Archive | Tháng Hai 2012

Đánh giá cán bộ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong công tác xây dựng Đảng, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan trọng, đây là nhiệm vụ mang tính chính trị, khoa học và nhân văn.

Học tập tư tưởng của Bác và thực tế cho ta thấy,trongcông tác tổ chức cán bộ nói chung và trong việc nhận xét đánh giá cán bộ, thìcông tác đánh giá cán bộ là khâu quan trọng nhất và cũng khó nhất, bởi nếu đánh giá đúng, sử dụng đúng, bố trí phù hợp thì sẽ có tác động tích cực trong thực hiện nhiệm vụ; nếu làm không đúng qui trình, không đánh giá mang tính tập thể, thì dễ phiến diện hoặc không chính xác, đánh giá không đúng, sẽ dẫn đến bố trí sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm không có hiệu quả,có những lúc ảnh hưởng đến công tác tổ chức cán bộ;xét về khía cạnh tâm lý, thì nó hết sức nhạy cảm, vì nó tác động trực tiếp đến con người, tác động về sinh mệnh chính trị.Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác đánh giá cán bộ; Người có những nhìn nhận hết sức thấu đáo, chí tình về mỗi người, Người đã nhìn nhận đặt “tên” cho mỗi đồng chí theo tính cách, chí hướng cách mạng từ đó mỗi người và mọi người nhìn nhận thấy như vậy là đúng; Người đã chỉ ra rằng mỗi người đứng đầu, mỗi tổ chức để nhận xét, đánh giá cán bộ thấu tình, đạt lý phải có sự nhìn nhận và có phương pháp; Người viết “Kinh nghiệm cho biết: mỗi lần xem xét lại nhân tài, một mặt tìm thấy những nhân tài mới, một mặt khác thì người hủ hóa cũng lòi ra”(1). Chúng ta thấy rằng thực hiện việc nhận xét đánh giá cán bộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều mặt và khía cạnh như, vị trí, mối quan hệ của người được đánh giá với tập thể, với cấp ủy, với cán bộ lãnh đạo; về trình độ, sự nhìn nhận và uy tín của người đứng đầu tập thể, cơ quan,…Trong quá trình thực hiện nhận xét, đánh giá cán bộ mỗi cấp, mỗi ngành với qui trình làm thì tuân thủ theo qui định; song vấn đề đặt ra là tất cả những đánh giá về cán bộ đã thật sự khách quan, công tâm và vô tư chưa? Hay thường nói “nặng” về ưu điểm; nói “nhẹ” phê bình chung chung về khuyết điểm, tồn tại; tập thể tham gia nhận xét, đánh giá đã thật sự khách quan, vô tư và công tâm không; có nhìn nhận thật sát, thật đúng với bản chất của cá nhân được đánh giá và có khuyến khích cho tập thể nhận xét, đánh giá hay không? và mọi người có nói hay chỉ “im không nói”? hay “im lặng để xem”. Một biểu hiện khác nữa trong đánh giá cán bộ là “dễ” với người, để người “dễ” với mình; hoặc nhận xét cán bộ là dựa theo ý, theo nhìn nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, nếu lãnh đạo nhận xét, góp ý thẳng thắn thì cán bộ sẽ được tập thể góp ý một cách chân tình; hoặc ngược lại nếu đối tượng được góp ý, phê bình bị lãnh đạo chỉ trích gay gắt, thì cán bộ đó có thể sẽ có những nhận xét chưa thật xác đáng. Một khía cạnh khác cũng có thể xảy ra trong nhận xét, đánh giá cán bộ là có những người trên cương vị của mình “tài” không bao nhiêu nhưng lại sống cơ hội, làm việc khéo che đậy tồn tại, nhược điểm…thì được “coi” là cán bộ tốt, “mẫn cán”; ngược lại có những người thật sự có năng lực nhưng sống không “biết”, ngay thẳng và cương trực, thì ít được quan tâm.

Mỗi chúng ta, đều nhận thức và thấy rằng Đảng đã xác định: Xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Thực hiện nhiệm vụ chính trị đó, công tác cán bộ có ý nghĩa quyết định, vì “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cách mạng nói chung và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng phát triển kinh tế, ổn định an ninh chính trị thì đòi hỏi việc nhận xét, đánh giá cán bộ phải làm chặt chẽ, chính xác; có như vậy mới củng cố và làm vững tin trong nhân dân đối với Đảng và công cuộc xây dựng đưa đất nước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

Vậy nhận xét, đánh giá cán bộ như thế nào là đúng?

Chúng ta cần nhận thức và quán triệt rằng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quan điểm, nguyên tắc yêu cầu chung về đánh giá cán bộ do Đảng đã qui định. Để nhìn nhận đúng, đánh giá chính xác Đảng đã chỉ đạo, lãnh đạo các cơ quan chức năng đi sâu nghiên cứu, hoàn thiện và cụ thể hóa công tác nhận xét, đánh giá cán bộ từng lĩnh vực, từng thời điểm, từng giai đoạn để ngày càng đáp ứng tốt hơn việc thực hiện nhiệm vụ mỗi ngành, mỗi địa phương. Tuy nhiên, để sát yêu cầu từng loại và cụ thể ở từng địa phương, từng ngành, tùy địa bàn, nhiệm vụ cụ thể thì có sự linh hoạt qui định những điều kiện cần ở mỗi cán bộ phải có để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Việc đánh giá cán bộ, một nguyên tắc cơ bản có thể nói là “bất dy bất dịch” phải khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển; để thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi những cơ quan, cán bộ có trách nhiệm thực hiện phải nhìn nhận, đánh giá cán bộ có phương pháp khoa học, logic; phân biệt được hiện tượng với bản chất, có sự phân tích biện chứng để đánh giá đúngbố trí sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm có hiệu quả, có tác dụng tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ.

Công tác đánh giá cán bộ trong những năm qua, được các địa phương, đơn vị thực hiện thường xuyên nghiêm túc theo quy chế, quy định định kỳ; cán bộ diện đánh giá hàng năm là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ tỉnh đến cơ sở, đã gắn đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý với đánh giá cán bộ, công chức và  phân loại đảng viên hàng năm. Cán bộ cấp nào quản lý thì cấp đó cho ý kiến kết luận đánh giá xếp loại cán bộ. Những cán bộ có dư luận của quần chúng về đạo đức, phẩm chất, về năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành, được cấp uỷ có thẩm quyền gợi ý để cán bộ đó kiểm điểm, liên hệ trong đánh giá có khuyết điểm hay không khuyết điểm để kết luận đúng sai, nếu có vi phạm thì phải xử lý theo quy định. Với động thái này đã có tác dụng tích cực đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, có sự rèn luyện, tu dưỡng trong công tác, sinh hoạt.

Tiêu chí đánh giá cán bộ được cụ thể thành các tiêu chí:

– Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định đường lối đổi mới; nhận thức và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

– Thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao theo yêu cầu về thời gian khối lượng, chất lượng; tinh thần trách nhiệm, hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ.

– Ý thức tổ chức kỷ luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, tinh thần tự phê bình và phê bình. Tinh thần thái độ công tác, phục vụ nhân dân; giữ gìn và bảo vệ đoàn kết trong nội bộ.

– Tinh thần học tập, tự nghiên cứu nâng cao trình độ, năng lực công tác.

– Gương mẫu về đạo đức lối sống, thực hiện các nghĩa vụ của công chức, không vi phạm những điều cán bộ đảng viên không được làm…

Đối với cán bộ diện đề bạt, bổ nhiệm làm cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, khi hết thời gian bổ nhiệm đều thực hiện việc đánh giá để bổ nhiệm lại theo quy định. Những cán bộ được đánh giá chưa hoàn thành nhiệm vụ hoặc vi phạm chính sách, pháp luật thì không bổ nhiệm lại, đã có tác dụng thiết thực, đánh giá đúng, sát thực đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở từng địa phương, đơn vị.

Trên đây là những ý kiến cá nhân xin đưa ra trao đổi, mong rằng khi mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình thực thi chức trách cố gắng tu dưỡng, rèn luyện tiếp tục thực hiện chức trách, nhiệm vụ ngày một tốt hơn để đưa tỉnh Bình Định hội nhập phát triển nhanh, mạnh và vững vàng hơn./.

Võ Xuân – Ban Tổ chức Tỉnh ủy  (Cập nhật ngày 05-07-2011)

snv.binhdinh.gov.vn

Học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân trong giai đoạn hiện nay

Hiện nay, trong công cuộc đổi mới, thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế có nhiều thuận lợi to lớn, nhưng cũng lắm nguy cơ, thách thức phức tạp, hơn lúc nào hết chống chủ nghĩa cá nhấn là vấn đề đã và đang đặt ra bức thiết cho quá trình xây dựng phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình xây dựng, phát triển hội nhập ngày càng sâu và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, những mặt trái của cơ chế thị trừơng xuất hiện ngày càng nhiều và tinh vi hơn tác động mạnh đến việc xây dựng phát triển kinh tế, tác động đến công tác xây dựng Đảng, tác động trực tiếp vào đội ngũ đảng viên và cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Trong quá trình thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh việc ngăn chặn, chống CNCN đã và đang là vấn đề cấp bách của toàn xã hội. Chúng ta thấy rằngviệc xây dựng qui chế, qui định, kû c­¬ng, kû luËt ngày càng chặt chẽ và được chú ý nhưng việc thực hiện ch­ưa thật sự được mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực và mỗi cán bộ đảng viên tuân thủ một cách nghiêm túc và triệt để.

Để nhận diện ra được, đề ra biện pháp đề phòng và chống một cách triệt để nhất, chúng ta phải nhìn nhận CNCN nó như thế nào?

Dưới góc độ tìm hiểu, nghiên cứu xin nêu ra một số hình thức biểu hiện của Chủ nghĩa cá nhân.

CNCN biểu hiện dưới nhiều hình thức, trong mọi khía cạnh, mọi lĩnh vực, nhưng tựu trung có thể thấy, người mang tư tưởng CNCN là muốn mọi người vì mình, muốn mình là “trung tâm”, “trong đầu luôn thể hiện cái tôi là trên hết” và không muốn ai hơn mình; đòi hưởng thụ, đòi thỏa mãn ham muốn cá nhân; không muốn khổ trước, sướng sau mọi người. Bác Hồ đã chỉ ra “Họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng” từ những phân tích đó Bác cũng chỉ ra những ai như thế, những cá nhân có tư tưởng như vậy là bị CNCN thao túng “dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng cho cách mạng” từ đó chúng ta thấy rằng trong nền kinh tế thị trường, những mặt trái của cơ chế sẽ tác động vào mỗi người trong từng lúc, từng nơi, tác động vào mọi ngõ ngách cuộc sống, nếu không có quan điểm lập trường vững vàng, thì không sao tránh khỏi, sẽ bị sa ngã là điều tất yếu.

CNCN còn là thái độ kiêu ngạo, công thần, quan liêu, Bác chỉ ra: một số ít đảng viên bị CNCN trói buộc…họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; họ không tự phê bình hoặc phê bình không thật thà, nghiêm chỉnh; họ sợ tự phê bình sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng, họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng. Ta thấy, tự cá nhân những cán bộ như vậy đã đánh mất niềm tin của mọi người. Bản thân những người đó tự xem mình cái gì cũng giỏi, xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy thiên hạ, họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Những người như vậy còn tự cho mình được quyền hành động tự do, vô tổ chức, Bác nêu rõ: những đối tượng cán bộ như thế làm giảm sút niềm tin, ngăn trở sự nghiệp của Đảng, cản trở bước đi lên của Cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, đó là tình trạng không chấp hành chỉ thị, nghị quyết, trên bảo dưới không nghe; hoặc mặc dù được phổ biến quán triệt vì sự nghiệp chung, tổng thể, nhưng khi thực hiện lại nửa vời, làm qua loa, đại khái, chiếu lệ. Như phân tích, CNCN có lúc biểu hiện một cách tinh vi, kín đáo, nhưng cũng có những lúc thể hiện một cách trắng trợn, lộ liễu, từ đó Bác nói: CNCN nó làm cho một số cán bộ, đảng viên xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách, kỷ luật của Đảng; làm cho một số cán bộ, đảng viên tha hóa, mất phẩm chất, đạo đức. Dẫn đến đẻ ra hàng trăm thứ “bệnh nguy hiểm”: bè phái, quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, tham ô, lãng phí…dẫn đến mất lòng tin của dân đối Đảng, đối với chế độ.

Để chống lại CNCN,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: Đối với tự mình, đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ; phải tìm tòi, học hỏi cầu tiến bộ; đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người. Đối với công việc; việc gì cũng phải điều tra cho rõ ràng, xem xét kỹ, khi thực hiện phải làm đến nơi đến chốn, chống tư tưởng nửa vời, được chăng hay chớ, trước hết phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt có hiệu quả, nhưng về sau không có lợi. Đối với đồng chí phải thân ái với nhau, không che đậy những điều dở; học lấy cái tốt; không tranh giành ảnh hưởng của nhau; không ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…Đối với nhân dân, phải biết lắng nghe và cố gắng nghe được nhiều thứ, phải hiểu được nguyện vọng của nhân dân, biết được sự cực khổ của dân; phải tôn kính dân, phải làm gương, mọi cán bộ phải lấy dân làm gốc. Trong giai đoạn hiện nay tỉnh Bình Định đã và đang cùng cả nước bước vào hòa nhập với nền kinh tế thế giới thì mỗi cán bộ, công chức, mỗi đảng viên phải thật sự xây dựng là người “trung thành, sáng tạo, tận tụy, gương mẫu” nghĩa là:

Thứ nhất: Trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam; kiên định lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nói và làm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất, đạo đức, nhận thức chính trị của người cán bộ, công chức, viên chức; tích cực đấu tranh phê bình và tự phê bình.

Thứ hai:Nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào hoạt động thực tiễn. Tìm  tòi nghiên cứu, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, công nghệ; việc với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao nhất. Tích cực học tập, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm chủ các thiết bị khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong quá trình thực thi công vụ.

Thứ ba:Khi thực thi công vụ phải tận tụy hết mình, thực hiện mình vì mọi người; không lợi dụng vị trí, chức vụ được giao gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “cán bộ là công bộc của nhân dân”. Hoàn thành tốt công việc được giao với chất lượng tốt nhất, đảm bảo thời gian, tiến độ theo yêu cầu nhiệm vụ.

Thứ tư:Gắn bó mật thiết với nhân dân, đồng nghiệp; sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, tiết kiệm. Tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và hành động cách mạng. Đoàn kết xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh; xây dựng gia đình văn hóa; kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tham nhũng, lãng phí, cửa quyền, quan liêu và các tệ nạn xã hội; tích cực tham gia các hoạt động xã hội.

