nghe nhìn quốc gia, Cục Thông tin và Sản xuất nghe nhìn La Défense, Trung tâm Lưu trữ Ngoại giao La Courneuve) cùng với các nguồn tư liệu của tư nhân do chủ sở hữu cung cấp (ông Jean-Marc Gravier, ông Alain Wasmes, ông Nicolas Cornet, ông Chu Chí Thành).

Bên cạnh các bức ảnh là những chú thích được viết ngắn gọn, mô tả lại những cuộc sống thực của nhân dân Hà Nội trong những ngày Mỹ ném bom.

Bạn Hoàng Lan, sinh viên năm thứ 4, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn chia sẻ cảm xúc khi xem triển lãm: “Là thế hệ trẻ của đất nước, khi được xem lại những bức ảnh quý giá này mình càng thấy thêm khâm phục những lớp người đi trước”.

Nhiều bạn trẻ đến xem triển lãm để hiểu thêm lịch sử hào hùng của dân tộc.

Song song với triển lãm, cuộc tọa đàm với chủ đề: Năm 1972-năm mấu chốt tháo gỡ cuộc xung đột giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã được tổ chức với sự tham gia của hai diễn giả: T.S Nguyễn Xuân Năng, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ; T.S sử học Pierre Journoud, phụ trách nghiên cứu tại Viện nghiên cứu chiến lược của Trường quân sự (IRSEM – Bộ Quốc phòng), nghiên cứu viên tại UMR-CNRS IRICE (Bản sắc, quan hệ quốc tế và văn minh châu Âu), tại Trường Đại học Paris I Panthéon-Sorbonne.

Tin, ảnh: Phong Thủy
qdnd.vn

Kịp thời phát hiện máy bay B-52

QĐND – Sáng 18-12-1972, cường độ đánh phá của Không quân Mỹ ở Khu 4 giảm hẳn. Một hiện tượng bất thường là tất cả các đài ra-đa mở máy trực đều không phát hiện thấy nhiễu tích cực và không có một dấu hiệu máy bay B-52 xuất hiện trên bầu trời. Sự yên tĩnh lạ thường ấy khiến bộ đội ra-đa nghi ngờ, cần cảnh giác với âm mưu mới của Không quân Mỹ.

Đến 16 giờ 40 phút, trên bản đồ thu mạng tình báo quốc gia xuất hiện hai tốp máy bay tiêm kích F-111 từ Sầm Tớ (Lào) bay về phía Yên Bái. Tình huống đó khiến trắc thủ ra-đa Đại đội 16, đơn vị đang mở máy trực, tập trung quan sát phát hiện mục tiêu, đặc biệt là máy bay B-52.

Bộ đội ra-đa chuẩn bị ăng-ten phục vụ chiến đấu. Ảnh tư liệu.

Đại đội 16 ở Nghệ An thấy trên màn hình xuất hiện một số dải nhiễu mới. Từ kinh nghiệm chiến đấu, Đại đội trưởng Trần An và Chính trị viên Trịnh Đình Nham đã thống nhất ra lệnh các đài ra-đa chống nhiễu, phát hiện máy bay B-52. Chỉ giây lát, các trắc thủ đã khẳng định trong nhiễu có B-52 và báo cáo với đại đội trưởng: “Khả năng B-52 đánh miền Bắc”. Báo cáo đó liền được truyền tới tổng trạm ra-đa ở Hà Nội. Lúc đó là 19 giờ 10 phút.

Tham mưu phó Binh chủng báo cáo với Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri: Máy bay B-52 đã vượt qua vĩ tuyến 20. Khả năng B-52 đánh Hà Nội. Lập tức Tư lệnh Quân chủng ra lệnh cho các lực lượng phòng không – không quân chuẩn bị đánh B-52. Thủ đô Hà Nội và các tỉnh trên miền Bắc được lệnh báo động phòng không để nhân dân kịp thời xuống hầm trú ẩn.

Do cảnh giác cao, Trung đoàn Ra-đa 291 đã phát hiện được máy bay B-52 từ xa, bảo đảm cho Tổ quốc không bị bất ngờ trước chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng. Nên các lực lượng phòng không ở khu vực Hà Nội đã chuyển cấp chiến đấu sớm, bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 ngay từ trận đầu, đêm đầu của chiến dịch.

Trần Công
qdnd.vn

Đánh chắc thắng để tiết kiệm đạn

QĐND – Trong chiến dịch phòng không tháng 12-1972, do địch sử dụng nhiều thủ đoạn tác chiến điện tử, gây nhiễu hỗn tạp gây khó khăn lớn cho bộ đội phòng không-không quân. Trong giai đoạn đầu chiến đấu, lượng đạn tên lửa SAM-2 (SA-75) tiêu hao nhiều, song hiệu quả chiến đấu thấp. Với tinh thần kiên quyết chiến đấu, phát huy trí tuệ, vận dụng các biện pháp kỹ thuật, chiến thuật khoa học, ta đã từng bước giải được bài toán này, chủ động bảo đảm đủ đạn cho các đơn vị đánh thắng.

