Archive | Tháng Hai 2012

Hồ Chí Minh nói về trách nhiệm của nhà báo

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và coi trọng vai trò của báo chí. Bác đã sáng lập nhiều tờ báo và là một nhà báo xuất chúng với khả năng viết ít ai bì kịp. Những kinh nghiệm làm báo, những ý kiến chỉ đạo và tư tưởng của Bác đối với báo chí và người viết báo mãi mãi vẫn sáng ngời giá trị.

Từ những năm đi tìm đường cứu nước, Bác đã sáng lập báo Le Pa-ri (Người cùng khổ) với nhiều bài viết đặc sắc, nhiều tranh đả kích do Bác vẽ hết sức độc đáo. Tranh vạch trần dã tâm của bọn thực dân xâm lược. Hai hình tượng được khắc hoạ là tên thực dân béo phì ngồi trên xe tay và người lao động thuộc địa gầy yếu phải cố sức kéo nó đi! Báo ra số 1 ngày 1-4-1922, đến số 38 thì bị đình bản.

Ngày 21-6-1925, Báo Thanh Niên – cơ quan ngôn luận của tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội do Bác sáng lập đã xuất bản số đầu tiên. Báo phát hành được 200 số, trong đó 88 số do Bác trực tiếp phụ trách, biên tập, viết bài. Báo đã đem ánh sáng Chủ nghĩa Mác-Lênin đến với công chúng Việt Nam, tích cực tuyên truyền giác ngộ quần chúng về ý thức đấu tranh giải phóng đất nước. Trong số báo Thanh Niên ra ngày 7-11-1926 có in bức tranh cổ động của Bác hết sức đặc sắc. Bức tranh vẽ V.I.Lênin ngẩng cao đầu, tay trái chỉ vào ngôi sao năm cánh, kêu gọi giai cấp vô sản toàn thế giới hãy liên hiệp lại để đấu tranh giải phóng cho mình khỏi ách áp bức của chế độ tư bản. Báo Thanh Niên trở thành tờ báo cách mạng đầu tiên của nước ta, truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản cho muôn triệu người dân đang rên siết dưới ách thực dân, phong kiến. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định lấy ngày 21-6- 1925 làm Ngày truyền thống của báo chí cách mạng Việt Nam.

Hai tờ báo Công Nông và Lính Cách Mệnh (1925-1927) được Bác dùng để tổ chức tuyên truyền trong giới thanh niên và binh lính người Việt, nhằm khơi dậy lòng yêu nước của tuổi trẻ Việt Nam và làm sống lại dòng máu Lạc Hồng của những đứa con lầm đường lạc lối, hoặc bị cưỡng bức, hoặc vì miếng cơm manh áo mà trót cầm súng giặc giết hại đồng bào. Hai tờ báo cùng thực hiện sứ mệnh kêu gọi, tập hợp công nông đoàn kết vùng lên đập tan gông xiềng nô lệ.

Đặc biệt, Bác đã vẽ tranh minh họa cho Báo Việt Nam Độc lập (1941-1942). Với nét cách điệu tài tình từ bốn chữ “Việt Nam Độc Lập”, Bác đã vẽ thành một người đang thổi kèn, hàm ý giục giã toàn dân mau mau tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập. Bên cạnh đó là bốn câu thơ do Người sáng tác:

Việt Nam độc lập thổi kèn loa
Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già
Đoàn kết vững bền như khối sắt
Để cùng nhau cứu nước Nam ta”(1).

Tiếp đó là các báo Sự Thật, Cứu quốc, Quân đội nhân dân… được Bác hết sức quan tâm và trực tiếp tham gia nhiều bài viết. Bác Hồ hết sức coi trọng vai trò của báo chí. Bác từng nói: “Báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung”(2). Bác đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ, sứ mệnh lịch sử của những người làm báo: “Nói đến báo chí, trước hết phải nói đến những người làm báo chí!”(3).

Tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam (1959), Bác đã nói: “Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”(4). Đến Đại hội lần thứ II của Hội (1962), Bác lại nhấn mạnh: “Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”(5). Bác yêu cầu trước khi viết một điều gì, người viết phải tự đặt các câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “Báo cũng là một ngành kinh tế”(6) và “Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo”(7), “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do… Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý”(8).

Theo Bác, văn hóa là một mặt trận, cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng; ngòi bút, trang giấy chính là vũ khí chiến đấu của người làm báo. Bác đã nhiều lần căn dặn đội ngũ cán bộ, phóng viên: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”(9).

___

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 3, tr.200. (2,3,4) Sđd, tập 9, tr.415, 412. (5, 6) Sđd, tập 10, tr.131, 616, 468. (7, 9) Sđd, tập 5, tr.625. (8) Sđd, tập 8, tr.216.

Văn Khải

xaydungdang.org.vn

Tác phẩm “Đời sống mới” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng nông thôn mới hiện nay

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đời sống mới từ 64 năm trước đã tạo nên động lực to lớn thúc đẩy kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Ngày nay, lời dạy ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng; trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế toàn diện và chuyển đổi kinh tế toàn cầu.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Xây dựng đời sống mới”. Ngày 3/4/1946, Ủy ban vận động đời sống mới Trung ương được thành lập. Một năm sau (20/3/1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đời sống mới” với bút danh là Tân Sinh để chỉ đạo và động viên phong trào. Ngày nay, tác phẩm Đời sống mới của Người vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng.

Trong lời tựa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ý nghĩa của Tác phẩm là giúp nhân dân ta thực hành đời sống mới để cứu quốc và kiến quốc: “Trong lúc kháng chiến cứu quốc chúng ta phải đồng thời kiến quốc. Thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc. Anh Tân Sinh viết quyển “ Đời sống mới” một cách vắn tắt, rõ ràng, thiết thực, dễ hiểu. Đó là một quyển sách nhỏ, chỉ rõ bước đường đời sống mới. Tôi mong đồng bào ta mỗi người có một quyển Đời sống mới để xem, để hiểu, để thực hành đời sống mới. Như thế, chúng ta nhất định sẽ tiến bộ hơn”.

Theo Người, thực hành đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Người giải thích: “Chính trong lúc này càng phải thực hành đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Quân đội phải siêng tập, siêng đánh. Nhân dân tăng gia sản xuất, phải siêng làm, thì kháng chiến chắc chắn thắng lợi, thế cho nên phải Cần. Binh sĩ phải tiết kiệm đạn dược, mỗi viên đạn một tên thù. Cho nên phải Kiệm. Mọi người đều trong sạch, không tham lam, không đem của công dùng vào việc tư, thì mọi việc mới chạy. Cho nên ai cũng phải Liêm. Mỗi người quốc dân đều phải vì nước quên nhà, hăng hái ủng hộ kháng chiến, ra sức tăng gia sản xuất, trừ diệt bọn bán nước hại dân quyết làm cho Tổ quốc thống nhất độc lập. Thế là Chính”. Người cũng giải thích rằng, đạo đức mới không phải là gạt bỏ mọi cái cũ mà phải phát huy những tinh hoa về truyền thống yêu nước, cần cù lao động, đoàn kết chống giặc ngoại xâm, tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách,….Người viết: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ. Thí dụ: Ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi. Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước. Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm. Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp. Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích của đời sống mới”.

Đời sống mới bao gồm đời sống mới riêng cho từng người và đời sống mới chung cho cộng đồng, tập thể như các gia đình, làng xã, các bộ đội, các nhà máy, trường học, các công sở,…Về tinh thần, đời sống mới phải Cần, Kiệm, Liêm, Chính; nếu không làm được như vậy, thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân. Phải yêu tổ quốc, quan tâm đến lợi ích chung, không kiêu căng, không nịnh hót, không tham lam, không bủn xỉn. Phải ham học, một người không biết chữ, biết tính thì như nửa mù nửa sáng, biết rồi thì học thêm nữa. Về hành động để thực hành đời sống mới không ngoài năm việc là ăn, mặc, ở, đi lại, làm. Đời sống mới không tách rời tăng gia sản xuất. Người giải thích: “ Việc tăng gia sản xuất cũng như mọi việc khác, đều rất quan hệ với đời sống mới. Tăng gia sản xuất tức là một bộ phận của đời sống mới. Có tinh thần của đời sống mới, thì tăng gia sản xuất mới chóng thành công. Mà tăng gia sản xuất có thành công, thì đời sống mới dễ thực hiện. Muốn tăng gia sản xuất, mọi người phải Cần, phải Kiệm. Không Cần, thì phí thời giờ nhiều mà sản xuất được ít. Không Kiệm thì làm được bao nhiêu, dùng hết bấy nhiêu, rút cục cũng như sản xuất được ít. Tăng gia sản xuất ích riêng cho mình mà cũng ích chung cho cả nước. Nếu không có tinh thần Liêm và Chính, nếu tham lam ích kỷ, thì không thể phát đạt việc tăng gia sản xuất. Vì vậy, tăng gia sản xuất và đời sống mới phải đi đôi với nhau, không thể lìa nhau”.

Thực hành đời sống mới là công việc của mọi người dân, bắt đầu từ cội nguồn là mỗi người, gia đình, làng xã. Người viết: “ Do nhiều người nhóm lại mà thành Làng, do nhiều Làng nhóm lại mà thành Nước. Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành Làng xấu, Nước hèn; nếu mỗi người cá nhân tốt, thì Làng tốt, Nước mạnh. Người là gốc của Làng, Nước, nếu mỗi người cố gắng làm đúng đời sống mới thì Dân tộc nhất định phú cường”. Đối với mỗi người, Người yêu cầu: Việc gì có lợi cho Nước phải ra sức làm, việc gì hại cho Nước phải hết sức tránh; bất cứ việc to, việc nhỏ, có ích chung thì phải hăng hái làm. Đối với làng xã, việc thực hiện đời sống mới, theo Người, cần phải làm những việc sau: Về văn hóa phải làm cho cả làng đều biết chữ, biết đạo đức và trách nhiệm của công dân. Về phong tục, phải cấm hẳn say sưa cờ bạc, hút sách, trộm cắp, đĩ điếm. Tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau. Làm cho làng mình trở thành một làng “thuần phong mỹ tục”. Trong Tác phẩm, Người dành một phần để nói về văn hóa gia đình. Trong gia đình, thực hiện đời sống mới về quan hệ thì trên thuận, dưới hòa, bình đẵng, tôn trọng, tin cậy lẫn nhau, không thiên tư, thiên ái; về vật chất từ ăn mặc, đến việc làm đều tiêu pha có kế hoạch, ngăn nắp; cưới hỏi giỗ tết nên đơn giản tiết kiệm; quan tâm tới con cái, đến việc tu dưỡng học hành, kỷ cương nề nếp; giải phóng phụ nữ và thực hiện nam nữ bình đẳng.

Để nhân dân nhận thức đúng và thực hành tốt đời sống mới, theo Người, cần coi trọng công tác thông tin tuyên truyền: “Trước hết, phải tuyên truyền, giải thích và làm gương. Phỉ chịu khó nói rõ cho mọi người hiểu đời sống mới có ích thế nào, cách thi hành đời sống mới thế nào. Nói một lần họ chưa hiểu thì nói nhiều lần. Nói đi, nói lại, bao giờ người ta hiểu, người ta làm mới thôi. Nói thì phải nói một cách đơn giản, thiết thực với hoàn cảnh mỗi người; nói sao cho người ta nghe rồi làm được ngay. Việc dễ, việc nhỏ làm được rồi, sẽ nói đến việc to, việc khó….Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới, Đảng và Nhà nước ta đã khởi xướng và tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông thôn mới là xây dựng đời sống mới, lối sống mới, là thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính bằng chương trình mục tiêu quốc gia; nhằm CNH, HĐH nông thôn, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong 19 tiêu chí nông thôn mới do Chính phủ đặt ra, có tiêu chí về văn hóa. 11 nội dung xây dựng nông thôn mới cũng chính là thực hành đời sống mới Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thực tiễn xây dựng nông thôn mới thời gian qua cho thấy, có 4 chương trình mục tiêu cơ bản, trọng tâm cầm tập trung chỉ đạo và thực hiện là: Quy hoạch, phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng đời sống văn hóa. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, 11 nội dung chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới, nhất là phát triển sản xuất hàng hóa luôn đi đôi, gắn liền với xây dựng đời sống văn hóa; phải lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Xây dựng đời sống văn hóa của nông thôn mới cần gắn với cội nguồn, nhân tố trung tâm là con người – cá nhân và cộng đồng trong các gia đình, làng xã. Trong nhân cách mỗi người, văn hóa gia đình, văn hóa làng xã cần khắc sâu các giá trị tinh thần Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư; lòng yêu nước thương dân, tất cả vì lợi ích chung như Bác dạy. Nếu trong làng xã, hệ thống chính trị còn có một số không nhỏ cán bộ, đảng viên chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân ích kỷ, tệ hại; thì còn lâu mới có nông thôn mới. Thực tiễn xây dựng nông thôn mới cũng cho thấy, trong xây dựng nông thôn mới, con người, mỗi người cá nhân, gia đình, làng xã, cả hệ thống chính trị, nhất là nông dân là chủ thể tư duy năng động, sáng tạo. Người nông dân chỉ thực sự là chủ thể của xây dựng nông thôn mới khi họ thực hành đời sống mới Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Bên cạnh xây dựng đời sống đạo đức mới- đạo đức cách mạng – cái gốc của văn hóa mới cho nông dân, chúng ta cần phát huy truyền thống tâm lý tốt đẹp như đức tính cần cù, lòng yêu nước, tính trung thực, lối sống có tình có nghĩa, và xóa bỏ tâm lý tiểu nông hạn hẹp ở họ. Muốn xây dựng thành công nông thôn mới, trước hết, chúng ta cần coi trọng công tác thông tin tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho mọi người dân về nông thôn mới, nhất là về đời sống mới- thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Như vậy, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đời sống mới từ 64 năm trước đã tạo nên động lực to lớn thúc đẩy kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Ngày nay, lời dạy ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng; trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế toàn diện và chuyển đổi kinh tế toàn cầu.

Theo TS Nguyễn Liên Châu
Báo Hà Tĩnh online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Bộ đội, Công an

1. … Hỏi: Đời sống mới trong bộ đội nên như thế nào?

Đáp: Bộ đội là một đoàn thể tổ chức nghiêm ngặt đã sẵn, càng dễ thực hành đời sống mới.

Một là kỷ luật phải cực kỳ nghiêm.

Hai là siêng luyện tập.

Ba là làm cho trong bộ đội ai cũng biết chữ. Trong các bộ đội ta, ít nhất là một phần nửa binh sĩ đã biết chữ. Những người chỉ huy phải tổ chức cho khéo, ngoài những lớp học, giao cho mỗi một người biết chữ phụ trách dạy cho một hay hai người chưa biết, thì trong vài ba tháng, tất cả binh sĩ đều biết chữ.

