Archive | Tháng Sáu 2012

Thư gửi các chiến sĩ bị thương trong trận Đông Khê (20-9-1950)

Các chú đã chiến đấu anh dũng và các chú đã giết được nhiều giặc, đã có công trong việc giải phóng Đông Khê.

Chính phủ, đồng bào đều nhớ ơn các chú. Tôi gửi lời khen ngợi các chú và chúc các chú mau lành mạnh để trở lại hàng ngũ tiếp tục chiến đấu giết giặc.

Ngày 20 tháng 9 nǎm 1950
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1675, ngày 25-10-1950.
cpv.org.vn

Thư khen đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ (9-1950)

Quân dân Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ đã kháng chiến 5 nǎm và đang tiếp tục củng cố bức Thành đồng của Tổ quốc. Thực dân xâm lược Pháp dựa vào sự giúp đỡ của bọn can thiệp Mỹ và bù nhìn phản quốc đã bao phen định phá vỡ bức thành này. Nhưng chúng đã thất bại và bức Thành đồng càng ngày càng trở nên vững chắc sau mỗi mưu mô xâm chiếm của giặc.

Được như vậy là nhờ ở ý chí cương quyết của toàn dân, của các tướng sĩ và đồng bào Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ và sự đoàn kết của quân, dân với Chính phủ kháng chiến.

Tháng 9 nǎm 1950
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật,
Hà Nội, 1960, t.II, tr.36.
cpv.org.vn

Thư gửi nhi đồng toàn quốc dịp tết Trung thu (2-10-1950)

Cùng các cháu yêu quý,

Lại một Tết Trung thu kháng chiến.

Các cháu có biết Trung thu này khác với Trung thu trước như thế nào không ?

Bác nói cho các cháu nghe nhá:

Trung thu này, vì nhân dân Trung Quốc đã hoàn toàn đánh thắng đế quốc Mỹ và phản động Quốc dân đảng, nên nhi đồng Trung Quốc đã bắt đầu hưởng hạnh phúc của nền dân chủ mới.

Trung thu này, nhân dân Triều Tiên đang ra sức đánh đế quốc Mỹ. Nhi đồng Triều Tiên cũng hǎng hái tham gia kháng chiến.

Trung thu này, ở Việt Nam ta, nhiều cháu nǎm kia viết thư khoe với Bác, Trung thu bánh khéo, đèn đẹp, thì nay viết thư khoe với Bác đã vào bộ đội, đánh giặc, lập công. Nhiều cháu nǎm kia là những giao thông viên loắt choắt, thì nǎm nay đã thành những cán bộ đường hoàng. Nhiều cháu nǎm kia còn rất thơ ấu, nǎm nay báo cáo với Bác đang thi đua học hành và tǎng gia sản xuất.

Trung thu này, các cháu tiến bộ nhiều, cũng như kháng chiến ta tiến bộ nhiều.

Trung thu này, các cháu ở vùng tạm bị địch chiếm, thì ǎn Tết ngậm ngùi dưới gót sắt hung tàn của giặc Pháp và bù nhìn. Các cháu ở vùng tự do, nơi thì ǎn Tết sung sướng, nhưng cũng có nơi thì ǎn Tết dưới bom đạn của quân thù.

Nhưng Bác chắc rằng: bất kỳ ở đâu, tinh thần các cháu cũng đều hǎng hái vui vẻ. Vì các cháu đều biết rằng: giặc Pháp và phản động Mỹ không thể ǎn cướp ông trǎng Trung thu của các cháu. Cũng như chúng nó không thể ngǎn trở cuộc thắng lợi của kháng chiến ta. Vì các cháu đều chắc rằng kháng chiến nhất định thắng lợi, và đến ngày kháng chiến thắng lợi, thì Bác cháu ta sẽ cùng nhau ǎn những cái Tết Trung thu rất vui vẻ, sung sướng tưng bừng.

Bác thân ái gửi các cháu nhiều cái hôn.
BÁC HỒ

Báo Sự thật, số 143, ngày 2-10-1950.
cpv.org.vn

Điện mừng Quốc khánh nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (10-1950)

Kính gửi Chủ tịch Mao Trạch Đông,
Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

Nhân ngày Quốc khánh của quý quốc, tôi xin thay mặt Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam, nhiệt thành chào mừng Chính phủ, quân đội và nhân dân quý quốc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch, quý quốc đã tiến hành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ và đã thu được phần thắng lợi. Trong đại gia đình Đông á, Trung Quốc là người anh cả. Sự thành công của Trung Quốc đã khuyến khích các dân tộc châu á đấu tranh giành phần thắng lợi và tǎng thêm lòng tin tưởng của họ; và trước hết đây là dấu báo hiệu sự giải phóng được thành công và ngày vinh quang vĩ đại của dân tộc Việt Nam không còn xa nữa. Nhân dân Việt Nam một mặt rất phấn khởi chúc mừng quý quốc, một mặt càng ra sức tranh đấu đánh đuổi bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Xin chúc Chủ tịch mạnh khoẻ và lãnh đạo nhân dân quý quốc kiến thiết chủ nghĩa tân dân chủ được thành công, bảo vệ dân chủ và hoà bình vĩnh cửu của thế giới.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1663, ngày 9-10-1950.
cpv.org.vn

Bác Hồ với báo Đảng

4-5.a.jpgICTnews – Sau 50 năm cầm bút, Bác Hồ đã cống hiến cho sự nghiệp báo chí cách mạng nước ta và thế giới hàng nghìn bài báo, dưới 53 bút danh khác nhau.

