Archive | Tháng Sáu 2012

Khó trả lời (2-7-1952)

Hồi đầu nǎm nay, 9 công đoàn Mỹ gửi thư hỏi Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ. Nội dung bức thư như sau:

“Thưa Bộ trưởng, vì lẽ gì mà đại biểu công đoàn Mỹ không được đi ra nước ngoài?

Người ta nói đi nhắc lại rằng: Dân Mỹ nên biết rõ sự thực ở châu Âu, nhất là sự thực ở Đông Âu, ở Liên Xô.

Chúng tôi đồng ý. Càng biết rõ, càng hiểu nhau, càng dễ giữ gìn hoà bình. Song, thưa Bộ trưởng, vì sao ông lại ngǎn trở đại biểu công đoàn Mỹ đi ra nước ngoài. Hiện nay, Bộ Ngoại giao đã thu giấy thông hành của 15 cán bộ công đoàn. Vì sao? Nhân dân Mỹ cần phải phản đối cái lưới sắt mà Bộ Ngoại giao Mỹ đã giǎng ra đó.

Muốn dân chủ, thì người ta phải thực hiện dân chủ ở nước mình trước”.

Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ giả câm giả điếc, không trả lời.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 2112, ngày 2-7-1952.
cpv.org.vn

Một anh “mẹ thương binh” (3-7-1952)

Bất kỳ ở địa vị nào, làm công việc gì, hễ cố gắng thi đua, làm tròn nhiệm vụ, tức là anh hùng.

Đồng chí Đàm Vǎn Hoạch là một y tá, nǎm nay 21 tuổi, rất hǎng hái, tận tuỵ, dẻo dai. Một mình làm công việc của 2 người, mà vẫn làm đến nơi đến chốn, làm vượt mức.

Khi đơn vị nghỉ, thì đồng chí Hoạch sǎn sóc đến từng người. Dạy cho từng người giữ vệ sinh, biết cách phòng ngừa bệnh. Trông nom đến cơm ǎn, áo mặc của anh em được ngon lành, sạch sẽ. Mỗi tối, lúc mọi người đi ngủ, đồng chí Hoạch đi thǎm từng người xem đã rửa chân, chǎng màn, đắp chǎn chưa. Đồng chí Hoạch cổ động mọi người ǎn trở đầu đũa, ǎn nhai kỹ, cắt móng tay, sắm ống tǎm, v.v.. Lúc đầu, anh em thấy phiền, phản đối không làm; song đồng chí Hoạch vẫn bền gan, chịu khó, khuyến khích mãi, sau ai cũng vui lòng làm theo. Ngoài công việc y tá, đồng chí Hoạch luôn luôn giúp anh em học vǎn hoá và chính trị. Có khi đưa tiền lương của mình mua sắm giải thưởng cho anh em thi đua.

Khi đơn vị đi đường, thì đồng chí Hoạch động viên anh em khoẻ mang hộ súng đạn cho anh em yếu mệt. Đến nơi, anh em nghỉ ngơi, thì đồng chí Hoạch chǎm lo thức ǎn, chỗ ngủ, tìm suối nước, giúp lấy củi cho anh em. Với những anh em đau ốm, đồng chí Hoạch nấu giúp nước xông, giặt quần áo, lo cơm cháo, đổ cứt đái, không từ việc gì.

Lúc đánh giặc, thì mặc dầu nguy hiểm, đồng chí Hoạch vẫn đi sát bộ đội. Bǎng bó thương binh, rồi cõng người và mang súng đến chỗ an toàn. Trong mấy chiến dịch, đồng chí Hoạch đã cõng gần 100 thương binh. Nói tóm lại: đồng chí Hoạch đã làm đúng như lời Hồ Chủ tịch: “Người làm thuốc phải như người mẹ hiền, chị tốt”. Vì vậy anh em đã tặng đồng chí Hoạch cái tên vinh dự là người “Mẹ thương binh”, và toàn quân đã cử đồng chí ấy đi dự Đại hội toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu. Đồng chí Hoạch là một gương mẫu cho toàn thể cán bộ và nhân viên quân y ta.

C.B.

Báo Nhân dân, số 64, ngày 3-7-1952.
cpv.org.vn

Mỹ lại thất bại to (5-7-1952)

Đế quốc Mỹ âm mưu gây chiến tranh về mọi mặt: quân sự, chính trị, kinh tế… và đã thất bại nhiều về mọi mặt. Vài thí dụ:

Về quân sự – ở Triều Tiên, vì thất bại mà Mỹ đã phải đàm phán, Mỹ bắt các nước Tây Âu tổ chức 50 sư đoàn trong nǎm nay nhưng không tổ chức đủ. Trước Mỹ định Pháp phải có 12 sư đoàn, nhưng nay phải bớt xuống 10 sư đoàn. Mà sự thật chỉ được 5 sư đoàn. Vì chiến tranh ở Việt Nam đã nuốt hết phần lớn cán bộ và tiền bạc của Pháp.

Về chính trị – Mỹ bắt các nước Tây Âu gây một tinh thần chiến tranh sôi nổi. Nhưng theo cuộc trưng cầu ý kiến ở Pháp, thì nhân dân càng ngày càng không tin có chiến tranh. Số người tin chiến tranh giảm bớt như sau: Nǎm 1945 là 50 phần 100. Nǎm 1947 còn 35 phần 100. Nǎm 1949 chỉ 14 phần 100, v.v..