Bộ đội Tiểu đoàn tên lửa 57 (Trung đoàn 261) báo động chiến đấu. Ảnh tư liệu.

Để có đủ lượng đạn tên lửa SAM-2, ngành kỹ thuật đã chủ động chuẩn bị trước số lượng và chất lượng đạn; đẩy nhanh tốc độ lắp ráp đạn mới; sửa chữa kịp thời số đạn hư hỏng đưa vào chiến đấu. Các xưởng lắp ráp đưa bộ phận dự bị vào sản xuất, bảo đảm mỗi tiểu đoàn kỹ thuật có thêm một dây chuyền lắp ráp. Các đơn vị đã áp dụng sáng kiến: Nạp nhiên liệu sẵn, lắp ráp đạn ngay trên xe kéo đạn và hợp lý hóa một số động tác kỹ thuật, tăng năng suất lắp ráp gấp đôi… Lực lượng vận tải trực chiến ngay tại các xưởng, có đạn là cấp tốc đưa đạn về đơn vị chiến đấu.

Bảo đảm hiệu suất chiến đấu, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương dành tên lửa để đánh máy bay B52, đồng thời, gấp rút cơ động đạn tên lửa từ phía Nam ra tăng cường cho Hà Nội; công tác chỉ huy, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ và đánh tập trung hơn nữa. Trắc thủ điều khiển đạn cần kết hợp chặt chẽ các phương pháp như điều khiển ba điểm, vượt nửa góc, bám sát tự động hoặc hỗn hợp… Tích cực vận dụng trí tuệ, khả năng phán đoán và kinh nghiệm đánh của các trắc thủ nhằm giảm tối đa số lượng đạn đánh vào một mục tiêu. Chỉ huy tiểu đoàn tên lửa phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi hạ lệnh phóng, đã đánh là phải chắc thắng, không chắc thắng không đánh…

Bằng cách đó, bộ đội ta đã từng bước khắc phục tình trạng tiêu hao đạn lớn, các đơn vị chiến đấu tiết kiệm đạn, hiệu quả, có trận sử dụng 2 quả đạn bắn rơi tại chỗ 2 máy bay B52 của Mỹ, khiến cả thế giới khâm phục.

Trần Văn Toản
qdnd.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến – lời hịch của non sông

Đã 66 năm trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946 – 19/12/2012), nhưng âm hưởng hào hùng của lời kêu gọi bất hủ ấy vẫn mãi trường tồn cùng lịch sử dân tộc Việt Nam, mãi là lời hịch của non sông, một văn kiện mang tính cương lĩnh quân sự có giá trị lịch sử trong mọi thời đại, thể hiện ý thức sâu sắc giá trị của độc lập dân tộc và niềm tin vững bền về con đường cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân ta đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

loi keu goi toan quoc kc.1Lời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/12/1946

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, toàn thể quốc dân đồng bào đã nhất tề đứng dậy chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi đất nước trước lời hiệu triệu sục sôi hào khí “Nam quốc sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”, “Bình Ngô đại cáo”, khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất Tổ quốc với chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Kế thừa hào khí chống giặc, giữ nước trong lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh “nghìn cân treo sợi tóc” bằng một quyết định quan trọng, một quyết định thể hiện sự lựa chọn của lịch sử vào ngày 19/12/1946 – Ngày toàn quốc kháng chiến.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, chính quyền cách mạng về tay nhân dân; nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ vận mệnh dân tộc mình. Song, chính quyền cách mạng non trẻ đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, tình thế cách mạng lúc này mong manh như “trứng để đầu gậy” phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc: Giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm.

Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, đã nổ súng đánh ta ở Nam Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt kêu gọi nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đứng lên kháng chiến, mặt khác ra sức đàm phán với chính phủ Pháp để cứu vãn hòa bình. Người đã ký với đại diện chính phủ Pháp tại Hà Nội Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946. Tiếp đó, Người qua Pháp chỉ đạo phái đoàn Chính phủ ta đàm phán với Chính phủ Pháp ở Phông-ten-nơ-blô. Cuộc đàm phán thất bại do lập trường phía Pháp vẫn theo đuổi chính sách thống trị Việt Nam. “Còn nước còn tát”, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp Tạm ước ngày 14-9-1946. Ngày 16-9-1946, Người rời cảng Tu-lông (Pháp) trở về nước. Ngày 16-10, Người gặp Đắc-giăng-li-ơ ở vịnh Cam Ranh. Thỏa thuận ngừng bắn trong Tạm ước 14-9 không được thực hiện ở Nam Bộ. Tại Bắc Bộ, cuối tháng 11 năm 1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, thị xã Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng. Tại Hà Nội, quân đội thực dân Pháp liên tiếp nổ súng, ném lựu đạn vào nhiều nơi ở Hà Nội trong các ngày 15, 16-12-1946 như đốt nhà thông tin ở phố Tràng Tiền, chiếm cơ quan Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính. Ngày 17-12-1946, quân Pháp cho xe phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, đặc biệt, chúng đã gây ra vụ tàn sát nhiều đồng bào ta ở phố Hàng Bún và Yên Ninh, gây xung đột đổ máu ở cầu Long Biên, khu Cửa Đông. Ngày 18-12-1946, tướng Moóc-li-e gửi cho ta hai tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài chính, đòi ta phải phá bỏ mọi công sự chướng ngại trên các đường phố, giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô  Hà Nội cho chúng. Pháp tuyên bố nếu các yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng 20-12-1946 quân Pháp sẽ hành động.

