Tag Archive | Vô tư

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng.

Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.

– Theo Hồ Chí Minh những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức cách mạng Việt Nam gồm những đặc điểm sau:

Một là, trung với nước hiếu với dân

Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ khái niệm cũ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong đạo đức truyền thống của xã hội phong kiến phương Đông, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “trung với nước hiếu với dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức.

Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.

Hai là, yêu thương con người.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức bóc lột. Người viết: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc,ai cũng được học hành”.

Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái… không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người.

Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”.

Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người

Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”. Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi“, không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù. Liêm tức là “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân“; phải trong sạch, không tham lam; “Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa”. Chính, nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Chí công vô tư, Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc“. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ“.

Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng.

Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề “bốn phương vô sản đều là anh em“; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc; là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những người tiến bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội, vì những mục tiêu lớn của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, hơn nữa phải là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nguyên tắc cơ bản để định hướng sự lãnh đạo của Đảng và việc rèn luyện của mỗi người.

– Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.

Cán bộ đảng viên phải đầu tầu gương mẫu “miệng nói tay làm”, phải nêu tấm gương đạo đức cách mạng trước quần chúng; cán bộ, đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Sống theo phương châm “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Cổ vũ “người tốt, việc tốt”, các điển hình tiêu biểu.

– Xây đi đôi với chống.

Xây dựng nền đạo đức cách mạng, giáo dục chuẩn mực đạo đức mới, khơi dậy ý thức tự giác, đạo đức lành mạnh ở mọi người, hướng mọi người vào cuộc đấu tranh cho sự trong sạch, lành mạnh về đạo đức. Nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân – nguồn gốc của mọi thứ tệ nạn, thứ giặc “nội xâm” phá từ trong ra.

– Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.

Người cũng khẳng định đạo đức không phải là thứ có sẵn trong mỗi người mà đạo đức là do con người tiếp thu được qua giáo dục và tạo thành nhờ bản thân tích cực tu dưỡng bền bỉ rèn luyện trong môi trường sống và trong cuộc đấu tranh cách mạng. Người đưa ra lời khuyên rất dễ hiểu: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Nâng cao đạo đức trong tình hình mới, Đảng và nhân dân ta quán triệt tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, ra sức bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức, vận dụng các nguyên tắc xây dựng đạo đức mà Người đã nêu ra.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức luôn luôn gắn liền với kinh tế. Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời hy sinh cho cách mạng để giành lấy độc lập và tự do là nhằm xoá bỏ áp bức, bóc lột, phát triển kinh tế đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, cho mỗi con người. Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển mọi mặt của xã hội; phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá, đạo đức, con người. Tinh thần này đã được thể hiện trong câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa“.

Học tập tư tưởng trong đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước tiếp tục cổ động phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, dấy lên phong trào “người tốt việc tốt”, nêu gương sáng đạo đức cách mạng để mọi người tôn vinh và noi theo.

Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, bên cạnh việc xây dựng những phẩm chất đạo đức. Trung với nước, hiếu với dân, thương người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần quốc tế trong sáng nêu trong di sản của Người, chúng ta còn phải đấu tranh quyết liệt chống các tệ nạn xã hội nảy sinh trong nền kinh tế thị trường đang làm phương hại đến nền đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã sớm nhận ra sự nguy hiểm của bệnh “cá nhân”, đó là nguyên nhân đẻ ra các tệ nạn tiêu cực ảnh hưởng nghiêm trọng đến chế độ.

Ngay từ năm 1952, Người đã nêu rõ những tệ nạn cần phải chống gồm ba loại hình là tham ô, lãng phí, quan liêu. Người coi những tệ nạn đó là tội ác, là kẻ thù khá nguy hiểm của nhân dân, là bạn đồng minh của thực dân, phong kiến, là thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” phá từ trong phá ra. Người đã chỉ rõ tội lỗi của những kẻ tham ô, lãng phí quan liêu cũng nặng như tội lỗi “Việt gian, mật thám”. Người cho rằng: “Việc tranh đấu với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, nhưng việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”.

Cuộc sống đang đòi hỏi phải làm trong sạch Đảng và làm lành mạnh đời sống đạo đức của xã hội. Hai mặt đó phải tiến hành song song. Phải khắc phục các nguyên nhân đẻ ra các tệ nạn tiêu cực; càng phải khắc phục nguyên nhân đã để cho các tệ nạn tiêu cực phát triển. Trong cuộc đấu tranh này, phải lấy việc xây dựng Đảng làm nhiệm vụ then chốt, như đã được nêu ra trong nhiều Nghị quyết của Đảng.

Chúng ta càng thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vẫn còn giữ nguyên tính thời sự, soi sáng cho Đảng và nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp vẻ vang, xây dựng nền đạo đức Việt Nam ngang tầm với những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.

Theo Báo Bắc Kạn

bqllang.gov.v

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế – Phần 5

V. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI THỜI ĐẠI

Tư tưởng của Hồ Chí Minh không phải là tổng hợp các nguồn tư tưởng, lý luận của loài người tiến bộ , không chỉ là sự vận dụng sáng tạo. Qua thực tiễn của phong trào cách mạng Việt Nam, thế giới và bản thân, Người còn phát triển, cụ thể hoá những nguyên lý cơ bản, phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin. Hồ Chí Minh đã bổ sung, làm sáng tỏ nhiều quy luật phát triển của xã hội loài người nói chung, của các nước thuộc địa và phụ thuộc nói riêng. Những quy luật này, trước đó, chưa biểu hiện hoặc chưa biểu hiện đầy đủ. Cho nên tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sản phẩm của dân tộc, mà còn là của loài người tiến bộ, của thời đại chúng ta. Với tư cách là một hệ tư tưởng độc lập, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm tư tưởng về nhiều vấn vấn đề mang tính dân tộc và tính thế giới; là thành tựu tư duy của giai cấp công nhân và loài người tiến bộ.

Khi nghiên cứu tư tưởng của Người, chúng ta không chỉ thấy nó phản ánh những nét riêng của quốc gia, dân tộc Việt Nam, mà còn tìm thấy những nét chung của nhiều nước, nhiều dân tộc khác nhau, chủ yếu là các nước thuộc địa và phụ thuộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới, chúng ta cũng bắt gặp nhiều điểm hiện thực Việt Nam, trở thành tiêu biểu, điển hình của các dân tộc cùng chung hoàn cảnh, cùng mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đây là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại giữa lịch sử cách mạng Việt Nam với lịch sử cách mạng thế giới, mà Hồ Chí Minh là tiêu biểu của mối quan hệ này. Tuy nhiên tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa lịch sử đối với sự phát triển của dân tộc và thế giới, mà còn có ý nghĩa thời đại trước mắt và lâu dài.

Chúng ta biết rằng, bất cứ tư tưởng nào cũng hình thành, tồn tại và tác động ở những thời điểm nhất định, trong những điều kiện lịch sử – xã hội nhất định. Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không ngoài quy luật ấy. Vậy vì sao tư tưởng Hồ Chí Minh có thể trường tồn, dù “thế giới đã và sẽ còn thay đổi”? Sở dĩ được như vậy vì tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ giới hạn ở hoạt động tư duy và thực tiễn của bản thân Hồ Chí Minh, mà còn là sản phẩm của thời đại. Nó tiếp thu những giá trị, tinh hoa vǎn hoá, tư tưởng của loài người đã trở thành “vĩnh cửu”, nó đáp ứng nhiều vấn đề của thời đại đã và còn tiếp tục đặt ra, cần tiếp tục giải quyết.

Thế giới trong giai đoạn ngày nay có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc, phức tạp, nhưng những vấn đề lớn của thời đại mới bắt đầu từ Cách mạng tháng Mười Nga 1917 vẫn chưa thay đổi. Tính tất yếu của sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn phát huy tác dụng hợp quy luật của nó, dù chủ nghĩa xã hội thế giới đang gặp bước khủng hoảng lớn. Hầu hết các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trước đây đã giành được độc lập với nhiều hình thức, mức độ khác nhau và đang phát triển mạnh mẽ về kinh tế, nhưng sự lệ thuộc “kiểu mới” của các dân tộc đó vào “chủ nghĩa thực dân kiểu mới” vẫn còn tồn tại. Sự xung đột sắc tộc, chiến tranh đẫm máu giữa các dân tộc anh em vốn cùng trong một liên bang, trong một khu vực; sự trỗi dậy của những tôn giáo gắn liền với chính trị, dân tộc đang ngày càng trở nên quyết liệt phức tạp.

Những “vấn đề toàn cầu” đang trở thành những vấn đề cấp bách, chung cho cả nhân loại phải cùng nhau giải quyết. Sự sa sút về phẩm chất đạo đức của thế hệ trẻ trong một thế giới bị đồng tiền chi phối, vì những cuộc chém giết man rợ, đang đòi hỏi có một đạo đức mới, một chủ nghĩa nhân vǎn mới cho thời đại. Nhiều vấn đề của thời đại chưa được giải quyết cần có một lý luận, tư tưởng phù hợp với yêu cầu của cuộc sống hiện nay. Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin và những trào lưu tư tưởng tiến bộ khác, tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tiếp tục giải quyết những vấn đề của thời đại và nó “vẫn sống mãi trong kho tàng vǎn hoá của nhân loại”.

Vậy vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào trong thời đại chúng ta? Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải chỉ của riêng Người, dù đó là sản phẩm tư duy của Người; nó là của chung dân tộc, giai cấp, nhân loại. Nó không chỉ tồn tại trong sinh thời Hồ Chí Minh mà tiếp tục được phát triển ở các thế hệ kế tiếp. Sự phát triển ấy được thực hiện qua sự vận dụng sáng tạo, như Hồ Chí Minh đã từng làm với chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là “Cẩm nang thần kỳ” trong nhận thức và hành động cách mạng của mỗi chúng ta. Song đó không phải là đáp án cho mọi vấn đề, do cuộc sống ngày nay đặt ra, mà cần nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng sáng tạo vào cuộc sống đang diễn ra trong nước và trên thế giới. Cho nên, điều quan trọng trước nhất là tìm hiểu và vận dụng những vấn đề có tính chất phương pháp luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng.

Sự kiên định trong nhận thức và hành động cho mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa được lựa chọn một cách khoa học, hợp với quy luật xã hội loài người là yêu cầu cơ bản về phương pháp luận để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thời đại. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là cốt lõi của phương pháp luận Hồ Chí Minh để nhận thức và hành động trong thế giới đầy biến động hiện nay. Nói đi đôi với làm thể hiện nguyên tắc phương pháp luận quan trọng của Người về lý luận gắn liền với thực tiễn, về hoạt động cho sự tiến bộ của thế giới không phải bằng lời nói mà bằng hành động thực tế. Luôn luôn vươn tới cái mới, nghiên cứu cái mới với tinh thần đổi mới là nguyên tắc phương pháp luận trong tư duy và hành động của Hồ Chí Minh, phù hợp với yêu cầu phát triển của dân tộc và nhân loại hiện nay.

Từ những nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới và những nguyên tắc phương pháp luận Hồ Chí Minh nêu trên, chúng ta tìm hiểu những vấn đề của tư tưởng Hồ Chí Minh đang soi sáng thời đại chúng ta.

1. Tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh

Tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện nay cũng có những quan điểm khác nhau về tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh, dù các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống dân tộc và tinh hoa nhân loại và được phát triển trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Tuy có những cách nhìn nhận khác nhau song có thể tập trung vào mấy ý kiến sau đây. Một số người đặc biệt nhấn mạnh tới cuộc đời “vì nghĩa, quên mình”, sống khiêm tốn, bình dị, hoà nhập với mọi người, không màng danh lợi cho bản thân của mình và xem đó là nội dung cốt lõi của tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh. Có nhà nghiên cứu lại cho rằng chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh “toát ra từ toàn bộ cuộc đời liên tục đấu tranh không biết mệt mỏi” của Người nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội để cuối cùng đi đến giải phóng con người.

Nói cách khác, theo các tác giả trên thì cả đạo đức, nhân cách và cuộc đời thanh bạch của Người tạo thành một trong những nội dung quan trọng của tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh. Trong nghiên cứu về tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh còn xuất hiện một số ý kiến khác của nhiều học giả, các nhà hoạt động chính trị, xã hội nước ngoài. Họ cho rằng trong con người Hồ Chí Minh có sự kết hợp hài hoà giữa chủ nghĩa nhân vǎn với nhiệt tình và tinh thần cách mạng. T.N. Kaun, Chủ tịch “Trung tâm ấn Độ, nghiên cứu về Đông Dương” đã viết: “Bác Hồ … Người đại diện cho sự vĩ đại vốn có của nhân dân Việt Nam, bình dị, chuyên cần, yêu quý trẻ thơ và thanh niên, thẳng thắn, trung thực chân thành và một ý thức mạnh mẽ về nhân vǎn kết hợp với nhiệt tình và tinh thần cách mạng”. Tiến sĩ M. Atmét, giám đốc UNESCO khu vực châu á – Thái Bình Dương cũng nói: Trong khi chiến đấu cả đời mình chống lại ách thống trị thực dân, Người vẫn là một nhân vǎn chân chính trong tư tưởng và hành động”. Rõ ràng, ở đầy cần phân biệt tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh với nhân cách và hành động cách mạng của Người. Đương nhiên tư tưởng nhân vǎn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, và chính cuộc đời của Người lại là một tấm gương, một biểu hiện cụ thể, tiêu biểu nhất của chủ nghĩa nhân đạo cao cả.

a- Quê hương, đất nước, dân tộc Việt Nam vốn giàu truyền thống nhân ái. Chính vì thế trong chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh lòng thương người giữ vị trí hàng đầu. Song ở Hồ Chí Minh lòng thương người không chỉ bó hẹp trong tình “yêu nước thương nòi” mà được phát triển ở mức độ cao hơn, nó vượt ra ngoài giới hạn dân tộc, màu da và biên giới quốc gia, trên cơ sở tiếp tục những tư tưởng nhân đạo cao cả của thế giới, đặc biệt là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản của C. Mác, Ph. Ǎngghen và V.I.Lênin. Xuất phát từ tình thương yêu đồng bào bị nô lệ, đất nước bị đô hộ mà Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Chính cuộc hành trình ấy đã giúp Người nhận ra rằng không phải chỉ ở Việt Nam con người mới bị đoạ đày, đau khổ, mà ở khắp các nước, đâu đâu cũng có những người nghèo khổ, những người bị áp bức bóc lột.

Từ đây tình thương yêu người dân nghèo Việt Nam của Nguyễn ái Quốc đã trở thành tình thương yêu tất cả những con người bị đau khổ, bị đầy đoạ trên thế giới. Khi còn là một đầu bếp trên tàu buôn, Nguyễn Tất Thành đã vô cùng phẫn uất và đau xót khi chứng kiến thực dân Pháp ở cảng Đaca bắt người lao động da đen nhảy xuống biển đang gầm thét nối dây cáp bị đứt để rồi bị sóng nhấn chìm. ở Luân Đôn, Người cũng khóc khi đọc báo biết một nhà yêu nước Ailenông thị trưởng Coóc – tuyệt thực đến chết để chống lại ách thống trị của Anh. ở Pari, Người cũng đã thực sự đau khổ khi kể chuyện về một ông cụ người Pháp xóm Êpinêt cùng khổ, gần xóm Etoen vương giả, đã mất nhà, mất hết vợ con vì chiến tranh, nay phải ngày ngày đứng chờ bữa cháo bố thí. Hồ Chí Minh đã tỏ lòng thông cảm sâu sắc và chia sẻ nỗi khổ với những người nông dân nghèo khổ bị bóc lột ở các nước thuộc địa. “Họ là những người phải làm mọi công việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch. Chính họ làm ra cho lũ ǎn bám, lũ người lười biếng, lũ người đi khai hóa và những bọn khác hưởng. Mà chính họ thì lại phải sống cùng khổ trong khi những tên đao phủ của họ sống rất thừa thãi, hễ mất mùa thì họ chết đói”.

Người thương những em bé người bản xứ vô tội, bị hành hạ, bị “tóm cổ … ném xuống sông”. ở khắp các nước, nơi nào Người đã đi qua, Nguyễn ái Quốc đều cảm thông với nỗi khổ của người dân thuộc địa. Đúng như một nhà thơ Cuba đã nói: “Trong tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người nông dân ở Việt Nam, ở Angiêri, ở Tuynidi, ở Công gô, người bị áp bức ở quần đảo Angtidat, hoặc ở miền Nam già cỗi của nước Mỹ đều có một người nhiệt thành bênh vực mình”. Có thể nói, lòng nhân ái, tình thương yêu con người và vì con người là tư tưởng xuyên suốt và chỉ đạo mọi hành động trong cuộc đời hoạt động giải phóng dân tộc mình và góp phần đấu tranh giành độc lập, tự do cho nhiều dân tộc khác của Hồ Chí Minh.

Nếu trong số đầu tiên báo Người cùng khổ Người đã nói đến việc giải phóng con người, thì trong Di chúc, trước lúc phải đi xa, Người không những để lại “muốn vàn tình thương yêu” cho mọi tầng lớp, lứa tuổi trong nhân dân Việt Nam , không quên cǎn dặn những công việc cần làm sau khi đánh thắng Mỹ, trong đó “đầu tiên là công việc đối với con người”, mà còn “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh hướng trước hết vào những con người bị đau khổ, đọa đầy trên khắp hành tinh.

Tình thương yêu của Người không có giới hạn về chủng tộc và biên giới quốc gia. Nhưng chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh tuyệt nhiên không phải là lòng trắc ẩn. Nó không dừng ở mức xót thương con người một cách thụ động kiểu tôn giáo, cũng không phải là tỏ mối thông cảm từ trên và từ ngoài, không phải bằng cách du thuyết, mà nó kiên quyết và không ngừng đấu tranh để xoá bỏ khổ đau cho con người, làm cho con người đau khổ và các dân tộc bị áp bức tự mình cởi ách ngựa trâu, thoát gông xiềng nô lệ. Càng yêu thương nhân dân bị áp bức, bóc lột, Hồ Chí Minh càng cǎm ghét và tố cáo mạnh mẽ, toàn diện và có hệ thống tội ác của chủ nghĩa thực dân, của chủ nghĩa tư bản đối với các dân tộc thuộc địa, với cả giai cấp vô sản chính quốc.

Từ “Bản án chế độ thực dân Pháp” đến những bài báo, phóng sự, bút ký, truyện ngắn của Người đã làm nổi bật bản chất vô nhân đạo của chủ nghĩa tư bản thực dân và thực chất của cái gọi là “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” và vǎn minh ở các nước tư bản. Người khẳng định “Tất cả những liệt sĩ của giai cấp công nhân, người ở Lôđannơ cũng như những người ở Lơ Havơrơ cũng như những người ở Mactinich đều là nạn nhân của một kẻ sát nhân: chủ nghĩa tư bản quốc tế” và “Lịch sử việc người Âu xâm chiếm châu Phi cũng như bất cứ lịch sử xâm chiếm thuộc địa nào khác thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu những người bản xứ. Sau những cuộc tàn sát thẳng tay thì chính chế độ lao dịch, khuân vác, lao động khổ sai, rượu cồn, bệnh giang mai tiếp tục hoàn thành công cuộc tàn phá của sự nghiệp khai hoá.

Kết quả tất nhiên của chế độ ghê tởm đó là sự tiêu diệt giống da đen”. Càng thông cảm, thương yêu bao nhiêu đối với những người dân nô lệ, ngòi bút của Hồ Chí Minh càng có sức tố cáo mạnh mẽ bấy nhiêu đối với những kẻ đã gây nên nỗi đau khổ cho họ. Và càng tố cáo mạnh mẽ bao nhiêu càng có sức truyền cảm, thức tỉnh họ đoàn kết đấu tranh để tự giải phóng mình trở thành người chủ thực sự của đất nước mình. Người khẳng định rằng sự đàn áp, khủng bố dã man cùng với chính sách ngu dân của bọn thực dân không thể đè bẹp được ý chí chiến đấu và sức sống mãnh liệt của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới cũng như ở Đông Dương. Đó cũng là mảnh đất cho chủ nghĩa xã hội phát triển.

Hồ Chí Minh đã quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về sự kết hợp nỗi khổ nhục và sự thức tỉnh của lương tri. Con người không chỉ giam mình trong sự ô nhục hoặc chờ đợi sự ban ơn cứu vớt của kẻ khác, mà phải biết nhục và vùng dậy đấu tranh. Quan điểm này của Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện một tư tưởng nhân vǎn cao cả, mà còn là một phương pháp vận động, giáo dục quần chúng bị áp bức ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, các nước tư bản đế quốc. Nó đã làm cho ách áp bức hiện thực càng nặng nề hơn nữa bằng cách gắn vào nó cái ý thức về ách áp bức, làm cho sự ô nhục càng ô nhục hơn nữa bằng cách công bố nó lên. Nhấn mạnh đến sự đau khổ cũng như sự nhục nhã gấp hai lần, Hồ Chí Minh đã làm tǎng thêm sức mạnh trong cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Lòng nhân ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ sự tôn trọng con người, lấy con người làm xuất phát điểm và việc đem lại hạnh phúc cho con người làm mục đích cuối cùng. Bởi vậy, không chỉ tố cáo, cǎm thù tội ác dã man của chủ nghĩa đế quốc, thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc, Hồ Chí Minh còn luôn luôn chǎm lo tổ chức, xây dựng khối đoàn kết của nhân dân các nước thuộc địa để thức tỉnh họ vùng lên đấu tranh tự giải phóng, cũng như kêu gọi giai cấp vô sản và nhân dân ở chính quốc, các đảng cộng sản và công nhân trên toàn thế giới tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân vǎn của dân tộc các nước thuộc địa và phụ thuộc quyết ngẩng đầu lên giành lấy nhân phẩm của mình.

Chính vì thế Hồ Chí Minh luôn dạy rằng “Cuộc chiến đấu vì nhân phẩm và tự do phải được đặt lên trên mọi cuộc chiến đấu khác”. Mohamét Lamari- Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Angiêri tại Việt Nam – đã nhận xét rất đúng rằng “… ưu điểm lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh là không chỉ đấu tranh cho một lá cờ, cho một sự giải phóng ở bề mặt bên ngoài. Người muốn tiến hành một cuộc chiến đấu cho phẩm giá con người, cho sự giải phóng và phúc lợi của toàn dân và nhờ thế mà cuộc cách mạng do Người phát động đã mang tầm cỡ thế giới”. Đối với Hồ Chí Minh, giải phóng xã hội là để đi đến giải phóng con người thoát khỏi mọi sự áp bức bóc lột, bất công, để mỗi người có thể phát huy hết nghị lực sáng tạo của mình. Nhưng hạnh phúc của con người cũng như mọi giá trị đạo đức, mọi giá trị vǎn hoá của con người không phải chỉ dừng lại ở chỗ “ai cũng có cơm ǎn áo mặc, ai cũng được học hành”, mà mục tiêu cuối cùng phải là “tất cả mọi người đều được phát triển hết khả nǎng của mình”.

Theo Người, xã hội sẽ là một vườn hoa đầy hương sắc mà ở đó tài nǎng được tự do phát triển như hoa nở mùa xuân. Điều này biểu hiện một ước mơ cao đẹp của Người là không phải làm cho con người đau khổ, bị đàn áp ở các nước thuộc địa và phụ thuộc được sống trong cảnh thần tiên ở một cõi Thiên đường, cõi Niết bàn nào đó, mà giúp họ xây dựng “bồng lai tiên cảnh” ngay ở hạ giới, trên đất nước đã được giải phóng, bằng chính sức lực của mình. Cái hay, cái vĩ đại của tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh không phải ở chỗ làm cho người ta sống bằng mơ ước, chờ đợi, hy vọng mà bằng ý thức và hành động trong đấu tranh và xây dựng cuộc sống hiện tại của mình và cho mai sau của con cháu.

b- Trong chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh, lòng nhân ái giữ vị trí hàng đầu, song nó không bó hẹp lòng thương người ở tình nghĩa đồng bào, những “người trong một nước phải thương nhau cùng”, mà mở rộng đến khắp nǎm châu bốn bể. Người luôn coi con người và cuộc sống ở bất cứ nơi đâu đều là giá trị cuối cùng và cao nhất phải đấu tranh giành được. Khác với chủ nghĩa nhân vǎn tư sản chỉ đề cao chủ nghĩa cá nhân mà không hề đả động đến việc giải phóng con người lao động, tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh đề xướng việc giải phóng hoàn toàn con người, mà trước hết và chủ yếu là giải phóng con người lao động bị áp bức bóc lột, thủ tiêu mọi gông xiềng nô lệ, bất công, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc, cơm no áo ấm cho các dân tộc và mỗi con người.

Cho nên, chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh mang tính dân tộc, tính quốc tế và tính giai cấp sâu sắc. Qua hàng trǎm bài báo của Hồ Chí Minh với nhiều bút danh khác nhau, qua tuyên ngôn và hiệu triệu của các tổ chức Liên hiệp thuộc địa, Quốc tế nông dân, v.v. mà Hồ Chí Minh là một trong những người sáng lập hoặc lãnh đạo, người ta thấy nổi lên cuộc sống đau khổ, đói khát của những người phụ nữ Tây Phi, của người phu khuân vác ở các bến cảng Rufisco, Đaca, Braxin…, của người công nhân đồn điền ở Angiêri, Tuynidi, Marốc, Xyri, Libǎng…, của những người nông dân, kẻ hành khất ở Ghinê, Đahômây, Máctinich, v.v..

Tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh bao giờ cũng gắn liền hạnh phúc của những con người bị áp bức, bị đoạ đầy thuộc các dân tộc bị thống trị và lệ thuộc ở thuộc địa, với độc lập dân tộc, với tự do của giai cấp được giải phóng. Vì thế Người cho rằng muốn giải phóng con người trước hết phải giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc. Quan điểm này thấu suốt trong cả cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh: “Người có lòng nhân đạo là người lạc quan, có một lòng thương cao cả đối với nhân loại, đối với nhân dân, đồng chí bạn bè của mình. Người ta không thể nói gì đến lạc quan hay tự trọng nếu người ta không có chút thương yêu đối với Tổ quốc, đối với nhân dân của mình. ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình yêu này thật trong sáng và sâu rộng”.

Lòng yêu thương con người gắn chặt với tình yêu Tổ quốc và Dân tộc đã thúc giục Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Và trong hàng chục nǎm dài đầy khó khǎn, nguy hiểm ở nước ngoài, lúc nào Người cũng hướng về đất nước, quan tâm đến cuộc sống bị đoạ đầy của nhân dân Việt Nam, của nhân dân nhiều nước thuộc địa khác, trước hết là nhân dân hai nước anh em Lào và Campuchia. Trong bài “Khai hoá giết người” in trên báo Người cùng khổ ngày 1 tháng 8 nǎm 1922 Người đã nêu cái nghịch lý vô nhân đạo: “Trong lúc ở Mácxây người ta triển lãm cảnh phồn thịnh giả tạo của xứ Đông Dương thì ở Việt Nam đang có những người bị chết đói. ở bên này người ta ca tụng lòng trung thành thì ở bên kia người ta đang giết người . Cảnh tượng này được diễn ra nhan nhản ở các nước thuộc địa và “chính quốc”.

Sau ngày trở thành Chủ tịch nước, mặc dù bận trǎm công nghìn việc trọng đại, Người vẫn rất quan tâm đến cuộc sống của nhân dân, đặc biệt đối với nhân dân miền Nam đang chịu nhiều đau khổ do đế quốc Mỹ và nguỵ quyền gây nên. Người nói “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”. Ngay cả trước lúc “đi xa”, Người vẫn nhớ “để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”. Khi đi thǎm bất cứ nước nào, Người đều dành thời gian tiếp xúc với nhân dân lao động. Đặc biệt, đối với các cháu thiếu niên nhi đồng, Hồ Chí Minh không chỉ là “Bác Hồ” của nhân dân, của thiếu nhi Việt Nam, mà của cả nhân dân, thiếu nhi nhiều nước trên thế giới.

Chính lòng nhân ái, tư tưởng nhân vǎn của Người là một yếu tố đã chinh phục được nhân dân thế giới. ở chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh, không có tình yêu thương con người chung chung, mà chỉ có tình thương yêu dành cho người bị áp bức, nghèo khổ ở bất cứ nước nào. Người đã phân biệt bạn, thù rõ rệt, phân biệt nhân dân Pháp, Mỹ với những bọn thực dân đế quốc là người Pháp, Mỹ – những kẻ chủ mưu xâm lược, nuôi mộng thôn tính các dân tộc nhỏ yếu và đẩy nhân dân nước họ đến chỗ chết chóc. Vì vậy, Hồ Chí Minh bao giờ cũng độ lượng, khoan dung với những người lầm đường lạc lối đi đánh thuê cho bọn thực dân đế quốc.

Với ý nghĩa đó, tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh là tư tưởng nhân vǎn của những người nghèo khổ trên thế giới. Tình yêu thương dân tộc trong Hồ Chí Minh đã quyện chặt với tình yêu thương nhân loại bị áp bức bóc lột. Đó là lý do vì sao tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh được ca tụng, được noi theo và dần dần trở thành tư tưởng của thời đại. Nó không chỉ có tác dụng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, mà còn phát huy ảnh hưởng trong công cuộc xây dựng xã hội vǎn minh, tiến bộ sau khi các dân tộc đã thoát được ách đô hộ của thực dân. Trong tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh, việc giải phóng người lao động không chỉ là sự giải phóng khỏi sự thống trị của nước ngoài, mà phải vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật để xây dựng đất nước.

Nǎm 1921, khi tiên đoán “sự bùng nổ ghê gớm” của nhân dân Đông Dương và nhân dân các nước thuộc địa, Nguyễn ái Quốc không phải chỉ nghĩ đến sự vùng dậy đấu tranh bạo lực chống đế quốc, thực dân, mà còn chờ đợi một sự “bùng nổ” tiếp theo, nhân dân bắt tay xây dựng cuộc sống mới sau khi dân tộc được giải phóng. Dự đoán thiên tài ấy ngày nay đang trở thành hiện thực ở các nước độc lập dân tộc đang vươn lên trong sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật, về kinh tế. c- Để thực hiện sự “ham muốn tột bậc” duy nhất của mình là làm cho “dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ǎn áo mặc, ai cũng được học hành”, chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một xã hội mới với những con người mới phát triển toàn diện.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, suy cho cùng là nhằm giải phóng sức lao động, phát triển sản xuất, xây dựng một xã hội mới mà trong đó mọi người đều được phát huy hết khả nǎng sáng tạo của mình. Giải phóng con người, giải phóng sức lao động- đó vừa là mục tiêu vừa là phương tiện để cải tạo xã hội cũ xấu xa thành xã hội mới tươi đẹp. Xã hội đó chính là xã hội xã hội chủ nghĩa. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xã hội chủ nghĩa không phải là một cái gì cao siêu. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và vǎn hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”. Một xã hội như thế chỉ có thể đạt được nhờ sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người. Vì thế, theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản phải xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, con người cộng sản chủ nghĩa.

Con người mới xã hội chủ nghĩa đó trước hết phải là con người có hoài bão cứu nước, giải phóng cho nhân dân và có tinh thần quốc tế vô sản, phải “lấy việc xây dựng tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người làm lý tưởng cao cả, làm hạnh phúc lớn của mình”. Những con người mới đó sẽ được tự do phát triển hết tài nǎng của mình vì họ là người chủ thực sự của đất nước. Trong một bức thư gửi cho các cháu thiếu nhi, Người viết: “Từ chỗ là “bầy nô lệ trẻ con” chúng ta đã trở thành “tiểu chủ nhân” của một “đất nước độc lập”.

Khẳng định con người là vốn quý nhất, Hồ Chí Minh luôn quan tâm làm sao để mọi người đều được tự do lao động, tự do phát triển đời sống vật chất và vǎn hoá của mình, “làm sao cho dân đủ ǎn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy đều được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ. ..” , nhưng đồng thời cũng phải làm sao để mỗi một bộ phận xã hội, mỗi một giai cấp, tập thể hay cá nhân đều phải “thấy mình cũng là một bộ phận làm chủ của nước nhà”. ở đây chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh không chỉ là “một chủ nghĩa nhân vǎn thấm nhuần bản chất vô sản” mà còn là tư tưởng nhân vǎn tiêu biểu của một thời đại tương lai.

Đánh giá về giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, trong đó có tư tưởng nhân vǎn, giáo sư sử học ấn Độ Xanti Mauroi đã viết: “Ngày nay… nhân loại dần dần đang nhường bước cho sự xuất hiện tàn nhẫn của ham muốn cá nhân, ích kỷ để thống trị như chưa hề thấy. Chính sự xuyên tạc của giá trị nhân đạo đã làm nảy sinh những sự thiên lệch nghiêm trọng khác, xa rời khỏi con đường biến đổi cách mạng về xã hội và vǎn hoá của con người ở xung quanh ta. Điều cần đến là cuộc nổi dậy về đạo đức, một sự phục hưng mới, chống lại quá trình bất ổn định phi nhân tính này, ít nhiều nổi bật khắp thế giới. ở giữa cơn khủng hoảng này, nhân loại đã sản sinh ra những danh nhân lỗi lạc làm nên thời đại như Lênin, Hồ Chí Minh và Gǎngđi, là những người đã để lại những dấu ấn không thể sai lầm của mình để được tiếp tục theo đuổi trong các đảo lộn nhiều biến động”.

Lời nhận định trên đây đã nói lên tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh có giá trị to lớn như thế nào trong thời đại ngày nay, khi mà nhiều thế lực đang giương cao ngọn cờ “nhân quyền” mà thực chất là đòi can thiệp vào đời sống xã hội của các nước có chế độ chính trị khác nhau. Lòng nhân ái rộng lớn, tình thương yêu nhân loại bị áp bức của tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa nhân vǎn tư sản. Nếu chủ nghĩa nhân vǎn tư sản trong khi đề xướng việc giải phóng cá nhân con người khỏi mọi ràng buộc của chế độ phong kiến không hề đả động đến việc giải phóng cá nhân con người lao động, thì tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh lại đề xướng việc giải phóng hoàn toàn con người, mà trước hết và chủ yếu, là giải phóng con người lao động bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới.

Nếu chủ nghĩa nhân vǎn tư sản lấy chế dộ tư hữu và chủ nghĩa cá nhân làm cơ sở cho lý tưởng nhân đạo của mình, mà bản chất của nó là chống lại con người bị áp bức bóc lột – lực lượng đông đảo nhất của xã hội -, thì tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh lại lấy tư tưởng Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học làm cơ sở lý luận, mang bản chất giải phóng hoàn toàn con người khỏi mọi áp bức bóc lột và bất công xã hội. Tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh “xuất hiện trước mặt ta như ngọn hải đǎng dẫn đường cho cuộc chiến đấu sống còn của chúng ta”. Tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh gắn liền tình cảm, lý tưởng với hành động cách mạng để thực hiện mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng giai cấp bị bóc lột, giải phóng người lao động. Vì vậy nó mang tính thực tiễn sâu sắc và tính thời đại rộng lớn. “Chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh đặc biệt trong sáng và cao cả vì người cưu mang nó là một người vì nghĩa quên mình, suốt đời tận tuỵ mà không nghĩ đến bản thân, danh lợi”.

Thế giới đã nói nhiều đến chiến thắng thực dân, đế quốc của nhân dân Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Có thể nói thêm rằng vượt lên trên tinh thần dũng cảm, hy sinh, sức kiên trì chịu đựng, sự khôn khéo về tài nǎng chỉ đạo chiến thuật và tầm nhìn chiến lược, là sự chiến thắng của chủ nghĩa nhân vǎn kiểu mới và đích thực – chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh. Chỉ có tinh thần nhân vǎn kiểu mới ấy mới có ý thức và sức mạnh giải phóng con người quyết liệt và thành công đến như thế. Vì vậy nó đã nâng cao tinh thần đấu tranh bất khuất, làm hồi sinh sức sống mãnh liệt của các dân tộc đang chiến đấu để thực hiện những quyền cơ bản và sự phát triển toàn diện của con người.

Với ý nghĩa đó, bà Laila Enghebali – biên tập viên đối ngoại của báo Cộng hoà (Cộng hoà Arập thống nhất) – đã viết: “Bác Hồ đã gieo những hạt giống cho cuộc đấu tranh của chúng tôi. Bác Hồ đã gieo những hạt giống cho cuộc đấu tranh cách mạng ở tất cả các nơi đang bị áp bức, bóc lột. Người đã thành công trong việc gieo trồng những giá trị vǎn minh nhất, nhân đạo nhất trong tâm trí mỗi người công dân Việt Nam. Chắc chắn Người cũng là vị lãnh tụ xã hội chủ nghĩa nhân đạo, vǎn minh, vĩ đại nhất chưa từng có trong thời đại chúng ta”.

2- Tư tưởng Hồ Chí Minh với những vấn đề toàn cầu hiện nay.

