Tag Archive | Video

Hà Nội niềm tin và hy vọng

40 năm nhìn lại “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” (5)

ANTĐ – Đỉnh cao của những cố gắng “thương lượng trên thế mạnh” của Mỹ là “cuộc ném bom mùa Giáng sinh” – đã được chuẩn bị kế hoạch từ trước với mật danh Linebacker II. Mức độ khốc liệt của Linebacker II  là chưa từng có. Nếu như Linebacker I có mục đích “tiêu diệt khả năng chiến tranh của Bắc Việt” thì Linebacker II  nhằm mục tiêu cao hơn: Tiêu diệt ý chí chiến đấu của Bắc Việt, đánh phá tối đa các mục tiêu quan trọng và có giá trị nhất, gây khốn khó tối đa cho người dân…

Hầm trú ẩn được đào trên khắp hè phố Hà Nội

Cuộc tập kích chiến lược Linebacker II của Mỹ trong dịp Giáng sinh 1972  cũng có thể làm Hà Nội bất ngờ trong những phút đầu tiên về quy mô rộng lớn và mức độ tàn bạo của những trận bom “rải thảm”. Nhưng nếu xét ở tầm chiến lược, “Cuộc ném bom mùa giáng sinh” của Mỹ không phải là một bất ngờ với quân và dân miền Bắc Việt Nam. Hà Nội bình tĩnh và tự tin đối đầu với những bước leo thang chiến tranh mới của Mỹ. Hà Nội không khuất phục trước sự tàn bạo của bom đạn.

Chưa bao giờ Hà Nội phải hứng chịu một khối lượng bom đạn lớn như vậy – hơn 10.000 tấn, tương đương với 5 quả bom nguyên tử Mỹ đã ném xuống Hiroshima – trong khoảng thời gian ngắn ngủi như thế – chính xác là 11 ngày đêm vì Mỹ “nghỉ” ném bom trong ngày Giáng sinh. Cũng chưa bao giờ Hà Nội phải chịu những tổn thất lớn đến như thế về người – hơn 1.600 người chết trong 12 ngày đêm và nhiều cơ sở vật chất khác nhà ga, trường học, bệnh viện, khu dân cư, các tuyến đường giao thông… bị phá hủy.

Chiếc mũ rơm gắn liền với hình ảnh của người Hà Nội năm 1972

Khoảng thời gian 40 năm chưa đủ để nguôi vết thương. Những tư liệu và những câu chuyện của các nhân chứng vẫn còn làm nhiều người bàng hoàng khi biết giám đốc bệnh viện Bạch Mai đã từng phải ra lệnh cho các đồng nghiệp của mình tháo khớp của người đã chết để mở đường cứu người bị thương trong vụ ném bom bệnh viện rạng sáng 22-12-1972; Nhiều gia đình không còn ai sống sót. Thương vong sẽ còn lớn hơn nhiều nếu chính quyền và nhân dân thành phố đã không thực hiện tốt công tác phòng tránh và sơ tán. Vượt lên những đau thương mất mát, người ta vẫn thấy cuộc sống lạc quan và đầy quyết tâm của người dân Hà Nội. Trẻ em, người già đi sơ tán về các vùng nông thôn. Người đang làm việc thì cuối tuần lại đạp xe chở chút đồ “tiếp tế” – thường là dầu hỏa, mỡ lợn đã rán hoặc chút thực phẩm khiêm tốn trong thời chiến về thăm con mình ở nơi sơ tán. “… Hồi đó tinh thần hay lắm, nó giúp vượt qua được nhiều thứ. Không sợ, cảm thấy ai cũng có thể làm được nhiều việc, không chỉ riêng mình, ai cũng có thể xông vào để cứu người này, giúp người khác”.

Hoa Ngọc Hà vẫn rực nở như chưa hề có dấu tích chiến tranh khủng khiếp

Trong những năm Hà Nội đối phó với những cuộc tấn công của máy bay Mỹ, người nước ngoài đến Hà Nội đã nhìn thấy một dáng vẻ dũng cảm và vững vàng của cả thành phố và của mỗi người dân. Họ thán phục: “Hà Nội có rất nhiều hầm trú ẩn, các khách sạn không hề có công sự bảo vệ như Sài Gòn. Bồn chồn, bứt rứt thì người trong nước Mỹ ta bồn chồn bứt rứt nhiều. Ở đây chỉ thấy quyết tâm và hy sinh, chỉ thấy một thái độ nghiêm trang”. Với nhân dân tiến bộ trên thế giới, Hà Nội là biểu tượng của phẩm giá và lương tri nhân loại. Hà Nội trở thành biểu tượng bất khuất của một dân tộc yêu tự do, không chịu khuất phục trước sức mạnh của vũ khí. Người Hà Nội bình tĩnh đối phó với bom Mỹ. Cuộc sống thời chiến vẫn có những phút thanh bình. Dù bị cắt ngang bởi những hồi còi báo động và tiếng loa điềm tĩnh giục mọi người xuống hầm tránh bom Mỹ nhưng những đám cưới vẫn tràn ngập nụ cười tin vào tương lai hòa bình tươi sáng. Ở Hà Nội có những em bé bập bẹ tập nói những câu: “Bố ơi… mẹ ơi, chạy, chạy…”, lớn lên trong bom đạn và vẫn hồn nhiên đội mũ rơm đi học ở các trường làng sơ tán.

Chống lại “siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm”, “con ngáo ộp” B52 và các loại máy bay hiện đại khác của Mỹ không chỉ có tên lửa SAM và máy bay MIG mà còn có lưới lửa tầm thấp với súng trường từ các trận địa của dân quân, tự vệ, còn có mũ rơm và nụ cười của các em học sinh vẫn đêm đêm trông về Hà Nội rực sáng lửa đạn và xác “pháo đài bay” đang cháy. Từ mùa xuân Quý Sửu 1973, hình ảnh cô gái làng hoa Ngọc Hà xinh tươi như hoa bên mảnh xác B52 rơi xuống hồ Hữu Tiệp đã trở thành hình ảnh biểu trưng của Hà Nội – trữ tình và chiến thắng hào hùng.

Ngữ Thiên
anninhthudo.vn


Vkyno thân mời độc giả xem Hà Nội 40 năm trước và thưởng thức bác Trung Kiên thể hiện Hà Nội niềm tin và hy vọng

Sống lại ký ức “Hà Nội 12 ngày đêm” trên phim

(VOV) – “Hà Nội 12 ngày đêm” – bộ phim chân thật, sống động, ngợi ca chiến thắng của quân và dân Thủ đô.

Trong các ngày từ 12 đến 18/12, khán giả trong cả nước được thưởng thức những bộ phim xuất sắc của Điện ảnh Việt Nam, trong khuôn khổ tuần phim kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Đây là một hoạt động ý nghĩa, góp phần tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – một chiến thắng lịch sử mang tầm vóc lớn lao của quân đội và nhân dân Việt Nam, đặc biệt là của Quân chủng Phòng không – Không quân và bộ đội tên lửa.

19h tối nay (13/12), tại Hà Nội, Tuần phim kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” khai mạc tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia. Bộ phim truyện nhựa Hà Nội 12 ngày đêm của Nghệ sỹ Nhân dân – đạo diễn Bùi Đình Hạc được chọn chiếu khai mạc. Đây là một bộ phim chân thật, sống động, ngợi ca tinh thần quyết chiến và quyết thắng của quân và dân Thủ đô.