Bốn là một người binh sĩ phải biết chính trị ít nhiều. Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ quốc, thì chẳng những họ phải hiểu vì sao mà hy sinh, họ lại phải có thể nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước.

Năm là bộ đội cũng phải tăng gia sản xuất… Tùy theo hoàn cảnh mỗi bộ đội, hoặc làm vườn, nuôi lợn, hoặc làm giúp dân. Có lúc bộ đội chia phiên nhau, lớp đánh giặc, lớp làm ruộng làm vườn, để tự cấp tự túc không phiền đến dân cả mọi việc.

Sáu là tiết kiệm. Tiết kiệm thuốc đạn, bắn cho đúng, không bắn phí đạn. Nhờ thế mà bớt dần nguyên liệu, bớt được công khó rèn đúc, công khó vận tải, đem tài liệu và công phu đó làm việc khác.

Tiết kiệm lương thực và vải vóc, chớ nghĩ rằng cơm ăn áo mặc đã có Chính phủ lo, đã có đồng bào giúp, thì ta không cần tiết kiệm. Bộ đội có hàng mấy vạn người. Nếu mỗi người tiết kiệm một chút, sản xuất một chút, góp lại sẽ thành một số rất to.

Bảy là vệ sinh. Bộ đội đông người ăn chung, ở chung, nếu có bệnh càng dễ lây cho nhau. Cho nên càng phải rất chú ý việc vệ sinh.

Tám là ăn ở cho được dân tin, dân phục, dân yêu. Hay giúp đỡ dân, giữ đúng kỷ luật thì được như thế.

Chín là đánh được nhiều giặc, lấy được nhiều súng.

Bộ đội này thi đua với bộ đội khác làm đời sống mới.

Đời sống mới, năm 1947, sđd, t.5, tr. 103-104.

2. … Tư cách người công an cách mệnh là:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tụy.

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nói tóm lại là những đạo đức và tư cách mà người công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng…

Ngoài ra, công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình. Mỗi công an viên đóng chỗ nào thì cần dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian, v.v… Dạy cho dân ở nơi đó giữ bí mật. Và tự mình phải luôn luôn lễ phép. Tránh hách dịch.

Tư cách người công an cách mệnh. tháng 3-1948, sđd, t.5, tr. 406-407.

3. Công tác của người tướng là:

– Đối với kỷ luật: Trong quân đội, mệnh lệnh từ trên xuống dưới, phải thấm xuống tới mỗi đội viên. Chỗ nào mệnh lệnh không xuống tới thì chỗ đó hỏng. Báo cáo từ dưới lên, phải cho thật thà, nhanh chóng, thiết thực.

Về kỷ luật, phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ.

– Đối với binh sĩ, thì từ lời ăn, tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh.

Bộ đội cũng ví như con dao, cái súng, không lau chùi luôn sẽ hỏng. Chăm tập luyện sẽ tiến bộ. Bộ đội ta, tuy còn trẻ mà tiến bộ rất mau, nếu người tướng không chịu học hỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định bị lạc hậu.

– Đối với dân, thì chắc các đồng chí đã có nhiều kinh nghiệm rồi. Bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi.

– Đối với địch, thì tuyệt đối chớ khinh địch. Tục ngữ có câu: “Sư tử muốn bắt con chuột cũng phải dùng hết sức lực mới bắt được”. Khinh địch thì nhất định sẽ thất bại.

Nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ 5, tháng 8-1948, sđd, t.5, tr. 480.

quangbinh.gov.vn

“Trồng cây” và “trồng người” theo lời Bác Hồ dặn

Bác Hồ trồng cây đa tại xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội, mùa xuân 1969.

(TCTG) – Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, và không chỉ quan tâm đến việc “trồng cây” để “ích nước lợi nhà”, Người còn luôn quan tâm đến việc “trồng người” – đó là chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.

1. Vì lợi ích mười năm – phải “trồng cây”

Hiểu rõ sự gắn bó mật thiết giữa con người với môi trường sống, nên Bác Hồ đặc biệt quan tâm tới việc “trồng cây gây rừng” và Người luôn coi đây là một trong những vấn đề chiến lược, góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống và bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Trồng cây theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài việc để nhân dân chuẩn bị lấy gỗ làm nhà ở, để sản xuất, v.v..còn có một ý nghĩa thiết thực là bảo vệ môi trường tự nhiên.

Ngày 28-11-1959, Người viết bài Tết trồng cây và “đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây” để thiết thực “lấy thành tích chúc mừng Đảng 30 mươi tuổi”. Người từng nói: trồng cây “tốn kém ít mà ích lợi nhiều”, cho nên “tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và săn sóc cho tốt” và “mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây”, thì sau mươi năm, “nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu sẽ điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Sáng 6/1/1960, Lời kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng Tết trồng cây của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng được đăng trên báo Nhân dân và một số tờ báo khác, trong đó, Người kêu gọi mỗi người hãy trồng ít nhất một cây và phải chăm sóc tốt. Đợt trồng cây này gọi là Tết trồng cây và là Tết trồng cây đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động. Mùa xuân năm sau, ngày 5-2-1961, Người trồng cây ở Vườn hoa Thanh niên cùng các đại biểu dự Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Lao động thành phố Hà Nội. Ngày 20-2-1961, về thăm Pác Bó (Cao Bằng) sau hai mươi năm xa cách, sau khi dự cuộc mít tinh của nhân dân Huyện Hà Quảng tổ chức bên bờ suối Pác Bó, thăm một số gia đình có công với cách mạng, thăm lại hang Cốc Bó, Người trồng một khóm trúc bên bờ suối làm kỷ niệm…

Không chỉ viết về Tết trồng cây, Người còn nhấn mạnh rằng: Trồng cây phải là một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục của Nhà nước. Trên tinh thần đó, để trồng cây đạt hiệu quả thiết thực chứ không chỉ là phong trào, thì các cấp bộ, ngành “phải có kế hoạch, có hướng dẫn, tìm thêm hạt, ươm thêm giống… phải làm đúng khẩu hiệu “trồng cây nào tốt cây ấy”(1), để “phong cảnh của ta cũng thật sự là non sông gấm vóc, tươi đẹp vô cùng”. Không chỉ có vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: muốn cho Tết trồng cây trở thành một tục lệ tốt đẹp trong đời sống tinh thần của nhân dân ta, trở thành một nét đẹp truyền thống mỗi dịp đầu xuân, theo Người: “Tết trồng cây cũng như mọi việc khác, các cấp uỷ Đảng phải lãnh đạo cụ thể và chặt chẽ thì sẽ thành công”(2). Tuy nhiên, trong khi thường xuyên nhắc nhở chính quyền, đoàn thể các cấp phải “khéo vận động” nhân dân trồng cây để lấy gỗ làm nhà, làm củi đun, Người cũng không quên nhấn mạnh: tất cả mọi người đều phải lo “bảo vệ rừng, cấm phá rừng” để bảo vệ môi trương sinh thái, chắn gió bão, chống xói mòn, lụt lội…Theo lời Người, điểm đặc biệt là phong trào “trồng cây” sẽ thu hút tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia, thì phong trào “bảo vệ rừng, cấm phá rừng” cũng sẽ thu hút được sự tham gia của toàn xã hội.

Tiếp đó, cứ mỗi dịp xuân về, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại dành thời gian trồng cây ở Hà Nội và các địa phương, và viết bài cổ vũ cho Tết trồng cây. Trong những năm đồng bào miền Nam còn đang phải đấu tranh để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng, Người từng nhắc: mỗi cây chúng ta trồng ở miền Bắc không chỉ có ý nghĩa với riêng miền Bắc, mà là “trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa”. Trước Tết Kỷ Dậu 1969, Người đã viết bài báo cuối cùng về Tết trồng cây, đăng báo Nhân dân ngày 5-2-1969. Trong đó, Người kêu gọi: “Năm nay, chúng ta thi đua trồng cây cho thật tốt, phải đảm bảo trồng cây nào tốt cây ấy, tổ chức “một Tết trồng cây quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”. Ngày mồng một Tết Nguyên đán năm 1969, như bao xuân trước, mặc dù không được khoẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đi thăm cán bộ chiến sĩ Quân chủng phòng không không quân tại sân bay Bạch Mai. Buổi trưa cùng ngày, Người đi thăm, chúc Tết nhân dân và trồng cây đa khai xuân cuối cùng trên đồi Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây.

Từ khi chuẩn bị phát động Tết trồng cây, cho đến khi qua đời (1959-1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài về Tết trồng cây, cổ động nhân dân tích cực tham gia phong trào trồng cây, góp phần bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường và bản thân Người cũng trồng nhiều cây. Gần 43 năm sau khi Người ra đi và 53 năm sau bài viết đầu tiên của Người có nội dung về Tết trồng cây, phong trào Trồng cây đầu xuân theo tinh thần “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân” như Người mong muốn và phát động, đã mang lại những lợi ích thiết thực về môi sinh, môi trường. Biết bao cây non nhân dân ta và chính Người trực tiếp đã trồng trong những Tết trồng cây mỗi dịp đầu xuân đang trường tồn cùng thời gian, làm đẹp thêm cho làng quê, cho công viên, đường phố, để đất nước Việt Nam 4 mùa đều tươi xanh.

2. Vì lợi ích trăm năm – phải “trồng người”

Cùng với “trồng cây”, với tầm nhìn xa trông rộng của một vĩ nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chiến lược “trồng người”. Từng nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”(3), nên Người chỉ rõ sự cần thiết phải chăm lo, bồi dưỡng thế hệ trẻ (thanh niên, thiếu niên, nhi đồng), để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Ngay từ năm 1925, khi còn đang bôn ba nơi hải ngoại, Hồ Chí Minh khi đó là Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại, Người sẽ chết mất, nếu như đám thanh niên già cỗi của người không sớm hồi sinh”. Và khi về đến Quảng Châu – Trung Quốc, Người đã xúc tiến thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6-1925), tập hợp những thanh niên Việt Nam yêu nước vào một tổ chức thống nhất, giáo dục đạo đức cách mạng và trang bị cho họ những nguyên lý về Đảng, về các tổ chức, các đoàn thể, về phương pháp đấu tranh cách mạng,v.v.. của chủ nghĩa Mác – Lênin, và lựa chọn những hạt nhân cốt cán trong thanh niên vào Cộng sản đoàn; ra báo Thanh Niên làm phương tiện tuyên truyền hữu hiệu… Hơn 20 năm sau, lớp thanh niên yêu nước được Người chăm lo bồi dưỡng, trở thành đội ngũ cán bộ cốt cán đó đã góp sức làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Tháng Tám năm 1945.

Tuy nhiên, hành trình đi đến một nước Việt Nam độc lập, tự do, hòa bình và thống nhất còn đầy gian truân, thử thách, đòi hỏi Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn dân ta phải từng bước vượt qua khó khăn về mọi mặt. Trọng trách mới đặt lên vai thế hệ trẻ Việt Nam những yêu cầu mới khi đất nước vừa giành được độc lập, tự do đã phải bước vào cuộc chiến tranh nhân dân trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Bởi vậy, dù bộn bề công việc quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường xuyên quan tâm vấn đề giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; nắm vững khoa học kỹ thuật; bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, nâng cao trình độ lý luận Mác-Lênin, đặc biệt là việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, giúp họ có đầy đủ những điều kiện để trở thành người công dân tốt, người chủ tương lai xứng đáng của đất nước.

Coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, Người yêu cầu: Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Tuy nhiên, “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(4), nên yêu cầu mỗi thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng để trở thành người cách mạng chân chính. Không phải ngẫu nhiên, tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19-1-1955, Người lại nói: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà?”. Theo Người, thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư, tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình; chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay; chống lười biếng, xa xỉ; chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang, vì đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của thanh niên. Và Người dạy thanh niên phải luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản di, chống kiêu căng, tự mãn, lãng phí, xa hoa, phải thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, đặc biệt là giáo dục đạo đức tại các nhà trường, Người còn phát biểu: “Tôi xem chương trình giáo dục cho đến hết lớp 10, phần đức dục rất thiếu sót, chỉ có mười dòng”(5), và sau đó chỉ rõ: “Nội dung giáo dục cần chú trọng hơn nữa về đức dục”(6) và “không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng”.

Khẳng định vị thế của thanh niên một cách toàn diện, thấy rõ thanh niên “là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”, Hồ Chí Minh yêu cầu, đòi hỏi thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Cũng theo Người, thanh niên chỉ có thể là những người thừa kế sự nghiệp cách mạng của cha anh một cách vững vàng, nếu họ là những người có tài và có đức, được rèn luyện và trưởng thành trong thực tiễn. Vì thế, đức và tài, phẩm chất và năng lực phải được kết hợp hài hòa, cân đối và toàn diện, để mỗi thanh niên có thể tự phấn đấu hoàn thiện mình, hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang mà Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Trăn trở về chiến lược “trồng người”, trước khi đi xa, trong bản Di chúc lịch sử, Người căn dặn: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(7).

3. Tiếp tục thực hiện những lời dạy của Người về “trồng cây” và “trồng người”

Người đã đi xa, nhưng thực hiện tư tưởng và khát vọng của Người, một đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất vẫn kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc và CNXH mà Người và Đảng ta đã chọn. Cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, trong bao năm qua, Đảng và Nhà nước không chỉ quan tâm đến việc “trồng cây” mỗi dịp xuân về, trồng cây trong kế hoạch phủ nhanh đồi trọc, bảo vệ môi sinh, môi trường, thiết thực phát triển kinh tế, chống biến đổi khí hậu, v.v.. mà còn đặc biệt quan tâm đến việc “trồng người”. Cùng với việc khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường XHCN hay không, phần lớn phụ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”, các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết và gần đây nhất là Văn kiện của Đảng tại Đại hội lần thứ XI (1-2011) đã nêu rõ quan điểm “đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”(8) để xây dựng nên những con người Việt Nam có nhân cách, có lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lòng tự tôn dân tộc (9).