Trong mấy thập kỷ gần đây nhiều vấn đề mới nảy sinh, có liên quan đến tất cả mọi người trên hành tinh chúng ta, không loại trừ bất cứ nước nào, dân tộc nào. Đó là những vấn đề toàn cầu. Những vấn đề toàn cầu gồm các vấn đề về nguyên liệu, nǎng lượng, môi trường sống, thực phẩm, dân số, những vấn đề về hoà bình, chinh phục vũ trụ, khai thác tài nguyên dưới đại dương, phòng ngừa và đẩy lùi bệnh tật, xoá đói, giảm nghèo, chống thất học. Có thể đưa những vấn đề nêu trên vào hai loại chính: về mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội; về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với môi trường sống.

Nguyên nhân nào khiến cho các vấn đề nêu trên trở thành những vấn đề toàn cầu?

Có những nguyên nhân mang tính chất xã hội – kinh tế, có những nguyên nhân mang tính chất khoa học – kỹ thuật. Sinh thời Hồ Chí Minh, những vấn đề toàn cầu chưa được đặt ra, cho nên Người cũng không thể có ý kiến về việc giải quyết những vấn đề như vậy. Song trong kho tàng tư tưởng của Người, chúng ta có thể rút ra những bài học, kinh nghiệm bổ ích, những tư tưởng chỉ đạo có giá trị để giải quyết các vấn đề của ngày nay. Gần nửa thế kỷ trước đây, tại Đại hội lần thứ hai của Đảng (1951) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy sức mạnh của lực lượng sản xuất, ý nghĩa và tác động của việc sử dụng thành quả khoa học – kỹ thuật theo những mục đích, quyền lợi khác nhau.

Điều đó có nghĩa là, thực tiễn phát triển lịch sử, các quan hệ của con người với thế giới chung quanh, tác động của thiên nhiên, môi trường sống đến xã hội không chỉ phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, những mặt tổ chức và kỹ thuật, mà còn phụ thuộc vào những mối quan hệ kinh tế – xã hội. Hồ Chí Minh chỉ rõ những phát minh to lớn về chiếu bóng, vô tuyến điện, vô tuyến truyền hình cho đến sức nguyên tử làm cho loài người đã tiến một bước dài trong việc điều khiển sức thiên nhiên, nhưng đồng thời nó cũng gây nên những biến đổi mau chóng hơn và quan trọng hơn về mặt xã hội. Đó là việc chủ nghĩa tư bản từ chỗ tự do cạnh tranh, đã đổi ra độc quyền lũng đoạn, đã tiến lên chủ nghĩa đế quốc.

Quan trọng nhất là “Cách mạng tháng Mười Nga thành công… và gần một nửa loài người đã tiến vào con đường dân chủ mới, những dân tộc bị áp bức lần lượt nổi dậy chống chủ nghĩa đế quốc, đòi độc lập tự do”. Hồ Chí Minh đã đánh giá tính chất của thời đại ở hai mặt gắn chặt nhau: sự phát triển của lực lượng sản xuất qua sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật và những biến đổi to lớn về chính trị – xã hội, có ảnh hưởng quyết định đến lịch sử loài người. Sự phát triển về mặt khoa học – kỹ thuật tạo điều kiện cho con người khai thác ở thiên nhiên nhiều tài nguyên phục vụ cho cuộc sống của mình; mặt khác sự “bóc lột” thiếu tổ chức, không tuân theo quy luật của tự nhiên cũng đem lại nhiều hậu quả nghiêm trọng và con người sẽ phải bị “trừng phạt” nặng nề.

Sự “phản ứng” của tự nhiên đã bắt đầu cản trở bước tiến của sản xuất xã hội, tác động tiêu cực đến bản thân con người. Sự xung đột giữa con người và tự nhiên đã mang tính toàn cầu. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta góp phần vào việc tìm hiểu những nguyên nhân xã hội – kinh tế của những vấn đề toàn cầu.

a- Vấn đề chiến tranh và hoà bình đang là “điểm nóng” của thế giới. Sức tàn phá của chiến tranh huỷ diệt sẽ to lớn về các mặt kinh tế, chính trị, những hậu quả của nó về tâm lý, xã hội cũng nặng nề. Ngǎn chặn chiến tranh, bảo vệ hoà bình là nhiệm vụ trọng tâm của loài người, và ở đây chúng ta có thể tìm được phần nào lời giải đáp trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

b- Vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ngày nay đang được đặt ra khẩn cấp về sự khai thác và tàn phá của con người làm cho tài nguyên ngày càng cạn kiệt. Việc sử dụng diện tích canh tác trở nên vô cùng khó khǎn, do người thì sinh sôi nảy nở nhanh chóng mà đất đai không những không được mở mang mà còn bị thu hẹp nhiều.

Hiện nay, con người trên hành tinh sử dụng khoảng 1,5 tỉ hécta ruộng đất (từ 10-11% mặt địa cầu), nếu kể cả đồng cỏ, đất rừng thì tỉ lệ ấy cũng chỉ khoảng 15-20%, mà hàng nǎm thế giới bị mất 6-7 triệu hécta đất tốt. Cùng với sự gia tǎng dân số, diện tích canh tác hàng nǎm cứ bị thu hẹp dần. Các nguồn tài nguyên khác cũng đang cạn dần. Với tốc độ khai thác hiện nay, mỗi nǎm thu được 600 tỉ tấn dầu mỏ, thì liệu con người còn có thể sử dụng loại nhiên liệu quý này trong bao nhiêu nǎm nữa?

Theo tính toán của các nhà bác học thời gian khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên dưới đất được tồn tại như sau: nhôm đủ dùng cho 570 nǎm; sắt trong 250 nǎm; kẽm 25 nǎm; đồng 29 nǎm; chì 19 nǎm; thiếc 35 nǎm… Theo dự tính đến nǎm 2500 việc khai thác các quặng mỏ kim loại sẽ kết thúc, trong số đó các loại mỏ quý càng sớm chấm dứt (vàng, bạc, bạch kim, đồng, niken… vào nǎm 2000-2100; côban, mǎnggan, nhôm vào khoảng nǎm 2100-2200…). Việc khai thác nguồn nước làm thuỷ điện – than trắng – cũng không tồn tại được lâu, vì rừng đầu nguồn bị tàn phá. Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng ấy, có thể càng tệ hơn vì nạn khai thác bừa bãi, tuỳ tiện, vì sự tàn phá rừng và các nguồn nước.

Những lời di huấn của Hồ Chí Minh về bảo vệ “rừng vàng, bể bạc”, giúp chúng ta hiểu tính cấp thiết của gìn giữ, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

c- Vấn đề môi trường sinh thái ngày nay cũng là vấn đề cấp thiết đối với con người, vì sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp hiện đại, vì sự tàn phá của chiến tranh và nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Hậu quả của môi trường sống ngày một xấu đi có ảnh hưởng đến khí hậu, sức khoẻ, mọi lĩnh vực khác của đời sống con người.

Mỗi nǎm bầu khí quyển tiếp nhận một khối lượng lớn chất thải của con người: 250 triệu tấn bụi, gần 70 triệu mét khối hơi đất, gần 145 triệu tấn điôxítsulfua (lưu huỳnh),1 triệu tấn hợp chất chì, hàng chục vạn tấn hợp chất khác. Chất thải vào không trung phá huỷ tầng ôdôn, làm bức xạ mặt trời tǎng lên, làm ô nhiễm môi trường sống. Tài liệu về việc giảm lượng nước ngọt đã minh chứng hậu quả trên. Theo số liệu khoa học, hiện nay trên hành tinh chúng ta có 1,4-1,6 tỷ km3 nước. Trong khối lượng này, nước ở các đại dương chiếm 94%, nước trong các tầng bǎng giá, trong bầu khí quyển chiếm 2%; nước dùng cho sinh hoạt chiếm tỷ trọng rất nhỏ lại phân phối không đều ở các khu vực và bị ô nhiễm. Mỗi nǎm 160 km3 nước thải công nghiệp làm bẩn 4000km3 nước sông các vùng dân cư. ở một vài nước công nghiệp phát triển, 25% nước các dòng sông bị ô nhiễm nặng.

Việc khai thác dầu mỏ ở thềm lục địa thế giới, mỗi nǎm thu 13-14 triệu tấn dầu thô lại làm bẩn 13-14 nghìn m3 nước đại dương; đó là chưa kể việc cháy các giếng dầu (mà nguyên nhân chủ yếu là do chiến tranh), nạn đắm tàu chở dầu gây ra sự ô nhiễm lâu ngày ở một vùng biển rộng lớn. Diện tích rừng được che phủ bằng cây xanh trên thế giới giảm đáng kể. Những khu rừng nguyên sinh trở thành của hiếm. ở nhiều nước, đồi trọc, núi trọc trở nên phổ biến. Rừng trên thế giới hiện chỉ còn khoảng 3,9 tỷ hécta; diện tích mất rừng đã lên tới 9,3 tỷ hécta, gấp hơn 2,5lần diện tích rừng hiện có. Theo số liệu của FAO nǎm 1981, cứ mỗi phút có những 20-40 hécta rừng trên thế giới bị phá. Rừng bị tàn phá, môi sinh của nhiều giống thực vật, động vật cũng không còn.

Cùng với nạn sǎn bắn, nhiều động vật quý bị diệt chủng dần và mất nơi sinh sống. Mâu thuẫn giữa môi trường tự nhiên và cuộc sống con người trên hành tinh trở nên gay gắt. Công nghiệp hoá và đô thị hoá, những điều kiện mới của lao động và sinh hoạt, cơ giới hoá và tự động hoá sản xuất, sự phát triển mạnh mẽ của hoá học, sự thay đổi hệ môi sinh, sự tàn phá và làm biến đổi nhanh chóng thiên nhiên của con người. Nó đặt ra các vấn đề cấp thiết, có tính chất toàn cầu là phải giải quyết sự cân bằng giữa con người và thiên nhiên.

Hồ Chí Minh chưa có điều kiện để suy nghĩ toàn diện, sâu sắc những vấn đề môi trường sinh thái, đang đặt ra cho ngày nay. Song, trong cuộc đấu tranh cứu nước, Người đã ý thức về quan hệ giữa môi trường thiên nhiên với hoạt động và sinh sống của con người, nhất là thời kỳ hoạt động bí mật và kháng chiến. Người cǎn dặn cán bộ phải tìm nơi làm việc ǎn ở sao cho: “Trên có núi Dưới có sông Có đất ta trồng Có bãi ta vui…” Một sự hài hoà trong cuộc sống của con người, lại thuận lợi cho công cuộc cách mạng! Trong xây dựng hoà bình ở miền Bắc, Hồ Chí Minh quan tâm nhiều đến việc “phải đấu tranh chống những tai hoạ của thiên nhiên…”, đến việc “trồng cây” và “bảo vệ rừng”. Chủ trương “Tết trồng cây” của Hồ Chí Minh xây dựng theo phong tục tập quán của dân tộc nhằm mục đích làm cho nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ hiền hoà hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn… góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”.

Tác dụng của chủ trương này không chỉ ở mặt kinh tế, mà còn thể hiện một cách tổng hoà các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, khoa học, thẩm mỹ. ý nghĩa của nó không chỉ giới hạn trong nước mà lan rộng trên thế giới. Có thể xem Hồ Chí Minh là một trong số ít người của thời đại chúng ta có ý thức và quyết tâm thực hiện việc “trồng cây gây rừng” để “ảnh hưởng tới khí hậu và sức khoẻ của nhân dân”. Theo Người, công việc này “chẳng những có ý nghĩa kinh tế to lớn mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn”.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta còn tìm thấy những lời dự đoán tài tình, những lời rǎn dạy quý báu về bảo vệ thiên nhiên: “nếu rừng kiệt thì không còn gì, vì mất nguồn nước thì ruộng mất màu, gây ra lụt và hạn hán”. Người cǎn dặn”phải có kế hoạch trồng rừng và tích cực bảo vệ rừng…, phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà cửa của mình”.

Ngày nay khi hành tinh của chúng ta vang lên tiếng kêu cứu vì bị tàn phá dữ dội, khi nhân loại nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của việc trồng cây, gây rừng, bảo vệ rừng và môi trường sinh thái, chống lại nguy cơ thừa cácbonníc, chống lại thiên tai do biến đổi đột ngột về thời tiết, khí hậu, khi mà nhân dân lao động thế giới đấu tranh chống các nước phát triển có thái độ vô trách nhiệm với việc bảo vệ môi trường sống, thì những ý kiến của Hồ Chí Minh nêu trên có giá trị nhân vǎn, khoa học rất lớn. Xuất phát từ quan điểm chǎm lo mọi mặt đời sống nhân dân, Hồ Chí Minh quan tâm đến đời sống của con người.

Nǎm 1947, với bút danh “Tân Sinh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đời sống mới, đề cập toàn diện đến các vấn đề của đời sống, trong đó có môi trường sống. Trong xây dựng nông thôn mới ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở nhân dân “phải giữ gìn vệ sinh, ǎn sạch, uống sạch, ở sạch thì sức mới khoẻ; sức càng khoẻ thì lao động sản xuất càng tốt”. Và “muốn có vệ sinh phải có nước sạch, muốn có nước sạch phải đào giếng, đào nhiều giếng sẽ có nhiều nước sạch”. Những điều chỉ dẫn của Ngừơi thể hiện đặc trưng của tính vǎn hoá rộng lớn của cộng đồng người, nó vẫn có giá trị trong thời đại ngày nay, đặc biệt đối với các dân tộc kém phát triển, vừa thoát khỏi sự thống trị của chủ nghĩa thực dân.

Khi chǎm lo đến đời sống yên vui, hoà bình của nhân dân lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết và gay gắt lên án những kẻ chế tạo và âm mưu sử dụng vũ khí giết người hàng loạt gây tác hại lớn với môi trường sống. Người cho rằng việc thử bom hạt nhân ở khu vực Thái Bình Dương gây nên “mưa phóng xạ sẽ tràn về phương Nam đến Inđônêxia, ấn Độ, Nam Việt Nam, châu Phi, châu Nam Mỹ…”cho nên phải kiên quyết đòi triệt để cấm vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học huỷ diệt môi trường, gây thảm hoạ cho nhân dân lao động thế giới”. Một điều chúng ta rút ra từ tư tưởng Hồ Chí Minh là cuộc đấu tranh bảo vệ môi trường, tổ chức đời sống mới phải gắn liền với đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hoà bình thế giới.

d- Việc xoá đói, giảm nghèo, chống mù chữ, phòng trừ bệnh tật cũng là vấn đề lớn của thời đại, mà nhân loại phải cùng nhau giải quyết. Một vấn đề lớn đang đặt ra cho loài người là “sự bùng nổ” dân số. Nǎm 1000 dân số thế giới mới có 265 triệu người, nǎm 1990 đã tǎng lên 4630 triệu và hiện nay đã vượt con số 5 tỷ người. Theo dự đoán, đến nǎm 2000, dân số toàn cầu sẽ đạt đến mức 6,2 tỷ, nǎm 2010 là 7 tỷ và đến 2050 sẽ có 10-12 tỷ người. Tốc độ tǎng dân số cũng quá nhanh: trong khoảng từ nǎm 1800 đến nǎm 1849, tỷ lệ tǎng dân số trên thế giới trung bình là 0,5%; đến những nǎm 1965-1975 tỷ lệ này là 2% và đến những nǎm 1980-1983 hạ xuống còn 1,7%. Song tỷ lệ tǎng dân số ở một số nước, chủ yếu là các nước kém phát triển vẫn còn khá cao: 3-4%.

Việc tǎng dân số kéo theo nhiều hậu quả lớn. Số dân tập trung ở các đô thị quá cao, không có đủ điều kiện vật chất cần thiết để đảm bảo cho cuộc sống người lao động; nạn mù chữ phát triển, hiện nay số người không biết đọc, biết viết trên thế giới lên tới 820 triệu người, chủ yếu tập trung ở các nước chậm phát triển; dự tính đến nǎm 2000 con số này sẽ tǎng lên 1 tỷ. Nạn đói cũng là cǎn bệnh kinh niên của nhân dân lao động ở các nước vốn là thuộc địa, phụ thuộc cũ.

Hiện nay có nhiều nguyên nhân đưa đến nạn đói và mức sống thấp ở các nước kém phát triển và nguyên nhân quan trọng nhất là do dân số tǎng nhanh mà sản xuất còn thấp. ở Bǎngđalét, lương thực chỉ tǎng 1,8% mà dân số tǎng 3% mỗi nǎm. ở châu Phi, lương thực tǎng 1-1,5%, dân số lại tǎng 2,9-3%. Nếu ở các nước phát triển, khẩu phần ǎn mỗi người được đảm bảo 3200-3400 calo, thì ở các nước kém phát triển chỉ đạt được 2200 calo, nhiều khi giảm xuống 1700-1500 calo. Tình trạng bệnh tật còn khá nghiêm trọng ở các nước đói kém. Những bệnh thời đại như AIDS, ung thư… vẫn là mối hiểm hoạ cho cả nhân loại. Hồ Chí Minh chưa có dịp đề cập đến các vấn đề nêu trên, nhưng trong hoạt động của mình, đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, Người đã hết lòng chǎm lo đến đời sống nhân dân.

Việc chống giặc đói, giặt dốt được đặt ngang hàng với việc chống ngoại xâm, thể hiện tư tưởng chiến lược của Người không chỉ với dân tộc mà cả với thời đại, tư tưởng này phát huy tác dụng trong công cuộc xây dựng xã hội mới của nhân dân các nước đã giành được độc lập. Những nhận thức của Người như: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, con đường để xoá đói, giảm nghèo là tǎng gia sản xuất vẫn còn nguyên giá trị đối với các dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa lịch sử và mang tính chất thời đại.

Những giá trị đích thực của tư tưởng này đã trở thành bài học kinh nghiệm cho hiện tại, soi sáng nhận thức và hành động của việc thực hiện một tương lai hợp lôgích của sự phát triển xã hội. Việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu của cuộc sống, là sự đảm bảo cho việc giải quyết những vấn đề lớn của thời đại, nổi bật là những vấn đề toàn cầu.

KẾT LUẬN

Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới thể hiện thế giới quan của dân tộc Việt Nam, của giai cấp công nhân, đồng thời phản ánh quan điểm, nhận thức của nhân loại tiến bộ, mà chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu. ở đây, chúng ta nhận thấy, Hồ Chí Minh quán triệt, vận dụng những quan điểm cơ bản của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học, song tài nǎng trí tuệ, kinh nghiệm thực tiễn cách mạng của bản thân Hồ Chí Minh đã làm phong phú, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, đã có những đóng góp thiết thực to lớn vào lý luận về giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội của các dân tộc vốn là thuộc địa và phụ thuộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới hình thành và phát triển trong những điều kiện cụ thể của hoàn cảnh lịch sử.

Những điều kiện ấy chế định tư tưởng của Hồ Chí Minh, song Hồ Chí Minh đã tạo được sự thống nhất giữa điều kiện khách quan với nǎng lực tư duy và hoạt động thực tiễn của bản thân. Sự thống nhất là một nhân tố đảm bảo được sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam, góp phần vào sự thành công của cách mạng thế giới. Hồ Chí Minh đã xác nhận quy luật mà V.I. Lênin đề xuất về sự thống nhất của những nhân tố khách quan và chủ quan trong hoạt động cách mạng. ý nghĩa lịch sử của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới được xác nhận bởi những luận điểm quan trọng của Người về cách mạng thế giới, đặc biệt về cách mạng giải phóng dân tộc, và những kết quả thực tiễn trong cuộc sống mà Người đã góp phần tạo nên. Những sự xuyên tạc, bịa đặt hòng hạ thấp công lao, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh đều bị sự thực khách quan bác bỏ. Tính chất thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới càng quan trọng, thiết thực đối với cuộc sống ngày nay của các dân tộc, nhất là nhân dân các nước kém phát triển, vừa giành được độc lập, tự do. ý nghĩa lịch sử, tính chất thời đại của một sự kiện, một tư tưởng quan hệ mật thiết với nhau.

Những giá trị đích thực của quá khứ bao giờ cũng là bài học, kinh nghiệm cho hiện tại, soi sáng nhận thức và hành động ở hiện tại và thực hiện một tương lai hợp lôgích của sự phát triển xã hội. Cho nên chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là “nền tảng tư tưởng”, “kim chỉ nam cho hành động” của chúng ta. Sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng, là một hiện tượng hợp quy luật. Tư tưởng nào cũng sinh ra trong những bối cảnh, điều kiện lịch sử nhất định và tồn tại trên những cơ sở đã tạo nên nó. Nhưng tư tưởng Hồ Chí MInh, cũng như những tư tưởng tiến bộ khác vẫn “sống mãi” và nó kế thừa những giá trị “vĩnh cửu” của nhân loại, đáp ứng được những yêu cầu của thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một đóng góp vào kho tàng vǎn hoá nhân loại. Hơn nữa, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là kết quả nǎng lực tư duy và hoạt động của bản thân Hồ Chí Minh, mà còn của nhân dân Việt Nam, của nhân loại tiến bộ. Các thế hệ đương thời và tiếp nối sẽ kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.

Giá trị của tinh hoa vǎn hoá nhân loại, đặc biệt lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, truyền thống dân tộc, kết quả hoạt động thực tiễn, việc đáp ứng yêu cầu lâu dài của cuộc sống… làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh trường tồn. Việc vận dụng sáng tạo, có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng là yêu cầu có tính quy luật của nghiên cứu khoa học. Nó thể hiện việc kết hợp lý luận với thực hành, điều chỉnh lý luận và hoạt động thực tiễn, làm cho tư tưởng được phong phú, có sức sống mạnh mẽ. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống trước hết phải tuân thủ những nguyên tắc phương pháp luận khoa học, cả những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phải tiến hành trên cơ sở sự kiên định trong nhận thức và hành động cho mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghiã đã được lựa chọn, hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người. Đó là sự lựa chọn của lịch sử, của nhân dân, của Đảng và Hồ Chí Minh. Một sự dao động, viêc hiểu biết không thấu đáo, sự vận dụng giáo điều … là những nguyên nhân dẫn tới sự thất bại trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống.

Thứ hai, nắm vững và vận dụng sáng tạo, linh hoạt những vấn đề cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu quan trọng của việc tiếp thu và vận dụng. Đó là những tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “thà chết không làm nô lệ”, “bốn bể đều là anh em”, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “nói đi đôi với làm”, …

Thứ ba, thấm nhuần tinh thần đổi mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là việc thực hiện một nguyên tắc phương pháp luận có tính chất quyết định sự thành công của cách mạng. Thế giới tự nhiên và xã hội luôn luôn vận động, phát triển. Đó là quy luật. Vì vậy trong nhận thức và hành động, Hồ Chí Minh chống việc rập khuôn, công thức, Người thường cǎn dặn phải vươn tới cái mới, nghiên cứu cái mới, ủng hộ cái mới với tinh thần đổi mới.

Công cuộc đổi mới, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hiện nay thực hiện những lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm cho xã hội Việt Nam phát triển theo xu thế chung của sự phát triển lịch sử thế giới. Từ kết quả nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới, chúng tôi rút ra một số nhận thức, có thể xem như những kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước về những vấn đề có liên quan đến vấn đề đang tìm hiểu: a- Việc giáo dục, phổ biến tuyên truyền những vấn đề của thế giới (lịch sử và hiện tại), là cơ sở để nhận thức đúng đắn về thời đại, về sự khẳng định con đường xã hội chủ nghĩa đã được lựa chọn.

Những nǎm gần đây, giới nghiên cứu phương Tây đẩy mạnh việc biên soạn, xuất bản nhiều chuyên khảo về thời đại chúng ta làm một cǎn cứ “khoa học” cho việc tấn công vào chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào cách mạng thế giới và Hồ Chí Minh. Điều này không thể không gây ra những hậu quả xấu trong nhân dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, như bǎng hoại tư tưởng cách mạng, giảm sút lòng tin vào sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội khoa học, tiếp nhận thụ động những độc hại của nếp sống vǎn hoá tư sản thù địch… Sự hoà nhập vào cộng đồng quốc tế là việc cần thiết, song không để bị hoà tan vào chủ nghĩa tư bản, xa rời mục tiêu, nhiệm vụ của đất nước. Đây là bài học mà chúng ta rút ra trong bước đầu quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh.

Chính lòng yêu nước, tinh thần dân tộc khiến cho Nguyễn Tất Thành, với vốn kiến thức ít ỏi về thế giới, xa lạ với cuộc sống nước ngoài, đã biết tiếp nhận những gì tốt đẹp nhất để thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình. b- Tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập tự do” và tinh thần “thà chết không làm nô lệ!” cần được quán triệt trong việc “mở cửa”, “làm bạn” với thế giới bên ngoài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam “có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc” thì cũng sẽ bảo vệ độc lập dân tộc, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc bảo vệ độc lập, tự do vẫn phải tiến hành trên mọi lĩnh vực của cuộc sống, trước hết về kinh tế và vǎn hoá. Không thể vì lợi ích nhất thời, cục bộ mà vi phạm đến chủ quyền dân tộc, độc lập, tự do của nhân dân. Không thể tiếp thu vǎn hoá nước ngoài mà đánh mất bản sắc dân tộc. Tư tưởng tự lực tự cường, độc lập tự chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng cần được quán triệt trong mọi hoạt động đối ngoại của chúng ta hiện nay, thể hiện việc kiên trì vừa hợp tác vừa đấu tranh. c- Sự đoàn kết quốc tế trên tinh thần quốc tế vô sản vẫn có ý nghĩa đối với chúng ta ngày nay. Việc bảo vệ độc lập dân tộc, gìn giữ hoà bình thế giới vẫn gắn với việc ủng hộ các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế, phong trào cách mạng thế giới và xã hội tiến bộ, vǎn minh nhân loại.

Một dân tộc thuỷ chung, giàu nhân nghĩa như dân tộc Việt Nam không bao giờ quên ơn và nghĩa vụ quốc tế của mình. Việc mở rộng mối bang giao, việc “muốn làm bạn với tất cả mọi người” càng làm chúng ta xích gần hơn với nhân dân các nước, trước hết là nhân dân các nước cùng một điều kiện, mục tiêu, yêu cầu phát triển đất nước. Việc “đối thoại hoà bình”, việc gia nhập vào cộng đồng quốc tế, việc hợp tác với các nước, nhất là các nước phát triển… không hề làm giảm ý nghĩa của việc đoàn kết quốc tế, càng không phải là việc thủ tiêu cuộc đấu tranh cho lý tưởng cách mạng của chúng ta. Dĩ nhiên hình thức đấu tranh phải linh hoạt, khéo léo, phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại ngày nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi với chúng ta, thể hiện trong tư duy, hoạt động cụ thể. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh được phát triển và phong phú hơn.

GS. Phan Ngọc Liên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995)

cpv.org.vn

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế – Phần 4

IV. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ HÒA BÌNH, HỮU NGHỊ GIỮA CÁC DÂN TỘC

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới, những vấn đề hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc có một vị trí quan trọng. Hoà bình và hữu nghị là ước vọng nghìn đời nay của loài người trên hành tinh chúng ta. Lúc đầu, con người sinh sống trong một cộng đồng nhỏ hẹp, chưa có những mối quan hệ rộng rãi với bên ngoài, nên tình cảm giới hạn trong những người có chung cuộc sống với nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các mối quan hệ giữa những cộng đồng ngày một chặt chẽ hơn. Các tập đoàn người, các tổ chức xã hội xích gần nhau. Đồng thời những quan hệ tốt đẹp tự nhiên, bắt đầu xuất hiện những sự bất hoà, tranh chấp, xung đột vũ trang. Mầm mống của sự chia rẽ, hiềm khích, đố kỵ nảy sinh và ngày một nhiều hơn, sâu sắc hơn trong những xã hội bắt đầu phân chia thành giai cấp đối kháng, thù địch. Chiến tranh cứ lan rộng, đốt cháy cuộc sống yên vui, mối quan hệ tốt đẹp giữa các tộc người. Tuy nhiên, khát vọng sống hoà bình, trong tình thương yêu nhau vẫn cứ sống, tồn tại trong lòng nhân dân thế giới. Cũng như các vĩ nhân trong lịch sử, những nhà cách mạng yêu nước của nhân dân lao động, của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh đã góp phần xây dựng nền hoà bình, tình hữu nghị giữa các dân tộc. ở Hồ Chí Minh, cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc, cho thắng lợi của cách mạng thế giới không hề mâu thuẫn với nhau, không cản Người thực hiện khát vọng hoà bình, hữu nghị của nhân dân thế giới. Trong thực tiễn đấu tranh cho độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân mình, cũng như của các dân tộc khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc được hình thành.

1- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh cho một nền hoà bình chân chính vững bền giữa các dân tộc.

a- Chiến tranh và hoà bình luôn luôn có mối liên hệ với nhau suốt trong quá trình phát triển của lịch sử loài người. Từ khi xuất hiện chế độ tư hữu, đặc biệt khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp thì cũng bắt đầu xuất hiện những cuộc xung đột vũ trang giữa nhóm người này với nhóm người khác. Trong lịch sử nhân loại, từ khi xã hội có giai cấp, những nǎm tháng hoà bình không nhiều, phần lớn thời gian là những cuộc chiến tranh lớn, nhỏ diễn ra trên hầu hết các lục địa, mà tàn khốc nhất, quy mô lớn nhất là hai cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và lần thứ hai (1939-1945).

Chiến tranh diễn ra dưới bất kỳ hình thức nào (dù là chiến tranh thông thường hay chiến tranh hạt nhân, dù là xung đột khu vực hay có tính toàn cầu, v.v.) đều là thảm hoạ đối với loài người. Từ thời cổ đại đến nay, lịch sử đã chứng kiến bao nhiêu cuộc chiến tranh lớn, nhỏ xảy ra, đã cướp đi cuộc sống của biết bao con người, tiêu huỷ, tàn phá một khối lượng của cải vật chất đáng kể, đã đẩy lùi nền vǎn minh của loài người. Và ngày nay, nếu chiến tranh hạt nhân huỷ diệt xảy ra, thì sức tàn phá của nó không thể nào lường hết được. Người ta khẳng định rằng trong cuộc chiến tranh này sẽ không có kẻ chiến thắng…

Đấy là những việc đã qua và những điều giả thiết. Còn trên thực tế hiện nay, số người và của cải bị thu hút vào việc chuẩn bị và tiến hành chiến tranh không nhỏ. Trên thế giới hiện có 29 triệu người được biên chế trong các đội quân thường trực, một số lượng người như vậy đang hoạt động trong các tổ hợp công nghiệp quân sự. Trong nhiều nǎm qua, gần 40% ngân sách các nước được dùng cho chi phí quân sự. Riêng Lầu nǎm góc (Mỹ) có số vốn 250 tỷ đô la và hàng vạn người phục vụ những công việc gắn với chiến tranh. Ngoài ra, loài người đang chứng kiến những cuộc chiến tranh, xung đột dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, diễn ra ở nhiều nước châu Phi, châu á và châu Âu. Đằng sau những cuộc chiến tranh ấy là đại diện của các thế lực thù địch, cực hữu, vì quyền lợi của mình muốn đẩy loài người đến chỗ tàn sát, tiêu diệt nhau.

Hồ Chí Minh đã tận mắt thấy sự tàn phá và tội ác dã man qua hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Đồng thời Người cũng thấy được khả nǎng to lớn của các dân tộc có thể “biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng” (Lênin) để giành độc lập dân tộc và ngǎn chặn các cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa, để bảo vệ hoà bình thế giới. Những quan điểm về chiến tranh và hoà bình của Lênin được Hồ Chí Minh tiếp nhận và thể hiện một cách linh hoạt, sáng tạo trong những đường lối, chủ trương cách mạng của Người.

Khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra (1939), quán triệt tư tưởng của Lênin, Hồ Chí Minh đã nhận định đây là thời cơ tốt để đấu tranh giành độc lập dân tộc. Tuy nhiên bao giờ Hồ Chí Minh cũng có ý thức đấu tranh ngǎn chặn những cuộc chiến tranh đế quốc, phi nghĩa. Theo Người, việc ngǎn chặn chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hạt nhân huỷ diệt là yêu cầu cấp thiết và cũng là trách nhiệm hàng đầu của mỗi người, mỗi dân tộc trên hành tinh. Người nhấn mạnh, ngǎn chặn chiến tranh, trước hết là phải chặn bàn tay của những kẻ gây ra chiến tranh, phải chỉ rõ nguồn gốc, phải vạch mặt kẻ gây ra chiến tranh. Không xác định rõ điều này thì khó tiêu diệt tận gốc chiến tranh. Qua thực tế của hai cuộc đại chiến thế giới và cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc, Người đã rút ra kết luận: “chủ nghĩa đế quốc là nguồn gốc chiến tranh”. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với hiện thực lịch sử.

Từ cuối thế kỷ XIX cho đến nay, chủ nghĩa đế quốc đã gây ra nhiều cuộc chiến tranh lớn, nhỏ ở nhiều nơi và luôn luôn là nguyên nhân của mọi sự cǎng thẳng ở từng khu vực cũng như trong phạm vi thế giới. Cho nên Hồ Chí Minh chỉ rõ, để có sự hoà dịu, để chấm dứt chiến tranh và “giữ gìn hoà bình một cách thiết thực” thì không có con đường nào khác là “phải ra sức chống đế quốc chủ nghĩa”. Tư tưởng này được thể hiện trong thư của Người gửi “Hội nghị hoà bình ở Việt Nam, vì độc lập, tự do của dân tộc và nhân dân thế giới (17-11-1950)”. Phản đối mọi cuộc chiến tranh do bọn đế quốc gây ra dưới bất kỳ hình thức nào, đặc biệt là chiến tranh hạt nhân huỷ diệt.

Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân thế giới “kiên quyết đấu tranh chống việc thử bom nguyên tử và bom khinh khí, kiên quyết đấu tranh đòi giải trừ quân bị toàn bộ và triệt để”, “để cho những tội ác kinh khủng… ở Hirôsima và Nagadaki không bao giờ còn diễn lại”. Quan điểm của Hồ Chí Minh hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của cả loài người tiến bộ: chiến đấu cho độc lập dân tộc, song phản đối chiến tranh và mong muốn được sống trong hoà bình. Trong Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương (10-1945) Hồ Chí Minh lên án việc thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam và đòi “một nền hoà bình chân chính, xây dựng trên công bằng và lý tưởng dân chủ (…) thay cho chiến tranh”, đòi “tự do bình đẳng, bác ái phải thực hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc, màu da”.

b- Nguyên tắc cơ bản để xây dựng một nền hoà bình chân chính, theo quan niệm của Hồ Chí Minh, là đấu tranh giành độc lập dân tộc không thể tách rời khỏi cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới. Người nhấn mạnh rằng không thể có nền hoà bình vững bền cho dân tộc khi thế giới vẫn còn những cuộc xung đột, còn cǎng thẳng và chiến tranh, và cuộc chiến tranh xâm lược của bọn thực dân, đế quốc là nguy cơ làm bùng nổ một cuộc chiến tranh khác giữa các đế quốc.

Trong Thư gửi các bạn nam nữ Pháp đấu tranh cho hoà bình (1950) Người phân tích: “Cuộc chiến tranh (của thực dân Pháp – TG) trên đất nước chúng tôi là để sửa soạn cho một cuộc chiến tranh đế quốc khác”. Với quan điểm như vậy, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập của riêng mình, mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hoà bình thế giới”3 . Việc phấn đấu không mệt mỏi để “giành thống nhất, độc lập hoàn toàn” cho dân tộc, cũng chính là đã góp phần không nhỏ vào việc “bảo vệ hoà bình thế giới”.

Do đó, khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đặc biệt khi chiến tranh lan ra vùng châu á – Thái Bình Dương, Hồ Chí Minh xác định “phận sự dân ta là đấu tranh ngǎn chặn cái “nạn”, cái thảm hoạ do chiến tranh đó gây ra”. Chống chiến tranh đế quốc, Hồ Chí Minh lại “kiên quyết ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc” của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Đặc biệt đối với các nước láng giềng Đông Nam á, Người đã “hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của các dân tộc trong khu vực này chống sự xâm lược và nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân”…

Quan điểm nhân dân của Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh đế quốc thể hiện ở lòng tin rằng hoà bình sẽ có được “nếu nhân dân thế giới không chịu để bọn gây chiến lừa phỉnh mà tự nhận lấy trách nhiệm bảo vệ hoà bình thế giới”. Hoà bình – theo Hồ Chí Minh – nằm trong tay của các dân tộc. Sau khi đã đấu tranh có kết quả, các lực lượng tiên phong trong mỗi dân tộc phải gánh chịu trách nhiệm ngǎn cản chiến tranh, bảo vệ hoà bình bằng cách tổ chức đấu tranh giải phóng dân tộc mình, ủng hộ cuộc đấu tranh cho độc lập, tự do của các dân tộc khác. Những quan điểm nêu trên được hình thành và thể hiện trong cuộc đấu tranh cho độc lập, cho sự nghiệp giải phóng nhân dân bị áp bức.

