Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Cách đây 64 năm, Hồ Chủ tịch về đến Cam Ranh

– Sự kiện này đã diễn ra vào ngày 18/10/1946 trên đường Bác từ nước Pháp trở về sau 4 tháng vận động hoà bình.

“Tàu Dumont D’ Urville ghé vào vịnh Cam Ranh. D’ Argenlieu và cả Morlière mới từ Hà Nội vào đã có mặt trên tuần dương hạm “Suffren”.

Nhiều nhà báo cũng được mời đến đây. Thuỷ thủ Pháp đứng trên boong  hô “huara!” nhiều lần khi Hồ Chủ tịch bước lên tàu. Viên thuỷ sư đô đốc tiến lại chào Người. Hồ Chủ tịch duyệt đội hải quân danh dự, rồi vào dự tiệc chiêu đãi.

Chân dung Bác chụp tại Cam Ranh trên đưòng từ Pháp về nước tháng 10/1946Chân dung Bác chụp tại Cam Ranh trên đường từ Pháp về nước tháng 10/1946

D’ Argenlieu nâng cốc rượu chúc mừng sức khoẻ của Hồ Chủ tịch nói: “Xin lỗi Đô đốc, tôi nói tiếng Pháp không thạo nhưng chắc lời tôi nói thành thật. Tôi đặt hy vọng vào cuộc hội đàm sắp tới. Dân chúng Pháp đã hiểu chúng tôi nhiều, kể cả giới báo chí.

Cũng có một vài tờ báo công kích tôi nhưng điều đó cũng chẳng làm hại gì cho tôi. Hồ Chủ tịch với viên cao uỷ trong hai giờ liền về việc thi hành Tạm ước 14/9. Người đã yêu cầu D’ Argenlieu tổ chức ngay những uỷ ban hỗn hợp để giải quyết vấn đề xung đột tại Nam Bộ.

Sau cuộc nói chuyện, Hồ Chủ tịch và viên Cao uỷ cùng gặp các nhà báo. Hồ Chủ tịch khuyên các báo hãy góp phần vào việc làm ngừng những cuộc xung đột hiện nay và thi hành các điều ước đã được thoả thuận trong Tạm ước để chuẩn bị tốt cho cuộc đàm phán sẽ tiếp tục vào tháng Giêng năm sau. Sau lời phát biểu của Hồ Chủ tịch với các nhà báo, viên Cao uỷ tươi cười nói bằng một giọng ngọt ngào: “Tôi tin rằng đã có một bước tiến thật sự trên con đường hợp tác”…

X&N

bee.net.vn

Những bức thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ

– Tất cả những bức thư này, cùng với một số thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ cũng như Liên Hiệp Quốc trong thời gian trước khi Chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ (12/1946) đều không được hồi âm?!

“Chủ tịch Chính phủ Lâm thời, Cộng hoà Việt Nam gửi Tổng thống Hoa Kỳ ở Washington.

Chúng tôi xin trân trọng báo để Ngài rõ về những biện pháp sau đây của tổng Tư lệnh các lực lượng quân đội Anh đã tiến hành ở miền Nam Việt Nam: Một, cấm các báo chí; Hai, cung cấp vũ khí, đạn dược cho dân chúng Pháp; Ba, tước vũ khí các lực lượng cảnh sát Việt Nam. Các biện pháp này là một sự vi phạm rõ ràng đến những quyền tự nhiên của nhân dân Việt Nam, đe doạ trực tiếp nền an ninh trong nước và là nhân tố làm mất ổn định và hoà bình ở Đông Nam Á.

Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Việt Nam phản đối mạnh mẽ và yêu cầu Ngài can thiệp với các nhà chức trách Anh bãi bỏ các biện pháp nói trên. Chúng tôi sẽ rất biết ơn Ngài thuyết phục người Anh đứng vững trên cơ sở các nguyện tắc tự do và tự quyết do Hiến chương Đại Tây Duơng đề ra. Kính, Hồ Chí Minh”.

Đây là thông điệp đầu tiên với tư cách là người đứng đầu nước Việt Nam Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tới nười dứng đầu Hoa Kỳ trong lá thư đề ngày 24/9/1945 gửi qua Tướng Gallagher, người đứng đầu phái bộ Hoa Kỳ đang có mặt tại Hà Nội.

 TVDN Ngay 24-9.doc (29KB); Trong ngày Tiễu trừ giặc Đói, 11-10-1945, tướng Mỹ Gallagher ngồi bên phải Chủ tịch Hồ Chí Minh.jpg (86KB)Trong ngày Tiễu trừ giặc Đói, 11/10/1945, tướng Mỹ Gallagher ngồi bên phải Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tiếp sau đó, nhiều thông điệp đã được gửi tiếp…

“Về nguyên tắc, nhân dân Việt Nam hoàn toàn ủng hộ việc thánh lập Uỷ ban Tư vấn đối với khu vựcViễn Đông. Trước hết xét đến tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế của Việt Nam, thứ đến là mong muốn tha thiết – mà Việt Nam cảm nhận sâu sắc và đã chứng tỏ một cách nhất quán là được hợp tác với những nền dân chủ khác trong việc tạo lập và củng cố nền hoà bình và phồn vinh trên thế giới…” 
– Trích đoạn trong nội dung lá thư đề ngày 17/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Hoa Kỳ Truman yêu cầu để Việt Nam tham gia vào Uỷ ban Tư vấn này.

Ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Truman: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi, sau quá nhiều năm chịu đựng sự cướp bóc, tàn phá, mới chỉ đáng bắt đầu công cuộc xây dựng. Cần phải có an ninh và quyền tự do, trước hết là để đạt đựoc sự phồn vinh và phúc lợi trong nước, và sau đó là góp phần nhỏ của mình vào việc xây dựng lại thế giới. An ninh và tự do chỉ có thể được bảo đảm bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào, và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác.

Chính với niềm tin vứng chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp Chủng Quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực Công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi… Mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới.”

Tất cả những bức thư này, cùng với một số thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ cũng như Liên Hiệp Quốc trong thời gian trước khi Chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ (12/1946) đều không được hồi âm?!

