Archive | Tháng Hai 2012

Hiểu kỹ Hồ Chí Minh hãy nói đến tư tưởng của Người

(TuanVietnam)- “Hiếm có lãnh tụ cách mạng nào có điều kiện tắm mình trong những suy tư và khát vọng rộng lớn của con người như Hồ Chí Minh”- GS Tương Lai.

Đối với một con người, 40 năm đã là một nửa đường đời, nhưng  với một dân tộc thì bốn thập kỷ chỉ là khoảnh khắc. Nhân kỷ niệm lần thứ 40 thực hiện Di Chúc của Bác Hồ, GS Tương Lai mạnh dạn gợi lên đôi điều suy nghĩ: làm thế nào nghiên cứu để hiểu thật sâu sắc, để thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuần Việt Nam xin giới thiệu loạt bài 4 kỳ của ông.

Cách đây cả ngàn năm, thiền sư Vạn Hạnh đã ví chuyện thịnh suy nối tiếp nhau chỉ như thời gian hạt sương treo trên đầu ngọn cỏ [thịnh suy như lộ thảo đầu phố!

Tuy vậy, khoảnh khắc lịch sử của bốn thập kỷ qua với dân tộc ta quả là thời đoạn của những biến động dữ dội trong đời sống đất nước ở vào thời đại của những đổi thay mà những bộ óc cho dù là thiên tài cũng không sao lường trước được.

Người ta nhận ra rằng, dường như con đường cũ dừng ở đây. Thế giới đã thay đổi, và kiểu tư duy tuyến tính không còn thích hợp vớí một thế giới phi tuyến tính… những ai chần chừ, tin rằng tương lai sẽ là sự tiếp tục đơn giản của quá khứ, sẽ sớm thấy mình bị hụt hẫng trước sự thay đổi.

Và rồi thời gian đúng là viên quan tòa công minh phán xét những thành bại của một sự nghiệp, những hay dở của một đời người, những đúng sai của một tư tưởng. Độ lùi của bốn thập kỷ chắc cũng đủ để cảm nhận được việc nghiên cứu để hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh quả là một việc có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.

Nó giúp soi tỏ thực trạng của đời sống đất nước dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu một cách trung thực đối với những gì mà Hồ Chí Minh trọn đời ấp ủ, để khi ra đi còn thiết tha dặn lại về “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không đơn thuần chỉ là sự vận dụng một cách sáng tạo những tư tưởng lý luận của “học thuyết C.Mác” vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu những phần tinh tuý nhất của học thuyết khoa học và cách mạng đó. Là một nhà cách mạng chuyên nghiệp đã bôn ba khăp năm châu bốn biển, Hồ Chí Minh đã hấp thu vào mình trí tuệ, văn hoá của cả loài người, vì thế, Bác Hồ được thế giới nói đến như là một danh nhân văn hoá.

Có được điều đó, trước hết là do Hồ Chí Minh am hiểu sâu sắc về dân tộc mình, thấm nhuần lịch sử và văn hoá của dân tộc. Nhờ nắm vững cái cốt lõi phương pháp biện chứng của học thuyết C.Mác gắn với tư duy thực tiễn của người cách mạng Việt Nam gắn bó máu thịt với dân tộc mình, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp hài hoà đó.

Con người mà cuộc đời và sự nghiệp gắn liền những sự kiện lịch sử Việt Nam với những biến động lớn của thế giới trong một thời đoạn lịch sử đặc biệt với những đột phá thật bất ngờ.

Ảnh tư liệu

1. Nguyễn Ái Quốc, đến với học thuyết của C.Mác và Ph. Angghen, đến với tư tưởng của V.I Lênin, từ thân phận của một người mất nước, một người dân thuộc địa, một người được hấp thu nền học vấn và triết lý phương Đông, rồi được bổ sung văn hóa và triết lý phương Tây, trước hết là văn hóa Pháp.

Con người ấy, so với C.Mác, Ph Angghen và V. I Lênin, thì trải nhiều oan nghiệt, cay đắng về thân phận cá nhân hơn nhiều. Từ thân phận của một người mất nước, Nguyễn Ái Quốc trở thành một người yêu nước như chính cái tên Ái Quốc mà người thanh niên phải rời đất nước để tìm đường cứu nước.

Từ thân phận ấy, Hồ Chí Minh dễ có sự thông cảm sâu sắc hơn và mãnh liệt hơn với người dân thuộc địa nói riêng và những người lao động nghèo khổ, những dân tộc đang bị nô lệ, bị giày xéo phải gánh chịu áp bức, bất công trên thế giới nói chung. Sự cảm thông ấy không chỉ dừng lại ở thân phận cá nhân để nhìn ngắm và suy đoán về thế giới, mà đã vượt khỏi chính mình để có được cái tầm cao của người chiến sĩ cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Chính với cái tầm ấy mà người cứu nước Hồ Chí Minh trở thành người chiến sĩ cách mạng quốc tế. Hồ Chí Minh phải trở thành người chiến sĩ cách mạng quốc tế thì mới thực hiện được sự nghiệp cứu nước. Từ bước khởi đầu sự nghiệp cho đến khi từ biệt thế giới này, mục tiêu nhất quán của con người yêu nước Hồ Chí Minh là cứu nước, là giải phóng dân tộc.

2. Là con người sống ở gần ba phần tư đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh có điều kiện để thấy và hiểu được sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa với phong trào giải phóng dân tộc làm thay đổi cục diện thế giới từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, tạo ra một phản ứng dây chuyền, đánh sụp chủ nghĩa thực dân cũ, xuất hiện chủ nghĩa thực dân mới.

Ba phần tư thế kỷ này chất chứa bao nhiêu sự biến, tác động mạnh đến số phận của nhiều dân tộc trên hành tinh này.

Tuy nhiên, cũng như C.Mác, Ph Angghen và V.I Lênin, Hồ Chí Minh không thấy được những biến động dữ dội về đời sống chính trị làm thay đổi diện mạo của thế giới mà sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng với những bước tiến như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ của một phần tư cuối thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI, những sự biến nổi bật nhất. Đặc biệt khoa học và công nghệ, một phần tư thế kỷ này có những bước tiến lớn hơn rất nhiều những thế kỷ trước gộp lại.

Ảnh tư liệu

Chứng kiến những biến động ấy khiến cho tầm mắt không ít người đươc mở rộng hơn nhờ vào “sự xé toang một tấm màn bưng bít, sự hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ một số huyền thoại, sự phá sản nhiều giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới, không phải về lý tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn”.

Do được sống giữa trung tâm của những cơn bão táp cách mạng và cũng là trung tâm của văn hóa, văn minh loài người, đôi mắt của Nguyễn Ái Quốc được mở rộng, tầm nhìn của “người yêu nước” ấy vượt xa hơn, cao hơn những đồng chí và đồng bào của mình, vì vậy Nguyễn Ái Quốc đã trở thành Hồ Chí Minh.

3. Hồ Chí Minh đã từng là người đứng ở vị trí quyền lực cao nhất của Đảng và Nhà nước của một nước Việt Nam đã giành được độc lập, tự do trong 24 năm, từ tháng 8.1945 đến tháng 9.1969, sau cũng ngần ấy năm đã từng là lãnh tụ của Đảng, của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trước 1945.

So với V.I Lênin chỉ có 7 năm lãnh đạo Nhà nước Xô Viết (1917-1924), Hồ Chí Minh có hơn gấp ba thời gian ở cương vị Chủ tịch nước.

Với 24 năm là lãnh tụ của một Đảng cầm quyền, là Chủ tịch Nước, đứng ở đỉnh cao quyền lực, song Hồ Chí Minh trước sau vẫn thủy chung như nhất là người lãnh tụ của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, chiếm trọn trái tim của nhân dân, xứng đáng với lời ghi nhận của nhân dân và của Đảng:“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

C.Mác, Ph. Angghen và V.I Lênin, học vấn của Hồ Chí Minh không bằng, bù vào đấy là sự thâm nhập vào cuộc sống, lăn lộn nhiều hơn, đi nhiều hơn, thấy nhiều hơn, đến được nhiều chân trời hơn, sống với nỗi khổ đau của con người nhiều hơn. Những con người ở nhiều đất nước, nhiều châu lục, nhiều màu da, nhiều tiếng nói, nhất là tiếng nói của những người cùng khổ.

Quả là hiếm có lãnh tụ cách mạng nào có điều kiện tắm mình trong những quằn quại suy tư, những khát vọng rộng lớn của con người đến như vậy. Hồ Chí Minh, vì thế, là người chiến sĩ cách mạng có những rung động thơ, những rung động của một nhà thơ. Nhà thơ trong nhà cách mạng Hồ Chí Minh.

Ảnh tư liệu

Để có được một số bài thơ hay mà không phải nhà cách mạng nào cũng có được: “Trong tâm hồn Hồ Chí Minh luôn luôn phảng phất có thơ” (Phạm Văn Đồng). Đấy là một nét độc đáo trong nhân cách Hồ Chí Minh. Điều này khiến cho Hồ Chí Minh biết cảm nhận và rung động mãnh liệt, sâu lắng với con người trong sự sống đa dạng và phức tạp của nó.

Câu thơ hay nhất cũng là câu thơ nói đến khát vọng tự do: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do”. Mà nói đến tự do của con người, con người thơ Hồ Chí Minh đặt vấn đề ở tầm triết lý sâu thẳm về thân phận con người trong cuộc đấu tranh vì tự do: “Nghĩ việc trên đời kỳ lạ thật, Cùm chân sau trước cũng tranh nhau; Được cùm chân mới yên bề ngủ, Không được cùm chân biết ngủ đâu?”.

5. Bắt đầu sự nghiệp của mình với việc đi tìm con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đến với “những người cùng khổ” để hiểu rõ thêm, sâu thêm về con người, về quyền của con người. Từ người mất nước, sục sôi trong huyết quản dòng máu của người yêu nước, thành người cách mạng, người chiến sĩ quốc tế, Nguyễn Ái Quốc trở thành Hồ Chí Minh, lãnh tụ của dân tộc trong thế kỷ XX, để rồi khi ra đi thì lời dặn lại thiết tha nhất cũng là đối với con người: “Đầu tiên là công việc đối với con người”!

Có thể nói, sức lay động mãnh liệt nhất trong tình cảm Hồ Chí Minh, chiếm lĩnh vị trí trung tâm trong tư tưởng Hồ Chí Minh là con người, là “công việc đối với con người”.Công việc ấy bao trùm lên toàn bộ sự nghiệp của Hồ Chí Minh và cũng là công việc quan trọng nhất của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, Đảng của Hồ Chí Minh. Sự nghiệp ấy là một “cuộc chiến đấu khổng lồ… chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi”.

Hồ Chí Minh có một ham muốn, và “ham muốn đến tột bậc” ấy cũng dành cho con người, cho hạnh phúc của con người. Một khi điều đó chưa được thực hiện trọn vẹn, trái tim của Hồ Chí Minh vẫn chưa yên: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nổi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Câu này nói với phóng viên báo Granma ngày 14.7 1969, năm mươi ngày trước khi Bác ra đi.

Liệu đến bao giờ “Sẽ đến thời khắp bốn phương tử tế. Cuối con đường có lẽ gặp con người” (Việt Phương)?

  • Tương Lai

Kỳ 2: Tầm vóc Hồ Chí Minh

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Học Bác về thái độ trước cái xấu

Không chỉ kiên quyết trước cái xấu, Bác Hồ còn căn dặn “không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên cho mình”.

1. “Diệt sâu mới cứu được cây”

Một buổi chiều giữa tháng 6 ba năm trước, tại Hội trường Ba Đình, bộ trưởng Bộ Công an đã phải lúng túng trước những câu hỏi của Quốc hội về lý do tại sao không điều tra vụ Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Lâm quên va ly chứa nhiều phong bì tiền ở sân bay, tại sao “tha” một số quan chức Tổng Công ty Dầu khí vì lý do tuổi tác trong vụ cảng Thị Vải,… Chủ tịch Quốc hội (khi đó là ông Nguyễn Văn An) nói thẳng: “Bộ Công an thì có quyền đề nghị viện kiểm sát và các cơ quan hữu quan (không xử lý quan chức dầu khí vì tuổi cao – PV) nhưng quyền ấy phải theo pháp luật. Nếu quyền mà không đúng pháp luật thì sẽ mất lòng tin. Không phải có quyền thì ta muốn làm gì cũng được. Cho nên nếu theo luật hình sự… “tuổi cao, về hưu, có sự cống hiến cho ngành” đấy là yếu tố giảm nhẹ chứ không (là yếu tố – PV) loại trừ”.

Hơn 60 năm trước, Bác Hồ đã dự liệu về những chuyện như thế. Trong thư gửi những người dự Hội nghị Tư pháp toàn quốc (tháng 2-1948), Bác căn dặn: “Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương phụng công, thủ pháp, chí công vô tư cho nhân dân noi theo”.

Hai năm sau (1950), đại tá Trần Dụ Châu – Cục trưởng Cục Quân nhu bị phát hiện lợi dụng chức quyền tham ô ăn chơi, bị kết án tử hình. Trước ngày thi hành án, Trần Dụ Châu gửi đơn lên Bác xin được khoan hồng. Phút cuối, ông Trần Đăng Ninh đến gặp Bác Hồ xin ý kiến, Bác chỉ cho xem một cây xoan héo lá, úa ngọn và hỏi lý do tại sao cây sắp chết. Ông Ninh trả lời: “Dạ, vì thân cây bị sâu đục một lỗ rất to, chảy hết nhựa!”. “Thế theo chú muốn cứu cây thì phải làm gì?”. “Dạ, phải bắt và giết hết những con sâu ấy đi ạ”. Bác gật đầu: “Chú nói đúng đấy, với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng vậy. Nếu phải giết đi một con mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa là nhân đạo”.

Sau một đêm trắng, Hồ Chủ tịch ký bác đơn của Trần Dụ Châu và bản án được thi hành.

2. Tôn trọng lợi ích của dân

Dư luận TP Hải Phòng những ngày này đang hết sức nóng bỏng vì phiên tòa phúc thẩm vụ “ăn” đất ở Quán Nam sắp diễn ra. Nóng bỏng vì có đến ngót 1.000 lô đất công được chia chác trái phép cho ít nhất 420 cán bộ các ngành của TP, bất chấp nhiều đối tượng chính sách xã hội đang thiếu chỗ ở, bất chấp việc nhiều cán bộ được đất đã có nhà cao cửa rộng. Trước đó, vụ chia chác đất công ở Đồ Sơn (cũng ở Hải Phòng) đã gây phẫn nộ trong dư luận. Cả nước quan tâm chỉ vì sự chia chác đặc quyền, đặc lợi này diễn ra công khai, bằng giấy trắng mực đen và văn bản nghị quyết… Trong những vụ này, quyền lợi chính đáng của người dân đã bị một số cán bộ công quyền bỏ qua.

Còn nhớ khi điều hành nhà nước cách mạng non trẻ, Bác đã rất quan tâm giáo dục cán bộ về chuyện này. Cuối năm 1954, Chính phủ có chủ trương thu hồi tiền của cách mạng phát hành trước đây để đổi lại cho nhân dân tiền Đông Dương ngân hàng. Tháng 2-1955, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh từ miền Nam ra gặp Bác báo cáo kết quả, trong đó có chuyện (so với số tiền đã phát hành thì) thu về còn thiếu khoảng 600 ngàn đồng. Bác nghiêm giọng: “Vậy là chú đã “quỵt” của bà con Nam bộ 600 ngàn đồng. Chú đã phạm đến quyền lợi của nhân dân”. Luật sư vội giải thích: Đồng bào Nam bộ không chịu đổi lại vì trên giấy bạc Việt Nam có in ảnh Bác. Bà con giữ lại để biểu thị quyết tâm theo Bác đến cùng”.