Một cảnh trong phim “Hà Nội 12 ngày đêm”

Bộ phim truyện nhựa Hà Nội 12 ngày đêm do NSND Bùi Đình Hạc làm đạo diễn được đánh giá là một bộ phim đầy ắp chân dung những con người bình dị nhưng hết sức kiên cường, quyết tâm sống chết với thủ đô thân yêu trong những thời khắc lịch sử hào hùng. Bộ phim được thể hiện rất công phu với mục đích tái hiện một phần trận Điện Biên Phủ trên không – một cuộc chiến đấu ác liệt của nhân dân Hà Nội chống lại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào cuối tháng 12 năm 1972, buộc Chính phủ Hoa Kỳ phải ký Hiệp định Paris, đưa lại hòa bình ở miền Bắc Việt Nam.

Trong Tuần phim kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, khán giả sẽ được xem các bộ phim: Hà Nội 12 ngày đêm, Ký ức một thời, Chuyện ở một vùng non cao, Hà Nội tháng Chạp năm ấy, Tầm nhìn trên cao, Hà Nội bản hùng ca, Năm 1972 lịch sử…

Về bộ phim này, NSND Bùi Đình Hạc cho rằng, khi thực hiện bộ phim này, những người làm phim muốn khán giả nước ngoài biết được con người, dân tộc Việt Nam trong chiến tranh.

Những con người đã sống và chiến đấu cho độc lập tự do của đất nước mình như thế nào… Hy vọng lớn nhất của những người làm phim là giúp cho người nước ngoài sẽ hiểu và đồng cảm với nhân dân VN.Đạo diễn Bùi Đình Hạc cũng cho rằng, cuộc chiến đấu của quân và dân Hà Nội trong 12 ngày đêm năm 1972 đã làm cả thế giới kinh ngạc và thán phục. Với riêng đạo diễn Bùi Đình Hạc, 12 ngày đêm ấy đã để lại trong ông những ấn tượng không thể nào quên. Không dừng lại ở miêu tả chiến công, những người làm phim cố gắng để bộ phim đạt được những giá trị nghệ thuật mang đậm tính nhân văn. Từ một chiến công, cố gắng khắc họa phần nào tính cách một dân tộc anh hùng. Tên bộ phim là Hà Nội – 12 ngày đêm gợi tình cảm, sự gần gũi, giản dị thân thương mà vẫn quyết liệt…

Đạo diễn NSND Bùi Đình Hạc

Trong phim, mỗi trường đoạn đều có sắc thái riêng. Đặc biệt trong phim có một đêm “hoà bình” giữa cuộc chiến ác liệt. Đó là đêm Noel, tháng 12/1972. Một đêm Noel đầy ý nghĩa. Tại Nhà thờ Lớn Hà Nội, mọi người để tang cho những người đã mất. Không khí buồn thương, chỉ có tiếng nhạc và những gương mặt đẫm nước mắt…

Và đêm Giáng sinh không bom đạn đó, với tình yêu mãnh liệt, cô giáo Hiền đi tìm chồng là Tiểu đoàn trưởng tên lửa Đặng Nhân bằng một chiếc xe đạp. Họ có một kỉ niệm đẹp với nhau, đứa con chính là niềm an ủi cho người vợ sau này. Giữa một cuộc chiến huỷ diệt như vậy – lại có những giây phút hoà bình thì quý giá với con người, với người lính trẻ và người vợ hiền của mình biết bao nhiêu…

Phim Hà Nội – 12 ngày đêm đã giành giải Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 14. Bộ phim cũng đã tham dự 10 Liên hoan phim quốc tế: Năm 2003, phim tham dự liên hoan phim Cairô (Ai Cập), Liên hoan phim Fukuoka (Nhật Bản), liên hoan phim New Delli (Ấn Độ); Năm 2004, phim tham dự LHP Loocarnô (Thụy Sĩ), LHP Vesoul (Pháp), LHP Bình Nhưỡng (Triều Tiên); Năm 2005 phim tham dự LHP Fair (Teheran- Iran) và LHP Laguna Tenerife (Tây Ba Nha).

Tại LHP Fukuoka (Nhật Bản) năm 2003, ông Tadao Sato – Chủ tịch LHP và Viện trưởng Viện hàn lâm Điện ảnh Nhật Bản nhận xét rằng: Phim Hà Nội- 12 ngày đêm là một bộ phim hay, giàu trí tuệ. Trong từng trường đoạn, chiến tranh diễn ra rất ác liệt, nhưng vượt lên trên hết là tình yêu hòa bình, tình nhân ái của con người Việt Nam./.

Mai Hồng/VOV1
vov.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – bài ca chiến thắng

(VOV) – Bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của nhạc sỹ Phạm Tuyên đã có sức lan tỏa mạnh mẽ, cổ vũ quân dân ta giành chiến thắng.

Có những bài hát được sáng tác trong lúc phấn khởi, hào hứng, hoặc lúc dạt dào xúc cảm, nhưng cũng có bài hát được viết ra như một sự động viên chính mình, lại có những bài hát được viết ra trong một bối cảnh quyết liệt, mà bản thân người nhạc sĩ không chắc mình có còn được nghe “đứa con tinh thần” vang lên thành thanh âm hay không.

Bài hát đầu tiên viết về Hà Nội 12 ngày đêm chiến đấu – “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, được nhạc sĩ Phạm Tuyên viết dưới hầm trú bom của Đài TNVN đêm 27/12/1972 giữa lòng Thủ đô rực lửa chiến đấu. Trong những ngày khói lửa đó, “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” có sức lan tỏa mạnh mẽ, cổ vũ quân dân ta chiến đấu giành độc lập.

Tháng 12/1972, Đế quốc Mỹ chủ trương đưa miền Bắc Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá”, khởi đầu bằng việc sử dụng một lực lượng không quân hùng mạnh ném bom dữ dội Miền Bắc, buộc Hà Nội đầu hàng.

Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không 1972 (ảnh tư liệu)

4h sáng 19/12, Đài phát sóng lớn nhất của ta ở Mễ Trì (Hà Nội) bị địch đánh sập. Ngày 20/12 địch tiếp tục ném bom Đài phát sóng ở Bạch Mai…, bộ đội phòng không ta đánh trả quyết liệt. Đêm 26/12, bộ đội ta bắn rơi 8 chiếc B52. Từ Sở chỉ huy tối cao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lời kêu gọi: “Kẻ địch thua đau và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Nhưng, chúng vẫn ngoan cố kéo dài cuộc tập kích. Các đơn vị hãy bắn rơi nhiều B52 hơn nữa, hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn “Điện Biên Phủ” ngay trên bầu trời Hà Nội”.

Lời nói của Đại tướng đã truyền cho nhạc sĩ Phạm Tuyên niềm xúc động sâu sắc, những nốt nhạc đầu tiên của bài “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lần lượt vang lên trong trí óc ông.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên chia sẻ: “Khi nghe chữ Điện Biên Phủ tôi có cảm giác rất khác và ngay đêm hôm ấy, ngồi trong hầm tôi viết bài “Hà Nội – Điện Biên Phủ”. Âm điệu ở đây không du dương mà quyết liệt bởi tôi muốn tỏ cho đế quốc Mỹ biết Hà Nội quyết liệt như thế nào”.