X&N

bee.net.vn

“Chúng ta sáng tạo! Chúng ta xây dựng! Chúng ta tiến lên”

 – “Ông Hồ phàn nàn là tình hình sẽ rất khó khăn và có chiều hướng hoàn toàn xấu. Nhưng ông Hồ nói cuối cùng thì Việt Nam cũng sẽ được giải phóng khỏi người Pháp, Trung Quốc hay bất kỳ nước ngoài nào khác…. Trong một phút linh cảm, ông Hồ đã nhận xét là sẽ có đổ máu trong tương lai. Nếu người Trung Quốc thực sự chống đối lại nền độc lập của Việt Nam, nhân dân ông  nhất định sẽ kháng cự lại bằng vũ khí…  Và nếu sự đe dọa của người Pháp trở thành hiện thực thì sẽ có cuộc chiến tranh toàn diện… Ông cho biết là sự có mặt của quân đội Trung Quốc đã làm ông phiền muộn”.

Đó là ghi chép và nhận thức của Thiếu tá Archimedes Patti, người đứng đầu cơ quan tình báo chiến lược của Mỹ (OSS) đang có mặt tại Hà Nội sau cuộc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 10/9/1945 về tình thế phức tạp của đất nước ta vào thời điểm đó.

Cuộc gặp này diễn ra ngay sau khi người đúng đầu nhà nước Việt Nam chiêu đãi Tướng Tiêu Văn, người chỉ huy đơn vị quân đội của Trung Hoa Quốc dân Đảng vừa kéo vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật.

“Người ta mỗi ngày ai cũng rửa mặt, vài hôm phải tắm giặt để giữ cho thân thể sạch sẽ, mạnh khoẻ. Người cách mạng cũng thế, trước hết là cán bộ chính quyền và Đoàn thể cách mạng, mỗi người cũng phải rửa các mặt tinh thần, tư tưởng của mình, để tẩy sạch những chứng bệnh, những khuyết điểm. Chính quyền và Đoàn thể cũng cần thường thường rửa các bộ máy của mình, để tẩy trừ những phần tử bất chính, đầu cơ và chỉnh đốn lại cách làm việc cho gọn gàng, mau chóng”Trích bài “Chỉnh đốn Đoàn thể và Chính quyền” của Bác, với bút danh X.Y.Z đăng trên báo “Sự Thật” ngày 10/9/1950.

fChủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến đi thăm Pháp 1946.

Ngày 10/9/1960, tại phiên bế mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, Bác được bầu lại vào Ban chấp hành Trung ương và cương vị Chủ tịch Đảng.

Trong diễn văn bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đại hội lần thứ II đã đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chắc chắn rằng Đại hội lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà… Mười lăm năm trước đây, chỉ có 5000 đảng viên và trong những điều kiện cực kỳ khó khăn mà Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng tháng Tám đến thắng lợi.

Ngày nay, Đảng ta có hơn 50 vạn đồng chí, lại có những điều kiện rất thuận lợi, cho nên Đảng nhất định lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà đến thắng lợi… Toàn Đảng và toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối khổng lồ. Chúng ta sáng tạo. Chúng ta xây dựng. Chúng ta tiến lên. Quyết không có lực lượng nào ngăn cản được chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ Ba đọc ngày 10/9/ 1960.

Cách đây 68 năm, ngày 10/9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do kết thúc gần 13 tháng (kể từ 29/8/1942) bị các thế lực quân phiệt Trung Hoa giam giữ tại 30 nhà tù thuộc 13 huyện ở Quảng Tây.

Bài thơ thứ 134 nhan đề “Kết luận” cũng khép lại tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù). Bài thơ chữ Hán này nhằm bày tỏ lời cám ơn với Hầu Chí Minh là người đã trực tiếp ký lệnh trao trả tự do. Bài thơ được nhà thơ Khương Hữu Dụng dịch ra quốc ngữ:  “Sáng suốt, nhờ ơn Hầu chủ nhiệm/ Tự do trở lại với mình rồi/ Ngục trung nhật ký từ đây dứt/ Tái tạo ơn sâu, cảm tạ người” cho thấy cách ứng xử của Bác rất có hậu đối với những người mình mang ơn.

X&N

bee.net.vn

Về công tác giáo dục và tuyên truyền

 – “Các cháu là mầm non của Tổ quốc, là tương lai của xã hội, các cô phải trông nom dạy dỗ các cháu chu đáo”. Đó là lời Bác căn dặn người lớn khi gặp các cháu bé ở nhà trẻ lần thăm Khu Tập thể của Thành hội Phụ nữ Hà Nội, ngày 31/8/1958.

“Văn hoá giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế… Từ trước đến nay, đồng bào ta hết lòng giúp đỡ công việc giáo dục. Tôi mong rằng từ nay về sau, đồng bào sẽ cố gắng giúp được nhiều hơn nữa cho trường học và ai cũng tự mình cố gắng học tập”. Câu này được trích trong lá thư đề ngày 31/8/1960 của Bác Hồ gửi cho cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường bổ túc văn hoá nhân năm học mới.

 Bác Hồ chụp với bà con đại biểu đồng bào miền núi về thăm Thủ đô năm 1945Bác Hồ chụp với bà con đại biểu đồng bào miền núi về thăm Thủ đô năm 1945.

Ngày 31/8/1963, Bác đến thăm và nói chuyện với Hội nghị Tuyên giáo miền núi. Mở đầu bài phát biểu, Bác phê bình: “Cả hội nghị có hơn 200 đại biểu mà chỉ có 5 phụ nữ, lại không có một phụ nữ dân tộc thiểu số nào. Trong lúc còn công tác bí mật, trước Các mạng tháng Tám, trong kháng chiến, các chị em phụ nữ miền núi rất anh dũng bảo vệ cán bộ, giúp đỡ cách mạng. Hồi đó, báo của Mặt trận Việt Minh, nếu không có phụ nữ thì không ra được đâu… Nhiệt tình cách mạng của chị em phụ nữ các dân tộc thiểu số cao như vậy đấy. Một cuộc họp như thế này, mà quên mất vai trò phụ nữ, thì chắc ở các địa phương, các chú cũng quên mất vai trò phụ nữ?”.