Trước tình hình đó, ngày 18 và 19-12-1946, tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi toàn quốc.

Vào hồi 20 giờ ngày 19/12/1946, quân dân thủ đô Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc. Ngày 20/12/1946, tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch.

loi keu goi toan quoc kc 2Phát lệnh toàn quốc kháng chiến. Ảnh internet

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào,

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu tổ quốc, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm ! kháng chiến thắng lợi muôn năm.

Hà Nội ngày 19/12/1946.

 Hồ Chí Minh”

Toàn văn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ. Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác nhanh chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Trong cuộc đấu tranh chống kẻ xâm lược, không còn con đường nào khác ngoài việc dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng Khi đã buộc phải kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết động viên toàn dân đứng lên chiến đấu:

“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Hồ Chí Minh tuyên bố quyết tâm của nhân dân ta: “Thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Kết thúc lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định niềm tin tất thắng:

“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”

Đúng như dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau chín năm vào năm 1954 – “Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã chứng tỏ sức mạnh của lòng yêu nước phi thường của quân và dân ta, sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc gian khổ chiến đấu và hy sinh dành lại một nửa Việt Nam hòa bình làm tiền đề cho một Việt Nam độc lập và thống nhất. Ba mươi năm sau vào mùa Xuân 30/4/1975, đội quân bách chiến bách thắng của Người đã cắm cờ chiến thắng lên nóc Đinh Độc lập, kết thúc cuộc chiến tranh mười nghìn ngày đem lại độc lập tự do cho dân tộc, Bắc – Nam thống nhất, sum họp một nhà.

Có thể nói, ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 đã thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ, chọn đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện giam chân quân địch hai tháng, để cả nước chuyển vào kháng chiến trường kỳ. Việc nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12 giữa Thủ đô là một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng thật đúng đắn, quả cảm và sáng tạo.

66 năm đã trôi qua nhưng khí thế hào hùng của những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã trở thành ngày lịch sử, là dấu son chói lọi trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trải qua bao biến cố thăng trầm của thời gian, nhưng giá trị lịch sử của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của toàn thể nhân dân Việt Nam, cổ vũ, hiệu triệu quốc dân đồng bào kề vai sát cánh, chung sức đồng lòng, đoàn kết nhất trí đánh giặc, giữ nước, giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc. Ngày nay, Lời kêu gọi thiêng liêng của Bác vẫn mãi giữ nguyên tính thời sự, đó là giá trị của niềm tin tất thắng, là ý thức sâu sắc giá trị độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Sự nghiệp xây dựng CNXH còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhất định chúng ta sẽ thành công, nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh sẽ ngày càng khẳng định thế và lực quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế.

Kỷ niệm 66 năm ngày toàn quốc kháng chiến, đây là dịp để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ôn lại những bài học sâu sắc của lịch sử, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đồng sức chung lòng tạo nguồn động lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhanh chóng đưa đất nước bước ra khỏi tình trạng tham nhũng, lãng phí, nghèo nàn lạc hậu, phát triển bền vững, hội nhập sâu rộng và toàn diện với nền kinh tế thế giới, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu vẫn hằng mong muốn.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Triển lãm tranh “Hà Nội 12 ngày đêm-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Ngày 9-10, tại Nhà triển lãm 93 Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội, đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm tranh mỹ thuật với chủ đề “Hà Nội 12 ngày đêm-Điện Biên Phủ trên không”. Triển lãm giới thiệu 268 tác phẩm gồm cả hội họa và điêu khắc với chất liệu và phương pháp thể hiện phong phú như: Lụa, sơn mài, sơn dầu, composit, đá, gỗ…

Tác phẩm “Bài ca chiến thắng” (Đỗ Trung Kiên) đoạt giải A của triển lãm mỹ thuật Thủ đô.

Hội đồng nghệ thuật đã tặng thưởng cho các giả có tác phẩm xuất sắc. 1 giải A: Đỗ Trung Kiên-tác phẩm “Bài ca chiến thắng”; 2 giải B: Phạm Quốc Anh-tác phẩm “Sức sống”, Trịnh Bá Quát-tác phẩm “Hà Nội tháng Chạp 1972”; 3 giải C và 10 giải khuyến khích.

Triển lãm mở cửa đến 18-10.

Tin, ảnh Anh Lê
qdnd.vn