Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Phương pháp luận nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

(TuanVietNam) – Tiếp tục mạch bài, GS Tương Lai cho rằng:Trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi để hiểu được sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi nghiệm ra rằng, cần phải xác lập cho mình một cách thức tìm hiểu, điều mà người ta hay nói là phương pháp luận.

>> Hiểu kỹ Hồ Chí Minh hãy nói đến tư tưởng của Người
>> Tầm vóc Hồ Chí Minh

Tuần Việt Nam xin giới thiệu một số suy ngẫm của GS về vấn đề này:

Ảnh tư liệu.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh có sự bình thường sau khi đã trải qua sự cao siêu; có sự giản dị sau khi đã trải qua sự phong phú, đa dạng, phức tạp;

Cụ thể sau khi đã trải qua trừu tượng; mộc mạc sau khi đã rất tinh tế; đạm, rất đạm sau khi đã rất nồng; khiêm nhường sau khi đã từng trải để rất biết người, biết mình; ung dung, thanh thản sau khi tự mình đã trải nghiệm qua biết bao sự chịu đựng cay đắng đủ điều, từ sự chịu đựng vì sự nghiệp của nước, của dân cho đến sự đắng cay của cuộc sống cá nhân, của thân phận con người.

Vì vậy, đơn giản hóa, tầm thường hóa, dung tục hóa, hoặc ngược lại rắc rối đến cầu kỳ, phức tạp, đi sâu vào tầm chương trích cú, tìm sự phong phú ở cái rậm rạp, xô bồ trong cách nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh thì rồi dù vô tình hay cố ý cũng đều không dẫn đến cách nắm bắt và tiếp nhận cái cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cũng giống như những nhà tư tưởng lớn của loài người mà Hồ Chí Minh đã học hỏi tiếp thu, tư tưởng Hồ Chí Minh có sự đa dạng, nhiều chiều, năng động, luôn luôn phát triển chứ không phải là “nhất thành bất biến”. Chỉ có một điều cần thấy rõ, đó là, từ lúc manh nha, đến lúc hình thành, và khi vận dụng vào cuộc sống, rồi được sửa chữa, bổ sung, đều đã thể hiện sự nhất quán, rất nổi bật “tính chất trước sau như một” của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cả hai biểu hiện ấy, “đa dạng, năng động, nhiều chiều, không “nhất thành bất biến” thông nhất với sự nhất quán, “trước sau như một”, xin được gọi là “tính chất một” cực kỳ hàm súc của tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất lớn.

2. Chú ý đến biểu hiện ấy trong phương pháp luận nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là chú ý đến sự gặp gỡ thú vị của phong cách Hồ Chí Minh với xu thế hiện nay của khoa học và của đặc điểm trí tuệ của thời đại là: tổng thể hóa trong đa dạng, chứ không chỉ là chuyên biệt hóa ngày càng sâu, càng tinh vi khi đi sâu vào phân tích cụ thể mà thiếu sự tổng hợp.

Đây là sự tổng thể hóa đầy mâu thuẫn trong đời sống và hoạt động của con người, từ cá nhân đến cộng đồng, từ một góc tâm linh, một nét tiềm thức hoặc là vô thức sâu kín, bí ẩn nhất của mỗi con người, cho đến động thái của mỗi dân tộc và của cả loài người.

Ảnh tư liệu.

Có sự tổng thể hóa nhiều sắc thái của kiến thức và nghiên cứu khoa học của con người, nó là kết quả đan xen vào nhau, trở thành nhau của nhiều ngành, nhiều phương pháp khoa học, trong khi mà sự chuyên biệt hóa, bên cạnh mặt mạnh của nó, ngày càng bộc lộ những nhược điểm khá rõ.

Đó là sự liên ngành, mà thực chất mới chỉ là sự phối hợp, kết hợp giữa nội dung và phương pháp của nhiều ngành để bổ sung và làm sáng tỏ cho nhau nhưng vẫn chưa bộc lộ hết tiềm năng của nó, chưa đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại.

Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh phải là sự nghiên cứu rất hiện đại. Nếu chỉ dừng lại phương pháp liên ngành như đã từng có trong nửa cuối thế kỷ XX thì chưa đủ, hơn nữa, đã bị vượt qua. Phương pháp phân tích cụ thể quá sẽ thành ra chi li, dẫn đến phân tán. Tuy rằng đi sâu vào từng lĩnh vực của tư tưởng Hồ Chí Minh thì cần thiết, song không đủ.

