Archive | Tháng Ba 2012

Nâng cao trách nhiệm chǎm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng (1-6-1969)

Nói chung trẻ con ta rất tốt.

Ở miền Nam, các cháu bé rất dũng cảm, đã hǎng hái giúp đỡ bộ đội, giúp đỡ gia đình có người kháng chiến, làm giao liên, đánh du kích, v.v.. Nhiều cháu mới hơn 10 tuổi đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ.

Ở miền Bắc, các cháu đều hǎng hái thi đua làm “nghìn việc tốt” như giúp đỡ gia đình bộ đội, trả lại của rơi, gan góc liều mình cứu bạn, v.v.. ở nông thôn thì nhiều nơi các cháu tổ chức giúp các hợp tác xã chǎm sóc trâu bò béo khoẻ, trồng cây và bảo vệ cây xanh tốt. Các cháu sơ tán xa gia đình vẫn cố gắng vượt mọi khó khǎn, kính thầy yêu bạn, đoàn kết với đồng bào địa phương và thi đua học tập tốt, lao động tốt. Nhiều cháu học giỏi, tất cả các môn đều đạt điểm 5, điểm 10, đã được giải thưởng của Bác Hồ.

Hàng trǎm cháu có thành tích xuất sắc đã được Bác Hồ thưởng huy hiệu. Hơn hai triệu cháu được bình bầu là Cháu ngoan Bác Hồ.

Nhân dân ta rất tự hào có nhiều con cháu tiến bộ như thế. Mong các cháu ngày càng cố gắng hơn nữa và tiến bộ hơn nữa.

Song vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chǎm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn.

Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vi vậy, chǎm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ. Trong thời gian tới và trong dịp hè này, cần phải dẩy mạnh công tác thiếu niên, nhi đồng đạt nhiều kết quả tốt và thiết thực.

Trước hết các gia đình (tức là ông bà, cha mẹ, anh chị) phải làm thật tốt công việc ấy. Các đảng uỷ đường phố và hợp tác xã phải phụ trách chỉ đạo thiết thực và thường xuyên. Uỷ ban thiếu niên, nhi đồng, Đoàn thanh niên, ngành giáo dục và các ngành, các đoàn thể cần phải có kế hoạch cụ thể chǎm sóc, giáo dục các cháu càng ngày càng khoẻ mạnh và tiến bộ. Các tỉnh uỷ, thành uỷ cần phải phụ trách đôn đốc việc này cho có kết quả tốt.

Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chǎm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt.

T.L.

——————

Báo Nhân dân, số 5526, ngày l-6-1969.

cpv.org.vn

Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức giao lưu thể thao giữa các lực lượng

Chung kết Cầu lông đôi nam giữa Cơ quan Văn phòng và Trung đoàn 375

Ngày 14 và 15/3/2012, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức giao lưu thể thao giữa các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng nhằm tăng cường sự hiểu biết, nâng cao tinh thần thể dục thể thao và sự đoàn kết, gắn bó cùng thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tham dự buổi giao lưu thể thao gồm các vận động viên của 5 cơ quan trong Ban Quản lý Lăng: Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng; Trung đoàn 375, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ; Cơ quan Văn phòng; Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình và Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng KHCN&MT tranh tài ở ba nội dung: Bóng bàn đôi nam, cầu lông đôi nam và cầu lông đôi nam nữ.

Quan hai ngày thi đấu sôi nổi, hào hứng, quyết tâm cao, chương trình giao lưu đã thành công tốt đẹp, góp phần động viên khuyến khích cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng hăng hái ra sức thi đua tiếp tục phát huy sáng tạo, cống hiến tài năng phấn đấu hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh của Ban Quản lý Lăng.

Kết thúc chương trình giao lưu, Ban Tổ chức đã trao các giải nhất, nhì, ba và các giải khuyến khích cho các vận động viên tham gia. Trong đó, giải Nhất nội dung Bóng bàn đôi nam thuộc về đôi nam của Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng KHCN&MT; giải Nhất nội dung Cầu lông đôi nam thuộc về đôi nam của Cơ quan Văn phòng; giải Nhất nội dung Cầu lông đôi nam nữ thuộc về đôi nam nữ của Trung đoàn 375, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Dưới đây là một số hình ảnh trong chương trình giao lưu:

Giao luu the thao 3Các vận động viên tham gia thi đấu nội dung Bóng bàn đôi nam

Giao luu the thao 4Các vận động viên tham gia thi đấu nội dung Cầu lông đôi nam nữ

Giao luu the thao 2Đại tá Nguyễn Văn Thanh, Phó Chánh Văn phòng Ban Quản lý Lăng trao giải Nhất cho các vận động viên tham gia thi đấu ở ba nội dung

Tâm Trang
bqllang.gov.vn

Lời kêu gọi nhân ngày 20 tháng 7 (20-7-1969)

Hỡi toàn thể quân và dân yêu quý!

15 nǎm trước đây, sau thắng lợi vẻ vang Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam đã công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Hiệp định ấy quy định đến tháng 7 nǎm 1956 phải tiến hành tổng tuyển cử tự do để thống nhất cả nước Việt Nam.

Nhưng đế quốc Mỹ đã trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, xâm lược đất nước ta, gây ra cuộc chiến tranh thực dân tàn bạo nhất trong lịch sử loài người.

Suốt 15 nǎm qua, quân và dân cả nước ta, đoàn kết một lòng, vượt mọi hy sinh, gian khổ, chiến đấu cực kỳ anh dũng chống Mỹ, cứu nước. Các kế hoạch xâm lược của đế quốc Mỹ đã lần lượt phá sản, thất bại của Mỹ ngày càng nặng; nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn.

Quân và dân miền Bắc đã đập tan chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.

Quân và dân miền Nam đang đánh thắng “chiến tranh cục bộ” của chúng.

Từ mùa Xuân Mậu Thân đến nay, tình hình đã thay đổi hẳn, có lợi cho ta, không lợi cho địch. Bốn phần nǎm đất đai với ba phần tư số dân miền Nam đã được giải phóng. Trong những điều kiện thắng lợi ấy, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam đã họp và nhất trí bầu ra Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam 41 và Hội đồng cố vấn. Chính phủ ấy liền được hai mươi hai nước anh em và bầu bạn công nhận, nhân dân thế giới nhiệt liệt hoan nghênh.

Phản bội lợi ích của nhân dân Mỹ, Tổng thống Níchxơn vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam nước ta, tǎng cường đánh phá bằng máy bay B.52 và chất độc hoá học, điên cuồng ném bom phá huỷ làng mạc, thành thị, tàn sát đồng bào ta, gây thêm nhiều tội ác vô cùng man rợ.

Níchxơn thực hiện âm mưu “phi Mỹ hoá” chiến tranh 42 hòng dùng quân nguỵ đánh lại nhân dân miền Nam Việt Nam.

Tại Hội nghị Pari, đế quốc Mỹ cứ khư khư đưa ra những đòi hỏi cực kỳ vô lý, không chịu thảo luận nghiêm chỉnh giải pháp toàn bộ 10 điểm hợp tình, hợp lý do Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam chủ trương.

Níchxơn định rút 25.000 quân Mỹ, hòng xoa dịu dư luận nhân dân Mỹ và dư luận thế giới. Đó là một trò bịp.

Nhân dân Việt Nam kiên quyết đòi tất cả quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút hết sạch, chứ không phải chỉ rút 25.000 hoặc 250.000 hay là 50 vạn, mà phải rút hết, toàn bộ, không điều kiện. Chỉ có như thế, mới lấy lại được danh dự của nước Mỹ và tránh cho hàng chục vạn thanh niên Mỹ phải tiếp tục chết một cách vô ích ở miền Nam Việt Nam, tránh cho hàng chục vạn gia đình Mỹ khỏi bị tang tóc đau thương.

Sau khi quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ rút hết, miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng khỏi ách ngoại xâm, Chính phủ liên hợp lâm thời, như đã ghi trong giải pháp toàn bộ 10 điểm, sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ để nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định chế độ chính trị của mình, bầu ra Quốc hội lập hiến, xây dựng hiến pháp và thành lập Chính phủ liên hợp chính thức của miền Nam Việt Nam, không cho phép nước ngoài can thiệp vào. Hễ quân Mỹ và ngụy quyền còn tồn tại ở miền Nam Việt Nam thì quyết không thể có tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ.

Đế quốc Mỹ thất bại đã rõ ràng nhưng chúng chưa chịu từ bỏ dã tâm bám lấy miền Nam nước ta. Quân và dân cả nước ta, triệu người như một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, quyết kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho nguỵ quân và nguỵ quyền sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhân dịp này, tôi thay mặt quân và dân Việt Nam ta chân thành cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế to lớn và tin rằng các nước xã hội chủ nghĩa anh em, chính phủ và nhân dân các nước yêu chuộng hoà bình, công lý, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, sẽ tǎng cường ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Quân và dân cả nước ta hǎng hái tiến lên!
Đế quốc Mỹ xâm lược nhất định thua!
Nhân dân Việt Nam nhất định toàn thắng!

————————

Báo Nhân dân, số 5575, ngày 20-7-1969.

cpv.org.vn

Những nhận định thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đúng lúc phát xít Nhật vừa đầu hàng, quân Đồng minh chưa kịp tiến vào, Đông Dương bị bỏ ngỏ, Hồ Chí Minh đã chỉ ra đó là thời cơ ngàn năm có một.

Thời cơ ấy đến trong mùa thu năm 1945, và đã được tận dụng triệt để. Chỉ một lực lượng nhỏ, chỉ cần dùng uy thế của quần chúng cũng lấy được chính quyền, khai tử chế độ phong kiến, nô lệ, xây dựng nền cộng hòa dân chủ. Một sự kiện vĩ đại trong vài ba sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử ngàn năm của dân tộc.

Điều lạ lùng là lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đoán biết được thời cơ này từ nhiều năm trước. Đoán một cách chắc chắn, cụ thể, không chỉ bằng lời nói, mà bằng bút mực, giấy in hẳn hoi.

Đó là cuối năm 1941, chiến tranh thế giới đang tràn lan, châu Âu, châu Phi bị quân Đức, Ý giày xéo. Châu Á- Thái Bình Dương quân Nhật đang thắng thế quân Anh, Mỹ. Trung Quốc khói lửa mù mịt. Đông Dương đã rơi vào tay Nhật. Trong tình hình ấy, lãnh tụ Hồ Chí Minh vào ngày năm mới 1/1/1942 đã có một nhận định táo bạo, thiên tài: “Ta có thể quyết đoán rằng, Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại. Anh-Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là một dịp rất tốt cho dân ta khởi nghĩa đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho tổ quốc ta được độc lập tự do.