Nǎm 1919, tuy nhận thức chính trị còn non và cuối cùng không đạt kết quả gì, song việc gửi bản yêu sách 8 điểm đến Hội nghị Vécxây, đòi cho Việt Nam tự trị và các quyền dân chủ bình đẳng khác đã xác nhận rằng lúc bấy giờ Hồ Chí Minh đã có một tư tưởng lớn: theo đuổi con đường và mục tiêu hoà bình để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cho các dân tộc bị áp bức khác. Gần 30 nǎm sau đó, bằng sự chuẩn bị chu đáo, Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi trong một thời gian ngắn, ít đổ máu …

Có thể nói đó là một cuộc cách mạng diễn ra tương đối hoà bình đã lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam á. Sau Cách mạng tháng Tám 1945 là 9 nǎm kháng chiến chống Pháp, rồi những nǎm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hồ Chí Minh luôn luôn kiên trì con đường hoà bình trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến vận mệnh của đất nước. Người đã kiên trì thương lượng với đại diện Pháp, Trung Hoa (Quốc dân đảng), Anh, Mỹ để giữ vững thành quả cách mạng và chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình cho Việt Nam và Đông Dương.

Những sự việc nêu trên thể hiện mong muốn của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và hoà bình thế giới. Hai mục tiêu ấy không tách rời nhau. Đạt được một nền hoà bình chân chính, “hoà bình thực sự, hoà bình trong độc lập tự do, chứ không phải thứ hoà bình giả hiệu”1 là nguyên tắc bất di bất dịch trong cuộc đấu tranh của Hồ Chí Minh. Đấu tranh cho một nền hoà bình gắn với độc lập, tự do thật sự phải trải qua một quá trình lâu dài, có khi phải tạm thời hoà hoãn, nhượng bộ, như việc công nhận Việt Nam là một quốc gia tự trị, quốc gia tự do, quốc gia độc lập trong khối Liên hiệp Pháp (1946), hoặc tìm mọi cách tranh thủ hoà bình trong khi đất nước tạm thời chia làm hai miền (1956)…

Kết quả đạt được ở từng lúc phụ thuộc vào so sánh lực lượng của hai bên, nhưng là những nấc thang thắng lợi để đạt tới mục tiêu cuối cùng của nền hoà bình chân chính. ở đây chúng ta thấy rõ tư tưởng về hoà bình của Hồ Chí Minh không cứng nhắc, mà linh hoạt, không bao giờ chệch mục tiêu đấu tranh. Tư tưởng này thể hiện trong việc ký Hiệp định Giơnevơ. Ngoài các nhân tố khách quan như tương quan lực lượng, ảnh hưởng và tác động của tình hình quốc tế lúc bấy giờ, còn có một lý do quan trọng khác khiến ta phải ký hiệp định là cần tranh thủ điều kiện hoà bình để xây dựng miền Bắc hùng mạnh, sẵn sàng đương đầu với kẻ thù mới, giành toàn thắng, xây dựng một nền hoà bình chân chính, lâu dài và vững bền: “Hồi đó, (1954-TG) nếu ta không nhận hoà thì tức là mắc mưu Mỹ”.

Chúng ta thấy rằng, trong những điều kiện nhất định phương pháp hoà bình trong đấu tranh cho độc lập dân tộc có ý nghĩa sách lược, nhưng nhìn tổng thể con đường hoà bình mà Hồ Chí Minh theo đuổi lại có ý nghĩa chiến lược. Nó hoàn toàn phù hợp với cuộc đấu tranh của các dân tộc đất không rộng, người không đông chống lại đế quốc thực dân lớn. Tư tưởng về hoà bình của Hồ Chí Minh mang tính chiến đấu rõ rệt. Người phân biệt hoà bình chân chính của nhân dân tiến bộ thế giới với thứ hoà bình của các thế lực hiếu chiến, phản động chủ trương “muốn có hoà bình phải chuẩn bị chiến tranh” hoặc “hoà bình phải dựa vào sức mạnh”. Người chủ trương tập hợp mọi dân tộc, tầng lớp nhân dân thế giới đấu tranh cho một nền hoà bình vững bền, công bằng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã gặp gỡ những nguyên tắc mà Hội nghị hoà bình thế giới ở Hênxanhki (1975) đã thông qua:

– Phản đối chiến tranh.

– Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

– Quyền tự quyết của mỗi dân tộc.

– Tôn trọng chủ quyền của mỗi dân tộc, không xâm phạm biên giới của nhau.

– Hợp tác bình đẳng, hai bên cùng có lợi.

– Cùng tuân thủ những chuẩn mực có tính chất đạo đức.

Chúng ta có thể nói rằng Hội nghị Hênxanhki đạt được những nguyên tắc nêu trên phần nào có sự đóng góp của nhân dân Việt Nam đấu tranh cho hoà bình thế giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Một nét đặc trưng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là điều khẳng định rằng đấu tranh cho hoà bình phải là cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ, phải hy sinh nhiều, song lại tìm mọi cơ hội thuận lợi nhất để khỏi tổn hao xương máu. Hoà bình và đấu tranh trong tư tưởng Hồ Chí Minh không hề mâu thuẫn nhau, thực tế đã xác nhận với quyết tâm chiến lược “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn” Người vẫn không tiếc công sức để giải quyết mọi xung đột bằng hoà bình thương lượng.

Trong nǎm đầu sau Cách mạng tháng Tám 1945, Người chủ trương “chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng”, vì “nhân dân Việt Nam không muốn đổ máu, nhân dân Việt Nam yêu chuộng hoà bình”. Trong thế ngàn cân treo trên sợi tóc của tình hình đất nước, với tư tưởng kiên trì hoà bình, Hồ Chí Minh cùng Đảng ta luôn tỏ rõ thiện chí, tìm cách đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, kiên trì thương lượng với đại diện nước Pháp, Trung Hoa (Quốc dân Đảng), ký Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946), đàm phán ở Đà Lạt, Phôngtennơblô, ký Tạm ước (14-9-1946) và một loạt các cuộc thương lượng khác với Pháp. Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng mọi cuộc chiến tranh, xung đột trên thế giới ngày nay không thể chỉ giải quyết giữa hai bên tham chiến mà phải mở rộng đến nhiều bên có liên quan.

Trong những nǎm 1945-1946, ngoài những cuộc thương lượng với Pháp và Trung Hoa (Quốc dân Đảng), Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi các nước lớn như Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Anh tham gia giải quyết hoà bình để chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, đưa vấn đề Đông Dương ra trước Liên hiệp quốc. Khoảng 2 tuần trước ngày 19-12-1946, khi quan hệ Việt – Pháp đã rất cǎng thẳng, Hồ Chí Minh vẫn kêu gọi Quốc hội và Chính phủ Pháp “nghĩ đến quyền lợi tối cao của hai dân tộc Pháp – Việt, hạ lệnh cho nhà đương cục Pháp ở Việt Nam khôi phục tình trạng trước ngày 20-11-1946, để cùng Chính phủ Việt Nam thi hành Tạm ước (14-9), để xây đắp sự cộng tác Pháp – Việt thân thiện” .

Ngày 13-12-1946, Người còn tuyên bố: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh… Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách… Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm, thì chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi không lạ gì những điều đang đợi chúng tôi. Dù sao, tôi mong rằng chúng ta sẽ không đi tới cách giải quyết ấy”. Đó là sự nhân nhượng đầy thiện chí của Hồ Chí Minh để đạt hoà bình. Đến lúc không thể nhân nhượng hơn được nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới kêu gọi toàn dân cương quyết đứng lên kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Tư tưởng hoà bình của Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện nguyện vọng độc lập, tự do của dân tộc mình, mà còn biểu lộ sự tôn trọng truyền thống của nhân dân các nước đế quốc thực dân đi xâm lược, không gây hận thù dân tộc. Đó là biểu hiện của tư tưởng nhân vǎn cao cả của Người, một bài học cho nhiều nước đấu tranh cho độc lập tự do. Khi “buộc phải làm” toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp trong Thư gửi nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp, nhân dân các nước đồng minh (21-12-1946), Hồ Chí Minh viết: “Chúng tôi yêu chuộng các bạn và muốn thành thực với các bạn trong khối Liên hiệp Pháp vì chúng ta có chung lý tưởng: Tự do – Bình đẳng- Độc lập” (xin lưu ý, ở đây Hồ Chí Minh dùng chữ “độc lập” thay cho “bác ái”).

Tiếp dó, trong khi trả lời các nhà báo ngày 2-1-1947, Người khẳng định: “Việt Nam không chiến tranh chống nước Pháp, dân Pháp mà chỉ muốn hai dân tộc cộng tác thật thà”. Rồi trong Thư gửi chính phủ và nhân dân Pháp ngày 18-2-1947, Người nhắc đến cảnh đau lòng “máu Pháp và máu Việt đã chảy nhiều”, truyền thống “đấu tranh bảo vệ tự do” của nước Pháp, quyết tâm chiến đấu của nhân dân Việt Nam vì độc lập và “cam kết tôn trọng quyền lợi kinh tế và vǎn hoá Pháp ở Việt Nam”. Người mong chấm dứt chiến tranh với các yêu cầu trên, miễn là “nước Pháp chỉ cần nói một câu là chiến sự đình chỉ tức khắc, là bao nhiêu sinh mệnh, tài sản được cứu vãn, là tình thân thiện và lòng tin cậy lẫn nhau lại phục hồi như trước”.

Từ 19-12-1946 đến đầu tháng 3-1947 trung bình cứ một tuần Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi một thư hay lời kêu gọi cho nhân dân, Quốc hội và Chính phủ Pháp đề nghị ngừng chiến, hoà bình thương lượng, thậm chí mở ra khả nǎng hợp tác, hữu nghị. Tính nhân vǎn của tư tưởng Hồ Chí Minh về hoà bình còn được thể hiện ở sự kiên trì, nhẫn nại, sự chờ đợi và thuyết phục đối phương. Nhiều dân tộc đấu tranh cho độc lập đã xem đây là bài học cho mình. Trong 9 nǎm dân tộc Việt Nam phải cầm súng, chiến đấu, Hồ Chí Minh luôn mở rộng cánh cửa hoà bình, tìm kiếm và sẵn sàng nắm lấy một cơ hội dàn xếp với đối phương nhằm kiến tạo giải pháp kết thúc chiến tranh mở ra một lối thoát danh dự cho kẻ thù.

Tháng 11-1953 trả lời nhà báo Thuỵ Điển về khả nǎng hoà đàm, Hồ Chí Minh khẳng định nếu chính phủ Pháp “muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn về Việt Nam theo lối hoà bình thì nhân dân và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng tiếp ý muốn đó…”. Và một tuần sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Người vẫn khẳng định: “Nhân dân Việt Nam luôn luôn muốn giành độc lập và giải phóng nước Việt Nam bằng con đường hoà bình. Ngày nay nhân dân Việt Nam vẫn chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách hoà bình”. Sau này, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra quyết liệt, Hồ Chí Minh vẫn bắc sẵn chiếc cầu thương lượng với đối phương.

Trong các cuộc tiếp ký giả nước ngoài vào tháng 11-1965 và tháng 7-1966, Người nêu rõ: “Chúng tôi sẵn sàng trải thảm đỏ và rắc hoa cho Mỹ rút”, “chúng tôi sẵn lòng đem nhạc và hoa tiễn họ”. Có thể nói, Hồ Chí Minh luôn luôn giương cao ngọn cờ hoà bình. Những tư tưởng hoà bình của Người đã trở thành khát vọng và là nguyên tắc nhất quán, thường trực trong ứng xử quốc tế của Đảng và Nhà nước ta cũng như nhiều dân tộc yêu hoà bình trên thế giới. Đây là một nguyên nhân cơ bản để nhân dân thế giới hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam trong suốt bao nhiêu nǎm qua, đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước.

Hồ Chí Minh luôn luôn vui mừng khi nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đấu tranh giành được độc lập và góp phần vào củng cố hoà bình thế giới. Nǎm 1962, trong bài Chúc mừng nhân dân Angiêri anh em thắng lợi, Người khẳng định “Thắng lợi của nhân dân Angiêri cũng là thắng lợi chung của nhân dân Pháp, của các dân tộc mới giành được hoặc đang đấu tranh để giành lại quyền độc lập, tự do, của nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình và của phe xã hội chủ nghĩa”.

c- Nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng hoà bình của Hồ Chí Minh, được nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc hoan nghênh, học tập, là hoà bình đạt được không phải bằng cầu xin mà bằng chiến đấu chống những thế lực ngoan cố, không chịu chấp nhận con đường hoà bình thương lượng để kết thúc chiến tranh. Chỉ có chiến thắng mới thực hiện được nền hoà bình vững chắc – Tư tưởng này trở thành đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam: “Việc đấu tranh để khôi phục hoà bình ở Việt Nam là ý nguyện của nhân dân nhưng chúng ta phải biết rằng chỉ có chiến thắng địch mới có thể thực hiện được hoà bình chân chính”. Mặt khác, tư tưởng Hồ Chí Minh không bao giờ là sự thể hiện ý muốn giải quyết hoà bình các vấn đề tranh chấp quốc tế trên thế mạnh của một bên nào. Chủ trương hòa bình của Người xuất phát từ thiện chí, từ sức mạnh của chính nghĩa, của nhân dân bị áp bức đấu tranh giành độc lập, tự do. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chiến tranh là khúc quanh buộc phải tiến hành, còn cánh cửa hoà bình vẫn rộng mở, nhịp cầu thương lượng vẫn bắc sẵn để đi tới kết thúc cuộc chiến.

2- Con đường để đạt được một nền hoà bình vững bền, công bằng cho các dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ nhất, kết hợp chặt chẽ thương lượng với chiến đấu. Quá trình này diễn ra dường như theo một chu kỳ liên hoàn: thương lượng – chiến đấu (có thương lượng) – thương lượng, tuỳ theo tương quan lực lượng giữa các bên. Bằng con đường ấy các dân tộc đấu tranh cho độc lập có thể giảm cái giá phải trả cho hoà bình và đặt cơ sở hữu nghị trong tương lai giữa các dân tộc. Con đường để giảm nhanh đau khổ cho nhân dân các nước trong những cuộc đấu tranh đó là phải tiến hành đàm phán thương lượng. Nhưng việc đàm phán phải “theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi”, đã “dùng lối nói chuyện thì phải nhân nhượng đúng mức”.

Thứ hai, thực hiện nguyên tắc: “muốn hoà bình thì phải chấm dứt chiến tranh, muốn chấm dứt chiến tranh thì phải ngừng bắn”.

Thứ ba, để đi tới hoà bình, các dân tộc cần xích gần lại, thông qua việc tiếp xúc, trao đổi để hiểu biết, tin cậy nhau, để cùng nhau giải quyết các mâu thuẫn hay xung đột. Bởi vì: “Với sự tin cậy lẫn nhau, những dân tộc tự do và bình đẳng vẫn có thể giải quyết những vấn đề khó khǎn nhất”. Hồ Chí Minh đã ra sức phấn đấu để thực hiện tư tưởng này ngay từ những ngày còn hoạt động ở nước ngoài. Bằng những cố gắng của mình, Người đã sáng lập ra những tổ chức quốc tế, đoàn kết các dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do vào những nǎm 20 của thế kỷ này. Người luôn luôn bày tỏ sự ủng hộ nhiệt thành đối với phong trào giải phóng dân tộc, hoàn thành tốt những chuyến viếng thǎm hữu nghị các nước ấn Độ, Miến Điện, Inđônêxia (sau nǎm 1954). Những hoạt động quốc tế đó làm cho các dân tộc gần gũi nhau hơn, góp phần hình thành mặt trận nhân dân thế giới phản đối các cuộc chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc ở các nước, trong đó có cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp, Mỹ ở Việt Nam.

Thứ tư, thực hiện các nguyên tắc chung sống hoà bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau và giải quyết các mâu thuẫn thông qua thương lượng hoà bình: “Thế giới hoà bình có thể thực hiện được nếu các nước trên thế giới, nhất là những nước lớn, đều sẵn sàng giải quyết những xích mích giữa các nước bằng thương lượng”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến các nước lớn, xã hội chủ nghĩa, tư bản chủ nghĩa, và dân tộc chủ nghĩa – đó là những nước đại diện cho các lực lượng khác nhau tham gia gìn giữ hoà bình, giải quyết các tranh chấp quốc tế. Song không vì thế mà coi thường vai trò, vị trí của các nước nhỏ trong đấu tranh thực hiện chung sống hoà bình.

Thứ nǎm, tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết những bất đồng trong quan hệ quốc tế là lấy đối thoại thay cho đối đầu, hoà bình thay cho chiến tranh. Có thể xem trong lịch sử ngoại giao của các quốc gia hiện đại (chủ yếu từ sau 1948), Hồ Chí Minh là một trong những người đầu tiên đề ra đối thoại và tiến hành đối thoại. Ngày nay, đường lối này trở thành đường lối đối ngoại chung, cơ bản của các dân tộc, nhất là các dân tộc vừa giành được độc lập, trong một khu vực, muốn tránh những cuộc chiến tranh để xây dựng đất nước, phát triển trong hoà bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khi phấn đấu cho hoà bình, cho sự hiểu biết giữa các dân tộc, sự hợp tác thân thiên và giải quyết phi bạo lực mâu thuẫn giữa các quốc gia đã khẳng định quyết tâm đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, phi nghĩa.

Sức mạnh của tư tưởng Hồ Chí Minh “đòi cấm vũ khí nguyên tử”, “đòi giải trừ quân bị toàn bộ và triệt để”, về hoà bình thế giới, về con đường giải quyết xung đột… đã được thực hiện không chỉ ở Việt Nam, mà còn có ảnh hưởng mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh chống chạy đua vũ trang, chống đế quốc gây chiến của nhân dân nhiều nước trên thế giới. Cuộc đấu tranh của loài người tiến bộ trong thế giới hiện đại nhằm ngǎn chặn các loại chiến tranh, duy trì hoà bình…, đang tìm thấy trong các luận điểm và những hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh những bài học có giá trị to lớn. Giáo sư W.Lulây, khoa nghiên cứu châu á, trường Đại học Humbôn (Cộng hoà dân chủ Đức trước kia) nhận xét: “Quan điểm của Hồ Chí Minh rất phù hợp với quan điểm ngày nay trong việc giải quyết các xung đột quốc tế…

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, xu hướng giành hoà bình bằng các giải pháp phi bạo lực còn nhiều. Chính Hồ Chí Minh, ngay từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam, luôn mong muốn hoà bình đàm phán với Pháp. Hoà bình, hạnh phúc cho nhân dân, đó chính là ý nguyện suốt đời của Người”. Ngày nay, tư tưởng hoà bình, hợp tác và hữu nghị của Người được cụ thể hoá sâu sắc trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Tư tưởng về ngǎn chặn chiến tranh, duy trì hoà bình, về tình hữu nghị và hợp tác của Hồ Chí Minh hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của thế giới ngày nay. Vì vậy, nó trường tồn mãi mãi trong chúng ta.

Những quan điểm và phương hướng của Người đã chỉ ra có thể vận dụng để giải quyết những vấn đề lớn về mối quan hệ giữa các dân tộc mà thời đại đang đặt ra. Từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ này, do nhiều nguyên nhân, vấn đề dân tộc lại nổi lên như một vấn đề nóng bỏng nhất trong giai đoạn hiện nay của thời đại chúng ta. Những cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc pha trộn với những cuộc khủng hoảng về tôn giáo đã dẫn tới sự hỗn độn về chính trị – xã hội, kinh tế và kéo theo biết bao nỗi đau khổ cho con người lương thiện. ở châu Phi, người ta đang đẩy các dân tộc vào những cuộc chém giết tương tàn, hoà bình đang bị đe doạ nghiêm trọng. Người ta công khai giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ các dân tộc, các tôn giáo không phải bằng hoà bình thương lượng, đối thoại, mà bằng súng đạn và bạo lực. Con đường này của các thế lực cực hữu đang đẩy các dân tộc ấy vào ngõ cụt. Sự cố gắng của cộng đồng quốc tế cũng không đưa lại kết quả bao nhiêu.

Vấn đề là ở chỗ, chính bản thân các dân tộc phải tự nhận thức được rằng sự dàn xếp mâu thuẫn bằng bạo lực không phải là con đường đúng đắn và bền vững, mà phải bằng hoà bình, đối thoại. Chỉ có như vậy mới chấm dứt được chiến tranh, duy trì được hoà bình. Con đường ấy, Hồ Chí Minh đã chỉ ra và được lịch sử kiểm chứng. Tư tưởng và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh cho hoà bình thực sự có tầm cỡ quốc tế, đem lại giá trị tinh thần to lớn cho nhân loại. Để kết luận, chúng tôi xin dẫn ra lời nhận xét về Chủ tịch Hồ Chí Minh của cố Thủ tướng ấn Độ I.Nêru: “Thế giới ngày nay đang trải qua một cơn khủng hoảng, khủng hoảng về tâm lý. Cái cần bây giờ là tiếp cận hoà bình hữu nghị và tình bạn. Tiến sĩ Hồ là biểu hiện cho sự tiếp cận đó”.

Lời nhận xét trên đây vẫn còn đúng trong tình hình thế giới hiện nay và mãi mãi còn đúng khi mà các dân tộc trên thế giới còn đấu tranh để có một nền hoà bình bền vững, một sự đoàn kết hữu nghị chân chính. Hoà bình của dân tộc phải được đặt trong nền hoà bình của thế giới, phấn đấu cho hoà bình phải gắn với cuộc đấu tranh cho độc lập, tự do, chống áp bức bóc lột…

Đó là tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về đấu tranh hoà bình, chống chiến tranh mà trong hoàn cảnh quốc tế ngày nay chúng ta phải tuân thủ, để tránh chủ nghĩa hoà bình vô nguyên tắc, tranh thủ hoà bình với bất cứ giá nào, tránh tư tưởng hữu khuynh thủ tiêu ý chí đấu tranh, bàng quan với những cuộc đấu tranh chính nghĩa. Tư tưởng hoà bình, chống chiến tranh đế quốc, xâm lược từ lâu đã mang tính quần chúng rộng rãi, phản ánh nguyện vọng chính đáng của nhân loại tiến bộ. Cho nên tư tưởng về hoà bình của Hồ Chí Minh thể hiện khả nǎng hiện thực trong đời sống quốc tế, là một trong những cơ sở quan trọng cho việc đổi mới tư duy chính trị trong thế giới ngày nay.

Tư tưởng về hoà bình của Hồ Chí Minh đã kế thừa những tư tưởng trước đó, được thể hiện trong các cuộc cách mạng tư sản Mỹ, Pháp thế kỷ XVIII, đặc biệt trong Cách mạng tháng Mười Nga với chính sách hoà bình nổi tiếng của Lênin. Trên cơ sở kế thừa các giá trị chân chính đó, xuất phát từ lòng yêu chuộng hoà bình của dân tộc Hồ Chí Minh đã làm cho tư tưởng của mình phong phú, tiêu biểu cho ý chí chung của nhân loại tiến bộ và vì vậy tư tưởng đó sẽ sống mãi.

3- Tư tưởng Hồ Chí Minh về hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc.

a- Sự hình thành và phát triển tư tưởng hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc có liên quan đến tư tưởng hoà bình trình bày trên. Bởi vì chỉ có trong điều kiện hoà bình, trên nguyên tắc đảm bảo độc lập tự do, bình đẳng của các dân tộc, mới có thể xây dựng được sự hợp tác, tình hữu nghị vững bền. Cho nên cơ sở của sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc đương nhiên bao gồm cả hai yếu tố: thực tiễn và lý luận. Thực tiễn ở đây chính là đòi hỏi cấp thiết của lịch sử Việt Nam và thế giới vào thế kỷ XX về sự hợp tác đoàn kết cho sự phát triển của mình. Đồng thời cũng là thực tiễn hoạt động của bản thân Hồ Chí Minh trong việc tìm hiểu, thể nghiệm ý tưởng đoàn kết các dân tộc thuộc địa đấu tranh cho các quyền dân tộc cơ bản, phấn đấu cho một nền hoà bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc, trước hết là các dân tộc vốn là thuộc địa và phụ thuộc.

Cơ sở lý luận ở đây là sự kế thừa các tư tưởng về hợp tác hữu nghị của các bậc tiền bối trong lịch sử dân tộc, của các trào lưu tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái trên thế giới, đặc biệt là lý luận về tinh thần quốc tế vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự hợp tác và hữu nghị là mong muốn của nhân loại ngay từ khi con người và xã hội mới xuất hiện. “Sự biệt lập” của các cộng đồng người trong buổi đầu thời nguyên thuỷ giảm dần khi sản xuất phát triển, yêu cầu và phạm vi giao tiếp của con người mở rộng. Song cùng với sự giao lưu ngày một tǎng, những mâu thuẫn, xung đột cũng tǎng lên, làm trở ngại cho sự phát triển, củng cố những mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các tầng lớp xã hội và của cộng đồng người. Xuất hiện vào thế kỷ XVI, chủ nghĩa tư bản đã đóng một vai trò tiến bộ trong sự phát triển việc hợp tác, giao lưu của xã hội. Sự hợp tác này đã đảm bảo một nǎng suất lao động cao hơn nhiều so với chế độ phong kiến và phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất. Chẳng bao lâu sau với tính tích cực ấy, chủ nghĩa tư bản đã thống trị thế giới. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường tự do và việc đẩy nhanh quốc tế hoá nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đưa đến sự giao lưu rộng lớn hơn trên quy mô toàn thế giới.

Các nước phương Đông phong kiến lạc hậu cũng sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ nếu hoà nhập được một cách tự nhiên vào quy luật chung của thời đại. Chủ nghĩa tư bản đã làm xích gần các lục địa vốn xa cách về địa lý tạo nên một khối liên kết có lợi cho việc xâm lược của tư bản thực dân. Đã có lúc hầu như các lục địa trở thành “thị trường chung” của chủ nghĩa tư bản, và đến cuối thế kỷ XIX, nước Anh tư bản chủ nghĩa trở thành “công xưởng của thế giới”. Đồng thời với việc “xích gần” nhân dân các châu lục dưới sức mạnh của đại bác, chủ nghĩa tư bản gây nên sự thù địch giữa các dân tộc – trước hết là “chính quốc” và “thuộc địa”. Đặc biệt, vào cuối thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản đã trở thành chủ nghĩa đế quốc thì những cuộc chiến tranh tàn khốc đã xảy ra, thường xuyên đe doạ cuộc sống thanh bình trên hành tinh, đe doạ sự tồn tại của nhiều dân tộc, làm trở ngại cho sự hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc.

Không phải ngẫu nhiên mà ngay khi Cách mạng tháng Mười thành công, sắc lệnh đầu tiên của chính quyền Xôviết, do Lênin lãnh đạo, là Sắc lệnh hoà bình. Sắc lệnh đó tuyên bố chính phủ Xôviết hoàn toàn không thừa nhận bất cứ các hiệp ước xâm lược nào và đề nghị nhân dân và chính phủ tất cả các nước tham chiến bắt đầu đàm phán ngay để ký một hiệp ước chung về dân chủ và công bằng với tinh thần hợp tác, hữu nghị. Sắc lệnh ấy cũng đã thể hiện tư tưởng của Lênin về khả nǎng chung sống hoà bình giữa hai hệ thống có chế độ khác nhau, và khả nǎng phát triển những quan hệ kinh tế, vǎn hoá giữa các dân tộc.

Việc bọn đế quốc thực dân đào hố chia rẽ giữa nhân dân “thuộc địa” và “chính quốc”, giữa nhân dân các nước thuộc địa, giữa vô sản các nước, để đẩy họ đến chỗ thù địch, chém giết nhau vì lợi ích của chúng đã gây một “phản tác dụng”. Đó là yêu cầu phải liên kết, hợp tác với nhau trong cuộc sống, trong đấu tranh. Nhu cầu chống chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc thực dân thực sự trở nên cấp bách đối với nhân dân tất cả các nước phương Đông. Trong thời kỳ này, các cường quốc quốc tế đã tiến hành bành trướng trên một quy mô rộng lớn hơn bao giờ hết. Riêng ở châu á vào nǎm 1900 đã có hơn 56,6% lãnh thổ bị các cường quốc Âu – Mỹ xâm chiếm. Sự thôn tính và áp bức dân tộc đã làm cho mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các dân tộc bị nô dịch ngày càng tǎng, dẫn đến tiền đề khách quan cho sự bùng nổ cách mạng của các nước phương Đông.

Hồ Chí Minh trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, đã nhanh chóng nhận thấy tình trạng này. Người tổng kết, khái quát những nhận xét đầu tiên của mình bằng những luận điểm nổi tiếng về nhu cầu, khả nǎng, điều kiện hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc. Những luận điểm ấy được trình bày trong các bài nói và viết vào những nǎm 20, như Đông Dương, Đồng tâm nhất trí, Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa, Đoàn kết, Đoàn kết giai cấp, v.v.. Đây là những luận điểm ban đầu làm cơ sở cho nội dung tư tưởng của Người về hợp tác, hữu nghị. Điểm nổi bật trong tư tưởng của Người lúc ấy là sự hợp tác, đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức tạo nên sức mạnh chống đế quốc, thực dân.

Điều đáng chú ý là trong tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc chủ nghĩa đế quốc thực dân đã sử dụng chính sách “chia để trị” như một chính sách cơ bản để xâm lược và cai trị các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. “Chia để trị” là một nguyên tắc cai trị cổ điển có từ thời Lamã cổ đại. Nguyên tắc cổ điển này được chủ nghĩa thực dân sử dụng ngày càng rộng rãi. C.Mác đã từng nói tới việc thực dân Anh sử dụng nguyên tắc đó trong việc chinh phục và thống trị ấn Độ. Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc, nguyên tắc đó, được thực hiện như một chính sách để chia rẽ lực lượng của từng dân tộc và của các dân tộc chống lại các cường quốc Âu – Mỹ. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện một điều là các dân tộc nhỏ yếu và lạc hậu cần phải đoàn kết toàn dân và hơn nữa các dân tộc phải liên hiệp lại.

Để chống chính sách “chia để trị” của đế quốc thực dân, chỉ có đoàn kết, tập hợp lực lượng trong phạm vi quốc gia và quốc tế mới có hiệu quả. Đó là yêu cầu của thời đại mà Hồ Chí Minh đã nắm bắt được và phản ánh trung thực. Quan điểm lý luận ấy đã chi phối mọi hoạt động của Nguyễn ái Quốc trong việc xây dựng các tổ chức quần chúng rộng rãi, các Mặt trận nhân dân thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc, chống chiến tranh. Đó là biểu hiện, mà cũng là kết quả của sự hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc, đặc biệt các dân tộc vốn là thuộc địa, phụ thuộc. b- Nguyễn ái Quốc đã đi khắp nǎm châu, bốn bể, qua nhiều nước, tiếp xúc nhiều người, đọc nhiều sách, cho nên, Người cũng tiếp nhận nhiều quan điểm tư tưởng khác nhau.

Những điều mà Người lựa chọn, gạn lọc được là những điều đáp ứng được cho mục đích cứu nước, giúp đỡ nhân dân lao động nghèo khổ, bị áp bức trên thế giới. Người lại được chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng, nên quan điểm tư tưởng về hợp tác hữu nghị của Người vừa phù hợp với yêu cầu thời đại, vừa đáp ứng những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của cuộc đấu tranh để giải phóng các dân tộc bị áp bức. Việc hoà nhập vào thế giới, việc hợp tác, hữu nghị với các dân tộc trước hết xuất phát từ yêu cầu cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa đế quốc. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc rất phong phú, ở đây chúng ta đề cập một số vấn đề cơ bản:

Thứ nhất, như đã trình bày, tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc hình thành là do yêu cầu của thời đại chúng ta, cũng như quá trình phát triển lịch sử lâu dài của dân tộc và thế giới. Vì vậy, nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến tư tưởng về hợp tác, hữu nghị của Hồ Chí Minh là sự nhận thức về tính chất, yêu cầu của thời đại. Trong rất nhiều bài nói, bài viết, công trình biên soạn của mình, Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở rằng bọn đế quốc, thực dân đã liên kết với nhau để thống trị nhân dân lao động bị áp bức, nên họ phải đoàn kết chặt chẽ đấu tranh chống lại chúng. Với tư cách là một người dân thuộc địa, một chiến sĩ đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức, một người cộng sản phấn đấu cho lý tưởng cao đẹp của nhân loại, Hồ Chí Minh luôn luôn kêu gọi và góp phần thực hiện sự hợp tác, liên minh giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội vì những mục tiêu chung, cao cả.

Nghiên cứu kỹ các tác phẩm của Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy rằng, khi chủ trương hợp tác vững bền, lâu dài Người không chỉ xuất phát từ những mục đích chính trị – xã hội của thời đại – độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội – mà còn vì sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất thế giới. Sự phát triển như vũ bão của khoa học – kỹ thuật càng đòi hỏi sự hợp tác hoà bình của các dân tộc. Trong điều kiện chiến tranh, giữa rừng núi Việt Bắc hầu như kẻ thù bao vây tứ phía, gần như tách biệt với thế giới vǎn minh, tiến bộ về khoa học, kỹ thuật bên ngoài, tư tưởng này của Hồ Chí Minh thật đúng đắn, chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng của Người. Tiếc rằng, trong đường lối chủ trương của các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả Việt Nam, vào những thập kỷ 50 – 60, đã không chú ý đúng mức đến sự phát triển và tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nên đã “đóng cửa”, không có sự trao đổi, học tập kinh nghiệm tiên tiến của nước ngoài.

Sự say sưa với “tính ưu việt” của chủ nghĩa xã hội, việc tách biệt đi đến sự “đối đầu” với các nước có chế độ xã hội khác là một trong những điều kiện cơ bản gây nên sự tụt hậu về nhiều mặt khoa học, kỹ thuật của các nước xã hội chủ nghĩa so với các nước tư bản chủ nghĩa, các nước vừa giành được độc lập dân tộc. Hậu quả của tình hình này là một trong nhiều nguyên nhân dẫn tới sự khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa xã hội, sự tan vỡ của Liên Xô, sự sụp đổ của các nước Đông Âu. Do hiểu rõ thời đại, nên khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Hồ Chí Minh đã nhận thức phải bắt tay với Đồng Minh để khi có thời cơ giành độc lập dân tộc. Sự hợp tác với Mỹ trong những nǎm 1944-1945 là một chủ trương thức thời mạnh dạn.

Thứ hai, sự hợp tác toàn diện, chân thực, hai bên cùng có lợi, tôn trọng nhau là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó được thể hiện trong đường lối, chính sách cụ thể của Đảng và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Hồ Chí Minh nhiều lần gửi thư cho Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, mong muốn có quan hệ tốt giữa hai nước và cùng nhau góp phần giải quyết hợp lý, công bằng nền độc lập của Việt Nam. Ngày 1-11-1945, nhân danh Hội Vǎn hoá Việt Nam, Người đã gửi thư cho Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, đề nghị “được cử một đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định, một mặt thiết lập những mối quan hệ vǎn hoá thân thiết với thanh niên Mỹ, mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”.

Tuy Chính phủ Pháp từ 1945 theo đuổi âm mưu xâm lược và tiến hành cuộc chiến tranh chống lại độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam, song Hồ Chí Minh vẫn bày tỏ thiện chí và thực lòng muốn hợp tác với nước Pháp. Chủ trương của Hồ Chí Minh về hợp tác, hữu nghị với các nước, đặc biệt với những nước đang tiến hành chính sách thù địch với Việt Nam làm cho nhân dân thế giới hiểu đúng thiện chí của dân tộc Việt Nam, phân hoá hàng ngũ kẻ thù, tập hợp lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới chống đế quốc hiếu chiến. Quan hệ với các nước khác, nhất là các nước đã chung vai sát cánh nhau trong đấu tranh giành độc lập và mong muốn xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc thì nội dung này càng được thực hiện có hiệu quả.

Thứ ba, mở rộng sự hợp tác, hữu nghị với nhân dân thế giới, đặc biệt các nước láng giềng, trong khu vực, là điều cốt yếu nhất trong quan hệ quốc tế. Sự hợp tác hữu nghị là biểu hiện tích cực của sự đoàn kết quốc tế giữa các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do, vǎn minh tiến bộ. Xuất phát từ tư tưởng ấy của Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã thực hiện chính sách đối ngoại thân thiện và cởi mở với tất cả các nước để tǎng cường sự hiểu biết và ủng hộ nhau. Chính sách này đã được đề ra ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà được thành lập, đặc biệt từ khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà tuyên bố “sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới”.

Đối với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì củng cố tình hữu nghị truyền thống của nhân dân hai nước Việt – Trung đã giúp đỡ lẫn nhau trong đấu tranh cách mạng. Trong di sản quý báu của Người, các công trình nghiên cứu về Trung Quốc chiếm một số lượng không nhỏ, có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn, góp phần không nhỏ vào xây dựng tình hữu nghị của hai dân tộc. Hồ Chí Minh có nhiều quan hệ tốt đẹp và cảm tình nồng nhiệt với nhân dân ấn Độ. Người đã viết nhiều bài nghiên cứu về ấn Độ (như Thư từ ấn Độ, Phong trào công nhân ấn Độ, Sự bần cùng của nông dân ấn Độ). Những chuyến thǎm ấn Độ của Hồ Chí Minh (5-1946; 2-1958) và các cuộc đón tiếp những nhà lãnh đạo ấn Độ đến thǎm Việt Nam đã tǎng cường và củng cố mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước.