Chúng ta thấy rằng trong quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội Đảng ta đã, đang và rất coi trọng quán triệt học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh về chống CNCN; đây là nhiệm vụ cực kỳ bức thiết, có ý nghĩa to lớn nhiều mặt và là một công việc tất yếu của cách mạng. Không thể khác – nếu muốn giữ vững là một Đảng chân chính của giai cấp công nhân, để xây dựng thành công CNXH; bởi vậy hơn lúc nào hết, mỗi đảng viên, cán bộ phải triệt để chống CNCN, đem hết toàn tâm, toàn trí và toàn lực cống hiến xây dựng đất nước nói chung và tỉnh Bình Định đi lên.

Với nhìn nhận của cá nhân về những biểu hiện của Chủ nghĩa cá nhân và những nghiên cứu để góp phần chống tư tưởng CNCN trong giai đoạn hiện nay; xin nêu ra để cùng nghiên cứu, trao đổi.

Tôn Võ Xuân – Ban Tổ chức Tỉnh ủy  (Cập nhật ngày 29-09-2011)

snv.binhdinh.gov.vn

Nghĩ về tình cảm của Bác Hồ với Phụ nữ Việt Nam

Suốt cả cuộc đời mình, Bác đã để lại cho đời nhiều thứ quý giá, trong đó có một suối nguồn tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng mà Bác đã dành cho nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam.

443.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hội nghị phụ nữ tham gia công tác chính quyền. Ảnh: Tuấn Anh

“Bác sống như trời đất của ta / Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa / Tự do cho mỗi đời nô lệ / Sữa để em thơ, lụa tặng già” (Bác ơi – Tố Hữu). Suốt cả cuộc đời mình, Bác đã để lại cho đời nhiều thứ quý giá, trong đó có một suối nguồn tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng mà Bác đã dành cho nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam.

Còn nhớ, trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, trong những vấn đề Người quan tâm, Người đặc biệt chú ý đến trẻ em và phụ nữ ở các thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng, Người cho đó là những lớp người khổ nhất trong những người khổ cực.

Người căm ghét bọn thống trị luôn “đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người phụ nữ… và xúc phạm tới phong hóa, trinh tiết và đời sống của họ” (Bản án chế độ thực dân). Mỗi một phụ nữ, một trẻ em bị đánh, bị giết đều làm tác giả đau đớn. Người đã từng thốt lên: “Một em bé bị lột trần truồng, một thiếu nữ ruột gan lòi ra, cánh tay trái cứng đờ giơ nắm tay lên chĩa vào ông trời vô tình”.

Có gì xúc động hơn, khi thấy nỗi lòng Người đồng cảm với nỗi lòng của những người mẹ mất con, người vợ mất chồng trong vụ Pháp giết hại những người Việt Nam tại Khám lớn Sài Gòn. Người đã từng lên tiếng vạch trần những hành động dã man của lũ mặt người dạ thú với những người phụ nữ “Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược của bọn người xâm lược…”, chúng “mắng một phụ nữ Nam An là con đĩ, con bú dù… Ngay giữa chợ Bến Thành ở Sài Gòn… bọn gác chợ người Âu cũng không ngần ngại dùng roi gân bò, dùi cui đánh người phụ nữ bản xứ…”.

Có phải chăng đó chính là tình cảm, là động lực giúp Người vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong cuộc hành trình 30 năm trời tìm đường cứu nước để rồi, khi trở về đất Mẹ, Người không phút ngơi nghỉ để cùng Ðảng và nhân dân ta làm nên sự tích thần kỳ: Lật nhào chế độ phong kiến thực dân, dựng nên một nước Việt Nam độc lập dân tộc và dân chủ tiến bộ.

Ngay trong cuộc Tuyển cử phổ thông đầu phiếu ngày 6-1-1946, Người vui sướng nhận ra rằng “Phụ nữ là tầng lớp đi bỏ phiếu hăng hái nhất”. Sau khi đã trở thành Chủ tịch nước, Người vẫn luôn hướng tình cảm của mình đối với những người phụ nữ. Năm 1952, nhân kỷ niệm Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế phụ nữ, Người đã gửi thư ngợi khen: “Non sông gấm vóc Việt Nam do Phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Những năm tháng tại đầu nguồn Pác Bó, trong diễn ca “Lịch sử nước ta”, Người đã khẳng định: “Phụ nữ ta chẳng tầm thường / Ðánh Ðông, dẹp Bắc làm gương để đời”; “Hai Bà Trưng có đại tài / Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian / Ra tay khôi phục giang san / Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta”. Và hình ảnh Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng cũng được Người khắc họa: “Tỉnh Thanh Hóa có một bà / Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi / Tài năng dũng cảm hơn người / Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương”. Người từng căn dặn: “Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang là dũng cảm kháng chiến…”, thì: Phụ nữ Việt Nam ta cũng phải xứng đáng là con cháu Hai Bà.

Và vì thế Người luôn tự hào rằng “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng… Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng”, Cả trong kháng chiến chống Pháp. Rồi chống Mỹ “ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ”. “Từ trước đến nay phụ nữ Việt Nam ta có rất nhiều đóng góp cho cách mạng, phụ nữ ta rất đáng kính, phụ nữ ta đã có nhiều tiến bộ”. Tuy nhiên, “Bác còn mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa”.

Người còn chỉ ra rằng “Hiện nay, trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít. Ðảng và Chính phủ rất hoan nghênh, sẵn sàng cất nhắc và giao cho phụ nữ những chức trách quan trọng”. Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải: Gắng học tập, chính trị, học tập văn hóa kỹ thuật; nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ XHCN; Hăng hái thi đua thực hiện “Cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình”. Chúc chị em phụ nữ cố gắng học tập, tiến bộ nhiều, tiến bộ mãi để xứng đáng làm chủ nước nhà” (Bài nói chuyện tại Ðại hội phụ nữ tích cực Thủ đô lần thứ hai-8-3-1960).

Với Người, việc cất nhắc và giao trọng trách cho phụ nữ phải gắn liền với việc giải phóng phụ nữ, bởi “Ðể xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”. Thế nhưng “Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti…phải có ý chí tự cường tự lập”. Bởi vậy, những gì trái với quy tắc nam nữ bình đẳng Người đều có thái độ kiên quyết phản đối.

Chuyện rằng, tháng 1-1963, trong phiên họp của Bộ Chính trị để bàn về những vấn đề quan trọng của cách mạng, Người đã đọc một bức thư của một phụ nữ trong cuộc họp này, đó là bức thư một nữ cán bộ cách mạng ở Vĩnh Phúc bị chồng đối xử đánh đập tàn tệ mà không được chính quyền đoàn thể can thiệp, cán bộ đảng viên thì lẩn tránh. Bác xem đó là tội ác, là tàn dư còn lại tồi tệ nhất của chế độ cũ và yêu cầu cuộc họp ưu tiên giải quyết trường hợp này trước.

Những người phụ nữ Việt Nam thật sự xúc động và tri ân Người khi biết rằng, vào những năm tháng cuối cùng của đời mình, Người đã để lại cho chúng ta bản Di chúc quý giá, trong đó có những dòng viết riêng cho phụ nữ Việt Nam.

Sinh thời, bác Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại rằng: “Vào tháng 5-1968, Bác Hồ đọc lại bản Di chúc và thấy cần phải viết thêm mấy điểm về phụ nữ”. Thế rồi, trong bản Di chúc Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” (Di chúc). Chỉ thế thôi, nhưng đó vừa là tình cảm tràn đầy, vừa là huấn thị thiêng liêng của Bác.

Trong tác phẩm “Ðường Kách mệnh”, Bác cũng từng viết: “Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi: “ông Lê-nin nói: Ðảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công…”. Ôi, những dấu ấn đó của Người vẫn còn in mãi trong ta…

 Nguyễn Thị Thọ.

hochiminhhoc.com

Tết trồng cây nhớ Bác Hồ

Ngày Tết ở nước ta có nhiều phong tục đẹp, nhưng có lẽ đẹp nhất là một phong tục mới ra đời cách đây hơn 50 năm, phong tục Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng.

Đi thăm quốc gia nào, dù châu Á như Ấn Độ, châu Âu như Nga, Bác đều trồng cây lưu niệm. Nguyên thủ quốc gia nào đến thăm Việt Nam, Bác đều mời trồng cây. Nhớ miền Nam, Bác trồng dừa, vú sữa quanh nơi ở. Riêng với Hà Nội, Bác trồng nhiều cây nhất. Cây đa Bác trồng ở Đông Anh, ở xã Vật Lại (Ba Vì), ở công viên Thống Nhất giờ đã tỏa bóng mát xùm xòa. Cây đa ở công viên Thống Nhất, sau mấy chục năm đã tỏa bóng che mát một vùng bán đảo, tương lai không xa sẽ trở thành một cây đa đẹp vào loại nhất của Hà Nội.

Ngày 16/2/1969 (mồng 1 Tết Kỷ Dậu), Bác Hồ trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). (Ảnh tư liệu).

Không chỉ trồng cây và vận động những người quanh mình trồng cây, ngay vào giữa thế kỷ XX, khi thế giới còn chưa thật chú ý tới lợi ích của cây xanh với bảo vệ môi trường và đời sống con người, Bác Hồ đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân. Trong bài báo đăng trên báo Nhân Dân ngày 28-11-1959, chuẩn bị cho Tết trồng cây đầu tiên – Tết Nguyên đán năm 1960, Bác tính, miền Bắc (lúc đó) có 14 triệu người, trừ trẻ em dưới 8 tuổi, mỗi người ít nhất trồng một cây, sau năm năm có 90 triệu cây, nếu trồng cây nào tốt cây ấy, 5 năm sau là có cây ăn quả, cây có hoa, cây làm nhà. Với cách tính toán vừa thực tế vừa nhìn xa trông rộng đó, Bác đã tạo một phong tục mới, phong tục trồng cây ngày Tết mà chỉ Việt Nam mới có trong số hơn 200 quốc gia trên trái đất này.

Thực hiện lời Bác, cả miền Bắc và sau đó là cả nước năm nào cũng tổ chức Tết trồng cây. Đầu tiên chỉ là trồng cây lấy gỗ theo phương thức phân tán nhưng càng ngày, phong trào trồng cây càng đi vào chiều sâu. Trồng tập trung thành rừng, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, cây bóng mát giao thông, cây đô thị. Liên tục nửa thế kỷ, phong trào trồng cây nhân dân được khởi đầu vào mỗi dịp Tết mỗi năm đã trồng được hàng trăm triệu cây phân tán, hàng chục nghìn héc ta rừng, hình thành nên những vùng cây ăn quả như mận tam hoa ở Lào Cai, Sơn La; vải đường ở Hải Dương, Hưng Yên; cà phê ở Tây Nguyên; rừng ngập mặn ở miền tây Nam Bộ. Trong phong trào đó, năm nào Hà Nội cũng phát động Tết trồng cây làm theo lời Bác, nâng diện tích cây xanh trên đầu người tăng lên, chất lượng cây trồng tốt hơn, chủng loại cây cũng khoa học, hợp lý hơn. Cho đến nay, trừ những khu phố cổ, khu phố cũ cây trồng đã lâu năm, bắt dầu giai đoạn lão hóa nhanh, hầu hết các khu mới mở rộng đều có diện tích cho cây xanh tập trung, cây hè phố. Những đảo cây xanh và hồ nước quí giá như công viên Thống Nhất, công viên Thanh Nhàn, công viên Thủ Lệ, công viên Hòa Bình, công viên Mễ Trì ngày một nhiều. Thành phố cũng kiên quyết dành diện tích đáng kể cho cây xanh trong qui hoạch dài hạn. Nhiều khu nghỉ cuối tuần, khu sinh thái có cây xanh, hồ nước ở Ba Vì, Sóc Sơn cũng đang được xây dựng.

Nhưng do dân số tăng quá nhanh, công tác quản lý cây xanh còn thiếu người, thiếu thiết bị, thiếu vốn… nên áp lực về cây xanh của thành phố không ngừng tăng. Năm nay, chỉ riêng thành phố Hà Nội đã có kế hoạch trồng 1,2 triệu cây xanh, phấn đấu mỗi huyện, thị trồng từ 5 vạn đến 6 vạn cây, chủ yếu là cây bóng mát, cây ăn quả và 300 héc ta rừng, chăm sóc 9.000 héc ta rừng. Với số lượng cây xanh đô thị và cây lấy gỗ, cây ăn quả, cây cảnh đó, sau một vài thập kỷ, Hà Nội sẽ là một thủ đô xanh mát, sạch đẹp. Để có điều đó, Tết năm nay, mỗi người dân thủ đô, nhất là những người dân xa trung tâm hãy trồng ít nhất một cây và bảo đảm “trồng cây nào sống cây đó” như lời khuyên của Bác Hồ.

Nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Vấn đề phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và nâng lên tầm cao mới trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh – lãnh tụ thiên tài của nhân dân Việt Nam, nhà văn hoá lớn của thế giới. Người không chỉ truyền bá, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, đưa Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, mà Người còn phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin lên một tầm cao mới.

Picture1.jpg

1. Khi phân tích những mâu thuẫn của CNTB, C.Mác và Ph. Ăngghen đã tiên đoán khả năng cách mạng nổ ra trước tiên ở các nước tư bản phát triển nhất, nơi những tiền đề vật chất của CNXH đã đạt đến độ chín muồi nhất định. Mới đầu các ông cho rằng cách mạng sẽ nổ ra ở Anh, Pháp, sau đó là Đức. Theo các ông, giữa xã hội tư bản và xã hội cộng sản là một thời kỳ cải tiến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia, thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và Nhà nước của thời kỳ ấy là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản. Nhưng đến năm 1877, hai ông lại cho rằng cách mạng sẽ nổ ra ở phương Đông mà Nga là nước tiên phong. C.Mác tán thành ý kiến của Sécnưsepxki cho rằng nước Nga có thể không cần phải trải qua những đau khổ của chế độ tư bản mà vẫn chiếm đoạt được mọi thành quả của chế độ ấy. Như vậy, về cơ bản, lý luận của hai ông đều cho rằng các nước tư bản phát triển có thể đồng loạt tiến lên XHCN. Tuy nhiên, các ông cũng dự báo khả năng phát triển rút ngắn như nước Nga.

Thời C.Mác và Ph. Ăngghen, hệ thống thuộc địa của CNTB đã được mở rộng, nhưng cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chưa phát triển mạnh, bởi vậy, theo các ông, vận mệnh loài người, tương lai của cách mạng giải phóng dân tộc vẫn phần lớn phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển.

Sang thời Lênin, khi phân tích CNTB ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, ông cho rằng CNXH có thể thắng lợi thậm chí trong một nước tư bản tách riêng (một mắt xích trong sợi dây truyền), và ông nêu ra tư tưởng trong những điều kiện lịch sử nhất định, những nước lạc hậu có thể phát triển rút ngắn, bỏ qua, không phải trải qua giai đoạn phát triển TBCN. Những điều kiện đó là gì?

a) Phương thức sản xuất bị bỏ qua đã tỏ ra lỗi thời về mặt lịch sử.

b) Có sự giúp đỡ của giai cấp công nhân đã giành được thắng lợi ở nước tư bản phát triển hơn.

c) Có đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân với đầy đủ kinh nghiệm và quyết tâm cùng toàn dân làm cuộc cách mạng giành được chính quyền về tay mình.