Trong lúc ấy mà đoán được kết cục chiến tranh đâu phải dễ. Và phải nói là rất thiên tài khi thấy đó là một cơ hội cho dân tộc. Cụ thể hơn nữa, vào tháng 10/1944, vừa ra khỏi nhà tù Quốc dân đảng Trung Quốc trở về, Người chỉ rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ trong một năm, hoặc năm rưỡi nữa.”

Thực tế lịch sử đã diễn ra, cơ hội đến sau đó đúng một năm!

Điều lạ lùng hơn nữa là vào năm 1942, khi viết “Lịch sử nước ta” lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ấn định được ngày Việt Nam độc lập. Đây là một cuốn lịch sử bằng thơ lục bát, do Việt Minh tuyên truyền Bộ ấn hành 2/1942.

Cuốn sách được mở đầu:
Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Kể năm hơn bốn nghàn năm
Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa…

Sau đó tác giả nhắc đến các sự kiện, các nhân vật lịch sử kể từ Hùng Vương, Thục Phán đến Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi… đến Nguyễn Huệ, Hoàng Hoa Thám… Những sự kiện lịch sử gần nhất được nhắc đến là:

Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang toàn cầu
Nam kỳ im lặng đã lâu
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây

Sau khi tóm tắt lịch sử nước nhà, tác giả kêu gọi:

Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng

Điều kỳ lạ nhất của cuốn lịch sử mà chúng tôi muốn nói đến nằm ở phần phụ lục ghi chú “Những năm quan trọng”. Tác giả đưa ra 30 cái mốc quan trọng:
Trước tây lịch
– 2879 Hồng bàng
-111 Tàu lấy nước ta lần đầu
Sau tây lịch
– 40 Hai Bà trưng đánh Tàu
– 248 Bà Triệu Ẩu khởi nghĩa
– 554 Vua Lý đánh Tàu
– 608 Tàu lấy nước ta
– 939 Vua Ngô khởi nghĩa
– 968 Đời Đinh (12 năm)

…………………………………………….

– 1794 Gia Long thông với Tây
– 1893 Ông Phan Đình Phùng khởi nghĩa
– 1940 Bắc Sơn và Đô Lương khởi nghĩa
– 1941 Nam kỳ khởi nghĩa
– 1945 Việt nam độc lập

Nhận định “Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại. Anh-Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua” trong lúc cục diện chiến tranh đang nghiêng hẳn về phe phát xít thể hiện một lòng tin, một cái nhìn sáng suốt về sự phát triển của lịch sử, hay như ta vẫn nói, về “thế lớn trong thiên hạ”. Làm được điều này đã là thiên tài, nhưng chưa làm cho người đời sau kinh ngạc bằng việc nói lên một điều cụ thể.

Năm 1942 đen tối nhường ấy mà ấn định được cái mốc “1945 Việt Nam độc lập” thì quả là thiên tài, thiên tài đến lạ lùng!

Theo: Công thương online

hcmpc.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời chất vấn Quốc hội

Sáng 28/10/1946, khóa họp lần thứ hai của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khai mạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Các đại biểu đứng lên chất vấn những công việc mà dân đã ủy nhiệm cho Chính phủ. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ trả lời chất vấn.

Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu QH tại Hà Nội (5/1/1946). Ảnh tư liệu.

“Chất vấn biểu lộ tinh thần dân chủ”

Sáng 28/10/1946, khóa họp lần thứ hai của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khai mạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Nhà hát Lớn sáng hôm ấy được trang hoàng đầy vẻ mỹ thuật và uy nghiêm. Trên tường, tấm  vải đỏ căng những dòng chữ vàng: “Đoàn kết, thống nhất, độc lập, tự do, hạnh phúc”.

Ở trước Nhà hát Lớn, nhân dân tụ họp khá đông để theo dõi buổi họp Quốc hội qua máy phát thanh. Đúng 8 giờ các đại biểu Quốc hội đến đầy đủ, có cả quan khách ngoại quốc như lãnh sự Anh, Mỹ, Trung Hoa, Thụy Sĩ; các phóng viên của Mỹ, Pháp, Anh…

Toàn thể đại diện Quốc hội khóa I chụp ảnh với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tất cả đang chờ đợi một khóa họp Quốc hội mà chỉ nghe qua chương trình nghị sự đã có thể cảm nhận được tầm quan trọng của nó đối với vận mệnh đất nước: Các Bộ trưởng trả lời chất vấn; Hồ Chủ tịch trả lời chất vấn; Chính phủ từ chức; Quyết nghị của Quốc hội đối với Chính phủ; Trình bày dự án Hiến pháp; Thảo luận Hiến pháp…

Buổi họp ngày 31/10, người dân đến dự thính buổi họp Quốc hội tăng đột biến. Hai tầng gác Nhà hát Lớn kín những người ngồi, đứng. Người dân đến đông để chứng kiến một cảnh tượng chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, một cảnh tượng do Cách mạng tháng Tám mang lại: các đại biểu của nhân dân đứng lên chất vấn những công việc mà nhân dân đã ủy nhiệm cho Chính phủ gánh vác.

Quốc hội – với đại diện của nhiều thành phần  như Dân chủ, Xã hội, Việt Minh… đã đặt ra nhiều câu hỏi chất vấn Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Hồ Chủ tịch bước lên diễn đàn, ôn tồn nói: “Sáng nay, Chính phủ nhận được 62 câu hỏi. Nửa tiếng đồng hồ lại nhận thêm được 26 câu hỏi nữa. Tất cả 88 câu. Chính phủ trước hết xin cảm ơn Quốc hội vì đã tỏ rõ Quốc hội hết sức quan tâm về các vấn đề của Quốc gia và sự chất vấn này có thể biểu lộ được rõ ràng tinh thần dân chủ thật thà của nước Việt Nam.

Chính phủ đã xét kỹ từng câu hỏi ấy và chia ra làm hai loại: Nội chính và ngoại giao. Trong hai loại ấy lại chia ra những câu thuộc về từng Bộ: Quân sự, Quốc phòng, Ngoại giao, Kinh tế… Những câu hỏi chú trọng nhất là về quân sự, rồi đến tài chính, tư pháp, nội vụ”…

Hồ Chủ tịch trả lời một số câu hỏi: “Về ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Tường Tam  và ông nguyên Phó Chủ tịch Quân ủy hội Vũ Hồng Khanh. Các ông ấy bây giờ không có mặt ở đây. Lúc nước nhà đang gặp bước khó khăn, quốc dân tin ở người nào mới trao cho người ấy công việc lớn. Thế mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải tự hỏi lương tâm thế nào.

Trả lời thế là đủ. Những người bỏ việc đi kia, họ không muốn gánh việc nước nhà hoặc họ cũng không đủ sức mà gánh nổi. Nay chúng ta không có họ ở đây, chúng ta cũng cứ gánh được như thường. Nhưng nếu các anh em ấy biết nghĩ lại mà trở về  thì chúng ta cũng hoan nghênh”.

Sau đó, Hồ Chủ tịch trả lời một số câu hỏi chất vấn về  đường lối ngoại giao của Chính phủ. Trả lời xong, trước khi bước xuống, Người nói với toàn thể Quốc hội: “Nếu trong Chính phủ, có những người khác lầm lỡ thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi đồng bào”. Tiếng vỗ tay theo Hồ Chủ tịch cho đến khi Người về chỗ ngồi.

Vì sao bán thuốc không kiểm soát giá và chất lượng?

Đến lượt các thành viên Chính phủ tiếp tục trả lời chất vấn. Bà Nguyễn Thị Thục Viên chất vấn ông Trương Đình Tri (Bộ trưởng Bộ Y tế và Xã hội) vì sao việc bán thuốc lại không kiểm soát giá và chất lượng thuốc?

Ông Trương Đình Tri trả lời: Việc đó rất đáng tiếc, nhưng không làm thế nào được vì không có hội đồng hóa giá. Từ khi Nhật đảo chính Pháp, thuốc chữa bệnh đã tràn vào lộn xộn.

Bộ Y tế và Xã hội đã chỉ thị cho các nhà buôn còn giữ thuốc không độc và thông thường thì phải khai và chỉ được phép bán đến cuối năm 1946. Đã có sắc lệnh cho kiểm soát chất lượng thuốc, nhất là thuốc tiêm. Ai khiếu nại sẽ xét cẩn thận.

Ông Nguyễn Đình Thi chất vấn Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Ca Văn Thỉnh về chính sách văn hóa của Chính phủ. Ông Ca Văn Thỉnh cho biết: Đại thể chính sách ấy là xây dựng một nền văn hóa dân chủ thay vào nền văn hóa cũ, chịu ảnh hưởng phong kiến và thực dân.

Nền văn hóa ấy phổ cập cho tất cả nhân dân cùng hưởng thụ và tham dự. Nó phải có tính cách dân chủ và dân tộc. Nhưng cái tính cách quốc gia này không hẹp hòi vì nền văn hóa ấy sẽ thâu nhận tất cả những ưu điểm và tinh hoa của các nền văn hóa trên thế giới.

Ông Hoàng Đạo Thúy tỏ ra lo ngại về cấp tiểu học năm nay bắt đầu chậm và thiếu sách giáo khoa. Bộ trưởng Ca Văn Thỉnh trả lời: Năm nay học trò tiểu học nhập trường chậm mất 15 ngày, điều đó vì tình thế. Các trường đến đây bị quân ngoại quốc dùng làm nơi ở. Sau đó phải sửa sang lại nhiều.

Còn sách giáo khoa là một vấn đề rất khó khăn vì giấy in và nhà in chưa giải quyết được. Bản thảo những sách ấy đã có hết rồi  chỉ chờ lần lượt xuất bản. Để bù vào chỗ thiếu, Bộ Giáo dục đã ra một tờ giáo dục tân văn.

Cũng trong phiên chất vấn, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến trả lời về ngân sách, thuế khóa, lương công chức… Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hòe nói về việc áp dụng luật của Việt Nam với người ngoài quốc  sống ở Việt Nam và làm thế nào để ngăn chặn nạn hối lộ. Nghị trường thực sự  “nóng”  khi những vấn đề liên quan đến sự tồn vong của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được các đại biểu nêu câu hỏi chất vấn.

Đại biểu Trần Đình Tri tỏ ra lo lắng trước tin đồn ông Nguyễn Hải Thần tự phong chức Tổng Tư lệnh hải, lục, không quân, lập Chính phủ ở hải ngoại. Trong tình thế nước nhà chuyển sang giai đoạn mới, phải có một Chính phủ mạnh mẽ đủ uy tín để đối nội cũng như đối ngoại. Chính phủ đó phải là một Chính phủ liêm khiết…

“Sẽ dùng luật pháp trị cho kỳ hết những kẻ ăn hối lộ”

Buổi họp kéo tới tối  31/10/1946. Từ trên diễn đàn ánh sáng của chiếc đèn có chụp hắt xuống bàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt toàn thể Chính phủ trả lời chất vấn trước khi Chính phủ từ chức. Người nói:“Chính phủ hiện thời thành lập mới hơn một năm, hãy còn thanh niên. Quốc hội bầu ra được hơn 8 tháng lại còn thanh niên hơn. 