Nhạc sỹ Phạm Tuyên kể lại hồi ức Hà Nội oanh liệt một thời (ảnh: Hồng Hà)

Dẫu bom địch đang ném vào khu nhà nhạc sĩ ở, chiếc dương cầm của ông bị hỏng, tủ sách ông yêu quý không còn, nhưng ngay trong sáng 28/12, trên ghế đá, dưới gốc cây đa phố Hàng Trống, nhạc sĩ Phạm Tuyên hát vang “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với công chúng Thủ đô.

Mặc cho tiếng còi báo động rền vang, tối 29/12, “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng các nhạc sĩ Trần Thụ, Mạnh Hà thể hiện trên sóng Đài TNVN. Hà Nội vẫn đánh giặc, vẫn ca hát và ngâm thơ – đó là tín hiệu của một ngày chiến thắng không xa.

Nhà báo Nguyễn Lưu, thành viên đội tự vệ Hà Nội năm 1972 nhớ lại: “Sau khi ga Hàng Cỏ bị thả bom, An Dương, Khâm Thiên bị bom… chúng tôi vẫn chưa thấy sợ, nhưng đến khi Đài phát thanh bị bom lúc đó tâm lý run lắm rồi. Nhưng khi nghe bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thấy có gì khác lắm, có gì kéo mình ở lại…”.

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với ca từ đĩnh đạc, khỏe khoắn, có đoạn rắn rỏi, kiên định: “B52 tan xác cháy sáng bầu trời. Hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngợi…”. Có đoạn lại hào hùng như tha thiết: “Hà Nội đây! Đế quốc Mỹ có nghe chăng câu trả lời của Hà Nội chúng ta? Đâu chỉ vì non nước riêng này. Phất ngọn cờ sao chính nghĩa…”.

Tác phẩm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã khắc họa một Hà Nội gan góc, vững vàng. Trong gian khổ, hoạn nạn người Hà Nội thương yêu nhau hơn. Những cặp mắt thâm quầng sau nhiều đêm mất ngủ vẫn ánh lên một niền tin kiên định. Tác phẩm như lời động viên tiếp sức cho chiến sĩ, đồng bào cả nước đứng lên, như lời khẳng định cho chiến thắng.

Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha – người lính Quảng Trị năm xưa không quên cảm xúc: “12 ngày đêm B52 oanh tạc bầu trời Thủ đô thì Quảng Trị máu lửa lại bình yên đến không ngờ. Khi chúng tôi ở Quảng Trị nghe bài hát của anh Phạm Tuyên vang trên Đài TNVN, anh em lính Quảng Trị đều chảy nước mắt. Đến bây giờ, tôi vẫn xúc động. Bài hát cho chúng tôi cảm giác được bù đắp bởi những gì mất mát ở mùa hè Quảng Trị năm 1972 đã được đền đáp. Đế quốc Mỹ đã cúi đầu trước Việt Nam!”.

Ngay sau đó, để chào mừng năm mới 1973, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã phát hành băng nhạc “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với hình thức hợp xướng, do nghệ sĩ Trần Khánh lĩnh xướng. Nhiều ca sĩ đã đem bài hát đi phục vụ các trận địa phòng không quanh Hà Nội thời điểm đó. “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được ví có sức thúc đẩy như bản giao hưởng chống Phát xít số 7 của nhạc sĩ nổi tiếng Dmitri Shostakovich…

40 năm đã qua, những dấu vết của những ngày khỏi lửa trên bầu trời Thủ đô chỉ còn trong bảo tàng, tượng đài kỷ niệm hay trí óc những người cao tuổi. Nhưng mạch nguồn hào hùng, quyết liệt ở “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn vang mãi.

Để rồi, trong những ngày này, chúng ta lại nhớ về 12 ngày đêm lịch sử đó, để nhắc cho thế hệ trẻ hôm nay biết ông cha ta đã sống và chiến đấu như thế, để như lời ca ngợi của bạn bè Quốc tế: “Việt Nam đã làm nên một huyền thoại!”./.

NSND Trần Khánh và đồng ca Đài TNVN trình bày “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

Ngọc Ngà/VOV – Trung tâm tin
vov.vn

Nhân đọc bài “Bác bỏ bộ phim tài liệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh” của NS Đào Trọng Khánh

Nhân đọc bài “Bác bỏ bộ phim tài liệu Sự thật Hồ Chí Minh xuyên tạc về Hồ Chí Minh”, xem phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” và phim “Việt Nam – Hồ Chí Minh”, chúng tôi xin trích đăng các bài viết liên quan và nêu cảm nhận của mình về những vấn đề liên quan để quý vị và bạn đọc nhận rõ bản chất của những hành động, luận điệu xuyên tạc của những kẻ nhân danh “Sự thật” để làm những việc “Trái sự thật”.

1. Năm 2009, một nhóm người lưu vong ở hải ngoại đã thực hiện bộ phim tài liệu “Sự thật về Hồ Chí Minh,” xuyên tạc lịch sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước những hình ảnh nghèo nàn, chắp vá và những luận điệu vu cáo của những kẻ thực hiện bộ phim, Đạo diễn –  Nghệ sỹ nhân dân Đào Trọng Khánh đã có bài viết bình luận, bác bỏ những luận điệu sai trái trong bộ phim tài liệu trên. Báo điện tử VietnamPlus xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết trên:

Con người hãy cảnh giác!” Câu nói đó lại vang lên trước luận điệu vu cáo, xuyên tạc lịch sử của những kẻ thực hiện bộ phim tài liệu “Sự thật về Hồ Chí Minh.” Một bộ phim không có giá trị về mặt tư liệu bởi những hình ảnh nghèo nàn, chắp vá, được sử dụng tùy tiện để minh họa cho lời dẫn.

Những hình ảnh tàn sát trong phim là những bức ảnh và phim về tội ác của thực dân Pháp và xâm lược Mỹ đối với nhân dân Việt Nam trong những trận càn quét, được đem gán cho những người kháng chiến yêu nước, những chiến sỹ Cộng sản. Các tác giả phim đã “khôn khéo” lờ đi xuất xứ và nguồn gốc thực sự của những hình ảnh đó. Một dàn nhân vật “chống cộng” điên cuồng được dựng lên làm cái loa phát thanh trong những đoạn phỏng vấn trơ trụi, không có hình ảnh minh họa, không có tính điện ảnh, thường gọi là Radiofilm – loại phim chỉ có lời, giống như radio.

Với âm nhạc và cách mở đầu theo kiểu phường tuồng, bộ phim dựng một màn chữ dẫn lời của Stéphane Coustois: “Người ta bảo lịch sử là khoa học về sự bất hạnh của nhân loại, thế kỷ bạo lực đẫm máu mà chúng ta sống đã xác nhận câu nói đó một cách rộng rãi.” Sự thật lịch sử không phải chỉ là như vậy. Những nỗ lực và sáng tạo, những phấn đấu không ngừng cho sự tiến bộ, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân loại, là những điều cơ bản từ những bước đi thần kỳ của lịch sử trên tình thần nhân văn cao cả, trong đó có sự hy sinh không tiếc thân của những nhà cách mạng trên toàn thế giới. Cách đặt vấn đề mập mờ, phiến diện mang màu sắc bi thảm, đen tối dẫn đến cách diễn giải nội dung bộ phim cũng không ngoài những nhận thức sai lệch một chiều.