Tính từ bài báo đầu tiên của Bác là “Vấn đề người bản xứ” đăng trên báo Nhân đạo của Pháp, ngày 2/8/1919 đến bài báo cuối cùng là “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” đăng báo Nhân Dân, ngày 1/6/1969 thì sau 50 năm cầm bút, Người đã cống hiến cho sự nghiệp báo chí cách mạng nước ta và thế giới hàng nghìn bài báo, dưới 53 bút danh khác nhau.

Trong căn phòng nhỏ tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ông Bùi Kim Hồng, Giám đốc Khu di tích bồi hồi kể lại việc Bác Hồ đã sử dụng phương tiện báo chí đại chúng như là một trong những hoạt động yêu nước của Người.

Hàng ngày, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn sắp xếp thời gian thích hợp để nắm bắt thông tin tổng hợp qua sách báo. Bác đọc báo rất nhanh và rất chính xác, chỗ nào có vấn đề cần chú ý hoặc liên quan đến các cấp, các ngành Bác đều ghi chép, đánh dấu những thông tin cần xử lý. Với gương người tốt, việc tốt Bác dùng bút bi hoặc bút chì màu đỏ ghi bên cạnh dấu (-) (nghĩa là thưởng huy hiệu), chỗ nào cần lưu ý Bác đánh dấu (/), vấn đề nào chưa rõ Bác đánh dấu (?) và yêu cầu văn phòng xác minh lại. Khi đã xem xong Bác vạch hai vạch //, thỉnh thoảng Bác cũng sử dụng các loại chữ Hán, Nga, Pháp, Anh làm ký hiệu bên lề trang báo. Bác còn ghi tóm tắt thông tin vào cuốn sổ nhỏ, hoặc cho cắt dán để làm tư liệu. Gặp những chữ báo in sai, Bác đánh dấu và nói để báo sửa. Bài nào cần nghiên cứu, Bác nhắc các đồng chí giúp việc cắt dán lưu lại theo chuyên đề: về Đảng, về các ngành, về miền Nam và tin thế giới…

Một lần đến thăm trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Bác nói với những cán bộ viết báo được cử đi học: “Các chú phải nhớ là viết cho ai, viết cái gì, nhằm mục đích gì. Phải viết cho dân hiểu để dân làm, phải nghe lời phê bình hàng ngày của dân”. Cũng vì thế, mỗi khi xem báo Đảng thấy có sai sót Bác nhắc ngay để rút kinh nghiệm. Đôi khi Bác còn làm vài con tính để kiểm tra báo đăng đã đúng chưa, số liệu kết quả có khớp không? Bác đặc biệt quan tâm đến báo Nhân Dân vì đây là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng. Sáng nào cũng vậy, cứ 6h30 sáng là tờ Nhân Dân đã có mặt trên bàn làm việc của Bác.

4-5.b.jpgMột bài báo của Bác đăng trên tờ Le Paria (Người cùng khổ)

Bác thường xuyên viết bài, phê bình và góp ý cho báo, căn dặn bài viết cho báo phải ngắn gọn để đăng được nhiều bài, người đọc đỡ tốn thời gian. Khi nào báo đăng văn kiện của Đảng và Nhà nước thì ra thêm phụ trương khổ nhỏ cho cán bộ, đảng viên dễ lưu giữ và tiện tra cứu. Bác còn yêu cầu báo Nhân Dân mỗi tháng hai lần tổng hợp tình hình trong nước và quốc tế cho Bác.

Ngày 18/1/1957 đến thăm báo Nhân Dân, Bác căn dặn các anh chị em phóng viên phải viết đúng, viết hay. Nếu viết sai hay in sai phải đính chính. Nhà báo cần biết ngoại ngữ và phải thương yêu, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau.

Bác cũng thường xuyên xem báo địa phương, báo các ngành. Bác không quên khen thưởng những thành tích và nhắc nhở những sai lầm. Những hiện tượng sai trái, tham ô, cửa quyền… các tệ nạn xã hội cũ còn rớt lại, Bác nghiêm khắc phê bình… Bài báo về những sai lầm trong ba khoán, đăng báo Hà Nội mới trên bàn làm việc của Bác vẫn còn bút tích ghi: K.g.đ.c Trường Chinh những sai lầm về “ba khoán”. Xem xong xin trả lại cho B’. Bác còn chú ý theo dõi mục: Ý kiến bạn đọc. Có lần xem báo Lao Động có vần thơ vui ở mục “Nói thật không mất lòng”, phê bình một công trường để nhà tắm nữ trống trải, chị em làm việc xong không có nơi để tắm. Bác đã gửi bài báo và ý kiến xuống công trường để các đồng chí lãnh đạo sửa chữa.