Thời Lênin, cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, nên ông cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa. Bởi vậy, thay thế cho khẩu hiệu thời C.Mác “Vô sản tất cả các nước liên hợp lại”, ông đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.

chuyende.jpg

Hồ Chí Minh trên góc độ của người thuộc địa, góc độ của các dân tộc bị áp bức đã phê phán một cách có căn cứ và hết sức sâu sắc chủ nghĩa đế quốc và đã chỉ ra rằng sức sống của chủ nghĩa đế quốc một phần quan trọng nằm ở thuộc địa. Người nói: “Hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các nước thuộc địa hơn là ở chính quốc”(1274). Đây là điều quan trọng mà Hồ Chí Minh bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ đó, Người viết: “CNTB là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”(1298). Tư tưởng này là sự cụ thể hoá và chứng minh cho quan điểm của Lênin về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản của các nước thuộc địa và các dân tộc bị áp bức để tiêu diệt CNTB – con đỉa có hai vòi. Người cho rằng cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng dân tộc như đôi cánh của một con chim. Từ đó Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài cách mạng vô sản”, và Người đã gắn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cách mạng vô sản, gắn giải phóng dân tộc với CNXH, mang lại sự giải phóng triệt để cho con người Việt Nam.

2. Chủ nghĩa Mác-Lênin đề cao vấn đề giai cấp, còn ở Hồ Chí Minh, vấn đề giai cấp gắn bó mật thiết với vấn đề dân tộc, không có giai cấp chung chung đứng ngoài dân tộc, hai cái đó liên hệ với nhau một cách uyển chuyển và biện chứng. Trong hoàn cảnh mất nước thì quyền lợi dân tộc được đặt lên trên quyền lợi giai cấp, vì có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp, tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi để giải phóng giai cấp. Theo Người, nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi được tự do cho dân tộc thì chẳng những quốc gia dân tộc còn chịu mại kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không lại được. Không nên thấy người ta làm thế nào mình cũng làm như thế, người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh. Ngoài ra, trên cơ sở phân tích xã hội phương Đông, Người còn cho rằng đấu tranh giai cấp ở các nước phương Đông không quyết liệt như ở phương Tây, còn ở Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của lịch sử. Bởi vậy, theo Người, “cần phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản, đó là một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời, vì người ta sẽ không thể làm gì được cho người An nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại và duy nhất của họ. Khi chủ nghĩa dân tộc của ta thắng lợi, phần lớn thế giới sẽ Xô viết hoá và lúc đó chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế, còn sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới (1,469). Như vậy, ở Hồ Chí Minh, dân tộc và giai cấp liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau, có điều ở mỗi thời điểm lịch sử cụ thể thì cái nào nổi trội hơn nhằm đạt đến mục tiêu chiến lược và sách lược cụ thể. Thực tiễn cách mạng 75 năm qua đã chứng minh cho sự đúng đắn của quan điểm này.

3. Nếu như C. Mác tán thành quan điểm của Sécnưsépxki cho rằng nước Nga có thể bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thì Lênin cho rằng: “So với những nước tiên tiến, thì đối với nước Nga, bắt đầu cuộc đại cách mạng vô sản là một điều dễ dàng hơn, nhưng tiếp tục cuộc cách mạng đó đến thắng lợi cuối cùng… lại là một điều khó khăn hơn” (2,478). Như vậy, theo Lênin, so với những nước tư bản tiên tiến, Nga làm cách mạng vô sản dễ hơn nhưng để đi đến thắng lợi cuối cùng thì lại khó khăn hơn. Khó đến mức mà hiện nay nước Nga xã hội chủ nghĩa là không còn nữa. Nghiên cứu tình hình cụ thể các nước phương Đông, Hồ Chí Minh cho rằng với những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào Châu Á, dễ dàng hơn là ở Châu Âu”(1,36). Như vậy, theo Bác, chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào Châu Á dễ dàng hơn Châu Âu. Điều này hoàn toàn có căn cứ, có cơ sở khoa học.

Như chúng ta đã biết, điểm khác biệt giữa Á với Âu, Đông và Tây là ở chỗ ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất Châu Á lâu dài, dai dẳng, đã tạo nên một đặc điểm đặc trưng của phương Đông là việc không có sở hữu tư nhân về ruộng đất, cái mà C.Mác gọi là cơ sở, còn Ph.Ăngghen gọi là chiếc chìa khoá để hiểu toàn bộ phương Đông. Trong Kinh Thư có ghi: “Phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ, suất hải chi tân mạc phi vương thần” nghĩa là đất đai dưới trời đâu chẳng là của vua, người trên đất đai ấy ai chẳng phải là thần dân của vua. GS. Trần Đình Hượu cho rằng cùng với chế độ “‘lãnh hữu” chứ không phải “sở hữu” và ruộng đất các nước phương Đông để tiến lên CNXH, hơn CNTB.

Nhưng để tiến lên CNXH và xây dựng thành công CNXH là hai việc khác nhau. Cái thứ nhất suy cho cùng nghiêng về tiền đề, cái thứ hai mới là mục đích Hồ Chí Minh cho rằng thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều, rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng vĩ đại, vẻ vang nhất nhưng là cuộc cách mạng gay go nhất, phức tạp, khó khăn nhất, là cuộc chiến khổng lồ chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Qua thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta trong những năm qua, chúng ta càng thấm thía tư tưởng của Người.

4. Chủ nghĩa Mác – Lênin qua lăng kính của Người trở thành một cái gì đó cực kỳ dễ hiểu, giản dị, dung dị, gần gũi đối với tất cả mọi người. Chẳng hạn, quan hệ giữa cán bộ, Đảng, Nhà nước và nhân dân được người mô tả bằng hình ảnh vô cùng quen thuộc: dân là nước, cán bộ là cá, Nhà nước, cách mạng là thuyền, đường lối là la bàn, Đảng như người cầm lái (hay trí tuệ con người cầm lái). Như chúng ta thấy, cá tách khỏi nước sẽ chết. Nước có thể chở thuyền nhưng cũng có thể lật thuyền. Thuyền không có la bàn không biết đi đâu. Thuyền không có người cầm lái thì không chuyển động. Như vậy, thật vô cùng dễ hiểu, không có dân là không có tất cả, dân là gốc, là cơ sở, nước ấy dân làm gốc.

Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân

Từ đó Người đưa ra tư tưởng dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của dân và xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người cho rằng thực hiện dân chủ là chìa khoá vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn. Hay một hình ảnh nữa, đoàn kết hay không đoàn kết, được Người ví như một bó đũa và một chiếc đũa đơn lẻ. Từ đó Người cho rằng đoàn kết tạo nên sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi, là thành công.

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công đại thành công

Bởi vậy, chủ nghĩa Mác- Lênin trở nên gần gũi với những người dân lao động bình thường. Bác giải thích thế nào là chủ nghĩa Mác -Lênin, tsách vở mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được, hay hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin. Bác cho rằng muốn giữ gìn sự trong sáng của chủ nghĩa Mác –Lênin thì trước hết tự mình phải trong sáng (xem 4,272)

5. Chủ nghĩa Mác-Lênin có bàn đến đạo đức giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Mặc dù đã vạch ra được những nguyên lý nền tảng của đạo đức nhưng vẫn còn khá chung chung, chưa thật cụ thể.

Giống như C.Mác phê phán Hêghen, Người cho rằng đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức không phải từ trên trời rơi xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển. Đạo đức là nền tảng của người cách mạng, nó giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Hồ Chí Minh đã nhìn ra đạo đức có thể nhân gấp 10 lần sức mạnh con người, đã nhìn ra ở phương Đông một tấm gương có giá trị gấp trăm bài diễn thuyết, bởi vậy, Người chú trọng vấn đề đạo đức, đặc biệt xây dựng mẫu người toàn diện cả đức lẫn tài, cả tâm hồn lẫn trí tuệ và sức khoẻ, phải trung với nước, hiếu với dân, phải thương yêu con người, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, phải có tinh thần quốc tế trong sáng. Đối với Người, nói là phải đi đôi với với làm, phải làm gương “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” xây đi đôi với chống và phải tu dưỡng đạo đức suốt đời giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

6. Trên cơ sở phân tích tình hình xã hội phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, Người cho rằng cuộc đấu tranh giai cấp ở đây không diễn ra giống như ở phương Tây. Vậy không giống ở điểm nào? Người cho rằng về phía Việt Nam người lao động, đó là sự không giác ngộ, sự nhẫn nhục và vô tổ chức, còn về phía bọn chủ thì không có máy móc, ruộng đồng thuộc sở hữu của những địa chủ hạng trung, hạng nhỏ và những kẻ ở đó được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở Châu Âu và Châu Mỹ, không có tỷ phú người An Nam. Những tên trọc phú ở đó thì ở đây chỉ là những kẻ thực lợi khá giả thôi. Cho nên, nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa, nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc, người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có Tơrớl. Người thì nhẫn nhịn chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình, sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó không thể chối cãi được. Từ đó Người kết luận: “Xã hội Đông Dương, Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây” (1,465).

Từ phân tích về giai cấp xã hội các nước phương Đông và Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đi gần đến cái mà C.Mác gọi là phương thức sản xuất Châu Á vốn coi trọng là tính tự trị độc lập, biệt lập của công xã. Cái đặc trưng này theo Người dẫn đến sự thiếu tin cậy lẫn nhau, từ đó là nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông. Người viết: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự biệt lập. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau (1,263).

Với tính cách đặc thù đó, Người đã đặt ra một vấn đề hoàn toàn chính xác khi cho rằng C.Mác cho ta biết sự tiến triển của các xã hội trải qua ba giai đoạn: “Chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản, và trong mỗi giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không?”(1,465). Bởi lẽ, ở phương Đông do ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất Châu Á kéo dài dai dẳng từ sau khi tan rã của công xã nguyên thuỷ cho đến tận những năm đầu của thế kỷ XIX, nên xã hội ở phương Đông và Việt Nam không thật điển hình như ở phương Tây (nếu theo hệ quy chiếu phương Tây). Một số học giả khác lại cho rằng Việt Nam, Mông Cổ và cả Nga không trải qua chế độ nô lệ, thậm chí có người còn cho rằng Việt Nam không có chế độ phong kiến. Từ đó Hồ Chí Minh cho rằng tùy hoàn cảnh mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau “Ta không giống Liên Xô… ta có thể đi con đường khác để tiến lên CNXH” (6, 227). Hồ Chí Minh cho rằng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà C.Mác ở thời mình không có được. Người cho rằng “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông, đó chính là nhiệm vụ của các Xô viết” (1,465). Tại sao lại như vậy? Theo người: “C.Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử Châu Âu. Mà Châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” (1,465). Qua đây ta đã thấy Người đã phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện cụ thể của các nước phương Đông và Việt Nam như thế nào. Điều này hoàn toàn xa lạ với cái gọi là khuynh hướng xét lại chủ nghĩa Mác.

Ngày nay trong công cuộc CNH-HĐH, thiết nghĩ những người giảng dạy và nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin học tập tinh thần phát triển sáng tạo ở Người để góp phần nhanh chóng đưa nước ta đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.

___________________

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
2. C.Mác-Lênin và Ph.Ăngghen, Chủ nghĩa Mác, Nxb Sự thật, Hà Nội 1958.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000.

Nguồn:  Triết học & Đời sống

hochiminhhoc.com

Câu lạc bộ Phô Bua, nhà văn Léo Poldes và vở kịch Con rồng tre của Nguyễn Ái Quốc

Đầu những năm 20 của thế kỷ trước, Thủ đô Pari, nước Pháp là nơi được chứng kiến nhiều hoạt động sôi nổi và phong phú của Nguyễn Ái Quốc…

24.jpg

Người đã dũng cảm đối đầu với nhà cầm quyền Pháp, tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của nhiều người, bằng mọi hình thức tuyên truyền, vận động, đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập. Câu lạc bộ Faubourg, thành lập từ năm 1914, là một trong những nơi Nguyễn Ái Quốc thường đến dự và có những hoạt động tuyên truyền. Bài viết này của chúng tôi xin cung cấp cho bạn đọc một số thông tin về Câu lạc bộ Faubourg, nhà văn Léo Poldès, chủ nhiệm câu lạc bộ và vở kịch Con Rồng tre, do chính Léo Poldès và Bác Hồ của chúng ta kể lại.

Bác Hồ đã viết về Câu lạc bộ Faubourg (có nghĩa là ngoại ô) như sau:

“Câu lạc bộ ngoại ô. Gọi tên nó như thế, là theo truyền thống đại cách mạng Pháp từ năm 1789. Sự thật thì không phải là một câu lạc bộ chính cống mà cũng không ở ngoại ô. Một người trí thức phái tả tên là Pôn-đét (Poldès) có sáng kiến tổ chức “câu lạc bộ” lưu động, mỗi tuần họp một lần, khi họp chỗ này, khi họp nơi khác ở Thủ đô Pari. Thường có độ ba trăm người đến dự, đủ các xu hướng chính trị và các tầng lớp xã hội. Đại đa số là công nhân và tiểu tư sản “khai minh”. Nhưng cũng có ông nọ bà kia. Họ thảo luận những vấn đề thời sự, chính trị hoặc văn hóa xã hội. Một người trình bày vấn đề (có chuẩn bị trước). Sau đó, mọi người tự do phát biểu ý kiến.

Cuộc bàn cãi luôn luôn sôi nổi, nhưng rất thân mật. Mỗi lần họp, anh Nguyễn (tức Bác Hồ) đều phát biểu ý kiến. Và bất kỳ vấn đề gì anh cũng khéo lái nó về kết luận lên án thực dân. Một ví dụ: Trong một cuộc thảo luận về thuật “thôi miên”, sau khi nhiều người nói tin, nhiều người nói không tin, anh Nguyễn xin phát biểu ý kiến. Anh nói: “Tin cũng được, không tin cũng được. Nhưng tôi xin mạn phép nói thật rằng bác sĩ Cu-ê (người thạo giỏi thuật “thôi miên”) chưa giỏi bằng thực dân Pháp. Mỗi năm, với hàng nghìn tấn thuốc phiện, chúng đang làm cho hàng triệu người Việt Nam ngủ say đến nỗi quên mình là vong quốc nô”.