Tiếp tục Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, và ghi nhớ lời Người căn dặn, tuổi trẻ cả nước với tinh thần: “Không có việc gì khó; Chỉ sợ lòng không bền; Đào núi và lấp biển; Quyết chí ắt làm nên” đã phát huy truyền thống của đoàn viên, thanh niên Việt Nam, không chỉ luôn rèn chí, nỗ lực luyện tài, mà còn sôi nổi hưởng ứng phong trào Tết trồng cây mỗi dịp Xuân về, tham gia tích cực vào các phong trào Giờ Trái đất (tiếng Anh: Earth Hour) – một sự kiện quốc tế hàng năm do Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (World Wildlife Fund) tổ chức; trồng cây xanh và nhặt rác trên bờ biển; Cuộc thi sáng tác phim ngắn về Biến đổi khí hậu dành cho sinh viên do Báo Sinh Viên Việt Nam và Phái đoàn Liên minh Châu Âu (EU) tại Việt Nam tổ chức nhằm hưởng ứng Chương trình “Những ngày châu Âu 2011”… nhằm tích cực bảo vệ trái đất trước vấn đề tác động của hiệu ứng nhà kính và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Cùng với thời gian, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “trồng cây” và “trồng người” lúc sinh thời vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Từ những gì Người trăn trở, những điều đã nói và cả những việc Người đã làm tận tâm, tận lực, có thể thấy rõ rằng: trước những thách thức mới của thiên nhiên, việc trồng cây, gây rừng, bảo vệ cây, bảo vệ rừng… phải trở thành ý thức thường trực của mỗi người dân, để cây xanh không chỉ làm cho đất nước tươi đẹp, mà còn thiết thực xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế. Đồng thời, trước những yêu cầu mới của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, việc nâng cao tri thức, trình độ về mọi mặt và giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng cho thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh “vừa hồng vừa chuyên” không chỉ là thiết thực thực hiện tâm nguyện của Người, làm theo tấm gương của Người, mà đó còn là một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân ta vì một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trong hành trình phát triển./.

TS. Văn Thị Thanh Mai

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.10, tr.110
(2) Báo Nhân dân, số 2839, ngày 30-12-1961
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 167
(5) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb. CTQG, H, 1996, t. 8, tr.105
(6) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Sđd, t. 8, tr. 444
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.12, tr.510
(8), (9) , Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr. 216, 126

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Ông Hồ đã tìm thấy bên trong đất nước của mình điều bí mật về sức mạnh dân tộc”

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đã được thế giới tôn vinh là người anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới.

Nhân dân ta đã phải tiếp tục trải qua 30 năm dài chiến đấu, đầy gian khổ hy sinh để giữ vững nền độc lập, thống nhất của mình. Ngày nay, lịch sử Việt Nam đã bước sang những trang mới vẻ vang của thời kỳ đổi mới, nhưng chúng ta đều biết rằng: Tất cả những thành quả đó đều bắt nguồn từ những hoạt động tìm đường cứu nước của Bác, từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và từ cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại!

Tháng 4-1921, với bài báo “Đông Dương” trên tạp chí Revue Communiste, Nguyễn Ái Quốc viết:

“Người Đông Dương không được học, đúng thế, bằng sách vở và bằng diễn văn, nhưng người Đông Dương nhận sự giáo dục bằng cách khác. Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ… Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến.

Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(1).

Tháng 5-1921, Nguyễn ái Quốc viết tiếp:

“Người ta đưa người Đông Dương vào chỗ chết trong cuộc chém giết của bọn tư bản để bảo vệ những cái gì mà chính họ không hề biết. Người ta đầu độc họ bằng rượu cồn và thuốc phiện. Người ta kìm họ trong ngu dốt… Người ta bịa đặt ra những vụ âm mưu để cho họ nếm những ân huệ của nền văn minh tư sản ở trên máy chém, trong nhà tù hay đày biệt xứ!

… 20 triệu dân bị bóc lột tàn nhẫn trong tay một nhóm kẻ cướp thực dân, đấy là xứ Đông Dương hiện nay”(2).

Ngày 23-6-1924, tại phiên họp thứ 8 Đại hội lần thứ 5 Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn phát biểu, mạnh mẽ đấu tranh cho mục tiêu giải phóng dân tộc:

“Tôi thấy rằng hình như, các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng cho rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa…

Các đồng chí thứ lỗi về sự mạnh bạo của tôi, nhưng tôi không thể không nói với các đồng chí rằng, sau khi nghe những lời phát biểu của các đồng chí ở chính quốc, tôi có cảm tưởng là các đồng chí ấy muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc. Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các thuộc địa cung cấp binh lính cho quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Các thuộc địa trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng. Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa”(3).

Trong tài liệu nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003, cũng nêu rõ:

“Nếu ở phương Tây, các nhà kinh điển mác xít cho rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người tuy có liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng trước hết, phải giải phóng giai cấp công nhân, thì Hồ Chí Minh khẳng định: Đối với phương Đông, trong đó có Việt Nam, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trên hết, trước hết.

Hồ Chí Minh cho rằng, trong điều kiện các nước thuộc địa thì giải phóng dân tộc là cơ sở để giải phóng giai cấp, giải phóng con người”.

Ngay từ khi thành lập Đảng, trong Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ nhiệm vụ của cuộc Cách mạng là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”(4).

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 họp tại Pác Bó tháng 5-1941, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, khẳng định: “Nhiệm vụ bức thiết nhất của Cách mạng Đông Dương lúc này là giải phóng dân tộc… Trong lúc này quyền lợi của bộ phận giai cấp phải đặt dưới sự tồn vong sinh tử của quốc gia dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(5).

Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Ban Thường vụ Trung ương họp mở rộng và ra Chỉ thị lịch sử: “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào.

Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân tiếp tục họp tại Tân Trào, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ của nước ta nền đỏ sao vàng, chọn bài “Tiến quân ca” làm Quốc ca và bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(6).

Ngay trong đêm 13-8-1945, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc đã gửi Quân lệnh số 1 cho đồng bào và chiến sĩ cả nước, nhanh chóng vùng dậy giành độc lập.

Từ 14 đến 18-8-1945, Tổng khởi nghĩa đã diễn ra ở nông thôn miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An (Quảng Nam).

Ngày 19-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi rực rỡ tại Thủ đô Hà Nội. Hàng vạn nhân dân nội, ngoại thành xuống đường thị uy. Quần chúng tiến vào chiếm lĩnh phủ Khâm sai, Toà Thị chính, Trại Bảo An…

Từ 19-8 đến 22-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa tại các thị xã Yên Bái, Thái Bình, Phúc Yên, Thanh Hoá, Khánh Hoà, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên, Nam Định, Hưng Yên, Kiến An, Quảng Yên đã giành thắng lợi.

Ngày 23-8-1945, cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi ở thành phố Huế. 15 vạn nhân dân Huế, Thừa Thiên đã nổi dậy bắt vua Bảo Đại phải thoái vị, nộp ấn kiếm cho cách mạng, xoá bỏ chính thể quân chủ ở Việt Nam.

Từ 23-8 đến 25-8-1945, các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Định, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tây Ninh, Biên Hoà, Đồng Nai Thượng giành thắng lợi.

Sáng 24-8-1945, tại Sài Gòn, Đảng ra hoạt động công khai, đông đảo quần chúng phấn khởi nhìn lá cờ đỏ búa liềm tung bay trước gió.

1 giờ sáng ngày 25-8-1945, toàn bộ chính quyền thành phố Sài Gòn đã thuộc về Cách mạng.

Như vậy là chỉ trong vòng nửa tháng, cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại đã thành công trong cả nước!

L.A Pat-ti, một tình báo Mỹ, người đã được Bác Hồ đọc cho nghe Bản Tuyên ngôn độc lập trước ngày đọc ở Ba Đình và cũng là người có mặt ở Hà Nội ngày 2-9-1945 đã viết trong cuốn sách “Why Viet Nam” (Tại sao Việt Nam) dày ngót một nghìn trang, có đoạn kể lại ngày 2-9 ở Ba Đình:

“Tiếng loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, người ta giới thiệu “ông Hồ là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng hát vang và trong mấy phút liền hô vang “Độc Lập”, “Độc Lập”. Ông Hồ mỉm cười, nhỏ nhắn trong tầm cỡ, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, mà ngày nay đã trở thành nổi tiếng…”(7).

Hen Xơ-bớc-lem, tác giả cuốn “Việt Nam một dân tộc trong Cách mạng” đã viết: “Đối với Việt Nam, Cách mạng Tháng 8 là cuộc thử sức bằng cả lực lượng và tài trí. Ông Hồ đã tìm ra giải pháp đúng, đi nước cờ thật tài ba tuyệt diệu… Những người đứng đầu Việt Minh được tán thành do quá khứ của họ và quá khứ lâu dài của Đảng Cộng sản Đông Dương… Ông Hồ đã tìm thấy bên trong đất nước của mình điều bí mật về sức mạnh dân tộc, sức mạnh của 25 triệu người Việt Nam lúc ấy”(8).

___

(1, 2, 3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 1, tr.28, 34, 273. (4, 6) Sđd, tập 3, tr.1, 554. (5) Văn kiện Hội nghị TW Đảng lần thứ 8. (7) Why Việt Nam – NXB Đà Nẵng, năm 2001. (8) Cách mạng Tháng 8 với các học giả nước ngoài, Báo Người Đại biểu nhân dân, tháng 8-2001.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn

Nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh dân tộc

Sứ mệnh thiêng liêng của thế hệ Việt Nam ngày nay là phải giữ gìn độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ trong một thế giới đầy biến động. Bản lĩnh của người lãnh đạo là phải biết khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh dân tộc được khởi nguồn từ mệnh lệnh trái tim của mỗi người dân Việt Nam.

HaiBaTrung.jpgHai Bà Trưng. Ảnh: Tuấn Anh

Từ ngọn lửa yêu nước và khí phách anh hùng của ông cha

Có lẽ bài học vỡ lòng về yêu nước và khí phách anh hùng cho nhiều thế hệ Việt Nam xưa nay là chuyện Trần Quốc Toản đời nhà Trần thế kỷ XIII. Do không được cùng các vương hầu bàn việc quân cơ tìm kế sách chống quân xâm lược, trang thiếu niên anh hùng ấy đã giận dữ bóp nát quả cam đang cầm trong tay lúc nào không biết.

Chưa được dự bàn tại hội Bình Than vì tuổi nhỏ, không có nghĩa là không được thực hiện lòng yêu nước. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư chép về chuyện này như sau: “Trần Quốc Toản tủi phận lui về huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ “Phá Cường Địch, Báo Hoàng Ân”… khi đối trận tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch”[1].

Tuổi nhỏ, chí lớn, trang thiếu niên đã giành lấy quyền được yêu nước rồi dũng cảm thể hiện bằng hành động cái quyền thiêng liêng ấy. Hành động được lưu danh sử sách, từng làm xúc động bao nhiêu tấm lòng Việt Nam, nhen nhúm ngọn lửa yêu nước và khí phách anh hùng trong họ.

Sở dĩ cậu bé tuổi chỉ 15, 16 mà có khí phách lớn đến vậy là do đã được nuôi dưỡng trong hào khí của ông cha, hun đúc nên từ ý chí quật cường không chịu khuất phục trước sức mạnh cũng như tham vọng và mọi thủ đoạn đe dọa của kẻ thù. Không có một khí phách của Trần Thủ Độ: “Đầu thần chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo”, khí phách của Trần Quốc Tuấn: “Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã” [1], khí phách của Trần Bình Trọng: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”[1] thì làm sao có được khí phách của trang thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản?

Mà đâu chỉ các vương hầu với khí phách Đông A của dòng họ Trần. Nó còn tượng hình rõ trên hai chữ “Sát Thát” thích trên cánh tay của quân sĩ đời Trần quyết “cảm tử cho tổ quốc quyết sinh” trước quân xâm lược.

Cần nhớ rằng đế quốc Nguyên Mông thời ấy đã từng kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài từ bờ Thái Bình Dương đến bên kia Hắc Hải chưa hề có trong lịch sử thế giới mới càng hiểu khí phách ấy là lớn đến ngần nào.

Chẳng thế mà, sau khi lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, vua Trần Nhân Tông, nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, sách “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh” có một cách giải thích độc đáo nhằm nhấn mạnh ý thức cảnh giác của vị vua anh hùng khi gọi ngài là “một vị Vô Lượng Lực Đại Thế Chí Bồ Tát” để chỉ việc “dựng lên ngôi chùa, thời thường dạo chơi để xem động tĩnh, cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm”!

Cách giải thích có phần khiên cưỡng ấy phải chăng nhằm đề cao lòng yêu nước và tinh thần cảnh giác để đối lập với những kẻ ươn hèn hốt hoảng núp bóng ngoại bang như Trần Di Ái, Trần Ích Tắc. Những con chiên ghẻ này đã bôi nhọ tinh thần Đông Á, phản nước, phản dân muôn đời bị nguyền rủa. Sử chép: “Ích Tắc đã từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam. Đến nay, người Nguyên vào cướp, Ích tắc xin hàng chúng để mong được làm vua. Người Nguyên phong làm An Nam Quốc Vương. Sau khi quân Nguyên thất bại, Ích Tắc trong lòng hổ thẹn, chết ở đất Bắc!” [1].

Nhưng cùng với những chuyện đó, sử cũng lại chép chuyện một hiền thần không phải là quý tộc họ Trần từng khiến tướng giặc Ô Mã Nhi phải thốt lên “Người này …có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa thể mưu tính được”. Đó là chuyện Đỗ Khắc Chung tại trại giặc. Khi Ô Mã Nhi hỏi: “Quốc Vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ Sát Thát, khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm”. Khắc Chung đáp: “Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao lại không có”. Nói rồi giơ cánh tay cho xem… [Ô Mã Nhi] sai người đuổi theo Khắc Chung nhưng không kịp”. [1]

Quả vậy, tên tướng xâm lược đã hiểu ra một chân lý: Khi một nước “còn có người giỏi, [thì] chưa thể mưu tính được”. Và thật dễ hiểu, để “mưu tính” thì phải làm cho nước ấy hết người giỏi, mua chuộc người giỏi không được thì phải tìm cách trừ khử, đó là thủ đoạn muôn đời!

Nhắc đến chuyện đời Trần để lưu ý rằng, lịch sử là một nhân tố mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào có thể đứng vững được. Vì vậy, học lại bài học lịch sử để thường xuyên hun đúc và phát huy tinh thần dân tộc thể hiện trong lòng yêu nước và khí phách Trần Quốc Toản cho thế hệ trẻ là điều cực kỳ quan trọng để biết trân trọng từng thước đất ông cha để lại, không ngần ngại hy sinh chiến đấu để bảo vệ và xây dựng tổ quốc thân yêu của mình.

Đến sứ mệnh thiêng liêng của thế hệ Việt Nam ngày nay

images35455_a1-t3_(Small)634079209936562500.jpgBác Hồ làm việc tại Phủ chủ tịch. Ảnh: Tuấn Anh

Non sông gấm vóc ta có được đến bây giờ từng thấm đẫm bao nhiêu mồ hôi, xương máu của ông cha. Sứ mệnh thiêng liêng của thế hệ Việt Nam ngày nay là phải giữ gìn độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ trong một thế giới đầy biến động.

Điều ấy đòi hỏi phải thể hiện khí phách ấy trong những ứng xử linh hoạt, tinh tế và tỉnh táo trên cơ sở dựa chắc vào bản lĩnh của cả dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, trước hết là của tuổi trẻ Việt Nam, tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền yêu nước của mình.