Cách nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh có triển vọng nhất đó là một, nhất quán trong đa dạng, tổng thể hóa trong phong phú. Với phương pháp luận đó thì có thể sẽ tìm ra và nhấn mạnh không nhiều, nhưng lại có sức khái quát lớn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là thiết thực và hành động, cho nên phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu, tiếp nhận và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng phải như vậy. Sự nghiên cứu uyên bác là rất cần, càng uyên bác, thâm thúy thì càng hay. Nhưng cần nhớ rằng cái chất của Hồ Chí Minh, cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là thiết thực và hành động. Uyên bác và thâm thúy nhất của Hồ Chí Minh là thiết thực và có hiệu quả trong hành động.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh là chân thực. Bởi vậy, vấn đề là phải làm sao phát hiện được, tiếp nhận được tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự chân thực đó.

Ảnh tư liệu.

Trong những thiên lệch cần phải tránh thì trước hết phải tránh sự “tụng ca”, “vĩ nhân ca”. Không nên và không thể cộng thêm cái gì vào tư tưởng Hồ Chí Minh, vì tư tưởng ấy cũng chính là nhân cách Hồ Chí Minh.

Mọi ý định, cho dù là thiện chí muốn thêm vào thì chỉ là trừ đi, và nếu Hồ Chí Minh biết thì sẽ cười rằng “vẽ rắn thêm chân”! Sự cường điệu về chất, về mức là không trung thực, hoàn toàn không cần thiết, hơn nữa, là có hại.

Vấn đề là ở chỗ nhận cho ra đâu là nét đích thực của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua việc làm, qua cách sống, qua lời nói, qua bài viết, qua cơ đồ, qua sự nghiệp. Đừng cố tìm ở Hồ Chí Minh cái gì cũng đều có, cũng đều “vĩ đại”, vì như vậy chính là xuyên tạc, hạ thấp hoặc là bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải thấy cho rõ, cho đúng, cho đủ những thiếu sót, sai lầm chủ quan đã để lại dấu ấn trong tư tưởng, trong việc làm, trong sự nghiệp của Hồ Chí Minh .

Những cái đó không thể không có, vì Hồ Chí Minh là một con người chứ không phải là một vị thánh. Hồ Chí Minh không thể không có sai lầm, cần phải khách quan và trung thực chỉ ra. Mà chỉ ra được những sai lầm và tác hại của nó một cách đúng đắn là thể hiện sự kính trọng và tin yêu Hồ Chí Minh, người con vĩ đại của dân tộc ta, nhân dân ta và là người lãnh đạo tuyệt vời nhất mà nhân dân ta tự hào có được.

Cùng với cái đó, cũng phải phân tích rõ những hạn chế lịch sử mà Hồ Chí Minh không thể vượt qua được, trong đó, kể cả những điều mà Hồ Chí Minh không thể thuyết phục được những đồng chí và học trò của mình.

Chuyện “Chính cương và Sách lược” của Đảng do Nguyễn Ái Quốc chủ xướng bị phê phán là “quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh” vì “giai cấp tranh đấu là quan trọng nhất và ngày càng có tính chất kịch liệt” để rồi bị thay thế bằng “Luận cương chính trị” của Trần Phú là một ví dụ đau xót.

Ảnh tư liệu.

Và rồi “cải cách ruộng đất” là một ví dụ xót xa nữa đủ để nói lên những oái oăm của lịch sử. Và chính những điều đó đã để lại những di lụy không nhỏ trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh đã đến lúc cần phải trung thực nêu lên.

4. Kế thừa, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sự nâng niu, bảo quản như bảo quản một di vật quý trong bảo tàng. Kế thừa là vận dụng và phát triển. Vậy thế nào là kế thừa và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay, điều kiện của dân tộc, của thế giới, của thời đại? Đây là một khó khăn phức tạp và có thể tác động ngược lại đến việc nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thông thường, việc kế thừa và vận dụng một tư tưởng đòi hỏi một sự lựa chọn. Nếu không có sự lựa chọn thì cũng không thể có sự kế thừa, vận dụng và phát huy. Và nói lựa chọn tức là đòi hỏi phải bỏ qua một số điểm nào đó, cố ý làm nổi bật lên hay làm nhẹ bớt đi một số điều nào đó, là nắm bắt những thông điệp nào đó và lướt qua những thông điệp nào đó.