Thật vớ vẩn khi một dàn “các nhà quan tâm” phát biểu một cách trầm trọng về ngày sinh và mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một sự thật đã được Việt Nam chính thức công bố. Vũ Ngự Chiêu, Trần Gia Phụng nhấn mạnh vào bức thư của Nguyễn Tất Thành, xin học ở trường Pháp năm 1912. Đừng quên đó là thời kỳ “tìm mọi con đường để có thể giúp dân, giúp nước” của Nguyễn Tất Thành. Đó là “từng bước, con người đến với chân lý,” cũng như sau này, tìm ra con đường giải phóng dân tộc.

Sống giữa xã hội tư bản, không hiểu được hoạt động của những nhà cách mạng, nên Sophic Quinn Judge đoán mò về quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những người phụ nữ như với nhà cách mạng nổi tiếng Nguyễn Thị Minh Khai. “Hình như có chuyện gì đó giữa hai người“, bà Quinn nói. Đó không phải là cách làm việc của những nhà nghiên cứu. Thao tác của những nhà nghiên cứu không có “hình như.” Chi tiết trong trường đoạn này là đơm đặt và đưa chuyện. Khó có thể tin cậy vào những tiến sỹ như kiểu Vũ Ngự Chiêu “Nhiều năm miệt mài trong những văn khố ngoại quốc” chỉ vì những chuyện ngồi lê đôi mách, chuyện riêng tư của những người khác, không liên quan đến lịch sử.

Sự vu cáo có thể trầm trọng hơn nếu họ phải đối chứng với cơ quan luật pháp ở bất cứ nước nào, đó là trường hợp của Vũ Thư Hiên, Nguyễn Minh Cầm, Bùi Tín trong chuyện bà Nông Thị Xuân. Người ta không làm bởi không muốn làm buồn lòng những người đã khuất, kể cả cụ Vũ Đình Huỳnh là thân sinh ra nhà văn Vũ Thư Hiên.

Khi biên soạn những tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi có dịp được xem bản gốc tập thơ “Nhật ký trong tù” cũng không để ý đến dòng chữ Bác ghi thêm ở ngoài bìa: 1923-1933. Sau nhiều năm có người quan tâm đến chuyện này, ông Nguyễn Huy Hoan – Phó Giám đốc Bảo tàng hồi ấy nói rằng: “Người ta không hiểu nên cứ hay suy diễn. Ông cụ ghi thế là nhắc đến cái đại hạn 10 năm theo cách tính của cụ, không phải là thời gian ra đời của tập thơ.”

Chuyện nhà thơ Paven Antôncônxki – người đã dịch tập thơ “Nhật ký trong tù” ra tiếng Nga – gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi cũng được biết, kể cả lần gặp Rút Bécsatxki từ Liên Xô sang thăm Việt Nam cũng vậy, với sự cởi mở và lòng khiêm tốn, Người tự tay pha cà phê mời khách và nói rằng: “Khi có thì giờ rảnh rỗi, chúng tôi làm thơ. Ở Việt Nam ai cũng làm thơ cả.” Người không nhận danh hiệu nhà thơ cao quý, nhưng cả thế giới đã bị thuyết phục bởi vần thơ chân thật của Người. Chiến dịch chống phá, vu cáo của nhóm người lưu vong ở hải ngoại thực là một hành động bỉ ổi.

Nghiên cứu về Di sản Hồ Chí Minh, học tập tư tưởng và đạo đức của Người không chỉ là một công trình nghiên cứu khoa học to lớn, lâu dài mà còn là sự chuyển biến tâm thức của toàn dân tộc hướng về chân – thiện – mỹ. Sự hằn học, vu cáo và xuyên tạc lịch sử là biểu hiện của sự thoái hóa về nhân cách, ngược dòng với chiều tiến hóa và sự thăng tiến tinh thần của nhân loại, tự trói buộc và đánh mất Cội nguồn. Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một huyền thoại, đúng là như vậy. Huyền thoại bao giờ cũng đẹp. Chứa đựng sự bí ẩn của tinh thần lãng mạn, phần siêu việt của nhận thức con người với thế giới. William J.Duiker – nhà báo Mỹ viết trong cuốn sách của ông về Hồ Chí Minh: “Tất cả những con người vĩ đại đều tiềm ẩn một vẻ huyền bí.” Ông dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời BécnaPhôn – học giả nghiên cứu về Việt Nam – trong một cuộc phỏng vấn nói: “Người già thích có một vẻ bí ẩn nho nhỏ về mình. Tôi muốn giữ lại một chút những vẻ bí ẩn của riêng mình. Tôi tin rằng anh sẽ hiểu được điều đó.

Huyền thoại Hồ Chí Minh mãi mãi là điều nhân loại trân trọng, tự hào, nhận biết và tìm lời giải đáp./. (1)

2. Hãng phim History Channel của Mỹ đã làm bộ phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” đã có những đánh giá trân trọng của những nhà nghiên cứu lịch sử, ca ngợi Bác Hồ – Người đã dẫn đường, lãnh đạo dân tộc Việt Nam đánh giặc cứu nước: “Có thể nói, hình ảnh Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo ái quốc đã đấu tranh cho tự do dân tộc… Một người cộng sản quốc tế, một người chỉ huy, một người dẫn đường cho nhân dân Việt Nam” quyết tâm chiến đấu và chiến thắng thực dân Pháp và Mỹ.

Chiến thắng này đòi hỏi sự nỗ lực của con người mang trong mình một phần của Lênin, một phần của Gandhi, một phần của Khổng giáo, và trên tất cả là một con người Việt Nam” hy sinh đấu tranh để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mong muốn nhân dân được sống hòa bình, hạnh phúc.

Tuy nhiên, trong bộ phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” vẫn còn một số nhận định chưa chính xác, mang tính chủ quan không đúng về cuộc đời Bác Hồ như: “Từ 11 tuổi ông (Bác Hồ) đã phải lo lắng cho gia đình khi người cha bị cách chức, người mẹ mất không lâu sau khi sinh con trai thứ ba”. Lúc này cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Bác chưa có chức ở triều đình Huế, năm Bác Hồ 20 tuổi (1910), cụ Nguyễn Sinh Sắc mới bị cách chức tri huyện Bình Khê. Hoặc cho rằng Bác Hồ có một người vợ Trung Quốc mà Bác đã bỏ khi bị bắt ở Hồng Công hoặc các nhận định về hậu quả của cuộc chiến thì chưa chính xác khi dựa vào các thông tin không xác thực hoặc có những suy đoán chủ quan. Họ cho rằng dân tộc ta đã trả giá quá đắt cho cuộc chiến tranh vệ quốc, khi đi theo đường lối của Bác Hồ và đưa ra những hình ảnh nhân dân ta khổ cực kiếm sống hàng ngày.