Những sự kiện lịch sử được nhắc đến ở trên có ý nghĩa như những thông điệp của ông cha truyền gửi cho con cháu muôn đời. Những thông điệp kiểu như vậy từ những “tọa độ” có sức âm vang lịch sử như thế, sẽ góp phần nung nấu, giục giã ý thức dân tộc, điểm nhạy cảm nhất trong tâm tư tình cảm người Việt Nam ta.

Nói như vậy không phải tự vỗ ngực để cho rằng ý thức dân tộc là sản phẩm riêng của người Việt Nam. Nhưng cũng sẽ rất nông cạn và đánh mất một động lực cực lớn nếu không thấy hết nét đặc trưng làm nên điểm nhạy cảm độc đáo trong tâm thức người Việt.

Chẳng hạn như, nếu Tôn Trung Sơn, nhà tư tưởng lớn của lịch sử Trung Quốc hiện đại từng nghiêm khắc đưa ra nhận định có tính phê phán nhằm chấn hưng dân khí Trung Hoa: “Ở nước ta gia tộc và tông tộc được đồng bào sùng bái nhất, cho nên có thể nói nước ta chỉ có chủ nghĩa gia tộc, chủ nghĩa tông tộc nhưng thiếu hẳn chủ nghĩa dân tộc”, thì với Việt Nam lại không như thế.

Do đặc điểm hình thành trong cái thế kẹt của “trứng nằm dưới đá”, lòng yêu nước và tinh thần dân tộc là vũ khí sống còn của người Việt chống lại ách đô hộ và âm mưu đồng hóa để có thể tồn tại và phát triển. Không có cái đó, sẽ không có Việt Nam hôm nay.

Chính vì vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những năm 20 của thế kỷ XX đã khẳng định “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước” [2]. Mỗi khi động lực ấy được khởi động, thì “nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn”. [3]

Đây là luận điểm đưa ra tại Đại hội lần thứ II của Đảng họp tại Việt Bắc năm 1951, đổi tên Đảng thành Đảng Lao Động Việt Nam. Tinh thần dân tộc là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam được Hồ chí Minh diễn đạt bằng khái niệm lòng yêu nước.

Mỗi khi nền độc lập của đất nước bị uy hiếp thì lòng yêu nước ấy lại bùng phát mãnh liệt: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. …Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày…”.

Những lời bất hủ ấy đã khơi dậy và thổi bùng ngọn lửa yêu nước, thiêu cháy mọi sự ươn hèn khiếp hãi trước sức mạnh và thủ đoạn thâm độc, nham hiểm của kẻ thù, giục giã tinh thần và ý chí mỗi người Việt Nam hành động theo mệnh lệnh của trái tim để “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Mọi thế lực xâm lược trong lịch sử đều bị đánh cho tan tác vì chúng không hiểu được một thực tế Việt Nam, rất Việt Nam là: Họa xâm lăng, nguy cơ mất nước là ngọn lửa thử vàng làm lộ rõ bản lĩnh của từng con người Việt Nam, gắn kết họ lại thành một khối vững chắc vì đã loại bỏ được chuyện vàng thau lẫn lộn do một sự trải nghiệm thật nghiêm khắc: “Thật vàng không sợ lửa”.

Mệnh lệnh của trái tim và sự dẫn dắt của cái đầu biết tư duy

Xin dẫn ra một ví dụ từ lịch sử về ý chí Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam, giải pháp Việt Nam thể hiện rất nổi bật và rất điển hình trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc…” [4]

Mệnh lệnh ấy chính là mệnh lệnh của trái tim Việt Nam. Theo “mệnh lệnh” ấy thì mới có thể muôn người như một “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc” đứng lên đánh giặc cứu nước.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người hiểu rõ cái giá của hòa bình xây dựng, của tình hữu nghị để cùng phát triển. Nhẫn nại, kiên trì theo đuổi con đường đàm phán, cố gắng tránh chiến tranh, đổ máu, thậm chí không ngần ngại dùng “chính sách Câu Tiễn” để cứu vãn hòa bình đang mong manh như sợi chỉ mành trước gió, mặc dầu hiểu rất rõ bản chất của kẻ thù “ta càng nhân nhượng, địch càng lấn tới” .

Nhưng vì biết như vậy, nên Hồ Chí Minh và Đảng của mình luôn giành thế chủ động trong đấu tranh. Và đấy là bản lĩnh làm nên thắng lợi.

Đương nhiên, lòng yêu nước không chỉ biểu hiện bằng “gươm súng, cuốc thuổng, gậy gộc”, mà có khi chỉ là lá cờ Tổ quốc được giương lên để biểu thị một ý chí, một thái độ, một cảm xúc.

Chẳng hạn, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng che kín một mảng lớn khán đài sân vận động Mỹ Đình trong trận chung kết Việt Nam – Thái Lan. Chẳng ai “lập trình”, “lên kế hoạch”, “phân công, tổ chức” cho những lời gào thét bùng nổ niềm phấn khích vô hạn cũng như “điều hành, xin ý kiến chỉ đạo” những giọt nước sung sướng của Tấn Tài, cũng như của bao người khác trên sân vận động hoặc trước màn hình khi cái đầu kỳ diệu của Công Vinh biến giấc mơ thành hiện thực, đưa bóng đá Việt Nam lên ngôi vô địch.

Nhưng chính vì vậy mà những buồn vui, những háo hức say mê, những gào thét, phấn khích, những giọt nước mắt giàn dụa tuôn trào, mới thật sự nói lên cường độ mãnh liệt và ý nghĩa trong suốt của mệnh lệnh trái tim, những mệnh lệnh được ban ra từ trái tim của mỗi người yêu nước.

Chính những mệnh lệnh được ban ra từ trái tim ấy mới thật sự là sức mạnh vô bờ, khác nào sức mạnh của dòng sông tuôn về biển lớn mà quyết định tốc độ tuôn trào ấy là sức cuộn chảy từ bên dưới chứ không phải những váng bẩn, bèo bọt nổi lên trên.

Ở những đoạn sông chảy xiết, nhất là ở những khúc quanh đột ngột mở ra một hướng mới, đưa dòng nước xuôi về biển, váng bẩn sẽ càng nổi lên nhiều. Những đôi mắt cận thị bị những lợi ích vụn vặt trước mắt che lấp tầm nhìn, sẽ chỉ thấy được những bèo bọt, những váng bẩn mà không sao thấy được sức cuộn chảy từ bên dưới.

Ấy vậy mà, chính sức cuộn chảy từ bên dưới ấy mới làm nên lịch sử! Vì lịch sử là một sự vận động trong thế tương quan giữa nhiều lực lượng nhằm tìm ra một hợp lực, vạch ra con đường đi của nó. Ngay từ đầu, và cho đến bây giờ và mãi mãi, những hợp lực ấy vẫn do các cá nhân hiện thực tạo ra mà vẫn không là phụ thuộc vào cá nhân họ.

Phải chăng vì thế mà Hegel cho rằng động cơ của những nhân vật lịch sử, thật ra, không phải là những nguyên nhân cuối cùng của lịch sử. Cái hợp lực tạo ra sức mạnh của một dân tộc, viết nên những trang hào hùng của lịch sử dân tộc, chính là quần chúng nhân dân. Những người theo mệnh lệnh của trái tim đã có mặt đúng lúc, đúng thời điểm cần có họ. Ở đây, mệnh lệnh của trái tim được dẫn dắt bởi sức mạnh của cái đầu, cái đầu biết tư duy.

Trên ý nghĩa đó mà hiểu sâu về những mệnh lệnh của trái tim yêu nước đẩy tới những hành động, những sự kiện mà chỉ nhìn từ bên ngoài, chỉ là những biểu hiện đơn lẻ, bình thường, rời rạc nhưng phải thấy cho ra cái bản chất tiềm ẩn kín đáo bên trong của lòng yêu nước, điều mà Bác Hồ đòi hỏi “bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày…”.

Biết khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh được khởi nguồn từ mệnh lệnh trái tim ấy chính là bản lĩnh của người lãnh đạo. Làm phôi pha, thất thoát sức mạnh có thể “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn” ấy là có tội với dân tộc, với lịch sử.


Ghi chú:

[1] Đại Việt Sử Ký Toàn thư. Tập II. NXBKHXH. Hà Nội 1988, tr.49, tr. 28, tr.81,tr. 55, tr.53, 54 (theo thứ tự trước sau của câu trích dẫn trong bài. Bản kỷ toàn thư. Quyển V. Kỷ nhà Trần
[2] Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập I. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr.466, 467
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập VI. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr 171, 172
[4] Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập IV. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr 480

GS. Tương Lai
Theo: TuanVietNam.net

hochiminhhoc.com

“Quyền trị dân” chỉ có thể bắt nguồn từ một “khế ước xã hội” Bác Hi Mã và cháu Tất Thành

Đây là đoạn trích Tiết 4. “Quyền trị dân” chỉ có thể bắt nguồn từ một “khế ước xã hội” Bác Hi Mã và cháu Tất Thành thuộc Chương 3. Chớm nở ý thức pháp quyền, quyền làm người, quyền dân tộc, chủ quyền dân tộc của cuốn sách Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh của tác giả Vũ Đình Hòe, website http://hochiminhhoc.com xin chân trọng giới thiệu đến quý độc giả

Picture1.jpgCác nhà khai sáng Pháp và tác phẩm “Khế ước xã hội”. Ảnh: Tuấn Anh

Quân trị – Dân trị: “Khế ước xã hội”

Quân chủ, quân quyền, quân chủ – quân quyền chuyên chế, quân chủ tập quyền chuyên chế tuyệt đối… tồn tại và phát triển trải qua muôn đời đã hao tốn cho nhân loại hàng biển mồ hôi, nước mắt, và cả xương máu nữa chứ! Nó “thọ” lâu như thế là nhờ vào triết lý “cao siêu”: tôn vua lên ngôi Thiên tử, ý Vua là ý Trời. Mà Trời, Thượng Đế thì Chí Thiện, Chí Công, Chí Minh! Dân chỉ cần cúi đầu thán phục. Nếu vô phúc gặp phải hôn quân thì cứ chịu nhẫn nhục mà kêu trời rồi trước sau Trời cũng sẽ biết, sẽ ra tay cho vua biết thân. Khốn khổ thay, Trời mà ra tay (thiên tai) thì chính Dân lại là người “è cổ” ra mà chịu báng trước!

Con giun xéo lắm cũng oằn! Giá mà con giun có nọc độc thì nó cũng phun ra hết. Đó là chân lý của lịch sử. Để tạo động lực cho lịch sử, các nhà bác học bách khoa thế kỷ XVIII là Montesquieu, Rousseau, Voltaire, Diderot… đã sáng tác ra một triết lý mới thay vào Thần quyền. Nổi bật lên là J. J. Rousseau (Lư Thoa) với tác phẩm “Du Contrat Social”. Người ta dịch là “Khế ước xã hội”, gọn là “Xã ước”. Hồ Chí Minh dịch là “Dân ước”, Nguyễn An Ninh, nhà học giả Cách mạng Dân chủ thời Hồ Chí Minh dùng tên gọi ấy, ngắn gọn mà gợi cảm. Sơ lược triết lý cao siêu ấy là thế này:

Con người sinh ra ai cũng được tự do như nhau, tự do tuyệt đối, bình đẳng tuyệt đối đối với mọi người khác. Nhưng con người muốn tồn tại được trong giời đất thì phải sống thành đàn, thành bầy, thành bang để nương tựa lẫn nhau. Đã là đàn, là bầy, là bang thì phải có người, có bộ phận “cầm đầu”. Và mỗi người trong tổ chức xã hội ấy phải tự nguyện bớt một mảnh tự do vô hạn trước đây cảu mình giao cho người hay bộ phận cầm đầu để tạo điều kiện cho họ làm đầy đủ phận sự được giao là quản lý và bảo vệ quyền lợi chung của xã hội. Thế là một khế ước (hợp đồng, thỏa hiệp, thỏa ước) vô hình trung đã hình thành. Mọi người, kể cả người đứng đầu đều phải tôn trọng nếu không thì loạn. “Người bị trị” đã vi phạm hợp đồng thì phải chịu đã đành. Kẻ “trị dân” cũng vậy, nếu làm “không nên thân” thậm chí còn bớt xén của công, lộng hành, tư túi… thì ắt bị cộng đồng hạ bệ tức thì, thay người khác xứng đáng hơn. Dưới đây trích mấy câu, mấy đoạn nguyên văn:

Người sinh ra tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích (…)

Nếu tôi chỉ xem xét về lực và hệ quả của lực thì tôi sẽ nói rằng: khi nhân dân bị cưỡng bức mà lại biết phục tùng, họ làm thế là phải. Nhưng nếu có thể hất cái áp bức đó đi thì còn hay hơn nữa, vì thế họ giành lại tự do vốn có quyền được hưởng, có quyền giành lại và không ai được tước đoạt quyền tự do của họ.

Trật tự xã hội là một thứ quyền thiêng liêng làm nền tảng cho mọi thứ quyền khác, nhưng trật tự xã hội không phải tự nhiên mà có. Nó được xác lập trên cơ sở những công ước. Vậy phải tìm hiểu công ước ấy là gì (…) 1)

Xin trích ra đây hai đoạn trong sách “Dân ước” của Rousseau. Trong các đoạn ấy, học giả Cách mạng dân chủ nói lên khái niệm mới về quyền lực nhà nước. Một đoạn trích thuộc Chương II trong quyền 1, và một đoạn trích thuộc Chương VI trong quyển 2.

Chương II (Quyển 1)
“Công ước (Pacte) xã hội”

… nhưng con người không thể tạo ra lực mới mà chỉ có thể kết hợp và điều khiển những lực sẵn có, cho nên phương pháp duy nhất để con người tự bảo vệ là họ phải kết hợp lại với nhau thành một lực chung được điều khiển bằng một động cơ chung khiến cho mọi người đều hành động một cách hài hòa (…)

Tìm ra một hình thức kết liên với nhau để dùng sức mạnh chung mà bảo vệ mọi thành viên. Mỗi thành viên trong khi khép mình vào tập thể, dùng sức mạnh tập thể, vẫn được tự do đầy đủ như trước, vẫn chỉ tuân theo chính bản thân mình. Đó là vấn đề cơ bản mà khế ước (contract) đưa ra cách giải quyết (…) Thực chất của công ước xã hội là gì?

Mỗi người chúng ta đặt mình và quyền lực mình dưới sự điều khiển tối cao của ý chí chung và chúng ta tiếp nhận mọi thành viên như một bộ phận không thể tách rời của toàn thể.