Đấy là cách làm đúng đắn mang tính khoa học cao. Có thể gọi đó là điều có tính quy luật được vận dụng phổ biến, để không chỉ nhằm học tập, tiếp thu những thành tựu trí tuệ của văn hóa và văn minh loài người đã đạt được, mà cũng chính là cách những người được xem là những vĩ nhân, những nhà tư tưởng lớn của loài người đã thực hiện như thế nào để trở thành vĩ nhân.

5. Có một lập luận cho rằng: hãy nghe thấy trong Hồ Chí Minh điều mà dân tộc ta cần nghe vào chính lúc này. Hãy tìm thấy, làm nổi bật lên, học theo và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh điều mà dân tộc ta cần nhất vào lúc này với niềm tin rằng, những cái đó đều có trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ảnh tư liệu.

Lập luận đó có cơ sở đúng bởi vì, thường là vĩ nhân nào mà cốt lõi tư tưởng là vì con người, dân tộc và loài người thì tư tưởng của họ càng đa dạng và phong phú, càng chứa đựng nhiều thông điệp cần thiết cho mọi thời đại, càng dễ vận dụng theo cách lựa chọn trên.

Vấn đề là, với sự tiếp cận này, sự chân thực có được với niềm tin rằng đó là khách quan và khoa học đạt được đến đâu và đâu là điểm dừng cần phải có?

Những người phản bác lại lập luận đó thì cho rằng, với cách ấy rất dễ chủ quan, tùy tiện gán cho Hồ Chí Minh những điều mà mình muốn, mình đang trông chờ chứ không phải là trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có những điều đó. Lúc này đang cần có tri thức và kinh nghiệm về kinh tế thị trường thì cố đào cho ra trong tư tưởng Hồ Chí Minh những điều ấy.

Khi đất nước đang bị hút vào quỹ đạo của toàn cầu hóa thì đã cố moi tìm chỗ này, chỗ kia rằng Hồ Chí Minh đã nói về toàn cầu hóa và hội nhập hay chí ít cũng manh nha những tư tưởng ấy. Nếu làm như vậy thì đúng là giả tạo và không biết đến điểm dừng.

Nhưng đã là phương pháp luận khoa học thì phải có sự lựa chọn, có mức độ, có điểm dừng, có thái độ trung thực khoa học đầy trách nhiệm để có cách xử lý thỏa đáng. Đây là điều không dễ dàng chút nào, song là một phương pháp luận, mà theo chúng tôi, cần phải chú ý vận dụng.

Một phương pháp luận nghiên cứu như thế mới có thể đưa tới những công trình nghiên cứu xứng đáng với Hồ Chí Minh. Càng kính trọng và tin yêu Hồ Chí Minh, thấy rõ tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa lớn lao như thế nào đối với vận mệnh của đất nước, sự nghiệp của nhân dân và tương lai của dân tộc, càng phải tuân thủ phương pháp luận đó.

  • Tương Lai

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Tầm vóc Hồ Chí Minh

(TuanVietNam) – “Khi đặc biệt coi trọng cá nhân con người, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chừng mực nào đó, là rộng hơn C.Mác” – GS Tương Lai.

>> Hiểu kỹ Hồ Chí Minh hãy nói đến tư tưởng của Người

Theo GS Tương Lai: Tầm vóc của con người, cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh có thể nói gọn lại trong năm điểm nổi bật sau:

Ảnh tư liệu

1. Trước hết và sau cùng, Hồ Chí Minh là một con người rất người, một người Việt Nam rất Việt Nam. Đúng là “dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chí Minh” theo đúng nghĩa sâu sắc, đậm đặc và nhất quán một nhân cách Hồ Chí Minh, một đường nét văn hóa Hồ Chí Minh rất Việt Nam.

Những gì là lý luận, là khoa học, là uyên bác, là thâm thúy đều có trong Hồ Chí Minh, đó chính là sự hòa quyện, sự kết đọng của sự thông tuệ dân gian. Đó là sự thông minh, tế nhị và mộc mạc của tinh hoa văn hóa Việt Nam thể hiện trong ứng xử hàng ngày của người dân quê trên đồng ruộng, giữa núi rừng, nơi“thôn cùng xóm vắng” [Nguyễn Trãi].