Như vậy, những người làm phim nước ngoài vẫn chưa hiểu về con người Việt Nam luôn “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” và Bác Hồ đã từng nói: “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải lấy lại quyền độc lập cho dân tộc“. Dân tộc có độc lập, nhân dân mới có tự do và hạnh phúc. Tự do trong những giá trị cao đẹp và nhân văn của con người, tự do trong mối quan hệ với cộng đồng, chứ không phải tự do đứng trên pháp luật, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, lợi ích của nhân dân. Không phải là thứ tự do “đổi trắng thay đen“, “ăn không nói có“… Còn hạnh phúc của nhân dân Việt Nam  như Bác Hồ mong muốn là “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành“, nhân dân Việt Nam mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng đang từng bước xóa đói giảm nghèo vì phải trải qua những cuộc chiến với nhiều mất mát đau thương, nên công cuộc xây dựng đất nước lại có nhiều khó khăn hơn các nước khác không bị chiến tranh và Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển, cuộc sống của nhân dân ngày càng được cải thiện đã được thế giới thừa nhận. Ngay tại nước Mỹ, một trong những nước giàu nhất thế giới nhưng “số người Mỹ sống trong nghèo đói đã tăng lên 46,2 triệu người” và rất nhiều người sống cảnh vô gia cư, không một mái nhà để sinh sống trong năm 2010, theo báo cáo thường niên của Cục thống kê Mỹ (2). Vậy nghèo đói hiện nay là vấn đề chung của nhân loại chứ không riêng gì đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, Đảng và Nhà nước đang thực hiện nhiều chính sách xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội để từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ta. Hiện nay nhìn các nước bị chiến tranh tàn phá, người dân sống trong chết chóc đau thương như: Iraq, Afganistan, Libya, Palestine…chúng ta càng thấy được giá trị của cuộc sống hòa bình, giá trị của độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc và của chúng ta để cùng nhau đoàn kết xây dựng đất nước thanh bình, giàu mạnh “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong ước của Bác Hồ kính yêu.

Còn Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng cho rằng: “Việc Hồ Chí Minh có vợ, có con hay không có vợ, không có con thì chẳng ảnh hưởng gì đến tư cách, đạo đức của bản thân cả. Nếu Hồ Chí Minh có vợ, có con, nghĩa là có gia đình riêng, thì với những gì Người đã cống hiến cho đất nước, tôi vẫn nhận định được rằng: Hồ Chí Minh đã hy sinh lợi ích riêng tư để dâng hiến cho Tổ quốc thân yêu của mình. Không phải không có vợ con mới là hy sinh chuyện riêng tư. Chỉ có điều là nếu Hồ Chí Minh có vợ thì đấy mới là chính là một con người hoàn chỉnh, không phải là phản tự nhiên. Cũng chính vì thế mà chúng ta hay nói người vợ hay người chồng chính là một nửa bên kia của nhau. Hồ Chí Minh cũng không ít lần nói về cái khiếm khuyết của chính cuộc đời mình, và một trong những khiếm khuyết đó là không có vợ; do vậy Hồ Chí Minh khuyên thanh niên Việt Nam đừng nên học mình về điều đó.

Nếu Hồ Chí Minh có vợ con thật thì Hồ Chí Minh không thể giấu được trong ngần ấy năm. Giấu làm sao được trong con mắt của hàng triệu, hàng triệu con người giữa thế gian, ở đất nước Việt Nam và cả ở trên thế giới. Người bình thường đã khó giấu, huống chi Hồ Chí Minh lại là một người nổi tiếng, là con người của công chúng, thì lại càng khó giấu hơn. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Cái kim trong bọc lâu ngày rồi sẽ lòi ra”. Đã rất lâu ngày, nhưng cái bọc không thấy lòi ra một cái kim nào cả. Làm gì có cái kim nào. Còn miệng thế gian thì càng không thể nào che được.

Đã có người viết về người con gái đem lòng yêu Hồ Chí Minh, và bản thân Hồ Chí Minh cũng đem lòng yêu người con gái đó. Tôi cho rằng, trong cuộc đời Hồ Chí Minh nếu có như vậy là sự thường. Tình yêu thời trai trẻ, tại sao không? Một thanh niên thư sinh, đẹp trai, hào hoa, phong nhã, lại là con của một người đỗ đại khoa (Phó bảng), con quan, con nhà gia giáo mà không rung động trước phái đẹp, mà lại không yêu một người con gái nào đó, cũng như không có người con gái nào yêu mình, mới là sự lạ. Nhưng cần khẳng định một cách chắc chắn rằng, Hồ Chí Minh chưa bao giờ có vợ con.” (3)

Nhưng vượt lên trên tất cả, bộ phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” của Hãng phim History Channel (Mỹ) đã ca ngợi lòng yêu nước và sự hy sinh cao cả của Bác Hồ dành cho dân tộc Việt Nam, chứ không như những luận điệu vu cáo, xuyên tạc lịch sử của những kẻ thực hiện bộ phim tài liệu “Sự thật về Hồ Chí Minh

Sự thật mãi là sự thật, chân lý sẽ là chân lý. Cho dù những kẻ chuyên vu cáo, xuyên tạc có dùng bao nhiêu thủ đoạn, dựng bao nhiêu bộ phim để xuyên tạc về Bác Hồ thì một bằng chứng, sự thật sống động khẳng định giá trị về cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh, đó là: Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất Việt Nam. Nhân chuyến thăm Việt Nam nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội tháng 10 năm 2010, Bà Irina Bokova, Tổng Giám đốc UNESCO đã trao tặng phía Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh cuốn sách văn bản Nghị quyết của Đại hội đồng UNESSCO khóa 24 họp từ 20/10 đến 20/11/1987. Trong đó có Nghị quyết 18.65 ghi tại trang 134 và 135 về việc tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất Việt Nam. Khi đã được UNESCO tôn vinh thì hiển nhiên Bác Hồ đã trở thành Danh nhân văn hóa thế giới, chỉ có những kẻ có dã tâm không tốt, mang nặng lòng thù hận, tâm trí có vấn đề mới dựng chuyện xuyên tạc Bác Hồ.

Và ở thủ đô Paris nước Pháp có bức tường “Những người làm nên thế kỷ 20″ (Ils ont fait le XX Siecle) có chân dung và nụ cười Bác Hồ giữa những trí tuệ, những tâm hồn lớn của nhân loại.

Không lẽ những chính khách của cả thế giới họp tại Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đều “mù” không biết sự thật, còn những kẻ lười biếng suy nghĩ, thích dựng chuyện lừa đảo với những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc, phản bác về cuộc đời, sự nghiệp, trước tác của Hồ Chí Minh lại có con mắt “sáng”, lê lết đi tìm “Sự thật về Hồ Chí Minh” ?./.

Xin giới thiệu bộ phim “Hồ Chí Minh – bí ẩn Việt Nam” để hiểu thêm về cách nhìn và thái độ của người Mỹ – kẻ thù của nhân dân Việt Nam trước đây đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xét một cách toàn diện bộ phim thể hiện sự trân trọng và khâm phục Người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam: Hồ Chí Minh

3. Tác phẩm “Việt Nam- Hồ Chí Minh” đạt giải Bông Sen Vàng năm 1985, được đánh giá như thiên anh hùng ca về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bộ phim dài 57 phút được thực hiện từ ngày Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương còn có tên là Xí nghiệp phim Tài liệu và Khoa học Trung ương. Việt Nam – Hồ Chí Minh do NSND Đào Trọng Khánh viết kịch bản và đạo diễn với sự đóng góp tư liệu của nhiều nhà điện ảnh, nhiếp ảnh, nhà viết sử, nhà văn, nhà báo trong và ngoài nước.