Anh Nguyễn được mọi người hoan nghênh. Vì thái độ anh khiêm tốn và lời lẽ của anh gọn gàng. Lại vì ở câu lạc bộ và có lẽ ở cả Pari chỉ có anh là người Việt Nam dám lên tiếng chống thực dân Pháp. Một kết quả tốt là nhiều người đồng tình với anh và anh đã trở thành người tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam”. 1

“Một lần khác hội nghị thảo luận vấn đề Ái-nhĩ-lan và Triều Tiên. Tất nhiên những nhà diễn giả Pháp đều nghiêm khắc công kích chính sách của Anh, của Nhật và bênh vực nhân dân Ái-nhĩ-lan, nhân dân Triều Tiên. Ông Nguyễn phát biểu ý kiến:

Cũng là một dân tộc bị áp bức, tôi hoàn toàn đồng tình với những người bạn Ái-nhĩ-lan, nhân dân Triều Tiên, và đồng tình với hội nghị kết án bọn thực dân Anh, Nhật. Nhưng tôi hỏi các ngài có nên kết án cả những bọn thực dân khác không? Có nên bênh vực nhân dân bị áp bức khác không? Có hay không?”… Mọi người đều trả lời là có. Thế là được dịp ông Nguyễn trình bày vấn đề Việt Nam”. 2

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pari, với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, đã làm cho chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg Léo Poldès và nhiều người bạn khác một sự ngạc nhiên sửng sốt.

Câu chuyện của hơn 20 năm trước, được Léo Poldès nhớ và ghi lại trong sự bàng hoàng, ngạc nhiên “Vì sao, Nguyễn Ái Quốc, người thợ ảnh giản dị kia đã chết năm 1933 mà nay năm 1946 đã là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Xin trích dẫn sau đây một đoạn trong bài viết của Léo Podès về Nguyễn Ái Quốc, vở kịch Con Rồng tre và về Câu lạc bộ Faubourg, đăng trên tuần báo “Paris, số 53”, ngày 11, 12-6-1946. Câu chuyện nhẹ nhàng đưa chúng ta về với những sự kiện xảy ra từ nhiều năm trước như đi vào thế giới cổ tích:

“Ngày xưa đúng thực là một câu chuyện cổ tích, có một bác thợ Việt Nam nghèo nàn, sống giản dị trên một căn gác thượng, trong ngõ hẻm Compoint, giữa một khu chen chúc toàn dân lao động. Tên bác ta là Nguyễn Ái Quốc, bác làm nghề rửa ảnh.

Một chiều kia, cách đây chừng 25 năm, hôm ấy có phiên họp các hội viên Câu lạc bộ Faubourg tại rạp hát Printanis, ở góc đại lộ Clichy và phố Richaud, bác Nguyễn Ái Quốc đã tới đây ngập ngừng hỏi tôi xem liệu bác dù là một kẻ lao động xoàng xĩnh, có thể được hân hạnh vào góp lời trong những cuộc thảo luận của những tay tài ba lỗi lạc, đã làm rạng rỡ văn đàn Câu lạc bộ Faubourg của chúng tôi được không.

Tôi bèn trả lời: “Ông chớ ngại điều đó. Với quan niệm chúng tôi, thì sự tự do phát biểu ý kiến, là của tất cả mọi người. Ý kiến xác đáng, hay ho của một người, dù người ấy chỉ là một người thợ, cũng được đặc biệt chú ý như những ý kiến của một vị Quốc trưởng.

Bác nhún vai, mỉm cười, nói: “Podès quý ngài à, tôi chỉ là nhà cách mạng, ngài ví tôi với những vị quốc trưởng, tôi xin đưa ngài xem đây tập bản thảo của tôi. Tuy chỉ là một người thợ ảnh nghèo nàn, nhưng tôi cũng có viết được một kịch bản, nhan đề bản kịch đó là “Con Rồng tre” (Le dragon de bambous) viết ra cốt là để công kích những vị Quốc trưởng.

Rồi ông tinh quái nói tiếp: “Chắc chắn là không ai dám đem diễn trên sân khấu đâu, ngay như ngài rồi ngài cũng đến quẳng vào sọt rác”. Nhưng ông Nguyễn đã nhầm”.

Léo Podès đã nhận xét về vở kịch Con Rồng tre như sau:

“Tôi đã đọc tập bản thảo, thật là hay, thật là đẹp, lời vừa trải chuốt gọn gàng, với những cái châm biếm dí dỏm của Aistophan 3 bản kịch này có đủ ưu điểm để mang lên sân khấu.

“Con Rồng tre” đầu đề kịch bản chỉ một vị Quốc trưởng Á-Đông, đớn hèn bất lực và ngu dốt, mà tác giả không hà tiện lời chế diễu một cách cay nghiệt, hóm hỉnh suốt trong ba hồi; khi ấy bản thân ông Nguyễn Ái Quốc không ngờ rằng bản kịch của mình đã bao lần chủ kịch bản từ chối không dám diễn mà lại được nhóm Faubourg chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh, và nhất là ông lại không ngờ rằng 25 năm sau người thợ ảnh ở ngõ hẻm Compoint, tác giả “Con Rồng tre”, lại trở thành một vị Quốc trưởng với cái tên mới Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dùng cơm với tướng Leclerc, với Thượng sứ đô đốc D’ Argenlieu, cùng đi duyệt một đạo binh Pháp, và được nghênh tiếp chính thức bởi vị Chủ tịch Pháp ở Pari.”

Vở kịch Con Rồng tre viết về Vua bù nhìn Khải Định, vào dịp ông ta sang Pháp dự triển lãm thuộc địa. Vở kịch bị Chính phủ Pháp cấm, nhưng được Câu lạc bộ Faubourg đem diễn. Vở kịch này hiện chưa sưu tầm được, chúng ta chỉ biết tới nội dung kịch bản qua mấy dòng kể tóm tắt của Bác như sau: “Có những cây tre thân hình quằn quẹo. Những người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành con rồng. Nó là một đồ chơi. Là con rồng nhưng thật ra chỉ là một khúc tre. Là khúc tre, nhưng lại hãnh diện có tên và hình dáng con rồng. Tuy vậy nó chỉ là một quái vật vô dụng”. Khải Định chính là một ông vua vô dụng.

Léo Podès còn nhớ và viết khá chi tiết về những buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Faubourg mà Nguyễn Ái Quốc tham dự. Tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), mà Nguyễn Ái Quốc là một trong những người sáng lập, ra số đầu tiên ngày 1-4-1922. Ngay trên trang nhất của số báo này có đăng thông báo về đề tài Sân khấu Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc trình bày trong chương trình sinh hoạt tháng 4-1922 của Câu lạc bộ Faubourg 4. Tài liệu của mật thám Pháp theo dõi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pari cũng ghi lại những lần Nguyễn Ái Quốc đến dự sinh hoạt ở Câu lạc bộ Faubourg, trong đó có lần Nguyễn Ái Quốc phân phát cho những người dự sinh hoạt câu lạc bộ tờ Truyền đơn cổ động mua báo Le Paria 5.

Nguyễn Ái Quốc rời Pari, Thủ đô nước Pháp, sang Mátxcơva, Liên Xô một cách lặng lẽ và bí mật. Cũng như nhiều người bạn Pháp, ông chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg cũng không biết là Nguyễn Ái Quốc đã đi đâu. Chỉ đến khi có tin về Pari, Nguyễn Ái Quốc đã bị chết trong nhà tù của đế quốc Anh ở Hông Kông, Léo Poldès đã viết đăng tin trên tờ Faubourg:

“Không phân biệt khuynh hướng khác nhau, hết thảy anh em chúng tôi đề lấy làm đau đớn khi hay tin ông Nguyễn Ái Quốc đã mệnh chung ở Hồng Kông”…

Tờ Faubourg ra ngày 1-7-1933 có trích đăng một bài sau: “Nói về Nguyễn Ái Quốc vị lãnh tụ Đảng Cộng sản”, tờ tạp chí Pháp – Việt có viết: “Ông không vắng mặt một buổi họp nào ở Câu lạc bộ Faubourg, ở đây ông ta đã từng đứng lên diễn thuyết trước mọi người. Ông ta đã viết báo. Người ta thường gặp ông hồi 6 giờ chiều ở những phòng trị sự các nhà báo. Ông mang lên đây những câu chuyện ngắn hay một tập truyện vì ông từng khảo cứu về văn nghệ, sau này ông hoàn toàn thiên về chính trị và ông đã thiết tha cống hiến cả một đời để phụng sự khuynh hướng ấy”. “Người chiến sĩ xấu số đã mệnh chung trong nhà giam. Người ta lại nhớ đến những cuộc họp ở Câu lạc bộ Faubourg, đến những lời nói thông minh hóm hỉnh trong buổi họp, đến bản kịch bất hủ của ông: “Con Rồng tre”. Hỡi các vị thần linh của cõi Á – Đông, các ngài hẵy săn sóc giữ gìn lấy linh hồn ông”.

Khi được biết Nguyễn Ái Quốc vẫn còn sống, trở lại Pari với tư cách khác, Léo Podès đã rất hóm hỉnh viết rằng: “Và những vị thần linh ấy đã giữ gìn linh hồn ông khỏe đến nỗi, ngày nay người thợ ảnh mày râu nhẵn nhụi kia đã sống lại giữa khuôn mặt đáng kính có thêm một nhúm râu dài của Cụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Léo Podès nhắn gửi rằng: “Hồ Chí Minh đức ngài, mai đây từng dãy người xếp hàng một diễu qua chào mừng đức ngài trước điện Chamos D’ Elysé, bên cạnh ngài khi ấy là vị Chủ tịch lâm thời nước Cộng hòa Pháp. Chúng tôi thiết tha mong đức ngài nhớ lại cái hồi đầu tiên của đức ngài trong Câu lạc bộ Faubourg. Nhớ lại những vấn đề quỷ thần, sự tái sinh, và nhất là đức ngài hãy rủ lòng thương nhớ đến người thợ ảnh nhỏ bé ở ngõ Compoint khi xưa…6”.

Nguyễn Ái Quốc không thể quên những ngày Pari. Tháng 5-1946, khi đến nước Pháp với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là thượng khách của Chính phủ Pháp, ngoài chương trình làm việc chính thức, gặp gỡ với Chính phủ Cộng hòa Pháp, Người dành nhiều thời gian tiếp xúc, gặp gỡ kiều bào, các nhà văn, nhà báo, bạn bè cũ. Và đương nhiên là Người đã gặp lại nhà văn Léo Poldès. Nhật ký bốn tháng sang Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi lại: Ngày 8-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp vợ chồng nhà văn Poldès; Ngày 15-7-1946, vợ chồng nhà văn Poldès mời Người vê quê chơi, cách Pari chừng 30 cây số. Nhà ông Poldès, rừng bao bọc xung quanh. Thanh vắng mát mẻ. Cây tốt hoa thơm. Ăn cơm rồi, Cụ Chủ tịch kéo ghế nằm dưới gốc cây. Thật đúng là:

“Thảnh thơi vui thú yên hà,
Tùng là bạn cũ, hạc là người quen”.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Câu lạc bộ Faubourg, ngày 1-5-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng ông Léo Poldès, Chủ tịch của câu lạc bộ Huy chương Hữu nghị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 7.

Những câu chuyện kể về những tình cảm của những người bạn Pháp đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có ông Chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg là những dấu ấn đặc biệt trong những năm tháng hoạt động cách mạng sôi nổi, oanh liệt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ở Thủ đô Pari. Năm tháng qua đi, song tình cảm của những người bạn Pháp đối với Bác Hồ kính yêu của chúng ta, mà cũng là đối với cách mạng Việt Nam, mãi mãi được giữ gìn, trân trọng, góp phần củng cố và xây dựng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước hôm nay.

___________________________

1. Bác Hồ (hồi ký), In lần thứ hai, Nxb. Văn học, 1975, tr. 21.
2. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.40.
3. Aistophan là thi sĩ Hy Lạp nổi tiếng về tài châm biếm hài hước, sống vào thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch.
4. Báo lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh
5. Báo cáo của mật thám Pháp, lưu Kho tư liệu BTHCM, ký hiệu: H20C11/7
6. Những đoạn in nghiêng trong bài đều được trích từ bài viết của Léo Podès.
7.Bút tích ghi lại sự kiện này lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Theo Phạm Thị Lai

hochiminhhoc.com

Bác Hồ với quê hương, quê hương với Bác Hồ

(ĐCSVN) – Trong gần 50 năm làm báo, tôi đã có gần 35 năm được hoạt động nghề nghiệp trên quê hương Bác Hồ kính yêu, trong đó có một kỷ niệm tôi không thể nào quên là đã được đón và phản ánh hoạt động của Người trong chuyến về thăm quê lần thứ 2 (ngày 8 tháng 12 năm 1961).

Bác Hồ về thăm quê ở Kim Liên, Nghệ An ngày 8-12-1961. (Ảnh tư liệu)

Ngày 8-12-1961 quả là một ngày khó quên với tôi dù ngày đó đã qua đi gần 50 năm. Trước đó mấy ngày, tin Bác Hồ sẽ về thăm quê đã được thông báo. Tuy không được phổ biến rộng rãi nhưng dù là nghe “lỏm” chúng tôi cũng háo hức chờ đợi. Rồi ngày đó cũng đến. Sân bay Vinh hồi đó còn thô sơ lắm. Trời thu khá rét nhưng khi chúng tôi, những nhà báo đến sân bay sớm hơn quy định thì bà con ở thị xã Vinh và các huyện lân cận đã có mặt từ bao giờ để đợi đón Bác.

Khi chiếc trực thăng từ từ hạ cánh thì dòng người cứ nhích dần vào khu đỗ trung tâm. Không quân nhạc, không pháo hoa. Máy bay vừa tắt cánh quạt thì từ cửa máy bay Bác kính yêu đã tươi cười vẫy tay chào cán bộ và bà con quê hương. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, quân khu 4 đứng sát cầu thang máy bay để đón Người. Nhưng thật bất ngờ, Bác Hồ nét mặt xúc động đã đi thẳng đến nơi các cụ lão thành mặc áo đỏ bắt tay thân thiết từng người rồi đến với các cháu thiếu niên. Bác nhìn quanh, tươi cười vẫy tay chào bà con nông dân đang đứng ở vòng ngoài rồi mới quay lại chào và thăm hỏi các vị lãnh đạo tỉnh, quân khu.

Hồi đó Nghệ An còn nghèo lắm. Cả lãnh đạo tỉnh ủy, ủy ban tỉnh đều chỉ có mấy chiếc com-măng-ca. Trong số xe ra đón có một chiếc xe hiệu “Gat 69” mui trần, kết hoa chắc để dành đón Bác. Lại một ngạc nhiên đầy xúc động nữa: khi đồng chí Bí thư tỉnh ủy Võ Thúc Đồng trân trọng mời Bác lên xe mui trần có kết hoa thì Người quay lại thân thiết mời cụ Lê Nhu, Chủ tịch MTTQ tỉnh người cao tuổi, đầu tóc bạc phơ lên xe đó còn mình lên một chiếc xe khác để về thị xã. Tiếng vỗ tay, tiếng hô “Hồ Chí Minh muôn năm” lại vang lên cho đến khi xe của Người đã đi khuất vào rặng phi lao đoạn đường Quán Bánh hướng vào thị xã.