Những uyên bác, những thâm thúy, những tế nhị và mộc mạc hòa quyện vào trong sự thông tuệ dân gian ấy được Hồ Chí Minh tiếp thu một cách hồn nhiên, thoải mái và có chọn lọc, để rồi thể hiện ra một cách dung dị nhưng không kém phần sâu lắng tế nhị, không kém phần minh triết trong cái khôn ngoan dân dã Việt Nam!

Chính điều này vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của sự gắn bó máu thịt giữa lãnh tụ và quần chúng, niềm tin yêu của nhân dân dành cho lãnh tụ của mình và là “ham muốn, ham muốn đến tột bậc” của Hồ Chí Minh về cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân mình.

Với đặc điểm này, cho dù với sự khiêm tốn tuyệt đối cần thiết, cũng phải nói rằng, so với những lãnh tụ cách mạng khác, Hồ Chí Minh có sự kết đọng đậm đặc hơn, quán triệt hơn, sâu xa và thấm thía hơn trong sự gắn bó tin yêu với nhân dân của mình và đồng thời hình ảnh Hồ Chí Minh sống trọn vẹn trong trái tim của họ. Hồ Chí Minh ở trong họ, gần gũi thân thiết với họ, nâng họ lên để cùng đứng với mình chứ không bao giờ đứng trên họ. Hồ Chí Minh với nhân dân mình là một.

Nói như nhà báo Úc Burchett “Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng trong nhân dân thì không có ai ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh”, và như đòi hỏi của Charles Fourniau, nhà sử học Pháp “cần làm nổi bật một cách hiển nhiên và trên mọi tầm vóc, hình ảnh một con người đã là một trong ba hoặc bốn nhân vật vĩ đại nhất của phong trào công nhân và cách mạng thế giới, một trong những vĩ nhân của thế kỷ chúng ta”.

2. Hồ Chí Minh là con người của hành động và sáng tạo. Hành động rất thiết thực và sáng tạo Con người ấy không viết nhiều, không nói nhiều, không viết dài nói dài, song là con người làm, làm rất nhiều. Con người ấy nói ít, làm nhiều, thậm chí không cần nói, chỉ cần làm để rồi bằng việc làm cụ thể mà thuyết phục người ta làm theo mình.

Nhưng như thế không hề là chủ thuyết của một nhà “triết học vô ngôn”, hoặc một “chính khách vô ngôn”. Hồ Chí Minh không phải không có những tác phẩm, những công trình, những bài viết, những diễn văn, những lời kêu gọi. hưng, tác phẩm lớn hơn cả, bài học sâu sắc nhất chính là cả cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Giờ đây đọc lại hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh, khởi đầu từ những năm 20 của thế kỷ trước, cho đến tư tưởng chỉ đạo hai cuộc chiến tranh cứu nước, giải phóng dân tộc là trước sau như một nhất quán với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do” mới thấy “vào thời ấy, hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ, khó lòng tưởng tượng. Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”(Phạm Văn Đồng).

Ảnh tư liệu

Đó là một con người sáng tạo, rất sáng tạo, con người đổi mới, thường xuyên đổi mới, đổi mới rất táo bạo. Con người ấy “có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn”.

Từ quan điểm, đường lối cho đến cách sống, cách nói, cách viết, Hồ Chí Minh quyết liệt chống sự sáo mòn, hướng tới cái thiết thực, đạt tới hiệu quả cao nhất. Trong con người ấy có sự hòa quyện nhuần nhị lý trí với tình cảm và tâm linh, sự gắn kết rất tự nhiên giữa tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, với bản lĩnh tinh nhạy của một chính khách, và sự khoan hòa nhân ái của một lãnh tụ nhân dân.

Đặc điểm nổi bật ấy tạo ra phong thái rất độc đáo của Hồ Chí Minh không trộn lẫn vào đâu được. Nhờ vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi tầng lớp nhân dân một cách dễ dàng vì nó gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của họ, vừa rất truyền thống, vừa rất hiện đại. Biết cách làm cho dễ hiểu để đến được với người có trình độ học vấn thấp, song lại biết cách nâng cao lên để diễn đạt được chân lý của cuộc sống, thể hiện được khát vọng thầm kín và sâu xa của con người, nhất là những con người cùng khổ, con người bị áp bức.