Những ngày tháng cuối cùng, tuy yếu mệt nhưng Bác vẫn theo dõi sát tình hình đất nước qua báo chí. Trên bàn làm việc tại nơi Bác điều trị bệnh và đi xa, bên cạnh những chồng báo hàng ngày Bác đang đọc dở là những nét chì đỏ của Bác khoanh tròn trong bản tin “Nichxơn hoãn rút thêm quân”, dấu bút đỏ trên bài “Nam Bắc một nhà là anh em ruột thịt quyết không thể chia cắt được” đăng báo Thống Nhất, còn có bài báo “Phê bình và sửa chữa khuyết điểm ở chi bộ Phú Thành (Nghệ An)” đăng trên báo Nhân Dân được Bác lưu giữ để theo dõi phong trào vận động quần chúng xây dựng Đảng ở cơ sở. Những tờ báo và bản tin cuối cùng Bác xem đều phát hành vào ngày 24/8/1969.

Quan điểm lý luận và hoạt động báo chí thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phù hợp, gắn bó với cuộc sống và phục vụ lợi ích nhân dân. Bác rất coi trọng đối tượng và hiệu quả tuyên truyền báo chí. Vì vậy, những người làm báo của Đảng cần phải luôn ghi nhớ lời dạy của Người: “Báo của ta là báo của nhân dân, phải nói thật với dân. Thổi phồng khó khăn làm dân sợ, dân hoang mang là sai, là không tốt. Nhưng ngược lại nói quá dễ dàng, tưởng để động viên nhưng khi dân thấy sự thật không đúng như thế, dân không tin ta nữa, không xem báo nữa! Muốn viết trung thực thì phải đến tận nơi, phải nghiên cứu, phải suy nghĩ nên viết cái gì và viết như thế nào”.

Ngọc Tuấn (ghi)
qdnd.vn

Tặng đồng chí Trần Canh (10-1950)

“Hương tân” mỹ tửu dạ quang bôi,

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.

Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,

Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.

Dịch nghĩa

TẶNG ĐỒNG CHÍ TRẦN CANH

Rượu ngọt “sâm banh” trong chén ngọc dạ quang,

Sắp uống, tỳ bà trên ngựa đã giục giã.

Say sưa nằm lǎn nơi sa trường, anh đừng cười nhé!

Chớ để cho một tên địch nào trở về.

Dịch thơ

TẶNG ĐỒNG CHÍ TRẦN CANH

“Sâm banh” rượu ngọt chén lưu ly,

Toan nhắp, tỳ bà ngựa giục đi.

Say khướt sa trường cười chớ vội,

Chẳng cho địch thoát một tên về (2).

Sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh,
Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1990, tr. 39-40.
cpv.org.vn

—————————-

(2) Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người thảo ra, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản tất yếu của dân tộc Việt Nam. Người tuyên bố trước nhân dân ta và nhân dân thế giới:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta và là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca mở đầu cho một kỷ nguyên mới của dân tộc ta – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.7.

Điện gửi các chiến sĩ Mặt trận Cao – Bắc – Lạng (6-10-1950)

Trong chiến dịch này, toàn thể bộ đội và nhân dân ta đã rất cố gắng, đã gây được thành tích khá, như giải phóng Đông Khê, bắt địch phải rút khỏi Cao Bằng.

Hiện nay tình hình rất có lợi cho ta. Vậy các chiến sĩ phải quyết tâm tiêu diệt địch cho kỳ hết để giành lấy toàn thắng.

Bác theo dõi cuộc chiến đấu anh dũng của các chú từng giờ. Bác sẽ có giải thưởng đặc biệt cho những bộ đội và chiến sĩ nào lập chiến công nhiều nhất.

Nào, chiến sĩ nào và đơn vị nào hứa với Bác quyết giật cho được giải thưởng anh hùng Cao – Bắc – Lạng và đơn vị kiểu mẫu?

Bác chờ các chú trả lời.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 6 tháng 10 nǎm 1950
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr. 88.
cpv.org.vn

Thư gửi các chiến sĩ ở mặt trận Đông Khê sau khi binh đoàn Lơpagiơ bị tiêu diệt (8-10-1950)

Các chiến sĩ yêu mến,

Từ ngày kháng chiến đến nay, trận này là trận đầu tiên bộ đội ta đánh vận động liên tiếp luôn mấy ngày.

Đó là một cuộc thử thách lớn.

Các chú không quản nhọc mệt, đói rét, chỉ ra sức thi đua giết địch, các chú đã đánh tan đoàn quân tinh nhuệ của địch.

Các chú đã hoàn thành bảy phần mười cuộc thử thách một cách dũng cảm. Các chú cố gắng mà tiêu diệt nốt binh đoàn Sáctông nhé.