Nghe vậy, Bác rất xúc động nhưng vẫn dặn dò: “Mỗi việc làm của các chú, bất cứ việc gì đều phải quan tâm đến quyền lợi chính đáng của nhân dân chứ không được hứa suông. Bất luận việc gì đã hứa với dân là phải tìm cách làm cho được, không làm được phải xin lỗi dân. Chính quyền ta của dân, vì dân thì phải như vậy”.

3. Không bắt luật pháp phải ưu tiên

Ba năm trước, người đứng đầu cơ quan chống tham nhũng của Chính phủ là ông Quách Lê Thanh cũng đã hết sức lúng túng khi phải trả lời tại sao không giao nộp và báo cơ quan điều tra khi cấp dưới (vụ phó Vụ II Thanh tra Chính phủ Lương Cao Khải) ba lần đến nhà đưa hàng trăm triệu đồng tiền hối lộ. Tổng Thanh tra Quách Lê Thanh trả lời đã báo cáo Đảng nhưng đại biểu Quốc hội tỏ thái độ không đồng ý. Chủ tịch Quốc hội đã “phải nói thêm” là “Đảng lãnh đạo, nên có yêu cầu báo cáo trong nội bộ Đảng. Nhưng báo cáo với Đảng không có nghĩa là không báo cáo với Chính phủ, với Quốc hội. Thủ trưởng cơ quan hành chính phải làm đúng theo luật pháp, tuân thủ các quy định của nhà nước”.

Còn với Bác, tuân thủ luật pháp là đức tính nổi bật ngay từ ngày đầu quản lý đất nước. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên năm 1946, tại Hà Nội nơi Bác ứng cử có 118 chủ tịch UBND và đại biểu các giới, làng xã ra một bản đề nghị: “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi suy tôn và ủng hộ vĩnh viễn cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Nhiều nơi trong cả nước cũng đề nghị Bác không cần ra ứng cử và đồng thanh nhất trí cử Bác vào Quốc hội. Thế nhưng Bác đã viết một bức thư ngắn: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nên tôi không thể vượt qua khỏi thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa…”.

Trong đời sống, sự tôn trọng kỷ cương được Bác thực hành hàng ngày. Có lần Bác đến một ngôi chùa cổ, vị sư trụ trì ra đón và khẩn khoản xin Bác đừng cởi dép khi vào trong chùa. Bác không đồng ý và lặng lẽ làm đúng quy định như khách thập phương đến lễ chùa. Trên đường về thành phố, xe Bác đến một ngã tư thì vừa lúc đèn tín hiệu đỏ bật sáng. Sợ phố đông, xe dừng lâu, đồng chí bảo vệ định chạy lại đề nghị công an giao thông bật đèn xanh để Bác đi. Bác hiểu ý ngăn lại: “Các chú không được làm như thế, phải tôn trọng và gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông. Không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên riêng cho mình”.

***

Tháng 7-1969, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về việc tổ chức bốn ngày lễ lớn của năm sau: ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin và ngày sinh của Bác. Báo Nhân Dân đăng nghị quyết này, Bác đọc liền cho mời mọi người đến: “Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu học sinh đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về ngày sinh của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”. Và tại kỳ họp 6 Quốc hội khóa II, khi chuẩn bị sinh nhật Bác, các đại biểu nhất trí đề nghị Quốc hội trao tặng Bác Huân chương Sao Vàng. Bác rất cảm động nhưng nhất quyết từ chối vì tự xét mình chưa có công huân xứng đáng.

Hiện nay toàn Đảng đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. GS-TS Hoàng Chí Bảo, thường trực Hội đồng lý luận Trung ương, tâm sự với người viết: “Cuộc vận động lần này phải gắn với những điều cuộc sống hôm nay đang đòi hỏi. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang thoái hóa, biến chất, thậm chí phạm tội. Chuyện tham nhũng nhà đất, trù úm dân chúng, lợi dụng chức quyền mưu lợi cá nhân… là rất xa lạ với đạo đức Hồ Chí Minh. Cho nên muốn gây dựng được niềm tin trong dân chúng thì trước hết phải kiên quyết xử lý những hành vi tiêu cực, hư hỏng thoái hóa ngay từ trong Đảng”.

Theo GS Bảo, cách hành động thiết thực là yêu cầu cán bộ, đảng viên “lời nói đi đôi với việc làm” như tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

PHAN LỢI – Báo Pháp Luật TP.HCM
(Theo TTO)

doanthanhnienluat.com

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về củng cố Nhà nước pháp quyền thời kỳ đầu cách mạng

QĐND Online- Với thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung và lịch sử Nhà nước Việt Nam nói riêng bước sang trang mới, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập. Với bao nỗi lo toan của người đứng đầu một nhà nước mới được thiết lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Trung ương Đảng bắt tay vào đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng mô hình một Nhà nước cộng hòa non trẻ. Mô hình đó như thế nào? Đó thực sự là một quá trình trăn trở, tìm tòi, vừa học, vừa làm, vừa bổ sung ngày một thêm hoàn chỉnh, Mối quan tâm đầu tiên của Chủ tịch Chính phủ lâm thời là phải củng cố nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân, quản lý Nhà nước phải bằng pháp luật. Nhà nước phải có luật pháp mới có đủ uy tín, quyền lực để bảo đảm và bảo vệ độc lập dân tộc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, văn minh thực sự. Do đó, ngoài những công việc lãnh đạo đất nước với trăm công ngàn việc, Chủ tịch  Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm củng cố xây dựng hệ thống pháp luật.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại

Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, từ rất sớm đã chứa đựng tư tưởng pháp luật cách mạng và tiến bộ. Trong bài ca về 8 yêu sách mà Nguyễn Ái Quốc gửi cho các nước đồng minh họp Hội nghị Vécxây đầu năm 1919 có hai câu:

“ Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.

Trong phiên họp đầu tiên của Chỉnh phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”.  Tháng 11 năm 1946, chỉ một thời gian rất ngắn sau ngày Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, cuộc Tổng tuyển cử đã thành công tốt đẹp. Thắng lợi đó là một minh chứng hùng hồn nói lên cơ sở pháp lý vững chắc của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Sau đó, bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua. Sự kiện này đặt nền móng cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Qua mỗi bước ngoặt lịch sử, Nhà nước ta đều có Hiến pháp và một hệ thống pháp luật ngày càng đầy đủ hơn và hoàn thiện hơn.

Thời kỷ đầu của Chính phủ lâm thời, điều kiện chưa tổ chức được cơ quan lập pháp, Bác Hồ trên cương vị Chủ tịch Chính phủ lâm thời đã ký một loạt các sắc lệnh cấp bách làm cơ sở pháp lý quản lý đất nước. Điều đặc biệt, trước khi có Hiếp pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh giữ lại mọi luật lệ của chế độ cũ trừ những điều luật trái với nền độc lập, tự do. Theo quan niệm của Người: Một xã hội không thể hoạt động không có pháp luật. Từ ngày 1- 9-1945 đến ngày 30- 5- 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban bố 90 sắc lệnh liên quan đến mọi mặt của xã hội, trong đó gần một nửa là những sắc lệnh củng cố hệ thống pháp luật Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Từ việc ra sắc lệnh ban bố Hiến pháp mới, Tổng tuyển cử đến việc tổ chức các cơ quan pháp luật như: Lập các tòa án, tổ chức đoàn luật sư, ban hành các luật… sự ra đời của các sắc lệnh này nhằm xóa bộ máy chính quyền quan lại, quan liêu cũ, thay bằng một hệ thống quản lý nhà nước kiểu mới, thay đổi luật pháp thực dân, luật pháp nô lệ phụ thuộc kiểu thuộc địa phong kiến bằng luật pháp dân chủ nhân dân.

Đặc biệt trước ngày đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 1- 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 3 về Tiết quân luật tại Hà Nội. Điều đó cho thấy sự quan tâm của Người đối với việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật. Tiếp đó, những sắc lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thời kỳ đầu Chính phủ lâm thời trong điều kiện chưa tổ chức được cơ quan lập pháp, những sắc lệnh của Người có giá trị pháp lệnh Nhà nước. Sắc lệnh ra đời được nhân dân hết lòng ủng hộ vì trước hết nó phục vụ cho quyền lợi của quảng đại quần chúng nhân dân, phục vụ cho lợi ích của dân tộc, quốc gia, phản ánh mọi nguyện vọng dân chủ trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục… được nhân dân tin tưởng và bảo vệ. Sắc lệnh số 34 về việc thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp; Sắc lệnh số 39 về việc thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 13 ấn định cách tổ chức của Tòa án; Sắc lệnh số 46 về tổ chức Đoàn Luật sư; Sắc lệnh số 53 quyết định Quốc tịch Việt Nam… Những sắc lệnh của Chính phủ lâm thời ra đời dã góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền móng của chế độ mới.

Ngoài việc ban hành các sắc lệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cao công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật sâu rộng trong cán bộ, nhân dân. Làm sao mọi người có kiến thức pháp luật, tự giác chấp hành pháp luật và tham gia tích cực vào việc giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, của những người có chức có quyền vào việc chống vi phạm pháp luật. Đó là việc lâu dài nhưng đòi hỏi phải làm tốt thì pháp luật sau khi được công bố mới thực hiện tốt được.

Những ngày đầu có chính quyền cách mạng trong thế nước “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những thác gềnh mang theo những thành quả lớn lao làm nền tảng cho một quốc gia đó là một thể chế chính trị được thiết lập vững chắc với việc thành lập các cơ quan lập pháp, tư pháp và hành pháp.

Phí Hồng Vân

qdnd.vn

Góc nhìn khác của một học giả Nhật về tư tưởng Hồ Chí Minh

Tác giả: GS. TSUBOI YOSHIHARU (ĐẠI HỌC WASEDA)

Con người Hồ Chí Minh được phản ảnh sắc nét trong Hiến pháp là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản – Góc nhìn riêng của GS Nhật Bản Tsuboi Yoshiharu.

LTS: Có thể nói, Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử, một lãnh tụ đặc biệt của đất nước. Đã có biết bao nhiêu công trình, đề tài nghiên cứu về Người của các học giả trong nước, nước ngoài với các góc nhìn khác nhau.

Bài viết dưới đây của GS Tsuboi Yoshiharu (ĐH Waseda-Nhật Bản) đã được ông trình bày tại Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ 3 tổ chức tại Hà Nội tháng 12/2008. Khảo cứu này của ông Tsuboi Yoshiharu đã gây được sự chú ý của dư luận vì góc nhìn khác lạ.

Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiếu, Tuần Việt Nam xin đăng tải toàn văn nghiên cứu này của  ông Tsuboi, một nhà Việt nam học nổi tiếng như một góc nhìn cần tham khảo. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

Một góc nhìn khác

Trong bài viết này, chúng ta thử thoát khỏi những quan niệm về “Tư tưởng Hồ Chí Minh” cũng như cách đánh giá Ông Hồ như một người cộng sản Max – Lenin, lần theo những nẻo đường trong cuộc đời Hồ Chí Minh để khảo cứu lại tư tưởng của Ông trên một lập trường giá trị tự do hơn.

Từ khi bắt đầu nghiên cứu VN năm 1973, mỗi lần có cơ hội, tôi lại cố gắng lần theo những dấu vết cuộc hành trình của Hồ Chí Minh. Bắt đầu từ xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An – quê hương của Hồ Chí Minh, tôi lần theo dấu chân Ông ở Nhà kỉ niệm Hồ Chí Minh ở Vinh – thủ phủ của tỉnh Nghệ An, phòng làm việc, Bảo tàng và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trung tâm của Thủ đô Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh ở TP Hồ Chí Minh, trường Quốc học Huế, v.v…

Ở Trung Quốc, tôi đã đến thăm Hồng Kông, Quảng Đông, Thượng Hải, Diên An, v.v… Tôi cũng tìm đến ngôi nhà Hồ Chí Minh từng sống ở Moscow. Tôi đã đứng trong ngôi nhà ở phố Compoint, được coi là nơi hoạt động của Hồ Chí Minh ở Paris. Tại London, tôi đã tới thăm khách sạn nơi Ông từng làm đầu bếp dưới sự hướng dẫn của Escoffier. Ở New York, tôi đã thử hình dung Hồ Chí Minh đã ngắm nhìn bức tượng Nữ thần Tự Do từ góc độ nào.

Tôi cũng có dịp thảo luận với các nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh người Pháp như Brocheux, G. Boudarel… Đương nhiên, tôi cũng có dịp trao đổi ý kiến với những nhà trí thức, học giả người Việt như Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Đình Đầu, Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Nguyên Ngọc, v.v… Trong quá trình tìm hiểu, khám phá và trao đổi, tôi luôn cảm thấy dường như chưa ai đoán đúng được tư tưởng “bè trầm liên tục” (basso continuo) của Hồ Chí Minh.

Cho đến gần đây, tôi nhận ra rằng có lẽ giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời của mình là những giá trị của nền cộng hòa. Tôi cho rằng nếu nhận thức Hồ Chí Minh như một người theo chủ nghĩa cộng hòa, chúng ta có thể đánh giá được một cách đầy đủ và đúng đắn nhất những tư tưởng và hành động của Ông.

Không ai phủ nhận việc Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc. Mục tiêu tối thượng của Ông là giải phóng dân tộc và giành lại nền độc lập cho Tổ quốc từ tay thực dân Pháp. Để thực hiện công cuộc đó, cơ sở lý luận của Ông là “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” – những biểu tượng của nền cộng hòa.

Làng Sen quê Bác

Khi đặt chân đến nước Pháp, đất nước đã biến VN thành thuộc địa, Ông phát hiện ra rằng tầng lớp lao động nghèo khổ ở Pháp cũng ở trong tình cảnh bi thảm như các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Đồng thời, Ông cũng ngạc nhiên trước tinh thần cộng hòa đối xử bình đẳng với con người bất kể sự khác biệt màu da, ngôn ngữ, văn hóa.Có một câu chuyện nổi tiếng liên quan đến vấn đề này. Sau chuyến hải hành dài bắt đầu từ Sài Gòn, cuối cùng Hồ Chí Minh cũng đến được Maseille. Đây là lần đầu tiên Ông Hồ đặt chân lên nước Pháp. Ông vào một quán cà phê và gọi một tách cà phê. Người hầu bàn đáp lại: ” Vâng, thưa Ông” (Oui, Mousieur). Khi còn ở Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân, Hồ Chí Minh chưa bao giờ được gọi bằng từ “Mousieur”.

Đối với chàng thanh niên Hồ Chí Minh khi đó mới 21 tuổi, được một người Pháp gọi là “Mousieur” là một sự ngạc nhiên thú vị. Có lẽ khi đó người hầu bàn cũng không nghĩ rằng vị khách của mình là một người VN đến từ xứ thuộc địa, hoặc cũng có thể do anh ta không quan tâm tới quốc tịch của vị khách. Câu nói của người hầu bàn chỉ là một câu nói “đương nhiên” thường dùng để xác nhận với khách hàng. Thế nhưng, đối với Hồ Chí Minh, một người vốn đã quen chứng kiến cảnh phân biệt đối xử ở xứ thuộc địa, câu trả lời “đương nhiên” đó lại là một hiện tượng thật ngạc nhiên và mới mẻ.

Tinh thần nền cộng hòa Pháp

Tinh thần nền cộng hòa Pháp mang tính lý tưởng cao. Qua Cách mạng Pháp, một quan điểm mới về giá trị con người khác hẳn với giai đoạn trước đã được xác lập. Như đã thể hiện trong câu nói của bản Tuyên ngôn Nhân quyền: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng“. Sự khác biệt căn bản nhất của thời cận đại so với các thời đại khác là sự thay đổi 180 độ quan điểm về giá trị con người. Tinh thần nền cộng hòa chính là cuộc vận động nhằm tạo nên và lý tưởng hóa hình tượng con người mới, thúc đẩy mỗi cá nhân tiếp cận với hình tượng lý tưởng đó.