Vậy mà Quốc hội đã đặt ra những câu hỏi thật già dặn, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập”.

Hồ Chủ tịch lần lượt trả lời từng câu hỏi. Về câu chất vấn: “Vì sao Chính phủ  đưa đề nghị thay Quốc kỳ lên Thường trực Quốc hội xem xét?”, Hồ Chủ tịch nói: “Chính phủ không bao giờ dám đòi thay đổi Quốc kỳ. Chỉ vì một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy lên, nên Chính phủ phải để Thường trực Quốc hội xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sỹ Việt Nam ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn”.

Nói đến đây mắt Người sáng quắc lên, giọng Người vang to hơn và nhấn mạnh từng tiếng: “Trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ngoài ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó”.

“Còn cái tin ông Nguyễn Hải Thần, tự xưng là Tổng Tư lệnh Hải, Lục, Không quân Việt Nam? Nếu Việt Nam không có Hải, Lục, Không quân thì ông Nguyễn Hải Thần cứ việc làm Tổng Tư lệnh! Và nếu Việt Nam không có Hải, Lục, Không quân mà ông Nguyễn Hải Thần tổ chức được hải lục không quân  cho Việt Nam thì cố nhiên chúng ta hoan nghênh”.

“Về việc Chính phủ liêm khiết, thì Chính phủ hiện tại đã cố gắng liêm khiết. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc  ở các Ủy ban đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng luật pháp mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết”.

Bằng lối nói đặc biệt của mình, lấy những ví dụ dễ hiểu để diễn đạt những nội dung sâu sắc, lý luận chặt chẽ, đanh thép, Hồ Chủ tịch đã trả lời hết các câu hỏi chất vấn. Mỗi khi Người kết thúc một câu trả lời thì tiếng vỗ tay lại đồng loạt vang lên.

12 giờ kém 15 phút,  Hồ Chủ tịch tuyên bố thay mặt Chính phủ hiện thời xin từ chức, trao quyền lại cho Quốc hội để Quốc hội theo nguyên tắc dân chủ bầu ra một Chính phủ mới.

“Tôi chỉ có một đảng: Đảng Việt Nam”

Quốc hội thảo luận và đã đưa ra quyết nghị: Ủy nhiệm cụ Hồ Chí Minh lập Chính phủ mới theo nguyên tắc đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Hồ Chủ tịch lại lên diễn đàn, cảm ơn Quốc hội rồi nghiêm trang tuyên bố: “Lần này là lần thứ hai, Quốc hội lại giao cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm.

Tôi xin nhận. Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân, trước thế giới: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài. Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân, trước thế giới rằng tôi chỉ có một đảng: Đảng Việt Nam. Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết.

Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích: Trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập, thống nhất của nước nhà. Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và Quốc dân, dẫu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà Quốc dân và Quốc hội đã trao cho”.

Tiếng vỗ tay vang rền trong Nhà hát lớn. Phiên họp Quốc hội kết thúc lúc 1 giờ đêm.

———————————–

Theo Phùng Nguyên – Tiền Phong

* Bài báo có sử dụng tư liệu của báo Cứu Quốc và báo Dân Thanh

tuoitre.vn

Mãi mãi làm theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trước khi về cõi vĩnh hằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta bản Di chúc thiêng liêng, một tài sản tinh thần vô giá, một con đường sáng ngời để chúng ta bước tiếp tới tương lai. Mỗi lời dặn trong Di chúc là mọt lời tổng kết, một bài học, lời khẳng định, lời dự báo tương lai.

Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người viết: “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hi sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”. Bác căn dặn chúng ta “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hi sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn

Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”

Bác khẳng định: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ra nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà dã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”

Làm theo lời Bác, chúng ta đã đạp bằng mọi khó khăn gian khổ, hi sinh, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, sau cuộc đọ sức cuối cùng bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng ta đã đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại.

Về công cuộc xây dựng đất nước, Bác viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.”

Bốn thập niên qua, chúng ta đã từng bước biến khát vọng cháy bỏng của Bác thành hiện thực. Nước ta đã hòa bình, đã thống nhất, đã độc lập, từng bước xây dựng nước ta trở thành một nước giàu mạnh, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ta ngày càng được nâng cao. Chúng ta tiếp tục phấn đấu và mãi mãi phấn đấu làm theo lời Bác:”có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Chúng ta mãi mãi làm theo lời thề: “Đem hết sức mình tiếp tục phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân ta, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào”

Sinh thời , Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng quan tâm và dày công xây dựng Đảng ta thành một khối đoàn kết, thống nhất, vững mạnh, Người thường dạy: “sức mạnh của Đảng là sự đoàn kết nhất trí”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”. Trong Di chúc, khi nói về Đảng , Bác viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi Đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải sứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật chung thành của nhân dân”. Chúng ta luôn ghi sâu vào tâm khảm lời dạy của Bác: Đảng ta phải “một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục sự Tổ quốc.”

Bác coi đoàn kết là một truyền thống, một bài học, một phương pháp cách mạng hiệu quả nhất, Bác nhắc nhở mỗi chúng ta: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”

Bác luôn đề cao vấn đề dân chủ và dân chủ trong đảng, vũ khí tự phê bình. Bác yêu cầu: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên nghiêm chỉ tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”. Bác lưu ý trong đấu tranh phê bình, tự phê bình: “Phải có tính đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Bác coi trọng việc làm trước tiên và thường xuyên là chỉnh đốn Đảng. Theo Bác chỉnh đốn Đảng là “làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân.” . Bác cho rằng : “Làm được như vậy, thì dù công việc to đến mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn dành sự quan tâm tới thế hệ trẻ. Trong Di chúc, người viết:” Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo cho giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “vừa chuyên””. Bác còn nhắc: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.”

Trong Di chúc, phần viết sau khi hòa bình lập lại, Người không quên nói về phụ nữ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nứơc, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo “. Khi nói riêng với chị em phụ nữ , Bác viết: “Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến bình quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”

Đọc lại toàn bộ bản Di chúc của Bác chúng ta thấy mỗi câu, mỗi chữ đều toát ra tư tưởng tình cảm vĩ đại của Người. Tư tưởng tình cảm lớn nhất đọng lại trong mỗi chúng ta là tư tưởng sống để phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân. Thước đo giá trị con người chính là tinh thần, ý thức trách nhiệm trong việc phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân. Bác viết: “ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa”. Theo Bác, “Sống được mấy năm mấy tháng”,”mấy tháng, mấy năm”, “bao lâu nữa” cũng đều gắn với sống phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.

Về việc riếng, Bác viết: “suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì hối hận, chỉ tiếc là tiêc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”

Bác luôn đề cao vị trí, vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Khi nói tới những công việc sau ngày hòa bình lập lại, Bác viết: “Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”

Học tập và làm theo tư tưởng , tấm gương đạo đức sáng nời của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, mỗi chiến sỹ trong lực lượng vũ trnag nhân dân, mỗi người dân Việt Nam, suốt đời nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân. Thực hiện lời thề: “Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hi sinh, rèn luyện mình thành những chiến sỹ chung thành với Đảng với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chủ tịch. Noi gương Người, toàn thể nhân dân ta, thanh niên ta nguyện ra sức trau dồi mình thành những con người mới, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội mới, mang lá cờ bách chiến, bách thắng của Hồ Chủ tịch tới đích cuối cùng”

Theo vinhphuc.gov.vn

hcmpc.com.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vừa là mục tiêu, vừa là động lực và giải pháp phát triển

Tiếp tục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Ðảng ủy Tập đoàn Dầu khí vinh dự được Ban Chỉ đạo Trung ương chọn là đơn vị chỉ đạo điểm. Ðảng ủy Tập đoàn đã ban hành tiêu chuẩn đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công nhân viên Tập đoàn học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; xây dựng, ban hành tiêu chí Văn hóa Petrovietnam.

Cụ thể hóa việc triển khai thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trên tinh thần “Ðổi mới quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết định kịp thời” với phương châm “Ðồng tâm hiệp lực, hiện đại hội nhập, tăng tốc phát triển” và bằng các phong trào “Lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến”, “Việc hôm nay không để ngày mai”, Thi đua “Về đích trước” kế hoạch 2010, cuộc vận động “Phấn đấu trở thành đảng viên Ðảng Cộng sản Việt Nam” trong người lao động toàn ngành trong năm năm vừa qua. Cuộc vận động đã trở thành động lực để PVN đạt được những kết quả hết sức to lớn.

Tạo chuyển biến về nhận thức

Ðảng ủy Tập đoàn giao Ban Tuyên giáo cung cấp các tài liệu liên quan và chỉ đạo cấp ủy đảng các đơn vị thành viên trong Tập đoàn tổ chức nghiên cứu, học tập, chọn việc đăng ký làm theo và thực hành theo tư tưởng, đạo đức, tấm gương của Bác trong các tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Sửa đổi lối làm việc”, “Di chúc” và các chuyên đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí”, “Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh”. Tập trung vào các nội dung cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí với thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, lao động, học tập, công tác của từng cá nhân ở mỗi đơn vị; việc nghiên cứu học tập nhất thiết phải có liên hệ với thực tiễn. Bên cạnh việc mời báo cáo viên truyền đạt, bản thân các đồng chí cán bộ lãnh đạo cũng xác định trách nhiệm phải trực tiếp quán triệt tại đơn vị. Ðể thuận lợi cho công tác tuyên truyền giáo dục ở những địa bàn đặc thù và người lao động ở các lĩnh vực khác nhau, Ðảng ủy Tập đoàn đã biên soạn bộ sách “Những người đi tìm lửa” giới thiệu những tập thể, cá nhân tiêu biểu của ngành (đã xuất bản 3 tập), biên soạn cuốn “Dịu dàng và bừng sáng” giới thiệu những gương cán bộ nữ dầu khí tiêu biểu, xây dựng bốn bộ phim: “Tiếp lửa niềm tin của Bác”, “Mãi mãi soi đường chúng ta đi” và “Rực sáng ngọn lửa niềm tin và khát vọng” và “50 năm ngành Dầu khí thực hiện mong ước của Bác Hồ”, ba cuốn kỷ yếu chuyên đề: “Những cá nhân điển hình xuất sắc thực hiện Cuộc vận động”, “Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam – 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” và cuốn sách ảnh “Rực sáng ngọn lửa niềm tin và khát vọng”, triển khai hệ thống pa-nô, áp-phích, khẩu hiệu tuyên truyền tại tất cả các trụ sở, công trường về nội dung thực hiện Cuộc vận động. Ðây là nét sáng tạo của Ðảng ủy Tập đoàn trong việc triển khai học tập tư tưởng, đạo đức của Bác gắn với lịch sử truyền thống của ngành bằng những hình ảnh gần gũi, sống động đã có tác dụng tích cực, hữu hiệu không chỉ với cán bộ, đảng viên, công nhân viên dầu khí mà thông qua công chiếu trên VTV1 đã giúp cho đông đảo người xem hiểu thêm về chức năng, nhiệm vụ cũng như con người Dầu khí, qua đó tạo sự đồng thuận, sẻ chia của toàn xã hội đối với ngành.