Bác và Tổng tư lệnh đã ra lệnh khao các chú một bữa thịt bò.

Bác hôn tất cả các chú.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 8 tháng 10 nǎm 1950
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr. 89.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào Cao – Bắc – Lạng nhân dịp chiến thắng trên chiến trường biên giới (14-10-1950)

Cùng đồng bào thân mến,

Chúng ta đã thắng to trong chiến dịch Cao – Bắc – Lạng. Có cuộc thắng lợi đó là vì đồng bào ba tỉnh ta rất hǎng hái tham gia kháng chiến. Vì bộ đội ta rất dũng cảm. Vì Chính phủ ta rất kiên quyết. Vì quân, dân, chính của ta đoàn kết chặt chẽ.

Tôi rất vui lòng thay mặt Chính phủ cảm ơn và khen ngợi đồng bào. Tôi đặc biệt nêu cao công lao của phụ nữ Cao – Bắc – Lạng. Hàng vạn chị em Kinh, Thổ, Trại, Mán, v.v. đã không quản xa xôi, trèo đèo, lội suối, ǎn đói nằm sương, đã thi đua làm việc sửa đường vận tải giúp đỡ bộ đội để góp một phần vào thắng lợi. Chúng ta đã thắng lợi trong chiến dịch này nhưng chúng ta phải biết rằng: để tiêu diệt hết giặc Pháp, để chống lại bọn can thiệp Mỹ, để giải phóng hoàn toàn Tổ quốc, chúng ta còn phải vượt qua bao nhiêu sự khó khǎn, cực khổ nữa. Chúng ta chớ vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch. Nhưng với sức đại đoàn kết, tinh thần hǎng hái và bền bỉ của đồng bào, với sự dũng cảm của bộ đội, với lòng kiên quyết của Chính phủ, chúng ta nhất định vượt qua tất cả mọi khó khǎn để tranh lấy hoàn toàn thắng lợi.

Đồng bào Cao – Bắc – Lạng đã làm kiểu mẫu trong việc động viên nhân lực, vật lực, tài lực cho kháng chiến. Tôi chắc rằng đồng

bào ba tỉnh ta sẽ luôn luôn cố gắng thêm để giữ lấy địa vị vẻ vang mà tôi chắc rằng đồng bào các nơi khác sẽ ra sức thi đua với đồng bào Cao – Bắc – Lạng trong công việc thi hành Sắc lệnh tổng động viên.

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.

Thống nhất độc lập nhất định thành công.

Chào thân ái
Ngày 14 tháng 10 nǎm 1950
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1674, ngày 24-10-1950.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi và khuyên nhủ các chiến sĩ (26-10-1950)

Cùng các chiến sĩ yêu quý,

Trận Đông Khê, Thất Khê, Cao Bằng ta đã thắng to. Tôi thay mặt Chính phủ nghiêng mình trước linh hồn các liệt sĩ đã hy sinh vì nước, an ủi các anh em thương binh, khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ.

Tôi ra lệnh cho Bộ Tổng tư lệnh mau chóng khen thưởng những đơn vị và những chiến sĩ đã lập nhiều chiến công oanh liệt. Trong số khen thưởng đó gồm có các chiến sĩ có công to, các cán bộ đắc lực, các anh em ngành chuyên môn trong quân đội, các anh em nấu bếp trong bộ đội và các cháu giúp việc giao thông liên lạc đắc lực, nhất là các đồng bào đã đặc biệt giúp đỡ bộ đội.

Ta đã thắng to trong trận này là vì bộ đội ta rất dũng cảm, chỉ huy rất đúng đắn, nhân dân rất hǎng hái, Chính phủ rất kiên quyết. Nhưng chúng ta chớ vì thắng lợi mà kiêu cǎng, chủ quan khinh địch. Chúng ta phải nhớ rằng: trong toàn cuộc trường kỳ kháng chiến thì thắng lợi này chỉ mới là một bước đầu. Chúng ta còn phải đánh và phải thắng nhiều trận gay go hơn, to tát hơn nữa mới đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Chúng ta cũng phải nhớ rằng trong trận này, ta đã thắng hai lần: Thắng lợi thứ nhất là chúng ta đã tiêu diệt địch và đã giải phóng Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê. Thắng lợi thứ hai là ta đã thấy rõ những ưu điểm và khuyết điểm của ta.

Lợi dụng triệt để cuộc thắng lợi đó, Bộ Tổng tư lệnh sẽ tổ chức những cuộc hội nghị kiểm thảo và những ban huấn luyện để tổng kết kinh nghiệm, phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, nâng cao lực lượng về mọi mặt. Trong những cuộc hội nghị kiểm thảo và trong các ban huấn luyện này, phải triệt để lợi dụng vũ khí tốt nhất, mạnh nhất là phê bình và tự phê bình một cách dân chủ, kiểm thảo từ cấp trên xuống và từ cấp dưới lên. Các cán bộ các cấp phải lãnh đạo và phải làm kiểu mẫu trong việc kiểm thảo và tự phê bình.