Đó là cách nhận thức con người bằng việc bài trừ những thuộc tính cá nhân. Lấy ví dụ, nó không quan tâm tới người đó là người Nhật hay người VN, sinh ra ở tỉnh nào, xuất thân trong gia đình hay dòng họ nào, bao nhiêu tuổi, là nam hay nữ. Vấn đề quan trọng là con người đó với tư cách là một “cá nhân” có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính hay không.

Nền cộng hòa được xây dựng bởi những cá nhân là nhân dân Pháp, bất kể giai cấp, màu da hay người đó có sinh ra ở Pháp hay không. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của nền cộng hòa là phải giáo dục ra được những “cá nhân” có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính.

Tuy nhiên, không dễ dàng hiện thực hóa được những lý tưởng đó của tinh thần cộng hòa. Đã có rất nhiều hành động nhằm kéo xã hội quay về với tư tưởng cũ. Để xác lập được tinh thần cộng hòa, nước Pháp cần phải đợi đến thời kì nền Đệ tam Cộng hòa, khoảng 100 năm sau Cách mạng Pháp.

Ở nước Pháp khi đó cũng như ngày nay, nông dân luôn đóng vai trò trung tâm. Họ có tư tưởng cực kì bảo thủ. Ở người nông dân, tình cảm thích nhà vua, coi trọng gia đình, truyền thống và dòng dõi là hết sức mạnh mẽ. Trong số họ có rất nhiều người vừa hiếu kì đối với những người khác, đồng thời lại có những suy nghĩ mang tính phân biệt chủng tộc, cho rằng người da trắng ưu việt hơn so với các chủng tộc khác.

Cách mạng Pháp đã thay đổi tư tưởng bảo thủ của nông dân thành những “cá nhân” theo giá trị con người kiểu cận đại, quá trình biến đổi đó kéo dài 100 năm. Ngay trong thời đại hiện nay, dù có quá nửa người Pháp tán thành tinh thần cộng hòa, nhưng rõ ràng cũng có không ít người vẫn duy trì thể trạng cũ của nông dân.

Nguyễn Ái Quốc tại ĐH lần XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở Tua – Ảnh: cuocsongviet.com.vn

Nói một cách chính xác hơn, vẫn còn rất nhiều người vẫn mang trong mình mâu thuẫn giữa một bên là con người được giáo dục để mang tinh thần cộng hòa một cách tự giác, với một bên là quan điểm bảo thủ về giá trị con người vốn được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình thủ cựu.

Trong khi đó, người VN lại hoàn toàn ngược lại. Người VN trước tiên coi trọng thuộc tính. Mỗi khi đến VN, tôi thường rất lúng túng khi bị người VN đặt những câu hỏi liên quan đến cá nhân như bao nhiêu tuổi, làm việc cho công ty nào, ở vị trí gì, xuất thân từ trường đại học nào, vùng nào, tầng lớp nào, gia đình như thế nào. Hay những câu hỏi đại loại như “Đã kết hôn chưa, nếu có con thì được mấy con rồi?”, “Con mấy tuổi”, v.v…

Tại sao người VN lại chấp nhặt những thông tin cá nhân và hoàn cảnh gia đình như vậy. Đó là vì thông qua những câu hỏi đó, người VN muốn làm rõ vị trí của đối phương, dựa vào đó xác định rõ ràng mối quan hệ xã hội trên dưới giữa mình và đối phương.

Từ đó, quan hệ đó sẽ được phản ánh qua cách dùng từ và động tác ứng xử, qua việc sử dụng cách nói kính trọng hay khiêm tốn, có nên chào hỏi và bắt tay như đối với người lớn hơn hay không. Để xây dựng được quan hệ tốt đẹp cho hai bên và ứng xử đúng với những quy tắc xã hội vô hình, trước tiên người Việt phải tìm hiểu những thuộc tính của đối phương.

Đây không chỉ là truyền thống của riêng VN mà là truyền thống của cả khu vực theo văn hóa Nho giáo, tương ứng với thế giới Đông Á bao gồm cả Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, những nơi cũng lấy “quan hệ” giữa con người với con người làm quy tắc chuẩn cho hành động.

Ở Đông Á, nơi thuộc tính cá nhân và quan hệ con người đóng vai trò chủ đạo, người ta đã không lý giải được hết được tinh thần nền cộng hòa. Người ta thường viện dẫn những ví dụ của nước Pháp và nước Mỹ để đưa ra những định nghĩa mang tính mô phỏng về nền cộng hòa, kiểu như nền cộng hòa là việc chặt đầu nhà vua, phế bỏ chế độ quân chủ, xây dựng thể chế chính trị “của dân, do dân và vì dân”. Nền cộng hòa là thể chế chính trị mà nhân dân đóng vai trò chính, v.v… Người ta đã không đạt tới được nhận thức rằng, điều kiện tiền đề của nền cộng hòa là những “cá nhân” theo quan điểm giá trị mới về con người.

Tinh thần nền cộng hòa của Hồ Chí Minh

Người viết cho rằng có lẽ Hồ Chí Minh là lãnh đạo chính trị duy nhất ở Đông Á nhận thức được một cách đúng đắn nhất tinh thần nền cộng hòa và Ông đã cố gắng đưa nó vào Việt Nam. Tôi muốn lần theo những hành động của Hồ Chí Minh trong quãng thời gian 10 năm Ông phát huy được năng lực lãnh đạo của mình nhất, tức là quãng thời gian từ lúc về nước từ năm 1941 sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại đến năm 50, để chứng minh cho giả thuyết nêu trên.

Trước tiên, tôi cho rằng cần phải khảo cứu lại vấn đề tại sao Hồ Chí Minh lại “phát hiện” ra Lenin và trở thành một người CS. Để định nghĩa lại Hồ Chí Minh từ một người CS Max- Lenin trở thành một người theo chủ nghĩa cộng hòa, cần phải làm rõ mối quan hệ này.

Hồ Chí Minh biết đến Lenin nhờ đọc bài viết được công bố của Lenin về vấn đề thuộc địa. Ông đã bị thu hút mạnh mẽ bởi mối quan tâm sâu sắc cũng như cách đưa ra những phương pháp giải quyết cụ thể đối với vấn đề thuộc địa của Lenin. Ông Hồ cho rằng để giải phóng dân tộc thuộc địa, chỉ có con đường duy nhất là Đảng CS, do vậy Ông đã từ bỏ Đảng Xã hội và trở thành một trong những thành viên sáng lập Đảng CS Pháp.

Sau đó, Ông sang Moscow, trở thành một thành viên của Quốc tế CS và hoạt động năng nổ. Kể từ lúc đó, trong quá trình hoạt động của mình, Ông học được rằng, để giành được độc lập cho VN từ tay nhà nước cận đại Pháp, một trong những liệt cường của Tây Âu có lực lượng quân sự và chính trị khổng lồ, cần phải có một tổ chức đoàn kết chặt chẽ đóng vai trò trung tâm cho công cuộc giải phóng, cũng như cần hoạt động liên kết quốc tế nhằm nhận được sự đồng cảm rộng rãi từ quốc tế.

Ông đồng tình với đề xướng của Lenin về Bôn-sê-vích, Đảng CS- một đảng tiên phong có kỉ luật sắt. Về điểm này, đúng là Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa Lenin. Tuy nhiên, ngoài mặt tổ chức, Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề cần ưu tiên nhất là đấu tranh giải phóng dân tộc giành lại độc lập cho VN chứ không phải là vấn đề giai cấp. Về mặt này, Hồ Chí Minh không phải là một người CS “chính thống” theo chủ nghĩa Marx – Lenin.

Đối với những người CS “chính thống”, việc Hồ Chí Minh coi trọng giải phóng dân tộc, coi nhẹ đấu tranh giai cấp là hành động xa rời chủ nghĩa cộng sản, do đó, Ông Hồ đã bị phê phán một cách gay gắt và công khai. Furuta Motoo, tham khảo nghiên cứu của Kurihara Hirohide đã trích dẫn một phần lá thư của Ủy ban hải ngoại Đảng CS Đông Dương gửi cho Quốc tế CS như sau:

Ở Đông Dương, các tổ chức CS đã triển khai một cuộc đấu tranh công khai với đường lối của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và VN Thanh niên Cách mạng đồng chí hội – đường lối là tàn dư kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa cải lương duy tâm. Tàn dư này hết sức nặng nề và đang trở thành một chướng ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa CS. Cần thiết phải đấu tranh không thương tiếc với chủ nghĩa cơ hội và lý luận kiểu cũ của Quốc và Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Chúng tôi đề xuất đồng chí Lin (Bút danh lúc đó của Nguyễn Ái Quốc – Tsuboi) phải viết bản tự kiểm điểm bản thân”.

Trước những phê phán này, Ông Hồ đã phải thay đổi đôi chút lập trường của mình và phải rất vất vả để giữ được vị trí của mình trong Quốc tế CS. Tuy nhiên, ông đã bị gạt ra ngoài hoạt động lãnh đạo của Đảng CS Đông Dưong và bị buộc phải sang Moscow học tập. Nhưng cũng nhờ đó mà Ông Hồ đã thoát chết.

Dưới sự đàn áp khốc liệt của nhà nước đương cục thực dân, những người CS đã phê phán Ông Hồ hoặc bị chết hoặc bị xử tử. Lê Hồng Phong bị bắt tháng 6 năm 1938 và sau đó qua đời trong tù vào khoảng tháng 9 năm 1942. Hà Huy Tập bị bắt tháng 7 năm 1938, sau đó được thả ra một thời gian rồi bị bắt lại năm 1940 và bị xử tử vào tháng 8 năm 1941.

Khi Ông Hồ trở về nước vào năm 1941, ở VN hầu như không còn một người CS “chính thống” nào. Nhờ vậy, trong quãng thời gian 10 năm tính từ khi trở về nước năm 1941, Ông Hồ, dựa vào sự ủng hộ của Quốc tế CS cũng như tiếng tăm của mình, đã có thể hành động một cách tự do hơn theo những suy nghĩ của mình.

Có một giai thoại thể hiện rất rõ hình ảnh Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa cộng hòa. Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại, chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban CHTƯ Đảng CS Đông Dương, xác định cách mạng là cách mạng giải phóng dân tộc, công bố ý tưởng thành lập nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa, đồng thời thành lập VN Độc lập Đồng minh (tên thường gọi là “Việt Minh”). Tên gọi Việt Minh cho thấy mục tiêu của cách mạng VN lúc bấy giờ là đánh đổ ách thống trị của Nhật và Pháp, giành lại độc lập, tập trung toàn lực vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.

Hồ Chí Minh nêu lên chủ trương của VN Độc lập Đồng minh là “liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, xu hướng, đảng phái chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp, Nhật. Sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của VN Dân chủ Cộng hòa. Ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”.

Tuyên ngôn Độc lập

Tên nước VN Dân chủ Cộng hòa được cho là do Hồ Chí Minh đặt. Nội dung của nó được thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập tháng 9 năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Câu đầu tiên của bản Tuyên ngôn Độc lập có đề cập đến Hiến pháp Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp.

Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tuyên ngôn Nhân quyền được viết trong Cách mạng Pháp năm 1791 đã trình bày nội dung tương tự như sau: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn“… (Lược một đoạn – Tsuboi).

“Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước VN mới, đại biểu cho toàn dân VN, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước VN, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước VN. Toàn dân VN, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. (Trích “Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945”).

Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập 2-9-1945

Còn có một câu chuyện nữa về Hồ Chí Minh ít được biết đến. Sau khi thành lập Việt Minh năm 1941, để kêu gọi sự ủng hộ của các nước Đồng minh trong đó có cả Trung Quốc, Ông Hồ đã quay trở lại Trung Quốc. Tuy nhiên, do Việt Minh nằm dưới cái bóng của chủ nghĩa CS nên Ông Hồ đã bị Quốc dân đảng nghi ngờ.

Ông bị chính quyền địa phương của Quốc dân đảng bắt và bị giam từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943. Sau cùng, Quốc dân đảng nhận định rằng Việt Minh là thế lực chính trị chống Nhật trong phạm vi VN nên Ông Hồ đã được thả. Tháng 8 năm 1944, khi được tự do và chuẩn bị về nước, Hồ Chí Minh đã nói với tướng Trương Phát Khuê của Quốc dân đảng như sau: “Tuy tôi là một người CS nhưng bây giờ vấn đề mà tôi quan tâm không phải là chủ nghĩa CS mà là độc lập tự do của VN. Tôi xin hứa với anh một lời hứa đặc biệt: Trong vòng 50 năm tới sẽ không thực hiện chủ nghĩa CS ở VN”. (trích theo Furuta Motoo).

Cách mạng Tháng 8

Tuy nhiên, không thể có được Con người mới gánh vác được độc lập tự do chỉ bằng đấu tranh giải phóng đơn thuần. Hồ Chí Minh biết rõ rằng, để đạt được điều đó cần một cuộc cách mạng làm đòn bẩy. Cuộc cách mạng đó ở VN là “Cách mạng Tháng 8”.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện quân Đồng minh, nước Pháp bảo hộ thì chưa khôi phục được thế lực của mình. Cách mạng Tháng 8 là cuộc khởi nghĩa trên toàn quốc do Việt Minh tổ chức nhân cơ hội đó nhằm giành quyền tự chủ thực sự cho VN.

Nhận được tin Nhật đầu hàng, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đảng CS đã tổ chức Hội nghị toàn quốc ở Tân Trào, ra quyết định khởi nghĩa. Ngày 16-17/8, Việt Minh tổ chức Đại hội Quốc dân, quyết định thành lập Chính phủ lâm thời nước VN Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, bắt đầu từ việc giành chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8, Việt Minh đã lãnh đạo thành công khởi nghĩa ở các thành thị khác, xác lập được quyền làm chủ đất nước. Kết quả của quá trình này là sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập.

Có nhà nghiên cứu cho rằng Cách mạng Tháng 8 không đơn thuần là một cuộc đảo chính bằng vũ lực. Đúng là khi cách mạng nổ ra, quân Nhật, lúc đó đã đầu hàng Đồng minh, đã không tiến hành đàn áp cuộc khởi nghĩa của Việt Minh. Đồng thời ở VN cũng không có mặt quân Pháp và quân Đồng minh. Nhờ vậy, cuộc khởi nghĩa đã diễn ra một cách tương đối dễ dàng và không phải đổ nhiều máu. Đối với Hồ Chí Minh, cuộc cách mạng này chính là quá trình giành lại quyền lực của nhân dân dựa trên khát khao mạnh mẽ về tự do của họ, nó chính là quá trình xây dựng nên Con người mới.

Ý nghĩa của Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Ước mơ “Độc lập” từ lâu của Hồ Chí Minh là VN được giải phóng khỏi tay thực dân Pháp và trở thành một nước độc lập. Nhưng độc lập của Hồ Chí Minh không phải là khái niệm “độc lập” theo nghĩa cũ, vốn thường được lặp đi lặp lại trong sách giáo khoa- là quá trình VN giữ vững được độc lập và bản sắc (identity) của mình trước sự uy hiếp của Trung Quốc.

VN có lịch sử khởi nghĩa, đánh bại, đánh đuổi sự xâm lược của các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh của Trung Quốc, nhưng sau mỗi lần đánh đuổi quân xâm lược Trung Quốc, VN lại chỉ xây dựng một thể chế chính trị mô phỏng Trung Quốc. Nhưng độc lập mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng là một nước độc lập, một nhà nước chủ quyền theo kiểu cận đại.