Hành viên liên kết sẽ tạo nên một cơ thể tinh thần chung, gồm bao nhiêu thành viên thì có bấy nhiêu tiếng nói trong một hội đồng, mỗi thành viên nhận được sự nhất trí của mình trong hành vi liên kết đó, họ tìm thấy cái tôi tập thể, tìm thấy cuộc sống và ý chí của mình trong tập thể. Con người công cộng được hình thành bằng sự liên kết với tất cả người khác. Ngày xưa, con người công cộng ấy được gọi là thành bang, ngày nay chúng ta gọi là “nước cộng hòa” hoặc “cơ thể chính trị”. Mỗi thành viên ở thể thụ động thì gọi là người công cộng, đó là “Nhà nước”, ở thể chủ động thì gọi nó là “quyền lực tối cao”. Khi đối sánh với đồng loại thì con người đó được gọi là “quyền lực”. Về phần các thành viên, họ lấy một tên chung là “dân chúng”; mỗi người riêng lẻ thì gọi là “công dân” trong khi họ tham gia vào quyền lực tối cao, hoặc gọi là “thần dân” trong khi họ phục tùng pháp luật Nhà nước”.

Chương Sáu (quyển 2)
Bàn về luật

… “khi toàn dân quy định một điều gì cho toàn dân thì họ chỉ xem xét đến toàn thể, nếu hình thành một quan hệ thì phải là quan hệ giữa toàn thể trên một cách nhìn này với toàn thể trên một cách nhìn khác; cái toàn thể không hề bị chia tách ra. Như vậy, chất liệu để xây dựng là chất liệu chung, cũng như ý chí xây dựng là ý chí chung. Cái đó gọi là luật.

Khi tôi nói luật bao giờ cũng là tổng quát chung cho mọi người, tôi hiểu rằng luật coi tất cả thần dân là một cơ thể mà trừu tượng hóa các hành động, không coi con người như một cá nhân hoặc như một hành động riêng lẻ. Luật có thể quy định rằng sẽ có một số đặc quyền nhưng luật không nói rõ đặc quyền cho một cá nhân cụ thể nào. Luật cũng có thể chia công dân làm hạng nhưng không quy định cụ thể người nọ, người kia là thuộc hạng này hạng khác. Luật có thể quy định việc thành lập Chính phủ và hệ thống cấp bậc nhưng không cử ra một ông vua hay chỉ định một gia tộc nào là hoàng gia. Tóm lại, mọi chức năng liên quan đến đôi tượng cá nhân không phải là chức năng của quyền lực luật pháp.

… Luật thống nhất cái tổng thể của ý chí với tổng thể của đối tượng. (…) Ngay cả cái mà cơ quan quyền lực tối cao ra lệnh cho một đối tượng cá nhân cũng không phải là luật mà là một nghị định, không phải của cơ quan tối cao mà là của cá nhân pháp quan”. (…)

… Vậy nước cộng hòa là tất cả những người nào do luật trị vị bất kể dưới hình thức nào. Luật trị vì tức là lợi ích chung trị vì…”

Tôi (Vũ Đình Hòe) xin nhấn mạnh ý trên: chế độ dân chủ, dân quyền, chế độ dân chủ cộng hòa là chế độ luật trị. Luật trị là do dân đặt ra, dân nắm quyền lực nhà nước, dân trị; pháp quyền là pháp quyền của dân để bảo đảm, bảo vệ lợi ích chung của toàn dân trong đó có lợi ích riêng của mỗi người, gồm cả dân thường lẫn người dân cầm đầu nhà nước đều là thần dân của nhà nước dân chủ, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.

1) Xem sách: Bàn về khế ước xã hội. Thanh Đạm (Hoàng Nhật Tân) dịch và diễn giải, chú thích, NXB TP HCM, 1992, chương I, quyển 1, trang 29

Nguồn:  Sách Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh

hochiminhhoc.com

Độc lập dân tộc và CNXH từ Đường Kách mệnh đến Cương lĩnh chính trị của Đảng (*)

Độc lập dân tộc và CNXH được lựa chọn từ trong tác phẩm Đường Kách mệnh, được khẳng định trong các Văn kiện của Đảng từ mùa xuân năm 1930 đến Cương lĩnh chính trị của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011), thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI (1/2011), vẫn sẽ là nguồn sức mạnh nội lực, là ánh sáng soi đường, để đưa nhân dân ta đi trên một lộ trình đúng, phù hợp tâm nguyện của toàn dân tộc, hướng đến tương lai ấm no, hạnh phúc, đất nước đến giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững vàng hội nhập cùng bạn bè quốc tế.

Picture12.pngMột số nội dung chính của tác phẩm “Đường Kách Mệnh”. Ảnh: Tuấn Anh

Thấm nhuần lời dặn của Lênin trong cuốn sách Làm gì?: “Không có lý luận Kách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… Chỉ có theo lý luận kách mệnh tiền phong, Đảng kách mệnh mới làm nổi trách nhiệm kách mệnh tiền phong” (1), trong những năm 1924-1927, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Hồ Chí Minh đã tiến hành những hoạt động lý luận và thực tiễn: mở lớp Huấn luyện chính trị, thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, ra báo Thanh Niên, nhằm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên và tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lênin cho phong trào cách mạng Việt Nam. Những bài giảng của Hồ Chí Minh tại lớp Huấn luyện chính trị thời kỳ này đã được Bị áp bức dân tộc liên hợp hội tuyên truyền bộ ấn hành (với tên gọi Đường Kách mệnh, đầu năm 1927).

Đường Kách mệnh là một tác phẩm được viết ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ đối với đông đảo quần chúng nhân dân, không ngoài một hy vọng: Đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, rồi tỉnh dậy, đoàn kết lại để làm cách mệnh, nhằm giành lại độc lập và tự do. Thông qua việc luận giải một cách cụ thể những khái niệm về: Tư cách một người cách mệnh; Cách mệnh, về dân tộc cách mệnh, thế giới cách mệnh, cách mệnh trước hết phải có cái gì? Về các cuộc cách mạng Mỹ, Pháp, Nga; Về vai trò của Quốc tế I, II, III; về vai trò của các tổ chức quần chúng như Công hội, Nông hội, v, v.., Đường Kách mệnh đã giúp cho những người dân Việt Nam yêu nước hiểu rõ hơn về đối tượng, mục tiêu, con đường và bổn phận của mình trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng.

Cũng trong Đường Kách mệnh, sau khi phân tích lịch sử những cuộc cách mạng tư sản điển hình trên thế giới như Mỹ, Pháp, và dù đồng ý với tư tưởng dân chủ tiến bộ mà cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp đã tuyên bố trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791, nhưng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vẫn không tán thành đường lối mà các chính quyền tư sản đã tiến hành sau thắng lợi của hai cuộc cách mạng nói trên. Theo Người “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”, nên: Muốn dân tộc được độc lập, muốn nhân dân lao động thoát khỏi thân phận người nô lệ, thì phải làm cách mạng một cách triệt để. Không thể đi theo con đường cách mạng tư sản, không thể thiết lập mô hình nhà nước cộng hoà tư sản, nơi chính quyền chủ yếu thuộc về giai cấp hữu sản, Người viết: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” (2).

Để tiến hành một cuộc cách mạng mà khi chính quyền được thành lập là của dân chúng số nhiều, Hồ Chí Minh đã hướng về một cuộc cách mệnh “đến nơi”, nghĩa là một cuộc cách mệnh, mà sau đó sẽ lập ra một chính quyền thực sự của dân, không áp bức dân, không bóc lột dân. Người đã tìm thấy cuộc cách mệnh đó khi đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đó là Cách mạng Tháng Mười Nga, một cuộc cách mạng triệt để, đem lại bình đẳng, tự do thực sự cho đông đảo quần chúng nhân dân và kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An nam” (3); đồng thời cách mạng Nga dạy chúng ta rằng: “Muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin” (4).

Như vậy, cùng với việc nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa yêu cầu giải phóng dân tộc và giải phóng con người là nhu cầu của thời đại, trên tinh thần của học thuyết Mác – Lênin và giải quyết một cách triệt để nhu cầu ấy, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lựa chọn và đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, để giải phóng dân tộc và giải phóng con người bằng một cuộc cách mạng vô sản và bước phát triển tiếp theo là xây dựng CNXH. Từ đó, Người nêu rõ việc phải tiến hành cả 2 cuộc cách mệnh: Dân tộc cách mệnh và Thế giới cách mệnh, phải nhờ vào Đệ tam quốc tế và phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc. Dân tộc cách mệnh là tập trung đánh đổ bọn đế quốc thực dân và bọn phong kiến tay sai, đánh đổ cường quyền, giành lại độc lập cho xứ sở và Thế giới cách mệnh là giống như công nông Nga đánh đổ tư bản áp bức, “Đảng Cộng sản cầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công, nông, binh…, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng (thực hiện chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới- tác giả nhấn mạnh)”. Và luận cứ để mục tiêu: Độc lập dân tộc và CNXH có thể trở thành hiện thực sinh động, chính là khẩu hiệu chiến lược của Quốc tế thứ III: “Vô sản giai cấp và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại” và sự khẳng định: “Cách mệnh Nga đã thành công để làm nền cho cách mệnh thế giới” (5).

Nhận thức chính trị này đã đưa Hồ Chí Minh đến với định hướng cơ bản về con đường giải phóng dân tộc Việt Nam theo quỹ đạo cách mạng vô sản và thiết lập một thể chế quyền lực thuộc về nhân dân theo mô hình nhà nước Xô Viết. Đó chính là con đường: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà mục tiêu trước hết là “độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào”.

Mục tiêu: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH – đích tất yếu của cách mạng Việt Nam do Hồ Chí Minh trình bày trong tác phẩm Đường Kách mệnh đã được khẳng định trong Văn kiện Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt (Cương lĩnh chính trị đầu tiên) của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Người soạn thảo và được thông qua ở Hội nghị thành lập Đảng (đầu năm 1930, tại Cửu Long – Hương Cảng), đó là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (6). Đây là kết quả của một tư duy sáng tạo, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại, và đây chính là “cái cần thiết cho chúng ta” trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Độc lập, tự do và CNXH (giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa) – mục tiêu định hướng tương lai của dân tộc Việt Nam, là sự lựa chọn chính xác, đúng đắn của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX. Khẳng định và phấn đấu cho mục tiêu này, trong suốt 81 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành được những thắng lợi rất đỗi tự hào.

Ngọn cờ độc lập, tự do và CNXH nêu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, thực sự là viên ngọc quý và sức hấp dẫn của nó đã góp phần khơi nguồn sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp giải phóng. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh là người đã chỉ rõ phải đánh đổ cả đế quốc, phong kiến và tay sai giành lại độc lập, tự do cho nhân dân, đồng thời phải xây dựng CNXH, thì nền độc lập, tự do của dân tộc mới được đảm bảo và người dân mới được giải phóng thực sự. Lịch sử luôn có những thăng trầm, luôn có khúc ngoặt, song sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam, mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH đã được thực hiện sinh động trong thực tiễn, đó chính là thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa thu năm 1945.

Tiếp tục thực hiện tư tưởng cách mạng không ngừng, và kiên định con đường đã lựa chọn, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng (2/1951), cuộc trường chinh chống thực dân Pháp kéo dài 9 năm (1946-1954), đã giành được thắng lợi. Song với Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc Việt Nam đã được giải phóng, từng bước khôi phục, cải tạo kinh tế, xã hội, văn hóa, v.v.. và đi lên CNXH, còn ở miền Nam, đồng bào ta tiếp tục thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng, thực hiện thống nhất nước nhà.

Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) – Đại hội xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà đã khẳng định: “Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH” và sau đó nhiều Hội nghị Trung ương và Bộ Chính trị đã có sự bổ sung, phát triển. Hướng đến tương lai tươi sáng đó, cuộc đấu tranh đầy gian khổ sau 21 năm gian nan, thử thách, vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc, vừa đấu tranh cách mạng ở miền Nam đã kết thúc bằng cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Miền Nam đã được giải phóng, hai miền Nam – Bắc đã sum họp một nhà và cả nước cùng đi lên CNXH.

Lịch sử thế giới hiện đại đã chứng minh rằng, Việt Nam là nước đầu tiên tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đồng thời cũng là nước đầu tiên đi lên CNXH trong điều kiện có chiến tranh. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng ở cả 2 miền Nam, Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, để cả nước cùng tiến lên CNXH. Điều đó cho thấy, mục tiêu Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, là quy luật phát triển tất yếu và thắng lợi của cách mạng Việt Nam, và đó cũng là sự nhất quán của Hồ Chí Minh, của Đảng ta trong việc lựa chọn con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Và sự lựa chọn từ mùa xuân năm 1930 đó, đã được Đảng ta do Người sáng lập và rèn luyện kiên định thực hiện, với những bước đi thích hợp, nhằm đạt được mục tiêu đã lựa chọn.

Khi thống nhất nước nhà đã trở thành hiện thực, khát vọng xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN không chỉ là tiếp tục hành trình đã lựa chọn, mà còn là khẳng định con đường tất yếu đi lên CNXH của cách mạng Việt Nam – con đường hợp xu thế phát triển thời đại.

Kể từ mùa xuân năm 1975 đến nay, Đảng ta đã tiến hành 8 kỳ Đại hội (IV- năm 1976, V- năm 1882, VI- năm 1986, VII- năm 1991, VIII- năm 1996, IX- năm 2001, X- năm 2006, XI- năm 2011), và trong suốt chặng đường đó, độc lập dân tộc và CNXH vẫn tiếp tục được thực hiện, bất chấp sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, bất chấp sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay cũng khẳng định rõ: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng dắn”. Kiên định và linh hoạt, tự chỉnh đốn và đổi mới, nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN luôn được thấm nhuần trong tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân ta. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã nhấn mạnh: “Con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn. Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng XHCN” (7). Và Đại hội Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (8)…

Với sự ổn định về chính trị, và những thành tựu về mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, v,v.. của đất nước, và vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế, có thể khẳng định rằng: Sau hơn 35 năm cả nước cùng đi lên CNXH (1975-2010), và đặc biệt là sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (1986-2010), mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH được thực hiện theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Đại hội Đảng lần thứ VII, 2/1991), là sự lựa chọn kiên quyết và đúng đắn, là sự kiên định và sáng tạo của Đảng ta dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục hành trình đó, độc lập dân tộc và CNXH được lựa chọn từ trong tác phẩm Đường Kách mệnh, được khẳng định trong các Văn kiện của Đảng từ mùa xuân năm 1930 đến Cương lĩnh chính trị của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011), thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI (1/2011), vẫn sẽ là nguồn sức mạnh nội lực, là ánh sáng soi đường, để đưa nhân dân ta đi trên một lộ trình đúng, phù hợp tâm nguyện của toàn dân tộc, hướng đến tương lai ấm no, hạnh phúc, đất nước đến giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững vàng hội nhập cùng bạn bè quốc tế.