Làm như thế thì chúng ta sẽ phát triển thêm ưu điểm, sửa chữa sạch khuyết điểm. Đánh thắng khuyết điểm của ta tức là đã một lần đánh thắng quân địch.

Tôi chắc rằng: các cán bộ và chiến sĩ đã hǎng hái thi đua giết giặc lập công thì sẽ hǎng hái thi đua trong cuộc phê bình và tự phê bình, và do đó, ta sẽ thắng to hơn nữa mà tôi sẽ có dịp khen thưởng các chiến sĩ nhiều hơn nữa.

HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1676, ngày 26-10-1950.
cpv.org.vn

Bác Hồ với Báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 2)

(BLC) – Bác Hồ không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà báo vĩ đại. Bác là người sáng lập ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Mở đầu là tờ báo Thanh niên, số ra đầu tiên vào ngày 21/6/1925. Đây là tờ báo của Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội – Tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam. Với vai trò và ý nghĩa lịch sử của tờ Báo Thanh niên đối với cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã quyết định lấy ngày 21.6 hàng năm làm ngày báo chí cách mạng Việt Nam.

Trong 50 năm hoạt động cách mạng kể từ khi Bác tìm ra con đường cứu nước, (năm 1919) cũng là 50 năm gắn liền với hoạt động báo chí, Bác đã viết trên 2.000 bài báo, 3.000 bài thơ, gần 500 trang chuyện và ký với nhiều thứ tiếng, nhiều thể loại, nhiều chủ đề hấp dẫn với tinh thần cách mạng rất cao. Mỗi bài báo, mỗi bài thơ, mỗi câu chuyện trên báo đều là những lời hiệu triệu, huấn thị và là ánh sáng soi đường cho dân tộc Việt nam. Chính từ cách viết độc đáo, những tác phẩm báo chí xuất sắc, tinh thần cách mạng triệt để và tấm gương đạo đức trong sáng của Bác đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân làm cách mạng, đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập báo chí cách mạng Việt Nam.

Kế thừa và phát huy Chủ nghĩa Mác Lê-Nin về báo chí cùng với hoạt động thực tiễn phong phú, Bác đã để lại cho dân tộc, những người làm báo Việt Nam một di sản vô cùng quí giá – Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng. Đó là những quan điểm, tư tưởng, kinh nghiệm vô cùng phong phú, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của báo chí cách mạng; về vị trí, vai trò chức năng của báo chí trong sự nghiệp cách mạng; về các tính chất cơ bản của báo chí như tính chính trị, tính tư tưởng, tính chiến đấu, tính Đảng, tính nhân dân, tính chân thật và tính khoa học…; về nghĩa vụ và trách nhiệm của người làm báo với tư cách là chiến sỹ cách mạng trên mặt trận báo chí và là chiến sỹ tiền phong trong sự nghiệp cách mạng; đạo đức báo chí và phong cách làm báo, viết báo… Điều này chính Bác là người đi đầu vận dụng thực hiện và là tấm gương sáng về đạo đức của người làm báo cách mạng Việt Nam.

Phóng viên Báo Lai Châu xuống cơ sở.

Về bản chất và vai trò của báo chí cách mạng, Bác khẳng định báo chí là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, nó như là một vũ khí sắc bén của Đảng, nhà nước để góp phần “Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Để đảm bảo tính tư tưởng, tính Đảng của báo chí thì trong đó phải thể hiện tính chiến đấu, tính giáo dục và tính quần chúng cao. “Báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền cổ động cho Chủ nghĩa Mác Lê-Nin và mang chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đến với nhân dân”. “Báo chí của ta thì cần phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, hoà bình thế giới”.

Phóng viên Báo Lai Châu trao đổi nghiệp vụ. 

Báo chí là người tuyên truyền cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung và luôn có tính chiến đấu cao để bảo vệ lợi ích cho nhân dân, Bác nói: “Báo chí của ta không phải để cho số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính quần chúng và tính chiến đấu”. Báo chí phải đi tiên phong đấu tranh không khoan nhượng với những gì đi ngược lại quyền lợi của nhân dân và sự phát triển của lịch sử dân tộc. “Đối với bản thân báo chí, bản thân người làm báo phải có tính chiến đấu mới làm báo tốt được”.

Báo chí cũng là một mặt trận, tờ báo như một thứ vũ khí sắc bén, nhanh nhạy, đại chúng, tuyên truyền cổ động, huấn luyện, giáo dục mọi người hiểu, nhớ và làm theo. Bác cho rằng: “Tờ báo như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp, nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức lãnh đạo và công tác. Hằng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta. Nếu cứ nhắm mắt làm việc, mà không xem báo Đảng thì khác nào nhắm mắt đi đêm, nhất là lúng túng hỏng việc”.