Từ độc lập của Ông bao hàm ý nghĩa xây dựng một quốc gia chủ quyền có lực lượng sánh vai được với các cường quốc trên thế giới. Ý tưởng của Ông là không chỉ xây dựng một chế độ Dân chủ cộng hòa mà còn xây dựng nên hình ảnh những Con người mới đóng vai trò gánh vác quốc gia độc lập.

“Tự do” của Hồ Chí Minh rõ ràng chịu ảnh hưởng từ chữ “tự do” trong khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Cách mạng Pháp và quyền mưu cầu Tự do của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tự do của Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là đất nước được độc lập, nhà nước có chủ quyền và có quyền tự do phát ngôn, hoạt động trên trường quốc tế, mà phải là thứ tự do được từng người dân ca ngợi.

Nó cũng yêu cầu mỗi người dân ca ngợi quyền tự do đó phải trở thành chủ thể xây dựng từ dưới lên trật tự của nền cộng hòa, yêu cầu từng cá nhân phải có khả năng suy nghĩ, quyết định với tinh thần trách nhiệm cao. Nhà nước kiểu cận đại chính là nhà nước được hệ thống giáo dục đào tạo ra được những con người như vậy. Đồng thời có những thiết chế chính trị đi kèm đảm bảo cho việc giáo dục đó. Nước Cộng hòa của Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa dân chủ kết hợp với Tự do.

Cuối cùng, như được đề cập trong bản Tuyên ngôn Độc lập, hạnh phúc theo quan niệm của Hồ Chí Minh, chịu ảnh hưởng của “quyền mưu cầu hạnh phúc” trong Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chính là bản Hiến pháp đầu tiên viết rõ ràng về “quyền mưu cầu hạnh phúc”. Hạnh phúc là một từ có tính đa nghĩa, nhưng ý nghĩa từng cá nhân có quyền mưu cầu Hạnh phúc là một khái niệm hết sức mới mẻ của thời kì cận đại.

Lịch sử VN là lịch sử tranh sáng tranh tối của những cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của Trung Quốc, đấu tranh chống lại những thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán. Con người VN coi những nguy cơ đó là “bất hạnh”. Đặc điểm của VN là có lịch sử chiến đấu và chiến thắng những “bất hạnh” đó. Nếu coi những “bất hạnh” mà dân tộc VN phải chịu đựng là những thách thức của Ông Trời mang lại để dân tộc VN phải vượt qua thì quả thực, dân tộc VN là một dân tộc anh hùng và quả cảm.

Thế nhưng, quá trình đó bản chất là một quá trình mang tính thụ động. Thông điệp về Hạnh phúc của Hồ Chí Minh là thông điệp mỗi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc và phải chủ động, tích cực tranh đấu để giành được hạnh phúc đó. Thông điệp đó của Hồ Chí Minh đã được đông đảo nhân dân VN đón nhận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt (3/1951). Ảnh: TL

Trong bản Hiến pháp làm cơ sở cho nhà nước, Hồ Chí Minh đã tham khảo nước Cộng hòa Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và nêu lên ý tưởng về nước VN Dân chủ Cộng hòa. Con người Hồ Chí Minh được phản ảnh sắc nét trong Hiến pháp là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản.

Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập cho nước VN Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Trong vòng xoáy tương quan lực lượng quốc tế mà VN bị lôi vào, Liên Hiệp Quốc đóng vai trò vô cùng quan trọng. Để các nước công nhận nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã có một hành động mạo hiểm là xóa đi hình ảnh người cộng sản của mình.

Tháng 11 năm 1945, Ông Hồ đã ra quyết định dứt khoát giải tán Đảng CS. Đương nhiên, trên thực tế, tổ chức của Đảng vẫn được giữ nguyên, do đó cũng có thể coi nó như một hành động “ngụy trang”. Thế nhưng, để được các nước công nhận nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa, Ông Hồ đã lựa chọn con đường ưu tiên “quyền lợi dân tộc” lên trên “quyền lợi đảng phái”. Về điểm này, chúng ta có thể nhìn thấy một phần cách suy nghĩ theo chủ nghĩa cộng hòa của Hồ Chí Minh.

Người VN có hiểu Hồ Chí Minh không?

Ở đây có một vấn đề là những người VN khác có hiểu được nguyên lý về nước VN Dân chủ Cộng hòa mà Hồ Chí Minh đã trình bày cũng như tinh thần nền cộng hòa được đúc kết trong khẩu hiệu “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” của Ông hay không? Thật tiếc phải nói rằng thông điệp của Hồ Chí Minh hầu như không được truyền bá và lý giải một cách đầy đủ và đúng đắn.

Người ta đã coi Ông như một người lãnh đạo của phong trào CS quốc tế, một người theo chủ nghĩa Marx- Lenin. Đó là vì sau Chiến tranh Thế giới II, thế giới rơi vào cục diện Chiến tranh Lạnh, VN đã bị đặt vào tiền tuyến xung đột của chiến tranh Lạnh Đông – Tây. Trong bối cảnh quốc tế đó, Hồ Chí Minh sau khi thành lập nước đã phải nhận sự hỗ trợ của Trung Quốc và Liên Xô, trở thành lãnh tụ lãnh đạo một cuộc chiến tranh lâu dài chống Pháp và Mỹ.

Ai cũng lấy ý thức hệ làm chủ thể để lý giải Ông Hồ, và ngay bản thân Ông Hồ, để nhận được viện trợ, tiếp tục công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mình, không có một sự lựa chọn nào khác ngoài việc phát ngôn và hành động như một thành viên của liên minh những người CS.

Thế hệ kém Ông Hồ 10 tuổi như Đại tướng Võ Nguyên Giáp hay Ông Trần Văn Giàu, do chịu sự giám thị gay gắt của nhà đương cục thực dân, đã phải hoạt động tại nước ngoài một thời gian. Chính vì vậy, họ đã hiểu được tình hình bên ngoài và lý giải được một phần tinh thần nền cộng hòa của Hồ Chí Minh. Sự lý giải của họ là nhờ vào những kinh nghiệm sống ở các nước Âu Mỹ, chủ yếu là nước Pháp.

Tuy nhiên, đối với những thế thệ trẻ hơn, do phải tiến hành cách mạng và chiến tranh trên đất VN, hầu như không có mấy người có kinh nghiệm sống ở nước ngoài. Do đó, họ thiếu đi nền tảng tư tưởng để có thể lý giải được đầy đủ “Tinh thần nền cộng hòa” mà Hồ Chí Minh đã đúc kết được sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại.

Càng đến những thế hệ trẻ hơn, người ta càng có xu hướng lý giải Hồ Chí Minh chỉ theo góc độ là nhà lãnh đạo Đảng CS. Cùng với việc thần tượng hóa Hồ Chí Minh, người ta đang đánh mất đi khả năng lý giải nội tại Hồ Chí Minh với tư cách là một CON NGƯỜI bình thường.

————————-

Tài liệu tham khảo

Furuta Motoo, Hồ Chí Minh – Giải phóng dân tộc và Đổi mới (Ho-Si-Min Minzoku kaiho to Doi Moi), NXB Iwanami, 1996.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Bài báo cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tác giả: NGUYỄN QUỐC DŨNG (VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG ÐẢNG)

Dưới bút danh T.L, ngày l-6-1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài viết “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” (1) đăng trên Báo Nhân Dân, số 5526. Ðây là bài báo cuối cùng trong tổng số hơn 1.000 bài báo mà Bác đã viết trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình.

Bài báo có nội dung không dài, trong đó Bác đề cập những thành tích của thiếu niên, nhi đồng hai miền nam, bắc; những vấn đề tồn tại. Và từ đó Người đề ra trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc chăm sóc, giáo dục các em.

Mở đầu bài báo, Bác khẳng định: “Nói chung trẻ con ta rất tốt”. Ðể minh chứng điều này, Bác lấy dẫn chứng về các em bé ở hai miền nam, bắc đã không quản ngại hy sinh, gian khổ để góp sức mình vào sự nghiệp cách mạng của Ðảng. Ðối với các em bé miền nam, hằng ngày, hằng giờ phải đối mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt do kẻ thù gây ra, song không vì thế mà làm chùn bước các em. Bác viết: “Ở miền Nam, các cháu bé rất dũng cảm, đã hăng hái giúp đỡ bộ đội, giúp đỡ gia đình có người kháng chiến, làm giao liên, đánh du kích, v.v. Nhiều cháu mới hơn 10 tuổi đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ”. Ðó là sự khen ngợi mà Bác dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng miền nam- thành đồng của Tổ quốc.

Còn đối với thiếu nhi miền bắc, Bác đã dành những lời khen ngợi thân thiết: “Ở miền Bắc, các cháu đều hăng hái thi đua làm “nghìn việc tốt” như giúp đỡ gia đình bộ đội, trả lại của rơi, gan góc liều mình cứu bạn, v.v. Ở nông thôn thì nhiều nơi các cháu tổ chức giúp các hợp tác xã chăm sóc trâu bò béo khỏe, trồng cây và bảo vệ cây xanh tốt”. Không những thế, “các cháu sơ tán xa gia đình vẫn cố gắng vượt mọi khó khăn, kính thầy yêu bạn, đoàn kết với đồng bào địa phương và thi đua học tập tốt, lao động tốt. Nhiều cháu học giỏi, tất cả các môn đều đạt điểm 5, điểm 10, đã được giải thưởng của Bác Hồ”.

Niềm mong mỏi của Bác năm nào (tháng 9-1945) khi Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (2)  đã được các em gắng công thực hiện bằng những việc làm cụ thể.

Các em bé miền bắc mặc dù không phải đối mặt trực tiếp và thường xuyên với cuộc chiến tranh tàn khốc do đế quốc Mỹ gây ra, song đã nỗ lực để không thua kém các bạn miền nam, hằng ngày đã góp sức với ông bà, cha mẹ, anh chị lao động, sản xuất và học tập. Với những hành động “tuổi nhỏ làm việc nhỏ” rất thiết thực, các em đã được Bác Hồ ghi nhận và biểu dương về những thành tích đó. Bài báo viết: “Hàng trăm cháu có thành tích xuất sắc đã được Bác Hồ thưởng huy hiệu. Hơn hai triệu cháu được bình bầu là Cháu ngoan Bác Hồ”. Ðó quả thực là những đóa hoa tô thắm cho truyền thống yêu nước nồng nàn của các em vào lịch sử của dân tộc. Ðó cũng là kết quả mà Ðảng ta và Bác Hồ đã giáo dục, rèn luyện các em để các em trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh : “Nhân dân ta rất tự hào có nhiều con cháu tiến bộ như thế. Mong các cháu ngày càng cố gắng hơn nữa và tiến bộ hơn nữa”. Bên cạnh những em đã có nhiều cố gắng trong học tập, lao động, sản xuất, Bác cũng chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm đối với một số thiếu niên, nhi đồng khác. Người viết : “Song vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn”.  Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Bác Hồ đã dành nhiều công sức, tâm huyết để đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam. Khi ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, thời điểm mà Người sắp phải từ biệt thế giới này, Người một lần nữa đặt vấn đề chăm sóc và giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng và khẳng định: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà”. Người yêu cầu: “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Ðảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ”.

Sinh thời, Bác từng viết: “Trẻ em như búp trên cành/Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”… Các em thiếu niên, nhi đồng phát triển tốt hay xấu đều do công tác chăm sóc, giáo dục của xã hội mà nên. Do đó, phải chăm sóc và giáo dục các em trở thành những người “vừa hồng, vừa chuyên”, và “phải làm kiên trì”,  “bền bỉ”.

Ðể chăm sóc, giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ đã đặt ra kế hoạch: “Trong thời gian tới và trong dịp hè này, cần phải đẩy mạnh công tác thiếu niên, nhi đồng đạt nhiều kết quả tốt và thiết thực”. Muốn vậy, Bác căn dặn: “Trước hết các gia đình (tức là ông bà, cha mẹ, anh chị) phải làm thật tốt công việc ấy. Các đảng ủy đường phố và hợp tác xã phải phụ trách chỉ đạo thiết thực và thường xuyên. Ủy ban thiếu niên, nhi đồng, Ðoàn thanh niên, ngành giáo dục và các ngành, các đoàn thể cần phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc, giáo dục các cháu càng ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ. Các tỉnh ủy, thành ủy cần phải phụ trách đôn đốc việc này cho có kết quả tốt”.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam

Về điều này, trong Di chúc, Bác đã từng đặt ra nhiệm vụ chăm sóc thế hệ trẻ nước nhà, trong đó có các em thiếu niên, nhi đồng. Bác viết: “Ðảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”; “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(3).Kết thúc bài báo, Bác chỉ rõ: “Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”. Ðây là lời di huấn mà Bác chỉ thị cho toàn Ðảng, toàn xã hội phải có trách nhiệm để thực hiện.

Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ niệm 85 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6) đọc lại bài báo “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta thấy vẫn nóng hổi tính thời sự. Mỗi người chúng ta ở mỗi cương vị công tác hãy thực hiện tốt hơn nữa di huấn của Người về việc chăm sóc và giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng.

—————

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 12, tr 467 – 468.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb  Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 4, tr 33.
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 12, tr 510.

Theo Báo Nhân dân

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và người học trò Võ Văn Kiệt

Lý thuyết là mầu xám, cây đời mãi mãi xanh tươi – một triết lý sâu sắc, đơn giản, trở thành câu thơ nổi tiếng của Goethe trong vở kịch “Faust”, thường được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhắc đi nhắc lại với nhiều người chung quanh mình trong công việc, đến mức trở thành một quan niệm, một phương thức làm việc, và còn hơn thế nữa: một phương thức và một lẽ sống…

Sau này, trong những ngày được giúp cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, tôi có dịp làm “nhân chứng” cho ảnh hưởng lan tỏa của điều nhắc nhủ nêu trên.

Một lần tình cờ tôi hỏi Anh Sáu Dân, nhân lúc đang phải triết lý về cuộc đời:

– Anh Sáu ạ, điều gì khiến anh có ấn tượng sâu sắc như vậy khi anh thường nói với chúng tôi về lời nhắc nhủ của anh Tô (Thủ tướng Phạm Văn Đồng)?

– Chuyện đó quan trọng lắm: Điều nhắc nhủ ấy của Anh Tô khiến tôi hiểu Ông Cụ đầy đủ hơn, dậy tôi cách học Ông Cụ, không như thế thì không thể hiểu được Ông Cụ! – Anh Sáu nói như thế về Bác Hồ với tất cả kính yêu và mến phục của mình.

Ngày tháng vùn vụt trôi đi trong công việc ngập đầu, hầu như không thấy Anh Sáu viện dẫn sách vở hay lý luận ra để giải thích quyết định của mình. Ngay cả trong những công việc rất khó, Anh Sáu không lý luận dài dòng, mà đi thẳng vào tình huống, vào công việc, nói rõ mục đích phải đạt được. Đôi ba lần, gặp phải công việc còn nhiều ý kiến tranh cãi ngang ngửa, nếu cần thúc giục những người chung quanh động não góp ý, tôi thấy Anh Sáu không áp đặt ý kiến của mình, mà thường nhắc đến những quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những giờ phút quyết định vận mệnh đất nước, hoặc trong tình huống hiểm nghèo.

– Không chần chừ được. Thời cơ không chờ đợi! Nếu Bác không quyết nắm lấy thời cơ thì làm sao có Cách Mạng Tháng Tám, làm sao thành công được!.. Cứ suy nghĩ kỹ mà xem… Khó khăn của chúng ta bây giờ ăn nhằm gì!..

– Phải đi nước ngoài thương thuyết trong tình hình đất nước nghìn cân treo sợi tóc, việc quán xuyến cả đất nước Bác trao vào tay cụ Huỳnh Thúc Kháng. Đức độ nào, tầm nhìn và sự từng trải nào khiến Bác dám quyết như vậy?