Được lựa chọn và thực hiện, sự kiên định phấn đấu và những thành tựu đạt được của Việt Nam trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, đúng như nhận định của đồng chí Giôdê Cađanôva – Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Bồ Đào Nha chào mừng Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX: “Những thành tựu trong việc cụ thể hoá một con đường thích hợp quá độ lên CNXH – không chỉ là tài sản vô giá của những người cộng sản Việt Nam, mà còn là nguồn cảm hứng và tin tưởng đối với những người cộng sản và cách mạng trên toàn thế giới”./.

TS. Văn Thị Thanh Mai
Theo Tạp chí Tuyên Giáo

__________________

(*) Cương lĩnh bổ sung sửa đổi năm 2011 – Đầu đề do ban biên tập đặt
Chú thích:

1, 2, 3, 4, 5 – Hồ Chí Minh; Toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H, 1995, t.2, tr.259, 270, 270, 286
6 – Hồ Chí Minh; Toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H, 1995, t.3, tr.1
7 – Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, Nhà xuất bản CTQG, H, 1996, tr.68
8 – Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, Nhà xuất bản CTQG, H, 2001, tr.83

hochiminhhoc.com

Người dịch tác phẩm “Nhật ký trong tù” của chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng Tày – Nùng

Hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trên khắp đất nước ta có rất nhiều người con đất Việt học và làm theo Bác. Trong đó mỗi người học và làm theo Bác một cách khác nhau. Ở thị xã Cao Bằng (tỉnh Cao Bằng) có ông Hoàng An – người dân tộc Tày đã thực hiện việc học Bác theo một cách khá đặc biệt. Việc ông làm suốt 3 năm nay là dịch tác phẩm “Nhật ký trong tù” ra tiếng Tày-Nùng để người dân Tày-Nùng cùng được đọc thơ Bác và cùng học Bác.

nhatkytrongtu1.jpgTác phẩm Nhật ký trong tù của chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Tuấn Anh

Sau khi ngâm nga một vài câu thơ của Bác bằng tiếng Tày ông Hoàng An tâm sự với chúng tôi: “Từ khi Đảng ta tiến hành Cuộc vận động, tôi cứ trăn trở và suy nghĩ là phải làm một việc gì đó có ích mà hợp với sức của mình. Cuối cùng tôi quyết định dịch tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Bác ra tiếng Tày – Nùng. Trước đó, tôi cũng đã từng dịch Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm ra tiếng Tày và được Nhà xuất bản văn hoá dân tộc phát hành rộng rãi, được bà con dân tộc Tày –Nùng đón đọc rất nhiều, tôi tin rằng bản dịch “ Nhật ký trong tù” cũng sẽ vậy.”

Ông Hoàng An sinh ra và lớn lên ở Cao Bằng, trải qua 40 năm dạy học ở các vùng quê đã giúp ông tích luỹ được vốn từ ngữ Tày – Nùng khá phong phú. Ông am hiểu sâu cả 3 thứ tiếng Hán, Việt và Tày – Nùng. Theo ông, tiếng Tày – Nùng rất giàu ngữ điệu, âm thanh và hình ảnh, phong phú đa dạng mà sâu thẳm như cảnh sắc thiên nhiên của núi rừng. Tiếng Tày – Nùng đã được dùng để sáng tác các tác phẩm: “9 chúa tranh ngôi”, “Báo luông sao cải”, “Khảm hải”, “àng Kim”…

Để dịch “Nhật ký trong tù”, ông đã phải tham khảo rất nhiều bản dịch quốc ngữ và nguyên bản cuốn “Ngục trung nhật ký”, sưu tầm và tra cứu nhiều từ điển Hán – Việt và Tày- Nùng. Rồi trong căn phòng nhỏ hẹp, ông giáo già 76 tuổi cứ thế miệt mài, cân nhắc từng con chữ, mỗi câu, mỗi bài sau khi dịch xong ông lại mang đến tham khảo ý kiến bạn bè và những người có kinh nghiệm để họ đọc, thẩm định và góp ý kiến, để chỗ nào đáng sửa thì sửa. Cứ như thế suốt 3 năm nay ông đã dành mọi tâm huyết cho công việc này. Đến nay bản thảo “Nhật ký trong tù” đã tương đối hoàn chỉnh, bao gồm 300 trang A4 gồm cả nguyên bản chữ Hán và thơ tiếng Tày.

Nhận xét về bản dịch này, nhà thơ Ngô Lương Ngôn cho biết, “Nhật ký trong tù” vốn ý tại ngôn ngoại, vô cùng uyên sâu. Để dịch ra chữ quốc ngữ đã rất khó sát nghĩa huống chi là ra ngôn ngữ Tày – Nùng. Nếu người dịch không có vốn ngôn ngữ dân tộc phong phú thì không thể dịch nổi. Tuy nhiên, khi đọc bản thảo của Hoàng An tôi vô cùng khâm phục vì rất sát nghĩa và làm cho người Tày Nùng đọc, nghe đều hiểu mà vẫn thấy hay.”

Mặc dù không  được tài trợ nhưng hơn 3 năm ông Hoàng An vẫn miệt mài làm công việc này một cách thầm lặng với một suy nghĩ vô cùng đơn giản là: muốn đồng bào mình ai cũng được đọc thơ Bác và hiểu thơ Bác rồi làm theo Bác.

Tôi còn nhớ trong lịch sử Việt Nam có ghi rằng: thời kỳ Bác về Pắc Pó để soạn thảo Điều lệ Việt Minh rồi cho dịch ra tiếng Tày – Nùng bằng văn vần nên nhiều người có thể đọc và hiểu được mà đi theo Cách mạng. Phải chăng khi cuốn “Nhật ký trong tù” của Bác được ông Hoàng An dịch ra tiếng Tày – Nùng mà được xuất bản thì hiệu quả cũng tương tự như thế!

Việc làm của ông Hoàng An không chỉ góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc mà còn là một món quà vô giá dành cho đồng bào dân tộc Tày – Nùng để có thêm tài liệu tham khảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, từ đó có thể học tập tấm gương đạo đức Bác một cách hiệu quả hơn./.

(Theo: TTXVN)

hochiminhhoc.com

Để có hiểu biết đúng đắn về Hồ Chí Minh ”Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”

Lâu nay, một bộ phận trong giới khoa học Việt Nam và không ít cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu chưa thật rõ, đầy đủ, đúng đắn một số điểm xung quanh Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có người thì không biết có một Nghị quyết của UNESCO, tức tài liệu gốc. Hầu hết chỉ biết đến nội dung văn kiện này qua bản dịch tiếng Việt, đăng sớm nhất trong Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội năm 1990.

bacho.jpgBác Hồ đánh máy chữ. Ảnh: Tuấn Anh

1. Có một Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh- “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”

Lâu nay, một bộ phận trong giới khoa học Việt Nam và không ít cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu chưa thật rõ, đầy đủ, đúng đắn một số điểm xung quanh Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có người thì không biết có một Nghị quyết của UNESCO, tức tài liệu gốc. Hầu hết chỉ biết đến nội dung văn kiện này qua bản dịch tiếng Việt, đăng sớm nhất trong Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội năm 1990. Bản dịch này từ các thứ tiếng khác nhau nên vẫn còn độ chênh.

Ở ngoài nước, các thế lực thù địch tìm mọi cách bôi nhọ, xuyên tạc, cho rằng không có Nghị quyết của UNESCO !?.

Gần đây, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã công bố văn bản gốc Nghị quyết của UNESCO về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là bản in tiếng Pháp “Tập biên bản của Đại hội đồng khóa họp lần thứ 24 tại Pari, từ ngày 20/10 đến ngày 20/11 năm 1987, Quyển 1: nghị quyết”(1).

Đây là một trong số các tập biên bản báo cáo của Đại hội đồng UNESCO, khóa họp lần thứ 24, được UNESCO xuất bản đồng thời bằng 6 thứ tiếng: tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Ả Rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, được in và đóng quyển tại xưởng in của UNESCO, Pari, năm 1988.

“Quyển 1: nghị quyết” dày 220 trang, bao gồm các nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24. Tập nghị quyết này gồm 13 mục và phần phụ lục.

Trong Chương trình hành động giai đoạn 1988-1989, cùng với các Nghị quyết 24C/11.9 về Kỷ niệm 600 năm ngày mất của Khaeh Chamsoddne Mohammad Hafez Chirazi và Nghị quyết 24C/11.10 về Kỷ niệm 100 Ngày sinh của Fernando Pessoa, Đại hội đồng UNESCO khóa họp lần thứ 24 đã thông qua các nghị quyết về tổ chức lễ kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử, trong đó có Nghị quyết 24C/18.65 về việc Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

images.jpegHồ Chí Minh đẹp nhất tên người. Ảnh: Tuấn Anh

Thực hiện khuyến nghị của UNESCO triển khai các hoạt động tổ chức kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử tại các nước thành viên, nhiều nơi trên thế giới đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội, Hội thảo quốc tế “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa lớn” đã được tổ chức trọng thể vào hai ngày 29 và 30 tháng 3-1990. Tại Hội thảo này, có mặt 70 đại biểu quốc tế thuộc 34 nước và hơn 1.000 đại biểu Việt Nam.

Phát biểu tại Hội thảo, Tiến sĩ M. At-mét (Medagat Ahmed), Giám đốc UNESCO khu vực châu Á -Thái Bình Dương, Đại diện đặc biệt của Tổng Giám đốc UNESCO khẳng định: “Đây thật sự là một niềm vinh dự cho tôi được phát biểu trước các nhà trí thức và thông thái cao quý, có mặt ở đây ngày hôm nay để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh, người chiến sĩ dũng cảm đã giải phóng dân tộc mình khỏi một thế kỷ đô hộ thực dân, bằng sự lãnh đạo khôn khéo và quyết tâm vững chắc. Người là một trong những động lực đầu tiên của phong trào chống thực dân thời kỳ sau Đại chiến thế giới thứ hai ở châu Á và là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng nhiều nhất của các dân tộc ở thế kỷ 20. Hội nghị UNESCO phiên thứ 24 đã quyết định kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người vào năm 1990. Đây là một cử chỉ tôn kính đối với một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sứ mệnh tự do và độc lập. UNESCO rất vui sướng được tham gia vào sự kiện đáng ghi nhớ này. Điều đó biểu hiện sự cam kết sâu sắc của tổ chức này trong việc duy trì các giá trị và công lao của các nhân vật vĩ đại được nhân loại công nhận và kính trọng. Những tình cảm này được thể hiện rõ rệt trong Nghị quyết của Đại hội đồng với sự nhấn mạnh rằng: tư tưởng của Người chứa đựng nguyện vọng của nhân dân muốn khẳng định nền văn hóa riêng của mình và xúc tiến sự hiểu biết lẫn nhau… Tên gọi cuộc Hội thảo khoa học là “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa lớn” nhằm nêu bật nhiều mặt của nhân cách con người vĩ đại này”(2).

Dưới đây là toàn văn bản dịch (từ bản tiếng Pháp) của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam về Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Mục “18. 65: Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội đồng,

Nhận thấy việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thế giới,

Nhắc lại Nghị quyết số 18C/4.351 thông qua tại khóa 18 Đại hội đồng UNESCO về việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh của các danh nhân và việc kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại,

Ghi nhận năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Nhận thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội,

Nhận thấy những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,

1- Khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người;

2- Đề nghị Tổng Giám đốc UNESCO triển khai các biện pháp thích hợp để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam”(3).

2. Nhận thức đúng đắn về sự thống nhất, hòa quyện giữa Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh, vì mục tiêu Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải nhận thức được sự thống nhất, hòa quyện chất Anh hùng giải phóng dân tộc và chất của Nhà văn hóa kiệt xuất trong con người Hồ Chí Minh, vì mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Nghị quyết của Đại hội đồng UNESCO cho thấy, nói đến Hồ Chí Minh là nói tới một con người, một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, một danh nhân văn hóa kiệt xuất đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại. Nói đến Hồ Chí Minh là nói tới một nhân vật vĩ đại được nhân loại công nhận và kính trọng, vì đã cống hiến trọn đời mình cho tự do và độc lập. Cuộc đời Hồ Chí Minh đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đó vừa là giá trị văn hóa vừa có ý nghĩa cách mạng sâu xa. Hồ Chí Minh là “một trong số ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”(4).

Để nghiên cứu đúng đắn về Hồ Chí Minh, cần nắm chắc bối cảnh lịch sử, phân biệt rõ mục đích và con đường để đạt mục đích đó. Hồ Chí Minh trước hết là con người của dân tộc, gắn bó mật thiết với non sông ta, đất nước ta. Dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đêm trước thành công của Cách mạng Tháng Tám đắm chìm trong đêm dài nô lệ. Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, bằng cách làm này hay cách làm khác, theo con đường này hay con đường khác, đều chung một mục đích giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh từ tuổi thiếu thời là một thanh niên yêu nước, ham học hỏi, cầu tiến bộ. Người không những giống mọi người Việt Nam về tinh thần yêu nước mà còn “sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào, có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”. Người đã từng theo học lớp dự bị Trường Tiểu học Pháp – bản xứ ở thành phố Vinh. Tại đây, lần đầu tiên Người được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Người cũng đã theo học lớp sơ đẳng Trường Tiểu học Đông Ba ở Huế và Trường Quốc học Huế. Người quan tâm tới nhiều cách tiếp cận khác nhau để đạt mục đích giải phóng dân tộc. Trước lúc đi ra nước ngoài tìm cách giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã tâm sự với một người bạn: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(5). Năm 1923, tâm sự với Ôxíp Manđenxtam, Người bộc lộ: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách báo của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”(6).

Từ đó trở đi, Hồ Chí Minh không chỉ là con người của dân tộc mà còn là của thế giới, của thời đại. Người khám phá thế giới, làm mọi cách để đạt được mục tiêu giải phóng dân tộc, như có lúc Người đã nói một cách hình tượng “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho kỳ được độc lập, tự do”. Cũng như vậy, sau này, để đạt được mục tiêu tự do, hạnh phúc, có lúc Người nói: “Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(7).

Trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, như mọi người đều biết, từ Mácxây, Nguyễn Tất Thành có viết một lá đơn đề ngày 15-9-1911 gửi Tổng thống nước Pháp lúc đó Armand Fallieres, xin học Trường Thuộc địa. Lá đơn này có trong Kho Lưu trữ nước Pháp, bộ phận Hải ngoại, phông Trường Thuộc địa, bìa số 27, hồ sơ số 11. Lần đầu tiên (năm 1983) tư liệu này được giới thiệu qua hệ thống đài phát thanh và truyền hình nước Pháp do Tuyren (H. deTurenne) thực hiện nhân kỷ niệm lần thứ 30 ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ. Tiếp đó, tư liệu này được đề cập trong cuộc Hội thảo quốc tế tại Pari ngày 25-5-1983 dưới chủ đề: “Mác- Các chủ nghĩa Mác”. Sau đó, Nguyễn Thế Anh (nguyên là Khoa trưởng Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn thời Mỹ- ngụy) và Vũ Ngự Chiêu (nguyên là sĩ quan ngụy, hiện ở Canađa) đã công bố toàn văn lá đơn trong số 1 tạp chí Đường mới, số tháng 6-1983 với một dụng ý xuyên tạc trắng trợn, cho rằng “Nguyễn Tất Thành lúc đầu có ý định xin vào học Trường Thuộc địa để sau ra làm việc cho Pháp, nhưng vì không được nhận vào học nên phải đi theo con đường cách mạng!?”. Gần đây, tháng 7-2009, DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh”, Vũ Ngự Chiêu lại nhắc lại sự kiện đó.