100% các đảng bộ trực thuộc Ðảng bộ Tập đoàn đã tổ chức Hội nghị Tổng kết bốn năm thực hiện Cuộc vận động gắn với Lễ Mừng công thi đua về đích trước các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị được giao năm 2010. Hầu hết các báo cáo đã tập trung đánh giá cụ thể, toàn diện kết quả triển khai Cuộc vận động, nhất là việc tổ chức “làm theo” tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện công tác xây dựng đảng, nhiệm vụ chính trị của chi/đảng bộ; những kinh nghiệm, bài học quý giá được đúc rút đồng thời nêu những đề xuất, kiến nghị nhằm tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động ngày càng thiết thực, hiệu quả.

Những kết quả nổi bật qua bốn năm thực hiện

Cuộc vận động đã tạo ra tinh thần đoàn kết, nhất trí, chủ động, sáng tạo, sẵn sàng đương đầu với khó khăn thách thức, kịp thời ứng phó với mọi diễn biến bất thường vốn là đặc thù của ngành dầu khí, với phương châm hành động tăng tốc phát triển đã tạo ra sự tăng trưởng đột biến trong sản xuất, kinh doanh. Cuộc vận động đã thực sự mang đến cho Tập đoàn một luồng sinh khí mới. Khắp nơi đều dấy lên những phong trào thi đua lao động, cải tiến tăng năng suất, tiết kiệm nguyên vật liệu, thực hành lối sống giản dị… Cuộc vận động được thực hiện đều khắp, liên tục với một không khí lạc quan, tin tưởng, vững bước vượt qua cuộc khủng hoảng, kinh tế thế giới và những khó khăn của nền kinh tế nước nhà. Kết quả đạt được của Tập đoàn gần bốn năm qua đạt mức cao nhất từ trước tới nay.

Có được những kết quả ấn tượng đó trong gần bốn năm qua là do Ðảng ủy, Ban chỉ đạo Cuộc vận động đã tập trung chỉ đạo gắn kết mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, cải tiến kỹ thuật, thực hành tiết kiệm… với nội dung Cuộc vận động. Với việc đưa các nhà máy nhiệt điện khí (Cà Mau 1-2007, Cà mau 2-2008, Nhơn Trạch 1-2009) và Nhà máy Lọc dầu Dung Quất vào vận hành (từ tháng 2-2009), Tập đoàn đã xây dựng được ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam hoàn chỉnh từ khâu tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất nhập khẩu; đưa thêm năm nhóm sản phẩm mới vào phục vụ nền kinh tế quốc dân, đó là: sản phẩm điện khí, xăng dầu, hạt nhựa Polypropylene, khí nén cao áp và năng lượng sạch. Công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí được triển khai tích cực ở cả trong nước và ở ngoài nước. Hệ thống các đường ống dẫn khí được vận hành an toàn và hiệu quả, góp phần bảo đảm nhu cầu khí cho các hộ tiêu dùng; việc đưa vào hoạt động ba nhà máy nhiệt điện khí vào vận hành thương mại đã góp phần tích cực cùng ngành điện Việt Nam bảo đảm an ninh năng lượng điện quốc gia. Công nghiệp chế biến dầu khí được đẩy mạnh và đã thu được nhiều kết quả quan trọng (Nhà máy Ðạm Phú Mỹ được vận hành an toàn và ổn định, đã góp phần tích vực ổn định thị trường và giá phân đạm trong nước, tiết kiệm ngoại tệ do không phải nhập khẩu phân đạm, hỗ trợ đắc lực cho phát triển sản xuất nông nghiệp và bảo đảm an ninh lương thực của đất nước). Công tác đào tạo và phát triển nhân lực đã có những chuyển biến tích cực. Tập đoàn đã xây dựng được một nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành dầu khí Việt Nam.

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Tập đoàn đã chủ động, sáng tạo tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Bác, 80 năm thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, Ðại hội Thi đua yêu nước lần thứ II, gắn với phát động thi đua cao điểm đã tạo động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và thực hiện các mục tiêu kế hoạch của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Cuộc vận động đã góp phần đẩy mạnh công tác xây dựng Ðảng, làm chuyển biến tích cực phương thức lãnh đạo và lề lối làm việc. Từ đó, khẳng định rõ nét vai trò, vị trí hạt nhân trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và thúc đẩy thực hiện của các cấp ủy Ðảng.

Những hạn chế và bài học kinh nghiệm

Giai đoạn đầu triển khai Cuộc vận động còn lúng túng, nặng về hình thức do chưa có được nhận thức đầy đủ, toàn diện về tác dụng, ý nghĩa của Cuộc vận động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tính chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện Cuộc vận động ở một số đơn vị còn hạn chế do đặc thù doanh nghiệp hoạt động ở loại hình chuyên môn kỹ thuật. Chưa biến việc làm theo tấm gương, đạo đức của Bác Hồ thành lẽ sống, lối sống của đại đa số cán bộ, đảng viên mặc dù tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên qua học tập, nghiên cứu đều trân trọng, cảm phục, thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, tấm gương cao quý nhưng rất đỗi bình dị của Bác; vẫn còn sự lúng túng trong xử lý mối quan hệ giữa tự giác, điều chỉnh xã hội với các quy chế, quy định về đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm công vụ. Nguyên nhân một phần do ý thức chủ quan của cán bộ, đảng viên, một phần do thiếu vận động, giám sát của cấp ủy và những luận giải thuyết phục trong tài liệu tuyên truyền, văn bản hướng dẫn.

Tập đoàn đã chọn đúng và có biện pháp để chỉ đạo bốn đơn vị điểm nhưng chưa xây dựng được mô hình điểm để tuyên truyền nhân rộng; vừa chỉ đạo điểm, vừa chỉ đạo diện rộng tạo ra kết quả đồng đều nhưng chưa có được kết quả của việc chỉ đạo điểm phục vụ chỉ đạo đại trà. Nguyên nhân bởi các yêu cầu, chủ đề của Cuộc vận động được nâng cao hằng năm dẫn đến không đủ thời gian đánh giá, tổng kết mô hình của đơn vị được chọn chỉ đạo điểm để rút kinh nghiệm.

Một số kinh nghiệm bước đầu được rút ra về công tác chỉ đạo điểm tại Tập đoàn:

Một là, Ðảng ủy lãnh đạo Tập đoàn và các cấp ủy trực thuộc thống nhất nhận thức coi việc được chỉ đạo điểm triển khai Cuộc vận động không chỉ là nhiệm vụ, mục tiêu mà còn là cơ hội, động lực, giải pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, xây dựng đảng và lãnh đạo đoàn thể; kiên định mục tiêu, thực hiện lâu dài, chỉ đạo quyết liệt nhưng không nóng vội, chủ quan.

Hai là, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên được phân công giữ vị trí lãnh đạo, quản lý. Kết hợp chặt chẽ giữa học tập, nghiên cứu với hướng dẫn, tạo điều kiện để đảng viên và quần chúng tích cực, tự giác làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Ba là, sáng tạo trong tuyên truyền vận động, kịp thời phát hiện nhân tố, coi trọng vai trò của quần chúng và chi bộ trong việc theo dõi, giám sát, đánh giá việc làm theo các nội dung đăng ký thực hiện Cuộc vận động của từng tổ chức và cá nhân. Lựa chọn nội dung “làm theo” ở những khâu cần đột phá, những việc còn yếu kém để khắc phục, tập trung làm tốt; những trọng tâm, thế mạnh để phát huy, làm tốt hơn nữa.

Bốn là, khai thác đặc tính nhân văn trong tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác, thông qua Cuộc vận động tạo sự thống nhất, đồng thuận, đoàn kết, hợp tác trong Ðảng, trong hệ thống chính trị; tăng cường phối hợp, chia sẻ giữa đồng chí, đồng nghiệp vì mục tiêu chung.

Qua quá trình triển khai Cuộc vận động, Tập đoàn luôn chú trọng vai trò nêu gương thực hiện của đội ngũ lãnh đạo các cấp thông qua sự giám sát thực hiện của chi bộ và quần chúng; coi Cuộc vận động vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là giải pháp phát triển Tập đoàn. Kết quả đã tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên Dầu khí thấm nhuần sâu sắc hơn tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó đã có tác động tích cực đến việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị. Qua bốn năm (từ 2007 đến nay), tập thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên Dầu khí đã nỗ lực, phấn đấu không ngừng, vượt qua khó khăn, thách thức của cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới và trong nước, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Ðảng, Nhà nước giao; khẳng định vai trò trụ cột, đầu tàu kinh tế của đất nước, duy trì ổn định phát triển sản xuất, kinh doanh, thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh năng lượng và tham gia bảo vệ, giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia trên biển.

Ðịnh hướng thực hiện những năm tiếp theo

Nhằm tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2011 và những năm tiếp theo, toàn Ðảng bộ Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam tập trung thực hiện các nội dung sau:

Quán triệt nhận thức trong các cấp ủy, đoàn thể và toàn thể cán bộ, đảng viên, người lao động Dầu khí kiên trì học tập và tự giác làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ, chuyển mạnh từ “học tập” sang “làm theo”.

Gắn thực hiện Cuộc vận động với các nhiệm vụ chính trị của từng cán bộ, đảng viên, của mỗi đơn vị thành viên và của Tập đoàn nhất là Chiến lược tăng tốc phát triển giai đoạn 2011 – 2015 theo hướng thiết thực trong đó chú trọng việc “Làm theo”. Tiếp tục coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác của ngành, từ bộ máy Tập đoàn đến các cơ sở, đặc biệt là trong sinh hoạt đảng và tu dưỡng, rèn luyện của từng cán bộ, đảng viên, người lao động. Xây dựng Ðảng bộ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mà Ðảng, Nhà nước giao phó, xứng đáng với mong ước của Bác Hồ kính yêu./.

ÐỖ VĂN HẬU
Phó Bí thư Ðảng ủy – Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

tuyengiao.vn

Điện mừng Hội nghị thế giới chống bom nguyên tử và bom khinh khí (29-7-1969)

Kính gửi Hội nghị thế giới lần thứ 15 chống bom nguyên tử và khinh khí họp ở Nhật Bản,

Thay mặt nhân dân Việt Nam và nhân danh cá nhân, tôi gửi đến Hội nghị lời chào mừng nhiệt liệt.