Về công tác tuyên truyền, Bác yêu cầu: “Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách nào?… Tuyên truyền huấn luyện phải xuất phát từ chỗ nào? Xuất phát từ nhiệt tình cách mạng, tình thương yêu chân thành đồng bào các dân tộc, từ tinh thần hết lòng phục vụ đồng bào các dân tộc… Tuyên truyền không cần phải nói tràng giang đại hải mà nói ngắn gọn những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được, để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được… Đồng bào các dân tộc rất thật thà và rất tốt. Nếu nói đúng thì đồng bào nghe, đồng bào làm và làm được”.

Một việc đáng nhớ: Ngày 31/8/1969 chỉ 2 ngày trước khi qua đời, giữa lúc bệnh tình đã trở nên trầm trọng, Bác Hồ vẫn quan tâm theo dõi tình hình chiến sự và gửi lẵng hoa tặng các chiến sĩ tên lửa Sư đoàn 361 khi được nghe báo cáo thành tích vừa bắn rơi vào ngày hôm truớc chiếc máy bay không người lái của Mỹ. Đây cũng là phần thưởng cuối cùng trong đời Bác tặng đồng bào và chiến sĩ .

X&N
bee.net.vn

“Nước có độc lập thì đạo Phật mới dễ dàng mở mang”

– “Nhân ngày lễ Phật rằm tháng Bảy, tôi kính cẩn cầu nguyện Đức Phật bảo hộ Tổ quốc và đồng bào ta và tôi gửi lời thân ái chào các vị trong Hội Phật tử. Từ ngày nước ta trở nên Dân chủ Cộng hoà, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện.

“Thế là: Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ dàng mở mang… Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn. Nguời phải hy sinh đấu tranh, diệt lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết hy sinh của cải, xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc.

Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ. Trong cuộc kháng chiến cứu nước, đồng bào Phật giáo đã làm được nhiều. Tôi cảm ơn đồng bào và mong đồng bào cố gắng thêm, cố gắng mãi, cho đến ngày trường kỳ kháng chiến thắng lợi, thống nhất, độc lập thành công”.

Đó là nội dung bức thư “Gửi Hội Phật tử Việt Nam” của Chủ tịch Việt Nam viết ngày 30/8/1947.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dự buổi tuyên thệ đoàn kết giữa các đảng phái tại chùa Bà ĐáChủ tịch Hồ Chí Minh dự buổi tuyên thệ đoàn kết giữa các đảng phái tại chùa Bà Đá

Có một chi tiết đáng nhớ: Ngày 30/8/1969, tình hình sức khoẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn biến rất xấu. Buổi chiều, khi tỉnh lại, Bác hỏi Thủ tướng Phạm Văn Đồng về công việc chuẩn bị lễ kỷ niệm Ngày Quốc Khánh năm 1969 và căn dặn: “Các chú nhớ phải bắn pháo hoa mừng chiến thắng để động viên tinh thần chiến đấu của nhân dân”.

Bác còn hỏi han tình hình nước sông Hồng và nhắc nhở phải chú ý đề phòng lũ lụt. Năm đó mức nước lũ trên sông Hồng ở khu vực Hà Nội lên rất cao. Đã có phương án đưa Bác rời khỏi Hà Nội để tránh nguy hiểm, nhưng khi đưa ra đề nghị này, Bác không tán thành vì cho rằng người lãnh đạo thì phải gương mẫu trụ lại sát cánh với dân quyết tâm chống lụt.

X&N
bee.net.vn

Khởi thảo bản “Tuyên ngôn Độc lập” lịch sử

– Ngày 28/8/1945, tại ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu giành nhiều thời gian để soạn thảo văn kiện lịch sử “Tuyên ngôn Độc lập”.

Trước đó ngày 25/8, từ ngoại thành Bác cùng Tổng bí thư Trường Chinh về ngôi nhà 35 Hàng Cân (cổng sau 48 Hàng Ngang của gia đình nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô) làm nơi trú đầu tiên trong nội thành.

Ngày 26/8, tại đây, bác triệu tập Thường vụ họp nêu vấn đề sớm công bố danh sách chính phủ và phải chuẩn bị một văn kiện “Tuyên ngôn Độc lập”. Cùng ngày đó, Bác tiếp Patti, sĩ quan tình báo Mỹ (OSS).

Ngày tiếp theo (27/8), Bác triệu tập Uỷ ban Giải phóng Dân tộc đề nghị mở rộng hơn nữa chính sách đại đoàn kết. Nhiều thành viên Việt Minh dự kiến trong chính phủ tự nguyện rút lui để đưa thêm nhiều nhân sĩ không đảng phái và có danh vọng tham gia và Bác được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Bác Hồ trên Lễ đài đọc Tuyên ngôn Độc lập

Sau tất cả những việc chuẩn bị chu đáo nhằm tạo cơ sở pháp lý, Bác chính thức bắt tay vào viết Tuyên ngôn Độc lập.  Ngày hôm sau, Bác mời Patti đến và cho người dịch bản thảo đầu tiên của Tuyên ngôn để tham khảo ý kiến. Và đến ngày 30/8 thì văn bản đã hoàn thành, một lần nữa vị Chủ tịch lại đọc để mọi người trong nhà tham góp ý kiến. Viết xong, Bác bày tỏ rằng trong đời mình đã biết nhiều nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy.

Hồi ức của Võ Nguyên Giáp viết: “Trong căn nhà nhỏ, thiếu ánh sáng của ngôi nhà sâu thẳm nằm giữa một trong ba mươi sáu phố phường cổ kính của Hà Nội, Bác ngồi làm việc, khi thì viết, khi thì đánh máy.

Những người giúp việc trong gia đình không biết ông cụ có cặp mắt sáng, chiếc áo nâu bạc thường để hở khuy ngực, hay hút thuốc lá, ngồi cặm cụi đó làm gì. Mỗi lần họ tới hỏi cụ có cần gì, cụ quay lại mỉm cười, chuyện trò đôi câu. Lần nào cụ cũng nói không có gì cần phải giúp đỡ. Họ không biết mình đang chứng kiến những giờ phút lịch sử.

Một buổi sáng, Bác và anh Nhân (Trường Chinh) gọi anh em chúng tôi tới. Bản Tuyên ngôn lịch sử đã thảo xong. Bác đang đọc để thông qua tập thể. Như lời Bác nói lại sau này, đó là những giờ phút sảng khoái nhất của Người.