Bác nhắc nhở các cơ quan báo chí: “bên cạnh việc đấu tranh chống cái xấu phải cổ vũ nhân tố mới, nêu gương người tốt, việc tốt, lấy gương người tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức cách mạng, xây dựng cuộc sống mới, con người mới”. Để làm tốt nhiệm vụ của mình Bác yêu cầu các cơ quan báo chí, người làm báo phải gần gũi quần chúng hơn nữa, cách làm việc của báo chí phải cải thiện hơn nữa, tích cực xây dựng lối sống mới, biểu dương người tốt, việc tốt, thúc đẩy nâng cao tinh thần nhân dân… Báo chí cách mạng là phải quan tâm bảo vệ Đảng, đường lối của Đảng, vững vàng lập trường, quan tâm sửa chữa sai lầm của mình, quan tâm chống tiêu cực và quan tâm chống kẻ thù…

Bác xác định báo chí cách mạng là tiếng nói của Đảng và là diễn đàn của nhân dân. Báo chí phản ánh những ý kiến xây dựng của nhân dân, nói lên tâm tư nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân đối với công cuộc xây dựng đất nước. Đồng thời báo chí cũng quyết liệt chống tham nhũng buôn lậu, chống lại tội ác và các tệ nạn xã hội, chống lại những biểu hiện tha hoá sa sút về phẩm chất, đạo đức và lối sống. Vì vậy, báo chí phải giữ vững vai trò “lãnh đạo dư luận”, nghĩa là phải định hướng dư luận đúng đắn, lành mạnh, phải nâng cao tinh thần đấu tranh của nhân dân. Mỗi tờ báo phải thể hiện ý chí nguyện vọng và sức mạnh của tập thể, của cộng đồng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xây dựng xã hội mới văn minh tiến bộ.

Quan điểm nhất quán của Bác khi đề cập đến báo chí cách mạng là phải xác định được mục đích, tôn chỉ, nhiệm vụ và coi báo chí là một lĩnh vực quan trọng: “Trong cuộc kiến thiết nước nhà có 4 vấn đề cần phải chú ý đến cùng, phải coi trọng ngang nhau: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Báo chí vừa là bộ phận cấu thành của văn hoá, vừa là phương tiện cổ vũ, truyền bá thực thi văn hoá, nó là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng”.

Đối với người làm báo, Bác rất quan tâm đến tư tưởng chính trị và đạo đức người làm báo: “đối với bản thân báo chí, bản thân người làm báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để tập hợp và hướng dẫn nhân dân”. “Cán bộ báo chí là chiến sỹ cách mạng, cây bút trang giấy là vũ khí của họ, ngòi bút của các bạn là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”. Bác luôn nhắc nhở các nhà báo sống phải trung thực, phải luôn tự hỏi mình “Viết cho ai xem? viết để làm gì? Viết về cái gì? Viết như thế nào?”.

Tính chân thật luôn được coi là đạo đức của người làm báo cách mạng. Nhà báo cách mạng cũng là người cách mạng nên nhà báo cũng phải có đạo đức cách mạng, người làm báo cách mạng phải luôn rèn luyện đạo đức cách mạng và đạo đức báo chí cách mạng. Bác khuyên “Muốn trở thành nhà báo giỏi phải học tập và rèn luyện không ngừng”. Bác căn dặn cán bộ báo chí “Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hoá, chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”. “Tất cả những người làm báo… phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ; chính trị đúng thì mọi việc mới đúng. Nhà báo phải góp phần nâng cao chất lượng báo chí để nó làm tròn nhiệm vụ cao cả của nó là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”.

Theo Bác nhà báo phải viết chân thật vì chân thật là sức mạnh, là niềm tin. Mỗi bài báo đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện được xem xét kiểm tra, chọn lọc. Bài viết phải đem cho người đọc lượng thông tin cao và chính xác, viết phải đúng sự thật không được bịa ra, không nên nêu ẩu, chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ chớ nói, chớ viết.

Bác Hồ cũng rất quan tâm đến nội dung bài viết, tức là bài viết phải đúng sự thực và coi đó như một tiêu chuẩn đạo đức nhà báo: “Không biết rõ, hiểu rõ chớ nói chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết chớ nói chớ viết càn”. “Không nên chỉ nói cái tốt mà giấu đi cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn”.

Về cách diễn đạt nhất là sử dụng ngôn ngữ, Bác luôn nhắc nhở các nhà báo phải giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, coi tiếng nói là tài sản của dân tộc, phải giữ gìn, quí trọng và phát triển nó…

Đã 87 năm trôi qua kể từ khi tờ Báo Thanh niên đầu tiên do Bác sáng lập và 44 năm Bác của chúng ta đã đi xa, song những quan điểm, tư tưởng và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác vẫn còn in đậm trong lòng dân tộc Việt Nam. Những người làm báo Việt Nam hôm nay thật vinh dự và tự hào có Bác Hồ, một nhà báo cách mạng vĩ đại, một người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Bác Hồ để trở thành nhà báo cách mạng là nghĩa vụ và trách nhiệm của những người làm báo Việt Nam. Nhớ công ơn, công lao trời biển của Người, những người làm báo Việt Nam nguyện khổ công rèn luyện, mài giũa ngòi bút, tự trao dồi và nâng cao cho mình bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp và tác phong, đạo đức của người làm báo cách mạng để xứng đáng là học trò của Người và yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra.