Cách tư duy cũng như cách ứng xử của Hồ Chí Minh, như có người nhận xét, “vừa rất ta, vừa rất tây”, đây cũng là một nét độc đáo rất Hồ Chí Minh. Đã có người quan sát và kể lại cách Hồ Chí Minh chọn và ngắt một bông hoa hồng trong vườn Phủ Chủ tịch để tặng một người phụ nữ Pháp là 100% châu Âu . Nhưng cách Bác Hồ bưng bát nước chè xanh của một cụ già nông dân mời, vừa thổi, vừa uống thì 100% là Việt Nam.

Ở trong ứng xử cũng như trong cách viết, cách trả lời nhà báo nước ngoài, cách diễn đạt những mệnh đề lý luận của Hồ Chí Minh có sự tinh tế nhuần nhuyễn của những đường nét minh triết phương Đông và văn hóa phương Tây, vừa dân tộc vừa quốc tế. Cần phải thấy cho ra tầm vóc luận điểm Hồ Chí Minh đưa ra từ 1924 trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”!

Việt Nam, Phương Đông, Phương Tây, thế giới, thời đại đều có trong cốt cách ứng xử của Hồ Chí Minh. Không quá cường điệu khi Hélène Tourmaire, một nhà văn và cũng là nhà báo viết: “Hình ảnh Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”.

3. Một trong những nét độc đáo nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là tính hệ thống đồng bộ. Hệ thống đồng bộ trong những quan hệ tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, chuyển hóa thành nhau của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tức là các chiều cạnh của cuộc sống xã hội. Đây chính là khái niệm mới về nền văn minh.

Hồ Chí Minh không bị đẩy lệch về kinh tế, không rơi vào “kinh tế luận”, cũng không bị đẩy lệch về chính trị để rơi vào cái vũng bùn của quan điểm “chính trị là thống soái” từng gây nên bao thảm họa.

Hồ Chí Minh càng không lệch về quân sự, để rơi vào sự sùng bái bạo lực, “chính quyền ra đời từ đầu ngọn súng”, đấu tranh giai cấp, “một mất một còn” trong cuộc chiến “ai thắng ai”, cội nguồn của bao tai họa mà di lụy của nó vẫn chưa gột sạch, có lúc lại trở thành cách đánh lạc hướng những đòi hỏi về dân chủ, dân quyền và dân sinh rất thiết thực trong đời sống của người dân.

Không bị rơi vào những sai lầm, lệch lạc đó, vì Hồ Chí Minh có nhận thức sâu sằc về tính hệ thống đồng bộ xã hội, và trong tổng thể xã hội ấy, một quan niệm về xã hội mới mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng. Trong ấy, Hồ Chí Minh đặt con người ở vị trí trung tâm. Đó là nét đặc sắc nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh. Mà như thế có nghĩa là đặc biệt coi trọng về văn hóa, vì nói đến con người chính là nói đến văn hóa.

Ảnh tư liệu

Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để nâng cao trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Không coi nhẹ kinh tế, không coi nhẹ chính trị, nhưng đặc biệt coi trọng văn hóa. Cố nâng đời sống kinh tế lên cho từng người, từng nhóm người, đặc biệt cho nhóm người đang có mức sống quá thấp, để trên cái nền của đời sống vật chất được nâng cao dần lên đó, mà có điều kiện đem lại hạnh phúc cho con người. Vì vậy, văn hóa là nhân tố đặc biệt quan trọng. Văn hóa bao gồm trí tuệ, tình cảm, phẩm chất, đạo đức, tóm lại là “cuộc sống người của con người”.

Với đặc sắc tư tưởng nổi bật như vậy, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường xây dựng xã hội mới của Việt Nam, cũng có thể có giá trị đối với các nước đang phát triển. Thấy khoa học, thấy công nghệ, thấy kinh tế, thấy lý trí và trí tuệ, nhưng những cái đó không phải cái đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh.

Chỗ đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh là nhận thức sâu sắc về tổng thể con người, về văn hóa. Tổng thế và văn hóa, tức là con người. Đó chính là tầm nhìn và cách tư duy để tìm kiếm con đường hiện đại, có thể rút ngắn đoạn đường, đi tắt để phát triển.