Về kinh tế – Mỹ cấm các nước phe Mỹ không được buôn bán với Liên Xô và các nước dân chủ mới. Nhưng hồi tháng 4 trong cuộc Hội nghị kinh tế thế giới ở Mạc Tư Khoa, có hơn 500 người, đại biểu cho 80 nước đã đến dự. Và các nhóm tư bản Anh, Pháp, ý, Nhật… đã ký kết buôn bán hàng nghìn triệu đôla với Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ mới. Thế là chính sách của Mỹ bao vây kinh tế, đã bị chọc thủng. Đó lại là một thất bại đau đớn cho Mỹ.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 2114, ngày 5-7-1952.
cpv.org.vn

Bài nói tại Hội nghị chiến tranh du kích (7-1952)

I- Các cô các chú ở đây đều cố gắng, có thành tích, gian khổ, người nhiều người ít. Đó là điều đáng khen. Nhưng nên nhớ thành tích đó không phải là thành tích của riêng ai mà là chung của bộ đội, của đồng bào. Nếu các chú, các cô có tài nǎng mà không có bộ đội và đồng bào giúp đỡ thì tài nǎng cũng vô dụng.

II- Từ chiến dịch Hoà Bình đến giờ, so sánh tình hình du kích vùng sau lưng địch nǎm nay với nǎm ngoái thì đã phát triển khá hơn nhiều, nhất là đồng bào và cán bộ tự tin mình có thể thắng được địch. Đó là rất đúng, là một điều thay đổi rất tốt.

Các cô, các chú phải biết cuộc kháng chiến của ta là trường kỳ gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi. Trường là dài, tức là đánh bao giờ địch bại, địch “cút”, thế mới là trường. Đế quốc Pháp áp bức ta hơn 80 nǎm cũng như cái bệnh nặng đã lâu ngày, không phải chữa một ngày, một nǎm mà khỏi được ngay. Chớ có vội vàng muốn đánh ngay thắng ngay, thế là chủ quan. Trường kỳ thì phải gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi.

Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh. Trông vào sức mình nhất là ở sau lưng địch thì lại càng phải đặc biệt chú ý. Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập.

Kháng chiến phải trường kỳ, thì du kích ở sau lưng địch phải làm thế nào? Nhiệm vụ là gì? Du kích cũng phải trường kỳ. Nhiệm vụ hiện nay là phá âm mưu của địch “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Địch không thể lấy được nhân lực, vật lực của ta ở vùng tự do, chúng phải vơ vét ở địch hậu, ta phải phá. Phá được âm mưu đó là góp một phần lớn vào công việc chuẩn bị tổng phản công và địch sẽ yếu dần đi, ta sẽ thắng, địch sẽ thua.

III- ở vùng sau lưng địch, các cô, các chú có nhiều ưu điểm: chịu khó, gan dạ, đoàn kết. Về ưu điểm Bác không nói, ở đây Bác chỉ nêu mấy khuyết điểm chính để sửa chữa:

1. Cán bộ quân, dân, chính, Đảng không nghiên cứu rõ ràng tỉ mỉ, sâu sắc những chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương, Chính phủ gửi xuống. Đó là một khuyết điểm lớn. Trung ương, Chính phủ thấy rộng, tập trung tình hình, kinh nghiệm ở khắp nơi để nghiên cứu mới làm ra chỉ thị. Cán bộ quân, dân, chính, Đảng phải nghiên cứu cho kỹ những chỉ thị đó để áp dụng cho hợp với hoàn cảnh thiết thực của địa phương. Vì địa phương thấy hẹp, chỉ thấy cây mà không thấy cả cái rừng, chỉ thấy một mà không thấy mười, cho nên có một công việc mà địa phương cho là thành công nhưng đem ghép với tình hình chung thì lại là thất bại, đó là do không nghiên cứu kỹ chỉ thị của Chính phủ, Trung ương.

2. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích không nên chỉ biết đánh. Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyền giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt, vì đánh không thể tách rời được với chính trị và kinh tế. Nếu chỉ biết đánh mà không nghĩ đến kinh tế thì khi hết gạo sẽ không đánh được. Cho nên đánh là cố nhiên, nhưng không phải là chỉ đánh thôi mà phải lo cả các mặt khác nữa.

3. Khuyết điểm nữa là chủ lực, bộ đội địa phương và du kích đều muốn đánh to, ǎn to, thiếu nghiên cứu hiểu rõ tình hình, khả nǎng ta và địch một cách tỉ mỉ để định mục đích và cách đánh thích hợp. Nên khi thực hành mắc nhiều khuyết điểm. Bất kỳ ở đâu phải chắc chắn thắng thì mới đánh, còn lúc nào chưa chắc thì không nên đánh, nhất là mình lại nằm trong vòng vây của địch.

4. Về cán bộ thì cán bộ quân sự chỉ biết quân sự, cán bộ chính quyền chỉ biết chính quyền, cán bộ Đảng chỉ biết Đảng như thế chẳng khác gì người đứng một chân. Cán bộ chỉ biết một mặt là có hại, không vững, vì các mặt quân, dân, chính, Đảng kết hợp lại thành một khối, thiếu một mặt thì không mạnh, không hoàn toàn. Cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền hầu như khoán trắng việc đánh giặc cho quân sự, không biết rằng Đảng phải chǎm lo lãnh đạo mọi mặt, lúc đánh nhau, tất cả mọi mặt phải gắn liền với nhau thì mới thắng được.

5. Riêng về cán bộ Đảng một phần vì điều kiện khó khǎn nhưng phần lớn vì không biết nắm vững khâu chính tức là nền tảng cơ sở tổ chức của Đảng, nên hiện nay trong vùng tạm bị chiếm cơ sở Đảng chưa vững chắc. Phải biết rằng nếu tổ chức Đảng mạnh thì mọi công việc đều chạy.

6. Công tác phòng gian chưa chu đáo, chưa giữ được bí mật.

7. Công tác nguỵ vận tuy có thành tích nhưng không đều. Chỗ nào cán bộ có sáng kiến thì làm khá, nơi nào không sáng kiến thì làm uể oải. Địch lập hương dũng, bảo an. Phải phá những cái gai góc ấy đi. Các cô, các chú phải cùng nhau trao đổi kinh nghiệm mà đẩy mạnh công tác nguỵ vận.