Hai mươi sáu năm trước (1919), Bác tới Hội nghị hoà bình Versaille, nêu lên những yêu cầu cấp thiết về dân sinh, dân chủ cho những người dân thuộc địa. Cả những yêu cầu tối thiểu đó cũng không được bọn đế quốc mảy may chấp nhận.

Người đã thấy rõ một sự thật là không thể trông chờ ở lòng bác ái của các nhà tư bản. Người biết chỉ  còn trông cậy vào cuộc đấu tranh, vào lực lượng của bản thân dân tộc mình.

Giờ phút này, Người đã thay mặt cho cả dân tộc, hái quả tám mươi năm đấu tranh. Bữa đó, chúng tôi đã nhìn thấy rõ niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt còn võ vàng của Người…”

Và bản “Tuyên ngôn Độc lập” ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc dõng dạc trên Quảng trường Ba Đình vào chiều ngày 2/9/1945 trước đông đảo đồng bào khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

X&N

bee.net.vn

Nhà báo Pháp và “Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh”

 – Ngày 15/7/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và trả lời phỏng vấn của nhà báo Charles Fourniau, đai diện thường trú của Đảng Cộng sản Pháp và tờ báo L‘Humanité (Nhân Đạo) tại Hà Nội. Đây cũng là cuộc phỏng vấn trực tiếp cuối cùng của Bác.

Với câu hỏi “Chủ tịch đã tìm thấy tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách nào?”, Bác kể lại: “Khi tôi nêu ra câu hỏi: Ai khẳng định rõ ràng là mình đoàn kết với các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức? thì người ta trả lời: Quốc tế thứ Ba. Rồi một đồng chí đưa tôi đọc Luận cương về các vấn đề thuộc địa và dân tộc của Lênin vừa đăng rên báo “Nhân Đạo”.

eNguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp.

Bài đó khó hiểu, vì có những từ ngữ mà tôi không biết rõ. Nhưng tôi đọc đi đọc lại và dần dần tôi hiểu ý nghĩa của nó một cách sâu sắc. Bản Luận cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi xúc động đến phát khóc lên. Ngồi một nình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ đó tôi đã có một sự lựa chọn: tán thành Quốc tế thứ Ba và hoàn toàn tin Lênin”.

Nhận thức về Lênin, Bác nói với nhà báo Fourniau: “Trước con mắt các dân tộc phương Đông, Lênin không phải chỉ là một lãnh tụ, một người chỉ huy. Đó cũng là một người thầy có sức hấp dẫn; tĩnh coi thường sự xa hoa, lòng ham mê công việc, đời sống trong sách, sự giản dị và tâm hồn cao thượng của Người làm cho chúng tôi hướng về Người không gì ngăn cản nổi… Đối với chúng tôi là những người bị ngược đãi, sỉ nhục, Lênin là hiện thân của tình bác ái” và khẳng định:“Lúc đầu, chính là do chủ nghĩa yêu nước mà tôi tin theo Lênin… Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi như đồng chí đã biết…” .

Nội dung cuộc phỏng vấn này được công bố trên báo “Nhân Dân” ngày 5/3/1970. Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch. Fourniau đã thuật lại cuộc phỏng vấn này trong bài viết “Một giờ với đồng chí Hồ chí Minh”và cho biết rằng trong lúc đang diễn ra cuộc phỏng vấn, có một cán bộ đến xin phép được tình bày với Bác một việc riêng. Bác trao đổi xong với người cán bộ của mình đã lịch thiệp quay sang nói với vị khách nước ngoài rằng đó là câu chuyện một số cơ quan đề nghị chương trình tổ chức những ngày lễ lớn trong năm 1970, trong đó có ngày Quốc khánh, ngày sinh của Lênin và ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều là năm chẵn.

Sau khi nghe xong những đề nghị trên, Bác đã chỉ thị phải tổ chức chu đáo ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin nhưng riêng với ngày sinh của Bác thì hãy dành toàn bộ kinh phí để in sách giáo khoa cho học sinh nhân năm học mới…

X&N
bee.net.vn

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam”

(Dân trí) – Đó là khẳng định của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010) vừa diễn ra long trọng tại Hà Nội sáng nay 18/5.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh phát biểu tại Lễ mit tinh kỷ niệm.

Dân trí xin trân trọng giới thiệu toàn văn diễn văn của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại lễ kỷ niệm sáng nay:

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng,
Thưa các vị khách quý,
Thưa đồng bào, đồng chí,

Hôm nay, cùng với đồng bào, đồng chí cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, với lòng biết ơn vô hạn, chúng ta long trọng tổ chức kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, người đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho độc lập của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân, người chiến sĩ cộng sản quốc tế mẫu mực và người bạn thân thiết của các dân tộc đã và đang đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Thưa đồng bào, đồng chí,
Thưa các vị khách quý,

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890, trong một gia đình nhà nho thanh khiết, yêu nước ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Được nuôi dưỡng bởi những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, phải chứng kiến sự thất bại của các phong trào yêu nước bi hùng của cha ông chống thực dân Pháp xâm lược và cảnh lầm than, cực khổ của nhân dân, Người đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Với hành trang là chủ nghĩa yêu nước-nhân văn Việt Nam và khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, trải qua cuộc sống lao động, học tập, nghiên cứu lý luận và nhất là qua thực tiễn đấu tranh cách mạng phong phú ở nhiều nước, Người đã thấy vấn đề giải phóng dân tộc và con người là nhu cầu cấp thiết không chỉ của Việt Nam mà của tất cả các dân tộc thuộc địa và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới. Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại mới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.”

Đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong quỹ đạo của cách mạng vô sản và là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Đó là con đường cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Đó là đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.

Đường lối đó thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử xã hội nước ta: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn.”

Vạch ra con đường cứu nước đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khai thông bế tắc trong đường lối giải phóng dân tộc, mà còn giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng yếu nhất của cách mạng nước ta. Đó là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc. Đó là việc xây dựng thành công lực lượng cách mạng với Mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân đầu tiên ở nước ta. Đó là việc xác định chính xác phương pháp cách mạng phù hợp với thực tiễn đất nước để thực hiện thành công các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước các biến động hết sức phức tạp trong các quan hệ quốc tế.