Chúng ta hoàn toàn không giấu giếm sự kiện này. Hơn hai mươi năm trước, Giáo sư Sử học Đinh Xuân Lâm đã có bài viết với tiêu đề: “Cần làm sáng tỏ một số điểm xung quanh lá đơn xin học của Nguyễn Tất Thành năm 1911”, đăng Tạp chí Cộng sản, số 5-1987. Vấn đề là ở chỗ, hiện nay một số người vẫn nghĩ rằng chúng ta không công bố lá đơn này, và quan trọng hơn là nhiều người không hiểu đúng việc làm của Nguyễn Tất Thành. Còn các thế lực thù địch thì cố tình bóp méo sự thật lịch sử.

Làm sáng tỏ vấn đề này, trước hết phải nhận thức đúng đắn rằng đây là cách làm chứ không phải mục đích của Hồ Chí Minh. Có nhiều cách làm và con đường để đạt một mục đích. Cách làm này hoàn toàn hợp lôgic với cách làm và suy nghĩ từ trong nước của Nguyễn Tất Thành khi có ý định xin vào học Trường Kỹ nghệ thực hành ở Sài Gòn, muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ Tự do, Bình đẳng, Bác ái rồi trở về giúp đồng bào chúng ta. Dõi theo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, phải đánh giá sự kiện này ở một cách nhìn khác với tầm cao hơn. Cụ thể là ngay từ rất sớm, Người đã biết khám phá, khai thác văn minh nhân loại, khoa học – công nghệ ở các nước tư bản để phục vụ cho đồng bào mình.

Thứ hai, phải đọc và suy ngẫm kỹ hình thức và nội dung lá đơn gửi Tổng thống một nước tư bản văn minh lúc bấy giờ. Trong lá đơn có câu: “Tôi muốn sẽ trở nên có ích đối với đồng bào của tôi, và đồng thời có thể giúp cho họ hưởng thụ được những lợi ích của học thức”(8).

Sự thật rõ như ban ngày mà những kẻ nuôi dụng tâm xấu vẫn ác ý cố tình xuyên tạc. Để hiểu rõ hơn về lá đơn, hãy đọc Êmơri (Daniel Hémery) – một nhà sử học Pháp chuyên nghiên cứu và giảng dạy lịch sử cận – hiện đại Việt Nam tại Trường Đại học Pari VII, trong bài viết: “Về lá đơn xin vào học Trường Thuộc địa năm 1911 của người thanh niên Hồ Chí Minh”. Êmơri khẳng định: “Tuyệt đối không thể căn cứ vào lá đơn xin học năm 1911 để gán ghép cho Nguyễn Tất Thành ý định sau khi học xong sẽ trở thành người cộng tác với chính quyền thuộc địa”(9).

Bài viết đến đây tạm khép lại với một câu hỏi: “Tại sao người ta cố tình muốn hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”? Câu trả lời từ một cách hiểu rất đơn giản và lôgic, đó là tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ tiếp tục có ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và vẫn luôn luôn giữ được ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân loại tiến bộ./.

PGS, TS. Bùi Đình Phong
Theo Tạp chí Tuyên Giáo

———————

(1) Bảo tàng Hồ Chí Minh: Thông tin tư liệu, Nội san, số 25, tháng 9-2009 (Từ đây, những thông tin liên quan tới Nghị quyết đều dẫn từ tài liệu này)
(2) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Trích tham luận của đại biểu quốc tế), UNESCO và Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr.34-35.
(3) Bảo tàng Hồ Chí Minh: Thông tin tư liệu, tài liệu đã dẫn, tr.57.
(4) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sdd, tr.37.
(5) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb ST, H, 1975, tr.13.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.1, tr.477.
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr. 227.
(8), (9) GS. NGND Đinh Xuân Lâm: Góp phần tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H, 2005, tr.275, 273

hochiminhhoc.com

Bác Hồ – Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang*

(hochiminhhoc) Trong hành trình tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các lực lượng vũ trang cách mạng. Trên chặng đường lịch sử 66 năm xây dựng và trưởng thành của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, mỗi chiến công, mỗi bài học kinh nghiệm của đội quân cách mạng đều gắn liền với tình thương yêu, sự quan tâm giáo dục và lời cổ vũ thường xuyên của Người.

347.jpgBác Hồ duyệt quân. Ảnh: Tuấn Anh

Từ nhận thức sâu sắc rằng: chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực, và sức mạnh của vật chất phải được đánh đổ bằng sức mạnh vật chất, phải “dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”[1], nên trong hành trình tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xd và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các lực lượng vũ trang cách mạng. Trên chặng đường lịch sử 66 năm xây dựng và trưởng thành của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, mỗi chiến công, mỗi bài học kinh nghiệm của đội quân cách mạng đều gắn liền với tình thương yêu, sự quan tâm giáo dục và lời cổ vũ thường xuyên của Người.

1. Mang theo trong hành trang của mình lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, cùng những truyền thống tốt đẹp, những bài học kinh nghiệm trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, Hồ Chí Minh đã sớm đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, đến với con đường cách mạng nhằm giải phóng nhân dân khỏi kiếp lầm than nô lệ và xây dựng chế độ xã hội mới. Trên cơ sở những nguyên lý Mácxit- Lêninnít về bạo lực cách mạng và khởi nghĩa vũ trang, đồng thời vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo (được thông qua ở Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đầu năm 1930), vấn đề thành lập “Quân đội công nông”[2] đã được đề ra.

Cũng theo Hồ Chí Minh, để giải phóng dân tộc, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, việc xây dựng lực lượng chính trị của cách mạng là điều cơ bản nhất, là việc phải làm đầu tiên, rồi mới xây dựng quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang. Đó chính là quan điểm “người trước súng sau”, là xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng để trên nền tảng đó xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, và tiến hành khởi nghĩa vũ trang, đánh đuổi kẻ thù, giành lấy chính quyền.

Bắt đầu từ những đội tự vệ đỏ trong phong trào Xôviết- Nghệ Tĩnh, đến đội vũ trang Cao Bằng, du kích Nam Kỳ, Bắc Sơn (sau đổi thành Cứu quốc quân), Ba Tơ,…cùng với sự phát triển của tiến trình cách mạng, ngày 22/12/1944, thực hiện Chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã được thành lập. Với thắng lợi ban đầu (hạ đồn Phai Khắt, Nà Ngần), và từ 34 chiến sĩ đầu tiên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã ngày càng mở rộng địa bàn hoạt động, đã phát triển từ đội thành đại đội, rồi đại đội chủ lực đầu tiên của quân đội ta…Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: tiền đồ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân rất vẻ vang, “nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”[3].

Tiếp đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam giải phóng quân (do Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp lại) đã cùng toàn dân vùng lên đấu tranh, giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Như vậy là, không chỉ tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Hồ Chí Minh còn sáng lập lực lượng vũ trang cách mạng, lãnh đạo toàn dân tiến hành khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền về tay nhân dân, đưa những người dân Việt Nam từ thân phận những người nô lệ thành chủ nhân của một nước Việt Nam độc lập.

Tuy nhiên, khi quân Pháp ngày càng lấn tới, khi không thể cúi đầu làm nô lệ, theo lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, nhân dân cả nước bước vào cuộc trường chinh chống thực dân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Mục đích của cuộc kháng chiến là đánh thực dân phản động Pháp, giành độc lập thống nhất. Tính chất cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Chính sách kháng chiến là đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, v.v..nên trong cuộc chiến đấu không cân sức này, chúng ta sẽ tiến hành kháng chiến toàn diện, kết hợp các mặt trận và các hình thức đấu tranh, trong đó đấu tranh quân sự là chủ chốt.

Và cũng từ việc thực hiện lời Người, trong quân đội: công tác lãnh đạo của Đảng được tăng cường, tinh thần đoàn kết thống nhất luôn được củng cố, kỷ luật được thực hiện nghiêm minh. Đặc biệt, để tăng cường sức mạnh của đội quân cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ – “những người tướng giỏi của đoàn thể” và nhấn mạnh yêu cầu “bộ đội được tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo”[4] thường xuyên, liên tục để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu. Ngày một phát triển về số lượng và nâng cao trình độ tác chiến, tài thao lược trên các chiến trường, đồng thời vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đánh giặc của tổ tiên “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu chống mạnh”,.v.v.. quân đội ta đã chuyển từ thế phòng ngự sang thế tiến công. Xuất phát từ thực tiễn, từ kinh nghiệm “biết địch, biết ta, trăm trận, trăm thắng”, thay đổi phương án từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, và kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân đội ta đã giành thắng lợi to lớn trong trận Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Tuy nhiên chiến tranh chưa kết thúc, không chỉ giúp thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương, khi Pháp bại trận, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định Giơnevơ, can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam, nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. “Lửa vẫn cháy và máu vẫn chảy”, cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược đã trở thành một cuộc đụng đầu lịch sử .

Quyết tâm đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ, cả nước tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, với tinh thần đoàn kết “triệu người như một”, với niềm tin chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, với ý chí “đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn, đánh cho đến độc lập và thống nhất thực sự”, và quyết tâm “hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quyết sạch nó đi”[5]. Đồng thời, phát huy truyền thống “cả nước đánh giặc” của cha ông trong lịch sử, thấm nhuần lời dạy của Lênin, khi có chiến tranh phải “biến cả nước thành một dinh luỹ cách mạng”, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: phải vũ trang toàn dân đi đôi với xây dựng đội quân cách mạng. Trên tinh thần đó, lực lượng vũ trang cách mạng bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích được xây dựng, hình thành thế trận bao vây và tiêu diệt địch. Trong mọi hoàn cảnh, quân đội cách mạng luôn là đội quân chiến đấu, là đội quân công tác và sản xuất, thực hiện tốt nhiệm vụ: bộ đội chủ lực vừa tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân, vừa dìu dắt bộ đội địa phương; bộ đội địa phương phối hợp hành động với bộ đội chủ lực, giúp đõ bộ đội chủ lực và dìu dắt dân quân du kích; còn dân quân du kích vừa phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, vừa tự mình đánh giặc, trừ gian và tham gia sản xuất,v.v..

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cũng xuất phát từ thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà”[6]. Để thực hiện lời Người, đồng thời để có đủ sức mạnh chiến thắng kẻ thù, quân đội ta ra sức rèn luyện, học tập nâng cao trình độ tác chiến trên chiến trường, phối hợp với quân dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu (với tinh thần miền Bắc là hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam, với tinh thần hậu phương miền Bắc thi đua với tiền phương miền Nam), tạo thành nguồn sức mạnh tổng hợp nhằm đưa cách mạng tiến lên bằng những bước nhảy vọt. Cuối cùng, chớp đúng thời cơ, quân đội ta đã “thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa” trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, để giành thắng lợi trong cuộc Tổng tấn công mùa xuân 1975, thu giang sơn về một mối.

2. Chiến tranh đã lùi xa, những thành tựu của một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, đi lên CNXH và hội nhập quốc tế hôm nay gắn liền với nguồn sức mạnh nội lực làm nên những chiến công của quân đội ta, của nhân dân ta. Nguồn sức mạnh đó chính là sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là bản lĩnh chính trị vững vàng, là sự thấm nhuần đạo đức người cách mạng, là tinh thần đoàn kết, phấn đấu hy sinh của những người quân nhân cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục và rèn luyện.

Bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, “quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và kỷ luật nghiêm” và “quân đội ta có sức mạnh vô địch vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”[7]. Đó cũng chính là quá trình trang bị và giáo dục cho những người quân nhân cách mạng về lý tưởng, mục tiêu, đường lối của Đảng, về nhiệm vụ cách mạng từ nhận thức trở thành bản lĩnh chính trị, thành niềm tin, thành ý chí và quyết tâm hành động. Bởi vậy, ngay từ buổi đầu thành lập, Người đã cùng Trung ương Đảng hết lòng xây dựng quân đội ta thành một quân đội kiểu mới, một quân đội nhân dân, luôn tuân theo những định hướng chính trị của Đảng, kiên định những quan điểm có tính nguyên tắc được ghi rõ trong Cương lĩnh chính trị và các Nghị quyết của Đảng.

Kế thừa và phát triển truyền thống anh hùng của dân tộc ta, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là tập hợp đông đảo những người công nhân, nông dân, trí thức dũng cảm, có bản lĩnh chính trị – tinh thần vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, quân đội ta luôn thấm nhuần lời dạy của Người: “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất”[8]. Đó là đội quân của những người chiến sĩ dũng cảm chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH, gương mẫu về đạo đức lối sống cả trong chiến đấu cũng như trong cuộc sống đời thường, “gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sữa chữa. Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại những vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”[9]. Đó cũng là đội quân luôn học tập để nâng cao năng lực toàn diện, bởi theo quan điểm của Người, “muốn trở nên người quân nhân mới…mỗi chiến sĩ từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”[10]. Đó cũng còn là đội quân trên dưới luôn đoàn kết một lòng, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, đồng cam cộng khổ cùng nhau, trên cơ sở thực sự phát huy dân chủ và thực hiện nghiêm túc phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” của Đảng trong điều kiện đặc thù của quân đội.

Gắn bó với nhân dân là một nét đẹp của truyền thống quân đội ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn, vốn xuất thân từ các tầng lớp nhân dân, và là con em của nhân dân, quân đội ta phải hết lòng yêu thương và kính trọng nhân dân. Thấm nhuần quan điểm của Người: cốt lõi lòng trung thành của người quân nhân cách mạng chính là mỗi chiến sĩ phải “luôn luôn phát triển cái kỷ luật nghiêm như sắt, cái tinh thần vững như đồng, cái chí khí quật cường tất thắng, cái đạo đức, trí, dũng, liêm, trung của Giải phóng quân”[11], những chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam . luôn “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, dựa vào nhân dân như “cá với nước”,và đó là những người chiến sĩ không chỉ đánh giặc giỏi mà còn là những người làm công tác dân vận giỏi.

Là quân đội của nhân dân, chiến đấu vì nhân dân, gắn bó với nhân dân, đó là bản chất của quân đội cách mạng, đó cũng chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp về chính trị, về tinh thần, về ý chí quyết chiến, quyết thắng, tài thao lược của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh. Là quân đội của nhân dân, những người lính “bộ đội cụ Hồ” sẵn sàng giúp dân về mọi mặt, nhưng quyết “không động đến cái kim và sợi chỉ của nhân dân”, để “làm cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc”.