– Vân… vân…

– …

Anh Sáu không giải thích, không nói nhiều, mà cứ nêu câu hỏi như thế, đòi hỏi mọi người chung quanh phải suy nghĩ, phải noi gương.., để tìm ra giải pháp cho vấn đề đang đặt ra trước mặt!

Bác Hồ… Ảnh tư liệu

Tôi nhớ lại đấy là những lúc Anh yêu cầu chúng tôi tìm mọi lý lẽ và chuẩn bị mọi việc để trình bầy với Bộ Chính trị quyết định những việc hệ trọng: sớm bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Trong bối cảnh lúc bấy giờ, cần nói thẳng thắn là phía ta có “hội chứng Mỹ” rất nặng, rất lo ngại “diễn biến hòa bình”, đầy nghi ngờ sự thao túng của các nước lớn đối với WTO, lo mở cửa nền kinh tế chế độ chính trị của đất nước sẽ bị uy hiếp, vân vân…

Khổ một nỗi hồi ấy lực cản đối với những quyết định hệ trọng như thế rất lớn! Gần như là một lẽ tự nhiên! Kể cả trong hàng ngũ trí thức nữa, chứ không phải chỉ trong những cán bộ chính trị! Hiểu rõ lịch sử vô cùng gian truân đất nước đã trải qua, sẽ hiểu được sự giằng co quyết liệt này để quyết định cho đất nước những bước đi tất yếu như vậy!

Tôi không muốn tôn sùng vai trò cá nhân, nhưng nhìn lại lịch sử thì cần công bằng. Trong sự hiểu biết của mình, tôi dám cả quyết cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, kể cả sau này với tư cách

Cố vấn, thực sự là người tiên phong của những người đi tiên phong trong lựa chọn những quyết định thay đổi hẳn cục diện đất nước như vừa trình bầy trên.

Trong những năm tháng ấy, tâm sự với chúng tôi, Anh Sáu cho biết, Anh luôn luôn nghĩ đến những quyết định và việc làm của Bác, để học tập, để noi gương, để mổ xẻ cặn kẽ tình huống công việc mình đang đối mặt.., nhất là để kiên định quan điểm và sự lựa chọn quyết định của chính mình. Trong những năm tháng giúp anh Sáu, hình như tôi chưa thấy một lần nào có chuyện Anh Sáu nói hay viết “Hồ Chủ tịch nói rằng…”, “Hồ Chủ tịch dạy rằng…” Quả thực đến nay tôi chưa tìm lại được một diễn văn nào của Anh Sáu trong thời gian tôi giúp việc có trích nguyên văn một câu nói nào đó của Bác! Có điều kiện, tôi sẽ xác minh kỹ hơn để khẳng định điều này. Song tôi tin rằng hầu như ở Anh Sáu không có chuyện lý luận hay ngôn từ theo kiểu trích cú tầm chương như vậy mỗi khi nói về Bác Hồ, dù là trong hội nghị, buổi nói chuyện, hay là trong các cuộc họp bàn công việc với những người chung quanh.

Trong những năm tháng làm việc cạnh Anh Sáu, không dưới một lần, anh em chúng tôi hỏi trực tiếp – đương nhiên là để hiểu rõ cái chất “Sáu Dân” của Anh:

– Anh Sáu ạ, sao anh hay làm trái nghị quyết của Đảng thế?

– Thế thì tôi đáng bị kỷ luật nặng rồi!

– Nếu chiểu theo câu chữ của văn bản chính thức thì không oan Anh Sáu ạ.

– Tôi hiểu câu hỏi của các anh…

Mỗi lần trả lời loại câu hỏi này trong các vấn đề khác nhau, chúng tôi hiểu thêm một khía cạnh mới trong suy nghĩ của Anh.

Không biết bao nhiêu lần Anh thường nói với chúng tôi: Không nên và không được tư duy theo cách đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống. Cũng không thể nói “ý Đảng lòng dân” đến mức như là một khuôn sáo… Đúng ra phải nghĩ ngược lại: Đưa cuộc sống vào đường lối chính sách của Đảng, nguyện vọng của dân phải trở thành ý chí của Đảng!.. Tự nhận là con cháu Bác Hồ thì phải làm như thế, học tập Bác thì phải làm như thế…

Anh Sáu hỏi lại chúng tôi nhiều lần: Hãy thử tìm xem, trong Tuyên ngôn Độc lập, rồi đến Hiến pháp 1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, trong nhiều sự việc quan trọng khác, và ngay cả trong Di chúc của Bác nữa, có thấy chỗ nào Bác làm theo cách “đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống” không? Hay là Bác xuất phát từ những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống vạch ra chương trình hành động cho đất nước, cho Đảng?..

Anh Sáu nhấn mạnh: Cái chính là phải trung thành với mục tiêu của cách mạng và không được để lợi ích cá nhân xen vào. Nghĩ được như vậy thì sẽ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm… Nghĩ được như thế, mới có thể hiểu được những quyết định có một không hai của Bác Hồ. Anh giục chúng tôi: Các anh cứ đi sâu tìm hiểu, phân tích những quyết định động trời của Bác thời kỳ cách mạng trứng nước, khi quyết định toàn quốc kháng chiến, khi phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước…[1] Phân tích cho kỹ xem kết luận như vậy có đúng không! Rõ ràng chỉ có Bác mới dám quyết như vậy! Trung thành với sự nghiệp cách mạng mới dám quyết như vậy! Trung thành với “chủ nghĩa” thì không dám và không thể làm như vậy!.. Lần nào cũng thế, Anh Sáu trở nên sôi nổi khác thường khi nói đến những chuyện này.

Chúng tôi hiểu thêm Anh Sáu học Bác như thế nào. Nếu thống kê các việc “làm trái” như thế của Anh Sáu, chắc chắn có thể kết luận: Trong mọi thời kỳ công tác và ở bất kể cương vị gì, Anh Sáu cũng có hàng chuỗi các việc “làm trái” như thế – từ những năm tháng chỉ đạo kháng chiến trong vùng địch hậu, rồi đến cương vị đứng mũi chịu sào Thành phố Hồ Chí Minh vừa mới được giải phóng, Thủ tướng Chính phủ, Cố vấn…

Quả thực, vấn đề không phải là câu chuyện của câu chữ văn bản chỉ thị hay nghị quyết, mà là điều anh Sáu tâm đắc: … Cây đời mãi mãi xanh tươi…

Khi nói đến Bác Hồ, hầu như trong hoàn cảnh nào cũng vậy, Anh Sáu trước hết nói về tinh thần, về ý nghĩa, việc Bác làm, về cách xử sự tình huống của Bác, về cách Bác giải quyết vấn đề…, trước hết là về lòng trung thành vô hạn với lợi ích dân tộc, là ý chí và sự mẫn tiệp của

Bác trong sứ mệnh chèo lái con thuyền quốc gia, trong nhiệm vụ là biểu tượng tinh thần của dân tộc, trong cương vị là lãnh tụ sáng lập và rèn luyện Đảng…

Qua những mẩu chuyện cũ anh kể lại khi sống trong vùng địch hậu, cả những lúc cơ sở cách mạng mất trắng từng mảng lớn, bản thân tôi càng hiểu sâu sắc thêm Bác Hồ là linh hồn, là niềm tin bất khuất của đồng bào Nam Bộ trong những năm chiến tranh khốc liệt nhất! Có nhiều mẩu chuyện nhỏ rất cảm động. Anh Sáu tâm sự, nếu không có niềm tin sắt đá như vậy, chính Anh cũng sẽ không dám dựa vào đồng bào, sẽ không có gan quay lại sống với đồng bào và xây dựng cơ sở mới ngay trong vùng địch đã chà đi xát lại sạch bong.

Trong những năm tháng giúp Anh Sáu, điều Anh Sáu nói với chúng tôi nhiều nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh lại là những vấn đề liên quan đến Đảng, cụ thể là vấn đề dân chủ trong Đảng, đổi mới sinh hoạt Đảng, chống sự tha hóa của đảng viên – trước hết là những đảng viên có chức có quyền, về đổi mới xây dựng Đảng. Có lẽ sau này có dịp, nhất là khi bàn đến đổi mới Đảng, các cơ quan nghiên cứu của Đảng nên sưu tầm và công bố những ý kiến đóng góp của Anh Sáu chung quanh chủ đề xây dựng Đảng với tư cách là đảng lãnh đạo đất nước trong thời bình để toàn Đảng và cả nước tham khảo.

… và người học trò xuất sắc Võ Văn Kiệt. Ảnh tư liệu

Câu hỏi lớn nhất bàn về xây dựng Đảng Anh Sáu nêu ra cho chúng tôi là: Vì sao Bác Hồ, chỉ có Đảng với 5000 đảng viên, đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám và giành lại được đất nước?

Tôi không thể nhớ lại được anh em chúng tôi trong nhóm giúp Anh Sáu, với tính cách nguyên là các thành viên trong Ban Nghiên cứu của Thủ tướng do Anh Sáu thành lập, đã có bao nhiêu cuộc họp bàn và tranh luận với anh Sáu chung quanh chủ đề này. Cứ mỗi khi buổi thảo luận kết thúc, Anh Sáu thường kết luận với câu hỏi mới, đặt vấn đề mới cho cuộc họp sau. Bao nhiêu cuộc họp như thế thì chịu không nhớ được. Ít nhất là phần lớn các cuộc họp của chúng tôi trong hai, ba năm cuối cùng trước khi Anh Sáu đi xa đều xoay quanh chủ để này. Điều tôi hoàn toàn chắc chắn, cuộc họp cuối cùng của Anh Sáu với chúng tôi, chỉ một hai tuần trước khi Anh Sáu lâm bạo bệnh, là bàn về đổi mới Đảng như thế nào. Viết đến đây, tôi liên tưởng đến lời dặn cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc của Người: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi… Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng…”.

Trong những năm tháng này, ngoài anh em chúng tôi, Anh Sáu còn đi gặp không biết bao nhiêu chiến hữu và bạn bè của mình ở khắp đất nước. Trong những chuyến đi như vậy, bàn về xây dựng Đảng là chủ đề chính của Anh Sáu. Khi về, Anh kể lại cho chúng tôi nghe nhiều thông tin phong phú vể tình hình các đảng bộ địa phương.

Chủ kiến của Anh Sáu là: Cách mạng Tháng Tám, Bác đã lãnh đạo Đảng với 5000 đảng viên làm nên sự nghiệp, trước hết vì đường lối cách mạng đúng, người lãnh đạo sáng suốt, đảng viên chiến đấu ngoan cường, số lượng đảng viên không phải là điều quyết định… Anh dẫn chứng trong Cách Mạng Tháng Tám nhiều nơi không có đảng viên, nhưng nhân dân hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, tự vùng lên cướp chính quyền, tự lập nên chính quyền cách mạng…

Anh Sáu phân tích: Không tin vào nhân dân, không dựa vào nhân dân như thế làm sao Cách mạng có thể thành công? làm sao có thể bảo vệ được Cách mạng trong những hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc?.. Vì coi cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì không độc quyền yêu nước, nên Bác thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, trở thành hiện thân của đại đoàn kết dân tộc, thực sự phát huy được sức mạnh vô địch của nhân dân!.. Quan trọng hơn tất cả, chỉ có như vậy, Bác mới làm cho sự nghiệp Cách mạng trở thành sự nghiệp của nhân dân. Anh Sáu thẳng thắn: Phải thừa nhận chính điểm này chúng ta học tập Bác chưa tốt, làm chưa tốt. Bác nói xây dựng nhà nước của dân, do dân vì dân chính là nói theo tinh thần này! Anh Sáu hỏi lại chúng tôi: Trong lịch sử Chính phủ các thời kỳ cho đến nay, có thời kỳ nào có được đông đảo các nhân sỹ trí thức lớn ngoài Đảng tham gia như Chính phủ cụ Hồ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 không? Tại sao bây giờ hễ là bộ trưởng nhất thiết cứ phải là uỷ viên Trung ương mà lại không phải là trí thức có đức có tài đúng với lĩnh vực phụ trách? Ngoài Đảng cũng được chứ sao?.. Tại sao bây giờ không chọn được người tài đức vào đúng chỗ đúng việc? Đảng ta bây giờ với 3 triệu đảng viên, nếu cứ 3 loại đi 2 yếu kém, Đảng vẫn còn được một triệu đảng viên có đủ phẩm chất, vẫn nhiều gấp 20 lần khi làm Cách Mạng Tháng Tám, nếu có đường lối đúng đắn, vẫn hoàn toàn có thể lãnh đạo thành công xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất dân chủ và giầu mạnh… Phải học Bác như thế từ trong lý tưởng, trong thực tiễn…

Trong nhiều buổi họp khác nhau, Anh Sáu còn nhắc đi nhắc lại: Tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do!”, tinh thần “độc lập tự chủ và sáng tạo” thì phải học Bác suốt đời!.. Anh nhấn mạnh: Cứ khi nào không thấm nhuần hai điều cốt yếu này, là cách mạng y như gặp khó khăn, là y như phát sinh nhiều vấn đề…

Có thể nói qua những buổi trao đổi như thế, hầu như bao giờ cũng sôi nổi, chúng tôi chẳng những hiểu thêm Anh Sáu học tập Bác Hồ như thế nào, mà còn hiểu rõ được cái chất “Sáu Dân” của người đảng viên Võ Văn Kiệt, nhất là trong tình hình ngày nay cái tính đảng chân chính trong con người đảng viên, trong bản chất và đường lối chính sách của Đảng hình như rất ít được nói tới, được coi trọng mỗi khi bàn về Đảng, về xây dựng Đảng.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thực là người hiểu sâu sắc Bác Hồ, nêu một tấm gương sáng về học tập tư tưởng và đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh, xứng đáng là học trò xuất sắc của Người.
Hà Nội, 19-05-2010

—–

[1] Những câu chuyện này diễn ra vào lúc Anh Sáu và chúng tôi có nhiều cuộc thảo luận đánh giá lại lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám, với mục đích tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đổi mới Đảng cho phù hợp với đòi hỏi của giai đoạn cách mạng hiện tại. Trong những cuộc thảo luận như thế, chúng tôi đụng chạm tới nhiều sự kiện phức tạp: Cách ứng xử với các đảng phái và các nhân vật chính trị khác chính kiến và đối lập, đối phó với những lực lượng chống phá Cách mạng Tháng Tám và Tầu Tưởng, việc Bác chủ động đề nghị Việt Nam đứng trong khối Liên hiệp Pháp trong quá trình thương lượng không thành với Pháp, việc Bác quyết định nhất thời giải tán Đảng để tránh né những đòn chí mạng đánh vào nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời trứng nước, việc Bác chủ động cho tiến hành chủ trương tìm cách thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, các hòa hoãn chính trị nhằm tranh thủ thời gian tối thiểu chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến chống Pháp, việc Bác phát động toàn quốc kháng chiến chống Mỹ xâm lược trong bối cảnh phe xã hội chủ nghĩa rạn nứt và chia rẽ ngày càng sâu sắc… Vân vân…

Nguồn tin: Vietnamnet.vn

thanhnienphuockien.com

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ

(VTC News) – Những bức ảnh Bác Hồ với công nhân, thiếu nhi, khách quốc tế… được nhà báo Mai Nam – một trong những nhiếp ảnh gia có nhiều bức hình đẹp và độc nhất về Bác Hồ ghi lại.

Hơn 40 năm làm phóng viên ảnh báo Tiền Phong, nhà báo Mai Nam đã có nhiều bức hình đẹp và sinh động về cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân ta. Ông cũng là một trong những nhiếp ảnh gia có nhiều bức hình đẹp và độc nhất về Bác Hồ.