Đường lối cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã tạo nên sức mạnh tổng hợp và phát huy tác dụng, đưa tới những thắng lợi rực rỡ của cách mạng nước ta.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Nhà nước do nhân dân làm chủ đầu tiên trong lịch sử nước ta, đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam từ nô lệ trở thành độc lập, tự do.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, xây dựng hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa làm cơ sở cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Với những thắng lợi đó, dân tộc ta không chỉ thi hành “Bản án chế độ thực dân” ở Việt Nam, giành lại độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới vì tự do, hạnh phúc của nhân dân ta, mà còn cùng với các dân tộc thuộc địa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đấu tranh loại bỏ vết nhơ áp bức của chủ nghĩa thực dân, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta.” Công lao của Người với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng Việt Nam và dẫn dắt dân tộc ta tiến đến tương lai tươi sáng.

Thưa đồng bào, đồng chí,

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc, với đặc điểm nổi bật là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc và cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội gặp nhiều khó khăn, thử thách, cách mạng nước ta đứng trước nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức to lớn. Đảng ta càng phải nắm vững, kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm bổ sung, hoàn thiện, phát triển đường lối của Đảng phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ lịch sử mới. Đó là yêu cầu thiết thực cho việc chuẩn bị tốt đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Nắm vững, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết phải quán triệt đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Người đã chỉ ra cho cách mạng nước ta. Đây là tư tưởng chiến lược có ý nghĩa chỉ đạo về chính trị và lý luận, về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội thể hiện một cách rõ ràng trong từng lời nói và việc làm của Người. Người nói “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”, “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt,” “một xã hội đảm bảo cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng.”

Người còn nói: “Chúng ta tiến lên xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa tức là một nước có một cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập, tức là nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.” Độc lập – Tự do – Hạnh phúc là mục tiêu chung nói rõ thực chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là vì dân tộc, vì con người. Đó cũng là động lực, là mẫu số chung để đoàn kết toàn dân quyết tâm phấn đấu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Phương châm xây dựng chủ nghĩa xã hội Người nêu ra là: “thiết thực, phải tiến vững chắc. Phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể… Chớ đem chủ quan của mình thay thế cho điều kiện thực tế. Phải chống bệnh chủ quan và tác phong quan liêu, đại khái. Phải xây dựng tác phong điều tra, nghiên cứu trong mọi công tác cũng như trong khi định chính sách của Đảng và Nhà nước.”

Xác định chủ nghĩa xã hội ở nước ta “là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng,” Người hết sức chăm lo xây dựng các lực lượng cách mạng của nhân dân, trước hết là xây dựng Đảng.

Người nói : “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động chứ không phải mưu cầu cho lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào.” “Nhiệm vụ của Đảng là một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác.” “Đảng ta là đạo đức, là văn minh,” “một Đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để.” “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,” “suốt đời làm người con trung thành của Đảng, người đày tớ tận tuỵ của nhân dân”. Để đáp ứng yêu cầu to lớn đó, Đảng ta cần thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng, làm tốt nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng, nhất là trước những tình hình, nhiệm vụ mới.

Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc. Bởi vậy, Đảng ta phải luôn ghi nhớ và thực hành đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ vững sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.”

Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp vĩ đại, chưa có tiền lệ, vừa mở đường vừa tiến lên. Trong Đảng có ý kiến khác nhau để tìm tòi các biện pháp nhằm thực hiện được các mục tiêu của Đảng là cần thiết và là điều bình thường. Tuy nhiên, có lúc, có nơi đã để xảy ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ. Chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng bản vị, cục bộ địa phương, tham vọng quyền lực, tranh công đổ lỗi… là nguyên nhân chủ yếu gây ra chia rẽ, bè phái. “Bệnh này tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất” và thanh danh của Đảng. Đó là một tội ác cần phải loại trừ. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.”

Nước ta là một cộng đồng gồm 54 dân tộc anh em với nhiều giai tầng và tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, nhưng hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Đảng ta chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình khi tập hợp, đoàn kết được toàn dân trong một Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi để bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.” Người nói: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ.”

Chúng ta phải làm cho tư tưởng đại đoàn kết của Bác Hồ thấm sâu vào việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, trong tổ chức, xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất và thực hiện các nhiệm vụ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Phải nắm vững nguyên tắc đại đoàn kết là : trên cơ sở liên minh công, nông, trí thức, tập hợp rộng rãi nhất mọi tổ chức và cá nhân yêu nước; lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân làm điểm tương đồng, trên cơ sở đó bảo đảm sự kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế. Phương pháp đại đoàn kết là phát huy dân chủ, vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương…, lấy thẳng thắn, chân thành để đối xử, lấy tin yêu, giúp đỡ để cảm hoá, trân trọng phát huy nhân tố tích cực, hạn chế, đẩy lùi nhân tố tiêu cực, giúp cho mọi tổ chức và cá nhân đều tiến bộ và trưởng thành, đóng góp có hiệu quả cao vào sự nghiệp cách mạng chung.

Thưa đồng bào, đồng chí,

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ, cả nước đã bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trong 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nước ta đã chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, thế và lực đã được nâng cao hơn, đất nước đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, kinh tế phát triển chưa bền vững, năng suất lao động và sức cạnh tranh còn thấp, trình độ công nghệ còn lạc hậu so với các nước phát triển, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại.

Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, văn hóa-xã hội, bảo vệ môi trường chậm được khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống… chưa được đẩy lùi. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy thật đầy đủ. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân chuyển biến chậm. Còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị-xã hội.

Để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở kiên định lập trường và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và phổ biến rộng rãi hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới.

Toàn Đảng, toàn dân ta phải luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nắm vững quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của phong trào hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, tăng cường hợp tác, góp phần hình thành một trật tự thế giới công bằng và bình đẳng.

Hiện nay, chúng ta đang đứng trước yêu cầu phải giải quyết mâu thuẫn lớn của xã hội nước ta là mâu thuẫn giữa trình độ còn thấp kém của lực lượng sản xuất với yêu cầu cao của nền sản xuất hiện đại của chủ nghĩa xã hội và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Vì vậy, nhiệm vụ chủ yếu nhất của chúng ta lúc này là phải dốc sức vào việc phát triển lực lượng sản xuất, làm ra nhiều của cải để chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu, đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời phải chăm lo xây dựng và từng bước phát triển quan hệ sản xuất tiên tiến phù hợp.