Quán triệt điểm đặc sắc ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, thì về kinh tế sẽ tránh rơi vào nền kinh tế thị trường hoang dã, chộp giựt. Mà là, làm kinh tế, làm chính trị là để nhằm tôn vinh dân chủ, tức là người dân và con người. Nếu làm kinh tế thị trường đơn thuần về chính trị với hàm nghĩa những mưu lược, thì mục tiêu dù đạt được cũng dễ làm mất văn hóa, dễ “nuốt trôi” mất văn hóa.

Ngược lại, xuất phát từ văn hóa, tức là từ con người thì sẽ nâng cao kinh tế và chính trị lên với những nội dung văn hóa được đưa vào. Nếu hiểu sâu sắc đặc điểm nổi trội ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ giúp hình thành một hệ thống giá trị chân chính của xã hội mới.

4. Từ nét đặc điểm nổi trội ấy mà nhận ra tinh thần đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại doàn kết để xây dựng xã hội mới. Mãi mãi đại đoàn kết dân tộc. Đây là điểm độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng của C.Mác, Ph Angghen, V.I Lênin không tìm thấy điều này, hoặc nếu có đôi điều nói thoáng qua, chứ không tập trung, nổi bật như của Hồ Chí Minh.

Qua quá trình tiến lên của cách mạng, mục tiêu, động lực và lực lượng không hề có sự sắp xếp loại bỏ, thay đổi, chỉ có sự nâng cao về chất mà không bớt đi về lượng, về số tầng lớp, số người tham gia.

Nghĩa là, với Hồ Chí Minh, không có chuyện một bộ phận nào đó của nhân dân, một tầng lớp xã hội nào đó nửa chừng đứt gánh, không thể cùng chung con đường mình đang đi. Không có chuyện ai đó, tầng lớp nào đó chỉ là “bạn đường một đoạn” trong cả chặng đường dài, vì họ không còn đủ điều kiện theo đến cùng nên phải thải loại ra.

Nếu xem xét thất kỹ sẽ thấy rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có luận điểm về sắp xếp lực lượng cách mạng trong từng giai đoạn, bố trí chiến lược, chiến thuật về lực lượng: lực lượng chủ lực, lực lượng đồng minh gần tức là đồng minh chiến lược, rồi đồng minh xa, tức là đồng minh chiến thuật, lực lượng trung lập lâu dài hoặc trung lập từng lúc một như trong những chỉ dẫn của C.Mác, Ph Angghen, V.I Lênin.

Ảnh tư liệu

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có thể có những thay đổi về mục tiêu cụ thể, thay đổi về nhiệm vụ, chủ trương và phương pháp nhưng không có sự thay đổi về lực lượng cách mạng. Trong học thuyết và tư tưởng của C.Mác, Ph Angghen, V.I Lênin có khái niệm “bạn đường một đoạn”, còn trong Hồ Chí Minh không hề có điều ấy.

Cũng đã có một số người vì những lý do nào đó không thể đi theo Hồ Chí Minh, trong đó có người rất đau lòng, nuối tiếc vì hoàn cảnh bắt buộc và rồi sau đó họ quay trở lại với Hồ Chí Minh. Cũng có thể nói, chỉ có ai đó đã bỏ Hồ Chí Minh, chứ Hồ Chí Minh thì không bỏ một ai.

Ai đó tự loại trừ chính mình, chứ Hồ Chí Minh không loại trừ ai. Phải lưu ý nhấn mạnh điều này vì, cũng đã có người nhân danh cách mạng đã làm hoen ố sự chân thành, thủy chung như nhất của Hồ Chí Minh với khối đại đoàn kết dân tộc.

Bằng những thủ đoạn bè phái, hẹp hòi, họ đã làm tổn thương đến niềm tin của dân đối với tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đã làm vấy bẩn hình ảnh Hồ Chí Minh trong sự tin yêu và thân thiết với tấm lòng rộng mở và chân thành của Hồ Chí Minh, làm cho những người trung thực giảm lòng tin vào Hồ Chí Minh. Những hẹp hòi, thiển cận, thủ đoạn của họ đã gây nên những tổn thất cho sự nghiệp mà Hồ Chí Minh suốt đời đeo đuổi.