Nguyễn Cảnh Phượng
baolaichau.vn

Bài nói chuyện tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II (1950)

Về Hội nghị tổng kết, Bác có mấy ý kiến:

Trong Hội nghị này, có những cán bộ đã trực tiếp tham gia chiến dịch về kiểm thảo ưu điểm, khuyết điểm. Lại có cán bộ các khu, các đơn vị, các cơ quan không tham gia chiến dịch, đến để học tập kinh nghiệm. Tự phê bình, phê bình, tổng kết, phổ biến và học tập kinh nghiệm, đó là việc rất hay, nên gây thành một tác phong chung trong quân đội, chính quyền và đoàn thể. Trong việc tổng kết này có mấy điểm cần chú ý:

1. Đề cao kỷ luật

Trên dưới đều phải giữ kỷ luật. Phải kiểm thảo từ dưới lên, từ trên xuống. Cấp nào cũng phải kiểm thảo. Phải làm cho tất cả mọi người đội viên, cũng như cán bộ đều thấm nhuần, thì mới có kết quả.

2. Triệt để thi hành mệnh lệnh cấp trên

Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành. Trung Quốc có câu: ” Quân lệnh như sơn” nghĩa là lệnh cấp trên đã ra thì vô luận thế nào cũng phải làm. Không nên hiểu lầm dân chủ. Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi. Nhưng khi đã quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là để bàn cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện. Phải cấm chỉ những hành động tự do quá trớn ấy.

3. Thương yêu đội viên

Cán bộ phải thương yêu đội viên. Đối với anh em ốm yếu, thương tật, cán bộ phải trông nom, thǎm hỏi. Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ. Cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt. Có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh và kế hoạch cấp trên đưa xuống, đội viên sẽ tích cực và triệt để thi hành. Phải khen thưởng các chiến sĩ có công, cất nhắc các cán bộ và đội viên tiến bộ, nhất là đối với những người đã ở trong quân đội lâu nǎm.

4. Tôn trọng nhân dân

Phải biết trọng nhân dân. Tôn trọng có nhiều cách, không phải ở chỗ chào hỏi kính thưa có lễ phép mà đủ. Không được phung phí nhân lực, vật lực của dân. Khi huy động nên vừa phải, không nên nhiều quá lãng phí vô ích. Phải khôn khéo tránh điều gì có hại cho đời sống nhân dân. Biết giúp đỡ nhân dân cũng là biết tôn trọng dân; mùa tới phải gặt hộ dân; dạy bình dân học vụ cho dân quân và bộ đội địa phương ở đó.

5. Giữ gìn của công, chiến lợi phẩm

Của công là do mồ hôi nước mắt của đồng bào góp lại. Bộ đội phải giữ gìn bảo vệ, không được hoang phí. Phải chấm dứt những hành động bán gạo của dân góp cho, làm hư hỏng dụng cụ, bắn phí đạn dược.

Chiến lợi phẩm cũng là của công, của nhân dân, của quốc gia, không phải của địch. Súng đạn, thuốc men, dụng cụ, lương thực là máu mủ của đồng bào. Chiến sĩ ta lại phải đổ máu mới lấy lại được. Phải biết thương tiếc, giữ gìn, bảo vệ. Không được phung phí, hoặc chiếm làm của riêng cá nhân, khi canh gác phải biết thu dọn cho ngǎn nắp, và che mưa nắng cho chu đáo.

6. Thành thật tự phê bình và phê bình

Trong báo cáo trình bày ở Hội nghị phải chú trọng điều đó. Tự phê bình và phê bình phải thật thà vạch khuyết điểm. Có lỗi mà không vạch ra không khác gì người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc. Làm nhiều công việc thì khó mà hoàn toàn tránh khỏi khuyết điểm. Cho nên phải dùng cách phê bình và tự phê bình để giúp nhau sửa chữa, và kiên quyết sửa chữa để cùng nhau tiến bộ. Vạch khuyết điểm để sửa chữa, nhưng cũng phải nêu ưu điểm để phát huy. Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cao cấp phải làm gương trước.

*

*      *

Chiến dịch này có nhiều kinh nghiệm, tốt xấu đều có, cần phải tổng kết, phổ biến và học tập. Tóm lại có mấy điểm chính:

1. Trung ương lãnh đạo sáng suốt. Các cấp địa phương chỉ đạo đúng đắn. Các cơ quan Quân, Dân, Chính đoàn kết, phối hợp chặt chẽ, hành động nhất trí.