Bác về thăm quê lần thứ hai ngắn lắm, chỉ trong 3 ngày, nhưng khi bàn về các điểm đi của Bác ai cũng ngạc nhiên. Về Kim Liên chỉ một buổi còn lại là đến với công nhân nhà máy cơ khí Vinh, nông dân trồng cây giỏi ở Vĩnh Thành (Yên Thành), nông trường chăn nuôi giỏi Đông Hiếu ở Nghĩa Đàn, rồi gặp gỡ các cụ lão thành, thăm trường sư phạm miền núi, làm việc với Ban chấp hành Đảng bộ Nghệ An và nói chuyện với đại diện nhân dân trong tỉnh tại cuộc mít tinh chào mừng Người về thăm quê tại sân vận động thị xã Vinh.

Sách báo đã viết nhiều về lần thăm quê thứ 2 và cũng là lần cuối cùng trong đời hoạt động của Người. Đây là chuyến thăm mà Người đã hứa với Đảng bộ và nhân dân quê hương trong chuyến thăm lần thứ nhất sau 50 năm xa cách (tháng 6-1957) là: nếu Đảng bộ và nhân dân làm tốt trong sản xuất, xây dựng và xây dựng Đảng thì Bác sẽ về thăm lần nữa. Là người làm báo mới ra trường, không được chọn vào đội ngũ phóng viên tháp tùng chính thức nhưng tôi đã cố xin để đi theo Người cả chuyến. Và những điều ghi nhận được, cho đến bây giờ dù đã lên lão nhưng với tôi như vẫn còn tươi mới, như mới xảy ra đâu hôm qua, hôm kia thôi.

Đó là bài học công nông liên minh Bác dạy ở HTX nông nghiệp Vĩnh Thành và nông trường Đông Hiếu, đó là bài học đoàn kết, không ỷ lại, chung lo xây dựng quê hương ở xã Nam Liên. Đó là bài học về đãi ngộ và cống hiến, công bằng, “tre già măng mọc” nói với các cán bộ lão thành, đó là bài học về tổ chức cán bộ và xây dựng Đảng ở buổi làm việc với Ban chấp hành Đảng bộ và bài học về đại đoàn kết toàn dân và sức mạnh của nhân dân khi nói chuyện với đại diện đồng bào toàn tỉnh và học sinh trường sư phạm miền núi Nghệ An. Với cán bộ, công nhân nông trường Đông Hiếu, Bác dặn: Nông trường là làm nông nghiệp kỹ thuật cao, là điểm tựa của nông dân toàn tỉnh. Đã là điểm tựa thì cán bộ, công nhân nông trường phải giúp nông dân trong vùng và toàn tỉnh để phát triển tốt chăn nuôi, trồng trọt, thâm canh tăng năng suất. Với công nhân Nhà máy cơ khí Vinh, Người khuyên: là đứa con công nghiệp đầu lòng của tỉnh, là nơi sản xuất nông cụ phục vụ nông dân thì phải sản xuất “nhanh, nhiều, tốt, rẻ”. Nhanh, nhiều tốt là rất cần. Nhưng nông dân ta còn nghèo nên hàng làm ra đã tốt mà phải rẻ để bà con có tiền mua. Nếu nông dân dùng mà sớm hỏng thì phải sửa không mất tiền cho nông dân. Đó chính là liên minh công nông, là mối tình công nông thiết thực nhất. Ở nông trường Đông Hiếu, Bác đã chọn và tặng huy hiệu của Người ngay tại buổi nói chuyện cho 3 tấm gương tiêu biểu đã được tập thể công nhân bình chọn, đó là Nguyễn Văn Lang, tổ trưởng trồng trọt, Võ Trọng Tạo, tổ trưởng chăn nuôi và Trần Kim Mạnh, quản đốc. Bác nói: “Bác và Trung ương sẵn sàng thưởng nếu các cô, các chú thi đua làm kịp các chiến sĩ đó. Có “giao kèo” đấy nhé. Nếu các cô, các chú làm được như thế mà Bác không thưởng là lỗi tại Bác. Nếu Bác sẵn sàng thưởng mà các cô, các chú không làm được thì lỗi tại ai?”. Công nhân trả lời “Tại các cháu”. Bác hỏi có phải thế không? Có đồng ý như thế không? Cùng với tiếng “Dạ thưa Bác, đồng ý ạ” thì cả hội trường lại rộn lên, hướng về Người, ai cũng ngầm hứa phải làm thật tốt để sớm được nhận phần thưởng của Người.

Căn nhà lá của gia đình cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.  Ảnh: Tuấn Anh

Bài học sâu sắc mà tôi khắc ghi trong lòng là quan điểm về đãi ngộ và công tác cán bộ của Người tại buổi nói chuyện với cán bộ cách mạng lão thành của tỉnh. Sau khi nói về công lao đóng góp của các đồng chí cán bộ lão thành cho thành công của Đảng, của Cách mạng, Bác nói: “Bây giờ sang phần thứ hai. Đây là những điểm nhỏ, tôi gom góp, nói để các đồng chí rõ”. Về đào tạo lớp trẻ, Người nói: “Đảng rất quý, rất trọng các đồng chí già nhưng Đảng cũng rất cần nhiều cán bộ trẻ để làm những việc mà đảng viên già không làm được. Tôi cũng là một trong nhưng đồng chí già. Tôi có lái xe được không? Không, phải nhờ đồng chí trẻ. Muốn học lái xe thì phải học các đồng chí trẻ. Chớ có nói: sao mình không được đi, nó lại được đi xe”. Nói về quan điểm dùng người, sau khi nói về vai trò tham mưu của ban tổ chức từ Trung ương đến địa phương trong việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, Bác khẳng định: “Nhưng bất kỳ ai, có khả năng, đã đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu của cách mạng là phải dùng. Ví dụ: giữa hai đứa con của người trong Đảng và người ngoài Đảng. Con của đồng chí mình thì kém, dốt hơn, con của người ngoài Đảng thì thông minh, ngoan ngoãn hơn. Vậy thì ta nên đưa ai đi? Con của người ngoài Đảng hay con của người trong Đảng?(cả hội trường đồng thanh “con của người ngoài Đảng”). Đúng, vì Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Đảng không lo riêng cho một đồng chí nào hết. Đảng lo việc cho cả nước. Đó là chính sách cán bộ”.

Từ sau ngày Bác vô thăm quê lần thứ hai, những lời dạy ân cần của Người từ xã quê hương Nam Liên đến nhà máy, hợp tác xã, trường học… cán bộ, nhân dân Nghệ An đều ghi sâu lời dạy của Người và thực hiện ngày càng tốt lời Người dạy. Những năm đó, nhà máy cơ khí Vinh duy trì thường xuyên tổ sửa chữa máy tuốt lúa lưu động về các hợp tác xã sửa miễn phí cho nông dân, nông trường Đông Hiếu đã giúp các hợp tác xã quanh vùng, nhất là xã Nghĩa Thuận trở thành đơn vị điều hành về sản xuất, chăn nuôi của Nghĩa Đàn. Công tác cán bộ ở Nghệ An ngày càng tốt hơn, giảm dần tình trạng “thành phố chủ nghĩa”trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm cán bộ. Số lượng cán bộ, công nhân viên và xã viên được nhận huy hiệu của Người mỗi năm mỗi tăng, có người được tặng đến lần thứ hai như nữ anh hùng Hoàng Thị Liên ở cửa hàng ăn cảng Bến Thủy. Những đơn vị được vinh dự đón Bác trong hai lần về thăm quê đều trở thành những điển hình tiên tiến, nhiều đơn vị trở thành đơn vị anh hùng, xã anh hùng. Nghệ An từ một tỉnh nghèo đã phấn đấu trở thành một trong những tỉnh khá của cả nước như mong muốn của Người.

Nghệ An, Hà Tĩnh, hai tỉnh được vinh dự đón Người về thăm đều trở thành những tỉnh đón vốn đầu tư nước ngoài vào loại lớn nhất nước trong thời kỳ xây dựng và đổi mới. Nghệ An, Hà Tĩnh còn là những đơn vị tổ chức tốt và triển khai có hiệu quả thiết thực trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Trung ương Đảng phát động.

Những ngày tháng 5 này trên quê hương Bác đang sôi động những phong trào thi đua trong sản xuất, xây dựng, an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng, xây dựng nông thôn mới… Đảng bộ và nhân dân Nghệ An coi đây là những hành động thiết thực dâng lên chào mừng lần thứ 120 ngày sinh của Bác, báo công với Bác những việc làm được của những cán bộ, Đảng viên và nhân dân quê hương, hứa mãi mãi học tập và làm theo tấm gương của Người, mãi mãi xứng đáng là quê hương của Người, nơi mà Người đã có câu thơ xúc động trong lần về thăm quê thứ nhất sau 50 năm xa cách:

“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao là tình!”

(*) Tất cả những câu trong ngoặc kép bài này đều trích nguyên văn trong tập “Bác Hồ với quê hương Nghệ An” do NXB Nghệ An ấn hành tháng 5-2006.

Thanh Phong

hochiminhhoc.com

Những lời dạy của Bác Hồ với thanh niên

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại, Người Thầy, Người Cha, Người Anh kính yêu của biết bao thế hệ người dân Việt Nam. Cả cuộc đời Người dành trọn vẹn tình cảm, sự yêu thương của mình cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, đặc biệt là lớp lớp thế hệ thanh niên – lực lượng xung kích trên các mặt trận, “rường cột” của quốc gia. Trong không ít những bức thư, những bài báo, bài thơ và bài nói chuyện với thanh niên, Bác đã gửi gắm những lời dạy chân thành và sâu sắc. Đó là ngọn đèn soi sáng cho mỗi hành động, mỗi bước đi để thanh niên Việt Nam vững bước tiến lên theo con đường mà Đảng và Bác kính yêu đã lựa chọn.

Năm 2011 là năm được Đảng và Nhà nước chọn làm Năm Thanh niên, cũng là năm kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, xin được trích dẫn những lời dạy mà lúc sinh thời Bác đã dành cho các thế hệ thanh niên Việt Nam.

1. Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.

(Thư gửi Thanh niên An Nam, 1925)

2.“… ngày nay chúng ta phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên toàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nhà nước trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

(Thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, tháng 9/1945).

3.  “Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ!

Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh đến nửa số dân tộc, ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam phải toàn thắng”.

(“Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ”, ngày 30/10/1945)

4..“Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.

 (Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán năm 1946)

5.“… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”.

 (“Thư gửi các bạn thanh niên”, ngày 12/8/1947)

6.         “Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”.

(Bài thơ Bác tặng Đơn vị thanh niên xung phong 312 làm đường tại xã Cẩm Giàng, Bạch Thông, Bắc Kạn, ngày 28/3/1951)

7. “Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng. Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy. Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là: phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời phải vui vẻ, hoạt bát. Bác mong mỗi cháu và toàn thề các cháu nam nữ thanh niên cố gắng làm tròn nhiệm vụ, để xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy”.

(Thư gửi thanh niên, tháng 4/1951, Hồ Chí Minh toàn tập)

8.  “Kháng chiến càng tiến tới, công việc ngày càng nhiều, chúng ta cần củng cố và phát triển Ðội TNXP để bảo đảm thêm công việc kháng chiến và đào tạo cán bộ sau này. Nhiệm vụ của Ðội TNXP là xung phong mọi việc bất kỳ việc khó, việc dễ và phục vụ đến ngày kháng chiến thành công. Ðó là nhiệm vụ rất vẻ vang của thanh niên”.

(“Ðội Thanh niên xung phong” đăng trên Báo Nhân Dân số 147, 1953)

9. “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?”

(Bài nói chuyện với sinh viên và thanh niên trong Lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam ngày 19/11/1955)

10.“Tính trung bình thanh niên chiếm độ 1 phần 3 tổng số nhân dân – tức là một lực lượng to lớn. Lực lượng to lớn thì phải có nhiệm vụ to lớn”

(“Nhiệm vụ của thanh niên ta”, báo Nhân dân ngày 20/12/1955)

11. “Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Để thật xứng đáng là người chủ của một nước xã hội chủ nghĩa, thanh niên ta quyết tâm thực hiện mấy điều sau đây:

– Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì giúp đỡ người kém, người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm xây dựng nước nhà.

– Phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư tự lợi, tự kiêu, tự mãn, chỉ tham việc gì có danh tiếng, xem khinh những công việc bình thường. Phải chống tham ô, lãng phí.

– Phải cố gắng học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.”

(Bài nói chuyện tại Đại hội thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa, ngày 17/3/960)

12. “Thanh niên ta phải cố gắng học. Do hoàn cảnh trong xã hội cũ hạn chế nên số đông thanh niên công – nông ta ít được học. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức”.

(Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, ngày 24/3/1961)

13.  “Bác rất yêu quý thanh niên:

– Vì thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai – tức là các cháu nhi đồng.

– Vì thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Vì thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc”.

(Bài nói chuyện tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, ngày 20/12/1961)

14. “Phải không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện đâu cần thanh niên có, việc khó có thanh niên, gặp gian khổ phải đi lên phía trước, khi hưởng thụ phải hưởng thụ sau mọi người”.

(Bài phát biểu tại Hội nghị Cán bộ toàn miền Bắc, tháng 9/1962)

15. Đảng, Chính phủ và Bác rất chú ý đến thanh niên. Bác vui lòng khen ngợi những cố gắng của thanh niên… Thanh niên phải xung phong đến những nơi khó khăn gian khổ nhất, nơi nào người khác làm ít kết quả, thanh niên phải xung phong đến làm cho tốt.

Trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc, với Đảng, với giai cấp.-

Không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm”, “gian khổ thì đi trước, hưởng thụ sau mọi người”.-

Không nên tự cho mình là tài giỏi, không khoe công, không tự phụ.”-

(Bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền Bắc, ngày 22/9/1962)

16.  “Bác muốn dặn thêm các cháu mấy điều:

– Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Không sợ gian khổ, hy sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

– Phải tin tưởng sâu sắc ở lực lượng và trí tuệ của tập thể, của nhân dân. Tăng cường đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau. Nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do.

– Luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị. Chống kiêu căng, tự mãn. Chống lãng phí, xa hoa. Thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh, để giúp nhau cùng tiến bộ mãi.

– Ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân.

– Luôn luôn chú ý dìu dắt và giáo dục thiếu niên và nhi đồng, làm gương tốt về mọi mặt cho đàn em noi theo”.