8. Nói về tuyên truyền ở sau lưng địch thì cũng như hồi trước Cách mạng Tháng Tám, có Nhật, Pháp, Việt gian mà ta vẫn tuyên truyền được nhân dân là nhờ có sáng kiến, ngoài tuyên truyền bằng miệng còn tuyên truyền bằng báo chí. Bây giờ Trung ương, Chính phủ cũng đã cố gắng đưa báo Cứu quốc, Nhân dân vào vùng địch, nhưng vẫn chưa đủ và gặp khó khǎn. ở địch hậu phải tạo ra những tờ báo in bằng đá, bằng đất, không cần to lắm và cũng không cần in ra hằng ngày, cốt sao phổ biến tuyên truyền đường lối chính sách của Chính phủ, tuyên truyền thiết thực làm dân hiểu được thắng lợi của ta, thua thiệt và tội ác của giặc. Đó là công tác giáo dục của Đảng.

IV- Bây giờ nói đến công việc phải làm:

1. Trước hết nội bộ, tức là quân, dân, chính, Đảng phải đoàn kết chặt chẽ. Có việc gì, phải bàn tính kỹ lưỡng, tư tưởng, hành động phải thống nhất, phải giúp đỡ nhau, thành thực phê bình và tự phê bình để cùng nhau tiến bộ.

2. Phải nghiên cứu kỹ, áp dụng đúng và triệt để thi hành những chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương và của Chính phủ.

3. Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi. Muốn thế phải bảo vệ, giúp đỡ, giáo dục nhân dân. Giáo dục không phải là đưa sách vở bắt buộc dân phải học, làm thế tức là phản lại lợi ích của dân, của cách mạng, là quan liêu, mệnh lệnh. Phải vận động nhân dân, để dân tự nguyện, tự giác, nếu bắt buộc thì chỉ có thể có kết quả ngay lúc đó thôi, còn sau thì không thấm.

4. Bộ đội chủ lực trong địch hậu có nhiệm vụ giúp đỡ bộ đội địa phương và dân quân du kích về tổ chức, huấn luyện mọi mặt, giúp đỡ chứ không bao biện. Hơn nữa phải giúp đỡ cả nhân dân. Điểm này có đơn vị đã làm được, có đơn vị còn thiếu sót. Phương ngôn có câu “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, thế nghĩa là dựa vào vùng địch đánh du kích, phải biết chiến thuật du kích chứ không chính quy như ở ngoài. Tuyệt đối chớ có ham ǎn to, đánh to, trừ những hoàn cảnh 100% chắc thắng.

5. Mục đích của du kích chiến cũng không phải là ǎn to đánh lớn mà phải tỉa dần, đánh làm cho nó ǎn không ngon, ngủ không yên, không thở được, bị hao mòn về tinh thần và vật chất rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt. Phải làm sao cho địch đi đến đâu cũng có du kích đánh, ít nhất cũng bị quả mìn, bị vài phát súng. Binh lính Pháp viết trong thư gửi cho nhau: “ở Việt Nam cái hang đá nào, cái bụi nào, ao nào cũng có cái chết ẩn ở đó”…

Nếu các cô, các chú các địa phương sửa được những khuyết điểm và làm đúng những công việc như lời Bác vừa nói thì nhất định thắng lợi. Nhưng phải nhớ rằng còn một thằng địch trên đất nước ta thì chưa gọi là thắng lợi hoàn toàn. Trước đây, lực lượng địch mạnh hơn ta về trang bị, về kinh nghiệm, nhưng nó vẫn cứ thua ta vì nó chủ quan. Vậy các cô, các chú chớ có chủ quan khinh địch thì thắng lợi.

Về địa phương, các cô, các chú phải nói với anh em, với đồng bào thi đua về mọi mặt: đánh giặc lập công, tổ chức nguỵ vận, địch vận, tǎng gia sản xuất và tiết kiệm, “thực túc binh cường” nếu không tǎng gia và tiết kiệm thì không có lương thực ǎn để đánh giặc. Các cô, các chú có hứa làm được không ? (Mọi người đáp có, vang hội trường). Hứa thì phải làm bằng được.

Một điểm nữa là phải báo cáo thành tích của bộ đội và đồng bào lên Trung ương, Chính phủ để khen thưởng, vì khen thưởng cũng là một cách giáo dục và cổ động. Bộ đội, đồng bào có thành tích mà Trung ương, Chính phủ khen thưởng thì mới hǎng hái hơn và những người chưa có thành tích sẽ thi đua tích cực. Từ trước đến nay địa phương rất ít báo cáo, bây giờ các cô, các chú phải tích cực làm.

Bác dặn thêm các cô, các chú về nói với đồng bào là Bác, Trung ương Đảng, Chính phủ gửi lời thǎm đồng bào, thǎm các cán bộ và chiến sĩ, đặc biệt là các lão du kích, nữ du kích và các cháu nhi đồng kháng chiến. Bác, Trung ương và Chính phủ sung sướng và chắc chắn là bộ đội và đồng bào địch hậu thực hiện đúng những đường lối chủ trương kháng chiến để mau thắng lợi.

Nói tháng 7-1952.
Sách Hồ Chí Minh: Vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.135-139.
cpv.org.vn

Nhân dân Pháp thắng một trận to (21-7-1952)

Do Đảng Cộng sản Pháp lãnh đạo, phong trào chống Mỹ và chống chiến tranh (nhất là chống chiến tranh ở Việt Nam) ngày càng mạnh, từ công nhân đến công giáo đều hǎng hái tham gia.

Mỹ lo sợ, chúng ra lệnh cho Chính phủ Pháp tìm cách dập tắt phong trào.