5. Hồ Chí Minh thấy và rất coi trọng cá nhân trong cộng đồng dân tộc. Điều này do nhiều nhân tố tạo thành chứ không phải chỉ là do tiếp thu được từ học thuyết của C.Mác.

Nếu có tiếp thu thì là tiếp thu cái cốt lõi có giá trị nhất của học thuyết ấy bằng truyền thống về nhân văn sâu xa từ triết lý cổ đại thời Hy-La, rồi hiện đại dần lên đến thời cổ điển, phục hưng, khai sáng cho đến thời hiện đại của phương Tây.

Có thể nói, truyền thống nhân văn ấy là phần rất nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi đặc biệt coi trọng cá nhân con người, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chừng mực nào đó, là rộng hơn C.Mác. Điều này gắn liền với giá trị tinh thần Việt Nam trong truyền thống văn hóa phương Đông đối với con người.

Điểm nổi bật nhất của giá trị đó chính là biểu hiện xuyên suốt trong cuộc đời, trong sự nghiệp và trong tư tưởng bản chất người, bản chất dân tộc của Hồ Chí Minh. Có được điều ấy vì Hồ Chí Minh phải sống và hoạt động trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn.

Những đốm lửa cách mạng được nhen nhóm từ trong điều kiện rất hiểm nghèo, khắc nghiệt của chế độ thuộc địa Pháp ở Việt Nam, phải chắt chiu, trân trọng gìn giữ và phát huy từng cá nhân con người, phải coi trọng từng cá nhân con người mới có thể thổi bùng lên ngọn lửa của Cách mạng Tháng Tám và ngọn lửa của các cuộc kháng chiến trường kỳ trong thế kỷ XX.

Hồ Chí Minh nâng niu trân trọng con người, từng cá nhân con người, nhẫn nại thức tỉnh, giác ngộ, đào tạo từng người, không nề hà công sức, không quản ngại khó khăn, năng nhặt chặt bị, từng ly từng tí một góp gió thành bão.

Ảnh tư liệu

Khởi đầu từ cái cụ thể tưởng như nhỏ nhặt không đáng kể để rồi trở thành một công trình vĩ đại mang ý nghĩa thời đại, ý nghĩa lịch sử. Đi khắp năm châu bốn biển, ôm ấp một hoài bão lớn lao về giải phóng dân tộc mình, góp phần giải phóng loài người, nhưng khi trở về lại mảnh đất của quê hương, đất nước thì lại có thể kiên trì giúp đỡ, dìu dắt, giác ngộ cho một đồng bào của mình ở miền núi, từ việc nhẫn nại dạy chữ, giảng giải về hoạt động cách mạng để người đó có thể trực tiếp tham gia rồi dần dần trở thành người cán bộ cách mạng.

Không chỉ là cá biệt một người, mà nhiều trường hợp với nhiều người khác cũng đã được Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, giúp đỡ mà trưởng thành.

Biết đánh giá, sử dụng và phát huy từng người cả đức và tài của họ. Trong rất nhiều trường hợp, nhất là trong những trường hợp có ý nghĩa lịch sử, thiên tài của Hồ Chí Minh thể hiện ra ở đây là chọn rất đúng và rất trúng người đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ lịch sử ấy.

Tôn trọng, chăm lo, tạo điều kiện làm nảy nở và tạo dựng nên nhân cách của từng người, Hồ Chí Minh hiểu rõ thế nào là nhân cách, rất dễ dàng cảm thông, trân trọng nhân cách và cá tính của con người.

Nếu nhớ lại rằng, do điều kiện đặc biệt của người chiến sĩ cách mạng luôn luôn phải đối phó với hoàn cảnh khắc nghiệt bởi tính chất của công việc và mạng lưới bủa vây, truy lùng của kẻ thù, Hồ Chí Minh không có gia đình, không có được môi trường sống bình thường của một con người trong tình cảm, nghĩa vụ và ứng xử hàng ngày với ông bà, cha mẹ, vợ con, anh chị em…

Hiểu như vậy mới thấy hết được cái lớn của tấm lòng cảm thông và cung cách ứng xử hàng ngày của Hồ Chí Minh với mọi người, với từng người .