Mỗi bước tiến của cách mạng là một bước đem lại những lợi ích thiết thực trong cuộc sống đối với người dân, đem lại công bằng cho xã hội. Dân chủ và công bằng là đặc trưng ưu việt thuộc về bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đó là những vấn đề chúng ta phải đặc biệt chú ý khi bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Thực hiện những nhiệm vụ trên, mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng xong về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh. Từ nay đến khoảng giữa thế kỷ 21, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, chúng ta phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Trong công tác xây dựng Đảng, phải làm cho Đảng ta thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời, tổ chức và lãnh đạo thực hiện thành công các quyết định đó. Đồng thời, phải tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nâng cao năng lực của các tổ chức đảng, của mọi đảng viên trong vận động, thuyết phục quần chúng. Mỗi đảng viên, cán bộ, công chức và gia đình phải thực sự đi đầu trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, là tấm gương về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, về tinh thần đấu tranh kiên quyết chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Cần phát huy kết quả của cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” kết hợp với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và gắn liền với cải cách hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, nâng cao ý thức phục vụ nhân dân. Tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân đóng góp tài lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời có các biện pháp thiết thực tham gia giám sát cán bộ, công chức, đảng viên. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bất kể họ là ai và giữ cương vị gì. Các tổ chức trong hệ thống chính trị, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… phải có các biện pháp mạnh mẽ để khắc phục có hiệu quả tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Về mặt tổ chức, cần hết sức coi trọng việc xây dựng, củng cố và phát triển các tổ chức đảng, kiện toàn và đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện các quyết định của cấp uỷ đảng. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, tập trung vào những khâu quan trọng, như đánh giá cán bộ, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; có cơ chế, chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài. Thực hiện nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình trong tổ chức đảng, trong cơ quan nhà nước, không né tránh, nể nang; đồng thời lắng nghe ý kiến của nhân dân để có thể đánh giá và lựa chọn đúng những cán bộ có tinh thần tiên phong, gương mẫu, kiên định mục tiêu, lý tưởng, có đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tác phong và lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân, được nhân dân tin yêu. Phải làm thật tốt công tác cán bộ, kiện toàn các cấp uỷ đảng, hình thành một đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài để thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng.

Cùng với việc đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chúng ta phải quyết tâm thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng “lớp người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội”, một thế hệ người Việt Nam có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý chí độc lập, tự cường, tinh thần phấn đấu vươn lên vì sự phát triển phồn vinh của dân tộc, đất nước; có đức, có tài, đủ sức đảm đương sứ mệnh lịch sử xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thưa đồng bào, đồng chí,

Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc ta. Giá trị thực tiễn cao đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, “nói đi đôi với làm.” Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta quyết tâm thực hiện thành công, hiện thực hoá những di huấn của Người trong thực tiễn cuộc sống.

Năm 2010 là năm có nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và là năm tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng vào đầu năm 2011. Yêu cầu quan trọng của Đảng ta trong lúc này là lãnh đạo thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội X của Đảng, tăng cường học tập một cách thiết thực tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và kiểm điểm việc thực hiện những nhiệm vụ của giai đoạn 2005-2010, mở rộng sinh hoạt dân chủ để tập hợp được trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng.

Nhân buổi Lễ kỷ niệm trọng thể này, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sống, chiến đấu, lao động, học tập, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta phát triển mạnh mẽ, bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

Xin trân trọng cảm ơn!

dantri.com.vn

“Dân cường thì quốc thịnh”

– Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp của Hội đồng Chính phủ bàn về nhiều nội dung quan trọng: tổ chức các bộ như Bộ Xã hội, Bộ Ngoại giao; sắc lệnh Tự do cá nhân, sắc lệnh tạm thời về Tự do báo chí, tình hình tài chính, việc Trung Hoa muốn mua và mượn đường sắt của Việt Nam.

Cùng ngày báo “Cứu Quốc” đăng bài “Sức khoẻ và Thể dục” trong đó Bác Hồ kêu gọi đồng bào cả nước tập thể dục.

Bài báo viết: “Giữ gìn dân chủ nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ.

Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người yêu nước. Việc đó không tốm kém, khó khăn gì. Gái, trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Mỗi ngày, lúc ngủ dậy, tập một ít thể dục. Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khoẻ.

Bộ Giáo dục có Nha thể dục, mục đích là để khuyên và dạy cho đồng bào tập thể dục, đặng giữ gìn và bồi đắp sức khoẻ.

Dân cường thì quốc thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”.

1949 Bác và đội bóng chuyền trong Chiến khuTấm ảnh chụp Bác Hồ với anh em cầu thủ đều là những “quan chức” của Chính phủ năm 1949: (Từ trái sang phải. Hàng ngồi: Nguyễn Lương Bằng , (?), Lê Văn Hiến, Bác Hồ, Nguyễn Khánh Toàn , (?), Trần Công Tường (?)- . Hàng đứng : (?), Trần Duy Hưng, Bùi Công Trừng). Những dấu hỏi (?) là những nhân vật chưa xác định được danh tính, mong bạn đọc nếu biết thì cung cấp, hay sửa lỗi.

Cùng trong ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập trong Bộ quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục, đến nay, ngày 27/3 hàng năm đã trở thành Ngày truyền thống của Ngành Thể dục Thể thao nước ta.

Trong đời sống, Bác Hồ không chỉ tự mình tập tành mà còn vận động và lôi cuốn những người gần gũi mình vào những sinh hoạt thể thao tập thể. Trong sách “Nhật ký của một bộ trưởng”, tác giả là Bộ trưởng Tài chính trong Chính phủ Kháng chiến Lê Văn Hiến thuật lại: “Ngày 12/1-/949… Sau câu chuyện bên đống lửa hồng, Hồ Chủ tịch đưa tất cả anh em ra sân volley ball (bóng chuyền), rồi chia ra hai phe đánh bóng.

Hồ Chủ tịch và 5 anh em một bên, mình và 5 anh em khác một bên. Cuộc đánh bóng này là cuộc đặc biệt. Hồ Chủ tịch với cái quần cụt, có vẻ “cầu sĩ” nhanh nhẹn và hoạt động lắm. Buổi đánh bóng chiều nay thật vui…”.