VTC News xin giới thiệu một số bức ảnh trong tổng số 200 bức ảnh mà nhà báo lão thành này đã chụp Bác Hồ trong suốt cuộc đời:

Xem thêm ảnh lớn, đẹp về Bác Hồ ở đây:

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác HồBác Hồ và các cháu thiếu nhi đón khách quốc tế tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác HồBác Hồ với các trí thức Cách mạng là Đại biểu Quốc hội.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Hồ Chủ tịch nói chuyện với các học viên trường Nguyễn Ái Quốc năm 1963.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác HồHồ Chủ tịch bắt tay Tổng thống Ghine, ông Secuture tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Hồ Chủ tịch, Thủ tướng Phạm Văn Đồng (bên trái), cùng Đại tướng
Võ Nguyên Giáp duyệt đội danh dự của quân đội Việt Nam, trước khi lên đường
đi thăm các nước XHCN năm 1957.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Bác Hồ với các đại biểu Đại hội Đoàn Toàn quốc lần thứ III, năm 1963.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Thiếu nhi Hà Nội chào mừng Bác Hồ đến bỏ phiếu Quốc hội khóa II, năm 1960

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Bác Hồ thăm các gia đình công nhân trường cán bộ công đoàn, năm 1961

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Nhân dân Thủ đô chào mừng Hồ Chủ tịch và Chủ tịch nước Trung Hoa,
ông Lưu Thiếu Kỳ đến thăm Việt Nam.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Bác Hồ cấy thử máy cấy tại trại thí nghiệm của thanh niên ở huyện Gia Lâm,
Hà Nội, năm 1960.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Bác Hồ nói chuyện với nhân dân thôn Lỗ Kê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh,
Hà Nội, năm 1964.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Bác Hồ xem các cháu thiếu nhi bơi tại bể bơi quận Ba Đình, Hà Nội, năm 1962.

Xem thêm ảnh lớn, đẹp về Bác Hồ ở đây:

Nhà báo Mai Nam tên thật là Nguyễn Hữu Thống, sinh năm 1931 tại Bắc Ninh. Ông từng công tác tại Ban Tuyên huấn, Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc. Năm 1953 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1954 ông làm ở báo Tiền Phong cho đến năm 1994 thì nghỉ hưu.

Trong cuộc đời làm báo của mình, Mai Nam đã chụp hơn 200 tấm ảnh về Bác Hồ. Ông bảo, được chụp ảnh một lãnh tụ như Bác là một vinh dự lớn cho những người làm báo như ông.“

Hồ Chủ tịch có một phong thái rất đặc biệt. Bác hay hỏi han sức khỏe mọi người, hay ôm hôn và cho kẹo các cháu nhỏ…Ở Bác Hồ toát lên tình yêu bao la với quần chúng mà những bức ảnh dù chụp thế nào cũng không thể hiện hết được điều đó” – nhà báo Mai Nam nhớ lại.

Hoàng Lan
(Ảnh chụp lại từ bộ ảnh của nhà báo Mai Nam)

vtc.vn

Nhớ Bác, trong mỗi việc làm

Dẫu bận trăm điều quốc kế, dân sinh, Bác Hồ vẫn luôn dành thời gian đến thăm và chỉ đạo các địa phương. Sáng ngày 6 tháng 4 năm 1961, ngày vinh dự, tự hào và thật đáng nhớ của nhân dân Bắc Giang, Bác Hồ về thăm và nói chuyện với ba vạn người tại sân vận động thị xã.

Bây giờ, những người may mắn được chứng kiến buổi gặp gỡ thân thiết và trang trọng ấy nay đã ở bậc cao niên. Nhưng với họ, được nghe Bác căn dặn là những lời luôn thấm thía nhắc nhở suốt cuộc đời. Thân thiết, cởi mở, Bác căn dặn việc xây dựng Đảng, chính quyền, phát triển kinh tế, chăm lo thế hệ trẻ… sao cho Bắc Giang vững vàng về kinh tế, phát triển văn hoá – xã hội ổn định. Bác đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng và nhắc nhở: “Đảng ta là đảng lãnh đạo cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân, đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì vậy, cán bộ và đảng viên phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đày tớ hết sức trung thành với nhân dân”. Trước đó, Người đã từng căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải coi việc nước, phụng sự nhân dân là trước hết và trên hết. Trong cuộc sống của mình, Người luôn làm gương cho việc hy sinh quyền lợi cá nhân, gia đình vì sự nghiệp lớn của dân tộc.

Trong bối cảnh năm đầu của thập niên sáu mươi thế kỷ trước, khi chuẩn bị bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất có nhiều vấn đề đặt ra sau khi cải tạo kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, riêng với Bắc Giang, Bác còn căn dặn: “cán bộ phải thật sự đoàn kết, nhất trí, phải đi sâu, đi sát, phải lãnh đạo thiết thực và toàn diện. Phải chống tư tưởng bảo thủ, chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chống lãng phí, tham ô”, “một điểm quan trọng nữa là cần phải củng cố tốt và phát triển tốt các chi bộ Đảng và các chi đoàn thanh niên”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ luôn được Bác coi trọng. Trong thực tế lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước ngay sau khi nước nhà độc lập, Bác đã khẳng định: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết phải có nhân tài. Trong số hai mươi triệu đồng bào không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiến năng, các địa phương cần phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết”.

Bàn sâu về công tác tuyển dụng, đào tạo và sử dụng cán bộ, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10 – 1947), khi nói về việc dạy cán bộ và dùng cán bộ, Bác luôn quan tâm đến vấn đề đào tạo, quy hoạch thay thế cán bộ và coi đó là một tất yếu. Bác viết: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, Đảng ta phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Nhấn mạnh tính chiến đấu trong Đảng, lường trước sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ và việc đào tạo cán bộ thay thế, Người viết: “Đảng ta là một đoàn thể đấu tranh. Trong cuộc tranh đấu thường hao tổn một số cán bộ quý báu. Vì vậy chúng ta càng phải quý cán bộ, phải bổ sung cán bộ, phải giữ gìn cán bộ cũ và đào tạo cán bộ mới”. Bác biết rằng: “Trong Đảng ta có những nơi thường dùng những người văn hay, nói khéo, nhưng không làm được việc, không ra tranh đấu. Mà những đồng chí viết không hay, nói không thạo nhưng rất trung thành, hăng hái, rất gần gũi quần chúng, thì bị dìm xuống. Chúng ta phải sửa chữa ngay quan điểm đó”. Tuy nhiên, khi nói đến chính sách cán bộ và việc tạo điều kiện cho họ phấn đấu hết mình, Bác yêu cầu: “Phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Khi họ đau ốm phải có thuốc thang. Tuỳ theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đề gia đình. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ và sự đoàn kết thân ái trong Đảng. Không phải vài ba tháng , vài ba năm mà đào tạo được một người cán bộ tốt… Phải thương yêu cán bộ giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm”. Khi dùng cán bộ phải hiểu rằng: “Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay, vì vậy chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ”. Những dòng Di chúc cuối cùng để lại, Bác vẫn nhắc nhở “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ (đoàn viên thanh niên), đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Từ đó, qua nhiều kế hoạch 5 năm, qua nhiều nhiệm kỳ đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, cán bộ và nhân dân trong tỉnh đã đẩy năng suất cây trồng, vật nuôi lên từng bước vững chắc, tự túc được lương thực thực phẩm và sản xuất được hàng hoá xuất khẩu. Với Bác Hồ, nhân đạo tức là phải chống thứ giặc nghèo nàn – cội nguồn của những tệ nạn xã hội, suy dinh dưỡng, bệnh tật, kém văn hoá – giáo dục, suy thoái thể chất, tinh thần và nhân cách. Bởi vậy Bác khát khao cho mọi người “ngày càng tiến bộ lên, càng ngày càng giầu có”. Lời Người căn dặn năm nào, bây giờ đang được lớp lớp con cháu chứng minh bằng thực tế sinh động. Dẫu còn những gia đình phải đương đầu vật lộn trong cuộc sống khó khăn nhưng những thành tựu về giáo dục, y tế, văn hoá và một số lĩnh vực trên địa bàn tỉnh đã có những bước tăng trưởng đáng mừng. Cán bộ, nhân dân Bắc Giang đã có thể báo công dâng Bác những gì đã làm được trong bốn chục năm làm theo Di chúc của Người và hơn hai năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Lan Hương – BGO

sites.google.com

Hồ Chí Minh – Chân dung một con người

Xem phần một: Hồ Chí Minh – Chân dung một con người

Ở Paris có bức tường “Những người làm nên thế kỷ 20″ (Ils ont fait le XX Siecle) có nụ cười Bác Hồ ở đây, giữa những trí tuệ, những tâm hồn lớn ở thời đại chúng ta. Trong một thế giới vẫn còn nhiều bạo ngược và lẫn lộn, đã có một cuộc đời Hồ Chí Minh, một con người Hồ Chí Minh.

Người ta có thể gọi Bác bằng nhiều cách khác nhau: 1 vị lãnh tụ, 1 người cộng sản chân chính, 1 tâm hồn và trí tuệ lớn lao, 1 con người của những quyết định lịch sử; nhưng trên hết thảy, Hồ Chí Minh là 1 người con yêu nước vĩ đại đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Ngày 19 tháng 5 năm 1890, cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời tại quê ngoại làng Chùa, Nam Đàn, Nghệ An. 500 năm trước, chúng ta có người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. 500 năm sau, theo đúng lời sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:“Đụn Sơn phân giải, Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh”, chúng ta có Hồ Chí Minh.

Tuổi thơ của cậu bé Cung đã chứng kiến kiếp sống nô lệ lầm than của dân tộc dưới nhiều tầng áp bức. Ngày vua Thành Thái bị thực dân Pháp bắt đi đầy, vua đã khẳng khái: “Muôn dân nô lệ từng đàn. Vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta”. Khi đó Nguyễn Sinh Cung đang ở Huế cùng cha, trước cảnh đó, cậu đã cúi mặt xuống để không rơi lệ; nhưng cha cậu – nhà Nho yêu nước Nguyễn Sinh Sắc đã nhắc cậu ngẩng mặt lên nhìn để không quên thù nhà nợ nước vẫn còn chưa trả xong. Từ đó cho đến mấy chục năm về sau, người thanh niên yêu nước đó không bao giờ cúi mặt nữa, không bao giờ chịu khuất phục trước bất kỳ sức mạnh nào; kể cả sau này là Nguyễn Tất ThànhNguyễn Ái QuốcVăn BaLý ThuỵHồ QuangBác Hồ, hay Hồ Chí Minh.

Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Nhà Rồng với đôi bàn tay trắng. Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Pháp. Rồi anh sang Liên Xô để hoạt động cách mạng Quốc tế. Năm 1924, Lý Thụy sang Trung Quốc, thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội ở Quảng Châu, đồng thời viết cuốn Đường kách mệnh.

Sau 30 năm bôn ba, đến năm 1941, Người trở về Việt Nam, thành lập Mặt trận Việt Minh, từ đây Người là Hồ Chí Minh, trực tiếp lãnh đạo Đảng Cộng Sản Đông Dương và phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Bác viết:

Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài, nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta.

Năm 1946, trong lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, Người khẳng định:

Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ.

Bằng niềm tin sắt đá và nhiệt huyết của mình, Người đã nêu gương sáng của 1 người Việt Nam sống có lý tưởng:

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Trí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập, nhất định thành công.

Cuộc đời Bác còn có gì đặc biệt ? Trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tùng, Bác đã tự nhận là người không có gia đình và không có con nhưng “gia đình tôi là Việt Nam, con cái tôi là các thanh niên Việt Nam”. Hiếm có vị lãnh tụ nào nếm mật nằm gai chịu khổ cùng quân dân trong những năm kháng chiến, rồi lại sát cánh cùng cả nước dựng xây trong những năm hòa bình như Hồ Chí Minh đã làm. Cho dù không phải tất cả đều diễn ra như mong muốn  Trước những sai lầm nặng nề trong cải cách ruộng đất bởi tính giáo điều bảo thủ và áp đặt cộng sản, Bác đã khóc nhận trách nhiệm và tự phê bình trước toàn dân:

Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận những khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có, và tìm mọi cách sửa chữa những khuyết điểm đó, như thế mới là một đảng mạnh dạn, chắc chắn, và chân chính.

Những năm sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ bị phá vỡ, đất nước bị chia cắt, lại phải lo thù trong giặc ngoài; một mặt là sự đánh phá khốc liệt của đế quốc Mỹ tại miền Bắc Việt Nam, một mặt là sự chống Cộng điên cuồng của chính quyền tay sai miền Nam Việt Nam; dân tộc ta vẫn kiên cường đi theo con đường đã vạch ra, đấu tranh không mệt mỏi giữa một bên là sức mạnh vật chất kinh khủng và mù quáng với một bên là sự lựa chọn trí tuệ và tình thương của từng con người. Trong những lúc cam go khó khăn nhất đó, Người vẫn vững một niềm tin, bởi đến ngày thống nhất, chúng ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Thế giới đánh giá ra sao về vị Chủ tịch nước này ? Họa sĩ Thụy Điển Eric Johansonnói về Nguyễn Ái Quốc:

Đó là một con người kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, một con người uyên bác.

Còn nhà thơ Xô Viết Oxit Măngđenstand đã viết:

Cả khuôn mặt Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và tế nhị, từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải nền văn hóa ở châu Âu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai. Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bỉển lặng của nền hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương.

Tạp chí TIME đánh giá Bác là 1 trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ 20.

Cuộc sống riêng của Người cũng có nhiều điểm đáng nói. Quê hương nghĩa nặng tình sâu, nhưng cả một đời vì nước vì non, cho đến khi luống tuổi, Bác mới chỉ kịp về thăm quê đôi lần. Trong dịp đi thăm quê Bác năm ngoái, người viết có được nghe hướng dẫn viên khu di tích kể lại rằng khi nhà nước có ý định trùng tu lại khu di tích này có đặt cổng ở phía vườn; lúc Bác về thăm mới chỉ rằng xưa kia cổng nhà Bác nằm ở phía này, khung cửi cũ của mẹ Bác – bà Hoàng Thị Loan – đặt ở phía kia. Vậy là suốt mấy chục năm bôn ba, cậu bé Cung vẫn nhớ như in những hình ảnh ngôi nhà nhỏ của ông Phó bảng đã nuôi dưỡng tâm hồn Người ngày nào.

Trong thư gửi anh cả Nguyễn Sinh Khiêm, Bác viết:

vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc Anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc Anh tạ thế, tôi không thể lo việc. Than ôi! Tôi chịu tội bất đễ trước linh hồn Anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước.

Thân sinh Bác, cụ Nguyễn Sinh Sắc, mất tại miền Nam, Bác còn chưa đến thăm được.

Tuổi xế chiều, Bác Hồ đã về sống ở đây, đúng như mong muốn của Người được sống trong ngôi nhà nhỏ, có vườn cây, ao cá, sớm chiều bầu bạn với các cụ già em nhỏ, xa lánh vòng danh lợi. Cuộc sống vật chất của Người chỉ nhỏ bé vậy thôi, trái ngược với ham muốn to lớn của Người:

Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

Xin mượn câu nói của đồng chí Lê Duẩn thay cho lời kết bài: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, và non sông đất nước ta.”

Trong phòng riêng của người viết có treo 1 tấm ảnh “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” như một lời nhắc nhở noi theo tấm gương của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, với niềm tự hào được làm một người con đất Việt – Trên ngực áo này không một tấm huân chương, và sau làn vải ngực áo này có một trái tim.