Trong dịp nhân dân Pháp biểu tình chống tên tướng Mỹ là Rítuây (28-5), Chính phủ Pháp động viên 3 vạn cảnh sát đi đàn áp. Đồng thời mấy trǎm công an ào ạt đến vây trụ sở và toà báo của Đảng Cộng sản, lục soát suốt một ngày. Chúng đã đánh cắp 4 tài liệu.

Chúng bắt thư ký Đảng Cộng sản là đồng chí Đuyclô và nhiều cán bộ khác.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Pháp đã tuyên bố: sẽ giao cho toà án quân sự, bí mật lên án đồng chí Đuyclô về tội “làm rối loạn sự trị an trong nước và ngoài nước”; và có thể sẽ cấm Đảng Cộng sản hoạt động.

Quan thày Mỹ rất hài lòng. Nhưng … Chẳng những nhân dân Pháp mà cả giai cấp lao động thế giới nổi lên ầm ầm, ủng hộ đồng chí Đuyclô, phản đối Chính phủ Pháp.

Chính phủ phản động Pháp lo sợ. Chúng phải buộc lòng thả đồng chí Đuyclô, hôm 1-7. Thế là phản động Pháp và Mỹ đã thua một keo to. Mà nhân dân Pháp đã thắng một trận lớn.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 2125,
ngày 21-7-1952.
cpv.org.vn

10 điều ghi nhớ và thực hành (24-7-1952)

Tháng 9 nǎm ngoái, Mặt trận Liên – Việt định ra 10 điều ghi nhớ của hội viên Liên – Việt, để toàn dân noi theo.

Tháng 5 vừa rồi, Hội nghị Uỷ ban Liên – Việt toàn quốc lần thứ 3 bổ sung cho 10 điều ấy được đầy đủ hơn.

Trong 10 điều ấy, điều 1 đến điều 4 đều cùng một ý nghĩa liên quan với nhau. Tức là: thật thà đoàn kết, ra sức thực hiện những chủ trương và chính sách của Chính phủ và Mặt trận. Trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Phải kiên quyết kháng chiến để tiêu diệt giặc Pháp, bọn can thiệp Mỹ và lũ chó sǎn của chúng là Việt gian bù nhìn, để tranh lại độc lập thực sự cho Tổ quốc, tự do hạnh phúc cho đồng bào.

Điều 5 và điều 6 cùng một ý nghĩa. Tức là: ủng hộ bộ đội đánh giặc giữ nước, và giữ bí mật.

Giữ bí mật là một điều rất cần thiết trong việc ủng hộ bộ đội. Trong chiến tranh “biết ta, biết địch thì trǎm trận đều thắng”. Trái lại, nếu ta sơ hở, không biết giữ bí mật, để cho địch biết cơ quan của ta, bộ đội của ta, hành động của ta, thì chúng sẽ tìm cách đối phó, khiến ta không thể thắng chúng.

Chiến dịch Hoà Bình và đặc biệt trong trận Phát Diệm, ta thắng to, một phần vì chiến thuật ta khôn khéo, bộ đội ta dũng cảm. Nhưng một phần cũng vì bộ đội và đồng bào biết giữ bí mật. Đó là những kinh nghiệm rõ ràng.

ở vùng tạm bị chiếm, ta phát triển mạnh du kích, ta thắng lợi trong những trận chống càn quét và phá tề trừ gian, cũng vì đồng bào từ trẻ đến già đều biết giữ bí mật. Có những cụ già 70, 80 và những em bé 9, 10 tuổi bị giặc tra tấn cực kỳ dã man, có khi bị chúng đánh chết, nhưng vẫn kiên quyết giữ bí mật cho bộ đội và cán bộ. Đó là những tấm gương anh dũng mà cán bộ, bộ đội và nhân dân ta cần phải noi theo.

Chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng: Do thám là một thứ vũ khí rất lợi hại. Giặc tung mật thám đến các nơi. Bọn mật thám giả làm người buôn bán hoặc làm nghề khác để dò la tin tức quân sự, kinh tế và chính trị của ta. Do những tin tức đó mà giặc đặt kế hoạch phá hoại ta.

Vì không hiểu cái nguy hiểm ấy, nhiều người hay bô lô ba la, gặp gì cũng nói, gặp ai cũng nói, ở đâu cũng nói, không biết giữ bí mật. Kết quả là vô tình mà giúp cho giặc !

Một cách giữ bí mật dễ nhất và có hiệu quả nhất là làm cho mọi người đều thực hành đúng cách “3 không”. Nghĩa là ngoài những người có trách nhiệm, thì dù ai hỏi gì cũng cứ trả lời: “Tôi không nghe gì, không thấy gì, không biết gì”. Chúng ta phải nhớ câu: “Rừng có mạch, vách có tai; ta trong nói chuyện, giặc ngoài lắng nghe”.

Điều 7 là: Quân đội thì thi đua diệt giặc lập công, nhân dân thì thi đua tǎng gia sản xuất. Mọi người đều thi đua học tập để tiến bộ. Muốn tiến bộ, phải thực hành điều 8. Tức là: thật thà tự phê bình và phê bình, giữ đúng cần kiệm liêm chính, ra sức chống bệnh quan liêu và nạn tham ô, lãng phí.

Vì người phụ trách mắc bệnh quan liêu: xa công việc thực tế, xa cán bộ, xa quần chúng, cho nên có nạn tham ô, lãng phí.

Đồng bào luôn luôn vui lòng đóng góp, bộ đội luôn sẵn sàng hy sinh để kháng chiến, kiến quốc. Trong lúc đó, một bọn không có lương tâm, tham ô, lấy của công làm của tư, hoặc lãng phí, tiêu xài bừa bãi; chúng làm thiệt hại đến bộ đội, đến nhân dân, đến Chính phủ và đoàn thể. Như vậy không khác gì giúp cho giặc phá hoại ta. Vì vậy, mọi người đều có quyền và có nhiệm vụ chống quan liêu, tham ô, lãng phí.