X&N
bee.net.vn

“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ”

– Ngày 23/3/1949, báo “Cứu Quốc” đăng nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của nhà báo Walter Briggs, phóng viên của nhiều tờ báo ở Mỹ. Cuộc phỏng vấn này không thực hiện trực tiếp mà qua văn bản.

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp năm 1946

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp năm 1946

Trả lời câu hỏi điều kiện nào Việt Nam chấp nhận sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc, Bác khẳng định: “Độc lập và thống nhất thực sự của Việt Nam”;

Hỏi “Cụ có phải là một người cộng sản nữa không?”, Bác trả lời: “Tôi luôn luôn là người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thực sự của Tổ quốc tôi”;

Hỏi: “Việt Nam công khai tuyên bố trong 24 vị thành viên của Chính phủ có 4 vị là cộng sản, thế thì 4 vị ấy có ảnh hưởng đặc biệt hay cũng như các vị khác”, Bác trả lời: “Tất cả các bộ trưởng Chính phủ Việt Nam đều cộng đồng phụ trách và ảnh hưởng bình quân”;

Hỏi: “Một khi độc lập thì Việt Nam sẽ đứng với Nga và các nước đồng minh với Nga hay là với dân chủ phương Tây?”, Bác trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bàu bạn”;

Hỏi: “Một khi độc lập đã thành công, về mặt quốc tế, Cụ sẽ đưa Việt Nam đứng với Nga và các nước đồng minh của Nga hay là với dân chủ phương Tây, hay là theo chính sách độc lập của mình?”, Bác trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bầu bạn”….

Có thể nói đây là quan điểm nhất quán mà ngay sau khi Cách mạng tháng 8/1945 thành công và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, người đứng đầu nhà nước đã tuyên bố “Nước Việt Nam chủ trương làm bạn với tất cả các nước dân chủ trên thế giới, không muốn gây sự với ai…”(1945-1946), và nó tiếp tục được khẳng định ngay cả khi chiến tranh đã bùng nổ và vào thời điểm phỏng vấn đang diễn ra ác liệt.

Cũng trong tháng 3/1949, trả lời phỏng vấn của nhà báo Standley Harrison của báo “Telepress” (đăng trên Cứu Quốc ngày 26/3/1949), Bác cũng khẳng định: “Pháp công nhận Việt Nam thống nhất thực sự và độc lập thực sự thì chiến tranh sẽ lập tức chấm dứt”.

Trả lời câu hỏi: “Vì lẽ gì mà Việt Nam thành công về mặt quân sự?”, Bác trả lời: “Vì toàn dân đại đoàn kết để chống thực dân Pháp và để tranh lấy thống nhất và độc lập thật sự cho Tổ quốc mình”.

Hỏi: “Khi ngoại thương Việt Nam đã khôi phục, thì Việt Nam sẽ giao dịch với các nước dân chủ nhân dân những gì?”, Bác khẳng định: “Việt Nam sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật thà”.

X&N
bee.net.vn

Thư Phan Bội Châu gửi Nguyễn Ái Quốc

 Ngày 22/2/1925, cụ Phan Bội Châu viết thư nhờ Hồ Tùng Mậu chuyển cho Lý Thuỵ (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) lúc này đang hoạt động ở Trung Quốc.

Phan Bội Châu, bút hiệu Sào Nam là người đồng hương (Nam Đàn, Nghệ An) và là bạn đồng niên với Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Bác.

Vào đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã trở thành 2 ngọn cờ tiêu biểu cho phong trào yêu nước ở nước ta. Sau nhiều hoạt động yêu nước không thành Phan Bội Châu cũng sang Quảng Đông để tìm gặp những người Việt Nam đang hoạt động tại đây.

Tháng 2/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của ĐảngTháng 2/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng

Bức thư đề ngày “21 tháng 1âm lịch” (tức 22/2/1925) viết bằng chữ Hán, hiện được lưu trữ ở Aix-en-Provence (Pháp) và được nhà nghiên cứu Vĩnh Sính phát hiện và dịch cho thấy những tình cảm và đánh giá của Phan Bội Châu đối với người con trai của bạn mình nay đã trở thành một nhà cách mạng đã nổi tiếng lúc này vừa hoạt động trong phái đoàn cố vấn của Chính phủ Xô viết bên cạnh Chính phủ Quảng Châu của Tôn Trung Sơn lại đang xúc tiến việc thành lập tổ chức cách mạng Việt Nam, tiền thân của Đảng Cộng sản sau này là Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí.

Bức thư cho biết, trước đó cụ Phan đã nhận đuợc thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho cụ, vì thế trong thư lá thư này, nhà ái quốc lão thành đã thành tâm đưa ra những lời đánh giá khích lệ: “Người cháu rất kính yêu của bác…(đọc thư của cháu) mới biết là học vấn, trí thức của cháu nay đã tăng trưởng quá nhiều, không phải như hai mươi năm trước.

Nhớ lại hai mươi năm trước đây, khi đến nhà cháu uống rượu, gõ án ngâm thơ, anh em cháu tất thảy đều chưa thành niên, lúc đó Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này…

Nhận được liên tiếp hai bức thư của cháu bác vừa buồn lại vừa mừng. Buồn là buồn cho thân bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh ban mai…

Một đời tân khổ, gánh vác công chuyện một mình, được sức lớn của cháu giúp vào thì ắt sẽ có nhiều người hưởng ứng theo. Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai dễ nhờ uỷ thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có được niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao bác không cảm thấy vui mừng được. Cháu học vấn rộng rãi đã từng đi nhiều nơi hơn bác cả chục cả trăm lần. Tri thức và kế hoạch của cháu tất vượt sức đo lường của bác…”

Cuối thư Phan Bội Châu cũng thẳng thắn và chân thành mong Nguyễn Ái Quốc có kế hoạch mở rộng phong trào trong nước “vì nếu không có kế hoạch thì bất quá chỉ làm khách tha hương than thở không đâu cho hồn cố quốc, chả giống ông Hy Mã (tức Phan Chu Trinh) thì cũng chỉ giống Phan Bội Châu mà thôi!”.