Với hình ảnh, tư liệu chân thực, chắt lọc, lời bình súc tích, mang dấu ấn sử thi, bộ phim tái hiện một chặng đường dài của lịch sử Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược (1857) đến khi kết thúc cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, xây dựng nền hòa bình, độc lập dân tộc.

Giá trị của bộ phim không chỉ dừng lại ở sự tái hiện khách quan, sống động các sự kiện mà còn tìm cách lý giải nguyên nhân, đúc kết thành bài học từ truyền thống lịch sử và thực tiễn đấu tranh cách mạng; khơi gợi niềm tự hào dân tộc và khẳng định công lao to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc chèo chống con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.

Trải qua 25 năm nằm trong kho lưu trữ, “Việt Nam – Hồ Chí Minh”, vốn được làm từ phim nhựa màu, đã bị bay màu do khâu bảo quản nên nhà phát hành quyết định chuyển sang đen trắng để phim rõ nét. Đại diện nhà phát hành cho biết, việc đưa bộ phim tài liệu này ra thị trường là cách phổ biến một sản phẩm có giá trị về mặt lịch sử, giúp các thế hệ trẻ dễ dàng tiếp cận hơn những bài học khô cứng được dạy trong nhà trường./. (4)

———————–
(1) Bài “Bác bỏ bộ phim tài liệu Sự thật Hồ Chí Minh xuyên tạc về Hồ Chí Minh” của Đạo diễn, NSND Đào Trọng Khánh.
(2) Trích bài “Số người nghèo ở Mỹ tăng cao kỷ lục” – Báo điện tử Dân trí, 14/09/2011
(3) Trích “Nguyên nhân của các luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh và giải pháp đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc đó” của GS.TS Mạch Quang Thắng
(4) Bài “Phát hành phim tài liệu Việt Nam – Hồ Chí Minh” – Báo điện tử VnExpress, 22/4/2010

Xin trân trọng giới thiệu phim tài liệu: Việt Nam – Hồ Chí Minh

HOÀNG ANH TUẤN
bachovoihue.com

“Nơi huyền thoại bắt đầu”

GiadinhNet – “Nơi huyền thoại bắt đầu” là bộ phim phóng sự tài liệu đậm chất sử thi về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Nam trong đó dãy Trường Sơn là một nguồn mạch mang tính biểu tượng.

Phim được phát sóng từ ngày 31/3 trên kênh VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam vào lúc 21h30 các ngày thứ 4, thứ 6, thứ 7 trong tuần.

Dãy Trường Sơn không chỉ là huyền thoại về con đường vận chuyển quân sự 559, mà còn là minh chứng sống động cho khát vọng mãnh liệt, ý chí thống nhất, sự hợp nhất không thể chia tách của dân tộc từ thuở các Vua Hùng dựng nước. Càng trải qua thử thách nghiệt ngã, khát vọng ấy ngày càng định hình rõ ràng hơn trong tâm thức của các thế hệ người Việt, đúng như lời của chủ tịch Hồ Chí Minh – “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi!”.

Đậm đặc trong suốt 15 tập phim là những ký ức lịch sử được ghi lại bằng hình ảnh, bằng lời kể của người trong cuộc, lời bình của những người có trách nhiệm sau cuộc chiến, bằng những chất liệu sống, muôn màu, vượt qua thời gian. Những chất liệu sống động đó sẽ đưa khán giả đến với dòng suy tư rõ ràng và sâu lắng xung quanh những sự thật lịch sử đã vượt quá sức tưởng tượng của con người, lung linh như huyền thoại.

Bộ phim lấy hình ảnh Trường Sơn để minh chứng và gợi ra một ý niệm tưởng chừng như bất tận ở cả hai chiều không gian và thời gian. Đó là ý niệm về chiều dài lịch sử dữ dội của một dân tộc trải qua nhiều thế hệ, những đời người nối tiếp nhau. Đó là độ bền bỉ chịu đựng của một dân tộc để vượt qua một cuộc chiến dài nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới. Đó là sự đặc tả độ hùng vĩ của những chiến tích trải dài trên từng mỏm đá, bến sông, bờ lau ngọn cỏ, dọc suốt những cuộc Trường Chinh giữ nước, từ Nam Quan đến Cà Mau.

Với tên gọi “Từ Âu Lạc đến Đại Nam”, tập 1 của bộ phim lược qua dòng lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam như một dòng chảy gian nan nghiệt ngã để định hình những yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc của người Việt. Tập phim như lời dẫn cho câu chuyện dài xung quanh cuộc chiến khốc liệt nhất của lịch sử thế kỷ 20 giữa dân tộc Việt Nam với các thế lực cường quyền hung hãn nhất. Từ các đế chế phong kiến Trung Hoa, đến hệ thống thực dân đế quốc sau này, qua cuộc đọ sức ấy, cuối cùng đều nghiệm ra rằng: cường quyền khổng thể nuốt chửng được khát vọng độc lập tự do của người Việt…

T.Hà
giadinh.net.vn

Mời quý vị đón xem trọn bộ 15 tập:

Nơi huyền thoại bắt đầu

Hồ Chí Minh – Hình ảnh của Người

Người là một người Cộng sản Việt Nam, nhưng khi qua đời cả nhân loại khóc thương Người. Một nhà thơ ở Châu Phi xa xôi đã viết những dòng sau để vĩnh biệt Người:

“Trong cái thế kỷ bạo tàn này, hình ảnh của Người đã đem lại cho chúng ta những kẻ bị tước đoạt quyền làm người và quyền sống, niềm hi vọng và sức mạnh để chiến đấu cho nhân phẩm tự do.

Hồ Chí Minh!

Người là Lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc và là một danh nhân văn hóa. Nhưng trước hết, trước mắt chúng ta, Người là hình ảnh của một con người”

qdnd.vn

Hẹn gặp lại Sài Gòn

Năm 1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh cấp kinh phí đầu tư sản xuất bộ phim truyện nhựa màu đầu tiên về tuổi trẻ của Bác Hồ lấy tựa đề, Hẹn gặp lại Sài Gòn.

Cảnh Nguyễn Tất Thành và bạn Út Huệ viếng mộ mẹ ở núi Bân

Trong bộ phim “Hẹn gặp lại Sài Gòn” (kịch bản Sơn Tùng, đạo diễn Long Vân dàn dựng năm 1990), hình ảnh Bác Hồ thời trẻ gây ấn tượng sâu sắc với diễn xuất của NSƯT Tiến Hợi và NS Thu Hà. Bộ phim kể về những năm tháng Bác Hồ cùng gia đình sống và học tập ở Huế giai đoạn 1895 – 1901 và 1906 – 1909, sau đó Nguyễn Tất Thành vào Phan Thiết dạy học và vào Sài Gòn tìm cách ra nước ngoài để tìm đường cứu nước.

Với nội dung kịch bản Hẹn gặp lại Sài Gòn kể lại câu chuyện về cuộc đời chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành khi 20 tuổi với đầy hoài bão, đầy ước mơ và chất chứa nỗi đau giống nòi, nỗi đau mất nước. Khi đó, một trong những tiêu chí hàng đầu của đạo diễn khi tìm chọn diễn viên là ngoại hình càng giống Bác hồi trẻ càng tốt.