(Thư gửi thanh niên Ngày 2/9/1965, Báo 

17. “Các cháu xứng đáng là những thanh niên ưu tú của nhân dân Việt Nam anh hùng. Và, giặc Mỹ đã thua to ở hai miền nước ta, chúng đang thất bại ngày càng nặng nề hơn ở miền Nam, nhưng chúng vẫn rất ngoan cố chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Vì vậy, Bác nhắc nhở các cháu: Phải nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng, cùng quân dân ta quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược; luôn luôn đoàn kết, ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa để ngày càng tiến bộ, đem hết nhiệt tình tài năng của tuổi trẻ cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước””.

(Thư khen ngợi đơn vị TNXP 333 có nhiều thành tích xuất sắc trên các tuyến đường Khu Bốn ác liệt, ngày 27/1/1969)

 18. “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”.

(Di Chúc của Người)

Theo Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh .

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Bác Hồ với Lê-nin

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tình cảm đặc biệt với V.I.Lê-nin. Từ lòng kính trọng và biết ơn vô cùng sâu nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Lê-nin, học tập, nghiên cứu học thuyết của Lê-nin để vận dụng vào cách mạng Việt Nam, dẫn nhân dân ta vào cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và tiến lên cùng thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, bắt đầu từ cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga do Lê-nin lãnh đạo.

Dấu ấn sâu đậm trên hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc là khi Người được tiếp xúc với học thuyết của Lê-nin về vấn đề giải phóng thuộc địa từ những năm 20 của thế kỷ 20. Ngay từ đấy Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh viết nhiều tác phẩm về Lê-nin và cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, ca ngợi thiên tài và tấm gương đạo đức cách mạng cao cả của Lê-nin. Tin tưởng và đi theo con đường cách mạng do Lê-nin lãnh đạo, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ủng hộ Quốc tế Ba do Lê-nin thành lập. Ðồng thời ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam.

chuyende.jpg

Sự gặp gỡ của Nguyễn Ái Quốc với chủ nghĩa Lê-nin là một cuộc gặp lịch sử. Với quyết tâm tìm con đường cứu nước, sau bao năm bôn ba khắp các châu lục, vừa lao động kiếm sống, vừa hoạt động trong phong trào các dân tộc bị áp bức, phong trào công nhân, tháng 7 năm 1920, trên những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin, đăng trên báo Nhân Ðạo (L’Humanité) của Ðảng Xã hội Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh hồi tưởng: Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình mà Người đã nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Ðây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vui mừng như vậy vì đã tìm thấy con đường cứu nước, cứu dân, con đường giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ, áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản thực dân Pháp và chế độ phong kiến – đó là con đường cách mạng vô sản. Tại Ðại hội Tua của Ðảng Xã hội Pháp cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Ðảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

lenin-october-revolution.jpg

Hướng về Lê-nin – lãnh tụ của Cách mạng Tháng Mười Nga, từ cuối năm 1923, đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bí mật đến Liên Xô. Ngay sau khi Lê-nin từ trần, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài: Lê-nin và các dân tộc thuộc địa đăng trên báo Sự thật, số ra ngày 27-1-1924, với những dòng vô cùng xúc động: Khi còn sống, Người là cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội. Trong những năm tháng học tập, hoạt động, nghiên cứu trên đất nước Xô-viết, Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm xuất sắc về Lê-nin và cuộc Cách mạng Tháng Mười. Ðặc biệt vào năm 1927, Hồ Chí Minh đã cho xuất bản cuốn sách Ðường cách mệnh làm tài liệu huấn luyện cán bộ để chuẩn bị cho việc thành lập Ðảng. Trong tác phẩm quan trọng này, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Ðảng có vững cách mạng mới thành công. Ngày nay học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng cách mạng nhất, chân chính nhất là chủ nghĩa Lê-nin…; trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và đã thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật; không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mạng Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc. Phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin…

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước nhà độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết nhiều tác phẩm về Lê-nin để giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân ta luôn ghi nhớ công ơn và học tập, vận dụng học thuyết cách mạng của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, học tập kinh nghiệm của nhân dân các dân tộc Xô-viết trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

lenin147.jpg

Vấn đề cốt tử nhất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục Ðảng và toàn dân ta là chăm lo xây dựng Ðảng thật sự là một đảng Mác – Lê-nin chân chính. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phấn đấu hy sinh vì lợi ích của nhân dân, mà Lê-nin là tấm gương tiêu biểu để Ðảng xứng đáng là “trí tuệ, lương tâm, danh dự” của dân tộc và thời đại, được nhân dân tin yêu…

Ðảng ta, nhân dân tự hào khẳng định rằng, trong hơn tám thập kỷ qua, đi theo con đường cách mạng của Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đã phát triển và làm phong phú lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin bằng thực tiễn lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ðó là các vấn đề xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đã kết hợp nhuần nhuyễn ba yếu tố là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phong trào yêu nước và phong trào công nhân; về con đường cách mạng Việt Nam giải phóng dân tộc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; về đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công, nông, trí; về tiến hành hai chiến lược cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và đấu tranh giải phóng miền nam; về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân do Ðảng lãnh đạo; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…/.

Khánh Thuỷ
(Nguồn: ND)

hochiminhhoc.com

Bác Hồ với sự nghiệp giáo dục

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm sự nghiệp giáo dục. Ngay từ ngày đầu sau khi tuyên bố độc lập, cho đến trước lúc đi xa, Người luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến nền giáo dục nước nhà và đội ngũ những người làm công tác giáo dục.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm sự nghiệp giáo dục và chỉ rõ: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang…, xây dựng kinh tế, không có cán bộ không làm được. Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa”. (Xem Hồ Chí Minh toàn tập, t.8, trang 184).

293.jpgBác Hồ với các em thiếu nhi. Ảnh: Tuấn Anh

Người còn nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Ngay ngày đầu, sau khi tuyên bố độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những nhiệm vụ cấp bách mà một trong những nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc dốt, xóa nạn mù chữ cho toàn dân. Những giáo viên bình dân học vụ hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ đã lao động xả thân để mở mang dân trí được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao. Trong thư gửi đội ngũ giáo viên bình dân học vụ ngày 4 tháng 5 năm 1946, Bác Hồ biểu dương, khen ngợi: Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh những rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bác Hồ coi trọng phát triển giáo dục toàn dân, toàn diện. Nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 15-10-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn… trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật” (Xem Hồ Chí Minh toàn tập, t12, tr403).

Trước lúc đi xa, tháng 5 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn toàn Ðảng, toàn dân ta phải ra sức chăm lo sự nghiệp giáo dục, có chương trình, kế hoạch chu đáo trong việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Cùng với việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh thì phải “sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động”. Ðối với đội ngũ giáo viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người dạy học là: Chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà. Người lưu ý, coi trọng vai trò nòng cốt của thanh niên: Bất kỳ ở đâu cũng phải làm cho thanh niên hiểu rõ nhiệm vụ. Học thanh niên cũng phải làm đầu tàu, dạy thanh niên cũng phải làm đầu tàu. Hơn 60 năm qua, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối giáo dục của Ðảng, Nhà nước, nền giáo dục Việt Nam đã phát triển vượt bậc. Từ chỗ hơn 90% dân số mù chữ, đến nay cả nước đã cơ bản phổ cập giáo dục, mỗi năm có hơn 20 triệu học sinh, sinh viên các cấp học đến trường, đội ngũ giáo viên các cấp học ngày càng phát triển về số lượng (gần một triệu người) và nâng cao về chất lượng. Có được thành tựu quan trọng về giáo dục, cống hiến của các thầy cô giáo, của cán bộ quản lý giáo dục đóng góp phần to lớn. Họ đã lao động quên mình vì học sinh thân yêu, vì sự nghiệp mở mang và nâng cao dân trí. Những tấm gương cao đẹp của các thầy cô giáo xuất hiện ngày càng nhiều. Ðặc biệt là những người thầy, người cô đến với đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng xa, vùng khó khăn. Họ vừa là người thầy, vừa là cán bộ dân vận của Ðảng và Chính phủ. Họ âm thầm thực hiện lời dạy của Bác Hồ, là những “vô danh anh hùng” nhưng lại vô cùng hữu ích cho dân, cho nước, đem ánh sáng tri thức của Ðảng, của cách mạng và thời đại đến cho dân, giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo lớp lớp công dân và cán bộ cho tương lai.

 PHẠM VĂN KHÁNH

hochiminhhoc.com

Những ngày cuối cùng của Bác Hồ

9 giờ ngày 2/9/1969, Bác bị một cơn đau tim nặng. Theo dõi trên máy điện tim thì đến 9 giờ 15 phút, tim Bác ngừng đập hẳn. Các bác sỹ, anh em bảo vệ chúng tôi thay nhau dùng sức ấn lên ngực Bác, mong sao tim Người đập trở lại. Cho đến 9 giờ 47 phút, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trào nước mắt: “Thôi các đồng chí ạ, Bác của chúng ta không qua khỏi nữa rồi” – TS. Trần Viết Hoàn, nguyên cảnh vệ của Bác Hồ viết riêng cho VietNamNet.

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước đến thăm Bác những ngày Bác ốm năm 1969.Ảnh do tác giả cung cấp

Bác nằm chữa bệnh tại ngôi nhà nhỏ phía sau nhà sàn, ngôi nhà mà Bộ Chính trị quyết định làm tháng 5/1967 – trong lúc Bác sang Trung Quốc chữa bệnh, với mục đích bảo đảm an toàn cho Người trong những năm máy bay giặc Mỹ bắn phá Hà Nội.

 

Khi nhà làm xong, Bác Hồ không nhận sử dụng riêng cho mình. Người nói: Khi nào có nhiều đồng chí phụ trách đến làm việc với Bác thì họp ở nhà ấy cho chắc chắn. Còn lúc ở một mình, Bác cứ ở nhà sàn gỗ thôi.” 

Kể từ ngày 20/7/1967 (ngày Bác đi Trung Quốc về), nơi đây trở thành địa điểm Bộ Chính trị họp mỗi tuần một lần, ra những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Bây giờ, trong hồ sơ di sản, ngôi nhà này được gọi là nhà 67.

Bài viết cuối cùng

 

Kỷ niệm Đảng ta 39 tuổi (3/2/1969), tại ngôi nhà này, Bác Hồ đã viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, biểu dương tinh thần hy sinh gương mẫu, đạo đức trong sáng của cán bộ, đảng viên, đồng thời kịch liệt lên án những hành vi, tư tưởng cá nhân hẹp hòi.

Người chỉ ra rằng chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân, là bạn đồng hành của căn bệnh tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh, trục lợi… làm hại đến quyền lợi của cách mạng, của nhân dân, làm giảm thanh danh, uy tín của Đảng cầm quyền.

Trong bài viết cuối cùng về đạo đức trước khi từ biệt thế giới này, Bác Hồ không quên dặn lại mọi người cách làm người, nâng cao phẩm giá – cái gốc quý báu để bảo đảm cho cuộc hành trình trong cuộc đời mỗi người tới đích vẻ vang. Ngẫm suy thời cuộc hiện nay, khi mà chủ nghĩa cá nhân đẻ ra tham nhũng đã trở thành nguy cơ nội xâm, quốc nạn, càng thấy giá trị lớn lao lời dạy của Bác.

Các đồng chí lãnh đạo Ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương thắp hương tại bàn thờ Bác Hồ. Ảnh do tác giả cung cấp

Và tại ngôi nhà này, Bác đã để lại tấm gương đạo đức trong sáng để bây giờ cho ta học và làm theo.

Một lần, đồng chí phục vụ đọc cho Bác nghe báo Hà Nội Mới đưa tin Hợp tác xã Ngũ Xã có ý định đúc bức tượng Bác bán thân bằng đồng. Bác nói với đồng chí phục vụ: “

Vào thời gian sau ngày 12/8/1969, Bộ Chính trị tổ chức họp bàn chuẩn bị tổ chức 4 ngày lễ lớn trong năm 1970. Cuộc họp vắng Bác, vì Người đang mệt nặng. Một hôm, có đồng chí ủy viên Bộ Chính trị vào thăm Bác và báo cáo lại với Bác quyết định của Bộ Chính trị.

Nằm trên giường bệnh, nghe nói về những kỷ niệm sắp tới, Bác rất vui. Nhưng khi nghe nói việc tổ chức kỷ niệm 80 năm ngày sinh của Người, Bác liền bảo: “

“Chúng tôi xin hiến tim mình để thay tim cho Bác”

16 giờ ngày 12/8/1969, Bác gặp đồng chí Lê Đức Thọ tại nhà nghỉ Hồ Tây nghe báo cáo tình hình Hội nghị Paris. Đêm hôm đó, Bác lên cơn sốt và ho, những ngày sau đó Bác ho nhiều hơn, sốt nặng hơn. Nhưng Bác vẫn lên, xuống nhà sàn làm việc. Theo đề nghị của bác sỹ, ngày 18/8, Bác Hồ không làm việc ở nhà sàn gỗ nữa. Người xuống ở và làm việc tại ngôi nhà 67. Kể từ hôm đó, những ngày quy luật của cuộc đời đến với Bác Hồ ở nơi đây.

Ngày 29/8/1969, Bác nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Ngày lễ Quốc khánh, Bác sẽ ra dự mươi, mười lăm phút”.

Ngẫm lại thì thấy thật kỳ lạ: 9 giờ ngày 2/9/1969, Bác bị một cơn đau tim nặng. Theo dõi trên máy điện tim thì đến 9 giờ 15, tim Bác ngừng đập hẳn. Các bác sỹ, anh em bảo vệ chúng tôi thay nhau dùng sức ấn lên ngực Bác, mong sao tim Người đập trở lại. Cho đến 9 giờ 47 phút, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trào nước mắt: ” Thôi các đồng chí ạ, Bác của chúng ta không qua khỏi nữa rồi “.

Thế là, 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969, từ nơi đây truyền đến cho nhân loại nỗi đau Bác Hồ ra đi mãi mãi để cho “đời tuôn nước mắt”. Ngày 2/9/1945, Bác Hồ đã cứu dân tộc khỏi kiếp khổ nạn, mang lại hạnh phúc độc lập cho mọi người dân, nhưng ngày đó Bác có được hưởng đâu.

Và con số 9 mới linh thiêng làm sao: Bác ra đi lúc 9 giờ 47 phút, ngày 2/9/1969, thọ 79 tuổi. Ngày 9/9/1969, cả dân tộc làm lễ truy điệu tiễn đưa Người về với thế giới người hiền.

Suốt 15 năm, Bác sống và làm việc ở khu Phủ Chủ tịch, không có một lần nào dân kéo về nhà Bác để làm bận lòng Bác. Trong những ngày Bác yếu, tuy giữ bí mật rất cao về tình trạng sức khỏe của Bác, nhưng xe cộ hàng ngày ra vào nhiều, đưa các đồng chí Trung ương vào thăm Bác, đưa bác sĩ vào chữa bệnh cho Bác, đưa các phương tiện vào để chạy chữa bệnh cho Bác…, nên dân dự đoán rằng có thể Bác ốm.