Điều 9 và 10 là gắn chặt tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế, gắn chặt công cuộc kháng chiến cứu nước với công cuộc giữ gìn hoà bình thế giới. Nước ta là một bộ phận của thế giới. Bọn đế quốc do Mỹ cầm đầu đang mưu gây chiến tranh thứ ba. Hoà bình thế giới giữ được tức là phe Mỹ thua, tức là có lợi cho kháng chiến của ta. Ta kháng chiến thắng lợi tức là làm yếu một phần lực lượng của bọn đế quốc, tức là góp một phần thiết thực vào công cuộc giữ gìn hoà bình thế giới. Hai điều đó quan hệ khǎng khít với nhau.

10 điều ghi nhớ là cả một chương trình tóm tắt và thiết thực của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc; là “công ước yêu nước” của mọi người dân Việt Nam.

Để mọi người đều ghi nhớ và thực hành, thì ở các đơn vị bộ đội, xí nghiệp, cơ quan, trường học, gia đình, thôn xóm, đường phố, chợ quán và những nơi khác có nhiều người đi lại, ta đều cần viết ra rõ ràng và dán lên tử tế, để mọi người luôn luôn trông thấy, luôn ghi nhớ, luôn tự hỏi: mình đã làm đúng 10 điều ấy chưa?

Trong các cuộc hội nghị, mít tinh, chỉnh huấn, cần nhắc đi nhắc lại 10 điều ấy, để mọi người tự kiểm thảo và kiểm thảo những người xung quanh mình.

Nếu chúng ta làm được như thế – mà chúng ta quyết làm cho được như thế – thì sẽ có kết quả rất tốt đẹp.

C.B.

Báo Nhân dân, số 67, ngày 24-7-1952.
cpv.org.vn

Chiến tranh nhồi sọ (25-7-1952)

Mỹ chuẩn bị chiến tranh cả về mặt tinh thần. Chúng dùng báo chí, tranh ảnh, sách vở, ca hát, chớp bóng… đủ các thứ. Chỉ ở Pháp mà thôi, mỗi nǎm chúng tiêu 2.450 triệu quan vào việc tuyên truyền nhồi sọ. Chúng không ra mặt. ở nước nào chúng mua chuộc người nước ấy làm thay cho chúng.

Bộ trưởng tuyên truyền Mỹ nói: mỗi nǎm, các báo chí nước ngoài đǎng tài liệu tuyên truyền của Mỹ cộng lại hơn 4 vạn trang báo (bằng 16 vạn trang báo Cứu quốc). Mỗi nǎm ở các nước in hơn 200 quyển sách khen Mỹ và chống cộng, mỗi quyển ra từ 3 nghìn đến 10 vạn bản.

ở các nước có hơn 400 cơ quan làm việc tuyên truyền cho Mỹ…

Mỹ còn lập nhà thương, trường học, hội từ thiện, vân vân, ở các nước, để làm cơ quan tuyên truyền và ổ mật thám.

Hiện nay, tại những vùng tạm bị chiếm ở nước ta, Mỹ đang ra sức xâm lược vǎn hoá để hủ hoá và gieo rắc bệnh phục Mỹ, thân Mỹ, sợ Mỹ vào nhân dân, nhất là vào thanh niên ở những vùng ấy.

Đó là một điều mà cán bộ giáo dục và tuyên truyền ta phải đặc biệt chú ý và phải ra sức chống lại.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 2128, ngày 25-7-1952.
cpv.org.vn

Thư gửi cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh, cựu binh nhân ngày thương binh tử sĩ 27-7-1952 (26-7-1952)

Thưa cụ,

Mỗi nǎm, đến ngày này, thì đồng bào càng nhớ đến anh em thương binh, bệnh binh, những người đã hy sinh một phần xương máu để bảo vệ nhân dân, giữ gìn Tổ quốc.

Tôi xin gửi cụ một tháng lương, nhờ cụ chuyển làm quà cho anh em với lời thân ái hỏi thǎm của tôi.

Tôi rất vui lòng biết rằng đồng bào mấy xã ở Thanh Hoá và Phú Thọ đã sốt sắng giúp đỡ anh em thương binh, bệnh binh, bằng cách đón anh em về xã và giúp đỡ anh em gây cơ sở làm ǎn.

Đó là một việc rất tốt. Nó có thể phổ biến đến tỉnh khác, xã khác. Về vấn đề này, tôi có vài ý kiến như sau:

Về phần đồng bào:

– Nên coi đó là một nghĩa vụ của nhân dân đối với những chiến sĩ bị thương, bị bệnh; không nên coi đó là một việc “làm phúc”.

– Trong khi đón anh em về xã, thì chính quyền và đoàn thể địa phương (trước hết là nông hội, phụ nữ, thanh niên) cần phải tổ chức sẵn sàng việc giúp đỡ cho anh em có thể sớm tự túc dần dần (giúp đỡ tinh thần và vật chất).

– Xã nào có ruộng đất công và khéo tổ chức thì đều có thể giúp.

Về phần anh em thương binh, bệnh binh:

– Phải hoà mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân.

– Phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật.

– Chớ bi quan chán nản. Phải luôn luôn cố gắng.

Trước kia, anh em đã xung phong diệt giặc thì ngày nay anh em sẽ tuỳ điều kiện mà xung phong tǎng gia sản xuất. Đồng chí Nêdốp (Liên Xô) cụt hai chân, đồng chí Lý (Trung Quốc) đui hai mắt mà vẫn trở nên anh hùng lao động. ở nước ta, chú Tấn, chú Cầu và một số đồng chí khác, cụt một tay mà công tác vẫn hǎng. Đó là những kiểu mẫu cho các anh em cố gắng noi theo.

Đồng bào sẵn sàng giúp, Chính phủ ra sức nâng đỡ, anh em có quyết tâm, thì anh em nhất định dần dần tự túc được.