Nhân dân Việt Nam hoàn toàn đồng tình và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Nhật Bản anh em đòi triệt để cấm vũ khí hạt nhân, đòi xoá bỏ “Hiệp ước an ninh” Nhật – Mỹ, đòi trả ngay không điều kiện và hoàn toàn đảo Ôkinaoa cho Nhật, đòi huỷ bỏ tất cả cǎn cứ của Mỹ trên đất Nhật, chống việc phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản.

Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam luôn luôn được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân Nhật Bản, của bè bạn khắp nǎm châu, cũng như của Hội đồng Nhật Bản chống bom nguyên tử và bom khinh khí.

Nhân dịp này, tôi xin gửi đến nhân dân Nhật Bản và quý vị lời cảm ơn chân thành và chúc Hội nghị đạt được những mục tiêu cao cả của mình, vì lợi ích của hoà bình thế giới.

Ngày 29 tháng 7 nǎm 1969
Hồ Chí Minh

———————-

Báo Nhân dân, số 5586, ngày 31-7-1969.

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947, hai năm sau khi Nhà nước giành được độc lập, có giá trị đặc biệt cả về lý luận và thực tiễn. Lúc bấy giờ đất nước ta vẫn tồn tại hai loại chính quyền: chính quyền do thực dân Pháp dựng lên và chính quyền cách mạng. Nhưng Bác biết rằng chính quyền cách mạng sẽ nắm được quyền lãnh đạo, và để nắm được quyền quản lý đất nước thì chính quyền cách mạng phải có các phẩm chất tốt. “Sửa đổi lối làm việc” – nói cho cùng, đó là sửa đổi tinh thần cơ bản của những người nhận trách nhiệm hướng dẫn và lãnh đạo một dân tộc nhằm mục tiêu giải phóng Tổ quốc, giải phóng nhân dân. Tác phẩm của Bác đã quán triệt tinh thần đó, với lối viết cô đọng, sáng rõ và cụ thể, “Sửa đổi lối làm việc” trước hết thể hiện tư tưởng và tình cảm là tất cả vì nhân dân.

Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh – kể từ khi bước chân ra đi tìm đường cứu nước tới khi viết những dòng Di chúc cuối cùng – tất cả đều toát lên một tư tưởng vĩ đại: vì Nhân Dân! Nhân dân trong tâm hồn Bác như một nỗi thương cảm, nỗi day dứt, như mục tiêu sống của mình. Nhân dân Việt Nam có lịch sử lâu dài nghìn năm, trong đó có thời gian dài với thân phận đau khổ và “lép vế”. Bác đã thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ đau, sự bất hạnh và thân phận “lép vế” của một dân tộc bị “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” hoành hành. Cuộc cách mạng mà Bác và Đảng lãnh đạo chính là vì độc lập tự do cho Tổ quốc, vì dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân.

Toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng của Bác là để giải phóng nhân dân, như Bác đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”…1 Toàn bộ tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” thể hiện nỗi khắc khoải chính trị, những ưu tư, băn khoăn của Người và mong muốn cán bộ cách mạng thay đổi phong cách làm việc để tất cả vì nhân dân phục vụ. Nếu nhìn từ góc độ này thì chúng ta thấy cả cuộc đời của Bác là nỗi niềm đau đáu vì hạnh phúc của nhân dân. Qua tác phẩm này, chúng ta hiểu được một điều sâu sắc rằng: Bác quan tâm đến nhân dân với tất cả tấm lòng và tình cảm của Người.

Cũng xuất phát từ tình cảm đó mà trong “Sửa đổi lối làm việc” Bác đặt vấn đề cho những người phục vụ nhân dân, “người lãnh đạo là người đầy tớ của nhân dân” phải có phẩm chất và đạo đức cách mạng. Bác yêu cầu những cán bộ cách mạng phải trung thành tuyệt đối với lý tưởng và mục tiêu của Đảng là suốt đời rèn luyện đạo đức cách mạng để phục vụ nhân dân. Chính vì nỗi lo lắng ấy, nên Bác đã đặt ra vấn đề rèn luyện đạo đức đối với các đồng chí của mình. Bằng tác phẩm này, Bác trang bị cho các đồng chí của mình các công cụ và tiêu chuẩn đạo đức nhằm hai mục đích rất rõ ràng: Thứ nhất là, thu hút sự ủng hộ của nhân dân để tiến hành một cách thuận lợi cuộc kháng chiến; và thứ hai là, để cán bộ cách mạng sửa chữa những thói hư, tật xấu thường có trong mỗi người để rèn luyện và nêu cao đạo đức cách mạng, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền.

Bác quan niệm: cán bộ cách mạng là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ, giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời báo cáo tình hình của dân cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng. Từ định hướng đó, Người khẳng định rằng, cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc. Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu có ảnh hưởng quyết định tạo nên.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người phê bình những khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ, đồng thời đề ra những quan điểm và giải pháp về vấn đề cán bộ, trong đó việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trở thành những người có văn hóa, có tri thức và nghiệp vụ. Điều đó được thể hiện:

1. Về việc đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ. Vì cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc, do đó, huấn luyện cán bộ là công việc “gốc” của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ huấn luyện nghề nghiệp cho cán bộ là khâu đầu tiên. Vì rằng, cán bộ làm nghề nào, ngành nào cũng phải học cho thành thạo công việc ở ngành, nghề ấy. Đồng thời, phải nghiên cứu những chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ; học tập những kinh nghiệm thành công và thất bại; học tập lịch sử truyền thống cách mạng và sự phát triển trong từng thời kỳ… Theo đó, việc huấn luyện phải sắp xếp cách dạy và học, kiểm tra kết quả, sao cho cán bộ dần dần đi đến thành thạo công việc; huấn luyện chính trị, môn nào cũng phải có; cần coi trọng nâng cao kiến thức văn hóa.

2. Về bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Đảng luôn coi cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi người có ích cho công việc chung.

Theo tư tưởng của Người, Đảng phải hiểu biết rõ cán bộ, xem xét lại nhân tài và tìm nhân tài mới. Phải cất nhắc cán bộ cho đúng; cán bộ phải được tập thể tin cậy, bố trí đúng ngành nghề đào tạo, huấn luyện. Một trong những vấn đề Bác đặc biệt quan tâm, đó là đặt đúng người vào đúng công việc thích hợp: phải khéo dùng cán bộ; phải biết tùy tài mà dùng người; phải phân phối cán bộ cho đúng; phải dùng người đúng chỗ, đúng việc. “Dụng nhân như dụng mộc” – không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có giá trị thực tiễn cách mạng. Ngay từ khi mới giành được chính quyền năm 1945, Bác đã thành lập một Chính phủ Liên hiệp, đoàn kết, mở rộng, tập hợp xung quanh Bác những nhân sỹ trí thức (cả quan lại của chế độ cũ). Giành chính quyền, đạp đổ chế độ phong kiến và ngai vàng của vua chúa, nhưng Bảo Đại được Bác mời làm Cố vấn Chính phủ mới. Ông vua không bị treo cổ như khi cách mạng Pháp và cách mạng Nga thành công. 12 vị quan chức của Chính phủ thân Nhật – Trần Trọng Kim, thì 10 vị được tham gia Chính phủ Cụ Hồ, như các ông Hoàng Xuân Hãn, Trần Đình Nam, Phan Anh… Có đến 50 ghế Nghị sỹ thuộc lực lượng chống đối được quyền đặc cách, không qua bầu cử Quốc hội. Những người không phải đảng viên như bác sỹ Trần Duy Hưng, bà Thục Viên, Vũ Đình Hòe, Phan Kế Toại, Phạm Khắc Hòe, Đỗ Đức Dục… đều được trọng dụng và có những đóng góp lớn cho cách mạng ở vị trí công tác của mình. Thậm chí, những nhân vật chính trị như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh cũng được mời tham gia Chính phủ. Nghĩa là Bác đã sử dụng từng đối tượng trong từng hoàn cảnh cụ thể để phục vụ cho lợi ích cách mạng. Đó là sự thể hiện tinh túy và cốt lõi của“Sửa đổi lối làm việc” để bồi dưỡng và giáo dục cán bộ cách mạng.

Khi đã đặt cán bộ thích hợp với công việc, cần tiếp tục giúp họ có điều kiện hoàn thành công việc một cách có hiệu quả: luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm; khen ngợi họ lúc làm được việc tốt, và phải luôn kiểm soát cán bộ, giữ gìn cán bộ.

Người nhấn mạnh, đối với công tác cán bộ của Đảng ta, việc xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc và kiểm tra cán bộ là một quy trình liên hoàn và liên tục, yêu cầu thực hiện nghiêm túc, triệt để. Cán bộ được đề bạt phải dựa vào cả quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu. Sau khi nhận chức trách, lại tiếp tục được tổ chức quan tâm theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra. Có như vậy, công tác cán bộ của Đảng mới đem lại hiệu quả thiết thực cho sự nghiệp cách mạng.

3. Xây dựng cơ chế làm việc cho cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra có năm cách: Thứ nhất là chỉ đạo – tạo điều kiện cho họ làm, thử cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ. Nhưng phải luôn luôn tùy hoàn cảnh mà hướng dẫn cho họ phương hướng, cách thức công tác để phát triển năng lực và sáng kiến. Thứ hai là luôn bồi dưỡng cán bộ, nâng cao tư tưởng, trình độ lý luận và cách làm việc cho họ. Việc đào tạo và sử dụng hợp lý đối với cán bộ có khéo, có đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc vấn đề cán bộ quyết định mọi công việc. Thứ ba là thường xuyên kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Thứ tư là khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục giúp họ sửa chữa, cải tạo. Thứ năm là giúp đỡ họ điều kiện sinh sống đầy đủ để làm việc. Tùy hoàn cảnh mà giúp họ khi ốm đau, khi gia đình họ gặp khó khăn. Những điều đó quan hệ rất lớn tới tinh thần của cán bộ, và sự thân ái đoàn kết trong Đảng. Nghĩa là phải quan tâm đầy đủ cả vật chất lẫn tinh thần của người cán bộ để họ có đủ điều kiện hoạt động và phục vụ cách mạng.