Còn trong bức thư gửi Hồ Tùng Mậu cùng vào thời gian này, cụ Phan lại bày tỏ sự “cực lực tán thành” việc thành lập tổ chức Hội Thanh niên mà Nguyễn Ái Quốc lúc này đang tích cực vận động. Mặc dầu kể từ đó cho đến lúc bị thực dân Pháp bắt ở Trung Quốc, đưa ra toà xử án, rồi bị an trí tại Huế cho đến lúc qua đời, Phan Bội Châu chưa có dịp gặp lại Nguyễn Ái Quốc nhưng những di ngôn của cụ cho các đồng chí của mình vẫn hoàn toàn tin rằng : Nguyễn Ái Quốc sẽ là người “gây dựng lại giang sơn”.

Còn sau đó không lâu, trong một bài viết về Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc đã dành những lời tôn vinh: “Phan Bội Châu, bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng”.

X&N
bee.net.vn

Ngày 19/2: Vị luật sư “cứu sống” Bác Hồ

– Ngày 19/2/1960, ông bà luật sư Loseby, ân nhân đã cứu Bác Hồ khỏi nhà tù của thực dân Anh trong vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” (1931-1933) sau chuyến thăm Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi trở về đã viết thư cảm ơn Bác.

Trong lá thư có đoạn: “Ngài nói rằng tôi đã “cứu sống Ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm, và mãi mãi là một việc làm sáng suốt…”.

Ông Francis Henry Loseby (1883-1967) sinh trưởng ở nước Anh, làm luật sư trong quân đội hoàng gia trong Thế chiến I, năm 1926 sang Hồng Kông, lúc đó là thuộc địa của Anh trên lãnh thổ Trung Quốc và mở văn phòng luật sư.

bác cùng vị luật sư Loseby gặp công nhân Nhà máy Trung Quy mô 2-1960Bác cùng luật sư Loseby gặp công nhân Nhà máy Trung Quy mô tháng 2/1960

Trước vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, ông đã từng cãi giúp một người Việt Nam thoát khỏi bản án trao cho thực dân Pháp. Thời kỳ phát xít Nhật xâm lược Trung Quốc, ông đã từng tham gia đội quân tình nguyện bảo vệ Hồng Kông vì thế bị Nhật bắt giam từ 1/1942 đến 8/1945. Ông sống ở Hồng Kông cho đến lúc qua đời năm 1967. Được tin ông qua đời, Bác Hồ đã gửi vòng hoa đến viếng.

Năm 1960, sau khi đã cho người tìm được gia đình luật sư Loseby ở Hồng Kông, Bác viết thư mời sang thăm Việt Nam vào dịp Tết Nguyên đán. Ngày 26/1/1960, ông bà Loseby cùng con gái đến Hà Nội, Bác Hồ ra tận sân bay đón và đưa về nhà khách. Những ngày tiếp theo Bác dẫn gia đình ân nhân của mình đi thăm nhiều nơi và ngày 3/2 tiễn trở về Hồng Kông.

Bác Hồ chụp ảnh với đoàn đại biểu dự hội nghị cán bộ phụ trách thiếu niên toàn quốc do Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam tổ chức ngày 19/2/1959Bác Hồ chụp ảnh với đoàn đại biểu dự hội nghị cán bộ phụ trách thiếu niên toàn quốc do Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam tổ chức ngày 19/2/1959

Về chuyến đi này, ông Loseby kể: “Năm 1956 một nhà báo Anh (đảng viên cộng sản Anh) sang thăm Việt Nam về Hương Cảng đến tìm và trao cho tôi một bức thư và 2 bức ảnh Hồ Chủ tịch, một bức gửi cho vợ chồng tôi, một bức gửi cho con gái tôi… Chúng tôi gửi thư cám ơn và gửi ảnh cho Hồ Chủ tịch.

Sau đó đại diện Sở vận tải Trung Hoa ở Hương Cảng điện thoại cho chúng tôi 2 lần và đến gặp chúng tôi, gửi cho chúng tôi một gói quà của Hồ Chủ tịch, trong đó có một bức thêu Chùa Một Cột và một cái khay sơn mài và một bức thư của Hồ Chủ tịch mời sang thăm Việt Nam…”.

Trong buổi đến thăm và gặp gỡ cán bộ công nhân Nhân Nhà máy Cơ khí Trung quy mô ở Hà Nội, ngày 2/2/1960, Bác Hồ mào đầu: “Bác xin giới thiệu với các cô chú, đây là luật sư Loseby, ân nhân của Bác. Nếu không có luật sư thì chưa biết Bác sống chết ra sao?…”.

Còn vị luật sư người Anh thì bày tỏ: “Các bạn rất may mắn có một vị lãnh tụ rất vĩ đại và tốt là Hồ Chủ tịch… Khi gặp Hồ Chủ tịch chúng tôi rất cảm động nhưng chúng tôi không lạ vì chúng tôi thường được xem ảnh luôn và chúng tôi xem Bác như người nhà của chúng tôi. Hồ Chủ tịch là một người bất cứ ở đâu và trong hoàn cảnh nào cũng làm cho mọi người mến phục. Không phải bây giờ, ở đây như vậy mà trước kia khi ở Hương Cảng, trong hoàn cảnh khó khăn cũng vậy.

Hồ Chủ tịch có cái biệt tài là làm cho mọi người đều cười được từ các em thiếu nhi hôm chúc Tết ở Chủ tịch phủ, đến các em nhi đồng ở Trại nhi đồng miền Nam và đến cả các anh em công nhân Nhà máy Trung quy mô cũng vậy. Hồ Chủ tịch có thể làm cho mọi thứ đều cười…

Đến Việt Nam, tôi thấy một điều làm cho tôi thấy đặc biệt là mọi người đều vui vẻ, ai cũng có nụ cười trên môi… Nhiều điều tôi mới được thấy lần đầu và vượt quá ý nghĩ của chúng tôi… Tôi có thể kết luận rằng đó là kết quả của cả cuộc đời hy sinh của Hồ Chủ tịch cho nhân dân Việt Nam”.

Trong buổi tiễn đưa gia đình luật sư Loseby tại sân bay Gia Lâm, Bác không quên dặn cô con gái của ông bà: “Bao giờ có đám cưới, cháu Pat nhớ cho Bác hay nhé”.

X&N

bee.net.vn