Vì thế, có nhiều người dân đến Cổng đỏ (cổng ra vào Phủ Chủ tịch, hàng ngày Bác Hồ vẫn thường đi lại cổng này), nói lên một tâm nguyện: Nếu đúng Bác ốm, chúng tôi xin hiến trái tim của mình để thay tim cho Bác.

Từ ngày 3 đến ngày 6/9/1969, dòng người không lúc nào vắng, buồn rầu đội mưa thầm lặng, trật tự đi đến Lễ đài Ba Đình để viếng ảnh Bác. Và những ngày thi hài Bác quản trong linh cữu đặt tại Hội trường Ba Đình, vì đông người vào viếng nên có những cháu nhỏ không vào viếng Bác được, cứ giằng co với công an bảo vệ ngoài Hội trường, khóc lóc thảm thiết: Các chú trả Bác cho chúng cháu đây…

Ngày 2/9/1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và cố vấn Ban Chấp hành TƯ Đảng Phạm Văn Đồng thăm lại nơi Bác mất (tác giả đứng ngoài cùng, bên trái).

Sau ngày Bác mất, một số chiến sỹ công an, trong đó có tôi gác tay súng, chuyển sang tay chổi, tay bút chăm lo công việc bảo vệ di sản cho Bác, hàng ngày quét dọn lau chùi ngôi nhà 67 như khi phục vụ Bác lúc sinh thời. Bác đi rồi, ngôi nhà sao mà lạnh lẽo. Vì vậy chúng tôi đã đặt một lư đồng nhỏ ở cửa sổ cạnh giường Bác nằm, hàng ngày đốt nén hương trầm để nhà thêm ấm cúng.

9 giờ 47 phút ngày 2/9/1989, tôi đã mời và đón Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và cố vấn Ban Chấp hành TƯ Đảng Phạm Văn Đồng vào thăm lại nơi Bác mất và thắp nén hương tưởng nhớ Bác. Hai đồng chí cho ý kiến: “Nên có một nơi trang trọng để thờ cúng Bác, vì hương hồn Bác vẫn mãi mãi ở lại nơi đây với chúng ta”  

Để từng bước thực hiện lời căn dặn này, Khu Di tích Phủ Chủ tịch đã chỉnh trang để có được nơi thắp hương như hiện nay ở nơi Bác mất. Sau đó, dần dần để khách đến thăm nhà Bác được thắp nén hương nhớ Bác.

Và bắt đầu từ ngày 2/9/1994, chúng tôi mời các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước tới thắp hương tưởng nhớ Bác Hồ tại nơi đây vào những dịp lễ hàng năm 19/5, 2/9 và ngày Tết âm lịch. Theo phong tục cúng giỗ tổ tiên của Việt Nam, từ năm 1994, cứ đến ngày 21/7 âm lịch, chúng tôi lại sắp mâm cơm giỗ Bác.

Năm 2002, với tấm lòng thành kính của đứa con trông nhà cho Bác, tôi cầu khấn xin Bác cho lập nơi thờ cúng trang nghiêm, rộng rãi để cháu con hôm nay và mai sau về thắp hương tưởng nhớ người Ông, người Bác, người Cha, với bức tượng đồng Bác ngồi ghế, tay Bác cầm kính đặt lên tờ báo để trên đùi, mắt nhìn thẳng như dừng đọc báo để chào đón mọi người vào thăm.

Kể từ ngày lập bàn thờ Bác ở đây, các đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng cùng nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đã về thắp hương tưởng nhớ Bác, cầu nguyện Bác phù hộ cho Quốc thái, Dân an.

TS. Trần Viết Hoàn (Nguyên Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch)
Theo vietnamnet.vn
Nguồn Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Vấn đề văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước

TCCS – Chúng ta đang sống trong một thời đại mà khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã đem đến những biến đổi cực kỳ lớn lao cho cuộc sống của con người, trở thành động lực vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Nhưng cũng chính ở thời điểm này, nhiều vấn đề tiêu cực và khủng hoảng về xã hội đã nảy sinh trong đời sống, buộc chúng ta phải nhìn nhận lại yêu cầu phát triển bền vững với vai trò, vị trí đặc biệt của văn hóa. Vì lẽ đó, trở lại với quan điểm văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước là một vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược vừa mang ý nghĩa thời sự quan trọng.

14-03-2010 09-1236-59 111copy.jpg

1

Hơn nửa thế kỷ trước, trong một số ghi chép ở trang cuối cùng của tập thơ “Nhật ký trong tù” lãnh tụ Hồ Chí Minh viết “ý nghĩa của văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Từ nhận thức ấy, Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về văn hóa: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(1). Có thể nói, đây là một cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa khái quát, đặc trưng nhất của nó, một định nghĩa cô đọng và chính xác về văn hóa.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa là xuất phát từ cách tiếp cận mác-xít và rất gần gũi với nhận thức hiện đại, khi coi văn hóa không chỉ đơn thuần là đời sống tinh thần của con người – xã hội (theo cách phân khúc rời rạc), mà từ trong bản chất của mình, nó chính là linh hồn, là hệ thần kinh của một xã hội, là sức mạnh trường tồn của cả dân tộc, là sức sống vươn lên của thời đại. Văn hóa không phải là toàn bộ đời sống con người xã hội, mà là phần cốt tử, là tinh hoa được chưng cất, kết tụ nên cái bản chất, bản sắc, tính cách của dân tộc, của thời đại. Nó được thăng hoa từ hơi thở cuộc sống, từ năng lực, trình độ và phương thức sống của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng. Và đến lượt mình, văn hóa hiện diện trong mọi hoạt động từ suy tư đến hành động thực tế, từ hoạt động cá nhân đến những vận động xã hội, từ hoạt động vật chất đến những sáng tạo tinh thần những phát minh, sáng chế, tạo ra những giá trị mới của sản xuất vật chất, khoa học – kỹ thuật – công nghệ, văn học – nghệ thuật.

Năm 1970, nghĩa là gần 30 năm sau thời điểm Hồ Chí Minh viết những lời này, tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp ở Vơ-ni-dơ (I-ta-li-a), UNESCO đã thừa nhận khái niệm do Ph.Mây-ơ (F. Mayor) – nguyên Tổng Giám đốc của tổ chức này đưa ra là khái niệm chung, chính thức của cộng đồng quốc tế về văn hóa: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”. Nếu so sánh, có thể thấy, khái niệm này của UNESCO về văn hóa có nội dung cơ bản như nội dung khái niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cái khác nhau của hai khái niệm này là ở chỗ, khái niệm của ông Ph.Mây-ơ chỉ nhấn mạnh đến tính đặc thù của các giá trị văn hóa, tức là “cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác”. Còn trong khái niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa, văn hóa không chỉ là cái tạo nên tính đặc thù của dân tộc, mà còn là những giá trị nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. “Nhu cầu đời sống” của con người luôn phát triển cũng như “đòi hỏi của sự sinh tồn” của xã hội loài người luôn luôn nâng cao, hoàn thiện. Cũng có nghĩa, nói đến văn hóa là nói đến giá trị, nhưng là những giá trị kết tinh lao động sáng tạo của con người trên các bình diện hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân mình, hướng tới chân, thiện, mỹ, tức là hướng tới sự tốt đẹp, nhân văn và không ngừng hoàn thiện của nhân loại. Nói đến văn hóa không chỉ là nói đến những giá trị tĩnh, kết tinh ngưng đọng, mà còn là sự vận động, phát triển và hoàn thiện những giá trị ấy trong thời gian và không gian.

Từ nhận thức khái quát về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một cách cụ thể về nội dung, yêu cầu xây dựng nền văn hóa dân tộc. Người viết tiếp: “Năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc.

1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.

2. Xây dựng luận lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.

3. Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội.

4. Xây dựng chính trị: dân quyền.

5. Xây dựng kinh tế”(2)

Việc chỉ ra những điểm lớn trên chứng tỏ rằng, khi phân định nội hàm khái niệm văn hóa, Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ rằng, xây dựng nền văn hóa dân tộc phải đặt trong mối quan hệ qua lại với các mặt khác của đời sống dân tộc như: “tâm lý”, “luận lý”, “xã hội”, “chính trị”, “kinh tế”. Xây dựng văn hóa phải gắn liền với từng bình diện ấy, làm cho văn hóa trở thành phẩm chất tốt đẹp, đặc trưng riêng có và ý nghĩa tích cực của những lĩnh vực đời sống đó.

Tóm lại, có thể nói rằng, ngay từ năm 1943, quan điểm về văn hóa và nền văn hóa dân tộc của Hồ Chí Minh đã tỏ rõ tính hiện đại. Quan điểm này thể hiện tầm chiến lược thiên tài của Người trong việc xác định vai trò, vị trí và những tiêu chí cơ bản nhằm định hướng phát triển nền văn hóa Việt Nam làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện của xã hội Việt Nam tương lai.

2

Hồ Chí Minh quan niệm, xây dựng về “tâm lý” là xây dựng “Tinh thần độc lập tự cường”, cũng có nghĩa là sự giáo dục, định hướng để hun đúc nên tình yêu đất nước, niềm tự hào dân tộc, ý chí tự chủ, tự cường. Đó chính là cơ sở nền tảng bảo đảm cho sự đoàn kết, đồng thuận dân tộc, điều kiện để tạo nên sức mạnh bảo vệ độc lập dân tộc, chống lại mọi sự xâm lược, phá hoại từ bên ngoài. Lịch sử tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam đã là minh chứng hiển nhiên về bài học xương máu đó. Đối với các dân tộc khác trên thế giới, muốn tồn tại, vượt qua những nguy cơ xâm lược, đồng hóa hay chèn ép, xung đột để phát triển đều phải khẳng định một sức mạnh tinh thần to lớn từ độc lập tự cường. Chỉ có điều, biểu hiện của tinh thần độc lập tự cường ấy ở mỗi nước, tùy theo những điều kiện đặc điểm khác nhau mà thể hiện một cách sinh động, đa dạng. Đó cũng chính là một đặc tính văn hóa, một “cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác”.

Có thể nói, quan điểm xây dựng văn hóa về “tâm lý” với nội dung là “tinh thần độc lập tự cường” là xuyên suốt và nhất quán trong nhận thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Người nhận ra rằng, đó chính là con đường giải phóng dân tộc khỏi áp bức, lầm than. Sau này, cho dù trong những thời điểm thử thách khắc nghiệt nhất đối với quan điểm chính trị của mình hay trong thực tiễn cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn kiên định quan điểm về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(3). Và chân lý nổi tiếng mà Hồ Chí Minh đã tổng kết từ thực tiễn lịch sử của thế giới và từ chính những bài học xương máu của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Càng nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh càng thấu hiểu hơn ý nghĩa của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chính vì thế, Người đã khẳng định, một trong số bài học lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga là: “Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”(4).

Cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động, là tấm gương sáng rõ nhất về sự kết hợp hài hòa giữa những giá trị dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa lòng yêu nước nồng nàn và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Người đã đi khắp năm châu, bốn biển, hoạt động như một chiến sỹ quốc tế nhưng tình yêu nước, thương nòi cùng những bản sắc con người Việt Nam của Người không những không phai nhạt đi mà càng sâu sắc, đậm đà hơn lên. Trong khi tận tâm, tận lực vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Người cũng ý thức rất sâu sắc về chủ nghĩa quốc tế vô sản, về sự đoàn kết của phong trào công nhân, cộng sản thế giới và đã xử lý vô cùng khéo léo, có trách nhiệm mối quan hệ giữa các đảng cộng sản, các quốc gia và dân tộc khác trên thế giới.

Từ nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học sâu sắc về quan hệ gắn bó giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi đó như một trong những điều kiện hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nhưng trở lại yêu cầu về xây dựng văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề đặt ra là phải giáo dục, quán triệt nhận thức đó, bài học đó thành tư tưởng, tình cảm, thành hành vi, lối sống của mỗi con người, thành một giá trị xã hội của Việt Nam. Đó cũng chính là một kết quả, hướng tới của sự phát triển con người Việt Nam, đồng thời là một điều kiện sống còn bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

3

Xây dựng văn hóa về mặt “luận lý”, theo cách hiểu của Hồ Chí Minh, chính là sự hình thành và không ngừng hoàn thiện về tư tưởng, lối sống mà nội dung trung tâm, quan trọng nhất của nó là “biết hy sinh làm lợi cho quần chúng”. Đó cũng chính là nội dung quan trọng nhất của những chuẩn mực đạo đức xã hội mà con người chúng ta nói chung hay mỗi cán bộ cách mạng nói riêng cần hướng tới. Tiêu chuẩn con người cán bộ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” chính là sự phát triển đầy đủ hơn từ tiêu chí xây dựng văn hóa này. Đây cũng chính là yêu cầu sống còn về xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi vì như sau này Hồ Chí Minh đã nhắc lại rất nhiều lần rằng, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” mà yêu cầu đầu tiên, quyết định của con người xã hội chủ nghĩa phải “đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân”(5). Trong bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nhân dịp kỷ niệm 39 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 3-2-1969, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa… Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật… Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”. Chính vì thế, Người yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật” (6).

Nói cách khác, xây dựng văn hóa về “luận lý” chính là xây dựng văn hóa sống của con người. Trong các chế độ xã hội dựa trên nền tảng của chế độ tư hữu thì chính quan hệ bóc lột, bất công bằng giữa người với người tạo thành những yếu tố, điều kiện một cách tự nhiên, thúc đẩy con người đi tới chủ nghĩa cá nhân, hình thành lối sống vụ lợi, ích kỷ. Sự thắng thế của quan hệ nhân đạo, của chủ nghĩa nhân văn, của sự hy sinh, xả thân cho lợi ích cộng đồng, đồng loại chỉ có ý nghĩa nhất thời, gắn với các giá trị yêu nước, dân tộc và về tổng thể, luôn chỉ giữ thế yếu so với sự vụ lợi, với chủ nghĩa cá nhân.

Nếu chủ nghĩa xã hội là một cuộc cách mạng thì ý nghĩa cách mạng sâu sắc nhất, cũng là gay gắt nhất chính là sự biến đổi trong văn hóa sống của con người, là sự giải thoát con người khỏi chủ nghĩa cá nhân để hình thành và dần dần hoàn thiện văn hóa sống nhân văn cao cả, đặt lợi ích của dân tộc, đất nước và của chế độ lên trên hết, đặt lợi ích cá nhân trong sự hài hòa với lợi ích của tập thể. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng của nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí”(7). Đó cũng chính là cốt lõi văn hóa của con người mà chủ nghĩa xã hội hướng tới, là điều kiện, cơ sở cho sự phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa. ý nghĩa cách mạng vô cùng sâu sắc của sự biến đổi này chính là do sự phức tạp, gay cấn trong cuộc đấu tranh tư tưởng của mỗi cá nhân con người cũng như cả xã hội để vượt qua những tập quán sống đã hình thành, khắc sâu vào lối sống xã hội con người trong suốt chiều dài lịch sử đã qua, để hình thành và dần hoàn thiện một thang giá trị mới mẻ trong mỗi con người và trong cả cộng đồng xã hội. Đến lượt nó, chính sự hình thành văn hóa sống trở thành tiêu chí để đánh giá những kết quả của cách mạng, thành điều kiện của sự phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa.