4. Về chính sách cán bộ. Bác chỉ ra cần phải hiểu biết cán bộ. Vấn đề nhận xét và đánh giá cán bộ là vấn đề không đơn giản. Biết người cố nhiên là khó, tự biết mình cũng không dễ. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu. Người còn chỉ rõ các chứng bệnh của cán bộ ta như: tự cao tự đại; ưa người ta nịnh mình; do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người khác thiếu khách quan. Không thể đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Phạm một trong bốn bệnh đó “cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông”. Vì vậy, nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn công việc của cán bộ. Do đó, nhận xét đánh giá cán bộ phải xuất phát từ hiện thực khách quan, với quan điểm toàn diện, lịch sử – cụ thể. Qua đó mới biết chỗ tốt và chỗ xấu của cán bộ. Từ đó mà nâng cao chỗ tốt, sửa chữa chỗ xấu, trong đó Bác coi trọng nghệ thuật sử dụng cán bộ. Bác đề ra các yêu cầu như sau:

4.1. Khéo dùng cán bộ. Mục đích của việc này là cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ. Đồng thời chống những chứng bệnh như: ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài, ham dùng những kẻ nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực… Vì những việc đó, kết quả là dù họ có làm bậy, mình cũng cứ bao dung, che chở, bảo hộ khiến cho chúng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì “bới lông tìm vết” để trả thù. Như thế, cố nhiên hỏng cả việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo.

4.2. Phải có gan cất nhắc cán bộ. Phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy. Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào. Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng, phải căn cứ vào kết quả công việc họ làm, cách nói, cách viết và cách sinh hoạt của họ, v.v…

4.3. Thương yêu cán bộ. Điều này được thể hiện là luôn luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa ngay, để vun trồng cái thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải là làm cho họ kiêu căng, mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ.

4.4. Phê bình cán bộ. Đối với cán bộ sai lầm, chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm.Và càng sợ, những người lãnh đạo sẽ không biết tìm đúng cách để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Sự sửa chữa khuyết điểm, một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó, nhưng cũng một phần trách nhiệm của người lãnh đạo. Sửa chữa sai lầm cố nhiên cần dùng cách thuyết phục, giải thích, cảm hóa, dạy bảo. Song, không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Nếu không xử phạt, thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm uy tín của cán bộ, của Đảng, mà còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm.

Cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” của Bác Hồ tuy nhỏ, nhưng có giá trị vô cùng lớn lao. Cuốn sách ra đời đến nay đã hơn nửa thế kỷ, nhưng qua thực tiễn của cách mạng Việt Nam, qua kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và 30 năm kháng chiến chống Mỹ, cũng như qua công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã khẳng định những đóng góp to lớn của đội ngũ những người lãnh đạo các cấp của Đảng và Nhà nước được Bác Hồ rèn luyện và giáo dục theo tinh thần được thể hiện trong “Sửa đổi lối làm việc”. Đặc biệt, trong giai đoạn đổi mới của đất nước hiện nay cũng như trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” càng có ý nghĩa to lớn và quan trọng không chỉ đối với mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn cho tất cả chúng ta./.

HẠNH LIÊN
Tạp chí Ngân hàng


Chú thích:

1 Hồ Chí Minh (1984), Toàn tập, tập 4, Lời giới thiệu, tr.XII, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh (2002), Tuyển tập, “Sửa đổi lối làm việc” tập II, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, (2006), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Võ Nguyên Giáp (2006), Hồi ký – Tổng tập, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.

vssr.org.vn

Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

(TCTG) – Ở Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phấn đấu của Người là một, đó là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó cũng chính là mục tiêu tổng quát theo cách diễn đạt của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã hình thành một hệ thống quan điểm hết sức đặc sắc về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong phương thức tiếp cận chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh có nhiều định nghĩa khác nhau:

– Định nghĩa chủ nghĩa xã hội như một chế độ xã hội hoàn chỉnh đối lập với chế độ tư bản chủ nghĩa;

– Định nghĩa chủ nghĩa xã hội bằng cách chỉ ra các mặt riêng biệt của nó (về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, quan hệ quốc tế…);

– Định nghĩa chủ nghĩa xã hội bắng cách nêu bật mục tiêu (tổng quát và cụ thể) của nó, v.v.

Trong các cách tiếp cận đó, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, theo Người, mục tiêu là sự thể hiện cô đọng nhất các bản chất đặc trưng, tính ưu việt vốn hàm chứa trong chế độ xã hội tương lai mà chúng ta xây dựng.

Hồ Chí Minh ý thức được rõ ràng giá trị của chủ nghĩa xã hội về mặt lý luận là quan trọng, nhưng vấn đề quan trọng hơn là tìm ra con đường để thực hiện những giá trị này. Điểm then chốt, có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng của Hồ Chí Minh là đề ra các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội trong mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau ở nước ta. Chính thông qua quá trình đề ra các mục tiêu đó, chủ nghĩa xã hội được biểu hiện với việc thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích thiết yếu của người lao động, theo các nấc thang từ thấp đến cao, tạo ra tính hấp dẫn, năng động của chế độ xã hội mới.

Vào những năm hai mươi thế kỷ XX, Hồ Chí Minh xác định mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội là đảm bảo cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no, việc làm cho mọi người và niềm vui, hoà bình, hạnh phúc cho mọi người. Nghĩa là, chủ nghĩa xã hội hướng tới bảo đảm các giá trị làm người chân chính trong quá trình phát triển các quan hệ xã hội mang đúng bản chất người cao quý.

Vào những năm năm mươi, sáu mươi, khi miền Bắc trực tiếp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người xác định rõ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là thoả mãn các nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người: chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc; hoặc ở mức độ khái quát cao hơn: mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, cả đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần. Đây là cách diễn đạt Người thường dùng nhất.

Ở Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phấn đấu của Người là một, đó là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó cũng chính là mục tiêu tổng quát theo cách diễn đạt của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cũng chính là khát vọng, mong muốn cháy bỏng mà Hồ Chí Minh hy sinh cả cuộc đời mình để phấn đấu vươn tới: xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của thế giới.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về khát vọng, về mục tiêu cao cả của chế độ xã hội mới-chủ nghĩa xã hội-rất gần với triết lý nhân sinh của Phật giáo: “Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm” (lấy cái tâm của người khác làm cái tâm của chính mình). Vì thế, cách nói và diễn đạt này dễ đi vào lòng người, dễ được chấp nhận, bởi nó không hoàn toàn xa lạ với tâm thức truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bằng cách xác định mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh cho thấy, khi đề cập đến một vấn đề hiện đại, Người vẫn đứng trên mảnh đất cội rễ truyền thống Việt Nam, tạo nên một dòng chảy văn hoá liền mạch từ quá khứ, qua hiện tại, để hướng tới tương lai theo một hệ chuẩn giá trị nhất quán, nhân văn và nhân đạo.

Theo Hồ Chí Minh, hiểu mục đích của chủ nghĩa xã hội, nghĩa là nắm bắt nội dung cốt lõi con đường lựa chọn và bản chất thực tế xã hội mà chúng ta phấn đấu xây dựng. Tiếp cận chủ nghĩa xã hội về phương diện mục đích là một nét đặc sắc, thể hiện phong cách và năng lực tư duy lý luận khái quát của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh có nhiều cách đề cập mục đích của chủ nghĩa xã hội. Có khi Người trả lời một cách trực tiếp: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”(1). Hay “mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân”(2). Hoặc Người diễn giải mục đích tổng quát này thành các tiêu chí cụ thể: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”(3). Nhiều khi Người nói một cách gián tiếp, không nhắc đến chủ nghĩa xã hội, nhưng xét về bản chất, đó cũng chính là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội theo quan niệm của Người. Kết thúc bản Tài liệu tuyệt đối bí mật (sau gọi là Di chúc), Hồ Chí Minh viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(4).

Hồ Chí Minh quan niệm mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là nâng cao đời sống nhân dân. Đó là sự tin tưởng cao độ vào lý tưởng vì dân. Theo Người, muốn nâng cao đời sống nhân dân, phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là nâng cao đời sống nhân dân, quan điểm này có ý nghĩa sâu sắc đối với các thế hệ người Việt Nam trong quá trình xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn. Cách tư duy lấy chủ nghĩa xã hội làm điểm xuất phát tuyệt đối, làm cơ sở cho mọi hoạt động thực tiễn cần phải được bổ sung bằng sự tác động trở lại và chủ nghĩa xã hội cũng phải được làm rõ bởi hàng loạt các quan hệ khác. Mục đích nâng cao đời sống toàn dân là tiêu chí tổng quát để khẳng định và kiểm nghiệm tính chất xã hội chủ nghĩa của các lý luận chủ nghĩa xã hội và chính sách thực tiễn. Trượt ra khỏi quỹ đạo đó thì hoặc là chủ nghĩa xã hội giả hiệu, hoặc không có gì tương thích với chủ nghĩa xã hội.

Chỉ rõ và nêu bật mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội so với chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử, chỉ ra nhiệm vụ giải phóng con người một cách toàn diện, theo các cấp độ: từ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xã hội đến giải phóng từng cá nhân con người, hình thành các nhân cách phát triển tự do. Quan niệm này của Hồ Chí Minh hoàn toàn thống nhất với quan điểm mác-xít khi nói về xã hội tương lai, với tư cách là một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người và đạt đến chiều sâu nhất, triệt để nhất.

Quá trình đi tới mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài, trải qua một thời kỳ quá độ, nhiều bước trung gian, quá độ nhỏ. Đối với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh cho rằng: “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có bóc lột áp bức. Muốn thế, chúng ta phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp… Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”(5). Như vậy, Hồ Chí Minh đã xác định các mục tiêu cụ thể của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là:

Mục tiêu chính trị: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chế độ chính trị phải là chế độ chính trị dân chủ, do nhân dân lao động là chủ và làm chủ; Nhà nước là của dân, do dân và vì dân. Nhà nước có hai chức năng: dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân. Hai chức năng đó không tách rời nhau, mà luôn luôn đi đôi với nhau. Một mặt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân; mặt khác, lại yêu cầu phải chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.

Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ con đường và biện pháp thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội của quần chúng; củng cố các hình thức dân chủ đại diện, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, xử lý và phân định rõ chức năng của chúng.

Hồ Chí Minh xác định rõ dân chủ như một giá trị phổ biến mà loài người mong muốn và đến chế độ xã hội chủ nghĩa giá trị phổ quát này mới đạt đến mức độ hoàn bị nhất. Giá trị dân chủ là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được Người diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ bình dị, nhưng ẩn chứa nhiều điều lớn lao, hệ trọng: dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân; chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ; bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Mặt khác, Người còn xác định dân chủ như một động lực của sự phát triển: thực hành dân chủ là chiếc chìa khoá vạn năng giải quyết mọi khó khăn; dân chủ là chìa khoá của mọi tiến bộ và phát triển… Quan niệm này đặt nền tảng và giữ vai trò chủ đạo trong lý luận xây dựng Nhà nước, xây dựng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền và lãnh đạo Nhà nước.

Mục tiêu kinh tế: nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công-nông nghiệp hiện đại, khoa học-kỹ thuật tiên tiến, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được bỏ dần, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao.

Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phát triển toàn diện các ngành mà những ngành chủ yếu là công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, trong đó “công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà”. Kết hợp các loại lợi ích kinh tế là vấn đề rất được Hồ Chí Minh quan tâm. Người đặc biệt nhấn mạnh chế độ khoán là một trong những hình thức của sự kết hợp lợi ích kinh tế của các chủ thể trên các quy mô khác nhau.

Mục tiêu văn hóa-xã hội: theo Hồ Chí Minh, văn hóa là một mục tiêu cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Văn hóa thể hiện trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội, đó là xóa nạn mù chữ, xây dựng, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, xây dựng phát triển văn hóa nghệ thuật, thực hiện nếp sống mới, thực hành vệ sinh phòng bệnh, giải trí lành mạnh, bài trừ mê tín dị đoan, khắc phục phong tục tập quán lạc hậu…

Về bản chất của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Người khẳng định “phải xã hội chủ nghĩa về nội dung”; để có một nền văn hóa như thế ta phải phát huy vốn cũ quý báu của dân tộc, đồng thời học tập văn hóa tiên tiến của thế giới. Phương châm xây dựng nền văn hóa mới là: dân tộc, khoa học, đại chúng. Hồ Chí Minh nhắc nhở phải làm cho phong trào văn hóa có bề rộng, đồng thời phải có bề sâu. Trong khi đáp ứng mặt giải trí thì không được xem nhẹ nâng cao tri thức của quần chúng, đồng thời Người luôn luôn nhắc nhở phải làm cho văn hóa gắn liền với lao động sản xuất…

Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa là đào tạo con người. Bởi lẽ, mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất của công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới chính là con người. Trong lý luận xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh quan tâm trước hết về mặt tư tưởng. Người cho rằng: “Muốn có con người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa”, tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi con người là kết quả của việc học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đến trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời Người cũng rất quan tâm đến mặt tài năng, luôn tạo điều kiện để mỗi người rèn luyện tài năng, đem tài năng cống hiến cho xã hội. Tuy vậy, Hồ Chí Minh luôn gắn tài năng với đạo đức. Theo người, “có tài mà không có đức là hỏng”; dĩ nhiên đức phải đi đôi với tài, nếu không có tài thì không thể làm việc được. Cũng như vậy, Người luôn gắn phẩm chất chính trị với trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ trong đó “chính trị là tinh thần, chuyên môn là thể xác”. Hai mặt đó gắn bó thống nhất trong một con người. Do vậy, tất cả mọi người đều phải luôn luôn trau dồi đạo đức và tài năng, vừa có đức vừa có tài, vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, phát triển và ngày càng hoàn thiện dần cùng với sự phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội nói chung. Điều này được thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991). 25 năm sau, quan niệm trên đây về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội đã được Đại hội XI của Đảng sửa đổi, bổ sung và diễn đạt lại: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(6).

Nếu so sánh với quan niệm được V.I.Lênin trình bày trong “Nhà nước và cách mạng” về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, có thể thấy rằng có một gạch nối rất nhất quán giữa V.I.Lênin với Hồ Chí Minh, Cương lĩnh (1991) hay Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó cho thấy mục tiêu của chủ nghĩa xã hội nói riêng, của chủ nghĩa cộng sản nói chung có thể được thể hiện ra ở rất nhiều thuộc tính, thêm nữa, phần lớn các thuộc tính ấy đều được nêu ra dưới dạng dự báo, cho nên việc liệt kê các thuộc tính ấy ở các tác giả khác nhau có những khác nhau, kể cả ở các tác gia kinh điển. Điều đó khiến cho nhu cầu tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ mục tiêu cơ bản của nó đang dần trở nên bức thiết hơn so với cách liệt kê các đặc trưng chế độ xã hội mà chúng ta xây dựng./.

PGS, TS. PHẠM NGỌC ANH

__________________________

(1), (2), (3) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.10, tr.271, 159, 191.
(4) – Sđd, t.12, tr.506.
(5) – Sđd, t.8, tr.493-494.
(6) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. CTQG, H, 2011, tr. 70.

tuyengiao.vn

Ngoại giao nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

(TCTG) – Tư tưởng đối ngoại và phong cách ngoại giao của Người là sự kết tinh truyền thống của dân tộc và tinh hoa của nhân loại, trong đó ngoại giao nhân dân là một “binh chủng” đa kênh và đa năng quan trọng, cùng với ngoại giao Đảng và Nhà nước hợp thành nền ngoại giao tổng hợp của quốc gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của Đảng, đất nước và nhân dân ta không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, danh nhân văn hóa mà còn là nhà ngoại giao kiệt xuất. Tư tưởng đối ngoại và phong cách ngoại giao của Người là sự kết tinh truyền thống của dân tộc và tinh hoa của nhân loại, trong đó ngoại giao nhân dân là một “binh chủng” đa kênh và đa năng quan trọng, cùng với ngoại giao Đảng và Nhà nước hợp thành nền ngoại giao tổng hợp của quốc gia.

Sự hình thành và phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong đó có ngoại giao nhân dân gắn liền với cuộc đời hoạt động của Người qua những giai đoạn lịch sử đầy biến cố của tình hình thế giới và trong nước. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh với những nội dung chủ yếu như: Các quyền dân tộc cơ bản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn với đoàn kết và mở rộng hợp tác quốc tế, v.v… trong đó ngoại giao là một mặt trận là một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh”, và cũng theo quan điểm của Người “ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng” (1), nhất là “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập” (2). Vì vậy, Người khẳng định: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”, nên “muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực”.

Thực hiện theo quan điểm, tư tưởng của Người, sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, và đặc biệt là trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, việc phối hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh chính trị, quân sự của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã góp phần to lớn vào thắng lợi của toàn dân tộc.

Kiên định mục tiêu nhất quán là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát huy mọi nguồn lực của đất nước, đồng thời với việc đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế, để kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn. Trong mọi “nguồn lực” đó, ngoại giao, đặc biệt là ngoại giao nhân dân được chú trọng và đã phát huy vai trò to lớn, vì đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cục diện cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà còn luôn giữ vai trò quan trọng tích cực và chủ động, để biểu dương và nhân nguồn sức mạnh của thực lực.

Trong lịch sử quan hệ quốc tế, các nước tiến hành các hoạt động ngoại giao dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng quy tụ lại thành hai loại chính là ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân. Ngoại giao nhà nước là mối quan hệ giữa chính phủ với chính phủ của các nước có chủ quyền, giữa các nhà lãnh đạo của các nước. Các quan chức làm việc trong các đại sứ quán hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của một nước ở nước ngoài là những người đại diện cho chính phủ ở nước sở tại. Ngoại giao nhân dân là một hình thức hoạt động quan hệ đối ngoại do các tổ chức, các đoàn thể, hoặc cá nhân thuộc nhiều lĩnh vực tiến hành, không mang tính chất chính thức của Chính phủ. Có nhiều hình thức phong phú: gặp gỡ, các cuộc đi thăm, hội đàm, trao đổi ý kiến, festival…

Hoạt động của ngoại giao nhân dân là phát huy “sức mạnh mềm” (3) của một nước, hỗ trợ cho ngoại giao nhà nước để thực hiện chính sách đối ngoại mà chính phủ nước đó đề ra. Ngoại giao nhân dân là lực lượng quan trọng của mặt trận ngoại giao và ưu thế của ngoại giao nhân dân là có thể đi đầu, có thể đi trước tại những nước, những khu vực và về một số vấn đề mà ngoại giao chính thức của nhà nước chưa có điều kiện triển khai.

Tham gia làm ngoại giao nhân dân gồm các đoàn thể, quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội, các hội nghề nghiệp, toàn thể nhân dân và nhiều khi cả tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm và mang dấu ấn riêng của Người, ngoại giao nhân dân là một nội dung quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, Chính phủ Việt Nam, thể hiện rõ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất và XHCN.

Ngoại giao nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là một lực lượng quan trọng của mặt trận đối ngoại. Bởi vì theo Hồ Chí Minh, ngoại giao không chỉ là việc riêng của “các đại sứ quán, tổng lãnh sự quán là những cơ quan chuyên môn phụ trách, mà còn là các tổ chức khác như ngoại thương, văn hóa, thanh niên, phụ nữ, công đoàn cũng đều làm ngoại giao cả” (4). Đây là quan điểm xuất phát từ tư tưởng lấy dân làm gốc của cha ông ta, được Người kế thừa và nâng lên một bước: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Vậy ngoại giao cũng là mặt trận không thể thiếu sự tham gia của nhân dân.

Hồ Chí Minh chủ trương đối ngoại rộng mở, mở rộng lực lượng theo phương châm “thêm bạn, bớt thù”, tránh đối đầu “không gây thù oán với một ai”, tìm ra những điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể nhằm tập hợp lực lượng, hình thành mặt trận đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều tầng, nhiều nấc. Người từng nói: “Đường lối tấn công vào lòng người, chinh phục bằng đạo lý, chuyển hóa bằng nhân tình, thuyết phục lòng người để nhân lên sức mạnh của chính nghĩa”. Như vậy, với Hồ Chí Minh, ngoại giao không chỉ là sự nghiệp của toàn dân, mà còn phải lôi kéo, thuyết phục bằng chính nghĩa để nhân dân và bạn bè thế giới ủng hộ, giúp đỡ mình.

Để thực hiện chính sách ngoại giao nhân dân rộng mở, tập hợp các lực lượng đoàn kết với Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ về Việt Nam, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Và muốn tăng cường đoàn kết, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải thông qua đấu tranh và “mục đích của ta là vì đoàn kết, vì đoàn kết mà phải tranh đấu. Tranh đấu để đến đoàn kết chứ không nói xấu ai” (5). Đoàn kết hợp tác với bên ngoài để tăng cường sức mạnh bên trong, nhân nguồn sức mạnh của bên trong, vì vậy, phải xây dựng thực lực sức mạnh đất nước, chính nghĩa của dân tộc làm nền tảng, để thu hút sự ủng hộ của quốc tế.

Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên nhận thức được tầm quan trọng và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Từ đó Người đặt cách mạng Việt Nam trong tiến trình chung của cách mạng thời đại. Trong tác phẩm Đường kách mệnh (1927), Nguyễn Ái Quốc đã xác định: “Cách mạng An Nam cũng là một bộ phận trong cách mạng thế giới. Ai làm cách mạng thế giới đều là đồng chí của nhân dân An Nam cả” (6). Và khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ngay từ những ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thành lập các tổ chức ngoại giao nhân dân đầu tiên ở trong nước để tiếp cận với phong trào hòa bình và đoàn kết của cách mạng thế giới.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định rõ mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng vô sản, với phong trào giải phóng dân tộc, với phong trào hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Năm 1948, khi ta giành được thắng lợi trên chiến trường, nhưng về ngoại giao, thế giới chưa biết nhiều về cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc ta. Khi ấy, chính Người đã chỉ đạo việc tổ chức một đoàn cán bộ được tuyển chọn từ các ngành dân, chính, Đảng ra nước ngoài để tuyên truyền về cuộc kháng chiến, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới.