Sự giản dị, lòng chân thực, trung hậu của Hồ Chí Minh đã chinh phục được nhân dân ấn Độ trong chuyến Người sang thǎm ấn Độ nǎm 1958. Tờ Thời báo ấn Độ nhận xét: “Cụ Hồ thật sự là một người của quần chúng, là kết tinh sự phúc hậu với lòng trung thực. Cụ thật sự là một trong những nhân vật lỗi lạc của thời đại chúng ta”. Đối với các nước Đông Nam á, vốn có quan hệ lâu đời với Việt Nam, đặc biệt nhân dân hai nước láng giềng Lào và Campuchia, Hồ Chí Minh ra sức xây đắp tình đoàn kết thân ái. Bởi vì, Việt Nam, Lào, Campuchia cùng chung cảnh ngộ nên từ rất sớm Hồ Chí Minh luôn luôn gắn bó số phận ba nước trên bán đảo Đông Dương. Trên các diễn đàn quốc tế, trong những bài viết, bài nói, Hồ Chí Minh cất lên tiếng nói chung của nhân dân Đông Dương, làm cho thế giới hiểu rằng dù bị áp bức, bóc lột thậm tệ, nhưng “người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi” và “đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”. ý thức tư tưởng của Hồ Chí Minh về hợp tác, đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân ba nước Đông Dương đã trở thành đường lối, tổ chức, hành động.

Nhân dân ba nước đã hợp tác, giúp đỡ nhau trong đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và xây dựng đất nước, trên cơ sở tình hữu nghị đặc biệt. Với các nước khác ở khu vực Đông Nam á, Hồ Chí Minh cũng có những đóng góp nhất định đối với công cuộc đấu tranh giải phóng của mỗi nước và xây dựng sự hợp tác hữu nghị với nhau từ những ngày còn sống dưới ách thống trị của bọn thực dân Âu Mỹ. Ngược lại sự giúp đỡ của nhân dân các nước Đông Nam á với cách mạng Việt Nam không nhỏ. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Thái Lan là nơi trú ngụ của nhiều nhà yêu nước cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh đã sống trên đất Xiêm “hoà mình với anh chị em đồng bào, bỏ giày đi đất, cuốc đất, đẵn cây… làm nhiều nghề khác nhau với cộng đồng người Việt trên đất Thái”.

Trong những nǎm đầu kháng chiến chống Pháp, nhân dân các nước Đông Nam á đã giúp đỡ nhiều cho nhân dân Việt Nam. Tại Thái Lan, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà có cơ quan đại diện, cơ quan thông tin, các tiểu đoàn quân Việt kiều được tập luyện, trang bị vũ khí về Nam Bộ đánh Pháp. Tại Miến Điện (nay là Mianma), Liên đoàn chống phát xít giúp vũ khí đưa về miền Bắc Việt Nam, cơ quan đại diện và phòng thông tin của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà được thành lập…

Trong một thời gian, những chuyển biến chính trị ở một vài nước Đông Nam á đã ảnh hưởng xấu đến quan hệ hữu nghị với Việt Nam; song, Hồ Chí Minh vẫn không bao giờ quên củng cố tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước Đông Nam á. Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Người vẫn dành những chuyến đi thǎm hữu nghị các nước Inđônêxia, Miến Điện và cố gắng giữ quan hệ tốt với các nước khác trong khu vực. Điểm qua một số sự kiện về lịch sử quan hệ, hợp tác giữa Việt Nam và các nước trên thế giới nói chung, trong khu vực nói riêng, chúng ta thấy rằng tư tưởng đoàn kết quốc tế, liên kết khu vực, cùng nhau chống xâm lược đã hình thành ở Hồ Chí Minh từ khi Người đi tìm đường cứu nước.

Điều cần nhấn mạnh là trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết hợp tác thể hiện rõ mối quan hệ giữa dân tộc và khu vực, dân tộc và thế giới, khu vực và thế giới. Mối quan hệ giữa 3 góc của tam giác dân tộc – khu vực – thế giới phản ánh nhận thức của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải giúp đỡ nhau trong đấu tranh chống đế quốc.

Thứ tư, giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, điều hoà sự đa dạng về xu hướng chính trị, chế độ xã hội của các nước để các dân tộc gần gũi nhau, hiểu biết nhau là điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết hợp tác hữu nghị. Tư tưởng hợp tác, hữu nghị của Hồ Chí Minh có mục tiêu, định hướng rõ rệt, không mang tính chất mơ hồ về chính trị. Nó giúp chúng ta biết phân biệt người xấu, kẻ tốt để kết bạn. Đó là đường lối “thêm bạn bớt thù” mà V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Chỉ có thể thắng một kẻ địch mạnh hơn bằng một nỗ lực hết sức lớn, và với điều kiện bắt buộc là phải lợi dụng một cách hết sức tỉ mỉ, hết sức chǎm chú, hết sức cẩn thận, hết sức khôn khéo bất cứ một “rạn nứt” bé nhỏ nhất nào giữa các kẻ thù, bất cứ những mâu thuẫn bé nhỏ nhất nào về lợi ích giữa giai cấp tư sản các nước, giữa các tập đoàn hay các hạng tư sản khác nhau ở trong từng nước, cũng như phải lợi dụng mọi khả nǎng dù bé nhỏ nhất để có được một bạn đồng minh mạnh về số lượng, dù đó là bạn đồng minh tạm thời, bấp bênh, có điều kiện, ít chắc chắn và ít đáng tin cậy…”.

Tuy nhiên, tư tưởng hợp tác hữu nghị của Hồ Chí Minh, được thấm nhuần truyền thống nhân ái của dân tộc, quan điểm giai cấp, không phải là hành động “sách lược”, giả dối để “thu phục nhân tâm”. Chính vì sự thành thực, trong sáng, thuỷ chung nên tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc đã nhận được sự hoan nghênh của nhân dân các nước.

***

Xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng cách mạng lâu dài và trước mắt, tư tưởng Hồ Chí Minh về hoà bình, hợp tác hữu nghị phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại. Nó vừa đảm bảo tính nguyên tắc, vừa chỉ đạo thực hiện mềm dẻo, cơ động linh hoạt mà đạt được hiệu quả cao. Những nguyên tắc này là cơ sở của chính sách đối ngoại, hoạt động quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ trước đến nay.

GS. Phan Ngọc Liên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995)

cpv.org.vn

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế – Phần 3

III. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA,
VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta trong bối cảnh thế giới đầy biến động hiện nay đang ngày càng làm sáng tỏ những giá trị lâu bền trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, tư tưởng của Người về cách mạng xã hội chủ nghĩa, về phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là một vấn đề quan trọng.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng xã hội chủ nghĩa.

a- Trong thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về việc gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng xã hội và giải phóng con người. Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác- Lênin. Lúc đầu là từ chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải chủ nghĩa cộng sản. Người tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin con đường giải phóng dân tộc và bước phát triển tiếp theo của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đề cập nhiều đến vấn đề giải phóng dân tộc, vấn đề cǎn bản nhất. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không phải là một nhà cách mạng có tư tưởng độc lập dân tộc thuần tuý hay “dân tộc chủ nghĩa”. Người không hướng cách mạng giải phóng dân tộc tới một chế độ dân chủ tư sản thông thường. Người chủ trương cách mạng phải triệt để, tức là giải phóng nhân dân khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, làm cho đời sống được ấm no, hạnh phúc.

Để đạt được mục tiêu này, việc giải phóng dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội. Gắn liền độc lập dân tộc với ấm no, hạnh phúc của nhân dân trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là một đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức nói chung. Tư tưởng này chưa có trong suy nghĩ và hành động của các bậc tiền bối yêu nước và cách mạng của Việt Nam cũng như của nhiều nước thuộc địa khác. Trước kia các vị anh hùng dân tộc mới khơi dậy ở nhân dân lòng yêu nước nồng nàn để đánh đuổi giặc ngoại xâm chứ chưa đề cập nhiều đến việc xây dựng cuộc sống tự do, hạnh phúc mai sau của họ. Trong thời đại mới, Hồ Chí Minh có điều kiện nhận thức được nguyện vọng lâu đời của nhân dân về độc lập dân tộc và một cuộc sống tự do, hạnh phúc, ấm no. Ngay từ nǎm 1911, khi quyết định ra đi tìm đường cứu nước, Người đã nghĩ đến mong ước này của đồng bào mình. Càng ngày, Người càng hiểu thêm rằng độc lập cho mỗi dân tộc, tự do cho mỗi con người là khát vọng lớn lao, sâu xa nhất của mọi dân tộc cũng như của cả loài người. Điều đó giải thích vì sao ngay từ đầu những nǎm 20 của thế kỷ, trong lúc chủ nghĩa xã hội khoa học còn bị kẻ thù bưng bít, còn khá xa lạ với nhiều dân tộc bị áp bức thì Nguyễn ái Quốc đã nhận thức được con đường tất yếu và tất thắng của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng ở các nước thuộc địa khác trong thời đại mới là chủ nghĩa cộng sản.

Đầu nǎm 1922, trong Truyền đơn cổ động mua báo Người cùng khổ, Người viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc”. Nǎm 1930, khi viết Chính cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng và được hội nghị hợp nhất Đảng nhất trí thông qua, Nguyễn ái Quốc đã cho chúng ta thấy rõ rằng, ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh đầu tiên của mình, Đảng cộng sản Việt Nam đã lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa, khi đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong triển vọng tiến lên chủ nghĩa xã hội . Đó là một tư tưởng chính trị hết sức quan trọng mà sau này Người khẳng định con đường cách mạng vô sản là con đường duy nhất đúng cho giải phóng dân tộc. ý nghĩa của luận điểm này không chỉ giới hạn trong cách mạng Việt Nam mà ngày càng được mở rộng trên phạm vi thế giới ở những mức độ, phạm vi, hình thức, phù hợp với điều kiện mỗi nước. Khi khẳng định chỉ có giải phóng giai cấp vô sản mới giải phóng được dân tộc, Người vẫn nhấn mạnh rằng: “Dân tộc cách mạng vẫn là một nhiệm vụ trong giai cấp cách mạng; sự chuyển biến lối này hay lối khác đó là do hoàn cảnh từng nơi, từng lúc, chứ không phải hai đường sai trái với nhau”.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam, cách mạng Lào, một số nước sau khi giành được độc lập, chứng minh tính đúng đắn của luận điểm tư tưởng này trong thời gian trước đây cũng như ngày nay và mai sau. Như vậy, Hồ Chí Minh đã làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa giải phóng dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đặt nền tảng cho sự quá độ từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta cũng như ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc khác. Điều này không chỉ thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử mà còn vì chính bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữ vững thành quả của công cuộc giải phóng dân tộc. Tư tưởng về chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh tập trung chủ yếu vào hai vấn đề cơ bản đối với các dân tộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Một là, xác định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và phương hướng tiến lên của cuộc cách mạng này.

Hai là, từng bước xây dựng kế hoạch và biện pháp xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, ngay cả khi còn làm nhiệm vụ dân tộc dân chủ.

Những tư tưởng và lý luận về các giai đoạn cách mạng Việt Nam và sự phân định các bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta, đã được Hồ Chí Minh và Đảng ta giải quyết một cách sáng tạo và cǎn bản ở Đại hội lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951). Khi xác định tình hình đặc điểm thế giới để xác định con đường phát triển cách mạng Việt Nam, ngay từ lúc còn kháng chiến chống Pháp, tại Đại hội lần thứ II của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phân tích khía cạnh chính trị – xã hội của thời đại mà còn đề cập đến tính chất của lực lượng sản xuất. Qua phân tích thành tựu cuộc cách mạng khoa học – công nghiệp, Người đã nhận thức: “loài người đã tiến một bước dài trong việc điều khiển sức tự nhiên”. Đây là một nhận thức đúng đắn, toàn diện về thời đại, đã cùng với nhận định khác về tình hình trong nước và thế giới để vạch ra chính cương sách lược của Đảng trong việc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chuẩn bị điều kiện thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Nhận thức quy luật phát triển của lịch sử, phân tích những điều kiện chủ quan và khách quan, Đại hội lần thứ II của Đảng đã thông qua Chính cương, trong đó đã nêu rõ các giai đoạn từ cách mạng dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa: “… Giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, thực hiện triệt để người cày có ruộng, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội. Ba giai đoạn cách mạng ấy không tách rời nhau, mà mật thiết xen kẽ với nhau. Nhưng mỗi giai đoạn có một nhiệm vụ trung tâm, phải nắm vững nhiệm vụ trung tâm đó để tập trung lực lượng vào đó mà thực hiện”. Tư tưởng về chủ nghĩa xã hội trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Hồ Chí Minh không chỉ xác định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống ngoại xâm, phương hướng tiến lên của cách mạng, mà còn chỉ rõ bước đầu tiến hành xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội khi đang còn làm nhiệm vụ dân tộc, dân chủ.

Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không diễn ra theo con đường từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mà là một sự quá độ từ một nước nông nghiệp lạc hậu, mức sản xuất kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Những luận điểm ấy được đề ra trong một hoàn cảnh rất đặc biệt, trên một đất nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng trong suốt hơn 20 nǎm (1954-1975) – tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Có thể coi tư tưởng về chủ nghĩa xã hội và xây dựng xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh là một cuộc “khai phá” chưa hề có trong lịch sử, đặc biệt có ý nghĩa với các nước vốn là thuộc địa và phụ thuộc. Giáo sư Nhật bản Shingo Shibata đã có lý khi nhận xét rằng: “Một trong những cống hiến quan trọng của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là đã đề ra lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân… ý kiến chung về chủ nghĩa xã hội cho tới nay vẫn còn thịnh hành trong chủ nghĩa Mác là chỉ có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi chiến tranh đã chấm dứt… Họ (nhân dân Việt Nam – TG) phải thực hiện việc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn có chiến tranh. Theo tôi được biết, Đảng Lao động Việt Nam là Đảng đầu tiên trong các Đảng mácxít trên thế giới áp dụng lý luận này”. Là người mở đường, Hồ Chí Minh đã đề ra những luận điểm về chủ nghĩa xã hội với sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, với nhận thức sâu sắc về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại.

Những luận điểm của Người về chủ nghĩa xã hội đã được thực tế chứng minh là đúng đắn và sáng tạo. Con đường kết hợp và giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không những đã đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc nước ta đến thắng lợi hoàn toàn, mà ngày nay vẫn đang được tiếp tục phát triển sáng tạo trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mỗi người dân Việt Nam. Hồ Chí Minh đã nhìn thấy con đường phát triển tất yếu của lịch sử, tìm thấy ở chủ nghĩa xã hội nguồn động lực mạnh mẽ để thúc đẩy cách mạng Việt Nam đi tới. Hơn thế nữa, Người đã đặt nền tảng cho sự định hướng tất yếu về sự quá độ từ cách mạng dân tộc dân chủ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng như ở các nước dân tộc thuộc địa khác trên thế giới.

Ngày nay tư tưởng của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vẫn giữ nguyên sức sống của nó, dù chủ nghĩa xã hội đang gặp sự khủng hoảng sâu sắc, sau khi Liên Xô tan vỡ, chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Đông Âu. Việc đổi mới, cải cách, điều chỉnh ở các nước xã hội chủ nghĩa khẳng định chủ nghĩa xã hội vẫn là niềm tin, tương lai của loài người. Bởi vì sau khi giành độc lập về chính trị, các nước chậm phát triển đang phải đấu tranh chống lại các thế lực thực dân mới lợi dụng sức mạnh về tài chính, kỹ thuật và công nghệ cao để kìm hãm họ trong vòng lạc hậu và phụ thuộc. Trong điều kiện đó, các dân tộc “trong khi chối từ con đường đau khổ của chủ nghĩa tư bản, có thể nghiên cứu để tìm thấy trong tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh một hướng đi thích hợp cho sự lựa chọn của mình”.

b- Xuất phát từ mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng như các nước dân tộc độc lập, Hồ Chí Minh đã phác thảo những nét lớn, cơ bản về một xã hội xã hội chủ nghĩa tương lai ở Việt Nam: “Chủ nghĩa xã hội làm sao cho dân giàu, nước mạnh…”. Dân có giàu thì nước mới mạnh, sự phồn vinh của đất nước không thể tách khỏi tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân lao động – người chủ của đất nước. Hồ Chí Minh không đưa ra những định nghĩa cao xa về chủ nghĩa xã hội, nhưng với những câu nói rất dễ hiểu, Người làm cho chúng ta nhận thức rõ rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng cuộc sống phồn vinh cho đất nước, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Mục đích của việc “xây dựng chủ nghĩa xã hội là thay đổi cả xã hội, thay đổi cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm no, hạnh phúc”. Qua phác thảo của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, chúng ta thấy quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh” là quan điểm nhất quán trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người. Nói một cách cụ thể, chủ nghĩa xã hội, như Hồ Chí Minh khẳng định trong nhiều bài nói, bài viết của mình, là: “làm cho mọi người dân sung sướng ấm no”, “hạnh phúc và học hành tiến bộ”, “tất cả mọi người các dân tộc ngày càng sung sướng”.

Những yêu cầu thiết thực ấy không chỉ đối với nhân dân Việt Nam mà phải chung cho mọi dân tộc, đặc biệt là các dân tộc mới giành được độc lập. Bởi vì: nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ǎn no, mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ǎn no, mặc ấm cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ǎn no, mặc ấm. Tư tưởng này là sự phát triển của tư tưởng đoàn kết quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc. Chỉ có sức mạnh của dân tộc chưa thể đánh đuổi được thực dân đế quốc. Một dân tộc riêng rẽ khó xây dựng thành công xã hội “mọi người được ǎn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”. Chúng ta thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sự công bằng xã hội, thể hiện bản chất ưu việt và sức hấp dẫn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà các dân tộc khát khao vươn tới. ở đây, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy cái gốc bền vững của đất nước là người dân, phải dựa vào gốc rễ sâu chặt trong nhân dân – lực lượng quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của quốc gia, dân tộc.

Trong quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh đối với việc phác thảo một xã hội xã hội chủ nghĩa ngoài nhận thức về sự phát triển của xã hội loài người, mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã nêu, còn có sự hiểu biết về nguyện vọng lâu dài của nhân dân lao động ở nhiều nước được sống hạnh phúc, no ấm. Từ nghìn đời nay, nhân dân các nước luôn luôn mơ ước đến một xã hội tươi đẹp, không có đói rét, không có áp bức, bóc lột. Cho nên, sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là yêu cầu tất yếu và tư tưởng về chủ nghĩa xã hội khoa học, kết quả đấu tranh hàng bao thế kỷ của quần chúng cho việc tự giải phóng, là thành tựu tư duy tiến bộ của con người về mặt xã hội nhân đạo, chính nghĩa. Việc chuyển chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học là công lao to lớn của những người sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin. Công lao to lớn của Hồ Chí Minh là ở chỗ biến chủ nghĩa xã hội khoa học thành hiện thực ngay trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và đặc biệt trong xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc.

Trong cả cuộc đời cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã tập trung nhiều sức lực cho công cuộc giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và góp phần vào cuộc đấu tranh giành độc lập của nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc khác. Người chưa vạch ra một kế hoạch, một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội đích thực, như nhân dân mong chờ, như Người ước vọng. Nhưng trong tư duy lý luận của Người và những thực tiễn ban đầu của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chúng ta cũng thấy rõ một số quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội; một phác thảo, tuy đơn sơ nhưng khá sâu sắc, về một mô hình xã hội chủ nghĩa.

Thứ nhất, quan điểm tất cả vì con người, vì dân và do dân là quan điểm được thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh luôn luôn nghĩ đến việc phát huy sức mạnh của dân; cho nên đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, phổ biến kiến thức khoa học và kỹ thuật, nâng cao trí tuệ con người trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo quan niệm của Người, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội dù khó khǎn đến đâu nhưng nếu hợp lòng dân, vì dân sẽ khơi dậy được tinh thần tích cực nǎng động, khả nǎng sáng tạo của mỗi con người, biến họ thành lực lượng vật chất để hoàn thành nhiệm vụ đó. Do vậy, vấn đề trồng người vì sự nghiệp lâu dài của đất nước và dân tộc chiếm một phần rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Trong phác thảo của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh”, mối quan hệ giữa dân với nước là thống nhất – “dân có giàu thì nước mới mạnh”. Người không sợ dân giàu, bởi một lẽ giản đơn: một nhà nước của dân, do dân và vì dân thì dân giàu tức là nước giàu. Theo Người, một mặt nhà nước phải chǎm lo cho dân: tất cả đường lối, chính sách của Đảng đều nhằm nâng cao đời sống nhân dân. Nhà nước phải biết dựa vào dân: huy động tiền của dân và sức của dân để làm việc ích lợi cho dân thì bao giờ họ cũng hǎng hái, công việc gì cũng thành công. Những tư tưởng ấy của Hồ Chí Minh đã “khơi dậy tiềm nǎng bị chôn vùi, phát huy sức mạnh sẵn có, làm nảy nở những cái mới, cái hay, cái đẹp, trong mỗi con người trong sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội cho thấy sự sáng tạo của Người trong việc vận dụng những lý thuyết, những dự báo khoa học của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học. Phác thảo của Người về chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh” không phải là sự rập khuôn giáo điều, càng không phải biến các nước phương Đông – vốn là những nước nghèo nàn, lạc hậu – thành một phòng thí nghiệm để vận dụng những tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa tư bản, cũng như tư tưởng xã hội chủ nghĩa của phương Tây.

Người đã khẳng định chủ nghĩa xã hội có điều kiện phát triển hợp quy luật “ở châu á nói chung và Đông Dương nói riêng”, vì chính “sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, quan niệm về sự giàu có của một dân tộc, sự hùng mạnh của một đất nước do Người nêu ra là sự trở về với bản chất đích thực của chủ nghĩa xã hội mà học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin đã đề cập tới. Đó chính là mục tiêu tiến lên của nhân loại phù hợp với xu thế phát triển chung của lịch sử thế giới.

Không phải ngẫu nhiên mà bạn bè quốc tế khẳng định rằng: “Nói về Hồ Chí Minh cần thấy rõ trong thế giới quan của Người không chỉ những đặc điểm riêng của Việt Nam mà cả những điểm tổng quát, đã khiến Người trở nên gần gũi với nhiều nhà hoạt động tiến bộ hiện đại – Di sản tư tưởng của Người không thuộc riêng Việt Nam”. Chính vì vậy, trong tình hình hiện nay, “trong mọi biến đổi cũng có một số điều quan trọng không hề thay đổi. Đó là lý tưởng xã hội chủ nghĩa, các tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa, tự do, dân chủ và công bằng xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà yêu nước vĩ đại, Người theo chủ nghĩa quốc tế đã cống hiến trọn đời mình cho những lý tưởng đó”.

Thứ hai, nhận thức về chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với nhận thức đúng đắn con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân thế giới đã phấn khởi chứng kiến chủ nghĩa xã hội khoa học từ lý thuyết trở thành hiện thực, đồng thời cũng đau lòng nhận thấy sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội với sự tan vỡ của Liên Xô, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu trong những nǎm qua. Song đó chỉ là thất bại của một mô hình xã hội chủ nghĩa, chứ không phải là sự sụp đổ lý thuyết xã hội chủ nghĩa như nhiều nhà nghiên cứu phương Tây đã vội vàng khẳng định. Việc xác định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội với bản chất đích thực của nó đòi hỏi chúng ta phải trở về với những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội, mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo.

Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội “dân giàu nước mạnh” là một quá trình gian khổ, khó khǎn và lâu dài. Để đạt được mục tiêu đó, không thể nôn nóng, duy ý chí, “không thể làm mau được, mà phải làm dần dần”, phải đề ra những biện pháp cụ thể để từng bước xác lập chủ nghĩa xã hội trong cuộc sống. Nhận thức về con đường xây dựng một mô hình cụ thể cho xã hội tương lai là cả một quá trình. Nó đòi hỏi phải luôn được thực tế cuộc sống kiểm chứng, không được chủ quan duy ý chí. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (cũ) trong bảy thập kỷ qua bên cạnh những thành tựu to lớn, đã cho thấy những thiếu sót về tư tưởng nêu trên. Lần đầu tiên xã hội xã hội chủ nghĩa đã được xem như hoàn thành về cǎn bản ở Liên Xô vào giữa những nǎm 30. Với thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và chiến thắng vĩ đại của Liên Xô trong chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít, những nhà lãnh đạo xô viết lúc ấy đã đặt dấu chấm hết cho sự tìm kiếm con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của loài người, nhất là các dân tộc vốn là thuộc địa và phụ thuộc.

Chủ nghĩa xã hội đã được định hình – chủ nghĩa xã hội hiện thực xô viết dường như trở thành khuôn mẫu cho những ai mơ ước về chủ nghĩa xã hội tương lai. Con đường mà các nước Đông Âu đi lên chủ nghĩa xã hội là sự mô phỏng theo khuôn mẫu đó. Liên Xô có công lớn trong việc đi đầu xây dựng một xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa. Nhân dân Xô viết đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong xây dựng đất nước, đã chiến thắng chủ nghĩa phát xít, giúp đỡ nhân dân các nước giành độc lập, làm cách mạng thành công. Nhưng mô hình xã hội chủ nghĩa xô viết không thể là mô hình chung của các dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là mô hình ấy lại có một số điểm thiếu sót, sai lầm cần khắc phục.

Vốn giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường trong đấu tranh giữ nước, cũng như dựng nước, Hồ Chí Minh một mặt học tập kinh nghiệm cách mạng của các nước anh em, mặt khác, tìm tòi sáng tạo đường lối, kế hoạch đáp ứng được tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ của các nước vừa giành độc lập dân tộc. Người cho rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở các nước như Việt Nam phải phù hợp với những điều kiện cụ thể “vốn là nước thuộc địa, một nước nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá”. Hồ Chí Minh cho rằng nước ta khác Liên Xô về kinh tế – xã hội, phong tục tập quán, cho nên con đường của ta đi lên chủ nghĩa xã hội khác con đường của Liên Xô. Những tư tưởng về sự phân định các bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta giải quyết một cách sáng tạo ở Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951).

Vào những nǎm đầu, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những đặc điểm và những khó khǎn mà đất nước sẽ phải trải qua. Trong những điều kiện như thế cần phải suy nghĩ để “dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội”. Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá I, kỳ họp thứ 11 ngày 18-12-1959 đã đặt cơ sở lý luận cho việc giải đáp những câu hỏi trên: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tiến dần (tác giả nhấn mạnh) từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”.

Nếu nhìn lại lịch sử thế giới trong thời kỳ đó chúng ta cần thấy tính độc lập, vững vàng của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lúc bấy giờ ở một số nước đã có những chủ trương “tả khuynh”, duy ý chí về xây dựng xã hội chủ nghĩa; nó làm nảy sinh tư tưởng nôn nóng “sợ chậm chân”, muốn bỏ qua những giai đoạn phát triển tự nhiên của cách mạng trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển. Nǎm 1957, tuyên bố của Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa, họp ở Mátxcơva, được soạn thảo dựa trên nhiều quan điểm không thích hợp với tình hình cụ thể của thế giới, nhưng lại được coi là cương lĩnh của đảng “cầm quyền”. Sau đó, Trung Quốc “chớp nhoáng” hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp và bước vào thời kỳ “đại nhảy vọt”, thực hiện “công xã nhân dân hoá” chuẩn bị tiến lên “chủ nghĩa cộng sản”, Liên Xô đưa cương lĩnh hai mươi nǎm quá độ lên chủ nghĩa cộng sản.

Việc thực hiện kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội như vậy thể hiện chủ nghĩa duy ý chí, chủ quan… tất nhiên không tránh khỏi thất bại. Tình hình này không phải không ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Nhưng Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện sai lầm, kịp thời điều chỉnh hợp lý. Thực tế đã chứng minh tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội đúng đắn, khoa học và là một kinh nghiệm, một đóng góp lớn của Người đối với nhiều dân tộc tự nguyện chọn con đường phát triển không tư bản chủ nghĩa.

Trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, điều quan trọng mà Hồ Chí Minh luôn luôn cǎn dặn là không bao giờ được xa rời mục đích của chủ nghĩa xã hội. Bởi vì đó là đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, càng bảo đảm cho sự thành công của việc mưu cầu no ấm, hạnh phúc cho dân tộc. Đó là nhân tố bất biến, là chân lý vĩnh hằng trong muôn vàn sự đổi thay của tự nhiên và xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng xã hội chủ nghĩa không chỉ củng cố lòng tin cho nhân dân các nước vừa thoát khỏi ách thống trị, nô dịch của chủ nghĩa đế quốc mà còn phác hoạ cho họ con đường đi đến một xã hội “dân giàu, nước mạnh”, hạnh phúc ấm no.

Thực ra từ sau Cách mạng tháng Mười Nga nǎm 1917, chủ nghĩa xã hội đã chinh phục con tim khối óc của hàng triệu những người lao động ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là tất yếu, dù những mô hình xã hội chủ nghĩa cũ đã sụp đổ. Đó là niềm tin có cơ sở khoa học. Chúng ta không hề nghiêng ngả trước việc nhiều người khẳng định rằng “sự kết thúc của thế kỷ XX cũng là việc chấm dứt những cuộc xung đột giữa Đông – Tây” và phương Tây đã “thắng cuộc”, đã “hoàn thành mỹ mãn nhất nhiệm vụ lịch sử của mình trong việc làm cho “cuộc đấu tranh của chủ nghĩa tư bản đa nguyên thắng lợi hoàn toàn đối với chủ nghĩa xã hội mác xít – lêninnít”.

Trong điều kiện thế giới ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng cho nhân dân nhiều nước đang phát triển đi tìm một mô hình xã hội công bằng, ấm no, hạnh phúc, tuy con đường đi tới chủ nghĩa xã hội không phải hoàn toàn thuận lợi, phẳng phiu. “Một chế độ này biến đổi thành một chế độ khác là cả một cuộc đấu gay go, kịch liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái cũ và cái mới, giữa cái thoái bộ với cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn và cái đang phát triển”. Song lịch sử cho thấy, “cái mới đang tiến bộ nhất định thắng”; “chế độ tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ biến đổi thành chế độ xã hội chủ nghĩa”. Công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã lựa chọn, được thực hiện từ nǎm 1986 là sự tuân thủ nghiêm túc, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng xã hội chủ nghĩa, đúng với bản chất đích thực của chủ nghĩa xã hội mà học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đề cập tới.

Nhân dân thế giới thấy rõ rằng chính nhờ quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh mà “trước những thử thách rất lớn vừa qua nhân dân ta vẫn có đủ tỉnh táo, biết phân biệt chính tà, kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa. Đảng ta giữ được vai trò lãnh đạo của mình, cả nước ra sức phấn đấu cho sự nghiệp đổi mới, đồng thời tránh được cho đất nước những rối loạn, những đổi mới nguy hiểm”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội có sức sống mạnh mẽ và lâu bền vì nó thể hiện sự nhận thức quy luật phát triển của lịch sử, như Người đã nhiều lần khẳng định: “Con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội của các dân tộc là con đường chung của thời đại, của lịch sử, không ai ngǎn nổi” và “sớm hay muộn tất cả các nước đều sẽ đi theo con đường đó”.

Trong lịch sử cũng như trong hiện tại và tương lai, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội đã soi sáng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta và góp một kinh nghiệm cho các nước lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Không phải ngẫu nhiên mà bạn bè quốc tế đã khẳng định rằng: “Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa sáng tạo vĩ đại và một người hành động. Chủ nghĩa xã hội của Người không bè phái, cũng không giáo điều mà nhân đạo và nhân loại”. Chính vì thế đối với những người bạn ở châu Phi xa xôi, “Giá trị của những tư tưởng Hồ Chí Minh vào thời điểm lịch sử hiện nay cũng là một động lực quan trọng đối với các nước châu Phi trong cuộc đấu tranh vì sự thống nhất và phát triển kinh tế – xã hội của dân tộc mình”.

2- Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược đoàn kết quốc tế trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Hồ Chí Minh gắn bó cả đời mình với phong trào công nhân và cộng sản quốc tế và có nhiều đóng góp to lớn. Người có những quan điểm về cách mạng thế giới, về chủ nghĩa xã hội. ở đây chúng tôi giới hạn việc trình bày ở nội dung tư tưởng nổi bật của Người là tư tưởng đoàn kết quốc tế. Tư tưởng này bao gồm nhiều mặt: đoàn kết giai cấp vô sản thế giới, đoàn kết giữa nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh cho độc lập tự do, đoàn kết giữa vô sản và nhân dân bị áp bức các nước.

a- Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nêu một nguyên lý là:

Để thoát khỏi mọi sự áp bức, bóc lột và xây dựng cuộc sống hạnh phúc thì luôn luôn phải giải quyết tốt mối quan hệ đúng đắn giữa lợi ích của dân tộc với lợi ích của nhân dân thế giới. Vấn đề này không những có tính lý luận mà còn là thời sự nóng hổi, đang đặt ra trước những người cách mạng trong thế giới đang biến đổi nhanh chóng hiện nay. Về lịch sử, lợi ích dân tộc đã có từ lâu, gắn liền với sự xuất hiện các quốc gia.

Chủ nghĩa quốc tế vô sản chỉ xuất hiện khi giai cấp công nhân trở thành một giai cấp quốc tế gắn liền với nền sản xuất lớn. Mác và Ǎngghen là những người đầu tiên nói đến chủ nghĩa quốc tế vô sản khi đưa ra khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”. Phát triển tư tưởng của Mác- Ǎngghen, kết hợp với thực tế lịch sử lúc bấy giờ – khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, Lênin cho rằng chủ nghĩa tư bản đã là một lực lượng quốc tế, nên muốn thắng nó cần phải xây dựng liên minh quốc tế và “vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.

Như đã nói, trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã nhận thức rằng trước hết và cần thiết phải có liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộc địa, giữa nhân dân thuộc địa với giai cấp vô sản của các nước đế quốc để thắng kẻ thù chung. Nhận thức này là cơ sở cho một kết luận khái quát về bức tranh chung của thế giới trong thời đại đế quốc chủ nghĩa: “dù màu da có khác nhau trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”.

Hồ Chí Minh đã hoạt động không mệt mỏi để nhân dân các nước “chính quốc” và thuộc địa hiểu nhau. Người đã giúp các đồng chí của mình ở chính quốc nhìn rõ hơn bản chất chính sách thuộc địa của bọn đế quốc, hiểu biết và ủng hộ công cuộc giải phóng của nhân dân Việt Nam , các dân tộc phương Đông thuộc địa, cũng như làm cho nhân dân thuộc địa đoàn kết với nhân dân chính quốc đấu tranh chống kẻ thù chung – chủ nghĩa đế quốc. Nǎm 1921, trong bài viết nhan đề Đông Dương, Nguyễn ái Quốc khẳng định rằng, công cuộc giải phóng các dân tộc châu á, Đông Dương, phải đặt trong mối quan hệ với công cuộc giải phóng vô sản ở phương Tây, trên phạm vi thế giới và sự phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Cơ sở vững chắc của sự đoàn kết giữa nhân dân thuộc địa và nhân dân, giai cấp vô sản chính quốc là lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Trả lời câu hỏi có thể vận dụng được chế độ cộng sản ở châu á nói chung, ở Đông Dương nói riêng hay không? Người khẳng định là được. Chủ nghĩa quốc tế của Hồ Chí Minh trong quan hệ giữa nhân dân thuộc địa và nhân dân chính quốc được xây dựng trên một quan điểm tư tưởng thực sự khoa học, chân chính chứ không phải là biểu hiện của “chủ nghĩa dân tộc” cực đoan. Không thấy sự kết hợp nhuần nhuyễn và độc đáo những yếu tố dân tộc và quốc tế sẽ không hiểu được tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều này thể hiện một tầm nhìn rộng lớn của một con người hết lòng yêu nước, đã sống cuộc sống cùng khổ của các dân tộc thuộc địa và cũng tự mình hoà vào cuộc sống lao động của công nhân các nước tư bản. Nhờ vậy Hồ Chí Minh đã đưa sự nghiệp cứu nước của dân tộc hoà vào trào lưu cách mạng thế giới và tạo nên sự ủng hộ quốc tế đối với phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh là một trong những người dân thuộc địa đầu tiên chứng minh rằng, các nước thuộc địa và phụ thuộc có thể và sẵn sàng tiếp nhận chủ nghĩa cộng sản, công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phải đặt trong mối quan hệ mật thiết với cách mạng vô sản ở phương Tây, trên phạm vi thế giới và phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, cần phải truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào các nước thuộc địa và phụ thuộc. Phong trào công nhân và cộng sản quốc tế không bao giờ quên những đóng góp to lớn của Nguyễn ái Quốc trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào nhiều nước, trong việc xây dựng và củng cố một số Đảng cộng sản, chỉ đạo phong trào cách mạng ở phương Đông, vận dụng một cách sáng tạo học thuyết mácxít lêninít vào điều kiện cụ thể ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh cũng đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của nó.

Trong nhiều bài viết về phong trào công nhân các nước Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước phương Đông khác, Nguyễn ái Quốc không chỉ rút kinh nghiệm cuộc đấu tranh chống tư bản đế quốc, mà còn chống những khuynh hướng sai lầm trong phong trào công nhân và cộng sản quốc tế. Theo Người, chủ nghĩa xét lại hay chủ nghĩa giáo điều đều là những kẻ thù nguy hại của chủ nghĩa Mác – Lênin, dẫn tới nguy cơ làm cho cách mạng thất bại. Trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng tạo, có hiệu quả vào hoạt động thực tế cụ thể là nét đặc trưng trong tư duy và hành động của Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo, lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới, rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Những người cộng sản các nước phải cụ thể hoá chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc và từng nơi… Phải học tập tinh thần … lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin … mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tiễn trong công tác cách mạng của chúng ta”.

Có thể xem đây là một nguyên tắc phương pháp luận của Hồ Chí Minh về học tập và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính bằng phương pháp này Người đã phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin về việc giải quyết mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc, về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc, về mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng… Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và giải phóng dân tộc mà còn là sự bảo vệ tích cực chủ nghĩa xã hội khoa học đang trong cơn sóng gió. Việc tổ chức và lãnh đạo thắng lợi cách mạng Việt Nam là minh chứng về sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại ngày nay. Việc làm sáng tỏ, bổ sung, phát triển nhiều luận điểm quan trọng về cách mạng giải phóng dân tộc, về xây dựng Đảng, về mối quan hệ quốc tế, về xây dựng xã hội chủ nghĩa… không chỉ làm phong phú mà còn có tác dụng, có hiệu quả trong cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, xây dựng lòng tin vững chắc của công nhân, nhân dân lao động thế giới vào chủ nghĩa Mác – Lênin.

Trong tình hình thế giới hiện nay, khi phong trào công nhân và cộng sản quốc tế gặp nhiều khó khǎn, nhiều nhà lý luận phương Tây khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác đã lỗi thời. Cho nên việc bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin là làm đúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh: tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển. Một trong những điều kiện để bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, chống sự tấn công của mọi kẻ thù là đảm bảo sự đoàn kết trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong quá trình hoạt động cho phong trào cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh bao giờ cũng coi trọng sự đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản thế giới. Vấn đề này trước đây cũng như hiện nay là một đối tượng tấn công của những người chống chủ nghĩa Mác – Lênin. Họ gây ra sự nghi ngờ và phủ nhận tính chất hiện thực, đúng đắn của tinh thần quốc tế vô sản. Hơn lúc nào hết, tư tưởng Hồ Chí Minh làm chúng ta thấy rõ hơn ý nghĩa to lớn của sự đoàn kết quốc tế, sự “đoàn kết giai cấp” – như tên một bài viết của Người đǎng trên báo Người cùng khổ, tháng 5-1924.

Đoàn kết quốc tế không chỉ vì lợi ích của phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, mà còn là sự thể hiện tình cảm sâu nặng của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giải phóng toàn thể nhân dân lao động và vô sản thế giới. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh sự đoàn kết quốc tế không chỉ dừng ở nhận thức về chủ nghĩa quốc tế vô sản mà còn phải thực hiện bằng hành động cụ thể. Trong việc xây dựng tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân Lào, Campuchia và các nước khác, Hồ Chí Minh đã thể hiện tư tưởng này. Người nhiều lần nhấn mạnh rằng sự đoàn kết giữa nhân dân ba nước là một yêu cầu khách quan trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, trong kháng chiến và kiến quốc. Người nói: “Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với dân tộc anh em Miên – Lào thì sức mạnh sẽ đủ để đánh tan thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ”. Đồng thời Người cũng chỉ ra rằng “Ba nước bang giao với nhau trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng và tôn trọng độc lập quốc gia của nhau”.

Như vậy, sự đoàn kết quốc tế, theo tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sự đoàn kết giai cấp vô sản thế giới mà còn là sự đoàn kết giữa nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc đấu tranh cho độc lập, tự do. Vì vậy Hồ Chí Minh cho rằng phải bình đẳng, tôn trọng tinh thần độc lập, tự chủ, kết hợp khả nǎng của mỗi dân tộc với sự giúp đỡ của các dân tộc khác để hoàn thành nhiệm vụ của dân tộc và góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng thế giới. Cho nên “giúp nhân dân nước bạn tức là giúp mình”. Và giải phóng cho dân tộc mình cũng “góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc” trên thế giới. Điều đó cho thấy cuộc đấu tranh của mỗi dân tộc vừa phục vụ lợi ích dân tộc vừa làm nghĩa vụ quốc tế. Hai yếu tố đó quyện chặt với nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp nhân dân ta và nhân dân các nước anh em đạt những thắng lợi to lớn và góp phần vào thắng lợi của cách mạng thế giới.

Trung thành với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn kết hợp hài hoà giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của cách mạng thế giới trong chính sách, chủ trương và hành động. Trong chiến tranh chống Mỹ, Đảng ta luôn gắn lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập và thống nhất Tổ quốc với lợi ích của nhân dân thế giới là hoà bình. Do vậy, trong lúc tranh thủ viện trợ to lớn của các nước anh em và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, Đảng ta luôn chủ trương phải thắng đế quốc Mỹ bằng sức của mình là chính và ở ngay trên đất Việt Nam. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã góp phần không nhỏ vào việc tạo điều kiện cho Liên Xô tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng lớn mạnh, vào sự phát triển của cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới. Lịch sử trong nhiều nǎm qua chứng tỏ sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết chân chính: “Quan san muôn dặm một nhà Bốn phương vô sản đều là anh em”.

b- Đoàn kết quốc tế là cần thiết, tất yếu, Đảng phải thực hiện theo những nguyên tắc nào ?

Thiếu nguyên tắc chỉ đạo đúng đắn sẽ dẫn tới những hậu quả lớn, do chia rẽ, bè phái gây ra. Về lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định những nguyên tắc trong quan hệ giữa các Đảng cộng sản và công nhân, cũng như với các tổ chức dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước (1911), nhất là khi trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (1920), Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng đến quan hệ quốc tế giữa các đảng cộng sản, các tổ chức yêu nước tiến bộ trên thế giới. Dù với tư cách nào – đảng viên của Đảng cộng sản Pháp, hay đại diện cho Đảng cộng sản Đông Dương ở nước ngoài, hoặc là nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước – Hồ Chí Minh bao giờ cũng tuân thủ những nguyên tắc nhất định trong quan hệ quốc tế. Về cơ bản có thể rút ra những nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, thể hiện tính tất yếu của mối quan hệ giữa các Đảng cộng sản, công nhân và tổ chức chính trị tiến bộ. Từ nhận thức tính chất thời đại thể hiện ở sự đối kháng giữa người bị áp bức và những kẻ áp bức, Hồ Chí Minh đi đến nhận thức về tính tất yếu của sự đoàn kết quốc tế giữa các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức trên thế giới để chống lại sự liên kết đã mang tính quốc tế của chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Bởi vì, “Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc đã tiến tới một trình độ hoàn bị gần như là khoa học. Nó dùng những người vô sản da trắng để chinh phục những người vô sản các thuộc địa. Sau đó nó lại tung những người vô sản ở một thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác. Sau hết, nó dựa vào những người vô sản ở các thuộc địa để thống trị những người vô sản da trắng”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế đã trở thành hiện thực trong quan hệ giữa Đảng ta với các đảng vô sản, các tổ chức yêu nước dân chủ và tiến bộ. Mối quan hệ, sự đoàn kết giữa các đảng cộng sản, công nhân và tổ chức tiến bộ đã có ý nghĩa trong lịch sử, càng có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay của thời đại chúng ta, khi mà chủ nghĩa xã hội bị tấn công dồn dập từ nhiều phía, bị sụp đổ ở nhiều nơi khi mà phong trào công nhân và cộng sản quốc tế bị phân liệt, chia rẽ. Chúng ta đã cố gắng khôi phục và phát triển mối quan hệ ngoại giao truyền thống với các nước vốn là xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô (cũ); nhanh chóng góp phần củng cố và phát triển mối quan hệ với các đảng công nhân, cộng sản và các tổ chức dân chủ tiến bộ khác trên thế giới.

Đây là một phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VII: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Tư tưởng hoà nhập vào cộng đồng quốc tế đã có ở Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người gắn liền cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam vào phong trào cách mạng thế giới, khi Người chủ trương Việt Nam muốn làm bạn với mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai. Sự hoà nhập vào cộng đồng quốc tế không phải là sự hoà tan vào thế giới tư bản chủ nghĩa, mà trái lại đó là góp phần giữ vững và phát triển chủ nghĩa xã hội. Sự hoà nhập vào cộng đồng quốc tế ngày nay đòi hỏi càng phải củng cố vững mạnh hơn mối quan hệ giữa các đảng cộng sản và công nhân, các tổ chức dân chủ tiến bộ. Đảng cộng sản Việt Nam có kinh nghiệm, vai trò để góp phần thực hiện nhiệm vụ này theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ hai, tập hợp lực lượng cách mạng trong việc thực hiện mục tiêu của mình, giữ vững tính độc lập tự chủ trên tinh thần quốc tế chân chính. Trong việc nhận thức thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy giai cấp vô sản và tầng lớp nhân dân lao động thế giới có mục tiêu chung trong việc đấu tranh cho độc lập, tự do, cho xây dựng xã hội hạnh phúc, tiến bộ. Đồng thời Người cũng nhận thấy trong lãnh đạo các đảng, các tổ chức cách mạng tiến bộ ở nhiều nước có những bất đồng, khác biệt nhau, thậm chí đối địch nhau vì những nguyên nhân, tác động chủ quan và khách quan.

Trong quan hệ với các đảng công nhân và cộng sản, các tổ chức dân chủ và tiến bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giữ vững mục tiêu nhất quán không thay đổi là “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”, như Người ghi trong Di chúc. Người có ý thức xác lập mối quan hệ với các đảng, các tổ chức chính trị khác trên cơ sở độc lập, bình đẳng, tranh thủ sự giúp đỡ cao nhất, song kiên trì giữ vững quan điểm của mình, chịu trách nhiệm với dân tộc mình và với phong trào cách mạng thế giới.

Tuy nhiên, trong quan hệ với các đảng anh em, Hồ Chí Minh bao giờ cũng giữ vững tinh thần thẳng thắn, đoàn kết đấu tranh, không xuê xoa, xuôi chiều, đề cao nguyên tắc phê bình, tự phê bình, tinh thần chiến đấu của một đảng cộng sản. Điều này đã thể hiện trong cuộc đấu tranh chống những quan niệm sai lầm về thuộc địa, chống việc không quan tâm đến phong trào giải phóng dân tộc của các đảng Anh, Pháp và một số đảng cộng sản ở châu Âu vào những nǎm 20 của thế kỷ này. Người thẳng thắn phê bình: “… sẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng chừng nào đảng Pháp và đảng Anh chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa đề cập đến quần chúng các nước thuộc địa thì toàn bộ chương trình rộng lớn của hai Đảng đó vẫn không có hiệu quả gì. Chương trình ấy sẽ không có hiệu quả gì vì nó trái với chủ nghĩa Lênin”.

Quan hệ của Nguyễn ái Quốc với Quốc tế cộng sản, với ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng cộng sản Đông Dương, với một số đảng khác thể hiện sự thẳng thắn, ý chí kiên định trong việc giữ vững quan điểm, lập trường đúng đắn của mình mà vẫn đảm bảo ý thức tổ chức kỷ luật, sự đoàn kết. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ quốc tế giữa các Đảng cộng sản, công nhân, các tổ chức chính trị khác thể hiện sự tôn trọng tính độc lập của mỗi đảng, mỗi tổ chức. Trong bài Củng cố và phát triển sự thống nhất tư tưởng của các đảng mácxít – lêninnít, viết cho bài Sự thật (Liên Xô) ngày 3-8-1956, Người khẳng định: “Trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách của mỗi đảng cộng sản và mỗi đảng công nhân”. Đồng thời Người lại nhấn mạnh rằng “không thể nào hạn chế những hoạt động hiện nay và tương lai… trong khuôn khổ dân tộc thuần tuý”, rằng “những hoạt động đó có muôn vàn sợi dây liên hệ với cuộc đấu tranh chung của thế giới tiến bộ…”.

Cho nên khi đảm bảo tính độc lập tự chủ, những điểm riêng biệt của mỗi Đảng, mỗi nước, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải có “sự nhất trí về mặt tư tưởng và sự đoàn kết anh em giữa các đảng mácxít – lêninnít của giai cấp công nhân các nước”. Thực hiện mục tiêu chiến lược trong việc đoàn kết các đảng cộng sản, công nhân, các tổ chức dân chủ, tiến bộ khác, Hồ Chí Minh đi đến việc tập hợp, sắp xếp lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống đế quốc. Đây là một yếu tố quyết định cho sự thành bại của cách mạng, vì biết rõ “đâu là những người anh em thật sự và đâu là kẻ thù” mới có thể chiến thắng được. Việc tập hợp lực lượng không chỉ để tạo nên sức mạnh của cách mạng, trên cơ sở đoàn kết các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới, mà còn củng cố và phát triển chủ nghĩa quốc tế chân chính, khắc phục tư tưởng “nước lớn”, “đảng lớn”, “chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi” hay “tự ti dân tộc”.

Khi khẳng định chân lý “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình” thì phải bảo đảm nguyên tắc “tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán, kính yêu nhân dân của nước bạn”. Như đã nói, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết hợp lợi ích dân tộc với lợi ích của nhân dân thế giới không phải chỉ là vấn đề đường lối, mà là sự nhận thức quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài, giữa bộ phận và toàn thể. Không tính đến những mối liên hệ đó thì không những không có cái chung mà cái riêng cũng không thể phát triển và dẫn đến những sai lầm cực đoan.

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sự tuỳ thuộc lẫn nhau để phát triển đã trở thành quy luật chính chi phối quan hệ giữa các nước cả về mặt kinh tế, lẫn chính trị và an ninh. Sự đoàn kết quốc tế giữa các dân tộc, các lực lượng hoà bình và cách mạng, sự nương tựa lẫn nhau trong thế giới ngày nay, do đó, lại càng phải được tǎng cường. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta thấy bất cứ Đảng cách mạng nào muốn làm tròn sứ mạng là Đảng lãnh đạo đều phải chú ý đến lợi ích dân tộc, giương cao ngọn cờ dân tộc. Điều cơ bản là phải đặt lợi ích dân tộc mình trong tổng thể lợi ích của nhân loại – đó là hoà bình và phát triển.

Lợi ích dân tộc chân chính không đồng nghĩa với chính sách tự cung tự cấp, đóng cửa và chủ nghĩa dân tộc ích kỷ. Trái lại, lợi ích dân tộc chân chính đòi hỏi phải thay đổi chế độ “bao cấp” quốc tế bằng nguyên tắc hiệu quả, bình đẳng và cùng có lợi. Lợi ích dân tộc chân chính kết hợp với lợi ích cách mạng thế giới cũng đòi hỏi những nước giàu hơn, có kinh nghiệm hơn giúp các nước khác nhanh chóng phát huy tiềm lực, rút ngắn khoảng cách phát triển và trở thành những thành viên hợp tác bình đẳng và cùng có lợi. Đồng thời bản thân các nước nghèo cũng không thể ỷ lại, lợi dụng cái nghèo của mình để duy trì chế độ “bao cấp quốc tế”.

Trong thế giới ngày nay, khi các dân tộc có chế độ xã hội khác nhau, có trình độ phát triển khác nhau đều đi vào hợp tác để phát triển, đều liên hệ với nhau trong một tổng thể là nền kinh tế thế giới thì lẽ nào những người cách mạng, những dân tộc cùng chí hướng lại không đoàn kết và hợp tác với nhau. Thế giới đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, nhưng các giai cấp đối kháng vẫn tồn tại, vấn đề đấu tranh giai cấp và tính giai cấp trong quan hệ quốc tế vẫn tiếp tục dưới những hình thức mới. Hiện nay những thế lực hiếu chiến vẫn luôn sẵn sàng chà đạp lên chủ quyền độc lập của các dân tộc.

Trong cuộc chiến đấu của mình, các dân tộc bị xâm lược, tuy phải dựa vào sức mình là chính nhưng vẫn rất cần sự viện trợ và giúp đỡ của bên ngoài. Tất cả các dân tộc yêu chuộng hoà bình, độc lập dân tộc có nghĩa vụ quốc tế đối với các dân tộc đang chiến đấu. Điều khác trước đây là, trong khi viện trợ, giúp đỡ cho các dân tộc đang chiến đấu phải làm cho họ thông qua chiến đấu mà trưởng thành và tự đảm đương sự nghiệp cách mạng nước mình theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Hiện nay, lợi ích của cách mạng thế giới đòi hỏi các lực lượng cách mạng và xã hội chủ nghĩa phải đoàn kết thống nhất, tiến hành đấu tranh giai cấp bằng nhiều biện pháp, cùng nhau chống lại các thế lực đế quốc đang lợi dụng sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hòng thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình, lật đổ từ bên trong, phá hoại những thành quả của chủ nghĩa xã hội. Điều đó hoàn toàn phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cách mạng thế giới. Bài học đó đang được Đảng ta tiếp tục trong sự nghiệp đổi mới với chính sách mở rộng cửa để Việt Nam hoà nhập vào thế giới, đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đến thành công, thực hiện những ước muốn mà suốt đời Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi. Thư ba, “có lý”, “có tình” trong quan hệ quốc tế của các đảng cộng sản, công nhân là một nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Do điều kiện chủ quan và khách quan (tình hình nhiệm vụ cụ thể của mỗi đảng, mỗi dân tộc; sự nhận thức và vận dụng đường lối chung của cách mạng vào cuộc đấu tranh của mỗi nước; ảnh hưởng của những tư tưởng thù địch với chủ nghĩa Mác – Lênin; sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc…) nên những sự bất đồng trong phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, việc mất đoàn kết giữa một số đảng, nhất là những đảng cầm quyền ở những nước xã hội chủ nghĩa là điều khó tránh khỏi. Việc phân liệt, chia rẽ này đã làm cho phong trào cách mạng thế giới suy yếu, gây nên những tổn thất to lớn. Sự tan rã của Liên Xô, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu có một nguyên nhân là sự chia rẽ, xung đột trong phong trào cộng sản quốc tế, giữa các nước xã hội chủ nghĩa và trong nội bộ mỗi nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức hậu quả của hiện tượng chia rẽ, mất đoàn kết. Trong Di chúc, Người đã cǎn dặn: “là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em. Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt đông, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”.

Những lời tâm huyết ấy không chỉ là tấm lòng, tình cảm, trách nhiệm của một người cộng sản, một chiến sĩ của phong trào giải phóng dân tộc thế giới, mà còn là nguyên tắc – nguyên tắc bao trùm – trong quan hệ giữa các đảng. “Có lý” trước hết là tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng thế giới. Bởi vì “Chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là cơ sở không lay chuyển nổi của cuộc đấu tranh chung của tất cả các đảng ấy, việc trao đổi kinh nghiệm về cuộc đấu tranh ấy vẫn giữ tất cả ý nghĩa của nó và những vấn đề đặt ra cho đảng này hoặc đảng khác tuyệt nhiên không phải là “việc riêng” của mỗi đảng mà quan hệ thiết thân đến toàn bộ giai cấp vô sản quốc tế”. “Có tình” là sự thông cảm, tôn trọng nhau trên tinh thần, tình cảm của những người cùng chung lý tưởng, mục tiêu đấu tranh, khắc phục tư tưởng sô vanh, “nước lớn”, “đảng lớn”, “áp đặt’, “ức chế” nhau. Vậy “có tình” đòi hỏi chờ đợi nhau cùng nhận thức, hành động vi lợi ích chung, lợi ích của mỗi đảng, mỗi dân tộc mà không làm phương hại đến đảng khác, dân tộc khác.

Tránh việc giải quyết bằng công kích, nói xấu công khai, tránh dùng sức ép chính trị, kinh tế, ngoại giao, dùng lực lượng vũ trang đối với các đảng cầm quyền. “Có tình” là một nội dung của chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh – chủ nghĩa nhân vǎn cộng sản chủ nghĩa. Những nguyên tắc như vậy đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chính Minh vận dụng vào việc giải quyết những bất đồng giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa các đảng công nhân và cộng sản. Trong bài phát biểu tại Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân ở Mátxcơva nǎm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng ta đều là anh em ruột thịt trong đại gia đình cộng sản quốc tế, cùng nhau chung sức phấn đấu cho tương lai tươi sáng của cả loài người.

Trước mắt chúng ta đang có kẻ thù cực kỳ hung ác là chủ nghĩa đế quốc. Dù nội bộ của chúng đầy mâu thuẫn, chúng vẫn nhất trí để chống lại phong trào cộng sản quốc tế của chúng ta. Để đánh thắng kẻ thù chung, chúng ta nhất định phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, xây dựng xã hội chủ nghĩa và quan hệ quốc tế giữa các đảng cộng sản có ý nghĩa to lớn đối với sự thành công của cách mạng Việt Nam, đóng góp vào thắng lợi của phong trào cách mạng thế giới. Tư tưởng này đã thể hiện tính đúng đắn của nó trong quá khứ. Ngày nay khi quan hệ giữa các Đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng dân chủ, tiến bộ đang gặp nhiều khó khǎn, phức tạp nó vẫn giữ nguyên giá trị chân chính.

GS. Phan Ngọc Liên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995)

cpv.org.vn

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế – Phần 2

II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN TỘC
VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CÁC NƯỚC THUỘC ĐỊA, PHỤ THUỘC

Một trong những cống hiến quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới là tư tưởng của Người về dân tộc và giải phóng dân tộc.

1. Nhận thức của Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc.

Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước xuất phát từ mong muốn giải phóng đồng bào mình khỏi sự thống trị của thực dân Pháp. Trong cuộc hành trình qua các nước thuộc địa và phụ thuộc, anh đã nhìn thấy cuộc sống và nguyện vọng của các dân tộc này, có nhiều điều giống với nhân dân Việt Nam. ý thức về sự sống còn và phát triển các dân tộc, về giải phóng các dân tộc bị áp bức đã dần dần hình thành ở Nguyễn Tất Thành. Vấn đề “dân tộc” từ lâu đã được đặt ra trong lịch sử xã hội loài người và bao giờ cũng là một trong những vấn đề phức tạp nhất, chưa được giải quyết tốt đẹp. Vì vậy, trong quá trình hình thành chủ nghĩa xã hội khoa học, C. Mác và Ph. Ǎngghen đã chú ý đến vấn đề dân tộc. Tiếp nhận có chọn lọc những quan điểm tiến bộ của các nhà tư tưởng, chính trị trước đó, hai ông đã sử dụng hai thuật ngữ “dân tộc” và “xã hội”, những thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi vào đầu thế kỷ XIX theo nghĩa “xã hội công dân”. Thực ra, Mác và Ǎngghen cũng mới chỉ nghiên cứu sự hình thành các hình thức dân tộc trong sự phát triển của xã hội vào thời kỳ tư bản chủ nghĩa, chứ chưa nêu định nghĩa về “dân tộc”.

Nhưng, chính các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội đã nhấn mạnh tính chất lịch sử của các cộng đồng dân tộc, vai trò của nhân tố kinh tế, ảnh hưởng của tư tưởng quốc tế vô sản và dân tộc chủ nghĩa đối với quá trình hình thành và phát triển mối quan hệ giữa các dân tộc. Các ông cũng nêu ý nghĩa quan trọng của việc cộng đồng ngôn ngữ, lãnh thổ, ý thức, tính cách tâm lý trong quá trình hình thành và phát triển của các dân tộc. V.I. Lênin khi nghiên cứu lý luận về “dân tộc” và các “quan hệ dân tộc” đã bổ sung cho nội dung các khái niệm “dân tộc”, “cộng đồng dân tộc”, và khẳng định rằng dân tộc không phải là cái tồn tại từ lâu đời, không thay đổi mà là cộng đồng kinh tế – xã hội của con người được hình thành trong lịch sử. Trong điều kiện “đế quốc Nga là nhà tù của các dân tộc”, V.I. Lênin và Đảng Cộng sản (b) Nga đã đề ra một cương lĩnh dân tộc với các nguyên tắc:

– Bình đẳng và chủ quyền của các dân tộc dù lớn hay nhỏ.

– Quyền tự quyết của các dân tộc, kể cả việc tách khỏi Liên bang để thành lập các quốc gia riêng, độc lập.

– Quyền tự do phát triển về mọi mặt của các dân tộc.

– Sự đoàn kết của giai cấp vô sản, của tất cả các dân tộc. V.I. Lênin chưa nêu định nghĩa về dân tộc, mặc dù ông đã đề cập đến “dân tộc có lãnh thổ” và các “dân tộc không có lãnh thổ”.

Như vây, C. Mác, Ph. Ǎngghen, V.I. Lênin đã đề cập đến các “dân tộc áp bức” và “dân tộc bị áp bức” và cho rằng gần 70% dân cư trên quả đất thuộc về dân tộc bị áp bức. Các ông đã phân chia các nước trên thế giới ra hai loại: “chính quốc” và “thuộc địa”. Ph. Ǎngghen còn nêu luận điểm nổi tiếng “một dân tộc đi áp bức những dân tộc khác thì không thể có tự do”. Trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc, V.I. Lênin đã phát triển khẩu hiệu chiến đấu của C. Mác “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!” thành “Vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”. Tuy nhiên, các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin vẫn chưa đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đúng vị trí của nó trong phong trào cách mạng thế giới, vì trọng tâm sự chú ý của các ông còn nghiêng về cuộc cách mạng vô sản ở các nước đế quốc chủ nghĩa.

Nguyễn Tất Thành khi ra đi tìm đường cứu nước chưa hề biết một luận điểm nào của C. Mác, V.I. Lênin. Nhưng Người nung nấu ý thức giải phóng dân tộc và đã có hiểu biết cụ thể về tình cảnh, nguyện vọng các dân tộc thuộc địa nên dễ tiếp nhận các quan điểm của Mác, Lênin. Hơn nữa, còn vận dụng sáng tạo và phát triển những quan điểm ấy trong thực tiễn đấu tranh. Như đã nói ở phần I, từ những điều trông thấy ở quê hương, trong nước, với một số hiểu biết ban đầu về thế giới qua các bài học ở nhà trường phổ thông, Nguyễn Tất Thành trong hành trình tìm đường cứu nước đã thấy nhiều nghịch cảnh giữa người giàu và người nghèo không chỉ ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, mà ngay cả ở những nước đế quốc giàu có. Sự phân biệt giữa nhân dân lao động với bọn áp bức bóc lột diễn ra ở khắp nơi, khốn khổ nhất vẫn là tình cảnh các dân tộc thuộc địa. Bức tranh về sự bất công xã hội diễn đi diễn lại nhiều lần, gây một ấn tượng sâu sắc, mạnh mẽ ở Nguyễn Tất Thành và trở thành cơ sở thực tiễn cho việc tiếp thu chủ nghĩa Lênin.

Bước ngoặt lớn trong sự chuyển biến tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc là khi Người đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I. Lênin. Điều này thể hiện trước hết ở nhận thức đúng đắn về những vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc. Đây là vấn đề đã từng gây ra cuộc đấu tranh rất cǎng thẳng giữa những người bônsêvích, do Lênin đứng đầu, với những lãnh tụ của Quốc tế thứ hai trong dự thảo Luận cương. Trong báo cáo trình bày tại Đại hội, V.I. Lênin đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc. Điều này không chỉ nhằm mục dích tập trung lực lượng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc tǎng cường bóc lột nhân dân các nước bị chúng xâm chiếm, mà còn để chống lại những luận điểm của một số người lãnh đạo Quốc tế thứ hai về vấn đề thuộc địa và nhiều khuynh hướng sai lầm khác. V.I. Lênin thừa nhận Quốc tế thứ hai đã đề cập đến vấn đề thuộc địa trong Tuyên bố đại hội Badên, song trên thực tế không có đảng nào của Quốc tế thứ hai hành động thiết thực ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Các Đảng xã hội – dân chủ lại ủng hộ đường lối của giai cấp tư sản nước mình đối với việc thống trị các thuộc địa. Lênin vạch rõ nguyên nhân của hiện tượng này là do tầng lớp tư sản quý tộc – chỗ dựa của các Đảng xã hội – dân chủ, đảng nắm quyền lãnh đạo về tổ chức và chính trị – được hưởng một phần lợi nhuận mà giai cấp tư sản đã bòn rút của nhân dân thuộc địa. Ngoài ra, Lênin còn đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống việc “lấy chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa hoà bình tiểu tư sản thay cho chủ nghĩa đế quốc …, chống những thành kiến dân tộc chủ nghĩa tiểu tư sản thâm cǎn cố đế nhất”.

Những vấn đề nêu trên là những vấn đề “có ý nghĩa trọng đại nhất” và “trở thành bức thiết” lúc bấy giờ, thu hút sự quan tâm của các dân tộc thuộc địa, của nhiều nhà yêu nước, trong đó có Nguyễn ái Quốc. Nội dung của Luận cương… vừa có sức mạnh khái quát trong 12 điểm, vừa rất cụ thể về sự cần thiết phải liên kết chặt chẽ phong trào cách mạng ở chính quốc với phong trào cách mạng ở thuộc địa để đấu tranh chống bọn đế quốc thực dân và phong kiến. Luận cương nhấn mạnh nhiệm vụ của các đảng cộng sản phải giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Toàn vǎn bản Luận cương đã tác động mạnh mẽ đến Nguyễn ái Quốc song những vấn đề sau đây có lẽ gây cho Người ấn tượng sâu đậm nhất. Điểm (3) của Luận cương nêu rõ chiến tranh thế giới thứ nhất, việc ký kết Hoà ước Vécxây của “các nước dân chủ phương Tây” làm cho “tất cả các dân tộc và các giai cấp bị áp bức trên toàn thế giới thấy được một cách hết sức sáng tỏ tính chất giả nhân giả nghĩa trong những lời nói của bọn dân chủ tư sản” và bọn đế quốc.

Những lời chỉ dẫn của V.I.Lênin cùng với kết quả thực tế của việc gửi Bản yêu sách 8 điểm đến Hội nghị Vécxây giúp cho Nguyễn ái Quốc nhận thức đúng đắn bản chất của “chủ nghĩa Uynxơn”. Điểm (4) của Luận cương giúp cho Nguyễn ái Quốc hiểu rõ ý nghĩa của sự đoàn kết giữa “những người vô sản và quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc”. Theo Lênin, đây là điều kiện đảm bảo cho việc thắng lợi của cuộc đấu tranh “thủ tiêu sự áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng…”. Có lẽ điểm (5) của Luận cương đã gây cho Nguyễn ái Quốc xúc động mạnh mẽ nhất, bởi vì nó chỉ ra con đường cứu nước đúng đắn mà Người đang mong đợi: “Tình hình chính trị thế giới hiện nay đã đặt vấn đề chuyên chính vô sản thành vấn đề trước mắt… Tất cả các phong trào giải phóng dân tộc trong các thuộc địa và trong các dân tộc bị áp bức mà kinh nghiệm đau đớn đã làm cho họ tin chắc rằng: không có con đường cứu vãn nào ngoài con đường chính quyền xô viết chiến thắng chủ nghĩa đế quốc thế giới”.

Như vậy, những luận điểm quan trọng về vấn đề dân tộc và thuộc địa của chủ nghĩa Lênin – kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác – đã trực tiếp đến với Nguyễn ái Quốc. Nó nâng cao nhận thức tư tưởng của Người trên cơ sở những hiểu biết thực tiễn và suy nghĩ từ lâu Người đã ấp ủ. Kết quả của sự chuyển biến lớn trong tư tưởng của Nguyễn ái Quốc là quyết định chọn con đường giải phóng dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội, với cách mạng vô sản. Sự chuyển biến tư tưởng như vậy không phải dễ dàng đến với những nhà yêu nước lúc bấy giờ ở các nước thuộc địa, chắc chắn Luận cương của Lênin, cũng như tiếng vang của Cách mạng tháng Mười đã đến với nhiều người dân các nước thuộc địa, phụ thuộc lúc bấy giờ, 4 triệu người đã tham dự, chứng kiến Cách mạng tháng Mườ1 , 80.000 binh lính Việt Nam bị bắt sang Pháp … Nhưng có mấy ai tiếp nhận “ánh sáng kỳ diệu” của Luận cương… và “tiếng sấm” của Cách mạng tháng Mười Nga như Nguyễn ái Quốc. Sự chuyển biến tư tưởng ở Hồ Chí Minh sau các sự kiện to lớn có ý nghĩa thế giới chính là khởi điểm của quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc, ý nghĩa và tác dụng của điều này không chỉ giới hạn ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc khác.

Trước Cách mạng tháng Mười Nga 1917, nhân dân Việt Nam, cũng như nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh rất anh dũng chống lại bọn xâm lược với nhiều hình thức khác nhau (khởi nghĩa vũ trang, bất hợp tác, tẩy chay, khủng bố…). Nhưng, họ vẫn ở trong tình trạng dường như “trong đêm tối không có đường ra”. Những người lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước lúc bấy giờ chưa thoát khỏi khuôn khổ chật hẹp của con đường cứu nước kiểu Cần Vương. Một số người cố gắng đi theo con đường tư bản chủ nghĩa cũng không thành công, vì giai cấp tư sản dân tộc còn non yếu, không triệt để đấu tranh. Cách mạng tư sản Âu Mỹ không thể là con đường để nhân dân thuộc địa noi theo vì vai trò lịch sử của giai cấp tư sản ở Phương Tây đã chấm dứt rồi: “Khi mà giai cấp tư sản cùng với nhân dân đấu tranh giành tự do thì nó bảo vệ một nền tự do đầy đủ về sự bình đẳng giữa các dân tộc”; nhưng khi “đã nắm mọi quyền tự do hành động, giai cấp tư sản lại phản bội chế độ dân chủ, bảo vệ sự áp bức, sự bất bình đẳng giữa các dân tộc, làm hư hỏng công nhân bằng các khẩu hiệu dân tộc chủ nghĩa”.

Nguyễn ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Lênin nói chung, quan điểm lý luận về dân tộc và giải phóng dân tộc nói riêng, trực tiếp từ chủ nghĩa xã hội khoa học, chứ không thông qua lǎng kính của chủ nghĩa dân tộc tư sản, nên không bị “khúc xạ”. Hơn nữa, việc Nguyễn ái Quốc tiếp thu tư tưởng Lênin về dân tộc và giải phóng dân tộc được tiến hành trên một cơ sở rất vững chắc – thực tiễn đấu tranh, nên Người nhanh chóng nắm được cái bản chất của học thuyết Lênin. Vì vậy, khi đọc xong Luận cương…, Nguyễn ái Quốc đã “rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao”. Sự phấn khởi của Nguyễn ái Quốc không phải chỉ là việc tìm thấy cái “cẩm nang thần kỳ” để làm theo, mà chính là việc “tìm thấy cách giải quyết” một cách sáng tạo nhiệm vụ giải phóng dân tộc cho nhân dân Việt Nam và nhiều dân tộc thuộc địa khác. Người đã xác định cho mình những phương hướng suy nghĩ, phương pháp hành động tốt nhất, có hiệu quả nhất để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc mình. Đồng thời cũng góp phần vào việc xác định con đường cứu nước đúng cho các dân tộc cùng cảnh ngộ. ý nghĩa của việc Nguyễn ái Quốc tìm ra con đường cứu nước cho nhân dân Việt Nam đối với các dân tộc thuộc địa khác không phải là việc vạch một con đường chung nhằm “áp đặt”, hay “làm thay” cho các dân tộc đang làm nhiệm vụ cứu nước của mình, mà chỉ góp phần “mở đường đi đến ánh sáng” cho nhiều dân tộc trên thế giới. Họ học tập, vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm Việt Nam vào điều kiện cụ thể của mình.

Thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam cũng như nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc làm cho tư tưởng này của Hồ Chí Minh thêm phong phú và phát huy tác dụng trong cuộc sống. Bản thân Hồ Chí Minh nhận thức rằng vấn đề dân tộc và thuộc địa là một trong những vấn đề lớn nhất của chủ nghĩa Lênin, bởi vì thực chất của nó là đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thống trị, giành độc lập cho các nước bị xâm lược và đô hộ. Cho nên tiếp thu chủ nghĩa Lênin, bằng mọi cách Người làm cho nó tác động mạnh mẽ đến cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân Việt Nam cũng như nhiều dân tộc thuộc địa khác.

2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc.

Nội dung tư tưởng lớn này của Hồ Chí Minh rất phong phú, ở đây chỉ trình bày tập trung vào một số vấn đề cơ bản nhất.

a – Tư tưởng về con đường cứu nước của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Từ thực tế đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự bế tắc, sự khủng hoảng trong con đường cứu nước. Biểu hiện của nó là mâu thuẫn giữa phong trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi của nhân dân và việc thiếu một giai cấp lãnh đạo, với một đường lối thích hợp, có thể dẫn dắt nhân dân đến chiến thắng. ở đâu Nguyễn Tất Thành cũng nhận thấy, đứng trước sự xâm lược, rồi thống trị của bọn tư bản thực dân cướp nước, giai cấp phong kiến cầm quyền từ chống đỡ yếu ớt dần dần đi đến nhượng bộ, đầu hàng, làm tay sai cho chúng. Ngọn cờ phong kiến trong đấu tranh cứu nước đã ngã gục, con đường tư sản cũng tỏ ra bất lực. Người đã đặt câu hỏi: “Vậy thì con đường cứu nước nào đúng nhất?”.

Qua khảo sát thực tế ở nhiều nước thuộc địa, Hồ Chí Minh bước đầu nhận thấy những đặc điểm riêng về mặt xã hội – chính trị của nhân dân các nước thuộc địa phương Đông khác với các dân tộc phương Tây tư bản chủ nghĩa. Một trong những đặc điểm đó là trong thành phần nhân dân, nông dân chiếm tuyệt đại bộ phận, hơn 90% dân số bị bóc lột thậm tệ nhất. Ngoài ách áp bức phong kiến, họ cũng bị giai cấp tư sản bóc lột chẳng kém gì công nhân. Cho nên hai giai cấp nông dân và công nhân ở các nước thuộc địa là “hai bạn đồng minh tự nhiên”. Nhận định này vô cùng quan trọng để xác định con đường cứu nước phù hợp với dân tộc mình và với nhiều dân tộc cùng có chung hoàn cảnh.

Để xác định con đường cứu nước mới, Nguyễn ái Quốc đã phân tích, nhìn nhận lại những quan điểm, những cách đấu tranh cứu nước trước đó và đương thời. Trước hết, từ thực tế ở nước mình, cũng như ở các thuộc địa khác, cùng với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về việc nông dân không thể tự mình giải phóng được, vì không đại diện cho một phương thức sản xuất mới trong lịch sử, Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng” Chỉ với lực lượng riêng của chính mình, nông dân không bao giờ có thể trút bỏ được gánh nặng đang đè nén họ” . Đó là một quan điểm tư tưởng quan trọng làm cơ sở cho việc xác định con đường cứu nước đúng đắn. Nhận thức được vai trò lịch sử – xã hội của nông dân, Nguyễn ái Quốc coi trọng sức mạnh nông dân, song Người cũng mạnh mẽ đấu tranh chống “những trào lưu cơ hội chủ nghĩa, nịnh nông dân, coi nông dân là một lực lượng chủ yếu, là động lực duy nhất của cách mạng, là đội ngũ cách mạng nhất, đều chỉ đi tới chủ nghĩa phiêu lưu, chủ nghĩa cực đoan, vô chính phủ”.

Luận điểm tư tưởng này thể hiện tính chiến đấu của Hồ Chí Minh chống lại các khuynh hướng sai lầm, đưa phong trào đấu tranh yêu nước đi vào con đường thất bại. Lý giải về những nguyên nhân thất bại trong phong trào đấu tranh chống đế quốc thực dân của các nước thuộc địa, mà lực lượng chủ yếu là nông dân, Hồ Chí Minh đã vạch ra một trong những hạn chế của họ là luôn luôn tự hãm mình trong sự đơn độc: “Không giống như các dân tộc phương Tây, các dân tộc phương Đông không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau”.

Nhận định này đúng với tình trạng “cô lập” giữa nông dân các nước, thậm chí trong một nước, ở phương Đông, vốn chìm đắm trong chế độ phong kiến hàng nghìn nǎm. Hồ Chí Minh có đầy đủ cơ sở để kết luận rằng chính những nhược điểm nêu trên là “nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông”. Nó là khó khǎn lớn, gây trở ngại cho việc tổ chức, xây dựng lực lượng bản thân, cũng như cho việc đoàn kết quốc tế của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Lúc bấy giờ và sau này, nhiều nhà yêu nước ở các thuộc địa chọn con đường tư bản chủ nghĩa trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Đối với nhân dân Việt Nam, Nguyễn ái Quốc từ chối con đường này. Người đã đi qua và sống ở nhiều nước tư bản, nhất là các nước đế quốc lớn (Pháp, Anh, Mỹ), đã chứng kiến thực trạng, bản chất của xã hội tư bản chủ nghĩa, đã nghiên cứu lịch sử các cuộc cách mạng tư sản Mỹ, Pháp nên hiểu rõ bản chất của các cuộc cách mạng này.

Cách mạng tư sản Mỹ (1775-1783) được tiến hành dưới hình thức một cuộc chiến tranh giành độc lập của nhân dân 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ. Đó là ý nghĩa tích cực của nó trong việc đấu tranh chống chế độ thống trị thuộc địa của thực dân Anh và nhân dân Việt Nam nên “học Mỹ mà làm cách mệnh”. Người đánh giá cao câu mở đầu trong Tuyên ngôn độc lập (1776) của Mỹ. “Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ǎn cho sung sướng… Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đạp đổ chính phủ ấy đi, và gây nên chính phủ khác…”. Người cũng nêu những mặt tiêu cực của cách mạng Mỹ. Giai cấp tư sản huy động nhân dân lật đổ sự thống trị của thực dân Anh, nhưng “lại không muốn cho ai nói đến cách mệnh, ai đụng đến chính phủ!” và “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 nǎm nay (tính đến nǎm 1927 – TG), nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”.

Cách mạng tư sản Pháp nổ ra và thành công vào cuối thế kỷ XVIII, đã “bỏ chế độ phong kiến, giải phóng nông nô” rồi “bỏ vua mà lập ra cộng hoà”. Cuộc cách mạng này và các cuộc cách mạng tiếp theo ở Pháp cũng “làm gương cho chúng ta” nhiều điều: “Cách mạng thì phải tổ chức rất vững bền mới thành công”, “đàn bà trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều”; “dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”. Nhận định về tính chất của các cuộc cách mạng tư sản, Nguyễn ái Quốc khẳng định rằng: “cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư sản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục (tức bóc lột – TG) công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh Việt Nam nên nhớ những điều ấy”.

Từ phân tích bản chất của hai cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu ở Mỹ và Pháp thế kỷ XVIII, Nguyễn ái Quốc kết luận “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”6 . Kết luận này thể hiện tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh là không chấp nhận con đường cách mệnh tư sản trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Vậy con đường cứu nước mà Nguyễn ái Quốc chọn cho nhân dân Việt Nam là con đường nào? Tiếp thụ chủ nghĩa Lênin, được sống, học tập và công tác trên đất nước Xôviết, tìm hiểu sâu sắc Cách mạng tháng Mười Nga 1917, Nguyễn ái Quốc khẳng định con đường cứu nước đúng đắn nhất là con đường cách mệnh vô sản: “trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật không phải tự do bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên Việt Nam.

Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Việc xác định tư tưởng về con đường cứu nước của Nguyễn ái Quốc đã dựa trên những cơ sở vững chắc: thực tế cuộc sống của nhân dân các nước thuộc địa, lịch sử quá khứ và chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì vậy, tư tưởng này đã nhanh chóng trở thành đường lối cứu nước và thấm sâu vào quần chúng nhân dân Việt Nam. Bằng việc tuyên truyền, giáo dục (báo chí, huấn luyện chính trị…) Nguyễn ái Quốc đã làm cho cán bộ và nhân dân Việt Nam thấm nhuần tư tưởng cứu nước mới này. Mácti, thanh tra mật thám Đông Dương lúc bấy giờ, đã nhận xét báo Thanh niên là hình ảnh chân thực của chiến lược mà Nguyễn ái Quốc đã sử dụng. Chiến lược ấy được tiến hành như sau: “Trong những số đầu tiên, Nguyễn ái Quốc nhấn mạnh trước hết đến sức mạnh và sự đoàn kết đã đem lại cho một tập thể, nhấn mạnh đến những lợi ích mà những cá nhân trong tập thể ấy theo được. Nguyễn ái Quốc đã thức tỉnh tinh thần độc lập và tình cảm dân tộc, đặc trưng của khí chất người Annam.

Tiếp đó, ông dần dần cung cấp cho độc giả của mình những hiểu biết về lịch sử Annam, về các tài liệu tư tưởng nước ngoài, về lịch sử các cường quốc thế giới, v.v.. Rồi ông lần lượt đưa ra từng thuật ngữ Hán Việt, tương ứng với nội dung một cuốn từ vựng mới về chủ nghĩa cộng sản và đã nêu một định nghĩa rõ ràng, chính xác về các thuật ngữ ấy. Từng bước, lúc đầu còn ít, và sau thường xuyên hơn, ông công bố một câu hoặc bài báo ngắn thông báo cho độc giả biết về sự tồn tại của Liên Xô và hạnh phúc của nhân dân Xô viết đang được hưởng. Nguyễn ái Quốc cũng không ngần ngại giành đến 60 số báo của mình để chuẩn bị tinh thần cho độc giả trước khi ông nói rõ về ý đồ của mình, khi ông viết rằng: “chỉ có Đảng cộng sản mới có thể bảo đảm hạnh phúc cho An nam” Hồ Chí Minh, nếu không phải là người đầu tiên thì cũng là một trong số rất ít những nhà yêu nước đầu tiên ở các thuộc địa, đã nêu lên tư tưởng về sự nghiệp giải phóng dân tộc phải theo con đường cách mạng vô sản. Đây là một điều rất mới về ý thức gắn liền cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng thế giới, đưa cách mạng giải phóng dân tộc lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Nguyễn ái Quốc cũng góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin đến nhân dân các nước phương Đông để họ vững tin vào con đường cứu nước đúng. Người đã chứng minh rằng nhân dân các nước thuộc địa có khả nǎng và sẵn sàng tiếp nhận tư tưởng mới, tiến bộ, và “chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Có được “cẩm nang thần kỳ” – chủ nghĩa Lênin – Nguyễn ái Quốc dần dần xây dựng đường lối cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam và ở lĩnh vực này Người đã đóng góp cho phong trào đấu tranh của nhân dân thuộc địa không chỉ là những kinh nghiệm và đường lối chiến lược và sách lược, mà còn là những nguyên tắc phương pháp luận Hồ Chí Minh trong lãnh đạo, tổ chức và tiến hành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nguyên tắc phương pháp luận quan trọng nhất là nhận thức mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Ngay từ đầu thập kỷ 20, khi chủ nghĩa xã hội mới thắng lợi ở một nước, Người đã nhận thức rằng “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân chính, xoá bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dày ngǎn cách những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”. Phương hướng này được quán triệt trong toàn bộ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới.

b- Tư tưởng về đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của đảng vô sản trong cách mạng giải phóng dân tộc là một nội dung cơ bản của tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh.

C. Mác, Ph. Ǎngghen và V.I. Lênin luôn luôn nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa “dân tộc”, “giai cấp” và chỉ rõ việc giải quyết vấn đề dân tộc và giành độc lập dân tộc bao giờ cũng phải đứng trên quan điểm của một giai cấp nhất định – tư sản hoặc vô sản. Không có cái gọi là “dân tộc phi giai cấp”. Thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa là vấn đề giai cấp, song đó là hai phạm trù khác nhau, không nên đồng nhất, hoặc lẫn lộn với nhau. Tiếp thụ tư tưởng của C. Mác, Ph. Ǎngghen và V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đã nêu quan điểm tư tưởng của mình về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp ở một nước thuộc địa. Như đã nói ở trên, Hồ Chí Minh đã nêu những đặc điểm của các dân tộc phương Đông thuộc địa mà C. Mác, Ph. Ǎngghen chưa đề cập đến. Hai ông mới phê phán chủ nghĩa dân tộc vị kỷ. V.I. Lênin có quan tâm hơn đến các dân tộc phương Đông, nhưng chủ yếu cũng mới nói đến các dân tộc Trung á, Trung Quốc, Nhật bản, Triều Tiên. Xuất phát từ đặc điểm của nước thuộc địa – tuyệt đại đa số dân cư là nông dân và tất cả những tầng lớp nhân dân lao động khác đều bị áp bức, bóc lột, nên trong cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đặt lợi ích dân tộc, nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết và trước hết.

Nhưng, Người không hề coi nhẹ lợi ích của giai cấp và không đi chệch quan điểm của giai cấp vô sản trong đấu tranh cách mạng. Quan điểm của Hồ Chí Minh như vậy không chỉ xuất phát từ đặc điểm của các nước thuộc địa mà còn phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph.Ǎngghen đã nêu rõ giai cấp vô sản muốn tự giải phóng mình, trước hết phải giải phóng dân tộc, “phải xây dựng thành một giai cấp – dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”1 . Bởi vì giai cấp luôn gắn với một dân tộc nhất định, chịu trách nhiệm trước hết đối với dân tộc mình, qua đó đóng góp cho sự nghiệp chung của giai cấp vô sản thế giới và nhân loại. Quan điểm của Mác rút ra từ nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước phương Tây. Đó là việc lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản để xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong đó mọi tầng lớp nhân dân lao động cùng giai cấp vô sản hưởng tự do, hạnh phúc. ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ cấp bách trước mắt là phải đấu tranh thoát khỏi ách thống trị của tư bản thực dân để dân tộc được hoàn toàn giải phóng, và con đường giải phóng dân tộc phải là con đường cách mạng của giai cấp vô sản.

Tuy vậy, Hồ Chí Minh vẫn khẳng định rằng cuộc cach mạng ở các nước thuộc địa trước hết là “dân tộc cách mạng”. Người giải thích rằng: “một nước cậy có sức mạnh đến cướp một nước yếu, lấy võ lực cai trị dân nước ấy, và giành hết quyền kinh tế và chính trị. Dân nước ấy đã mất cả tự do độc lập, lại làm ra được bao nhiều thì bị cường quyền nó vơ vét bấy nhiêu. Nó đã cướp hết sản vật, quyền lợi của dân rồi, khi có giặc dã nó lại bắt dân đi lính chết thay cho nó … Đánh được thì nó hưởng lợi quyền, thua thì mình đã chết người lại hại của”. Cho đến khi “dân nô lệ ấy chịu không nổi nữa tỉnh ngộ lên, đoàn kết lại, biết rằng thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm hợp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi, ấy là dân tộc cách mệnh”. Nguyên nhân của cuộc cách mạng này là “vì bị áp bức mà sinh ra”. Trong cuộc cách mạng này, Hồ Chí Minh chỉ rõ lực lượng đấu tranh giải phóng là các tầng lớp nghèo khổ: “Ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết”.

Trong đó, “công nông là người chủ cách mệnh”, vì họ “bị áp bức nặng hơn. (…) là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết; (…), là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc”. Xét cho cùng, cuộc “dân tộc cách mệnh” cũng thể hiện tính chất giai cấp rõ rệt. Đó là cuộc đấu tranh của đông đảo nhân dân lao động mà “công nông là gốc cách mệnh”, nhằm chống lại “cường quyền”, tức chống lại áp bức của tư bản đế quốc”. Cho nên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, trong thời đại mới, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga 1917, cuộc “dân tộc cách mệnh” và “thế giới cách mệnh”, do “vô sản giai cấp đứng đầu đi trước”, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ này, Hồ Chí Minh khẳng định có tính chiến lược rằng: “chỉ có giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”. Có người đã xem luận điểm này của Hồ Chí Minh là quá “tả”, không hợp với thời đại; bởi vì trên thế giới không ít nước thuộc địa và phụ thuộc giành được độc lập mà không gắn với cách mạng vô sản ở trong nước và trên thế giới.

Chúng ta không phủ nhận cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới có nhiều khuynh hướng khác nhau tuỳ theo tính chất, mục tiêu của giai cấp lãnh đạo, tương quan các giai cấp trong nước. Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới từ sau Cách mạng tháng Mười Nga, đặc biệt từ 1945 đến nay, bằng nhiều con đường khác nhau, đã thu được nhiều thắng lợi nhất định, các dân tộc thuộc địa lần lượt thoát khỏi ách thống trị. Nhưng chúng ta cũng nhấn mạnh rằng ngoài sự nỗ lực của bản thân các dân tộc ấy, tác động của Cách mạng tháng Mười, sự tồn tại của các nước xã hội chủ nghĩa, sự thắng lợi của phong trào cách mạng vô sản có ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công của nhân dân các nước thuộc địa, buộc bọn đế quốc thực dân phải trao trả độc lập cho họ dưới những hình thức và mức độ khác nhau.

Mặt khác, chúng ta cũng cần thấy rõ rằng, các nước thuộc địa, do giai cấp tư sản dân tộc lãnh đạo đấu tranh giành độc lập đã đi theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, hoặc không giành được độc lập hoàn toàn, không xoá bỏ được bóc lột và như thế cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội ở những nước này chưa thể xem là đã hoàn thành. Khi chọn con đường cách mạng vô sản cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh mong muốn nhân dân Việt Nam đạt được kết quả trọn vẹn của công cuộc giải phóng, tránh được tình trạng là sau cách mạng nhân dân “vẫn cứ cực khổ, vãn lo tính cách mệnh lần thứ hai”. Bằng lý luận và thực tiễn đấu tranh, Người chứng minh rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Đó là sự lựa chọn của bản thân lịch sử.

Cách mạng giải phóng ở thuộc địa và những cuộc cách mạng xã hội nói chung đi theo con đường cách mạng vô sản, hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội là điều hợp quy luật. Bởi vì, theo Hồ Chí Minh, trong thời đại ngày nay lịch sử đã giao cho giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng: “đời sống của xã hội hiện nay phụ thuộc trước hết vào những trung tâm công nghiệp lớn mạnh và vào những đường giao thông. Những kẻ nắm đường sắt, nhà máy, hầm mỏ, những kẻ thống trị trong các thành thị, luôn luôn có thể đè bẹp nông thôn. Hiện nay, chính giai cấp tư sản là kẻ nắm được tất cả những thứ đó, vì chỉ công nhân mới tước được của giai cấp tư sản những phương tiện thống trị mạnh mẽ của nó. Mới có thể chỉ đạo sản xuất và tương lai của nhân loại”. Sự khẳng định mối quan hệ giữa “dân tộc” và “giai cấp”, thể hiện ở mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở thuộc địa, là sự xác nhận tính tất yếu của phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại chúng ta, nó không phải là một công thức, để vận dụng một cách máy móc, rập khuôn, giáo điều mà phải hết sức linh hoạt, sáng tạo.

Về chiến lược, Hồ Chí Minh đặt công cuộc giải phóng dân tộc trong cách mạng vô sản, nhưng trong chỉ đạo cụ thể lại không bao giờ coi nhẹ nhiệm vụ dân tộc và đặt cao một cách không thực tế nhiệm vụ giai cấp. Tuy nhiên khi đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, Người nhắc nhở không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác . Hơn nữa, tập trung giải quyết việc giải phóng dân tộc cũng nhằm mục đích góp phần giải quyết nhiệm vụ giai cấp. Bởi vì, “nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi bộ phận, giai cấp đến vạn nǎm cũng không đòi lại được”. Để giải quyết nhiệm vụ dân tộc và giai cấp một cách hài hoà, đúng đắn, Hồ Chí Minh đặt vấn đề “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?” và Người khẳng định “Trước hết phải có đảng cách mệnh”. Nhiệm vụ của đảng là gì? Hồ Chí Minh chỉ rõ: “trong thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nước”.

Việc đề ra nhiệm vụ của Đảng cũng thể hiện tính chất tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng cách mạng trong và ngoài nước để làm cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thành công, chuẩn bị cho cách mạng tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội. Vậy vai trò của Đảng đối với cách mạng thế nào? Người trả lời: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Chủ nghĩa mà Hồ Chí Minh chọn để theo là chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì vậy, sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, công việc trước tiên Hồ Chí Minh làm là chuẩn bị thành lập một chính Đảng cho cách mạng Việt Nam. Cũng trong thời gian này (cuối những nǎm 20), Người cũng góp phần tích cực vào việc thành lập Đảng ở một số nước ở Đông – Nam á. Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động đảng kiểu mới của Lênin được nhiều nhà cách mạng trên thế giới nắm vững và vận dụng để thành lập một chính đảng ở nước mình. Nhưng chỉ có Đảng của Hồ Chí Minh mới giành nhiều thắng lợi cho dân tộc như vậy.

Bởi vì Hồ Chí Minh không chỉ tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, với lý tưởng cộng sản, mà còn biết vận dụng một cách sáng tạo vào những điều kiện cụ thể của các nước thuộc địa như Việt Nam. Đây là một nguyên nhân chủ yếu, khiến Đảng cộng sản Việt Nam lớn mạnh để đảm đương được sứ mệnh lịch sử. Việc Hồ Chí Minh chuẩn bị và thành lập Đảng cộng sản Việt Nam cũng đóng góp nhiều kinh nghiệm quý giá cho phong trào cách mạng ở nhiều nước, chủ yếu là các nước thuộc địa và phụ thuộc. Cuối nǎm 1924, Hồ Chí Minh đến Quảng Châu (Trung Quốc) công tác trong phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô giúp Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Quốc. Người bắt mối liên lạc với Tâm tâm xã và tổ chức yêu nước của người Việt Nam đang hoạt động tại đây. Người chọn số thanh niên trong các tổ chức cách mạng nói trên và một số thanh niên khác ở trong nước ra, mở Trường huấn luyện chính trị để đào tạo họ trở thành những cán bộ cách mạng. Để làm cơ sở cho việc thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh đã xây dựng Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, trong đó hạt nhân lãnh đạo là Cộng sản Đoàn.

Việc tiến hành thành lập Đảng như vậy rất phù hợp với kinh nghiệm phổ biến của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là phải thông qua những phần tử trí thức cách mạng để đưa chủ nghĩa xã hội vào giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kinh nghiệm này đã được Đại hội lần thứ VI của Quốc tế cộng sản (tháng 9-1928) xác nhận: “Kinh nghiệm cho thấy ở phần đông các nước thuộc địa, một số lớn, nếu không phải là đa số, cán bộ cộng sản lúc đầu là rút từ giai cấp tiểu tư sản và đặc biệt là trong số những trí thức cách mạng, thường là trong số sinh viên. Thường thường những phần tử ấy gia nhập Đảng vì họ nhận định Đảng là kẻ thù cương quyết nhất của chủ nghĩa đế quốc”. Hồ Chí Minh đã góp phần vào việc xây dựng một nguyên tắc quan trọng của việc xây dựng Đảng: Việc tiếp nhận những người tiên tiến vào Đảng cộng sản không chỉ xét những người xuất thân từ giai cấp vô sản mà còn có những người thuộc các tầng lớp xã hội khác đã giác ngộ, thừa nhận và phấn đấu cho lý tưởng cộng sản. Tư tưởng này vừa đảm bảo tính tổ chức chặt chẽ của Đảng, vừa không rơi vào thành phần chủ nghĩa, tập hợp đông đảo những người tiên tiến trong quần chúng. Tư tưởng này phù hợp với điều kiện các nước thuộc địa nơi mà giai cấp công nhân ít và non yếu, các tầng lớp xã hội khác giàu lòng yêu nước, thiết tha với chủ nghĩa Mác – Lênin.

Thành lập một đảng cộng sản ở nước thuộc địa nửa phong kiến, nơi có số lượng công nhân ít, là một việc làm khó khǎn nhưng vẫn thực hiện được. Kinh nghiệm của Việt Nam đã giúp cho một số nước có điều kiện tương tự như Việt Nam làm được. Nắm vững nguyên lý chung về việc đảng cộng sản ra đời là do sự kết hợp của chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân, Hồ Chí Minh vận dụng vào điều kiện cụ thể của các nước thuộc địa phương Đông, không có những điều kiện như các nước châu Âu. Người đã nêu luận điểm nói rằng chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng cộng sản ở một nước thuộc địa. Nhấn mạnh đến yếu tố “phong trào yêu nước” trong thành lập Đảng ở nước thuộc địa là coi trọng nhân tố “dân tộc” bên cạnh nhân tố giai cấp.

Chủ nghĩa yêu nước ở các nước thuộc địa thể hiện rất mạnh mẽ, quyết liệt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mà phong trào công nhân ở một khía cạnh nào đó cũng đang làm nhiệm vụ dân tộc. Trong điều kiện lịch sử như vậy, phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân có đầy đủ khả nǎng để tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp với phong trào công nhân tạo điều kiện cho Đảng ra đời. Luận điểm tư tưởng này của Hồ Chí Minh rất quan trọng đối với nhân dân các nước thuộc địa trong đấu tranh chống đế quốc và xây dựng xã hội mới sau này, vì nó khắc phục được sự tách biệt, thậm chí đối đầu giữa “dân tộc” và “giai cấp” trong sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân.

c- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc trong chiến lược và sách lược đấu tranh cách mạng.

Xác định con đường cứu nước, khẳng định vai trò của Đảng vô sản lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đề cập một số nguyên tắc làm cơ sở cho đường lối chiến lược và sách lược của Đảng của giai cấp công nhân trong cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Theo Hồ Chí Minh vấn đề chiến lược, sách lược đấu tranh được giải quyết trong cách mạng giải phóng dân tộc, trước hết phải đảm bảo được mục tiêu dân tộc độc lập. Do am hiểu tình hình và nguyện vọng của nhân dân thuộc địa, Hồ Chí Minh nêu rõ những quan điểm giành độc lập hoàn toàn và triệt để. Độc lập hoàn toàn và triệt để của các dân tộc thuộc địa gắn liền với việc giữ vững chủ quyền quốc gia về mặt nội trị cũng như ngoại giao, sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, không bị chia cắt.

Quan điểm này được thể hiện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của Việt Nam, đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, chống việc trao trả độc lập giả hiệu và âm mưu chia cắt đất nước của các loại kẻ thù. Quan điểm này cũng được xác nhận trong việc giải quyết hoà bình cuộc đấu tranh giành độc lập của nhiều dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Dân tộc nào tranh thủ được độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia thì sẽ được độc lập trọn vẹn, tránh được sự chia cắt, dẫn tới nội chiến. Với quan điểm này, Hồ Chí Minh còn nêu rõ sự cần thiết phải đem lại hạnh phúc, ấm no, tự do cho nhân dân, bởi vì “… nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Qua thực tiễn và lý luận, Hồ Chí Minh tổng kết, nâng các quan điểm trên thành chân lý của thời đại “Không có gì quý hơn độc lập tự do!” . Khi vạch ra chiến lược sách lược cách mạng, Hồ Chí Minh chú trọng đến quyền dân tộc tự quyết. Về vấn đề này, Lênin đã nêu và giải quyết một cách toàn diện, sâu sắc và bước đầu chỉ đạo thực hiện trên đất nước Xô viết, từ những nǎm sau Cách mạng tháng Mười. Sau khi Lênin qua đời, nguyên tắc dân tộc tự quyết không được các nhà lãnh đạo Xô viết coi trọng đúng mức để đạt được những hiệu quả thực tế. Hơn nữa, nguyên tắc này còn bị vi phạm nghiêm trọng và là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tan vỡ Liên bang Xô viết sau này. Ngay từ khi đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã có ý thức rõ rệt, ngày càng mạnh mẽ, về việc thực hiện những quyền dân tộc cơ bản của các dân tộc, việc nhân dân các nước thuộc địa phải tự quyết định số phận của mình, chống mọi sự can thiệp, áp đặt dưới bất cứ hình thức nào từ bên ngoài.

Trong nhiều bài viết, bài nói, Hồ Chí Minh nhấn mạnh quyền tự quyết của tất cả các dân tộc, đặc biệt các dân tộc nhỏ yếu, phải giành lấy và giữ gìn bằng đấu tranh của bản thân mình và đòi hỏi sự đảm bảo của pháp lý quốc tế. Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc tới “Hiến chương Cựu kim sơn”, “Hiến chương Liên hợp quốc”. Trong Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới, ngày 20-6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trong cuộc thế giới chiến tranh, các nước đã hy sinh bao nhiêu tiền của, xương máu để giữ gìn quyền dân chủ và quyền tự quyết định của các dân tộc, các nước đã trịnh trọng bảo đảm quyền dân chủ và tự quyết đó trong Hiến chương Đại Tây Dương và Cựu kim sơn” Bảo đảm quyền dân tộc tự quyết, theo Hồ Chí Minh, không có nghĩa là các dân tộc tách biệt nhau, cô lập với nhau. Khi chủ trương và ủng hộ quyền dân tộc tự quyết của các nước thuộc địa, việc giành độc lập hoàn toàn, triệt để và thành lập nhà nước độc lập của nhân dân các nước, Hồ Chí Minh chủ trương và ủng hộ một thể thức chính trị nhà nước Liên bang, Liên hiệp, thể hiện đúng đắn các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự do phát triển.

Điều này xuất phát từ một cơ sở lý luận vững chắc là cuộc đấu tranh giải phóng là do “sự nỗ lực của bản thân”, “cuộc cách mạng giải phóng trong các nước bị áp bức và cuộc cách mạng vô sản trong nước đi áp bức phải ủng hộ lẫn nhau. Trong các nước đi áp bức, trọng tâm của việc giáo dục tinh thần quốc tế là làm cho các người lao động hiểu rõ vấn đề để cho các dân tộc bị áp bức có quyền tự tách ra và lập thành những nước độc lập, còn trong các nước bị áp bức thì trọng tâm việc giáo dục tinh thần quốc tế phải là vấn đề liên minh tự nguyện giữa các dân tộc”. Nguyên tắc liên minh các dân tộc về tổ chức nhà nước mà Hồ Chí Minh nêu lên hoàn toàn xa lạ và đối nghịch với việc thành lập các liên bang mang tính chất áp đặt, bất bình đẳng, xâm phạm quyền dân tộc cơ bản, quyền dân tộc tự quyết. Cùng với việc định ra chiến lược và sách lược cách mạng, hình thành và củng cố việc đoàn kết dân tộc, cần phải xây dựng sự đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Với nguyên tắc tư tưởng này, Hồ Chí Minh không chỉ xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc, mà cả mặt trận đoàn kết quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân.

Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở mọi chủ trương, đường lối, chính sách của cách mạng bao giờ cũng phải xuất phát từ chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng sáng tạo những nguyên lý chung vào điều kiện cụ thể từng nước, tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng vô sản mỗi nước. Đây là một nguyên tắc quan trọng bảo đảm sự trung thành với lý tưởng cách mạng, bảo đảm sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân thuộc địa phải tiến hành bằng bạo lực cách mạng với tinh thần đấu tranh kiên quyết, triệt để, song thể hiện lòng yêu chuộng hoà bình, tránh những cuộc xung đột đổ máu vô ích. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) của nhân dân ta đã chứng minh điều này.

Những nguyên tắc mà Hồ Chí Minh nêu trên là cơ sở cho việc xác định một số đường lối chiến lược và sách lược cách mạng, mà sau đây chúng tôi trình bày một số vấn đề cơ bản: Trước hết, xác định vị trí, nhiệm vụ của cách mạng ở thuộc địa. Hồ Chí Minh nêu rõ rằng do nhân dân các nước thuộc địa bị áp bức nên mới đấu tranh giành độc lập, chống lại ách thống trị của chủ nghĩa thực dân. Vì thế, phải làm cho họ nhận diện đúng kẻ thù, tránh sự lừa bịp của bọn thống trị, nhân danh là “người khai hoá vǎn minh” cho các dân tộc nhỏ yếu. Hồ Chí Minh bằng nhiều hình thức, biện pháp phong phú, sinh động đã tố cáo tội ác của bọn đế quốc thực dân, giúp cho nhân dân thuộc địa và chính quốc nhận rõ bộ mặt chủ nghĩa thực dân. Người vạch trần những thủ đoạn có tính chất “quốc sách” cũng như những hành vi mang tính chất cá nhân của những tên cai trị.

Hiểu rõ tội ác của chủ nghĩa thực dân là để nhận thức đúng âm mưu của bọn thống trị đối với các thuộc địa. Trước và đồng thời với Hồ Chí Minh đã có nhiều người nói đến sự lệ thuộc vào chính quốc của thuộc địa. Song, chưa ai nói rõ như Hồ Chí Minh về vận mệnh của chủ nghĩa đế quốc được quyết định một phần không nhỏ ở thuộc địa: “Hiện nay, tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản đế quốc đều lấy ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ nhân công rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất là tuyển những binh lính người bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó”. Xác định tầm quan trọng của thuộc địa đối với chính quốc, Hồ Chí Minh giải thích vì sao bọn thực dân, đế quốc ra sức nắm lấy thuộc địa.

Điều sâu sắc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là người đã chứng minh rằng bọn đế quốc thống trị thuộc địa không chỉ áp bức bóc lột nhân dân, mà còn gây ra chiến tranh chống vô sản nước mình, chống lại phong trào cách mạng thế giới. Đây là sự phát triển sáng tạo tư tưởng Lênin về việc các nước đế quốc tranh giành thuộc địa và dẫn tới những cuộc chiến tranh đế quốc. Lò lửa chiến tranh không chỉ nổ ra ở các nước đế quốc, mà Hồ Chí Minh còn khẳng định thêm rằng các nước thuộc địa cũng có thể trở thành lò lửa chiến tranh của các nước đế quốc. Khi chiến tranh đế quốc nổ ra ở các thuộc địa thì mọi hậu quả của nó sẽ đổ dồn cho nhân dân lao động và giai cấp vô sản “phải nai lưng ra gánh”.

Điều quan trọng hơn là chủ nghĩa đế quốc có ý thức và trên thực tế đã biến các nước thuộc địa thành cǎn cứ để đánh phá cách mạng. Lời tiên đoán của Hồ Chí Minh cách đây 70 nǎm (khi viết bài “Đông Dương và Thái Bình Dương”) đã được lịch sử xác nhận là đúng: “Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản đó. Cho nên các đồng chí Nga cần phải biết rõ tất cả lực lượng và tất cả các mánh khoé trực tiếp hay gián tiếp của đối thủ của mình”. Quả là một ý thức cảnh giác và một lời cảnh cáo vô cùng chính xác! Từ việc làm sáng tỏ vị trí của thuộc địa, Nguyễn ái Quốc phê phán sự thờ ơ, lãnh đạm của “một số đông chiến sĩ (cộng sản-TG) vẫn còn tưởng rằng, một thuộc địa chẳng qua chỉ là “một xứ mà trên là mặt trời, dưới là đất, vài cây dừa xanh với mấy người khác màu da, thế thôi. Và họ hoàn toàn không để ý gì đến”.

Người đã đề nghị giai cấp công nhân, những người cộng sản ở chính quốc giúp nhân dân thuộc địa thực hiện nhiệm vụ cứu nước chủ yếu của mình:

– Giải phóng dân tộc mình đồng thời góp phần giải phóng các dân tộc khác, hỗ trợ tích cực cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chính quốc và thế giới.

– Phải chọn con đường cách mạng vô sản để đấu tranh giải phóng dân tộc. Thứ hai, thiết lập mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản chính quốc trong chiến lược cách mạng ở thuộc địa. C.Mác và Ph. Ǎngghen đã lưu ý đến mối quan hệ giữa nhân dân thuộc địa và chính quốc trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản. Nhưng do chú trọng đến nhiệm vụ của giai cấp công nhân đối với việc lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, nên có lúc cho rằng việc giải phóng thuộc địa chỉ thành công khi cách mạng vô sản ở chính quốc thắng lợi. Mác đã nhận thấy ngay tính chất hạn chế và sai lầm của quan điểm này và kịp thời sửa chữa. Trong Báo cáo gửi Ban chấp hành Quốc tế thứ nhất (10-12-1869), C.Mác đã thay đổi quan điểm của mình về vấn đề Airơlen như sau: “Đã từ lâu tôi nghĩ rằng có thể đánh đổ chế độ thống trị Airơlen bằng một cuộc nổi dậy mãnh liệt của giai cấp công nhân Anh… Nhưng nghiên cứu sâu hơn tôi lại tin ngược lại. Giai cấp công nhân Anh sẽ không thể làm gì được chừng nào nó chưa dứt bỏ Airơlen. Thế lực phản động Anh trong nước Anh bắt nguồn từ sự nô dịch Airơlen”.

Trên thực tế, C.Mác cũng chưa có dịp giải quyết mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc. V.I.Lênin quan tâm nhiều hơn đến mối quan hệ giữa cách mạng ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc. Trong tác phẩm Vận mệnh lịch sử của học thuyết của Các Mác, Lênin đã viết: “Bọn cơ hội chủ nghĩa chưa dứt lời tán tụng “hoà bình xã hội” và tính không tất yếu của những cơn bão táp dưới “chế độ dân chủ”, thì ở châu á đã bắt đầu phát sinh một nguồn mới những cơn bão táp cực kỳ lớn của thế giới… Chúng ta đang sống chính trong thời đại những cơn bão táp ấy và thời đại mà những cơn bão ấy đang “dội ngược trở lại” châu Âu”.

Do nhận thức được mối quan hệ, nhất là sự “dội ngược trở lại” của cơn bão táp cách mạng ở thuộc địa đối với giai cấp vô sản chính quốc mà Lênin đã mở rộng một cách hợp lý khẩu hiệu chiến đấu của C.Mác và Ph.Ǎngghen nêu trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản thành khẩu hiệu chiến lược: Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!. Người đã khẳng định đường lối đúng đắn của Quốc tế cộng sản đối với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, được trình bày trong Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa: “Nền tảng của các chính sách quốc tế cộng sản trong các vấn đề dân tộc và thuộc địa là làm cho những người vô sản và quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng chung để lật đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản, nếu không có sự bảo đảm đó thì không thể thủ tiêu sự áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng được”.

Tuy nhiên, V.I.Lênin vẫn chưa nêu đầy đủ vai trò của cách mạng thuộc địa, khi cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi sau và phụ thuộc vào cách mạng vô sản. Sau C.Mác, Ph.Ǎngghen, V.I.Lênin, trong Quốc tế cộng sản và trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Hồ Chí Minh là người thông hiểu, có quan điểm đúng đắn, sáng tạo về tình hình thuộc địa, về vai trò của các thuộc địa, nhất là về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc. Trước hết, với tinh thần cách mạng thẳng thắn, Nguyễn ái Quốc phê phán đảng cộng sản các nước tư bản đã không thực hiện đúng di huấn của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người đòi hỏi: “Vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”.

Từ sự phân tích “tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản đế quốc đều lấy ở các xứ thuộc địa”, Hồ Chí Minh đã xác định sự tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, vai trò của các thuộc địa đối với cách mạng vô sản, đối với chủ nghĩa đế quốc. Người khẳng định: hàng trǎm triệu người châu á bị nô dịch và áp bức sẽ thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một nhóm thực dân tham tàn và chính họ sẽ hình thành được một lực lượng đồ sộ vừa có thể thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, vừa giúp đỡ những người anh em ở phương Tây trong sự nghiệp giải phóng. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc là “một bộ phận khǎng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới”, là “một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”.

Như vậy khác với C.Mác, Ph.Ǎngghen và V.I.Lênin, Hồ Chí Minh không xem cách mạng giải phóng dân tộc phụ thuộc cách mạng vô sản chính quốc, mà đặt hai cuộc cách mạng này ngang hàng nhau, thậm chí còn cho cách mạng giải phóng dân tộc có khả nǎng và điều kiện nổ ra và thành công sớm hơn cách mạng vô sản ở chính quốc và giúp cho cách mạng vô sản ở chính quốc thắng lợi. Phải có sự thuần thục về lý luận và hiểu biết thực tế về các nước thuộc địa, về chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh mới có thể hình tượng hoá mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở chính quốc bằng “hai cánh của một con chim” để giết chết “con đỉa tư bản chủ nghĩa có hai vòi: “một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”.

Từ đường lối chiến lược ấy, Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa và tư bản, đế quốc đoàn kết chống kẻ thù chung, coi cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản là sự nghiệp chung của giai cấp vô sản chính quốc và các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Người đã đề ra một chiến lược như sau: “… trước hết nảy ra khả nǎng và sự cần thiết phải có liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản của các nước đế quốc để thắng kẻ thù chung. Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình… Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc vừa thể hiện vai trò của nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh để tự giải phóng, tính độc lập, chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc, vừa thể hiện sự hợp tác, phối hợp chặt chẽ với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Bởi vì “đứng trước chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, quyền lợi của chúng ta là thống nhất”. Đường lối chiến lược của Hồ Chí Minh nêu trên có ý nghĩa lý luận và giá trị chỉ đạo thực tiễn hết sức to lớn. Nó xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, song lại phát triển, làm phong phú, bổ sung “sự thiếu hiểu biết”, “thiếu kinh nghiệm” về “hậu phương của chủ nghĩa đế quốc” mà Lênin đã nêu ra. Thứ ba, xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc trong mỗi nước và hình thành mặt trận quốc tế chống chủ nghĩa thực dân đế quốc. Đó là đường lối chiến lược quan trọng của Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh đã tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân trong lịch sử và vận dụng vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, trong mỗi dân tộc, với tư cách một quốc gia, lại có những dân tộc với tư cách những tộc người và cũng có những giai cấp xã hội khác nhau. Các dân tộc có những nét riêng về lịch sử, kinh tế, phong tục, tập quán…, đồng thời có những điểm chung của một cộng đồng nhiều dân tộc. Các giai cấp có địa vị xã hội, lợi ích riêng, đồng thời có nghĩa vụ và lợi ích chung. Nhiều người trước đây và hiện nay, không hiểu thấu đáo quan điểm đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ giữa các tộc người trong một cộng đồng dân tộc, cũng như giữa các tầng lớp, giai cấp trong một xã hội, đặc biệt là ở các nước thuộc địa, phụ thuộc.

Vì vậy, ở nhiều nước đã xảy ra tình trạng chia rẽ giữa các tộc người, làm suy yếu lực lượng yêu nước, cách mạng chống đế quốc. Bọn thực dân không bỏ qua những dịp như vậy để chia rẽ các dân tộc khác nhau trên cùng một lãnh thổ nhằm duy trì, củng cố sự thống trị của chúng, gây nên những cảnh “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn” trong những cuộc xung đột sắc tộc. Cũng do không phân tích đúng tình hình các tầng lớp, giai cấp trong xã hội thuộc địa nên đã xảy ra sự kỳ thị xã hội, nảy sinh những khuynh hướng “tả”, nặng về đấu tranh giai cấp mà nhẹ về đấu tranh cho độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh chủ trương phải tiến hành sự đoàn kết dân tộc ở mỗi nước trong một mặt trận thống nhất, mới có đủ lực lượng chống chủ nghĩa thực dân áp bức thống trị cả dân tộc. Đó là yêu cầu quan trọng, cấp thiết bao giờ cũng được Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt.

Trong nhiều bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh đã rút ra những bài học về sứ mệnh đoàn kết trong lịch sử. Khi trình bày Lịch sử nước ta, Người đã nhấn mạnh rằng, sở dĩ ông cha ta chống ngoại xâm thắng lợi là: “Vì dân hǎng hái kết đoàn, Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng” Nguyễn Tất Thành thức lừa bịp thể, tư tưởng Hồ Chí Còn thất bại là: “Vì dân đoàn kết chưa sâu, Cho nên thất bại trước sau mấy lần”. Từ kinh nghiệm lịch sử, Người kêu gọi “Dân ta xin nhớ chữ đồng, Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở rằng, thực hiện đoàn kết các dân tộc trong một quốc gia – dân tộc sẽ là cơ sở xã hội- chính trị để thực hiện đoàn kết giữa các quốc gia – dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.

Đoàn kết dân tộc theo quan điểm của Hồ Chí Minh là một vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của quốc gia – dân tộc, là một đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng mỗi nước. Từ thực tế Việt Nam (cũng là của nhiều nước thuộc địa khác), Hồ Chí Minh đã khái quát ý nghĩa, vai trò của sự đoàn kết bằng một nguyên lý như sau: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công!” Sự đoàn kết các tầng lớp, giai cấp trong xã hội các nước thuộc địa phức tạp, khó khǎn bởi những địa vị, quyền lợi khác nhau. Tuy vậy, Hồ Chí Minh đã nhận thấy mọi tầng lớp, giai cấp trong một nước thuộc địa, ngoài những sự khác biệt về quyền lợi và địa vị, có chung một tổn thất – sự mất nước, một nguyện vọng chung – được độc lập.

Với tấm lòng thương yêu, đồng cảm với đồng bào trong một nước, Hồ Chí Minh cũng tỏ ra bao dung, rộng lượng với những kẻ lầm đường, lạc lối, sau khi thức tỉnh, có thể quay về với đại gia đình tổ quốc. Nhận thức mặt tích cực của những người thuộc tầng lớp trên của xã hội, thuộc giai cấp tư sản dân tộc, trong bộ máy chính quyền thực dân ở thuộc địa, Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết lâu dài, thực tâm với họ để cùng nhau đấu tranh cho độc lập dân tộc. Quan niệm đúng đắn này phù hợp với tình hình xã hội các nước thuộc địa, phụ thuộc. Sự đoàn kết dân tộc, đoàn kết các tầng lớp, giai cấp yêu nước, tiến bộ trong một nước được Hồ Chí Minh thực hiện qua việc thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.

Tổ chức mặt trận vẫn đảm bảo đầy đủ tính chất giai cấp vô sản của nó; bởi vì Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Về vấn đề này, Hồ Chí Minh lý giải: “Cuộc cách mạng trong các nước thuộc địa và nửa thuộc địa là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Để đưa cuộc cách mạng đó đến thắng lợi, có thể và cần phải thành lập một mặt trận dân tộc rộng rãi, đoàn kết tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội mong muốn giải phóng khỏi ách thuộc địa” và “Liên minh của quần chúng nông dân đông đảo với giai cấp công nhân là cơ sở chủ yếu để có thể lập ra một mặt trận dân tộc rộng rãi và vững chắc”.

Đường lối thành lập mặt trận dân tộc không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với nhân dân Việt Nam mà còn có giá trị với tất cả các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc, đấu tranh cho độc lập và xây dựng xã hội mới. Tính giai cấp vô sản của mặt trận dân tộc thống nhất, theo Hồ Chí Minh, không giới hạn ở việc tổ chức giai cấp công nhân và nông dân – “gốc cách mệnh”, mà cả những “bầu bạn cách mệnh của công nông …”. Trong số đó phải kể đến giai cấp tư sản dân tộc. Người chỉ rõ: “một điều phải chú ý đặc biệt là vai trò của giai cấp tư sản nói chung tại các nước thuộc địa và phụ thuộc không giống vai trò của giai cấp tư sản tại các nước tư bản. Giai cấp tư sản dân tộc có thể tham gia tích cực vào cuộc cách mạng dân tộc- dân chủ”. Điều này có ý nghĩa tích cực đối với phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc, do giai cấp tư sản dân tộc lãnh đạo.

Hồ Chí Minh nhận thấy những mặt hạn chế, tiêu cực của giai cấp này, song vẫn thừa nhận mặt tích cực của nó. Vì vậy đã chủ trương mở rộng sự hợp tác, hữu nghị với các dân tộc vừa giành được độc lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Một nguyên tắc quan trọng mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong việc thực hiện mặt trận dân tộc thống nhất trong mỗi nước là phải nhằm vào mục tiêu chung: độc lập, tự do, hạnh phúc. Mặt trận dân tộc thống nhất là vòng trong thì Mặt trận quốc tế là vòng ngoài của sự đoàn kết. Hồ Chí Minh chú trọng cả hai mặt trận này và liên kết chặt chẽ với nhau.

Từ đầu những nǎm 20, Người đã đóng góp vào việc thành lập mặt trận quốc tế đoàn kết nhân dân bị áp bức để hỗ trợ nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lạp, Người càng mở rộng mặt trận đoàn kết với nhân dân lao động thế giới, kể cả nhân dân các nước đi xâm lược, như nhân dân Pháp, Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh đã góp phần không chỉ hình thành Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, mà còn “về tinh thần, mặt trận thống nhất phản đế đã hình thành giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ. Và từ đó, ở Mỹ phong trào chống xâm lược ngày càng lên cao”.

Việc giáo dục chủ nghĩa quốc tế chân chính qua sự đoàn kết các dân tộc chống áp bức được Hồ Chí Minh coi trọng và phát huy tác dụng trong thực tiễn. Sự đoàn kết dân tộc, quốc tế là một đường lối chiến lược tạo nên những yếu tố quan trọng, góp phần vào thắng lợi của nhân dân thuộc địa trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Thứ tư, vạch ra đường lối đấu tranh vũ trang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đường lối đấu tranh vũ trang thể hiện của tư tưởng quân sự, tư tưởng về độc lập, giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là “dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”, Hồ Chí Minh khẳng định rằng việc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa phải thông qua con đường đấu tranh vũ trang mới giành được độc lập, tự do.

Quan điểm này hoàn toàn không mâu thuẫn, đối lập với tư tưởng yêu chuộng hoà bình, chống chiến tranh, tránh những cuộc xung đột đẫm máu. Người mong muốn bằng con đường hoà bình để giành độc lập, nhưng nếu bọn đế quốc xâm lực buộc nhân dân bị áp bức, thống trị cầm súng thì không thể từ chối. Hơn nữa, chỉ có xây dựng được sức mạnh toàn dân, trong đó có sức mạnh vũ trang thì mới có thế và lực để đối thoại với kẻ thù. Đây là bài học mà nhân dân Việt Nam rút ra từ thực tiễn đấu tranh cách mạng của mình, và cũng để lại cho nhân dân thế giới những kinh nghiệm quý báu về xây dựng lực lượng vũ trang, về quốc phòng toàn dân. Hồ Chí Minh rất coi trọng chiến tranh nhân dân. Người đã vạch ra chiến lược toàn dân kháng chiến. Mọi người chiến đấu với mọi vũ khí trong tay. “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”.

Cuộc kháng chiến toàn dân tiến hành trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, vǎn hoá, giáo dục, ngoại giao, trong đó “quân sự là việc chủ chốt”. Vì vậy, trong đường lối quân sự của Hồ Chí Minh việc xây dựng lực lượng vũ trang là điều kiện quan trọng để đấu tranh giành chính quyền, bảo vệ độc lập. Tư tưởng này được thể hiện trong thực tiễn cách mạng của nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kể từ phong trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh. Song Người cũng lưu ý là việc xây dựng vũ trang phải được tiến hành trên nền tảng phong trào cách mạng toàn dân. Tư tưởng này được thể hiện trong việc tổ chức lực lượng vũ trang, bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Cách tổ chức này không chỉ huy động được sức mạnh toàn dân trong đấu tranh chống kẻ thù, mà còn phù hợp với tình hình của các nước thuộc địa không có điều kiện xây dựng một đội quân đông đảo, phải kết hợp chiến đấu với công tác và sản xuất.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong xây dựng lực lượng vũ trang không chỉ nhấn mạnh đến cơ sở nhân dân, lấy “lực lượng là ở dân” mà còn khẳng định sự lãnh đạo của Đảng trên mọi mặt của công tác này, nhất là mặt chính trị. Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đây là một vấn đề có tính nguyên tắc, theo Người: “quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. ở đây cần nhấn mạnh rằng, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập, Hồ Chí Minh coi trọng đến “sức mạnh của bản thân” là chính, nên việc tổ chức lực lượng vũ trang toàn dân là yêu cầu vô cùng quan trọng. Nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc đã và đang đấu tranh bảo vệ Tổ quốc tìm thấy ở Hồ Chí Minh một mẫu mực về đường lối quân sự cứu nước. Nó càng chứng tỏ rằng cách mạng giải phóng dân tộc phải là một cuộc cách mạng bạo lực với các hình thức và phương pháp đấu tranh thích hợp, liên tục tấn công, đánh bại từng bước, đánh thắng từng bộ phận, tiến tới giành độc lập hoàn toàn, tiến lên xây dựng xã hội vǎn minh, giàu mạnh.

***

Tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó gắn liền với lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng con người, kết thành một hệ thống trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Người. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc quan hệ chặt chẽ, biện chứng với cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước thuộc địa. Đây là một cống hiến lớn của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. “Vào thời kỳ ấy, hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ, khó lòng tưởng tượng. Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”. Sự phát triển biện chứng trong con đường từ giải phóng dân tộc lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân thuộc địa chứng tỏ rằng, giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân phong kiến chưa đem lại hạnh phúc, tự do hoàn toàn cho nhân dân; cách mạng xã hội chủ nghĩa không những giữ vững được thành quả cách mạng dân tộc dân chủ mà còn làm cho nước giàu dân mạnh thực sự. Đường lối cách mạng này được thực hiện một cách hài hoà, cân đối, hợp lý ở Việt Nam. Kinh nghiệm Việt Nam thu được trong cuộc đấu tranh dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được nhân dân nhiều nước đánh giá cao và học tập. Trong nửa thế kỷ qua, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc không chỉ mang lại thắng lợi cho nhân dân Việt Nam mà cho nhiều nước khác. Điều này càng xác nhận tính cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

GS. Phan Ngọc Liên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995)

cpv.org.vn

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế – Phần 1

I . TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI THẾ GIỚI:
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM – NỘI DUNG CƠ BẢN

Đánh giá những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thế giới, nǎm 1980, Rômét Chanđra – nguyên Chủ tịch Hội đồng hoà bình thế giới đã viết: “Ngọn cờ Hồ Chí Minh đang được giương cao bởi tất cả các dân tộc, tất cả các hiệp hội và tổ chức quần chúng, tất cả những cá nhân, tất cả những ai hoạt động vì hoà bình, vì độc lập dân tộc và tự do, vì dân chủ và nhân dân, vì công bằng xã hội và kinh tế”.

Đó là sự khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ để lại dấu ấn mạnh mẽ nhất trong lịch sử của dân tộc Việt Nam mà còn có ảnh hưởng sâu rộng trong sự phát triển của xã hội loài người. Vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới là gì, được hình thành ra sao ? Vì sao tư tưởng đó lại trở thành “ngọn cờ của tất cả các dân tộc”?.

Hiện nay có nhiều phương pháp tiếp cận khác trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng. Một số nhà nghiên cứu bằng cách nhìn vào hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh ở một thời điểm nào đó, hoặc cống hiến của Người trong một lĩnh vực nào đó của phong trào cách mạng thế giới, rồi khái quát, xác định tư tưởng đối với thế giới của Người.

Có người cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới là tư tưởng hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc; người khác thì khẳng định đó là tư tưởng về “giải phóng dân tộc”, về “cách mạng thế giới”. Tóm lại, có người quá nhấn mạnh đến tư tưởng về cách mạng thế giới của Hồ Chí Minh, lại có người phủ nhận giá trị phổ biến của tư tưởng Hồ Chí Minh với các dân tộc và cho rằng tư tưởng đó chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực đều có quá trình hình thành và phát triển của nó. Các quá trình đó lại không xuất hiện cùng một lúc mà nảy sinh trong những điều kiện cụ thể. Việc tìm hiểu những cơ sở, điều kiện vật chất khách quan cần phải có cứ liệu khoa học. Chúng ta biết rằng Hồ Chí Minh ít viết về mình, về cuộc đời hoạt động cách mạng trải qua nhiều nước, những cống hiến cho nhân loại trên nhiều lĩnh vực khác nhau từ những vấn đề độc lập, dân sinh, dân chủ của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đến những vấn đề chiến tranh, hoà bình, xã hội tiến bộ, vǎn minh mà cả nhân loại quan tâm.

Tài liệu về những hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh hiện cũng chưa công bố nhiều, lại phải tiến hành việc xác định tính chân thực của nó, đặc biệt các tài liệu ở nước ngoài. Vì vậy, khái quát rút ra quá trình hình thành, bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới là một vấn đề không dễ. Để giải quyết những vấn đề nêu trên, trước hết cần làm sáng tỏ hoàn cảnh lịch sử – cơ sở quan trọng làm nảy sinh tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng.

1. Bối cảnh lịch sử của việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới.

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là thời kỳ chuyển biến hết sức quan trọng lịch sử phát triển của xã hội loài người. Nhiều sự kiện lớn dồn dập diễn ra ở khắp các châu lục. Sau cuộc đàn áp đẫm máu Công xã Pari 1871 – cuộc cách mạng đầu tiên của giai cấp vô sản – trong điều kiện tương đối hoà bình, chủ nghĩa tư bản phát triển khá nhanh chóng, sôi động và chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang độc quyền.

Chủ nghĩa đế quốc đã được xác lập ở hầu hết các nước tư bản lớn của châu Âu và Bắc Mỹ, với những đặc điểm chính: sự tập trung sản xuất và tư bản; các công ty độc quyền chi phối toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các nước; các cường quốc đế quốc chủ nghĩa đã hoàn thành việc phân chia thuộc địa. Các nước đế quốc áp đặt ách áp bức thực dân dưới các hình thức khác nhau ở hầu hết các nước á, Phi, Mỹ latinh. Đặc điểm chủ yếu của hệ thống thuộc địa đế quốc chủ nghĩ là cơ cấu kinh tế – xã hội của các nước phụ thuộc hay nửa thuộc địa, về cơ bản chẳng khác gì các nước thuộc địa. Sự bóc lột phong kiến cũ được duy trì và chồng lên nó là chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh các giai cấp cơ bản trước kia – nông dân và phong kiến – đã xuất hiện các giai cấp mới của xã hội thuộc địa: công nhân và tư sản (dân tộc và mại bản).

Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, tình cảnh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác vô cùng khốn khổ, đặc biệt ở các nước mà ách áp bức giai cấp chồng lên ách áp bức chủng tộc. Trong tình hình ấy cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, trước hết ở các nước tư bản đế quốc Âu – Mỹ, lại bùng lên mạnh mẽ sau thời kỳ bị đàn áp đẫm máu. Chủ nghĩa Mác, sau gần nửa thế kỷ đấu tranh chống hệ tư tưởng tư sản và các trào lưu cơ hội dưới mọi màu sắc, đã khẳng định vị trí của mình trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Một điểm mới là từ cuối thế kỷ XIX, bên cạnh sự đoàn kết giữa công nhân các nước tư bản đã có thêm sự đoàn kết giữa công nhân ở chính quốc với nhân dân các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân.

Cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản cuối thế kỷ XIX, cách mạng 1905 ở Nga, phong trào giải phóng dân tộc ở châu á, châu Phi và nhất là “sự thức tỉnh châu á”, là những nét nổi bật của tình hình cách mạng thế giới đầu thế kỷ XX. Chính trên cơ sở đó mà Lênin, từ sự phân tích tình hình cụ thể, đã đi đến một luận điểm mới trong việc phát triển học thuyết của Mác. Đó là nguyên lý về giải phóng các dân tộc thuộc địa và sự đoàn kết giữa vô sản, nhân dân bị áp bức tất cả các nước.

Nếu ở trong giai đoạn 1848 – 1871 lợi ích của sự giải phóng các dân tộc lớn ở châu Âu đặt cao hơn lợi ích của sự giải phóng các dân tộc nhỏ, thì ở đầu thế kỷ XX, sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa được đặt trong mối liên hệ với sự nghiệp cách mạng vô sản ở chính quốc, sự đoàn kết giữa vô sản các nước được mở rộng thành liên minh giữa giai cấp vô sản ở các nước đế quốc chủ nghĩa với nhân dân các dân tộc đang đấu tranh giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân. Như vậy, bên cạnh mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, đã gay gắt trong trong suốt thế kỷ XIX, sang đầu thế kỷ XX, lại nảy sinh một mâu thuẫn mới, đòi hỏi phải giải quyết: mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch với chủ nghĩa thực dân.

Đó là một điều kiện khách quan cho phép phong trào yêu nước cách mạng ở các nước thuộc địa gắn bó chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là với phong trào cách mạng ở chính quốc. Việt Nam, cũng như nhiều dân tộc khác ở châu á, châu Phi từ giữa thế kỷ XIX đã trở thành đối tượng xâm lược của chủ nghĩa thực dân đế quốc. Sau khi xâm chiếm toàn bộ Việt Nam, thực dân Pháp đã thành lập ở đây một hệ thống cai trị trực tiếp, hà khắc. Chúng tiếp tục duy trì hệ thống quan lại phong kiến Nam triều làm tay sai để đàn áp, bóc lột nhân dân.

Xã hội Việt Nam từ nước quân chủ chuyên chế trở thành thuộc địa nửa phong kiến. Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay lãi, độc quyền kinh tế. Với chính sách đó, nền kinh tế tự nhiên của Việt Nam bị tan rã nhanh chóng và sống lay lắt, phụ thuộc hoàn toàn vào kinh tế tư bản Pháp. Các tầng lớp nhân dân trong xã hội bị phân hoá sâu sắc. Tư tưởng Nho giáo, nền tảng tư tưởng của chế độ phong kiến Việt Nam, bị tấn công, bị lung lay đến tận gốc rễ bởi sự du nhập của hệ tư tưởng phương Tây. Triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã đầu hàng, làm tay sai cho thực dân Pháp, song nhân dân Việt Nam với truyền thống chống ngoại xâm, chống sự đồng hoá, diệt chủng của bọn xâm lược nước ngoài không chịu khuất phục.

Cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc từ phong trào Cần Vương, phong trào nông dân Yên Thế, phong trào các dân tộc thiểu số đến phong trào Đông Du, phong trào chống sưu thuế liên tiếp nổ ra từ khi thực dân Pháp mới đặt chân đến Việt Nam. Các phong trào yêu nước chống Pháp trên lần lượt thất bại. Cuộc đấu tranh chống Pháp “dường như trong đêm tối chưa tìm được đường ra”. Thất bại của phong trào Cần Vương chấm dứt thời kỳ đấu tranh giành độc lập dưới khẩu hiệu “phò vua giúp nước”. Phong trào Duy Tân, Đông Du dựa trên lý luận dân chủ tư sản vừa bùng lên đã bị thực dân Pháp dập tắt. Trong bối cảnh lịch sử ấy, một vấn đề cấp bách được đặt ra cho nhân dân Việt Nam là làm thế nào để cứu nước, giành lại độc lập tự do, giải phóng dân tộc đồng thời giải phóng con người, giải phóng xã hội.

Đó cũng là yêu cầu chung đặt ra đối với tất cả các dân tộc đang rên xiết dưới gót giày của bọn thực dân và cũng chính là một điều kiện khách quan khác gắn liền số phận của dân tộc ta với số phận của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Nhiều nhà yêu nước Việt Nam ở đầu thế kỷ XX vẫn chưa nhận thức rõ điều kiện khách quan này. Họ cũng chưa nhận thức được đầy đủ những yêu cầu cấp bách của lịch sử nước ta lúc bấy giờ, không hiểu được rằng giai cấp tư sản với hệ tư tưởng của nó đã tỏ ra lỗi thời, không đủ sức quy tụ được toàn thể dân tộc trong cuộc đấu tranh chống ách bức nô dịch của chủ nghĩa thực dân, không biết gắn phong trào yêu nước của dân tộc ta với cuộc đấu tranh chung của các dân tộc khác cùng cảnh ngộ.

Phải đến Hồ Chí Minh, trong quá trình tìm đường cứu nước, mới dần dần nhận thức được khi giải quyết những vấn đề của dân tộc mình, đất nước mình cũng đồng thời giải quyết các vấn đề mà các dân tộc khác quan tâm, cho nên các dân tộc bị áp bức phải đoàn kết với nhau trong cuộc đấu tranh chung cho độc lập, tự do, tiến bộ xã hội. Có thể nói rằng những nǎm đầu thế kỷ XX là một giai đoạn chuyển tiếp, quá độ từ hệ tư tưởng này sang hệ tư tưởng khác trong phong trào cứu nước, trong những người yêu nước, đấu tranh cho nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. ít nhất lúc bấy giờ đã có hai thế hệ với những xu hướng, con đường cứu nước khác nhau.

Nhiều người thuộc thế hệ cũ vẫn giữ tinh thần yêu nước kiểu phong kiến với tư tưởng “trung quân ái quốc”. Theo họ, yêu nước phải gắn với việc khôi phục ngôi vua, bằng một cuộc kháng chiến, khởi nghĩa vũ trang, như cuộc kháng Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương. Một thế hệ yêu nước khác gắn việc đấu tranh chống sự đô hộ của Pháp với yêu cầu đổi mới đất nước. Họ phủ định chế độ phong kiến cũ, cho rằng chế đọ này không còn phù hợp với yêu cầu của đất nước đương thời và xu thế phát triển chung của nhân loại.

Do tác động của những biến đổi của thời địa, và ảnh hưởng của nền giáo dục mới, trong thế hệ thứ hai này có một tỷ lệ không nhỏ những thanh niên yêu nước hầu như không chịu hay ít chịu sự chi phối của hệ tư tưởng phong kiến cũ, đã tiếp thu, chịu ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản được truyền vào nước ta. Họ chán ghét và cǎm thù chế độ thực dân phong kiến, kêu gọi nhân dân đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai. Song lúc bấy giờ chưa có điều kiện và tiền đề kinh tế, xã hội để họ có thể tìm ra con đường cứu nước mới.

Nguyễn Tất Thành đã xuất hiện đúng lúc, nhanh chóng nhận thức được yêu cầu của đất nước là giành độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, đồng thời giải phóng nhân dân khỏi ách áp bức của chế độ phong kiến, mặt khác, phải gắn phong trào yêu nước Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới. Trong bối cảnh lịch sử – xã hội như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới bắt đầu hình thành, trải qua nhiều giai đoạn để hoàn chỉnh và phát triển.

2. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới.

Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nằm trong quá trình chung của việc hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, song cũng có những nét riêng. Như trên đã trình bày, hoàn cảnh ra đời của một vĩ nhân ít nhiều mang tính tất yếu, do nhu cầu xã hội và những nhiệm vụ mà xã hội đặt ra quyết định. Bởi vì: “tự nhiên là hoàn toàn ngẫu nhiên mà một vĩ nhân nào đó xuất hiện ở một thời nhất định nào đó. Nhưng chúng ta phế bỏ người đó đi, thì lại xuất hiện sự đòi hỏi phải có một người khác thay thế và người thay thế này sẽ xuất hiện – thích hợp ít hay nhiều – nhưng cuối cùng thì cũng xuất hiện”.

Song, trong cùng một hoàn cảnh, điều kiện nhất định, không phải ai cũng trở thành vĩ nhân, hoặc ai muốn trở thành vĩ nhân đều có thể trở thành vĩ nhân được. ở đây còn đòi hỏi vai trò vận đọng tự thân của những con người có nǎng lực, tài nǎng và phẩm chất cần cho xã hội, giai cấp để đáp ứng những nhiệm vụ của lịch sử đặt ra. Hồ Chí Minh đã có đủ những yêu cầu như vậy! Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, có nguồn gốc nông dân ở huyện Nam Đàn (Nghệ An), giàu truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, Nguyễn Sinh Cung đã nhận được sự giáo dục tốt đẹp, lại sớm chứng kiến cảnh cùng cực, đau thương, nỗi bất công, ngang trái của người dân quanh mình, do bọn thực dân phong kiến gây ra.

Từ tình cảm yêu thương gia đình, họ hàng, đồng bào ở quê hương, ở những nơi mà anh đến sinh sống thuở thiếu thời đã dần dần nhen nhóm, hình thành ở Nguyễn Sinh Cung lòng yêu nước, ý thức cứu nước, mong giải thoát nhân dân khỏi ách nô dịch, áp bức của bọn thực dân phong kiến. Chánh mật thám Đông Dương lúc bấy giờ Lui Acnu, đã cho rằng: “cuộc đời này (chỉ Nguyễn Tất Thành – TG) như vậy là đã bắt đầu trong không khí bất công oán hận và phẫn nộ cǎm thù chống lại nước Pháp”. Nguyễn Tất Thành đã sớm tham gia các hoạt động cứu nước. Nǎm 1906, khi mới 16 tuổi, người thiếu niên ấy “đã tham gia công tác bí mật, nhận công tác liên lạc”. Nǎm 1908, anh trực tiếp tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên -Huế. Nǎm 1905, khi phong trào Đông Du bắt đầu hoạt động sôi nổ, cụ Phan Bội Châu muốn đưa anh và một số thanh niên sang Nhật.

Với người thiếu niên “đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào, suy nghĩ về con đường cứu nước” thì sự lựa chọn của cụ Phan là đúng. Song Nguyễn Tất Thành đã từ chối , vì anh cảm thấy con đường mà các nhà yêu nước tiền bối và đương thời đang tiến hành không thể đem lại thành công. Sau này, anh hiểu rõ hơn cụ Phan Chu Trinh “chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương… chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương”, cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đánh đuổi Pháp, nguy hiểm chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.

Sự khước từ chuyến sang Nhật du học mà cụ Phan dành cho, Nguyễn Tất Thành không từ chối một sự ưu ái, mà chính là từ chối một con đường cứu nước biết trước không đưa đến thành công. Dần dần, Nguyễn Tất Thành ý thức được rằng, muốn cứu nước, cứu dân phải biết xem xét xu thế của thời đại, phải tìm hiểu thế giới để tìm ra một con đường đúng đắn. Anh tự quyết định hướng đi của mình. Mùa hè nǎm 1911, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc sang Pháp. Mục đích ra đi của anh hết sức rõ ràng: tìm đường để cứu nước, cứu dân. Về sau Người đã nói rõ: “Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Pháp Tự do, bình đẳng, bác ái. Đối với chúng tôi người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế, và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền vǎn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”.

Một lần khác khi trả lời nhà vǎn Mỹ Anna Lui Xtơrông, Hồ Chí Minh cho biết: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi lúc này thường tự hỏi nhau ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ǎn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”. ý thức đi tìm hiểu nước ngoài của Hồ Chí Minh là biểu hiện đầu tiên của sự mong muốn nhận thức những gì xẩy ra ở ngoài tổ quốc mình.

Có thể nói đây là ý thức đầu tiên về thời đại. ý thức này ngày một sâu sắc, là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng hành động của Người. Bởi như Lênin nói, “chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm của một thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước nọ”. Khi ra đi tìm đường cứu nước, hành trang của Nguyễn Tất Thành phải chǎng chỉ có lòng yêu nước và một nghị lực phi thường với hai bàn tay lao động để kiếm sống?

Không chỉ như vậy, mà còn có một vốn học vấn nữa. Sinh trưởng trong một gia đình nho học, được các nhà nho học uyên bác lúc bấy giờ dạy kinh điển của đạo Nh2 được giải thích về lòng bác ái, chủ nghĩa dân tộc theo quan điểm của những nhà nho lấy việc cứu nước, cứu dân làm lẽ sống cao đẹp của người có học, vốn Hán học của Nguyễn Tất Thành khá sâu. Người còn thu nhận một số kiến thức của nền vǎn hoá phương Tây, khi học ở các trường tiểu học Pháp – Việt ở Vinh, Huế, và trường Quốc học Huế, học thêm tiếng Pháp ở Quy Nhơn…

Chắc chắn vốn Tây học không bằng Hán học, song Nguyễn Tất Thành cũng có những kiến thức cơ bản, phổ thông về lịch sử, vǎn học, địa lý nước Pháp và một số nước khác. Vốn học vấn này (cả Hán học lẫn Tây học) là cơ sở ban đầu quan trọng để Người tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao trình độ bằng con đường tự học, để trở thành một nhà cách mạng lỗi lạc, một danh nhân vǎn hoá. Như vậy, người thanh niên 21 tuổi ấy đã đạt được những hiểu biết cơ bản của người trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX. Người lại có nỗi đau của người dân mất nước, có lòng nhân ái mênh mông, một hoài bão lớn lao, quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Trên đường từ Sài Gòn sang Pháp, Nguyễn Tất Thành đã dừng lại các cảng Xinhgapo (8-6-1911), Côlôngbô của Xâylan (nay là Xrilanca, ngày14-6), Xáit của Ai Cập (30-6) theo hành trình của ta. ở những thuộc địa của thực dân Anh, lần đầu tiên Nguyễn được chứng kiến cảnh khốn cùng của những người dân thuộc địa, chẳng khác gì đồng bào anh đang sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Sau một tháng vượt đại dương, Nguyễn Tất Thành đã đến Mácxây, một hải cảng quan trọng ở miền Nam nước Pháp. Ngay những ngày đầu tiên đặt chân lên đất Pháp, anh đã nhận thấy ở nước Pháp cũng có những người nghèo như ở tổ quốc mình. Anh bǎn khoǎn: “tại sao người Pháp không “khai hoá” đồng bào của họ trước khi đi khai hoá chúng ta?”, vì sao “người Pháp ở Pháp tốt, lễ phép hơn người Pháp ở Đông Dương?”.

Đây là những nhận thức đầu tiên, một cơ sở giúp anh phân biệt bọn thực dân xâm lược với quần chúng nhân dân lao động và mở rộng tình thương đối với đồng bào trong nước đến nhân dân các thuộc địa. ở Pháp một thời gian ngắn, vừa lao động vừa học thêm tiếng Pháp, đến đầu nǎm 1912, Nguyễn Tất Thành tiếp tục cuộc hành trình qua Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và một loạt nước châu Phi (Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông…). ở đâu anh cũng chứng kiến cuộc sống cùng cực của người dân dưới ách bóc lột tàn bạo của bọn thực dân.

Cuộc hành trình qua nhiều nước thuộc địa châu á, châu Phi càng củng cố hơn nhận thức của Nguyễn Tất Thành về cảnh khổ cực của nhân dân bị áp bức và tội ác của bọn thực dân. Một cảnh gây ấn tượng sâu sắc, khó quên ở Người là khi “đến Đaca, bể nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả canô xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra chiếc tàu. Một, hai, ba, bốn… người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi”. Từ thực tiễn sinh động và những nhận thức đầu tiên, Nguyễn Tất Thành rút ra kết luận quan trọng: “Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác và vô nhân đạo. ở đâu chúng nó cũng thế. ở ta, tôi cũng thấy chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”.

Những nhận thức lý tính, bắt nguồn từ trực quan sinh động, biểu hiện một bước tiến trong nhận thức tư tưởng của Nguyễn Tất Thành trong những nǎm đầu đi tìm đường cứu nước. Người nhận thấy rằng nhân dân các nước nghèo khổ có cùng kẻ thù, chung mục đích đấu tranh chống đế quốc, giải phóng dân tộc nên phải cùng nhau đoàn kết. Không phải ngẫu nhiên mà ở Hồ Chí Minh nảy sinh ý thức về sự đoàn kết quốc tế, trước hết là sự đoàn kết các dân tộc thuộc địa, cùng chung cảnh ngộ như nhân dân Việt Nam. ý thức này lớn dần thành một nội dung cơ bản, được trình bày một cách khoa học trong tác phẩm nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp, và trước đó, nǎm 1921, Nguyễn ái Quốc đã là một thành viên sáng lập tổ chức quốc tế đầu tiên của những người dân các xứ thuộc địa: Hội Liên hiệp thuộc địa. Cuối nǎm 1912 Nguyễn Tất Thành đến Mỹ. Người đã sống và làm việc ở Niuoóc, rồi Brúcclin, thǎm Bôxtơn, tạm trú một thời gian ngắn ở khu Háclem – nơi sinh sống của người da đen Mỹ.

Những ngày sống trên đất Mỹ, nhất là ở khu Háclem, đã để lại trong Nguyễn Tất Thành nhiều ấn tượng sâu sắc về cuộc sống và nỗi khổ của người Mỹ da đen, đặc biệt việc hành hình kiểu Lynsơ và những hành động đầy tội ác của Đảng 3K, về những cuộc bãi công chống chiến tranh, đòi tǎng lương của công nhân Mỹ. Thǎm tượng thần Tự do – biểu tượng của nước Mỹ, Nguyễn Tất Thành không chỉ khâm phục kiến trúc – nghệ thuật của những người sáng tạo ra nó, mà còn trǎn trở “ánh sáng trên đầu tượng thần Tự do toả ra trên bầu trời xanh, còn dưới chân thần Tự do này thì người da đen đang bị chà đạp, số phận người phụ nữ đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen mới được bình đẳng với người da trắng, bao giờ mới có sự bình đẳng giữa các dân tộc, bao giờ người phụ nữ mới bình đẳng với người nam giới?”.

Thực tiễn sinh động của các xã hội mà Hồ Chí Minh được trực tiếp chứng kiến vào những nǎm đầu thế kỷ XX là cơ sở để hình thành trong Người tư tưởng về quyền con người, quyền bình đẳng giữa các sắc tộc, dân tộc. Tư tưởng này được thể hiện trong nhiều bài báo nổi tiếng của Nguyễn ái Quốc sau này như: Hành hình kiểu Lynsơ một phương tiện ít người biết của nền vǎn minh Mỹ, Đảng Kuklux klan…

Khoảng cuối nǎm 1913, Nguyễn Tất Thành rời Mỹ sang Anh sống, làm việc và học tập ở đây đến khoảng nửa sau nǎm 1917. Anh đã phải làm đủ mọi nghề để sinh sống, để tìm hiểu một đế quốc thực dân có thuộc địa mênh mông trải khắp các lục địa. ở đây, anh đã hiểu hơn cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và các dân tộc bị thực dân Anh thống trị.

Sau 6 nǎm (1911-1917) quan sát, suy nghĩ về tình cảnh nhân dân và các dân tộc châu á, châu Phi, châu Âu, châu Mỹ, kết bạn với người da vàng, da trắng, da đen, tìm hiểu nền chính trị của các nước và cuộc đấu tranh của các dân tộc phụ thuộc, thuộc địa, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp – trung tâm chính trị của chủ nghĩa đế quốc ở châu Âu . Pari, trung tâm của thế kỷ ánh sáng, cái nôi của những cuộc cách mạng dân chủ, cách mạng vǎn hoá từ những thế kỷ trước của nước Pháp và châu Âu, đã trở thành trường học lớn của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn ái Quốc. Anh đã lao vào cuộc sống và đấu tranh của nhân dân lao động, giai cấp công nhân Pháp.

Chính tại đây, anh đã trở thành nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng không chỉ đối với những người Việt Nam tại Pháp mà ngay cả trong phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc. Nǎm 1919, Nguyễn ái Quốc thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp gửi đến hội nghị Vécxây bản yêu sách 8 điểm của nhân dân Việt Nam. Bản yêu sách 8 điểm tuy không được chấp nhận nhưng đã có tác dụng to lớn đối với nhân dân các thuộc địa cũng như nhân dân Việt Nam.

Đánh giá những hoạt động của Nguyễn ái Quốc và tác dụng của bản yêu sách, nhà sử học Sáclơ Phuốcniô viết: “Từ ngày Nguyễn ái Quốc gửi bản yêu sách đến Hội nghị thì Việt kiều hướng cả về anh… Việt kiều tìm đến với Nguyễn ái Quốc để được anh khuyên bảo, giao nhiệm vụ… và vạch cho họ thấy cần phải đi theo con đường nào. Vậy là từ Pari Nguyễn ái Quốc đã gieo hạt giống cách mạng khắp bốn phương trời”. Thực dân Pháp ở chính quốc và thuộc địa rất tức tối với việc làm của Nguyễn ái Quốc, xem đấy là một vụ nổ “quả bom chính trị”. Cho nên, dù các nước đế quốc từ chối thực hiện các yêu cầu nêu ra, song “nó đã đánh dấu một giai đoạn mới trong phong trào giải phóng dân tộc”.

Qua sự việc này, Nguyễn ái Quốc nhận thức được rằng, các dân tộc muốn được giải phóng không thể trông cậy vào các nước đế quốc, bọn thực dân mà chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình, vào giai cấp vô sản trong nước và thế giới. Đó là một cơ sở để sau này Nguyễn ái Quốc đi đến khái quát: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”. Khái quát mang tính nguyên tắc, còn việc vận dụng phải linh hoạt trong điều kiện cụ thể của mỗi dân tộc.

Cuộc hành trình qua các nước thuộc địa, phụ thuộc, tư bản, đế quốc không chỉ hình thành ở Nguyễn ái Quốc tình cảm, ý thức đoàn kết quốc tế giữa các dân tộc bị áp bức, mà còn rèn luyện Người trở thành một công nhân có đầy đủ phẩm chất, tư tưởng, tâm lý xã hội của giai cấp vô sản. Một điều quan trọng biểu hiện “tính cách” của một công nhân ở Nguyễn Tất Thành – Nguyễn ái Quốc là sự giác ngộ về con đường cứu nước gắn với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản. V.I.Lênin đã chỉ rõ, muốn hiểu việc hình thành phẩm chất, tư tưởng, tâm lý xã hội của giai cấp công nhân ở một con người thì phải hiểu trong hoàn cảnh thực tế của mình, họ đã nắm vững tâm lý vô sản hay chưa. Tâm lý vô sản ấy là sự giác ngộ giai cấp.

Tuy Nguyễn Tất Thành – Nguyễn ái Quốc chưa làm việc trong công xưởng, nhà máy, song Người đã sống và hoạt động trong môi trường công nhân. Người đã dần dần nhận thức rằng mục tiêu, lý tưởng đấu tranh của giai cấp công nhân không chỉ phù hợp, mà còn chỉ đạo, tạo điều kiện quyết định cho sự thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc. Bước chuyển biến lớn về nhận thức tư tưởng của Nguyễn Tất Thành là từ một người yêu nước chuyển thành người công nhân- yêu nước, rồi người cộng sản.

Trong điều kiện lúc bấy giờ, Đảng xã hội Pháp là tổ chức tiến bộ nhất ở Pháp, tuy chưa có những chủ trương đúng đắn về vấn đề thuộc địa, nhưng cũng có những mặt tích cực trong đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Vì vậy, nǎm 1919 Nguyễn ái Quốc đã tham gia Đảng xã hội Pháp, trở thành nhà hoạt động trong phong trào công nhân Pháp và tiếp xúc với nhiều nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng như Mácxen Casanh, Pôn Vâyǎng Cutuariê, Lêông Blum, Râymông Lơpherơ, Giǎng Lôngghê, Gaxtông Môngmútxô… Anh đã tham gia nhiều hoạt động của Đảng xã hội, dự tất cả những buổi nói chuyện chính trị, những cuộc mít tinh ở Pari. Hầu hết trong các buổi sinh hoạt này anh đều phát biểu và khéo léo lái việc thảo luận sang vấn đề thuộc địa. Bộ máy mật thám Pháp đã phát hiện ra rằng hoạt động của Nguyễn ái Quốc ở Pháp không chỉ thu hẹp trong vấn đề Đông Dương, mà “trái lại nó mang tính chất rộng lớn hơn nhiều”.

Vấn đề rộng lớn mà họ nghĩ đến là vấn đề thuộc địa, vấn đề đấu tranh của giai cấp vô sản nói chung. Đúng thế, hoạt động trong Đảng xã hội Pháp, Nguyễn ái Quốc đã có dịp tiếp cận với xu thế phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc gắn chặt với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản. Bước ngoặt quan trọng trên con đường đi tìm đường cứu nước cũng như trong nhận thức của Nguyễn ái Quốc về vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc, đoàn kết quốc tế là lần đầu tiên anh tiếp xúc với Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Anh đã tìm thấy trong đó lời giải đáp về vấn đề dân tộc và thuộc địa, sự cần thiết phải đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến.

Việc đọc Luận cương… cùng với việc nhận thức từ “cảm tính tự nhiên đến lý tính” tính chất, ý nghĩa của Cách mạng tháng Mười Nga nǎm 19172 đã hoàn thành việc xác định ở Hồ Chí Minh con đường giải phóng của dân tộc mình, cũng như các dân tộc khác. Việc tiếp nhận chủ nghĩa Lênin qua thực tế Cách mạng tháng Mười và Luận cương… được thực hiện trên cơ sở lòng yêu nước, kinh nghiệm thực tiễn trong những nǎm đi tìm đường cứu nước. Cách mạng tháng Mười, rồi Luận cương… đến với Người “như một ánh sáng kỳ diệu, nâng cao về chất tất cả những hiểu biết và tình cảm cách mạng mà Người đã hằng nung nấu”.

Nếu Luận cương… đã góp phần tạo nên sự chuyển biến cơ bản trong tư tưởng Nguyễn ái Quốc, hướng Người vào con đường của cuộc Cách mạng tháng Mười, thì việc tham gia Đại hội Tua của Đảng xã hội Pháp tháng 12-1920, rồi trở thành người cộng sản là bước chuyển có tính chất quyết định đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cứu nước, cứu dân. Điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam, mà còn với vận mệnh của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Đến cuối nǎm 1920, sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và yếu tố chủ quan trong nhận thức và hành động ở Nguyễn ái Quốc đã giúp Người xác định con đường cứu nước đúng đắn. Công lao to lớn này của Nguyễn ái Quốc không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân dân nhiều nước thuộc địa khác.

Một nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới được hình thành, trước tiên là tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc các nước thuộc địa và phụ thuộc. Trong thời gian ở Pháp (1917-1923), hoạt động trong phong trào công nhân Pháp, Nguyễn ái Quốc luôn luôn hướng dư luận, sự quan tâm của nhân dân lao động, giai cấp công nhân Pháp tới các vấn đề thuộc địa, đặc biệt là phong trào cách mạng Việt Nam. Người hoạt động trong các tổ chức cơ sở, khuyên bảo, dìu dắt những người cách mạng Việt Nam sống ở Pháp, tham gia lãnh đạo phong trào của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa thực dân Pháp, chủ nghĩa thực dân Anh và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Hoa Kỳ.

Bằng những hoạt động đó, Nguyễn ái Quốc đã gieo hạt giống cách mạng khắp bốn phương trời, đấu tranh không mệt mỏi cho quyền lợi của các dân tộc. Tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc các nước thuộc địa đã thể hiện trong hoạt động thực tiễn của Nguyễn ái Quốc. Ngay sau khi Đảng Cộng sản Pháp ra đời (1920), Người đề nghị thành lập “Ban nghiên cứu thuộc địa” và chuẩn bị trở về Đông Dương. Tháng 1-1922 cùng với các đồng chí trong “Ban nghiên cứu thuộc địa”, Người đã viết lời kêu gọi gửi nhân dân các nước thuộc địa: “… các anh em người bản xứ thấy rõ chúng tôi cùng anh em có chung một kẻ thù là bọn chủ của chúng tôi. Chúng tôi thành lập ở đây một chính đảng lớn đấu tranh để giải phóng những người không có quyền hành ở chính quốc và cũng muốn đấu tranh để giải phóng những người bản xứ ở thuộc địa bị bắt làm nô lệ. Chúng tôi sát cánh cùng các bạn trong cuộc kháng chiến và đấu tranh của các bạn chống sự tham tàn của bọn thực dân, sự hung bạo của bọn cai trị và binh lính, bọn này có những tên đồng loã là bọn quan lại bản xứ”.

Lời kêu gọi trên chứng tỏ rằng về lý luận cũng như thực tiễn, Nguyễn ái Quốc nhận thức, muốn giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thực dân, chủ nghĩa đế quốc, nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc không thể đấu tranh đơn độc mà phải gắn liền phong trào cách mạng trong nước với cách mạng thế giới, phải ủng hộ lẫn nhau để đưa cách mạng đến thắng lợi. “Hội liên hiệp thuộc địa”, một hình thức đầu tiên của liên minh quốc tế các dân tộc thuộc địa chống đế quốc, giải phóng dân tộc ra đời là một biểu hiện cụ thể tư tưởng này của Nguyễn ái Quốc.

Sự thành lập Hội phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử, đáp ứng được những yêu cầu khách quan của những điều kiện lịch sử nửa đầu thế kỷ XX. Nó không chỉ quyết định đến đường lối cách mạng Việt Nam mà còn góp phần hướng dẫn phong trào đấu tranh của các dân tộc vì độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội. Như vậy, qua mười hai nǎm (kể từ 1911 đến 1923) khảo sát, nghiên cứu thực tiễn vô cùng sinh động không chỉ ở các nước tư bản mà còn ở các nước thuộc địa châu á, châu Phi, ở Nguyễn Tất Thành – Nguyễn ái Quốc đã hình thành những tư tưởng lớn về thế giới: tư tưởng về chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân, về dân tộc và cach mạng giải phóng dân tộc, về tình đoàn kết quốc tế giữa các dân tộc thuộc địa với vô sản chính quốc.

Những khám phá cách mạng sâu sắc có ý nghĩa thời đại được hình thành trong quá trình Nguyễn ái Quốc tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ thực tiễn đã trải qua, với tư duy lý luận nhạy bén Người đã rút ra những kết luận, khái quát khoa học: – Chế độ tư bản chủ nghĩa dù ở đâu cũng có cùng một bản chất bóc lột và tàn bạo như nhau. Mọi lời tuyên truyền về tự do, dân chủ của chúng chỉ là hình thức lừa bịp bên ngoài, còn thực chất đó là nền chuyên chính của giai cấp tư sản. – Thuộc địa là hiện thân của một chế độ dã man, tàn bạo của bọn thực dân đối với hàng triệu người dân bản xứ.

Từ nhận thức xuất phát từ thực tiễn khách quan đó, Nguyễn ái Quốc đã dự báo một điều hết sức quan trọng là nếu biết khơi dậy lòng cǎm thù dân tộc, giai cấp ở hàng triệu con người bị áp bức, nếu biết tuyên truyền giác ngộ, tổ chức đoàn kết họ lại một cách chặt chẽ, đông đảo thì đây là sức mạnh cách mạng vô sản cùng lớn lao của thời đại. Sức mạnh của mỗi dân tộc sẽ được nhân lên nếu có sự liên kết chặt chẽ của cách mạng giải phóng ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc.

Trong khi tố cáo và kết án chế độ thực dân, chế độ phân biệt chủng tộc, Nguyễn ái Quốc đã bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc, tình thương yêu vô hạn đối với nhân dân lao động toàn thế giới không phân biệt màu da hay xứ sở. Đây là một nguồn gốc hình thành chủ nghĩa nhân vǎn cao cả của Nguyễn ái Quốc. Sự nghiệp giải phóng dân tộc sẽ hoàn chỉnh, vững bền nếu gắn liền với sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó chính là sự diễn đạt sáng tạo những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng không ngừng, về tinh thần đấu tranh triệt để đưa cách mạng từ giai đoạn dân chủ nhân dân lên xã hội chủ nghĩa để cho nhân dân thực sự tự do, hạnh phúc, ấm no.

Nǎm 1923 Nguyễn ái Quốc bí mật từ biệt nước Pháp, đồng chí và bạn bè ở Pháp. Người đến Mátxcơva, thủ đô của nhà nước Xô viết, để trực tiếp học tập lý luận và thực tiễn ở một đất nước đã tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Mười vĩ đại. Người nghiên cứu có hệ thống, sâu sắc hơn chủ nghĩa Lênin, hoàn chỉnh những luận điểm của mình về con đường giải phóng dân tộc, về vai trò của quần chúng nhân dân của đảng cộng sản trong cách mạng. Những luận điểm này là cơ sở lý luận chủ yếu để Nguyễn ái Quốc biên soạn những bài giảng cho cán bộ cách mạng Việt Nam tại lớp học ở Quảng Châu (1925-1927). Những bài giảng này được tập hợp thành quyển Đường cách mệnh, trong đó nêu nhiều luận điểm phù hợp với cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa: “Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc riêng của một hai người”, môt khi mà “dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”; phải coi “công nông là gốc cách mệnh”, là “người chủ cách mệnh”; phải “trước làm cho dân giác ngộ”, rồi mới “bày sách lược cho dân”, “đoàn kết dân lại” vì “dân thường chia rẽ phái này bọn kia”; “phải có đảng cách mệnh” để “trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi”.

Đường cách mệnh không chỉ soi sáng cho con đường cách mạng Việt Nam mà còn nêu biện pháp cụ thể về tổ chức và tiến hành cuộc đấu tranh cho độc lập tự do. Có thể xem trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Đường cách mệnh có vai trò to lớn về mặt lý luận và thực tiễn. Nó không chỉ tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, mà còn chuẩn bị cơ sở cho việc thành lập đảng của giai cấp vô sản ở Đông Dương. Qua việc tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản Mỹ, Pháp và Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga, Nguyễn ái Quốc đã rút ra những bài học kinh nghiệm cho cách mạng Việt Nam, làm cơ sở cho việc xác định con đường cứu nước đúng đắn. Đến đây, tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề thế giới có liên quan đến cách mạng Việt Nam, đến cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa được hoàn chỉnh từ việc xác định con đường cứu nước đến việc đề ra những biện pháp cụ thể cho cuộc đấu tranh.

Kể từ Bản yêu sách 8 điểm mà Nguyễn ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxây nǎm 1919, qua một loạt bài viết ở Pháp trong những nǎm 1920-1923, đến các bài tham luận tại Hội nghị quốc tế nông dân, Quốc tế cộng sản lần thứ V tại Mátxcơva, các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường cách mệnh, những luận điểm cách mạng của Nguyễn ái Quốc nói chung, về cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân thế giới nói riêng không chỉ được bổ sung thêm phong phú mà còn rất sáng tạo, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử và điều kiện cụ thể của các dân tộc thuộc địa. Vì vậy, Người đã góp phần vào việc phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là về lĩnh vực cách mạng giải phóng dân tộc trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa. Người đã phát hiện rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có vai trò chủ động to lớn để có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Người đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa ngang tầm với cách mạng vô sản ở chính quốc, coi cách mạng giải phóng dân tộc là “một trong hai cái cánh của con chim”.

Theo Người, hai cuộc cách mạng đều có chung kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc. Trong những nǎm 20, sau khi trở thành người cộng sản, chiến sĩ quốc tế, ở cương vị uỷ viên Bộ Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam của Quốc tế cộng sản, Nguyễn ái Quốc có điều kiện để tạo một bước chuyển biến lớn về quan điểm cách mạng nói chung, về tư tưởng cách mạng thế giới nói riêng. Người không chỉ suy nghĩ về việc giải phóng đồng bào mình, mà còn tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng mọi người đau khổ trên thế giới, không chỉ tìm cách cải tạo xã hội, đất nước mình, mà còn góp phần vào công cuộc cải tạo cách mạng thế giới theo con đường xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Người được thừa nhận là một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, một nhà lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc thế giới, người tiêu biểu cho nền vǎn hoá mới.

Nhà báo Ô.Manđextam đã phát hiện tính chất “thế giới” của Nguyễn ái Quốc ở tư cách, tinh thần một nhà cách mạng chân chính, lỗi lạc, một tâm hồn cao đẹp, biểu tượng của một nền vǎn hoá tương lai. Qua Nguyễn ái Quốc, ông đã phát hiện nền vǎn hoá Việt Nam trên trái đất này, mà trước kia hầu như nhân dân thế giới không hề biết đến. Trong tạp chí Xôviết Ngọn lửa nhỏ, tháng 12-1923, Ô.Manđextam viết: “Từ Nguyễn ái Quốc toả ra một nền vǎn hoá, không phải vǎn hoá châu Âu, mà có lẽ là nền vǎn hoá của tương lai. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giản dị và lịch sự. Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên biển lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương”.

Nguyễn ái Quốc khi gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đã giới thiệu, xác định vai trò của vǎn hoá truyền thống của nhân dân Việt Nam với thế giới, phát huy nó trong việc xây dựng một nền vǎn hoá tương lai của nhân loại. Đó là nét tiêu biểu trong sự kết hợp cách mạng và vǎn hoá, Việt Nam và thế giới – một bộ phận trong tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới. Bước vào những nǎm 30 của thế kỷ XX, phong trào giải phóng dân tộc cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những biến đổi hết sức lớn lao. Nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết, trong đó nổi lên vấn đề mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933), một cuộc khủng hoảng sâu sắc và tai hại nhất trong tất cả các cuộc khủng hoảng kinh tế mà chủ nghĩa tư bản từng trải qua, đã làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn giai cấp và dân tộc, cũng như những mâu thuẫn trong hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới.

Sau một thời gian tạm lắng xuống (1924-1929), phong trào cách mạng thế giới từ đầu thập kỷ 30 lại diễn ra sôi sục và lan rộng khắp nơi, từ các nước tư bản chủ nghĩa Âu Mỹ đến các nước thuộc địa và phụ thuộc. Các lực lượng cách mạng và dân chủ ở khắp các nước, dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản, đã vùng dậy mạnh mẽ chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh thế giới mới. ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, đã diễn ra sự tập hợp dần các lực lượng yêu nước và cách mạng trong cuộc đấu tranh giành quyền sống, giành độc lập dân tộc. Sự tǎng cường vai trò của giai cấp công nhân là một đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc ở á, Phi, Mỹ latinh trong thời gian này. Nhiều đảng cộng sản ra đời trong ngọn lửa đấu tranh cách mạng: Đảng cộng sản Ecuađo (23-5-1926), Đảng cộng sản Pêru (7-10-1928), Đảng cộng sản Đông Dương, Đảng cộng sản Philippin, Côlômbia, Panama, Xanvađo, Xiri, Libǎng… (1930). Các đảng cộng sản Malaixia, Vênêxuêla, Côxta Rica, Puectôricô lần lượt ra đời vào những nǎm đầu thập kỷ 30. Các chi bộ Đảng cộng sản Pháp ở Tuynidi và Angiêri cũng trở thành những Đảng độc lập vào nǎm 1934 và 1936… Các Đảng cộng sản trẻ tuổi phương Đông đã chiến đấu như những chiến sĩ kiên cường vì độc lập dân tộc, vì tiến bộ xã hội. Vấn đề được nhiều nhà cách mạng, nhiều Đảng quan tâm nhất là vấn đề quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, cụ thể hơn là quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong đấu tranh cách mạng ở mỗi nước.

Chỉ có giải quyết tốt vấn đề này mới xác định được phương hướng của cách mạng, mới quy tụ được đông đảo quần chúng nhân dân, huy động họ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, góp phần vào thắng lợi của cách mạng thế giới. Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng vào nửa đầu thập kỷ 30, Nguyễn ái Quốc xác định quan điểm đúng đắn về giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Trước hết, Người nhận thức rõ phải có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc, nên đã sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam, tham gia vào việc thành lập một số Đảng cộng sản ở khu vực Đông – Nam á.

Người nắm vững và cung cấp cho Quốc tế nông dân, Quốc tế cộng sản nhiều tài liệu có giá trị về tình hình và đời sống đấu tranh của các tầng lớp nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc. Người đã đề xuất những kiến nghị, những biện pháp phù hợp với mục tiêu đấu tranh chung và yêu cầu, tình hình cụ thể của mỗi nước. Những quan điểm tư tưởng của Người với cách mạng nói chung, với thế giới nói riêng từ giữa nǎm 30 gặp phải sự “phê phán” mạnh mẽ của một số người đề cao “đấu tranh giai cấp”, lên án “tư tưởng hữu khuynh”, “dân tộc chủ nghĩa”.

Cuộc đấu tranh giữa những quan điểm của Nguyễn ái Quốc với những quan điểm khác biệt trong nội bộ Đảng cộng sản Đông Dương lúc bấy giờ là hình ảnh thu nhỏ của cuộc đấu tranh trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế chung quanh các vấn đề về mối quan hệ giữa “dân tộc” và “giai cấp”. Điều này dường như là biểu hiện của một quy luật: sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới gắn với cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng trong nội bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có lúc khá gay gắt.

Khi xác định cho mình lập trường của giai cấp vô sản, giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, nhiều nhà cách mạng, kể cả những người lãnh đạo trong Quốc tế cộng sản, đã phủ nhận hoặc hạ thấp giá trị của những hoạt động, những khuynh hướng, quan điểm tư tưởng ít nhiều mang tính dân tộc. Chính vì đề quá cao yếu tố giai cấp, mà một số người đã không xác định đúng vai trò của giai cấp tư sản dân tộc trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

Tìm hiểu kỹ hơn quan điểm của C.Mác, Ph.Ǎngghen và V.I.Lênin, chúng ta thấy dân tộc không phải là sản phẩm của riêng một giai cấp nào, ngay cả giai cấp tư sản hay vô sản, ở phương Đông hay phương Tây. Nó là sản phẩm của một quá trình phát triển lịch sử lâu dài, toàn diện của một cộng đồng dân cư nhất định, trên một lãnh thổ nhất định, với bản sắc riêng của mình, mà chủ yếu là về mặt vǎn hoá và truyền thống. Vì vậy, ý thức dân tộc ǎn sâu trong tiềm thức của mỗi con người của dân tộc đó. Họ đi vào dòng thác cách mạng thế giới, trước hết với tất cả ý thức và bản sắc của dân tộc mình, dù rằng mục tiêu của họ là giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại cần lao.

Nguyễn ái Quốc tiếp nhận một cách sáng tạo tư tưởng của những nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học và có những quan điểm đúng làm phong phú lý luận về dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Nghiên cứu những bức thư của Nguyễn ái Quốc gửi Quốc tế cộng sản ngày 27-2, 2-3, 5-11 và 31-12 nǎm 1930; những bức thư đề ngày 24-1, 22-1, 21-2, 5-3 nǎm 1931; ngày 16-1-1935…, chúng ta thấy trong quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, có nhiều điểm độc đáo và sâu sắc.

Trước hết, Người nhấn mạnh rằng trong cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân những nước thuộc địa và phụ thuộc, phải chú ý đặc biệt đến vai trò của giai cấp nông dân, phải đoàn kết chặt chẽ được toàn thể dân tộc, giữa các dân tộc trong khu vực. Tiếp đó, Người nêu rõ cần có đối sách đúng đắn với các đảng phái dân chủ, tiến bộ, không phải là cộng sản, với các tầng lớp nhân dân tiến bộ chống chủ nghĩa đế quốc, chống chiến tranh. Người kiến nghị Quốc tế cộng sản cần chỉ đạo sát sao, bồi dưỡng lý luận cho giai cấp công nhân ở những nước thuộc địa, đặc biệt ở khu vực châu á…, đề phòng cuộc chiến tranh có thể nổ ra ở khu vực Thái Bình Dương.

Toàn bộ những vấn đề như vậy có liên quan đến cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trong thời kỳ những nǎm 30. Vấn đề cốt lõi mà Hồ Chí Minh quan tâm là làm thế nào cho các dân tộc được độc lập, tự do, dân chủ. Điều này không hề mâu thuẫn với mục tiêu cách mạng của giai cấp vô sản thế giới. Giá trị tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh trong những nǎm 30 được tô đậm thêm bằng sự dũng cảm, kiên định, kiên trì, mềm dẻo chống lại những khuynh hướng “tả”, mà không gây nên sự chia rẽ, phân biệt trong Đảng, trong phong trào cách mạng.

Khi đặt vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc trên cơ sở đoàn kết các lực lượng dân chủ tiến bộ, tư tưởng chiến lược của Nguyễn ái Quốc không hề thay đổi. Người linh hoạt trong chỉ đạo chiến lược, không máy móc cho rằng có giải quyết vấn đề giai cấp mới giải quyết được vấn đề dân tộc. Cǎn cứ vào điều kiện cụ thể của thế giới và các dân tộc lúc bấy giờ, vận dụng sáng tạo nghị quyết của các đại hội VI, VII của Quốc tế cộng sản, Người chủ trương tập trung sức lực để giải quyết được vấn đề dân tộc mới giải quyết thành công vấn đề giai cấp. Đây là một bước phát triển mới của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng với thế giới nói riêng; là sự thực hiện một cách sáng suốt, có hiệu quả nguyên tắc chiến lược đã xác định là việc giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp vô sản. Thực tế lịch sử ở một số nước thuộc địa từ nǎm 1945 đã chứng minh tính đúng đắn, sáng suốt của những quan điểm, tư tưởng của Nguyễn ái Quốc.

3. Khái niệm, nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới.

a – Đã có nhiều ý kiến khác nhau khi định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng.

Một số nhà nghiên cứu xuất phát từ mục đích cuộc đời hoạt động của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh, khái quát “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng không có gì quý hơn độc lập tự do”; “Tất cả cho con người, vì con người”; “Độc lập dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân”.

Một số người khác thì cǎn cứ vào nguồn gốc các yếu tố cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh để khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, rất phong phú, bao trùm nhiều lĩnh vực”, ý kiến thứ ba, xuất phát từ sự vận động của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam gắn liền với những biến động của thế giới trong thế kỷ XX này, từ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực, có quan hệ đến đời sống của giai cấp và dân tộc, xã hội và con người, quốc gia và quốc tế”.

Ngoài ra còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tư tưởng Hồ Chí Minh. ý kiến hiện được nhiều người chấp nhận cho rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là bước phát triển mới và sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với chủ nghĩa vǎn hoá nhân ái Việt Nam, tinh hoa vǎn hóa phương Đông và phương Tây; là lý luận về chủ nghĩa thực dân và cách mạng giải phóng dân tộc; về xây dựng chế độ dân chủ nhân dân từng bước phát triển lên chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, vǎn minh và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa vì hoà bình và phát triển của nhân dân các dân tộc trên thế giới”.

Sự xuất hiện và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là một hiện tượng hợp quy luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc và thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh không thể ra đời và phát triển ngoài con đường phát triển chung của dân tộc và loài người.

Vì vậy, nó không thể không kế thừa truyền thống dân tộc, tinh hoa tư tưởng, vǎn hoá, vǎn minh của nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận của vǎn hoá dân tộc và vǎn hoá thế giới.

Nói một cách cụ thể, tư tưởng Hồ Chí Minh là bước phát triển mới trên cơ sở nhận thức và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin (nguồn gốc lý luận chủ yếu) ở những nước thuộc địa và phụ thuộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh còn là sự khái quát những kinh nghiệm của bản thân Hồ Chí Minh, của phong trào giải phóng dân tộc, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản (Việt Nam và thế giới), cuộc đấu tranh vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ của nhân loại.

Việc định nghĩa khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” phải xuất phát từ định nghĩa khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh” nói chung và dựa trên những cơ sở phương pháp luận sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu bất cứ hệ tư tưởng nào cũng cần tìm hiểu nội dung cơ bản cấu thành nó. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng, phải làm sáng tỏ nội hàm với những đặc trưng cơ bản của khái niệm. Công việc này phải được tiến hành trên cơ sở tài liệu, sự kiện chính xác và những khái quát lý luận khoa học.

Thứ hai, “một khái niệm khoa học phải chỉ ra được cái bản chất cốt lõi, xuyên suốt cuộc đời và tác phẩm, nhất quán từ lúc vào đời đến khi rút ra khỏi cuộc đời, phải là phạm trù khởi điểm giúp cho việc nghiên cứu toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ liên kết tư tưởng đó thành hệ thống”.

Thứ ba, định nghĩa “Tư tưởng Hồ Chí Minh” nói chung hay “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” nói riêng phải bao hàm nguồn gốc, nội dung cơ bản và mục đích của tư tưởng đó.

Thứ tư, “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” là một bộ phận của “Tư tưởng Hồ Chí Minh, vì vậy, vừa phải thể hiện được cái chung, vừa phải thể hiện được cái riêng, các đặc thù “với thế giới” của tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ những yêu cầu nêu trên, chúng tôi quan niệm rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” là một bộ phận của tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh, bao gồm hệ thống những luận điểm được rút ra từ thực tiễn cách mạng, từ sự kế thừa và phát triển những tinh hoa của dân tộc và trí tuệ của thời đại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác – Lênin, đáp ứng được những xu thế phát triển của thế giới, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân loại: Độc lập dân tộc, hoà bình, dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Từ định nghĩa như vây, chúng tôi nhận thức rằng nội hàm của khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” phải bao gồm những yếu tố:

– Các bộ phận cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Sự tác động qua lại giữa Việt Nam, Hồ Chí Minh và phong trào cách mạng thế giới.

– Việc đáp ứng yêu cầu thời đại và xu thế phát triển tương lai của xã hội loài người.

b – Nội dung “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” phong phú, ở đây chúng tôi chỉ giới hạn ở một số vấn đề cơ bản.

Thứ nhất, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, được thể hiện ở những điểm:

– Nhận thức đúng về vấn đề dân tộc và thuộc địa. – Nhận thức về cách mạng giải phóng dân tộc và mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa đối với cách mạng vô sản ở chính quốc.

– Việc tố cáo chủ nghĩa thực dân, nêu bản chất của nó thể hiện ở mọi mặt của đời sống xã hội thuộc địa. – Việc xác định con đường cứu nước – con đường cách mạng vô sản.

– Việc vạch ra đường lối cứu nước: sự lãnh đạo của Đảng vô sản, đoàn kết rộng rãi trong nước và quốc tế, dựa vào lực lượng bản thân là chính…

– Con đường phát triển từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội: con đường tất yếu để hoàn thành việc giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Thứ hai, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và xây dựng xã hội chủ nghĩa là một nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới. Nội dung cơ bản của tư tưởng này được biểu hiện ở mấy điểm:

– Quan niệm về chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là chủ nghĩa xã hội được áp dụng ở các nước vốn là thuộc địa và phụ thuộc, không có những điều kiện lịch sử.

– xã hội như các nước tư bản ở châu Âu. Từng bước phác hoạ kế hoạch và biện pháp xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, ngay cả khi làm nhiệm vụ dân tộc, dân chủ.

– Việc gắn liền chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu nước mạnh.

– Những phương châm trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa “dân giàu nước mạnh”: lâu dài, gian khổ, vững chắc, không vội vàng, sáng tạo, tránh giáo điều công thức.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về hoà bình, hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc trong đấu tranh giữ độc lập cũng như xây dựng xã hội mới.

Thứ tư, tư tưởng nhân vǎn của Hồ Chí Minh mang tính chất thời đại, được thể hiện trong cuộc sống cũng như mọi hoạt động của Hồ Chí Minh.

Thứ nǎm, tư tưởng Hồ Chí Minh với thời đại góp phần giải quyết những vấn đề chung, những vấn đề toàn cầu, liên quan đến sự sống còn và phát triển của các tầng lớp trong xã hội, của nhiều dân tộc hiện nay. Đó là công cuộc giữ gìn hoà bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên, hạn chế sự bùng nổ về dân số, ngǎn ngừa và đẩy lùi nguy cơ bệnh tật hiểm nghèo, xoá đói, giảm nghèo, chống nạn thất nghiệp…

***

Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định của thế giới và dân tộc, qua nhiều giai đoạn lịch sử gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng trong sáng của bản thân Hồ Chí Minh. Nội dung cơ bản của nó thể hiện ở những nguyên lý, nguyên tắc, quan điểm lý luận được nhân dân Việt Nam và thế giới, trước hết là các nước thuộc địa và phụ thuộc, tiếp nhận không phải là những tín điều mà là sự soi sáng cho nhận thức và hoạt động thực tiễn của họ. Chính vì vậy mà tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, với thế giới nói riêng “vẫn sống trong kho tàng vǎn hoá của nhân loại”, trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới.

GS. Phan Ngọc Liên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995)

cpv.org.vn