Chúc cụ mạnh khoẻ.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 7 nǎm 1954
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 2129, ngày 26-7-1952.
cpv.org.vn

Chống quan liêu, tham ô, lãng phí (31-7-1952)

Vì quan liêu, tham ô, lãng phí có hại cho nhân dân, cho Chính phủ, cho đoàn thể, cho kháng chiến và kiến quốc, nên mọi người có quyền và có nghĩa vụ phải chống. Bước đầu thì chống bằng cách kiểm thảo và phê bình. Còn những người, những cơ quan hoặc đoàn thể nào phạm những điều ấy, thì cần phải thật thà và công khai tự kiểm thảo và kiên quyết sửa đổi.

Gần đây, nhân dân và báo chí đã bắt đầu (tuy còn e dè, thưa thớt) phê bình. Song những tổ chức hoặc cơ quan bị phê bình thì im lìm, không đǎng báo tự phê bình, không tìm cách sửa chữa. Đó là thái độ “bưng mắt, bắt chim”, thái độ “giấu bệnh sợ thuốc”, một thái độ không thật thà, không đứng đắn. Mong những ai, những cơ quan nào đã được nhân dân hoặc báo chí phê bình, thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, trên báo chí.

Chúng ta nhiều công việc, ít kinh nghiệm, không tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, mà sợ không kiên quyết tự kiểm thảo và sửa chữa.

Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần kiệm liêm chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc. Đó là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi người chúng ta.

C.B.

Báo Nhân dân, số 68, ngày 31-7-1952.
cpv.org.vn

Mâu thuẫn giữa Mỹ và Pháp (31-7-1952)

Chính phủ phản động Pháp ngày càng ươn hèn trước mặt quan thầy Mỹ. Mỹ ngày càng tỏ thái độ hoành hành đối với Pháp. Và chính sách gây chiến của Mỹ ngày càng tai hại cho Pháp.

Do đó, ở Pháp, phong trào chống Mỹ ngày càng rộng. Phong trào đó không những bao gồm những tầng lớp lao động và tiểu tư sản, mà đã lan đến một phần giai cấp tư sản Pháp. Một chứng cớ rõ rệt:

Gioanh (Juin) là một tướng to nhất (và cừ nhất) của Pháp. Trong quân đội của khối Bắc Đại Tây Dương, người Mỹ làm tổng tư lệnh cả hải, lục, không quân, mà Gioanh thì làm tổng tư lệnh lục quân. Thế là Gioanh ở một địa vị rất quan trọng, biết hết chính sách và âm mưu của Mỹ, của Pháp và của khối Mỹ.

Hạ tuần tháng 6 vừa rồi, Gioanh diễn thuyết, tỏ ý rất phẫn uất đối với Mỹ. Đại khái y nói: “chiến tranh ở Việt Nam là một vấn đề rất thương tâm, vì nó làm cho Pháp chết rất nhiều người, tốn rất nhiều tiền. Chiến tranh ở Việt Nam mỗi nǎm tốn cho Pháp 500 ngàn triệu. Với số tiền đó, Pháp có thể tổ chức một đội quân mạnh nhất thế giới. Mà Pháp cần có một đội quân mạnh nhất thế giới… Hiện nay, Pháp không mong Mỹ phái quân đội đến Việt Nam, nhưng Pháp có quyền đòi tiền Mỹ… Nhiều lần, tôi đã nói cho Mỹ rõ tình hình ấy. Tôi nói với người Mỹ: Nếu các ông không hiểu tình hình Pháp, Pháp sẽ bỏ ra khỏi Liên hợp quốc, và Chính phủ nào của Pháp dám làm như thế, sẽ là một Chính phủ vĩ đại trong lịch sử…”.

Tóm lại: Gioanh chống chính sách Mỹ .

Bài diễn thuyết đó đã làm cho dư luận Anh, Mỹ, Pháp rất xôn xao. Báo Anh và báo Mỹ thì phản đối và công kích rất kịch liệt. ở Pháp, có báo phản đối, có báo tán thành. Báo Chiến đấu (Combat) một tờ báo phản động, viết: “Thống chế Gioanh đã dám nói ra cái điều mà 350 đại biểu Quốc hội Pháp nghĩ thầm trong bụng, cái điều mà đại đa số người Pháp đã lên tiếng tán thành… Sự thật là một số bộ trưởng và đảng phái Pháp rất khó chịu, vì Mỹ can thiệp vào chính trị của Pháp, và càng ngày họ càng dự định một chính sách cứng cỏi và độc lập đối với Mỹ”.

Sau khi Gioanh diễn thuyết, Thủ tướng Pháp hoảng hốt, lập tức gọi Gioanh đến để mắng trách. Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử Pháp mà một thủ tướng mắng trách một thống chế.

Do đó, chúng ta thấy rằng: mâu thuẫn giữa Mỹ với Pháp ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa bọn thống trị Pháp cũng thêm sâu sắc. Mà phần lớn mâu thuẫn đó là vì Pháp thất bại ở Việt Nam. Vậy chúng ta phải cố gắng vượt mọi khó khǎn, ra sức kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Ta càng thắng lợi thì mâu thuẫn giữa bọn địch càng to, chúng càng bị chia rẽ, thế chúng càng yếu, thế ta càng mạnh, chúng càng thua, ta càng thắng. Thế tức là: khéo dùng tình hình địch để làm lợi cho tình hình ta.

C.B.

Báo Nhân dân, số 68, ngày 31-7-1952.
cpv.org.vn

Máy bay “phản lực” phản Mỹ (4-8-1952)

Mỹ và bè lũ thường khoe máy bay “phản lực” của chúng cừ lắm, để đe doạ người ta. Nhưng ngày nay chúng bị một tai nạn mà chúng gọi là “bệnh dịch”.