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng, tháng 2-1951, khi nêu khái niệm về ngoại giao nhân dân và tầm quan trọng của nó, Đảng ta đã tự kiểm điểm: “Do chưa nhận thức đầy đủ về tác dụng của ngoại giao nhân dân, ta chưa có kế hoạch tích cực, kiên quyết vượt qua mọi trở lực, để xúc tiến ngoại giao nhân dân”, đồng thời nêu nhiệm vụ phải “phát triển ngoại giao nhân dân rộng rãi”, “củng cố ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác, tăng cường việc ngoại giao giữa đoàn thể nhân dân nước ta và các đoàn thể nhân dân thế giới” (7). Đây là một sự phát triển sáng tạo trong nhận thức của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò và vị trí của ngoại giao nhân dân, phù hợp với tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đặt cơ sở cho hoạt động ngoại giao nhân dân thời kỳ tiếp theo.

Ngoại giao nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính nhân dân sâu sắc, phù hợp với khát vọng hòa bình, tự do, công lý của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đó còn là cơ sở để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới và thực hiện phương pháp ngoại giao “tâm công”, nhằm “tuyên truyền cái chính nghĩa của ta trong nhân dân các nước đối phương, trong nhân dân thế giới”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đấu tranh giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, mặt trận ngoại giao, trong đó có ngoại giao nhân dân đã phát huy sức mạnh một cách hữu hiệu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nhân dân Mỹ đánh từ trong đánh ra, nhân dân ta đánh từ ngoài đánh vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt – Mỹ nhất định sẽ thắng. Đó sẽ là thắng lợi vẻ vang của mặt trận thống nhất nhân dân hai nước; mà cũng là thắng lợi chung của nhân dân yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa” (8). Phối hợp cùng với hoạt động ngoại giao của Đảng, Nhà nước và của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh, những hoạt động ngoại giao của nhân dân ta ở miền Bắc, ở miền Nam đã góp phần hình thành một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa vì độc lập, tự do, thống nhất và hòa bình, công lý của nhân dân Việt Nam.

Theo lời Người, đối ngoại là công việc chung của toàn Đảng, toàn dân, nên mỗi người dân Việt Nam đều có vinh dự và trách nhiệm là đại diện cho dân tộc mình trước bạn bè thế giới. Chính Người là nhà ngoại giao nhân dân tiêu biểu với phong cách ngoại giao “tâm công”, độc đáo và là tấm gương mẫu mực vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh đã dùng triết lý phương Đông, kết hợp hài hòa với văn hóa phương Tây trong ứng xử của mình, để vừa giữ được sự mềm dẻo, tinh tế, lại vừa đảm bảo được nguyên tắc, mục tiêu cách mạng, phân hóa được kẻ thù, tấn công vào lòng địch. Song hơn hết, tư tưởng ngoại giao nhân dân của Người đề cao lòng nhân ái, thái độ chân thành, biết thông cảm, chia sẻ đã xóa bỏ ranh giới và tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tại các nước đế quốc đang tiến hành chiến tranh ở Việt Nam.

Trong bối cảnh thực dân Pháp đã cố tình gây chiến và buộc dân tộc ta phải tiến hành cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và người Việt ngừng chảy. Những dòng máu đỏ chúng tôi đều quý như nhau”. Và với nhân dân Mỹ, phối hợp với chính sách ngoại giao của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người nhiều lần nhấn mạnh rằng: “Chúng tôi phân biệt rõ ràng đế quốc Mỹ là kẻ thù và nhân dân Mỹ là người bạn của nhân dân Việt Nam”, để có thêm “những người bạn quý ở trong lòng nước Mỹ”.

Ít có vị lãnh tụ nào trên thế giới trong khi đang lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc mình, lại vẫn luôn bày tỏ sự cảm thông với nhân dân các nước ở phía bên kia chiến tuyến. Trong các bức thư gửi nhân dân Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bày tỏ rằng: Người không lên án bản thân những người lính Mỹ bị đưa sang Việt Nam, bởi họ, cũng như các binh lính thuộc địa trước đây chẳng qua là công cụ của nhà cầm quyền. Vì vậy, Người bày tỏ: “Chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào miền Nam chúng tôi phải gian khổ, hy sinh, mà chúng tôi cũng thương xót cho các bà mẹ và các người vợ Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở miền Nam Việt Nam do bọn quân phiệt Mỹ tiến hành” (9).

Lịch sử dựng nước và giữ nước của các dân tộc trên thế giới đều có điểm chung là được lòng dân thì làm việc gì cũng dễ. Ngọn cờ độc lập, tự do mà Hồ Chí Minh giương cao, không chỉ phù hợp và được lòng dân Việt Nam, mà còn phù hợp tâm tư, khao khát của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Ngoại giao nhân dân của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người là sự phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới trong công cuộc chung chống lại kẻ thù chung của hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, vì vậy hấp dẫn và quy tụ được sự đồng cảm và ủng hộ của “mặt trận nhân dân thế giới”.

Kết hợp đấu tranh ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã rất thành công khi phát huy sức mạnh của ngoại giao nhân dân, biểu dương sức mạnh của quần chúng nhân dân trong những ngày đầu của nền dân chủ cộng hòa (1945-1946). Cũng kết hợp thành công ngoại giao nhân dân với ngoại giao Nhà nước, Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho nhân loại tiến bộ trên thế giới hiểu sâu sắc hơn về khát vọng độc lập, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Chính phủ và nhân dân Việt Nam khi kiên trì thực hiện Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Hiệp định Pari năm 1973, và bền bỉ tiến hành cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất.

Cùng với thời gian, những giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh về ngoại giao nhân dân vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao nhân dân được hình thành trên cơ sở những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc, trong đó đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa, nhân văn trong ngoại giao của cha ông ta và yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam đòi hỏi phải có một phương pháp ứng xử khéo léo để không những đoàn kết nhân dân trong nước, mà còn có thể tập hợp các lực lượng bên ngoài hỗ trợ tích cực cho thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Trên tinh thần đó, Đảng ta chủ trương: “Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường quan hệ song phương và đa phương với các tổ chức và nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân ta và nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới… Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân,… làm cho thế giới hiểu rõ hơn đất nước, con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước ta” (10).

Đất nước đang đổi mới và hội nhập toàn diện, hoạt động ngoại giao nhân dân cũng khoác thêm lên mình “chiếc áo” mới. Cũng giống như đối ngoại của Nhà nước, ngoại giao nhân dân triển khai đều cả bốn mặt trận: ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa và công tác người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần quảng bá hình ảnh, bảo vệ lợi ích của Việt Nam tại các diễn đàn nhân dân khu vực và trên thế giới; vận động nhân dân thế giới ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam; vận động viện trợ phi chính phủ của nước ngoài tăng đáng kể,v.v…

Ngoại giao nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Có thể nói, ngoại giao nhân dân và sự kết hợp giữa ngoại giao nhân dân và ngoại giao Nhà nước là sự sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh. Tư tưởng của Người về đối ngoại nói chung và ngoại giao nhân dân nói riêng đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc, thành kim chỉ nam cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại.

Những thành tựu đối ngoại trong thời kỳ đổi mới trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt tư tưởng của Người về nền ngoại giao nhân dân đã góp phần đưa đất nước “ra khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hẫng hụt về thị trường do những biến động ở Liên Xô và Đông Âu gây ra; phá được thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng được quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” (11). Ngày nay, khi giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, thì ngoại giao nhân dân “tiếp tục được mở rộng” (12) càng phát huy được sức mạnh tối ưu của nó. Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác ngoại giao nhân dân, để mỗi người dân đều có vai trò là một “đại sứ” của đất nước là góp phần quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam đổi mới và hội nhập trong lòng bạn bè thế giới./.

ThS. NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Bảo tàng Hồ Chí Minh

_____________________________________

(1) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.3, tr.514.
(2) – ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2001, t.8, tr.290.
(3) – Theo định nghĩa của Joseph Nye, giáo sư của Đại học Harvart- nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, một trong những người sáng lập nên chủ nghĩa tân tự do về quan hệ quốc tế thì “sức mạnh mềm ” hay còn gọi là “quyền lực mềm” là “khả năng đoạt lấy thứ mình muốn thông qua sự hấp dẫn thay vì ép buộc. Nó xuất phát từ sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách của một quốc gia”. Trong khi đó “sức mạnh cứng” của một nước là sức mạnh về kinh tế, quân sự của nước đó.
(4), (5) – Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb. CTQG, H, 2002, tr. 168, 156.
(6) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t.2, tr.301.
(7) – ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.12, tr.117.
(8) (9) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t. 12, tr.524, 271.
(10), (11) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. CTQG, H, 2001, tr. 122-123, 19.
(12) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.157.

tuyengiao.vn

Điện chào mừng các đại biểu tham dự “cuộc gặp gỡ thế giới của thanh niên và sinh viên vì thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam” (22-8-1969)

Kính gửi các đại biểu tham dự “Cuộc gặp gỡ thế giới của thanh niên và sinh viên vì thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam”1),

Henxinki

Tôi rất vui mừng gửi lời chào mừng nhiệt liệt và lời cảm ơn chân thành tới các đại biểu thanh niên và sinh viên thế giới đang đấu tranh ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược.

Cuộc họp mặt của các bạn là một biểu hiện rực rỡ của nhiệt tình và quyết tâm của thế hệ trẻ muốn thực hiện những lý tưởng cao đẹp là tự do, độc lập dân tộc và hoà bình. Giữa lúc chính quyền Níchxơn đang ngoan cố tǎng cường chiến tranh xâm lược, cố giữ nguỵ quyền Sài Gòn và gây thêm nhiều tội ác đối với nhân dân chúng tôi, cuộc họp mặt đó càng cổ vũ mạnh mẽ nhân dân chúng tôi ra sức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.

Nhân dân Việt Nam càng kiên trì chiến đấu cho đến khi Mỹ phải chấm dứt xâm lược, rút hết quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không được đặt điều kiện gì, để nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định lấy công việc của mình.

Chúc cuộc gặp gỡ của các bạn thành công.

Hà Nội, ngày 22 tháng 8 nǎm 1969
Hồ Chí Minh

——————

Báo Nhân dân, số 5611, ngày 25-8-1969.

—————————————-
1) “Cuộc gặp gỡ thế giới của thanh niên và sinh viên vì thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam” diễn ra ngày 23-8-1969, tại Henxinki (Phần Lan).

cpv.org.vn