Nhân ngày này, xin được viết đôi dòng gửi đến Bác tình cảm kính yêu chân thành nhất. Chúc mừng 19 tháng 5 với 2 mốc son chói lọi: 1890 và 1983, chúc mừng sinh nhật Hồ Chủ Tịch

———–

Bài viết có sử dụng tư liệu:

  • Phim “Hồ Chí Minh – Chân dung một con người”
  • Phim “Việt Nam – Cuộc chiến mười nghìn ngày”
  • Chuyên đề “Bác Hồ kính yêu
  • Truyện “Bác Hồ viết di chúc” (Vũ Kỳ)

sites.google.com

Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn

Người Chánh Văn phòng Khu giải phóng Tân Trào ngày ấy là cụ bà Trần Thị Minh Châu, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, Cục trưởng Cục Xuất bản Bộ Văn hóa… năm nay 88 tuổi đời, 70 tuổi Đảng. Chiều 19/8, đúng kỷ niệm 65 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám, tôi đến thăm cụ.

Có thể nói rằng, cụ bà Trần Thị Minh Châu là một nhà báo lão thành, vì cụ từng tham gia viết Báo Đảng bí mật từ thời kỳ Mặt trận Bình dân năm 1939 với các đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư Trường Chinh, đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Đào Duy Kỳ… Rồi sau đó cụ là người phụ trách (như tổng biên tập bây giờ) tờ Báo Bãi Sậy ở Hưng Yên (cùng nhà văn Học Phi)… Những năm gần đây, cụ vẫn viết báo, viết sách. Còn bây giờ: “Bà già rồi, yếu rồi, không còn viết nữa, chứ cũng có nhiều chuyện đáng để viết lắm đấy”. Tôi xin cụ kể cho nghe những kỷ niệm ở Tân Trào ngày cụ làm Chánh Văn phòng Khu giải phóng. Cụ Trần Thị Minh Châu hồi tưởng…

Cho tôi gặp đồng chí Chi

Tháng 4 năm 1945, đang công tác tại Võ Nhai – Đình Cả (Thái Nguyên), sau khi chỉ huy Cứu Quốc quân đánh thắng thực dân Pháp liên tiếp ở Tràng Xá, La Hiên và Đình Cả thì có quyết định của cấp trên điều tôi về Tân Trào nhận nhiệm vụ mới.

Sau nhiều ngày trèo đèo lội suối, tôi đã đến được Tân Trào thuộc châu Tự Do (Sơn Dương – Tuyên Quang) Thủ đô cách mạng. Tại Tân Trào đã thành lập Ủy ban khu giải phóng Trung ương lâm thời gồm sáu tỉnh: Cao Bằng – Bắc Kạn – Lạng Sơn – Hà Giang – Tuyên Quang – Thái Nguyên do đồng chí Tống (Phạm Văn Đồng) làm Chủ tịch, đồng chí Hưng (Võ Nguyên Giáp) làm Ủy viên Thường trực. Cạnh nhà của Ủy ban khu giải phóng Trung ương có hai đơn vị là Ban quản lý do đồng chí Lý (Hoàng Hữu Kháng) phụ trách và Văn phòng, khi tôi về liền được cử phụ trách, lấy bí danh là Chi.

Một hôm có một đồng chí lên Tân Trào vào Văn phòng đề nghị: Cho tôi gặp đồng chí Chi. Vâng, mời anh vào. Ông ấy cứ loay hoay mãi: Tôi có việc cần lắm, chị cho tôi gặp đồng chí Chi ngay, càng sớm càng tốt. Tôi chỉ muốn gặp đồng chí Chi để giải quyết công việc này, xong tôi phải về ngay. Lúc bấy giờ buồn cười, tại sao mình không nói tôi là Chi đây, lại cứ vâng mời anh vào làm việc.

Thấy khách cứ băn khoăn đi ra đi vô, cậu Nguyễn Chính (tức Du Phong) đang ngồi đánh máy ở phòng trong, chạy ra bảo: Thì đồng chí Chi là đồng chí này chứ còn ai nữa mà từ nãy giờ cứ lằng nhằng mãi. Ông kia ngạc nhiên, chị là đồng chí Chi à? Vâng, tôi là Chi. Ngồi làm việc một lúc lâu, đến khi xong việc, ông ấy đứng lên bảo: Tôi xin lỗi chị, tôi tưởng Chi là anh Chi. Tôi bảo có gì đâu mà phải xin lỗi.

Thì ra, các tỉnh trong vùng giải phóng nhận được công văn từ Văn phòng Khu giải phóng, lại nghe nói người phụ trách Văn phòng là đồng chí Chính trị viên Cứu Quốc quân từng chỉ huy đánh thắng quân Pháp ở Võ Nhai. Họ cứ yên chí đây là một nam giới nên rất bất ngờ khi thấy đó là một cô gái trẻ đẹp mới 23 tuổi.

Chiếc áo Bác Hồ

Thời gian ở Tân Trào, tôi cùng anh em được xếp ở nhà ông Tiến Sự là một già bản có uy tín nhất làng Kim Long. Hằng ngày, tôi được anh em và đồng bào kể nhiều chuyện về “Ông Ké” người dong dỏng cao, quắc thước, nhanh nhẹn, đặc biệt ông có đôi mắt rất sáng, rất tinh anh. “Ông Ké” mới về đây được vài tháng đã dựng lán bên lưng núi Nà Lừa để ở và làm việc. Nhưng ông luôn quan tâm đến đồng bào nên được đồng bào vô cùng quý mến.

Phải hơn một tháng sau khi tôi đến Tân Trào công tác, đồng chí Lê Giản mới “bật mí” cho tôi biết “Ông Ké” chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, là Cụ Hồ Chí Minh.

Với anh em phục vụ, “Ông Ké” luôn gần gũi và quan tâm. Lúc đó bên cạnh lán của Bác còn có lán điện đài liên lạc với quân Đồng Minh do một số người Mỹ trong nhóm tình báo “Con Nai” của OSS làm việc. Mỗi lần đi công tác với các bạn Mỹ về, bao giờ Bác cũng có quà, dù món quà rất đơn giản, cho mọi người, nhưng đó là thể hiện tấm lòng của Bác.

Có một kỷ niệm tôi không bao giờ quên trong cuộc đời của mình. Một hôm, Bác được các bạn người Mỹ tặng chiếc áo bludông để mặc vào mùa đông giá rét. Bác không dùng cho riêng mình mà đem ra cho anh em. Nhưng cơ quan Ủy ban Giải phóng rất đông người nên Bác bảo hãy bắt thăm để cho công bằng. Thấy tôi ngồi im lặng không tham gia, Bác bảo tôi cũng phải bắt thăm. Tôi giãy nảy vì người tôi bé nhỏ, còn cái áo thì vừa to vừa rộng thùng thình làm sao tôi mặc được. Bác ôn tồn nói: “Cô vẫn phải tham gia bắt thăm, không phân biệt nam nữ”. Cuối cùng tôi lại chính là người bắt trúng, cái áo thuộc về tôi. Lúc đó Bác mới nhẹ nhàng: “Bác không tặng cái áo này cho cô Chi đâu. Cô giữ lấy đến khi nào chú ấy ở ngoài Côn Đảo về thì để chú ấy mặc”.

Tôi sửng sốt quá vì chưa bao giờ tôi thấy Bác hỏi về hoàn cảnh gia đình tôi. Vậy mà Bác biết rõ anh Đào Duy Kỳ, chồng tôi, đang ở nhà tù Côn Đảo. Tôi cảm động quá không cầm nổi nước mắt, nước mắt cứ nhạt nhòa. Tôi thấy tấm lòng của Bác thật mênh mông. Đó là tấm lòng của người cha vô cùng tôn kính, vô cùng thân thương, luôn luôn lo lắng, chăm sóc hết mực cho con cái. Từ đó, đi đâu tôi cũng mang chiếc áo theo bên người.

Hà Nội tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Bác và các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn… về Hà Nội. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Lê Giản… và tôi được Bác giao nhiệm vụ vẫn tiếp tục ở lại xây dựng và củng cố căn cứ Việt Bắc.

Cuối tháng 9/1945, trước yêu cầu mới của cách mạng, chúng tôi lần lượt về Hà Nội nhận nhiệm vụ. Đồng chí Phạm Văn Đồng làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, đồng chí Lê Giản làm Giám đốc Nha Công an Trung ương. Tôi tham gia phong trào Nam tiến, cùng đoàn với đồng chí Lê Đức Thọ, để có điều kiện sớm gặp anh Đào Duy Kỳ vừa được đón từ Côn Đảo về đất liền.

Bà Trần Thị Minh Châu (thứ 3, từ phải qua) và Đội Du kích Võ Nhai.

Bác Hồ và những người lính Mỹ (0SS)

Cũng trong khi ấy người Mỹ muốn xâm nhập Đông Dương để ngăn chặn sự tấn công của Nhật ở phía Nam Trung Quốc và Đông Dương. Họ gặp phải nhiều khó khăn, nên cũng cần tìm một đối tác hợp lý để nhanh chóng vào sâu Đông Dương.

Một sự kiện tình cờ đã đến – một máy bay của Mỹ bị trúng đạn Nhật, phi công đã nhảy dù xuống vùng núi gần thị xã Cao Bằng – được Việt Minh cứu.

Bác Hồ đã lệnh phải bảo vệ an toàn và bí mật đưa về gặp Bác. Người phi công ấy là Trung úy Sao (William Shaw).

Bác Hồ đã gặp Sao nói chuyện chân tình. Quà tặng cho Sao là một tấm lụa trắng thêu dòng chữ tiếng Anh “Chúc mừng khách đến”, một tấm vải đỏ có chữ ký của nhiều hội viên Mặt trận Việt Minh ủng hộ Đồng Minh chống phát xít.

Bác Hồ còn tặng Sao một bản dịch tiếng Anh toàn văn bản Chương trình Việt Minh rồi cho người đưa Sao về Côn Minh. Sao đã báo cáo tất cả những gì tai nghe mắt thấy, tất cả sự chăm sóc bảo vệ của Việt Minh cho tướng Sê-nô (Claire L. Chernault).

Sau đó không lâu, Bác Hồ với danh nghĩa là phái đoàn của Việt Nam độc lập đồng minh sang đàm phán với Mỹ – Đồng minh về hợp tác đánh Nhật, đã gặp được tướng Sê-nô. Qua sự phản ánh của Trung úy Sao – qua tình báo riêng của Bộ Tư lệnh – và cũng qua sự tiếp xúc với Bác Hồ, người Mỹ rất vui mừng vì đã nhận được những thông tin hết sức quan trọng về quân Nhật trên lãnh thổ Đông Dương. Ngoài ra Việt Minh còn giúp đỡ cứu trợ những phi công Mỹ bị nạn và những gì mà Đồng minh yêu cầu.

Về phía Việt Minh, Bác Hồ chỉ mong muốn Mỹ giúp đỡ vũ khí, điện đài và giúp đào tạo cán bộ, nhân viên sử dụng vũ khí, điện đài.

Tướng Sê-nô đã tin cậy đáp ứng mọi yêu cầu của Bác Hồ.

Khi trở về Việt Nam, theo Bác có hai người Mỹ cùng đi. Họ trở thành những người Mỹ đầu tiên có mặt ở Khu giải phóng Việt Nam. Họ có nhiệm vụ đón tiếp những người Mỹ khác sẽ lần lượt đến.

Trong chuyến đi này, Bác giành được hai mục đích: Một là đã gây được thiện cảm với Mỹ – Đồng minh, tranh thủ được sự giúp đỡ của Mỹ – được Mỹ công nhận vai trò của Việt Nam trong sự hợp tác đánh Nhật. Hai là đã tạo được thế vững chắc cho cách mạng Việt Nam bên cạnh người bạn láng giềng Trung Quốc.

Vào lúc 16h ngày 16/7/1945, chúng tôi đón đoàn phi công nhảy dù xuống Tân Trào gồm 6 người do Thiếu tá Tô-mát chỉ huy.

Để chuẩn bị tiếp đoàn Mỹ, Bác Hồ bảo chúng tôi phải làm một bữa tiệc mừng.

Chúng tôi lại chụm đầu vào bàn bạc: Khó quá, ở giữa rừng này làm gì có thực phẩm, bát đĩa cũng không. Cũng chẳng ai biết nấu cơm tây, lại còn tiệc tây nữa.

Biết nỗi lo của chúng tôi nên Bác nói:

– Các chú, các cô bí rồi phải không? Vậy hãy cho người sang Định Hoá nhờ Chủ tịch Chanh mua giúp cho con bê – đem về thui chín vàng, để cả con nằm trên chõng tre. Hai bên làm dẫy ghế ngồi cũng bằng tre nứa. Sắp mỗi người một con dao (người Mỹ đã sẵn có dao và nĩa). Có đĩa muối, đĩa gừng, có rượu do đồng bào tự nấu, uống bằng bát to. Mọi người tự do thích ăn chỗ nào thì tự cắt lấy.

Chúng tôi nhìn nhau ngần ngừ. Bác như đã hiểu, Người giải thích luôn: “Không có gì ngại cả – kể cả Tây và ta, không phải ai cũng được ăn một bữa tiệc dân dã trong rừng đâu. Cứ làm đi, để rồi xem họ có thích không? Còn thú vị lắm nữa kia!”.

Quả là sau đó, đoàn Mỹ rất hài lòng, mừng rỡ lắm. Chúng tôi lại thì thầm với nhau:

– Đúng là Bác không chỉ rành việc lớn mà thạo cả việc nhỏ, mọi việc đều chu đáo!

Đoàn Mỹ sang Việt Nam chỉ mang theo lương khô. Bác lại bàn phải lo thực phẩm tươi sống cho họ. Mỹ bây giờ là đồng minh, là bạn của mình, nên phải chăm lo sức khỏe cho họ, không để họ sống thiếu thốn, kham khổ như mình.

Ủy ban Khu giải phóng đóng ở Tân Trào, nhân dân huyện Sơn Dương vốn rất nghèo. Chúng tôi phải sang huyện Định Hóa bàn với Chủ tịch Chanh. Đồng chí Chanh nhận lời ngay và cử hai hội viên là Nguyễn Văn Sách và Ma Văn Bầu lo việc này.

Từ đấy cứ cách hai ba ngày có một đoàn người vừa gánh vừa khiêng những đậu, thịt, rau, trứng, măng từ Định Hóa sang… Họ phải leo qua đèo De, luồn rừng trên 20 cây số mới đến được Tân Trào. Các bạn Mỹ thích ăn thịt thú rừng nên có khi được cả một con dê, hay có lần một con nai còn nguyên cặp lộc nhung mềm.

Có mấy tháng liền nhân dân Định Hóa tiếp tế cho cả Khu giải phóng, trong khi ấy gia đình con cái họ chỉ ăn con cá, con ốc bắt được ở suối với lọ măng ngâm ớt.

Đồng bào nói: Mình nuôi bạn Mỹ để Mỹ cùng Bộ đội Cụ Hồ đánh Tây, đuổi Nhật, nước Việt Nam được độc lập tự do, mình sẽ được ấm no.

Trước khi Bác về Hà Nội, Bác lại dặn chúng tôi:

– Ta chẳng có tiền, cũng chẳng có vật gì kỷ niệm cho đồng bào. Có đống dù của Mỹ, các cô chịu khó tháo từng ô đem biếu đồng bào. Tính theo đầu người, mỗi người một mảnh. Đồng bào có thể cắt may áo, may chăn.

Nhận được món quà nhỏ từ những tấm vải dù nhân dân rất là phấn khởi.