Báo Mỹ đǎng tin như sau:

Tháng trước, 225 sĩ quan lái máy bay “phản lực” kiên quyết không chịu lái nữa. Họ nói, dù bị 5 nǎm tù, họ cũng cam. (Họ là những người lái máy bay rất giỏi).

Bộ trưởng Bộ Không quân Mỹ nói: Trước đây, 55 phần 100 học sinh trường quân sự xin vào không quân. Ngày nay chỉ có 8 phần 100 thôi.

Hồi tháng 2, bốn sĩ quan Mỹ bị án tử hình vì không chịu lái máy bay ra trận ở Triều Tiên.

Những người lái máy bay ấy chỉ lái được 35 đến 50 tiếng đồng hồ (trong mấy nǎm, chứ không phải một lần). Sau đó thì tinh thần suy yếu, không lái được nữa.

ở Anh và ở Pháp cũng vậy. Thí dụ: ở hai trường bay quân sự Pháp, 95 phần 100 sĩ quan phải loại ra. Một trường dạy lái máy bay “phản lực” phải đóng cửa, vì không ai đến học.

Báo Mỹ nói thêm: Không biết vì sao, những người châu á lái máy bay, không hề mắc “bệnh dịch” ấy.

Thế là: Vũ khí tốt mà tinh thần hèn, thì cũng vô dụng.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 2135, ngày 4-8-1952
cpv.org.vn

Những bức thư của Bác Hồ gửi các cháu thiếu nhi nhân Ngày Quốc tế Thiếu nhi 1-6

Bác Hồ là người luôn quan tâm, chăm sóc giáo dục thiếu niên nhi đồng. Những lời dạy và bài viết của Người dành cho lứa tuổi thiếu nhi được xem như là một trong những di sản vô giá của dân tộc và của thế hệ trẻ nước ta. Đó cũng chính là những quan điểm, phương hướng mà Đảng, Nhà nước và các cấp có thẩm quyền đã, đang và sẽ lấy đó làm phương châm để giáo dục và rèn luyện thế hệ măng non của đất nước.

hcm doi song van hoaBác Hồ với các cháu thiếu niên, nhi đồng (Ảnh: Tư liệu)

Còn nhớ, tháng 7 năm 1926, Bác đã có ý định gửi một số gương mặt thiếu nhi tiêu biểu của nước ta sang đào tạo ở Liên Xô (cũ). Trong một bức thư gửi Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin. Người đã quan tâm đến một vấn đề rất nhỏ, Người hỏi các bạn Liên Xô rằng “Đến tháng nào thì ở Mátxcơva bắt đầu rét?”. Chỉ vì lý do là thiếu nhi nước ta đã quen với khí hậu khô nóng. Quả thật, tấm lòng đó của Bác đối với tuổi thơ đã gây những xúc động đặc biệt cho mọi người.

Những năm tháng trước Cách mạng Tháng Tám 1945, trong hoàn cảnh “vận nước gian nan”, Người đã đau lòng trước cảnh “Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng/ Học hành, giáo dục đã không/ Nhà nghèo lại phải làm công, cày bừa/ Sức còn yếu, tuổi còn thơ/ Mà đã khó nhọc cũng như người già/ Có khi lìa mẹ, lìa cha/ Đi ăn ở với người ta bên ngoài…”. Và mong muốn lớn của Bác lúc bấy giờ là “Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây/ Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng” … Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Người cũng có rất nhiều bài viết, ý kiến dưới rất nhiều hình thức đề cập đến tuổi thơ Việt Nam.

Trên báo Sự Thật, số 134 ra ngày 1/6/1950, đăng bức thư gửi thiếu  nhi  toàn  quốc  nhân  ngày 1-6. Bức thư với lời lẽ âu yếm, giản dị, dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc đã thể hiện được sự quan tâm, thương yêu hết mực của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta đối với tuổi thơ. Mở đầu bức thư, Người viết: “Các cháu yêu quý! Ngày 1-6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới. Đáng lẽ tất cả các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như trẻ con ở Liên Xô…”. Và Người đã vạch rõ: “Song ở các nước tư bản, cha mẹ là người lao động bị bóc lột, thì trẻ con cũng bị bóc lột, phải chịu cực khổ”. Người còn nêu ra những dẫn chứng cụ thể: “Ví dụ: Mỹ là một nước nhiều tiền bạc nhất, có những nhà đại phú, ngồi mát ăn bát vàng. Nhưng con nhà lao động thì lên 5, lên 6 tuổi đã phải đi làm thuê, làm mướn. Ở nước Việt Nam ta thì, vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người, cướp của. Vì vậy, người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến”. Đặc biệt, chúng ta vô cùng cảm động trước tình cảm, lời hứa và trách nhiệm của Người dành cho thiếu nhi: “Bác thương các cháu lắm. Bác hứa với các cháu rằng: đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công, thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cùng cố gắng làm cho các cháu cùng được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng…”.

Một năm sau, vào ngày 29/5/1951, trên Báo Cứu Quốc số 1828, Bác lại có “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân Ngày Quốc tế Thiếu nhi”. Cũng lời lẽ trìu mến, đầm ấm, thiết tha như năm nào, Bác đã gửi lời thân ái đến toàn thể nhi đồng cả nước. Bác nhắc đến ngày 1-5, ngày của những người lao động thế giới tỏ tình đoàn kết, đấu tranh. Còn ngày 1-6 “là ngày của các cháu nhi đồng trong thế giới tỏ tình đoàn kết và sức đấu tranh của mình…”. Hình thức đấu tranh của các cháu nhi đồng mà Người đưa ra rất cụ thể, thiết thực. Đó là, các cháu cần phải “Thi đua học tập, thi đua tăng gia sản xuất; thi đua giúp đỡ các gia đình thương binh, tử sĩ. Thế là các cháu đấu tranh”. Bác còn có lời khuyên nhủ chí tình: “Các cháu phải đoàn kết, thương yêu nhau” và là đoàn kết, thương yêu giữa nhi đồng trong nước với nhau, cũng như bạn bè thiếu nhi trên thế giới. Bác gọi “Đó là tinh thần quốc tế”. Mà đã có tinh thần quốc tế thì khi lớn lên, thế giới sẽ không có áp bức, không có chiến tranh, không có xung đột mà chỉ có tình thân ái, giúp đỡ, giữ gìn và hưởng thụ hạnh phúc, hòa bình và dân chủ. Chao ôi, tình của Bác thật dạt dào cao cả, ý của Bác thì vô cùng sâu sắc, nhìn xa, thấy rộng. Cho đến bây giờ, những lời căn dặn, khuyên nhủ, dạy bảo của Bác năm nào cho đến bây giờ vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi và giá trị thiết thực của nó.