Việc tìm kiếm khá khó khăn, đoàn làm phim mất nhiều tháng trời mà chưa chọn được diễn viên như ý. Sau đó, đạo diễn Long Vân nhận được thông tin, diễn viên Tiến Hợi vừa vào vai Bác Hồ trong vở kịch nói “Đêm trắng” có ngoại hình và tác phong khá giống Bác. Và cuối cùng, diễn viên Tiến Hợi đã thuyết phục được vị đạo diễn khó tính không chỉ bởi ngoại hình, tác phong mà còn bởi tình cảm yêu kính chân thành của người nghệ sỹ dành cho nhân vật và cho vai diễn Bác Hồ.

Để có thể vào vai Nguyễn Tất Thành, nghệ sĩ Tiến Hợi không chỉ chờ đợi bàn tay hóa trang, vào sức diễn của một diễn viên, Tiến Hợi còn tìm đọc những tài liệu lịch sử, sách, truyện về cuộc đời Bác. Theo lời kể của nghệ sĩ Tiến Hợi, anh còn tìm nghe những băng ghi âm các bài nói chuyện của Bác, để tập nói theo giọng của Bác… Bằng tất cả tình cảm yêu kính dành cho Bác, bằng sự nỗ lực, tìm tòi của bản thân, với ngoại hình và giọng nói có được, Tiến Hợi đã có được vai diễn ấn tượng, để lại nhiều dấu ấn xúc động cho người xem qua bộ phim Hẹn gặp lại Sài Gòn.

Trân trọng giới thiệu với quý vị và các bạn bộ phim: Hẹn gặp lại Sài Gòn

Nguồn: YouTube

Vượt qua bến Thượng Hải

Vẫn còn nhiều hạn chế trong cách xây dựng, song bộ phim điện ảnh mới nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự sáng tạo về thể loại và trau chuốt hơn về mặt hình ảnh, âm thanh.

NhocStylePro764

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đội hình chào cờ tiến ra Quảng trường Ba Đình

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện từ sáng ngày 19/5/2001, nhân dịp kỷ niệm 111 năm Ngày sinh của Người. 10 năm qua, Đoàn H75, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện trang trọng hơn 7 ngàn lần lễ chào cờ, tạo được ấn tượng, tình cảm tốt đẹp về hình ảnh Tổ quốc Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.

Ngay từ ngày khánh thành Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/8/1975), trước Lăng Bác, ngày cũng như đêm, luôn tung bay lá cờ Tổ quốc. Việc treo, hạ cờ khi đó không diễn ra thường xuyên, không thực hiện nghi lễ. Nhớ lại những ngày đầu, đồng chí Triệu Văn Siền, nguyên Đoàn trưởng Đoàn H75 cho biết: “Chỉ khi nào lá cờ bạc màu, rách, cuốn nhiều vòng quanh cột cờ, hoặc chuẩn bị kỷ niệm những ngày lễ lớn, những chiến sỹ Cảnh vệ vũ trang mới hạ lá cờ cũ xuống và thay lá cờ mới, bằng phương pháp thủ công”.


Tự hào Việt Nam

Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của đồng bào và bầu bạn quốc tế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và đất nước, con người Việt Nam. Mọi người đều mong muốn các nghi thức, nghi lễ và mọi hoạt động diễn ra nơi đây thật trang trọng. Theo Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng thì ý tưởng thực hiện nghi lễ chào cờ từ hơn 10 năm về trước xuất phát từ việc: Đầu năm 2000, Hãng Truyền hình NHK của Nhật Bản đến Ban Quản lý Lăng đề nghị được ghi hình Lễ kéo cờ trước Lăng Bác, để tuyên truyền về những ngày lễ lớn năm 2000 của Việt Nam. Nhưng sau đó, Bạn không thực hiện, vì ta chưa có nghi lễ treo, hạ cờ. Biết được thông tin như vậy. Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh, khi đó đã quyết định: Ta phải thực hiện nghi lễ chào, hạ cờ trước Lăng Bác”.

“Lễ chào cờ, hạ cờ trước Lăng Bác là nghi thức quốc gia, được thực hiện nơi trang trọng và thiêng liêng, nên phải nghiên cứu kỹ cách thức tổ chức để báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và Thủ tướng Chính phủ. Cách tổ chức tốt nhất là cử Đoàn cán bộ sang nghiên cứu, học tập kinh nghiệm chào cờ ở Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh, Trung Quốc”. Đó là suy nghĩ mà Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn nhớ lại.

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng

Đến tháng 8/2000, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định giao nhiệm vụ luyện tập nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác cho Đoàn H75, đơn vị chuyên làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ. Những cán bộ, chiến sỹ Đội Tiêu binh danh dự có chiều cao từ 1m7 trở lên, quân dung đẹp và động tác điều lệnh đội ngũ chuẩn được tập trung luyện tập. Đội hình chào cờ gồm 37 đồng chí. Khối trưởng và vác Quân kỳ là sỹ quan. Còn lại, 3 đồng chí trong Tổ Quốc kỳ, 2 đồng chí bảo vệ Quân kỳ và 30 đồng chí thành 10 hàng ngang trong khối nghi lễ đều do chiến sỹ đảm nhiệm.

Là khối trưởng đầu tiên, đồng chí Nguyễn Anh Thi, nguyên Đội trưởng đội Tiêu binh kể lại: Được giao nhiệm vụ chúng tôi rất tự hào, nhưng cũng đầy nỗi lo. Suốt 4 tháng dòng, nắng cũng như mưa, ngày đêm cán bộ, chiến sỹ dày công luyện tập. Từng động tác đi đều, đi nghiêm, vác súng, bồng súng … đều phải tập cơ bản lại từ đầu. Khó nhất là động tác tung cờ khi chào cờ và động tác thu cờ khi hạ cờ. Bàn cách xử lý tình huống khi cờ xoắn vào cột, không lên, hoặc không xuống được; kể cả khi mất điện phải quay bằng tay. Mọi động tác phải thuần thục, trang nghiêm, không được sai sót, dù là nhỏ nhất. Chỉ một khẩu lệnh hô: “Chào cờ!…. Chào” mà đến 4 sỹ quan tập đi tập lại nhiều lần. Khẩu lệnh đó mười năm rồi, nay nghe lại, tôi vẫn nghẹn lòng xúc động”.

Sau buổi thực hiện Lễ chào cờ “Đón chào thiên niên kỷ thứ 3” vào 0giờ ngày 1/1/2001 thành công tốt đẹp. Ban Quản lý Lăng đã báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ quyết định từ ngày 19/5/2001 thực hiện nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác.

Từ 5 giờ 30 sáng ngày 19/5/2001, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất. Trên Quảng trường Ba Đình, hàng ngàn người là bộ đội, công an, công nhân, nông dân, trí thức, đủ các lứa tuổi, cả các phụ lão, thiếu niên, nhi đồng và đoàn viên thanh niên đã tề tựu đông đủ. 6 giờ 24 phút, bản nhạc “Vừng đông đã hửng sáng” từ các loa truyền thanh vang lên, 37 cán bộ, chiến sỹ Đội Tiêu binh danh dự (hiện nay là 34 đồng chí), do đồng chí Nguyễn Anh Thi, Khối trưởng và đồng chí Vũ Quý Dương vác Quân kỳ hùng dũng, oai phong tiến ra Quảng trường.