Đồng bào Sơn Dương, Định Hóa, cũng như mọi người dân Việt Nam đã có tập quán nuôi quân, khi còn là du kích, dân quân tự vệ. Nhân dân không chỉ nuôi ăn mà còn mang cả quần áo, lo giày dép, thuốc men. Không bao giờ nhân dân đòi thanh toán. Họ nói: Con cái góp cho cách mạng còn được, thì tài sản của dân cũng là của cách mạng, của nước nhà

Kiều Mai Sơn

cand.com.vn

Ký ức của những người con Tây Nguyên được gặp Bác Hồ

Lúc sinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm và dành nhiều tình cảm thân thương đối với đồng bào Tây Nguyên. Trong những năm tháng chiến tranh, nhiều người con Tây Nguyên ra miền Bắc học tập, lao động và chiến đấu đã vinh dự được gặp Bác Hồ. Được gặp Bác, được Bác khuyên dạy những điều hay, lẽ phải là niềm vinh dự to lớn và trở thành kí ức gắn bó mãi mãi với cuộc đời của mỗi người con Tây Nguyên…

Vinh dự được gặp Bác Hồ

Ở Tây Nguyên cùng với Anh hùng Núp, trong kí ức của những người con ưu tú ở Tây Nguyên được gặp Bác Hồ hôm nay còn sống, ai ai cũng bồi hồi nhớ Bác. Một trong những người cán bộ cách mạng đầu tiên ở Tây Nguyên hiện đang sống ở Pleiku là ông KSor Ní, năm nay đã bước sang tuổi 87.

Tháng 8/1945 sau khi đón đại diện của Việt Minh về tiếp nhận chính quyền tại Pleiku, ông KSor Ní cùng với bạn bè, những người thanh niên yêu nước về quê tổ chức khởi nghĩa, bao vây huyện lỵ Cheo Reo, buộc chính quyền tay sai thân Nhật phải hạ vũ khí đầu hàng. Trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước ta năm 1946, ông KSor Ní được bầu là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai khoá I.

Tháng 5 năm 1946, ông ra Hà Nội dự Đại hội Thanh niên các dân tộc Việt Nam và lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Nhớ lần ấy, chàng thanh niên Jơ Rai trẻ tuổi KSor Ní đứng giữa phố Hà Nội tình cờ nghe đài Pháp đưa tin không đúng sự thật rằng: “Pháp đã chiếm được Tây Kỳ (Tây Nguyên) và nhân dân Tây Kỳ vui khi thấy quân Pháp trở lại”.

Nghe những lời tuyên truyền sai sự thật ấy, KSor Ní tức giận không sao chịu được và ông đã lập tức viết bài báo bằng tiếng Pháp, phản đối lại những luận điệu xuyên tạc ấy của Pháp và kêu gọi nhân dân Tây Kỳ đoàn kết để đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước Việt Nam. Khi bài báo đăng trên tờ “Le Peuple” (Nhân Dân), Bác Hồ đã đọc và cho người mời KSor Ní cùng Y Ngông Niek Đam (Thường trực Quốc hội khóa I) đến gặp Bác.

Nhận được giấy mời của Bác, cả KSor Ní và Y Ngông vừa mừng nhưng cũng vừa lo vì không biết Bác mời gặp có chuyện gì. KSor Ní kể rằng, khi gặp Bác ở phòng làm việc, Bác thân mật hỏi thăm sức khỏe và tình hình ở Tây Kỳ nên anh em cảm thấy rất gần gũi. Tại buổi gặp gỡ đầu tiên ấy, Bác Hồ đã căn dặn, chúng ta phải đoàn kết đánh Pháp mới bảo vệ được nền độc lập. Bác xoè bàn tay và giải thích: “Một bàn tay hoàn chỉnh phải có năm ngón, thiếu một ngón là một bàn tay không hoàn chỉnh. Một ngón tay đau thì cả bàn tay cũng đau.

Các già làng dâng hoa Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Gia Lai-Kon Tum.

Cũng như cả nước Việt Nam độc lập thì Tây Kỳ phải được độc lập, vì Tây Kỳ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam”. Cuối buổi gặp gỡ, Bác đã căn dặn: “Các cháu phải cố gắng học tập và công tác tốt, đặng góp phần đánh thắng giặc Pháp, để Việt Nam mau giải phóng và được độc lập hoàn toàn”. Sau lần được gặp Bác Hồ, đồng chí KSor Ní trở về kể lại cho anh em đồng đội nghe và động viên đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng đi theo cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Hôm nay đã ở tuổi xế chiều, nhưng niềm hạnh phúc được gặp Bác Hồ vẫn mãi dâng trào với người cán bộ lão thành cách mạng KSor Ní. Ông luôn nhớ Bác, khắc ghi lời Bác dạy và luôn nhắc nhở các thế hệ con cháu: “Tây Nguyên là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của một nước Việt Nam thống nhất”.

Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn

Cùng với nhiều người con ưu tú của Tây Nguyên được gặp Bác Hồ, khắc ghi lời dạy của Bác Hồ, ông Nguyễn Văn Sỹ (Ksor Krơn), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai – Kon Tum, người đã trọn một đời sắt son với Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân đã xúc động mỗi khi nhắc đến những lần được gặp Bác Hồ.

Ông Ksor Krơn kể, cuộc đời mình từng hàng chục năm làm cách mạng nhưng không hề có lương, chỉ toàn là ăn cơm của dân, được nhân dân nuôi và che chở. Ý thức gần dân, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân trong con người Ksor Krơn là một minh chứng sinh động. Ông luôn sống và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại. Ông tâm sự, sau hơn 35 năm đất nước hoàn toàn thống nhất, cấp ủy Đảng và chính quyền ở các tỉnh Tây Nguyên từng ngày thực hiện theo lời dặn của Bác là làm sao cho đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Lời mong ước của Bác Hồ ngày càng đến được hiện thực với nhiều gia đình hơn ở Tây Nguyên. Đó là niềm hạnh phúc mà chúng ta đã thực hiện theo lời dạy của Bác.

Các già làng Tây Nguyên nghe đọc lại thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam.

Ông Ksor Krơn nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác Hồ trong một chuyến công tác thăm đập thủy lợi Bái Thượng (Thanh Hóa). Lúc về Bác dừng chân nói chuyện với nhân dân ở địa phương và có mời các sinh viên đến nghe, trong đó có Ksor Krơn. Bác nêu gương Anh hùng Lao động Trịnh Xuân Bái ở Thanh Hóa cho mọi người noi theo và dặn mọi người muốn làm được việc lớn phải đoàn kết phát huy trí tuệ, sức mạnh tập thể, noi gương sáng, bỏ đi những ý thức cá nhân hẹp hòi ích kỷ…

Lời dạy ấy của Bác là kim chỉ nam đã đi suốt cuộc đời làm cách mạng của ông Ksor Krơn. Hôm nay, luôn tâm huyết với những điều Bác dạy, ông Ksor Krơn nói: “Những người làm cách mạng mà không loại bỏ được sự cá nhân ích kỷ, không phát huy được cái mạnh vì lợi ích chung của nhân dân thì sẽ không tồn tại lâu được”.

Chính vì thế mà mỗi lần có dịp được tâm sự, nói chuyện với thế hệ cán bộ trẻ hôm nay ở Tây Nguyên, ông Ksor Krơn luôn khuyên mọi người phải nhớ và thực hiện theo những lời dạy tốt đẹp của Bác Hồ. Còn với nghệ sĩ nhân dân Y Brơm tham gia cách mạng khi mới tròn 12 tuổi. Chàng thanh niên của núi rừng Tây Nguyên được gặp Bác Hồ khi anh là diễn viên của đoàn văn công Tây Nguyên. Hồi ấy, Y Brơm được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để phục vụ khách quý của Bác.

Một lần vào tháng 5/1967, Y Brơm dựng vở “Múa Trống Tây Nguyên” để biểu diễn cho khách quốc tế xem. Trước khi đi biểu diễn nước ngoài, Bác Hồ đã xem và xúc động đứng dậy tặng hoa cho các nghệ sĩ biểu diễn. Xem xong vở diễn, Bác gọi Y Brơm đến bảo: “Cháu giỏi lắm, sau này về dạy lại cho bà con Tây Nguyên nhé!”. Y Brơm xúc động muốn khóc và khắc ghi mãi lời Bác dạy trong suốt cuộc đời mình. Đối với Y Brơm hình tượng Bác Hồ như một vị thần, mà theo tiếng địa phương gọi là Yàng. Những lời nói, việc làm của Bác đã trở thành động lực mạnh mẽ đối với cá nhân ông cũng như đồng bào Tây Nguyên, giữ vững khối đại đoàn kết, lao động, sáng tạo để xây dựng Tây Nguyên ngày càng giàu đẹp.

Nhớ lời Bác dạy, Nghệ sĩ Nhân dân Y Brơm suy nghĩ: phải học nhiều hơn, sáng tạo nhiều hơn về nghệ thuật gắn với đời sống văn hóa đồng bào Tây Nguyên để góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc ấy. Cũng chính từ sự lao động sáng tạo miệt mài mà Y Brơm là một trong 3 nghệ sĩ múa được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân đầu tiên ở Việt Nam (1984). Trong 140 tác phẩm đặc sắc của Y Brơm, có 40 tác phẩm được Nhà nước công nhận, trong đó có một chùm tác phẩm đạt Giải thưởng Nhà nước.

Sau giải phóng, về công tác ở quê hương, Y Brơm đã dành hết tình cảm, tâm huyết của mình cống hiến cho đồng bào Tây Nguyên yêu thương mà không bao giờ nghĩ đến việc phải được hưởng một chút gì về vật chất. Y Brơm quan niệm, chức quyền, giàu sang cũng chỉ là phù du, nhưng văn hóa đặc trưng của buôn làng Tây Nguyên thì mãi mãi trường tồn với thời gian và ông đã sống hết mình với nghệ thuật

Ngọc Như (Báo CAND Tết 2011)

cand.com.vn

Chuyện Bác Hồ đi bầu cử

Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: “Ai đến trước, bầu trước. Bác đến sau, Bác chờ”.

Chuyện Bác Hồ đi bầu cửNgày 8/5/1960, nhân dân và thanh thiếu niên Thủ đô Hà Nội chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bỏ phiếu bầu Quốc hội Khóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại phòng bỏ phiếu số 1, tại số nhà 67 phố Cửa Bắc, khu phố Ba Đình – Hà Nội. Ảnh: Mai Nam.
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong hoàn cảnh chính quyền non trẻ gặp muôn vàn khó khăn, cùng một lúc phải chống lại thù trong giặc ngoài và giặc đói giặc dốt, Bác Hồ vẫn đề nghị Chính phủ lâm thời tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

Tại cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên (Quốc hội khoá I) năm 1946,Thủ đô Hà Nội là nơi Bác Hồ ra ứng cử. Gần đến ngày bầu cử, có 118 vị là Chủ tịch Ủy ban Hành chính đã công bố một bản đề nghị “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi ủng hộ và suy tôn vĩnh viễn Cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.

Đây cũng là nguyện vọng của đông đảo nhân dân ta. Mặc dù vậy, Bác Hồ đã viết một bức thư ngắn cảm tạ đồng bào và đề nghị đồng bào cho Người thực hiện quyền và nghĩa vụ của người công dân.

Bức thư có đoạn viết: “Tôi là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nên tôi không thể vượt qua thể lệ của cuộc Tổng tuyển cử đã định”.

Trước ngày Tổng tuyển cử một hôm, tại khu Việt Nam học xá (Nay là khu vực Trường Đại học Bách Khoa, Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dự mít tinh của hơn hai vạn đồng bào Hà Nội ủng hộ cuộc bầu cử Quốc hội.

Tại cuộc mít tinh, Người nói: ” Làm việc bây giờ là hy sinh, là phấn đấu quên lợi ích riêng mà nghĩ lợi ích chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu”.

Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I, Người đã trúng cử với số phiếu rất cao. Khi kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khoá I tín nhiệm bầu vào vị trí Chủ tịch Chính phủ kháng chiến, Người phát biểu: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác, thì tôi phải gắng làm, cũng như mọi người lính vâng lệnh Quốc dân ra trước mặt trận”.

Đúng 14 năm sau, sáng 15/4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 12 Quốc hội khoá I. Sau khi nêu lên: “Quốc hội ta là Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam châu Á, cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do”.

Là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Quốc hội khoá I đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ cộng hòa. Do điều kiện đất nước bị chia cắt, nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khoá I kéo dài từ tháng 1/1946 đến tháng 5/1960.

Thông qua 12 kỳ họp, đặc biệt là hoạt động của Ban Thường trực Quốc hội, luôn có mặt bên cạnh Chính phủ để chỉ đạo công tác kháng chiến – kiến quốc; xây dựng Hiến pháp, Luật Cải cách ruộng đất; đàm phán, ký kết và đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ ne vơ; khôi phục kinh tế miền Bắc.

Quốc hội khóa I đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy, giải phóng và đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, chi viện cho công cuộc giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những cống hiến của Quốc hội khoá I suốt 14 năm và khẳng định: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân, vì nước, đã làm tròn một cách vẻ vang nghĩa vụ của người đại biểu của dân”.

Người cảm ơn Quốc hội khóa I và tin chắc rằng Quốc hội khóa II của chúng ta sẽ đưa hết tinh thần và lực lượng để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Cùng năm 1960 ấy, ngày 24/4, phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ra mắt cử tri Thủ đô, sau khi cảm ơn đồng bào đã nhất trí yêu cầu Người và các vị khác ra ứng cử vào Quốc hội khoá II, Người đã nêu lên tính chất dân chủ của Luật Bầu cử, giá trị cao quý của lá phiếu cử tri và tin tưởng rằng những cử tri sáng suốt sẽ bầu ra được một Quốc hội có những đại biểu thật xứng đáng.

Người thay mặt các ứng cử viên hứa với đồng bào: ” Những người được cử vào Quốc hội khoá II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đầy tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội.

“Bác đến sau, Bác chờ”

Sự tôn trọng, dân chủ, nghiêm túc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc làm rất nhỏ của công tác bầu cử. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác Hồ, sau này là Cục trưởng cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ – Bộ Công an) kể lại: Chiều 27/4/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử HĐND cấp huyện và xã. Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, Tiểu khu 1, Khu phố Ba Đình, Hà Nội đặt tại Nhà thuyền (Hồ Tây).

Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: “Ai đến trước, bầu trước; Bác đến sau, Bác chờ”. Sau đó, Người đã gương mẫu chờ đến lượt mình mới lấy lá phiếu và bầu cử. Nghĩa vụ là vậy, còn về “quyền” Bác cũng kiên quyết thực hiện đúng quyền của mình. Bác yêu cầu đưa lý lịch những người ứng cử để Người cân nhắc lựa chọn.

Một nhà báo định chụp ảnh Bác đang bầu cử, Người đã lấy tay che lá phiếu và ngăn lại: “Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải tôn trọng cử tri. Phải tôn trọng tự do và bí mật của công dân!”.

Sau khi bỏ phiếu xong, ra về đến Phủ Chủ tịch, Bác xuống xe quay sang hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng: “Chú có biết vì sao Nguyễn Hải Thần bị nhân dân khinh ghét không?”

Năm 1945, mỗi lần Nguyễn Hải Thần đi đâu bọn lính bảo vệ ông ta ngồi trên xe tay lăm lăm súng lưỡi lê tuốt trần và còn đặt khẩu đại liên diễu võ giương oai, trông rất lố lăng.

Nghe Bác hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng chột dạ và cảm thấy cuộc bảo vệ hôm đó có điều gì sơ suất khiến Bác không hài lòng. Sau này đồng chí bảo vệ tiếp cận ngồi cùng xe Bác nói lại, khi Bác đến nơi bỏ phiếu, nhìn thấy vắng cử tri, Bác không vui. Bác muốn như mọi người dân bình đẳng khi đi thực hiện quyền làm chủ của mình.

Ôn lại những câu chuyện về Bác, chúng ta càng thấy rõ hơn tâm huyết và tầm nhìn xa trông rộng của Bác; Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho một xã hội bình đẳng, dân chủ và dày công vun đắp, xây dựng một Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân.

Theo Nguyễn Đức Quý

Công An Nhân dân

vtc.vn