Năm 1952, Bác không có thư cho Ngày Quốc tế Thiếu nhi, nhưng lại có thư Trung thu gửi các cháu thiếu nhi. Vẫn tình cảm vô cùng dạt dào nồng thắm ấm tình người, Bác thổ lộ tâm tình: “Ai yêu các nhi đồng/ Bằng Bác Hồ Chí Minh”; Bác căn dặn các cháu : “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tùy theo sức của mình”, để mãi mãi xứng đáng “Cháu Bác Hồ Chí Minh”. Năm 1953, trên Báo Nhân  Dân  số 115, từ ngày 1 đến ngày 5/6/1953, Bác gửi đăng bức “Thư gửi nhi đồng trong nước và ngoài nước nhân Ngày 1-6”. Lần này, Bác lại thể hiện tình thân ái, ân cần, trìu mến và thân thương nhất không chỉ đối với các cháu nhi đồng trong nước mà cả với “nhi đồng các nước bạn và nhi đồng thế giới”. Bác còn đặc biệt “gửi lời khen ngợi các cháu trong vùng bị tạm chiếm đã hăng hái tham gia kháng chiến”.

Ngày 7/5/1954, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta. Đất nước còn bộn bề khó khăn và công việc, Bác và Trung ương vẫn chưa về tiếp quản Thủ đô, nhưng Bác vẫn không quên gửi bức thư ngắn cho các cháu nhi đồng toàn quốc nhân Ngày 1-6. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Bác vẫn căn dặn các cháu phải ngoan ngoãn, chú ý rèn luyện cả về nhân cách và thể lực để trở thành công dân có sức khoẻ và tiến bộ. Năm 1955, nhân Ngày 1- 6, Bác liên tiếp có hai bài viết, một gửi cho các cháu và cán bộ các trường miền Nam (Theo tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh); một đăng trên báo Nhân Dân số 445, ra ngày 1/6/1955. Lần này, Bác lại vẫn nhắc đến vấn đề đoàn kết. Và trong hoàn cảnh cụ thể  lúc  bấy  giờ,  Bác  nhấn mạnh rằng: “Trước hết, các cháu phải thương  yêu  giúp đỡ nhau, phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết giữa các cháu lớn và các cháu bé… giữa các cháu vùng này với các cháu vùng khác… giữa các cháu và các cô, các chú cán bộ”. Bác nhắc các cháu thiếu nhi các trường miền Nam phải “yêu lao động, giữ kỷ luật. Chớ tự do phóng túng, phải tự lực cánh sinh… thi đua học tập, thi đua trong mọi việc…”. Không những thế, Bác còn căn dặn các cô, các chú cán bộ “phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình” để chăm nom, bồi dưỡng các cháu – những người chủ tương lai của nước nhà”. Bác nhấn mạnh rằng : “Ngày 1-6 nhắc nhủ người lớn (trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo, Đoàn thanh niên) nhiệm vụ của mình đối với nhi đồng”, “Yêu quí các em” là phải lấy “tinh thần dân chủ mới mà giáo dục các em “5 điều yêu”: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu quí của công”, và nuôi dạy các em phát triển sức khỏe, trí óc, “thành trẻ em có “4 tính tốt”: hoạt bát, mạnh dạn, chất phác, thật thà”… và có “tư cách của con người mới: Không sợ khó, không sợ khổ, bạo dạn, bền gan”. Bác nhấn mạnh rằng: “8, 9 năm qua, chúng ta kiên quyết kháng chiến; hiện nay chúng ta kiên quyết đấu tranh cho hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước – cũng nhằm mục đích xây dựng cho con cháu chúng ta một đời sống sung sướng, vui tươi, thái bình, hạnh phúc. Đồng thời chúng ta phải khéo giáo dục để mai sau nhi đồng trở thành công dân có tài, có đức”, xứng đáng là người chủ của nước nhà.

Ba tháng trước lúc Người đi xa, cũng nhân dịp Ngày 1-6, Bác đã có lời căn dặn toàn Đảng, toàn dân cần “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” (Báo Nhân Dân, số 5526, ngày 1/6/1969). Bác khẳng định: “Nói chung trẻ con ta rất tốt”, Bác nhắc đến các cháu thiếu nhi ở hai miền Nam, Bắc thi đua làm nghìn việc tốt như thế nào, thành tích ra sao. Tuy nhiên, “vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn”. Nói thế là Bác muốn nhắc đến vai trò và trách nhiệm của người lớn đối với các em. Người luôn cho rằng: “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ…”. Bác kêu gọi mọi người: “Vì tương lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”. Chuẩn bị cho ngày đi gặp các cụ Các Mác, Lênin, trong di chúc của mình, Người lại nói: “… Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Ôi, lời Bác, tình Bác đã, đang và sẽ là hành trang cho bao thế hệ trẻ bước vào đời và đang vĩnh hằng cùng năm tháng…

Nguồn: Báo Đồng Nai
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn