Đĩa phim tư liệu "Việt Nam-Hồ Chí Minh." (Nguồn: TT&VH)
Công ty Cổ phần nghe nhìn Thăng Long vừa ra mắt đĩa VCD/DVD bộ phim tài liệu đặc biệt “Việt Nam-Hồ Chí Minh” (thời lượng 57 phút), do Xí nghiệp phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất năm 1985.
Bộ phim do nghệ sĩ nhân dân Đào Trọng Khánh viết kịch bản và đạo diễn; quay phim Lê Mạnh Thích, Lưu Ngọc Hà, với sự đóng góp tư liệu của nhiều nhà điện ảnh, nhiếp ảnh, nhà viết sử, nhà văn, nhà báo trong và ngoài nước.
Phim tài liệu “Việt Nam-Hồ Chí Minh” đã đạt giải Bông sen Vàng của Hội Điện ảnh Việt Nam năm 1985.
Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Phó Giám đốc Công ty Cổ phần nghe nhìn Thăng Long cho biết: Đây là một bộ phim tài liệu quý giá, một thiên anh hùng ca về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Với hình ảnh, tư liệu chân thực, chắt lọc; lời bình súc tích mang dấu ấn sử thi, bộ phim tái hiện một chặng đường dài của lịch sử Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (năm 1857) cho đến khi Việt Nam kết thúc cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, xây dựng nền hòa bình, độc lập dân tộc.
Giá trị của bộ phim không chỉ dừng lại ở sự tái hiện khách quan, sống động các sự kiện mà còn tìm cách lý giải nguyên nhân, đúc kết thành bài học từ truyền thống lịch sử và thực tiễn đấu tranh cách mạng.
Bộ phim cũng khơi gợi niềm tự hào dân tộc, khẳng định công lao to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, để có được một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, sánh vai với các cường quốc năm châu ngày hôm nay.
Là một công ty chuyên kinh doanh băng đĩa thị trường, nhưng với việc phát hành VCD/DVD phim tài liệu này, công ty rất tự tin bởi cách đây ba năm, họ đã ra mắt DVD “Hồ Chí Minh- Chân dung một con người” đến nay đã bán hết 2 vạn bản.
Riêng với VCD/DVD “Việt Nam-Hồ Chí Minh,” chỉ sau ba ngày phát hành (từ 16/4) công ty đã bán hết 6.000 bản.
“Vì sức đặt hàng đột biến, chúng tôi đang tiếp tục in tiếp để đưa ra thị trường,” bà Ngà chia sẻ.
Bộ phim quả thực đang là một món quà vô cùng ý nghĩa đối với đông đảo người con đất Việt, các em học sinh, du khách quốc tế… đặc biệt trong những ngày đại lễ của dân tộc sắp đến gần./.
Đây là một bộ phim tài liệu tuyên truyền về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (1890-1990), một trong những tác phẩm điện ảnh về đề tài Hồ Chí Minh được đánh giá cao, bộ phim thường được Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng vào dịp kỉ niệm ngày sinh (19 tháng 5) hoặc ngày mất (2 tháng 9) của Hồ Chí Minh.
Sản xuất
Năm 1980 nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, đạo diễn Bùi Đình Hạc từng thực hiện bộ phim tài liệu Ðường về Tổ quốc.[1] Mười năm sau đó vào đúng dịp 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, đạo diễn Bùi Đình Hạc đã cho ra đời Hồ Chí Minh – Chân dung một con người.
Để thực hiện bộ phim này, đoàn làm phim đã sang Liên Xô để tìm tư liệu trong các bảo tàng ởMoskva và Leningrad. Trong quá trình tìm tư liệu, đoàn làm phim đã phát hiện và đưa vào phim nhiều tư liệu quý giá về Hồ Chí Minh trước đó chưa từng được sử dụng như hình ảnh ông cởi trần tắm suối hay khăn vắt vai chống gậy mở đường.[1] Kịch bản của Hồ Chí Minh – Chân dung một con người được giao cho nhà biên kịch Bành Bảo, phần lời bình do nhà thơ, nhà văn Nguyễn Đình Thi chấp bút và phần hình ảnh được phụ trách bởi đạo diễn, nhà quay phim Lê Mạnh Thích.[2]
Theo đạo diễn Bùi Đình Hạc, nhà văn Nguyễn Đình Thi ban đầu định từ chối viết lời bình cho bộ phim vì bận nhưng sau đó do yêu thích bản nháp của phim nên ông đã quyết định viết lời bình cho tác phẩm này. Ban đầu Bùi Đình Hạc dự định đặt tên phim là Hồ Chí Minh, một con người nhưng sau đó ông đã đổi lại thành Hồ Chí Minh – Chân dung một con người, đây là một trong ba phim tài liệu của đạo diễn về Hồ Chí Minh, hai tác phẩm còn lại là Đường về tổ quốc và Nguyễn Ái Quốc đến với Lê Nin.[3]
Hồ Chí Minh – Chân dung một con người được coi là một tác phẩm điện ảnh về đề tài Hồ Chí Minh có giá trị cao,[4][5] bộ phim thường được Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng vào dịp kỉ niệm ngày sinh (19 tháng 5) hoặc ngày mất (2 tháng 9) của Hồ Chí Minh.[3]
(TuanVietNam) – Niềm tin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gieo vào tâm hồn mỗi người dân Việt Nam ngày ấy không phải là một niềm tin trong những pho sách, không phải những niềm tin giáo điều. Đó là một niềm tin hiện hữu nhưng lớn lao vô tận trong mỗi lời nói, mỗi hành động của Người.
Cho đến bây giờ, 40 năm kể từ ngày chủ tịch Hồ Chí Minh mất, nhưng chúng ta vẫn không cầm được nước mắt trong niềm thương nhớ và xúc động lớn lao khi xem lại những thước phim về tang lễ của Người.
Nhà thơ Tố Hữu viết :
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn rau mấy gốc dừa
Nhà thơ đã nói thay những gì đã đang diễn ra trong đời sống của những người Việt Nam lúc đó. Năm ấy, tôi còn là một cậu học sinh cấp II trường làng. Trong ngôi đình cổ, nơi những người dân làng tôi làm lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả đã khóc. Hình ảnh đau thương nhưng kỳ vĩ ấy không chỉ ở làng tôi mà ở muôn vàn những làng quê trên tổ quốc Việt Nam.
Nguồn: tagvn.com
Những ngày sau đó, khác với trước kia, tôi nhận ra nỗi buồn đau trên gương mặt của những người nông dân. Họ gặp nhau trên đường làng, trên cánh đồng nhưng chỉ chào nhau một câu rất nhỏ. Ngay sau ngày truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi bước vào lớp học thì tất cả cô giáo và học sinh đều bật khóc. Cô giáo tôi vừa khóc vừa nói với chúng tôi hãy kính thương Người bằng cách học cho tốt và sống cho tốt.
Bây giờ nhìn lại, tôi thấy rằng: lúc đó, chúng tôi, những đứa trẻ đã gắng học tốt hơn, không chơi bời, nghe lời thầy cô hơn, giúp đỡ cha mẹ hơn và thương yêu nhau hơn sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh mất. Chúng tôi hành động như vậy không với một tư tưởng nào vì lúc đó chúng tôi chỉ là những đứa trẻ ham chơi mà thôi.
Nhưng trong đời sống những năm tháng đó, tất cả những tình cảm và sự thiêng liêng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh mà những người lớn mang trong ngôn ngữ của họ, trong cảm xúc của họ và trong hành động của họ đã dựng lên trong tâm hồn thơ trẻ chúng tôi một hình ảnh của tình yêu thương và thiêng liêng.
Người mãi là nguồn cảm hứng lớn lao, là niềm tin tất thắng dạt dào… Nguồn: hanoi.vnn.vn
Cho đến tận bây giờ, trong trái tim đang già đi và nhiều mệt mỏi của mình, tôi vẫn nghe thấy sự chân thực mãnh liệt của niềm thương kính lớn lao và lạ kỳ về cái ngày buồn thương ấy. Mà không chỉ trong trái tim cá nhân tôi, ắt hẳn là trong trái tim của biết bao người cùng thời nữa. Cảm xúc ấy, niềm thương kính ấy không phải đến từ sự sùng bái mà đến từ một hiện thực của đời sống như một sự huyền diệu.
Nhiều năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, tôi có đôi ba lần đi qua Quảng trường Ba Đình. Lần nào tôi cũng dừng lại. Một cảm xúc da diết và lớn lao dâng ngập trong lòng khi tôi nghe giai điệu của một bài hát phát ra từ những chiếc loa quanh khu vực Quảng trường.
Đất nước nghiêng mình
Đời đời nhớ ơn
Tên Người sống mãi với non sông Việt Nam
………
Thế giới nghiêng mình
Loài người tiếc thương
Đây người chiến sỹ đấu tranh cho tự do
……………
Hồ Chí Minh, Bác Hồ Chí Minh
Ôi trái tim Người nặng nghĩa bốn phương
Vì độc lập tự do đường lên phía trước rực màu cờ sao
Hồ Chí Minh, Bác Hồ kính yêu
Người là niềm tin tất thắng sáng ngời
(Người là niềm tin tất thắng – Nhạc và lời của Chu Minh )
Trong thế kỷ XX, qua con mắt của nhiều nhà báo phương Tây, tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh là tang lễ lớn nhất. Nhưng tang lễ đó không chứa đựng nỗi bi thương lớn nhất mà chứa đựng một tình yêu và một đức tin lớn lao kỳ lạ đối với một con người.
Bởi con người đó đã là một chiến sỹ vĩ đại đấu tranh không mệt mỏi cho quyền được sống làm người của một con người và của một dân tộc trên thế giới này. Con Người đó là biểu tượng vĩ đại cho nhiều dân tộc trên thế giới về khát vọng hòa bình lớn lao và sự dâng hiến tận cùng cho một đời sống hòa bình trên thế gian.
Một nhà báo Úc đã viết rằng khi ông chứng kiến những giọt nước mắt chân thành và ngập tràn kính thương trên gương mặt của những đứa trẻ chăn trâu đến những cụ già trong ngày của tháng 9 năm 1969 thì ngay lập tức ông nhận ra sức mạnh không gì khuất phục được của dân tộc Việt Nam.
Và vẫn luôn là Người – hình ảnh vị lãnh tụ giản dị, gần gũi với triệu dân, không lúc nào nguôi ưu tư về vận mệnh dân tộc. Nguồn: danang.vn
Đến lúc đó, ông hoàn toàn tin tưởng những người Việt Nam sẽ đi đến thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến tranh tàn khốc nhất lịch sử thế giới thế kỷ XX mà chính quyền Mỹ tiến hành chống lại dân tộc này – cuộc chiến tranh mà trước đó ông đã từng không tin người Việt Nam có thể đi qua được.
Trở về Úc, ông đã lên tiếng trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng nói về một đức tin kỳ lạ của dân tộc Việt Nam. Và ông kêu gọi mọi người trên thế giới hãy đứng về phía nhân dân Việt Nam. Với ông, đức tin của người Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là đức tin với một vị lãnh tụ mà là đức tin với một giấc mơ đẹp đẽ, lớn lao và sự linh thiêng của đời sống loài người.
Cuộc sống của Người là một hiện thực của những điều vô cùng giản dị nhưng lại lớn lao vô cùng. Và không có gì khác ngoài hiện thực ấy mới tạo nên được niềm tin cho những con người cần lao. Niềm tin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gieo vào tâm hồn mỗi người dân Việt Nam ngày ấy không phải là một niềm tin trong những pho sách, không phải những niềm tin giáo điều. Đó là một niềm tin hiện hữu nhưng lớn lao vô tận trong mỗi lời nói, mỗi hành động của Người.
Niềm tin ấy được tạo dựng nên bằng chính cuộc sống từng ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi Người bắt đầu đặt câu hỏi về độc lập, tự do của nhân dân mình trong tâm hồn rộng lớn nhưng đau đớn của Người, ngay giữa những năm tháng lầm than nhân dân Việt Nam sống đời nô lệ.
Năm 2009 nhân kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc Hồ Chủ tịch, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức chương trình nghệ thuật “Hồ Chí Minh – cả một đời vì nước vì dân”, tại Quảng trường Ba Đình.
Phát biểu tại chương trình, ông Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, nhấn mạnh: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin gắn chặt với thực tiễn nước ta. Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam thành đội tiên phong bản lĩnh, trí tuệ, dày dạn kinh nghiệm của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.
Chương trình là lời tri ân của những người con đất Việt với Người. ẢNh minh họa.
Là nhà chiến lược thiên tài, Hồ Chủ tịch đã cùng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Những cống hiến đặc sắc của Người về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc đã góp phần quan trọng thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong thế kỷ XX và ngày nay còn nguyên giá trị đối với cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
– Vào đúng dịp kỷ niệm 121 năm ngày sinh Bác Hồ và tiến tới ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016, chúng tôi có dịp trở lại vùng đất quế Trà Bồng – nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi vào ngày 28/8/1959, cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên của đồng bào các dân tộc Trà Bồng giành thắng lợi, đánh một đòn chí mạng vào chính quyền tay sai Mỹ không chỉ riêng ở Quảng Ngãi mà cả miền Nam Việt Nam. Đặc biệt, cũng tại mảnh đất này cách đây gần 42 năm, tại buổi lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh do Huyện ủy Trà Bồng tổ chức, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào dân tộc Kor đã đề đạt nguyện vọng lên Trung ương được mang họ của Bác Hồ. Và từ đó đến nay người Kor Trà Bồng đều được mang họ Bác Hồ.
Già làng Hồ Chí Khánh trước bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ảnh: Đinh Hương- TTXVN
Đầu tháng 9/1969, người Kor Trà Bồng (Quảng Ngãi) đau buồn đón nhận tin Bác Hồ về cõi vĩnh hằng. Nước mắt ướt đẫm trên những khuôn mặt dạn dày sương gió, từng chịu đựng đắng cay gian khổ suốt bao nhiêu năm đấu tranh với kẻ thù để gìn giữ lời thề “Suốt đời theo Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng”, đã từng vang lên trong đại hội Gò Rô chống Mỹ (tháng 7/1958), và tiếp ngân vang trong cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi tháng 8/1959.
Già làng Hồ Chí Khánh, lão thành cách mạng xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng kể lại: Sáng ngày 9/9/1969, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Kor vượt núi, băng sông về chiến khu Trà Lãnh (nay thuộc huyện Tây Trà) dự lễ truy điệu Hồ Chủ tịch do Huyện ủy huyện Trà Bồng tổ chức, lắng nghe Di chúc của Người và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bức tượng Hồ Chủ tịch tạc từ thân cây quế được trang trọng đặt lên bàn thờ để mọi tấm lòng hướng về Người trong niềm đau thương xúc động. Tại buổi lễ này, các già làng người Kor đã đề đạt nguyện vọng của đồng bào “muốn mang họ Bác Hồ” thể hiện tấm lòng trung thành với Đảng, ghi nhớ công ơn và làm theo lời dạy của Cụ Hồ. Khi nhận được kiến nghị này, đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng đã điện trả lời, đại ý: Trung ương Đảng không chủ trương việc đồng bào mang họ Bác, nhưng đây là nguyện vọng của dân, tấm lòng của dân, nên Trung ương đồng ý. Từ đó đến nay, đã 42 năm người Kor vinh dự và tự hào được mang họ Bác Hồ – Người cha của 54 dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam.
Vùng đất quế Trà Bồng năm xưa, nay là 2 huyện Trà Bồng và Tây Trà, đang chuyển mình từng ngày trong sự nghiệp đổi mới, xóa bỏ lạc hậu, đói nghèo, xây dựng quê hương giàu đẹp. Điện lưới quốc gia, trường học, trạm y tế, đường giao thông bê tông đã về tận các bản làng. Vùng căn cứ địa cách mạng trên núi Cà Đam – cao hơn 1.000 m so với mực nước biển đã kiêu hãnh trong 2 cuộc kháng chiến, giờ đây đang được khảo sát, quy hoạch chi tiết để xây dựng thành khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái.
Và trên mảnh đất ấy, lời thề suốt đời theo Đảng, theo Bác Hồ vẫn ngan ngát trong hương quế Trà Bồng. Già làng Hồ Chí Khánh – một trong những cán bộ lão thành của huyện Trà Bồng hiện ở thôn 2, xã Trà Thủy tự hào: Là con cháu của Bác Hồ, đồng bào dân tộc Kor Trà Bồng rất tự hào với truyền thống cách mạng của quê hương. Trong những năm gần đây, người Kor một lần nữa được tiếp thêm sức mạnh mới thông qua Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là cuộc vận động lớn của Đảng, do đó mọi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện Trà Bồng đã có sự chuyển biến tích cực về nhận thức tư tưởng, ý thức rèn luyện đạo đức, lối sống; tinh thần tự phê bình và phê bình, ý thức, trách nhiệm của đảng viên đối với Đảng được nâng cao. Và ngày 22/5 tới, ngày toàn dân tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, là con cháu Bác Hồ, già cùng các con cháu là cử tri ở các bản làng sẽ hăng hái tham gia bầu cử để bầu ra những đại biểu tiêu biểu nhất của Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016.
Thưa Ngài chủ tịch, Ngài có thể cho biết liệu có một giải pháp quân sự nào cho chiến sự tại miền Nam Việt Nam?
– Không. Bởi vì như cô biết đấy, “Dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một”. Người Mỹ đã vô cớ gây chiến tranh. Cô cũng biết rằng, như trên các mặt báo đã đưa, nếu chiến tranh càng kéo dài, người Mỹ sẽ càng sa lầy và sẽ càng chuốc lấy thất bại. Chiến tranh không thể kéo dài mãi mãi được, tôi cũng vui mừng là các nhà chính trị Pháp cũng đã biết rõ điều này.
Liệu Ngài có nghĩ rằng tướng De Gaule có thể sẽ có biện pháp nào đó phân định (arbitrer) sự xung đột này.
– Không biết cô hiểu thế nào về từ phân định (arbitrer), chúng tôi đâu có phải là một đội bóng đâu (cười).
Nhưng nếu tôi không nhầm thì ngoài Hiệp định Genève, tướng De Gaule có nói về một ý tưởng về sự thống nhất tất cả các nước ở khu vực Đông Nam Á, Ngài nghĩ sao về điều này?
– Như tôi đã nói một lần rồi, đây là một ý tưởng khá hấp dẫn. Nhưng nó còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của từng nước, phụ thuộc vào cách chúng ta thực hiện nó nữa, đó là một câu hỏi lớn. Tôi không nói là tôi phản đối hay tán thành ý kiến này. Lấy ví dụ về HOA, có rất nhiều loại hoa: hoa trắng, hoa đỏ, hoa vàng … có loài hoa đẹp nhưng cũng có loài không đẹp, nhưng chúng ta vẫn gọi chung là HOA.
– Thưa Ngài Chủ tịch, trong chuyến đi miền Bắc Việt Nam này chúng tôi nhận thấy rằng sự ảnh hưởng của Pháp dường như không còn tồn tại ở đây nữa, độ tuổi dưới 25 giờ đã không còn biết đến tiếng Pháp. Tôi tự hỏi là, với suy nghĩ của Ngài, liệu rằng chúng ta có thể gây dựng lại mối quan hệ này, rằng nước Pháp sẽ giữ vai trò nào đó trong mối quan hệ … văn hóa giữ hai nước?
– Với nước Pháp nói riêng và các nước khác nói chung, chúng tôi luôn muốn có một mối quan hệ hợp tác hữu nghị về văn hóa, kinh tế … Nhưng tôi không nghĩ rằng cô muốn nói tới sự ảnh hưởng của Pháp như họ đã từng gây sự ảnh hưởng với Việt Nam trước đây, đó là một chuyện hoàn toàn khác.
– Oui, thời kì đó đã qua rồi.
– Một mối quan hệ hữu hảo về văn hoá, kinh tế … hay như thể thao chẳng hạn. Chúng tôi hoàn toàn hưởng ứng.
Nếu như chiến tranh tiếp tục leo thang tại miền Nam Việt Nam trong một vài năm tới, liệu ngài có nghĩ rằng kinh tế của miền Bắc Việt Nam có thể duy trì được như bây giờ?
– Tôi chắc chắn rằng nó không những chỉ duy trì mà còn phát triển. Cô cũng thấy rằng là ở đây, chúng tôi lao động rất hăng say, cần cù, với sự hy sinh và lòng nhiệt huyết, và chủ yếu đều xuất phát từ nội lực của chúng tôi. Bên cạnh đó chúng tôi còn có sự giúp đỡ anh em từ các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Tất cả đều thể hiện qua những tiến bộ hàng ngày, và chắc chắn là cả trong tương lai nữa.
Ngài có nhắc tới các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, vậy thì sự giúp đỡ này có bắt nguồn sau những xung đột về ý thức hệ (conflit idiologique) giữa Nga và Trung Quốc?
– Không, …….. (không nghe rõ ) …….. Nhưng những sự giúp đỡ giữa các nước anh em thì vẫn tiếp diễn, và chúng rất quý giá với chúng tôi.
Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc (thành vệ tinh của Trung Quốc). Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao?
“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Sau khi Người qua đời, với tấm lòng kinh yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể theo nguyện vọng của toàn dân, Đảng và Nhà nước quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt thiêng liêng, chưa có tiền lệ ở Việt Nam.
Với vinh dự và trách nhiệm được giao, gần 38 năm qua, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Bảo vệ Lăng đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, luôn “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo”, bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác ở trạng thái tốt nhất. Những nét đặc trưng của Người lúc sinh thời được giữ gìn nguyên vẹn.
Để giúp bạn đọc hiểu thêm về sự nghiệp giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu từng phần cuốn sách “Giữ yên giấc ngủ của Người” được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành năm 1990 (sau đó có bổ sung, tái bản nhiều lần). Nội dung cuốn sách đã thể hiện một cách chân thành và cảm động tình cảm kính yêu vô bờ bến của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và tình cảm quốc tế cao đẹp của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đối với Bác Hồ.
Cuốn sách gồm lời nói đầu, lời giới thiệu và 6 chương:
Chương I: Những ngày tháng cuối cùng của Bác.
Chương II: Đơn vị đặc biệt, nhiệm vụ đặc biệt.
Chương III: Những nơi Bác yên nghỉ.
Chương IV: Công tác chuẩn bị.
Chương V: Ngày, đêm trên Quảng trường Ba Đình.
Chương VI: Đón Bác về Lăng.
Nhân dịp kỷ niệm 32 năm Ngày truyền thống của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/8/1975 – 29/8/2007), Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phối hợp với Nhà Xuất bản Quân đội xuất bản cuốn sách “Bên Lăng Bác Hồ”.
Trải qua 38 năm thực hiện nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác và 32 năm xây dựng, trưởng thành, lớp lớp cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo” hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác, những nét đặc trưng của Người lúc sinh thời được giữ gìn nguyên vẹn.
Để giúp bạn đọc hiểu thêm về sự nghiệp giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người, chúng tôi lần lượt giới thiệu các bài viết trong cuốn sách “Bên Lăng Bác Hồ” của cán bộ, chuyên gia Nga, phóng viên, nhạc sĩ; thể hiện tình cảm thiêng liêng, lòng biết ơn sâu sắc của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người trực tiếp được làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác và công trình Lăng của Người kính dâng lên Đảng, Bác Hồ muôn vàn kính yêu, là món quà tinh thần gửi tới đồng bào, đồng chí cả nước.
Cuốn sách gồm lời nói đầu, 24 bài viết và 4 bài hát.
“Cố gắng giải phóng nhanh để Bác được vào thăm đồng bào miền Nam”, đó là niềm mong ước, nỗi khát khao và cũng là điều trăn trở của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người còn sống.
Sinh thời Bác Hồ luôn luôn dành cho cách mạng miền Nam và nhân dân miền Nam sự quan tâm và những tình cảm thân thương nhất, bởi đồng bào và chiến sĩ miền Nam là những người phải chịu nhiều đau khổ, hy sinh mất mát trong công cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Hình ảnh Bác Hồ luôn luôn ở trong tình cảm của mỗi người dân miền Nam, dù họ đã được gặp hoặc chưa một lần gặp Bác. Những người con miền Nam – Thành đồng của Tổ quốc đã được gặp Bác sẽ không bao giờ quên được những giờ phút, những khoảnh khắc hiếm hoi khi được ở bên Người, nghe Người ân cần thăm hỏi, trò chuyện và dặn dò. Sự xúc động, những tình cảm đó đã để lại trong ký ức của họ những kỷ niệm sâu sắc, mãi mãi không bao giờ quên. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nhân dân miền Nam đã kiên cường anh dũng chiến đấu để Tổ quốc sớm thống nhất, sớm được đón Bác vào thăm, thoả lòng mong ước của Người cũng như của toàn thể đồng bào miền Nam.
Ngày 3-10-1948, Bác tiếp đoàn đại biểu quân chính Nam Bộ do đồng chí Phạm Văn Bách dẫn đầu ra công tác và thăm Người tại chiến khu Việt Bắc. Các đại biểu Nam Bộ đã đem theo những tặng phẩm của nhân dân miền Nam gửi kính biếu Bác và Chính phủ, trong đó có bức họa vẽ bằng máu của họa sĩ Diệp Minh Châu. Bức họa vẽ hình Bác và ba em thiếu nhi tượng trưng ba miền Bắc – Trung – Nam vây quanh Bác. Khi xem bức họa, Bác rất xúc động.
Bác mong được vào miền Nam để thăm đồng bào và chiến sĩ. Ước mong đó luôn thường trực trong tâm trí của Người. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, với chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ “vang dội năm châu”, quân và dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Tháng 9-1954, trong thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam ra Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đến ngày hoà bình đã được củng cố, thống nhất được thực hiện, độc lập, dân chủ đã hoàn thành, đồng bào sẽ vui vẻ trở về quê cũ. Lúc đó rất có thể tôi sẽ cùng đồng bào vào thăm miền Nam yêu quý của chúng ta”1.
Bác cũng khẳng định: “Ngày nào mà chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ – Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ yên”2.
Nguyện vọng vào thăm quân và dân miền Nam của Người chưa lúc nào nguôi. Năm 1963, trong một lần Bác mời Thượng tướng Trần Văn Trà đến ăn cơm chia tay trước khi ông lên đường vào Nam chiến đấu, Người đã tặng ông một hộp xì gà Cuba do Chủ tịch Phiđen Caxtrô gửi tặng. Bác nói:
“Bác gửi chú món quà này mang về cho anh em trong đó hút để nhớ Bác và nhớ đến Cuba anh em. Cố gắng giải phóng nhanh để Bác được vào thăm đồng bào miền Nam”3.
Vào tháng 2 năm 1966, tại ngôi Nhà sàn ở Phủ Chủ tịch, Bác nói với các đồng chí trong Bộ Chính trị: Đã bao lần tôi yêu cầu vào Nam, sao các chú không thu xếp cho tôi đi?… Sao các chú không để tôi đi… Bây giờ tôi còn đang khoẻ, đi lại thuận tiện … Không vào Nam Bộ được thì vào Khu V hay một vùng giải phóng nào đó cũng được… Các chú định lúc nào mới cho tôi đi? Tôi đề nghị mãi mà các chú vẫn cứ từ chối!”4.
Chính vì chưa một lần vào thăm đồng bào, cán bộ và chiến sĩ miền Nam, nên khi có các đoàn đại biểu của miền Nam ra Bắc dù là đi công tác, đi họp, học tập hay tham quan, chữa bệnh, các đồng chí đều sắp xếp để Bác gặp dù là ở chiến khu Việt Bắc hay giữa lòng Thủ đô Hà Nội.
Ngày 3-10-1948, Bác tiếp đoàn đại biểu quân chính Nam Bộ do đồng chí Phạm Văn Bách dẫn đầu ra công tác và thăm Người tại chiến khu Việt Bắc. Các đại biểu Nam Bộ đã đem theo những tặng phẩm của nhân dân miền Nam gửi kính biếu Bác và Chính phủ, trong đó có bức họa vẽ bằng máu của họa sĩ Diệp Minh Châu. Bức họa vẽ hình Bác và ba em thiếu nhi tượng trưng ba miền Bắc – Trung – Nam vây quanh Bác. Khi xem bức họa, Bác rất xúc động.
Đầu tháng 5-1961, Bác tiếp đồng chí Bông Văn Dĩa từ miền Nam ra nhận nhiệm vụ lái con tàu mở đường Hồ Chí Minh trên biển. Tiếp đó, Người tiếp đồng chí Võ Bẩm, Đoàn trưởng Đoàn vận tải quân sự 559 và căn dặn: Đoàn phải làm tốt, làm nhiều hơn nữa, phải giữ được bí mật, bất ngờ, hoàn thành tốt nhiệm vụ tiếp sức cho cách mạng miền Nam.
Ngày 20-10-1962, lần đầu tiên Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc, xúc động ôm hôn Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu, Bác đã đặt tay lên ngực mình và nói: “Hình ảnh miền Nam yêu quí luôn luôn ở trong trái tim tôi”.
Tại Hà Nội, nhớ tới đồng bào miền Nam đang ngày đêm chiến đấu, Bác đến thăm Phái đoàn đại diện thường trực của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Người tiếp các đoàn đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, tiếp các anh hùng và chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam. Người thăm Triển lãm tranh tượng của các họa sĩ điêu khắc miền Nam tập kết ở miền Bắc, gửi thư cho các cán bộ và học sinh trường miền Nam, thăm nơi an dưỡng dành cho đồng bào miền Nam, thăm trại thiếu nhi miền Nam…
Đoàn đại biểu cuối cùng của miền Nam được gặp Bác trước lúc Người đi xa là Đoàn đại biểu Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình miền Nam do luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch dẫn đầu ra thăm miền Bắc. Ngày 5 tháng 8 năm 1969, ngày thứ hai trên đất Bắc, đoàn đã vô cùng xúc động và vui mừng khi được đón Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới thăm ngay tại nơi nghỉ của đoàn ở Hà Nội. Tình cảm và sự quan tâm sâu sắc của Bác đã động viên tinh thần rất lớn và góp phần vào những chiến công của quân và dân miền Nam.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân và dân miền Nam đã chiến đấu kiên cường, giành được nhiều thắng lợi to lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tập trung sức lực, trí tuệ chỉ đạo sự nghiệp giải phóng miền Nam, theo dõi sát sao tình hình chiến sự đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trên chiến trường miền Nam. Người chú trọng đặc biệt tới việc chi viện cho cách mạng miền Nam. Người tin rằng với tinh thần đoàn kết, bền bỉ, anh dũng trong chiến đấu và quyết thắng của nhân dân miền Nam, với những kinh nghiệm chiến đấu trong gần 20 năm, được nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới đồng tình và ủng hộ, nhân dân miền Nam sẽ nhất định sẽ thắng lợi. Người gửi thư chúc mừng khi được tin đồng bào miền Nam đã đạt nhiều thành tích trong chiến đấu, động viên quân và dân miền Nam cố gắng hơn nữa: “Đầu Xuân năm nay, quân và dân miền Nam anh hùng đã tiến công địch liên tục, đều khắp, đánh rất giỏi, thắng rất to.
Bác rất vui lòng gửi đến các cô, các chú lời khen nhiệt liệt nhất, thân ái nhất. Giặc Mỹ đã thua nặng. Nhưng chúng vẫn chưa bỏ dã tâm xâm lược, chưa chịu rút quân ra khỏi nước ta. Vậy ta phải tiếp tục đánh mạnh, đánh đau, đánh cho đến khi Mỹ, ngụy thất bại hoàn toàn, cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng”5.
Ngày 8 tháng 5 năm 1963, tại kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khoá II, Bác từ chối nhận Huân chương Sao vàng và đề nghị: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng”6.
Ngày 10 tháng 3 năm 1968, trong thư gửi đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bác nói rõ ý định, nêu cách đi, thời gian và lịch trình cho chuyến đi vào miền Nam của mình. Đọc bức thư của Người chúng ta rất xúc động vì lúc này tuổi của Bác đã cao, sức khoẻ đã yếu đi nhiều:
“Nhớ lại hồi Nôen năm ngoái, Chú có khuyên B.7 đi thăm miền Nam sau ngày ta thắng lợi hoàn toàn, B. rất tán thành.
Nhưng nay chỉ đổi chữ “sau” thành chữ trước ngày thắng lợi hoàn toàn, tức là đi thăm khi anh em trỏng 8 đang chuẩn bị mở màn thứ ba. Đi thăm đúng lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em…
Có lẽ Chú và đồng chí khác e rằng sức khoẻ của B. không cho phép B. đi chơi xa. Nhưng, thay đổi không khí, hô hấp gió biển và sinh hoạt với quần chúng trong hoàn cảnh chiến đấu sẽ giúp sức khoẻ tiến bộ mau hơn…”9.
Bước sang năm 1969, Bác đã 79 tuổi, cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng khi gặp các đồng chí Phạm Hùng và Hoàng Văn Thái từ miền Nam ra Bắc họp (tháng 3-1969), Bác vẫn nhắc tới việc thu xếp để Người vào Nam. Trước khi hai đồng chí trở lại chiến trường, Bác hỏi: Các chú có thể chuẩn bị cho Bác sớm vào thăm đồng bào miền Nam được không?10. Đồng chí Hoàng Văn Thái và đồng chí Phạm Hùng đã xúc động thưa: Chúng cháu nhất định hoàn thành nhiệm vụ để sớm rước Bác vào Nam. Bác nói: Hai chú cho Bác gửi lời thăm hỏi đồng bào miền Nam, thăm cán bộ dân chính Đảng, thăm cán bộ và chiến sĩ trong quân đội. Các chú phải nhớ chuyển lời này cho Bác. Đó là những tình cảm mà Bác dành cho nhân dân miền Nam. Tiếc rằng nguyện vọng đó chưa một lần thực hiện được thì Bác đã đi xa.
Ngày 30 tháng 4 năm 2009, một ngày lễ lớn của dân tộc – ngày Đại thắng mùa Xuân, đã tròn 34 năm đất nước ta vui niềm vui thống nhất, non sông thu về một mối. Mỗi khi tới ngày này chúng ta càng nhớ tới Bác Hồ muôn vàn kính yêu, nhớ tới một con người mà trong nhiều năm không lúc nào nguôi ngoai ước nguyện là được vào thăm đồng bào và chiến sĩ miền Nam yêu quý./.
——————————————
1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.356 2- Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 200. 3- Kim Dung, Chí Thắng, Việt Hải: Bác Hồ với các tướng lĩnh, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, 2000, tr. 23. 4- Bác Hồ với các tướng lĩnh, Sđd, tr. 30. 5- Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 450. 6- Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 62. 7- B. là Bác. 8- Anh em trong ấy (cách gọi lối miền Nam). 9- Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 337. 10- Bác Hồ với các tướng lĩnh, Sđd, tr. 29.
Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là đơn vị vinh dự được Đảng, Nhà nước, quân đội giao nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tưởng niệm các AHLS tại Đài tưởng niệm Liệt sỹ Bắc Sơn. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày đầu tiên mở cửa Lăng, các thế hệ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xây dựng nên truyền thống “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo”. Thành tích đó có sự đóng góp không nhỏ của tuổi trẻ đơn vị.
Từ khi Đảng ta phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đoàn thanh niên xác định đây là cơ hội rất lớn để tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng cho đoàn viên thanh niên, góp phần thực hiện tốt phong trào “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” do Trung ương Đoàn phát động.
Với phương châm triển khai Cuộc vận động thiết thực, cụ thể, tránh phô trương hình thức, gắn với việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, tuổi trẻ Bộ Tư lệnh đã thể hiện quyết tâm thực hiện Cuộc vận động, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ tích cực trong nhận thức và hành động. Bám sát vào hướng dẫn của trên, Đoàn Thanh niên Bộ Tư lệnh xác định tiến hành triển khai Cuộc vận động qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu từ tháng 4/2007 đến tháng 7/2007, các tổ chức Đoàn tập trung tổ chức học tập, nghiên cứu 2 chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho toàn thể cán bộ, đoàn viên. Giai đoạn tiếp theo là triển khai hành động, cán bộ đoàn viên làm theo lời Bác, trong đó tập trung gắn việc thực hiện 5điều Bác Hồ dạy thanh, thiếu niên với những công việc thường ngày của từng đoàn viên.
Là đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ tại Lăng, đây chính là yếu tố thuận lợi cơ bản nhất để Đoàn thanh niên triển khai các hoạt động giáo dục tuyên truyền về ý nghĩa, nội dung, yêu cầu của Cuộc vận động. Với phương châm không máy móc, dập khuôn và mang sắc thái của tuổi trẻ, nhiều tổ chức Đoàn trong đơn vị đã có những cách làm sáng tạo, đổi mới hình thức tuyên truyền giáo dục như: Chi đoàn Cơ quan Văn phòng với mô hình “ngày đọc sách thanh niên”; các chi đoàn của Đoàn cơ sở H75 phát huy tác dụng của “hộp sách, báo thao trường”, khai thác, sử dụng hiệu quả Phòng Hồ Chí Minh. Đã chủ động phối hợp với thư viện Quân đội tổ chức 1 buổi giới thiệu sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh cho cán bộ, đoàn viên thanh niên. Ngoài ra, Đoàn thanh niên của BTL còn phối hợp chặt chẽ với tuổi trẻ các lực lượng trong cụm Di tích Lịch sử Văn hoá Ba Đình tổ chức cho đoàn viên thanh niên tham gia các hoạt động sinh hoạt chính trị, học tập, tham quan tại Lăng, khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh. Trong dịp kỷ niệm 117 năm ngày sinh của Bác, Đoàn thanh niên đơn vị đã phối hợp với Quận đoàn Ba Đình tổ chức cho cán bộ, đoàn viên giao lưu với các cán bộ lão thành cách mạng đã có thời gian làm việc bên Bác Hồ, được nghe những nhân chứng lịch sử kể lại những câu chuyện cảm động về tấm gương đạo đức của Bác. Thông qua các hoạt động giáo dục, tuyên truyền đó đã định hướng cho mỗi đoàn viên thanh niên, mọi suy nghĩ, hành động, việc làm đều gắn với tinh thần của Cuộc vận động.
Qua hơn một năm tổ chức thực hiện Cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” các tổ chức đoàn và đoàn viên thanh niên trong đơn vị đã sáng tạo triển khai nhiều cách làm bước đầu có hiệu quả. Đặc biệt, đoàn viên thanh niên là những nhân tố điển hình và tham gia tích cực vào Hội thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở cấp cơ sở và cấp Bộ Tư lệnh do Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 969 tổ chức năm 2007. Nhân dịp kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn thanh niên Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã tổ chức Hội thi kể chuyện “Bác Hồ với thanh niên, thanh niên với Bác Hồ” từ cấp cơ sở đến cấp BTL. Đã có hàng chục lượt cán bộ, đoàn viên thanh niên trong đơn vị tham gia với những câu chuyện cảm động sâu sắc, thể hiện tình cảm của Bác Hồ, những lời dạy của Bác đối với thanh niên và những tấm gương thanh niên tiêu biểu xuất sắc thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy.
Từ thực tế phong trào thi đua, đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến và các tấm gương tiêu biểu, có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ. Mô hình “Chi đoàn làm theo lời Bác” của Đoàn cơ sở H75 đã phát huy tốt hiệu quả. Các chi đoàn đã tổ chức quán triệt nội dung Cuộc vận động đến từng đoàn viên, tổ chức đăng ký quyết tâm thi đua trong từng phân đoàn, lấy đây làm căn cứ để đánh giá chất lượng đoàn viên. Trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đơn vị, đoàn viên phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, quy định của đơn vị; thực hiện nhiệm vụ nghi lễ quán triệt sâu sắc quan điểm đúng, đều, mạnh, đẹp, trang nghiêm trong thực hiện nhiệm vụ tiêu binh danh dự và nghi lễ chào cờ Quốc gia hàng ngày trước Lăng Bác; đón tiếp, phục vụ ân cần, chu đáo đồng bào và khách quốc tế tới viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ. Xây dựng mô hình “Vọng gác thanh niên, ca gác, ca trực kiểu mẫu”.. . đã tạo ra sự chuyển biến tích cực, góp phần bảo đảm tuyệt đối an toàn an ninh khu vực Lăng Bác và tạo được ấn tượng về hình ảnh của người chiến sĩ tiêu binh bên Lăng Bác Hồ trong lòng đồng bào và du khách quốc tế.
Tháng 7 vừa qua, trong khi đang thực hiện nhiệm vụ tại khu vực Lăng, binh nhất Nguyễn Văn Phúc, đoàn viên thuộc Chi đoàn 4, Đoàn cơ sở H75 đã nhặt được một túi hành lý của khách đi viếng Bác đánh rơi, trong túi có tiền và một số hiện vật có giá trị, anh đã kịp thời báo cáo với chỉ huy đơn vị thông báo và trả lại người đánh mất. Việc làm của anh đã được chỉ huy đơn vị biểu dương và tổ chức Đoàn trong đơn vị lấy đó là tấm gương để mọi đoàn viên noi theo. Khi được hỏi vì sao anh lại có nghĩa cử cao đẹp như vậy, Phúc khiêm tốn trả lời: “Là người chiến sĩ cận vệ bên Lăng Bác, mình phải là những người gương mẫu học tập tấm gương đạo đức của Người. Ở vào hoàn cảnh của tôi, tất cả các đoàn viên trong đơn vị đều làm như vậy thôi”. Đó chỉ là một trong nhiều tấm gương tiêu biểu trong Cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” của đoàn viên thanh niên Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đánh giá về kết quả thực hiện Cuộc vận động của tuổi trẻ Bộ Tư lệnh trong thời gian qua, Đại tá Đặng Nam Điền, Phó Chính uỷ Bộ Tư lệnh cho biết: “Thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tuổi trẻ Bộ Tư lệnh đã có nhiều hoạt động thiết thực cả nội dung và hình thức; góp phần xứng đáng vào việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện”
Để tiếp tục thực hiện Cuộc vận động có hiệu quả, trong thời gian tới, Đoàn thanh niên BTL Lăng xác định một số nhiệm vụ trọng tâm:
Một là: Tích cực cải tiến, đổi mới nội dung, hình thức nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đoàn viên nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn về Cuộc vận động; tự giác, tích cực học tập, rèn luyện tu dưỡng theo lời dạy của Bác. Thực hiện tốt tiêu chuẩn đạo đức, lối sống của cán bộ, đoàn viên làm nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng thành nề nếp, chế độ việc học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy trong nội dung sinh hoạt Đoàn hàng tuần, tháng.
Hai là: Tiếp tục thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đơn vị: đón tiếp, tuyên truyền, phát huy ý nghĩa chính trị của công trình Lăng góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động.
Ba là: Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ban chấp hành Đoàn các cấp trong việc triển khai, kiểm tra, tổ chức thực hiện Cuộc vận động trong đoàn viên thanh niên; tích cực tham mưu với cấp uỷ, chỉ huy và Ban Chỉ đạo Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gưong đạo đức Hồ Chí Minh” của đơn vị để góp phần thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động lớn này.
Học tập và làm theo lời Bác là việc làm thường xuyên, liên tục, lâu dài và có ý nghĩa quan trọng đối với tuổi trẻ cả nước nói chung và tuổi trẻ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng nói riêng. Thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động do Trung ương Đoàn phát động sẽ tạo động lực lớn, thúc đẩy phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ Việt Nam dành được những kết quả tốt, xây dựng một thế hệ trẻ vừa “hồng”, vừa “chuyên” như Bác Hồ căn dặn trong Di chúc của Người trước lúc đi xa: “… Bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết…”
Bạn phải đăng nhập để bình luận.