Là quân đội của nhân dân do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, quân đội ta luôn nhận được từ Người sự quan tâm đặc biệt. Người không chỉ dõi theo mỗi bước trưởng thành của quân đội; động viên họ và rút kinh nghiệm trước mỗi trận ra quân chưa giành được thắng lợi; viết thư thăm hỏi, chia sẻ nỗi đau thương mất mát với những thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ, dành huy hiệu, phần quà, và cả sổ tiết kiệm của mình tặng cho những người chiến sĩ để mua nước uống cho đỡ khát trong những ngày hè nóng nực năm 1967,v.v..mà còn để lại tình thương yêu của Người cho các lực lượng vũ trang, thân nhân các gia đình thương binh, liệt sĩ trong Di chúc lịch sử.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm chăm sóc của Người, với sự nỗ lực đoàn kết của toàn quân, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế, quân đội ta – công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đã góp phần to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[12].

Sáng lập và rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh yêu cầu phải xây dựng quân đội phải ngày càng chính quy, hiện đại, và trong bối cảnh của thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay, yêu cầu đó càng trở nên bức thiết. Tuy nhiên, cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta tiến lên hiện đại, song phải tiến lên dần dần từng bước (không thể thoát ly điều kiện của đất nước), đồng thời kết hợp với sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo thành tựu khoa học kỹ thuật của nền kinh tế tri thức. Đặc biệt, hiện đại hoá quân đội còn là phải thông qua giáo dục, huấn luyện để giải quyết mối quan hệ con người và vũ khí, trong đó con người có vai trò quyết định và trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn là “người trước, súng sau”.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã ghi nhận vai trò to lớn của quân đội ta trong cuộc chiến tranh giải phóng và trong công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới. Ngày nay, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa mở ra cho đất nước ta nhiều vận hội lớn đi liền cùng những thách thức khôn lường. Càng nhiều cam go, thử thách, càng đòi hỏi chúng ta phải thấm nhuần sâu sắc hơn nữa những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng, xứng đáng là “lực lượng trụ cột” của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày một phồn vinh. Và càng phải đối phó với những âm mưu, thủ đoạn mới của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, thù địch, quân đội ta càng phải luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu. Trên tinh thần đó, phải tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia về cả tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, với lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, đủ sức đánh thắng mọi hành động xâm lược, chống phá của kẻ thù. Đặc biệt, không chỉ chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống yên bình của nhân dân, những chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam – những người lính luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh thương yêu, chăm sóc, dạy dỗ còn sẵn sàng tham gia chống thiên tai, bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân, xứng đáng với niềm tin yêu và quý trọng của nhân dân./.

TS. Văn Thị Thanh Mai
(*) Tiêu đề do ban biên tập đặt


[1] Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb. Sự thật, H, 1960, t.2, tr.466
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.3, tr.1
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.3, tr.508
[4] Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. QĐND, H, 1962, tr.69
[5] Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi ngày 3/11/1968
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.140
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.11, tr.350
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.285
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.252
[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.417
[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.330
[12] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.11, tr.350

hochiminhhoc.com

Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến lược xây dựng xã hội học tập

Vấn đề “Xã hội học tập” mà ngày nay các quốc gia coi là tiêu điểm của chính sách phát triển đã được Bác Hồ khai sáng trong tư duy và chiến lược hành động cho nước ta ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng.

index.jpgBác Hồ thăm lớp bình dân học vụ. Ảnh: Tuấn Anh

Xã hội học tập chỉ thành hình và phát triển khi người quản  lý thúc đẩy được mọi người dân có nhu cầu học tập, có khát vọng học tập. Nhu cầu này gắn liền với việc quản lý hỗ trợ cho nhân dân nâng cao năng lực tiếp nhận sự học tập và mở rộng cơ hội học tập cho nhân dân.

Quản lý phải làm sao cho bộ ba “Nhu cầu – Năng lực – Cơ hội” gắn bó chặt chẽ với nhau.

Không tạo ra nhu cầu đích thực thì dù có ra sức nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội đến đâu cũng không thể hiện thực được mục tiêu về xã hội học tập.

Song khi đã tạo ra nhu cầu – Người dân có tha thiết học mà người quản lý không giúp người dân có năng lực để “Học được” và cơ hội “Được học” thì cũng không thể hình thành xã hội học tập.

Nhu cầu càng lớn thì năng lực và cơ hội càng phải được nâng cao và mở rộng và ngược lại càng nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội học tập thì càng phải thúc đẩy nhu cầu.

Để cho ba nhân tố này rời rạc với nhau thì không thể nói đến xã hội học tập. Xã hội học tập hội tụ và làm phát triển ba nguồn vốn: vốn con người, vốn tổ chức, vốn xã hội, nó là nhân tố đưa quốc gia tăng trưởng có chất lượng và phát triển bền vững.

Hiện nay có quan niệm xã hội phải tiến tới “Kinh tế tri thức”, đạt “Kinh tế tri thức”, mới có thể xây dựng xã hội học tập. Không ai phủ nhận tầm quan trọng của kinh tế tri thức tạo ra nhu cầu rộng lớn và điều kiện thuận lợi về học tập để có một xã hội học tập đích thực và bền vững.

Tuy nhiên cứ phải chờ có “Kinh tế tri thức” mới xây dựng được xã hội học tập thì những nước nghèo, những nước chậm phát triển và đang phát triển sẽ mất bao nhiêu năm (?) mới đi tới xã hội học tập.

Thực tế của Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8/1945 và suốt năm 1946 đã chứng minh cho một điều khác hẳn. Khi bắt đầu xây dựng chính quyền cách mạng (2/9/1945) 95% nhân dân còn mù chữ, nạn đói đã làm kiệt quệ nền kinh tế; giặc ngoại xâm với những kẻ thù hung bạo xảo quyệt nhất can thiệp vào nước ta.

Bác Hồ người chèo lái con thuyền cách mạng trong lúc đất nước còn nguy nan đã chấn hưng dân khí, khai sáng cho dân tộc ý chí quyết tâm đẩy lùi cái dốt của bản thân, cái dốt của cộng đồng, của đất nước. Bác đã lãnh đạo, tạo cho toàn dân có nhu cầu trở thành một dân tộc thông thái làm cho mọi người giác ngộ “Dân cường nước thịnh”, “Dân mạnh nước giàu” và trên cơ sở này Người tổ chức cho chính quyền cách mạng dù còn trứng nước có các phương án quản lý hiệu quả nâng cao năng lực học tập của mọi người và mở rộng cơ hội học tập cho  mọi người.

Ngày 2/9/1945 tiếp theo bản Tuyên ngôn độc lập mà vị Chủ tịch nước long trọng đọc trước quốc dân đồng bào, tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước thế giới, Chính phủ đã nêu ra chương trình, nội dung chính của chính sách phát triển đất nước. Mục tiêu của giáo dục trong chương trình này đã được khẳng định: “Nền giáo dục mới đang ở thời kỳ tổ chức. Chắc chắn là bậc sơ học sẽ cấp bách. Trong thời hạn rất ngắn sẽ thi hành lệnh bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ đến triệt để. Vấn đề vô cùng quan trọng ấy chúng ta chẳng chờ đến lúc sự sinh hoạt trở nên bình thường mới giải quyết mà ngay trong hoàn cảnh eo hẹp này chúng ta phải kiên quyết tiến hành. (Đ/c Võ Nguyên Giáp được Hồ chủ tịch giao cho việc trình bày chính sách nội chính của Chính phủ. Tư liệu: Những sự kiện giáo dục phổ thông 1945 – 1985. Viện Khoa học Giáo dục 1985, tr2)”.

Ngày 3/9/1945 trong phiên họp đầu tiên của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Người nêu nhiệm vụ giáo dục – chống giặc dốt là nhiệm vụ cấp bách của chính quyền mới.

Tháng 10/1945, Người ra lời kêu gọi chống nạn thất học như một mệnh lệnh hội tụ toàn dân tộc đưa đất nước vào công cuộc đại nghĩa mở ra kỷ nguyên mới của đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Bác chỉ có 4 tháng của năm 1945 hệ thống giáo dục quốc dân với các thiết chế: Nha bình dân học vụ, Nha giáo dục phổ thông, Hội đồng cố vấn học chính đã hình thành. Trong hoàn cảnh lúc đó hệ thống này đã tạo ra những cơ hội cho nhân dân xoá được nạn thất học, hé mở những cánh cửa cho nhân dân phát triển sự tiến hoá.

Bước sang năm 1946, dù còn biết bao sự bộn bề của các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự của đất nước, Bác Hồ vẫn dành cho sự nghiệp giáo dục sự chăm lo tỉ mỉ chu đáo.

Kiên trì quốc sách của một đất nước dưới chính thể mới là làm cho ba lĩnh vực: kinh tế giáo dục quốc phòng phải luôn luôn gắn bó với nhau, Bác đã chỉ đạo cho chính quyền mới coi giáo dục là then chốt của sự kết hợp này.

Chỉ trong năm 1946 Bác đã viết hàng chục bài báo, thực hiện hàng chục lần tiếp xúc với nhân dân để khích lệ mọi người ham học, ham dạy. Gây ngạc nhiên cho thế hệ ngày nay là tại thời điểm này (1946) Người đã có thông điệp “Học suốt đời” (nói chuyện với đ/c Nguyễn Thị Định), “Phải làm cho dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thông thái” (có hàm ý như các yêu cầu xây dựng kinh tế tri thức – Nói chuyện với đồng bào Hải Phòng khi đi Pháp về 10/1946).

Vị Chủ tịch nước coi lĩnh vực giáo dục bình dân là tiêu điểm cho sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân (ngày nay chính là giáo dục cộng đồng); Người nói với anh chị em giáo viên bình dân học vụ: “Anh chị em yêu quí! Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho đồng bào cả nước ai cũng có ăn, có mặc, có học

Trước khi bước lên máy bay đi Pháp (4/5/1946) , Người còn căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng, lúc đó là Quyền Chủ tịch nước “Chú ý đến công việc bình dân học vụ”.

Ngay sau khi đi Pháp về Bác tổ chức kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá 1 thành lập Chính phủ mới (từ 3/11/1946). Dù có rất nhiều công việc khẩn trương của thời gian nóng bỏng này (Thực dân Pháp tạo ra những gây chiến khiêu khích ngay trong lòng Hà Nội), Bác vẫn quan tâm đến sự nghiệp bình dân học vụ. Ngày 5/11/1946 Người viết văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” chỉ ra nhiệm vụ và phương hướng kháng chiến toàn quốc. Tối cùng ngày Bác đến thăm các lớp bình dân ở Trường Hàng Than và khu phố Hàng Bún (Hà Nội) sát nơi đóng quân của quân đội Pháp. Vào từng lớp học Bác ân cần hỏi học viên làm những nghề gì, học viên trả lời người thì kéo xe, người đi ở, người đi bán kẹo rong, người làm nội trợ, Bác khen thầy trò Trường Hàng Than “Thầy siêng dạy, trò siêng học thế là tốt lắm”.

Ngày 24/11/1946 (trước toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 gần một tháng) Bác đọc diễn văn khai mạc Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất, Bác kêu gọi các nhà văn hoá Việt Nam xây dựng nền văn hoá mới sửa đổi được “Tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai ai cũng có lý tưởng tự chủ độc lập”. Bác kêu gọi các nhà văn hoá chú ý đến việc học tập của nhi đồng, giáo dục cho nhân dân thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ.

Từ tháng 3/1947 khi cuộc kháng chiến chống Phap vừa bắt đầu và bước vào giai đoạn gian khó nhất, về công tác tại Thanh Hoá, Bác Hồ đã giao cho lãnh đạo Thanh Hoá qua các ông Lê Thước, Đặng Thai Mai xây dựng Thanh Hoá có các “Gia đình học hiệu”, người dân Thanh Hoá thành “Tiểu giáo viên”. Ngày nay đề cập vấn đề xã hội học tập, UNESCO nêu ra vấn đề “Gia đình học hiệu” (learning family). Tự hào tham ý tưởng của thời đại đã được Bác cảm nhận từ trước đó hàng mấy thập niên khi đất nước còn vô vàn khó khăn và Người đã truyền tâm ý cho đ.c, cho nhân dân hiện thực được ý tưởng này dù trong nước bất cứ hoàn cảnh nào kể cả lúc khó khăn.

Những sự kiện của Bác Hồ với ngành giáo dục thời kỳ đầu chính quyền cách mạng 9/1945 – 12/197 càng chứng tỏ vai trò của công tác quản lý khi nắm chắc 3 khâu cơ bản: Thúc đẩy nhu cầu – Nâng cao năng lực – Mở rộng cơ hội của người dân trong lĩnh vực giáo dục và biết gắn bó ba khâu này vào với nhau thì đó là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng và phát triển xã hội học tập.

Sau 6 thập niên phát triển nền giáo dục cách mạng nước ta ngày nay trong những năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới đã có mặt bằng giáo dục với số người lớn biết chữ 90,3%, tỷ lệ thanh thiếu niên 6 – 24 tuổi được học tại các nhà trường là 64%, chỉ số phát triển giáo dục là 0,82 (Báo cáo Phát triển con người 2005).

Nếu tính trong số 177 quốc gia và vùng lãnh thổ có mặt trong Báo cáo Phát triển con người thì giáo dục nước ta có thứ hạng 93.

Giá trị và thứ hạng này cho phép chúng ta có thể khẳng định: những tiền đề xây dựng xã hội học tập ở nước ta đã có dù rằng mặt bằng kinh tế của nước ta còn khá thấp trong tương quan chung (chỉ số kinh tế mới đạt 0,572 xếp thứ 122/177 nước).

Xây dựng xã hội học tập của nước ta dù có những tín hiệu tốt song còn đó những thách thức. Dù số người biết chữ có tỷ lệ cao dù nhiều trường học mở ra, số thanh thiếu niên được đi học đông, song để có một nền học vấn thiết thực từ nhu cầu không phù phiếm tạo cho công dân có kỹ năng đời sống phát triển cộng đồng bền vững thì vấn đề lại còn nhiều nỗi băn khoăn.

Nước ta đang thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người (Education for All – EFA), các chương trình phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, những dự án mở rộng trung học phổ thông, những ý tưởng đưa đại học tinh hoa thành đại học đại chúng nhằm tạo ra nền móng của “xã hội học tập”. Có thể khẳng định rằng các chương trình này chỉ có ý nghĩa nếu ta quán triệt được các ý tưởng giáo dục nhân văn và thân dân của Bác Hồ kính yêu.

(Theo báo Giáo dục & Đào tạo)

hochiminhhoc.com