6 giờ 30 phút, sau lời thông báo: “Sắp đến giờ thực hiện nghi lễ chào cờ, đề nghị đồng bào trên Quảng trường ngừng mọi hoạt động, đứng tại chỗ, hướng về phía cột cờ, để nghi lễ được thực hiện trang trọng”, khẩu lệnh “Chào cờ!…. Chào” vang lên, Quốc thiều cử hành, cờ Tổ quốc từ từ được kéo lên, hàng ngàn, hàng vạn ánh mắt dõi theo trầm trồ khen ngợi. Ông Nguyễn Văn Tân, cán bộ hưu ở Khu tập thể số 3 Ông Ích Khiêm thật cảm động nói: Sau khi dự buổi lễ đầu tiên, từ đó đến nay, 10 năm rồi, sáng và tối nào tôi cũng đi dạo trên đường Hùng Vương, đường Độc Lập, quanh 240 ô cỏ của Quảng trường Ba Đình, ngắm Lăng Bác, đường Bắc Sơn với Tượng đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, thấy Thủ đô đẹp tuyệt vời. Mỗi khi nghe Quốc ca và nhìn lá cờ Tổ quốc từ từ kéo lên trước Lăng Bác, tôi thật xúc động, thật tự hào, trang trọng và thiêng liêng quá. Với tôi, Quốc ca Việt Nam là bài hát hay nhất. Tổ quốc Việt Nam lúc nào cũng đẹp nhất. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cả dân tộc”.

Kể từ ngày hôm đó, không kể thời tiết nắng nóng, dông bão, hay mưa rét, cứ sáng sáng vào 6 giờ mùa hè, hoặc 6 giờ 30 phút mùa đông, Lễ chào cờ trước Lăng Bác được tiến hành trọng thể và hạ cờ vào lúc 21 giờ được thực hiện. Suốt 10 năm, với gần một ngàn lần đi khối trưởng, đồng chí Nguyễn Đức Tuấn, Phó Đội trưởng Đội Tiêu binh danh dự, cho biết: Chỉ khi nào mưa ngập trắng đường Hùng Vương, tràn lên cả thềm sỏi phía Đông, thì mới thực hiện nghi lễ rút gọn. Còn khi mưa vừa, hoặc bắt đầu nghi lễ, dẫu thời tiết thế nào, cũng đều phải thực hiện thật trang nghiêm. Gặp buổi mưa to, gió lớn, lễ phục ướt sũng, giầy ngập trong nước, nhưng ý chí, nghị lực của mọi người đều quyết tâm “tiếng hát, át tiếng mưa”, để nghi lễ không bị gián đoạn. Thực hiện đúng lời dạy của Bác: Khó khăn nào cũng vượt qua”.
Mười năm trôi qua, với 12 lớp chiến sỹ Tiêu binh danh dự của các tỉnh Hòa Bình, Thái Bình,

Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Giang, Thái Nguyên đã và đang có vinh dự đặc biệt: Thực hiện nghi lễ chào cờ trước Lăng Bác. Để giữ mãi hình ảnh lá cờ Tổ quốc luôn tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Lăng Bác, giữ mãi hình ảnh tuyệt đẹp Việt Nam – Hồ Chí Minh trong lòng đồng bào và khách quốc tế mỗi khi về viếng Bác và tham quan khu vực Lăng của Người./.

Nguyễn Hữu Mạnh

bqllang.gov.vn

Ký sự: Hành trình theo chân Bác

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 1

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 2

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 3

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 4

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 5

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 6

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 7

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 8

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 9

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 10

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 11

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 12

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 13

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 14

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 15

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 16

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 17

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 18

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 19

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 20

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 21

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 22

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 23

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 24

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 25

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 26

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 27

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 28

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 29

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 30

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 31

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 32

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 33

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 34

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 35

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 36

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 37

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 38

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 39

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 40

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 41

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 42

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 43

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 44

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 45

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 46

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 47

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 48

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 49

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 50

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 51

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 52

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 53

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 54

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 55

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 56

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 57

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 58

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 59

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 60

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 61

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 62

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 63

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 64

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 65

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 66

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 67

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 68

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 69

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 70

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 71

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 72

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 73

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 74

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 75

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 76

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 77

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 78

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 79

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 80

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 81

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 82

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 83

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 84

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 85

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 86

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 87

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 88

Ký sự: Hành trình theo chân Bác – Tập 89 (Hết)

Hồ Chí Minh – một hành trình (Trọn bộ 12 tập)

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 1

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 2

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 3

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 4

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 5

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 6

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 7

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 8

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 9

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 10

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 11

Hồ Chí Minh – một hành trình, tập 12

HANHTRINHTHEOCHANBAC

Giới thiệu phim tài liệu “Hồ Chí Minh – một hành trình”

Bộ phim dài 12 tập “Hồ Chí Minh – Một hành trình” do đạo diễn Lý Quang Trung và  của Hãng phim TFS thực hiện.

Nội dung phim phác họa quãng thời gian hoạt động cách mạng của bác Hồ từ khi rời ghế nhà trường đến lúc ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946. Đặc biệt là giai đoạn từ năm 1911 rời bến Nhà Rồng đến khi kết thúc chuyến thăm đàm phán với chính phủ Pháp ở Paris năm 1946.

imageview_02 Bìa cuốn sách “Hồ Chí Minh – một hành trình” của Lady Borton, người Mỹ

Chia sẻ về bộ phim, nhà biên kịch Trần Đức Tuấn cho biết: “Hồ Chí Minh – Một hành trình” phác hoạ một cách có hệ thống quãng thời gian hoạt động cách mạng của Bác Hồ từ khi rời ghế nhà trường đến lúc ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946. Đây cũng là đoạn đường đời, đoạn đường hoạt động cách mạng của Người nhận được sự quan tâm rất nhiều của cộng đồng xã hội cả trong và ngoài nước từ trước đến nay. Ở đó, ngoài sự nghiệp cách mạng thì đời sống riêng tư của Người cũng là điều rất đặc biệt. Tuy nhiên, bộ phim không đi sâu vào khía cạnh này, song đằng sau những thước phim người xem vẫn thấy phảng phất hình bóng một “đại trượng phu hành hiệp” giữa đời thường, trong sáng, từ bi, bôn ba góc biển chân trời một lòng vì nghĩa lớn, dành hết công sức, tâm trí cho sự nghiệp cao cả, cho đại gia đình là dân tộc và Tổ quốc Việt Nam.

fbh1_500 Đoàn làm phim TFS thực hiện một cảnh quay phim Hồ Chí Minh – một hành trình.
(Ảnh: Lý Quang Trung)

Phim ra đời từ sự sưu tầm, tập hợp nhiều nguồn tư liệu quý trong các bảo tàng, phòng lưu trữ, sách báo, phim ảnh, các nhà lưu niệm, những khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong nước và nhiều nơi trên thế giới. Tất cả những chất liệu đó được sắp xếp xoay quanh một trục chính là cuộc hành trình của đoàn làm phim qua 16 quốc gia và vùng lãnh thổ ở cả bốn châu lục, chỉ trừ châu Đại Dương. Ngoài chuyến đi quan trọng này, đoàn làm phim còn tiến hành ba chuyến đi trong nước từ vùng núi phía Bắc xuống tận đồng bằng sông Cửu Long và một chuyến đi ngang dọc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc…

——————

Tổng hợp từ Tuổi trẻ online và internet

Bác Hồ với Huế