4

Bàn đến nội dung xây dựng văn hóa về “xã hội”, Hồ Chí Minh coi đó là “Một sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội”. Ở bình diện này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến cả “một sự nghiệp”. Điều ấy có thể hiểu là việc phấn đấu cho phúc lợi của nhân dân là yêu cầu quyết định, thể hiện tính bản chất của chế độ. Nó phải được phản ánh trong mục tiêu, trong mô thức xây dựng, trong cơ chế vận hành của cả chế độ. Nó đồng thời phải trở thành một thể hiện tất yếu xã hội trong mỗi thành viên, mỗi bộ phận hợp thành của chế độ xã hội. Đây cũng chính là một nhận thức nhất quán, chỉ đạo hành động trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1946, ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(8). Khi nói về chủ nghĩa xã hội, nhiều lần Hồ Chí Minh đã đặt “phúc lợi của nhân dân” như là ý nghĩa quan trọng nhất của khái niệm này. “Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm cơm no, nhà ở tử tế, được học hành”(9); “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ”(10)… Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận “phúc lợi” không đơn thuần là những giá trị vất chất, đương nhiên đó là những giá trị đầu tiên không thể thiếu. Đó còn là những yêu cầu về “tư do”, “dân chủ”, “học hành”, “nghỉ ngơi”, những điều kiện cần và đủ cho con người phát triển một cách toàn diện.

Từ nhận thức về văn hóa trong nội dung xây dựng về xã hội, càng thấy rõ ý nghĩa nhân văn như là cốt cách, là bản chất, quán xuyến trong tất cả các bình diện tư tưởng của Hồ Chí Minh. Xây dựng văn hóa về nội dung xã hội cũng có nghĩa là mang lại cho xã hội ý nghĩa nhân văn cao cả ấy. Điều ấy cũng có nghĩa không đơn thuần là đạt được những kết quả về phúc lợi xã hội, mà hơn thế, bao gồm cả cách thức đạt được những phúc lợi ấy như thế nào, sử dụng những phúc lợi ấy ra sao, những phúc lợi ấy mang lại gì cho sự phát triển tốt đẹp của con người. Sinh thời, khi nói đến vấn đề phân phối hàng hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”. Ở đây, phương thức phân phối “công bằng” được đánh giá về tầm quan trọng cao hơn số lượng nhiều hay ít sản phẩm phân phối. Đương nhiên, nói như thế không có nghĩa là số lượng sản phẩm không quan trọng. Nhưng trong hoàn cảnh cụ thể, rõ ràng cách phân phối sẽ quyết định mối quan hệ và thái độ của những người được tham gia phân phối. Đó cũng chính là một biểu hiện cụ thể của ý nghĩa văn hóa.

Đất nước ta còn không ít khó khăn, nền kinh tế chưa phát triển đến mức đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu phúc lợi phong phú của nhân dân. Chính vì thế, việc thúc đẩy phát triển kinh tế, làm giàu, không ngừng tăng thêm phúc lợi cho nhân dân là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết. Nhưng điều đó không cho phép chúng ta quên đi việc giáo dục về văn hóa trong phân phối, hưởng thụ các nguồn phúc lợi xã hội. Bởi chính văn hóa sẽ tạo nên chất kết dính các mối quan hệ xã hội, quy tụ và nhân lên những tiềm lực của xã hội. Việc tạo ra những của cải và mang lại những phúc lợi cho con người đã là khó khăn, đòi hỏi sự phát triển về lực lượng sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu. Nhưng việc phân phối những của cải vật chất và phúc lợi ấy lại mang ý nghĩa văn hóa, mang triết lý xã hội đặc trưng, đòi hỏi một quá trình giáo dục, trải nghiệm và hoàn thiện thì càng phức tạp, khó khăn hơn. Điều ấy lý giải tại sao ngày nay, không phải cứ ở những nước giàu có nhất thì người dân cảm nhận cuộc sống hạnh phúc nhất và xã hội hòa hợp nhất.

Sự chia sẻ, tính tiết kiệm, sự công bằng, thái độ vô tư, ý thức cộng đồng, những điều ấy ở nghĩa sâu xa của nó, chính là sự biểu hiện sâu sắc của giá trị văn hóa, sự kết tinh văn hóa trong xã hội. Nó trở thành nền tảng cho việc sử dụng của cải, phúc lợi xã hội hợp lý nhất, mang lại nhiều hạnh phúc nhất cho con người. Ngày nay, đó cũng là một đòi hỏi của sự phát triển bền vững khi nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất càng ngày càng cạn kiệt và môi trường sống của con người đang bị phá hoại nghiêm trọng. Từ nhận thức ấy càng thấy ý nghĩa thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng nền tảng văn hóa xã hội liên quan đến phúc lợi của nhân dân.

5

Về nội dung xây dựng “chính trị”, theo Hồ Chí Minh, đó chính là “dân quyền”. Văn hóa chính trị chính là mang lại và bảo đảm được “dân quyền”. Ở đây, dân quyền không chỉ là những quyền trên các lĩnh vực đời sống mà người dân được hưởng ngày càng đầy đủ, càng có ý nghĩa tốt đẹp cho sự phát triển toàn diện, mà còn là những quyền lợi – lợi ích mà xã hội mang lại cho nhân dân ngày càng đầy đủ hơn, ngày càng giúp cho cuộc sống của người dân hạnh phúc hơn, tiến bộ hơn. Có thể nói, toàn bộ lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng chính là lịch sử đấu tranh, phấn đấu để mang lại cho người dân nhiều dân quyền hơn, nhiều tự do hơn. Chủ nghĩa xã hội về bản chất của nó, là chế độ xã hội bảo đảm đầy đủ nhất “dân quyền”, bởi vì đó là xã hội của dân, do dân và vì dân. Nhưng việc xây dựng một chế độ như thế không thể ngày một, ngày hai, mà là cả một quá trình phức tạp với không ít khó khăn. Bởi vì, dân quyền có được không chỉ do cơ chế quyền lực, chế độ chính trị, mà còn phụ thuộc vào sự tự giác, trình độ nhận thức của người dân và những điều kiện của môi trường xã hội.

Có nghĩa là, hiểu dân quyền theo nhận thức văn hóa không chỉ là những quyền và lợi mà nền chính trị mang lại cho người dân, đó còn là cách mà những quyền đó được mang lại như thế nào và ý nghĩa của những quyền và lợi ấy ra sao, có ý nghĩa tốt đẹp đến đâu đối với xã hội. Văn hóa chính là nền tảng để phát triển, mở rộng dân quyền, đồng thời dân quyền cũng tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển các giá trị văn hóa của xã hội.

Trong thiết chế xã hội nói chung, một mặt, vấn đề dân quyền gắn bó chặt chẽ hữu cơ với vấn đề nhà nước, là hệ quả của nhà nước, phản ánh tính chất, đặc điểm, trình độ phát triển của nhà nước; mặt khác, dân quyền không thể tách rời những điều kiện khách quan của tồn tại xã hội như: trình độ nhận thức của người dân, những tập quán và đặc điểm văn hóa của cộng đồng, các cơ sở kinh tế, kỹ thuật của xã hội. Trong mối quan hệ thứ hai, các yếu tố quy định hay ảnh hưởng đến dân quyền là những điều kiện lịch sử, cụ thể, gắn liền với tính chất, trình độ phát triển của từng quốc gia, dân tộc. Đối với mối quan hệ thứ nhất, vấn đề thực chất chính là nội dung, nhiệm vụ của việc xây dựng nhà nước. Khẳng định tính chất nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân thì đương nhiên nó phải thể hiện ý chí của dân, bảo vệ các quyền và lợi ích của dân, phục vụ cho các nhu cầu xã hội của dân.

Khi nói về tổ chức Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Để thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng, Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”(11). Ở đây, “quyền dân chủ” gắn với “sinh hoạt chính trị của toàn dân” là yêu cầu đặt ra với Nhà nước như một đòi hỏi khách quan về quyền công dân. Nhưng đến lượt nó, “quyền dân chủ” và “sinh hoạt chính trị của toàn dân” lại trở thành điều kiện cho Nhà nước hoàn thành nhiệm vụ của mình với việc làm cho nhân dân tham gia tích cực giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của Nhà nước. Từ bình diện văn hóa, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự phát triển dân quyền vừa có ý nghĩa như đòi hỏi, điều kiện cho sự phát triển văn hóa, vừa thể hiện mục đích phục vụ cho con người công dân và sự phát triển toàn diện con người.

Hơn thế nữa, có thể nhận thấy rất rõ rằng, quán xuyến trong toàn bộ tư tưởng cũng như trong hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ nghĩa trọng dân, ý thức tôn trọng, yêu thương, bảo vệ nhân dân. Đó cũng chính là lý tưởng, hoài bão, là mục đích sống của Hồ Chí Minh – Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Đó cũng chính là cốt lõi văn hóa sống Hồ Chí Minh. Vấn đề dân quyền chỉ là một bình diện của tư tưởng ấy, một điều kiện để thực hiện mục đích phục vụ nhân dân, một thể hiện của văn hóa sống nhân văn cao cả của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Trở lại mối quan hệ thứ hai, tức là xem xét các yếu tố quy định hay ảnh hưởng đến dân quyền như: điều kiện lịch sử, cụ thể, gắn liền với tính chất, trình độ phát triển của từng quốc gia, dân tộc. Nói cách khác, nội dung, mức độ, hình thức và khả năng thực thi dân quyền không thể tách rời các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và truyền thống của các cộng đồng người, các dân tộc trong các thời đoạn lịch sử. Điều ấy cũng có nghĩa là, cùng với việc Nhà nước mang lại ngày càng nhiều quyền cho nhân dân thì cũng đồng thời phải tiến hành giáo dục, nâng cao nhận thức, không ngừng cải thiện môi trường xã hội cho nhân dân. Văn hóa chính là một yếu tố tạo nên môi trường xã hội. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng, “trình độ văn hóa của cán bộ và nhân dân còn thấp, do đó, còn hạn chế nhiều kết quả trong công tác, trong sản xuất” và nhiệm vụ đặt ra là “nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân”(12). Khi trình độ văn hóa của nhân dân được nâng lên thì những điều kiện cho dân quyền cũng được cải thiện. Việc này đồng nghĩa với việc không được áp đặt vô điều kiện những nội dung dân quyền mà không tính đến những dị biệt về trình độ, tính chất và năng lực của những chủ thể khác nhau.

6

Đối với nội dung “xây dựng kinh tế”, Hồ Chí Minh không đặt ra tiêu chí định hướng như những lĩnh vực khác. Nhưng theo cách đặt vấn đề từ những điểm trước đó có thể thấy, văn hóa được Hồ Chí Minh coi là mục tiêu của xây dựng kinh tế, đồng thời văn hóa cũng là nội lực mạnh mẽ của việc xây dựng nền kinh tế đó. Truyền thống văn hóa, sức mạnh văn hóa trong nguồn nhân lực, trong trình độ tổ chức lao động sản xuất, quản lý kinh tế xã hội, văn hóa trong kinh doanh, trong quan hệ doanh nghiệp là động lực bên trong của quá trình kinh tế, của sự phát triển xã hội và con người. Một nền kinh tế phát triển tốt đẹp, bền vững chỉ khi nó gắn bó với những giá trị văn hóa, kết tinh trong nó những giá trị văn hóa, làm giàu có thêm và thúc đẩy sự phát triển của những giá trị văn hóa của dân tộc, của đất nước. ở một khía cạnh nào đó, có thể thấy tư tưởng phát triển các lĩnh vực văn hóa của Hồ Chí Minh rất gần gũi với quan điểm phát triển bền vững hiện đại.

Từ năm 1953, trong bài “Thường thức chính trị”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau:

A – Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân).

B – Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội).

C – Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội).

D – Tư bản của tư nhân.

E – Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)”(13).

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận từ rất sớm mô hình nền kinh tế đa thành phần sở hữu trong chế độ của chúng ta. Sự đa thành phần trong nền kinh tế tất yếu kéo theo những yếu tố văn hóa vốn có, vốn đang tồn tại cùng những mối quan hệ xã hội giữa các thành phần kinh tế đó. Vậy thì cái gì làm nên sự phân biệt giữa chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa với một chế độ xã hội phát triển kinh tế đa thành phần khác? Phải chăng đó chính là yêu cầu, đòi hỏi về xây dựng văn hóa, hướng con người tới một đời sống văn hóa cao thượng, nhân văn, một lối sống theo chủ nghĩa tập thể ở ý nghĩa tích cực của khái niệm đó.

Mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, mang lại cho con người cuộc sống tự do, sự phát triển toàn diện và vì thế mà mang lại cho con người nhiều hạnh phúc nhất. Đó là một mục tiêu cao cả, nhân văn nhất. Nhưng: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước. Nhưng phát triển để làm gì? Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta”(14). Nói cách khác, cần phải phát triển kinh tế để bảo đảm “cơm ăn”, đời sống vật chất cho nhân dân. Nhưng nền kinh tế ấy không tách rời các nội dung, ý nghĩa của việc xây dựng văn hóa và nói cho cùng thì nó phải phục vụ cho mục đích phát triển văn hóa của nhân dân. Và để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải đấu tranh, xây dựng, phát triển, phải tiến hành một cuộc cách mạng thật sự. Trong cuộc cách mạng đó, văn hóa luôn có ý nghĩa trọng yếu, quyết định. Đó vừa là điều kiện, nền móng cho sự xây dựng, phát triển của đời sống xã hội, vừa là mục tiêu hướng tới trong quan hệ hài hòa với đời sống vật chất.

*

Tóm lại, có thể nói, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa có ý nghĩa sâu xa, đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước. Nó không chỉ là mục tiêu phấn đấu vươn tới những giá trị cao đẹp cho cuộc sống mà còn có vai trò nền tảng và sức mạnh động lực hết sức to lớn trong phát triển các bình diện đời sống xã hội. Văn hóa là sức sống của sự phát triển kinh tế – xã hội, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động sống của con người. Những quan điểm về văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là “kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam”(15), mà còn có ý nghĩa thời sự, là chỗ dựa, sự chỉ dẫn cho chúng ta trong nhận thức và giải quyết những vấn đề đặt ra trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay./.

______________________________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t 3, tr 431
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 3, tr 431
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 314
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 12, tr 304
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 448
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 12, tr 438 – 439
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 159
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 161
(9), (10) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 72, 91
(11) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 590
(12) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 60
(13) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 247 – 248
(14) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 59
(15) Nghị quyết của UNESCO kỷ niệm trên toàn thế giới 100 năm ngày sinh anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh

hochiminhhoc.com