2. Chiến sĩ ta rất hǎng hái, anh dũng. Những gương chặt nốt tay bị thương cho dễ xung phong, ôm thuốc nổ nhảy xổ vào công sự địch, nhịn đói 3, 4 ngày đánh vẫn cứ hǎng, tích cực và quả cảm chiến đấu, v.v. đã tỏ rõ điều đó.

3. Nhân dân ta rất tốt. Chưa bao giờ có những đoàn phụ nữ Kinh, Mán, Thổ, Nùng, v.v. đi tiếp tế vận tải đông đảo như vậy. Khó nhọc, khổ sở, nguy hiểm, mà vẫn hǎng hái, vui vẻ, dũng cảm. Thật là đáng khâm phục. Được như vậy một phần là do đồng chí Ninh và cán bộ Liên khu đã làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, một phần thì do đồng bào nồng nàn yêu nước, hǎng hái hy sinh.

4. Giặc chủ quan, khinh địch, không ngờ ta mạnh như vậy và tiến bộ nhanh như vậy, nên chúng hớ hênh không đề phòng cẩn thận.

Đó là những kinh nghiệm lớn. Khi báo cáo tổng kết phải nêu lên.

NHỮNG ĐIỂM KHÁC CẦN CHÚ Ý

1. Về tuyên truyền

Địch tuyên truyền cho ta nhiều hơn. Ta chưa tập trung hết mọi phương tiện và huy động hết mọi khả nǎng cho nên thông tin rất chậm, phổ biến không rộng. Chiến dịch kết thúc ngày 15-10 mà mãi đến 30-10 nhân dân và cán bộ nhiều nơi chưa biết, hoặc mới biết qua loa, hoặc biết mà không biết cách phổ biến. Tuyên truyền trong tù binh, binh lính địch và tuyên truyền quốc tế cũng rất kém. Ta chưa biết trích những câu đǎng trong các báo địch oán trách bọn chỉ huy, bọn chính khách, bọn chính quyền thực dân lo ǎn chơi, tranh tư lợi, trong lúc binh lính tử trận “không hương hoa, không nước mắt” để làm truyền đơn địch vận, để giải thích cho tù binh và tuyên truyền cho nhân dân trong vùng tạm bị chiếm.

2. Chớ chủ quan, khinh địch

Chớ chủ quan tếu, cho rằng từ nay về sau sẽ thắng lợi mãi, không gặp khó khǎn thất bại nữa. Trận thắng này mới chỉ là một thắng lợi bước đầu, ta còn phải cố gắng nhiều, giành nhiều thắng lợi như thế hay lớn hơn nữa mới chuyển sang tổng phản công được. Từ nay cho đến khi hoàn toàn thắng lợi, ta còn gặp nhiều khó khǎn, có thể còn phải qua nhiều thất bại. Đánh nhau có thắng có bại là thường. Điều cốt yếu là ta giành được thắng lợi cuối cùng. Phải dạy cho tất cả cán bộ, đội viên và nhân dân hiểu rõ như vậy, để thắng không kiêu, bại không nản, luôn luôn nỗ lực, cố gắng vượt mọi khó khǎn gian khổ, tiến tới thắng lợi cuối cùng.

Chớ khinh địch. Không phải địch co lại để nằm yên, mà co lại để rồi nhảy ra. Chúng đang cố tranh thủ thời gian chuẩn bị để trả thù. Trong lúc chờ đợi, địch ra sức oanh tạc, bắn phá để khủng bố tinh thần ta như ở Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Giang vừa rồi.

3. Phải tranh thủ thời gian

Ta cũng phải tranh thủ thời gian chuẩn bị. Đó là một điều kiện để thắng đối phương. Trong quân sự, thời gian rất là quan trọng, điều kiện thiên thời đứng vào bậc nhất, trước địa lợi và nhân hoà. Có tranh thủ thời gian, mới bảo đảm được yếu tố thắng địch. Cũng để tranh thủ thời gian mà Hội nghị này phải họp ngắn. Báo cáo phải gọn gàng nêu cho được điểm chính cần thiết, không nên nói dài dòng, mất thì giờ vô ích.

4. Điều cuối cùng là phải tuyệt đối giữ bí mật

Bí mật là một điều rất quan trọng. Tất cả mọi người đều phải giữ bí mật. Phải tìm mọi cách giữ bí mật cho tất cả mọi công việc, trong tất cả mọi trường hợp: trong quán nước, trong câu chuyện, trong công việc, nhất nhất đều phải giữ bí mật. Riêng bộ đội và các cơ quan giữ bí mật chưa đủ. Phải dạy cho dân biết giữ bí mật mới có bí mật hoàn toàn. Giữ được bí mật tức là một bước thắng lợi rồi.

Tất cả những điều trên, Hội nghị này phải giải quyết một phần. Sau hội nghị quyết tâm thực hiện được 8 phần 10 nữa thì nhất định các trận sau sẽ thắng.

Đảng, Chính phủ và nhân dân kêu gọi tất cả cán bộ và tất cả chiến sĩ phải làm cho bằng được.

Nói khoảng nǎm 1950.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, t.II, tr.41-45.
cpv.org.vn