Hồ Chí Minh thực hiện một cách mẫu mực và chân thật sự bình đẳng của các cá nhân, không hề cường điệu, phân biệt giữa người bình thường với người giữ trọng trách, người ở cương vị cao chót vót. Hồ Chí Minh thường xuyên hỏi ý kiến các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước song cũng đồng thời sẵn sàng và thành thật hỏi ý kiến những đồng chí cấp dưỡng, lái xe, bảo vệ mình gặp hàng ngày.

Người ta kể lại rằng, có lần Hồ Chí Minh không chấp nhận ý kiến của một Ủy viên Bộ Chính trị, nhưng lại lắng nghe và chấp nhận ý kiến của một người cấp dưỡng. Bằng cuộc sống đầy bản sắc của riêng mình, Hồ Chí Minh biết và hiểu được theo chiều sâu bản sắc của từng người, từng hạng người để tôn trọng và giúp trau dồi bản sắc ấy ở mỗi người.

Hồ Chí Minh đều rất tôn trọng cả hai mặt: một mặt là cải tạo hoàn cảnh bên ngoài trở nên hoàn cảnh có tính người như C.Mác nói, để qua đó, cải tạo con người và làm nên được bản sắc của con người mới. Đồng thời đi vào chiều sâu bên trong của từng con người hàm chứa tâm linh dân tộc, tâm linh tôn giáo, tính chất trí thức, đặc điểm thế hệ, tâm lý cá nhân, những khát vọng, những nét bản sắc của từng cá nhân ấy.

  • Tương Lai

Kỳ 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh là chân thực (Phương pháp luận nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh)

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Hiểu kỹ Hồ Chí Minh hãy nói đến tư tưởng của Người

(TuanVietnam)- “Hiếm có lãnh tụ cách mạng nào có điều kiện tắm mình trong những suy tư và khát vọng rộng lớn của con người như Hồ Chí Minh”- GS Tương Lai.

Đối với một con người, 40 năm đã là một nửa đường đời, nhưng  với một dân tộc thì bốn thập kỷ chỉ là khoảnh khắc. Nhân kỷ niệm lần thứ 40 thực hiện Di Chúc của Bác Hồ, GS Tương Lai mạnh dạn gợi lên đôi điều suy nghĩ: làm thế nào nghiên cứu để hiểu thật sâu sắc, để thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuần Việt Nam xin giới thiệu loạt bài 4 kỳ của ông.

Cách đây cả ngàn năm, thiền sư Vạn Hạnh đã ví chuyện thịnh suy nối tiếp nhau chỉ như thời gian hạt sương treo trên đầu ngọn cỏ [thịnh suy như lộ thảo đầu phố!

Tuy vậy, khoảnh khắc lịch sử của bốn thập kỷ qua với dân tộc ta quả là thời đoạn của những biến động dữ dội trong đời sống đất nước ở vào thời đại của những đổi thay mà những bộ óc cho dù là thiên tài cũng không sao lường trước được.

Người ta nhận ra rằng, dường như con đường cũ dừng ở đây. Thế giới đã thay đổi, và kiểu tư duy tuyến tính không còn thích hợp vớí một thế giới phi tuyến tính… những ai chần chừ, tin rằng tương lai sẽ là sự tiếp tục đơn giản của quá khứ, sẽ sớm thấy mình bị hụt hẫng trước sự thay đổi.

Và rồi thời gian đúng là viên quan tòa công minh phán xét những thành bại của một sự nghiệp, những hay dở của một đời người, những đúng sai của một tư tưởng. Độ lùi của bốn thập kỷ chắc cũng đủ để cảm nhận được việc nghiên cứu để hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh quả là một việc có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.

Nó giúp soi tỏ thực trạng của đời sống đất nước dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu một cách trung thực đối với những gì mà Hồ Chí Minh trọn đời ấp ủ, để khi ra đi còn thiết tha dặn lại về “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không đơn thuần chỉ là sự vận dụng một cách sáng tạo những tư tưởng lý luận của “học thuyết C.Mác” vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu những phần tinh tuý nhất của học thuyết khoa học và cách mạng đó. Là một nhà cách mạng chuyên nghiệp đã bôn ba khăp năm châu bốn biển, Hồ Chí Minh đã hấp thu vào mình trí tuệ, văn hoá của cả loài người, vì thế, Bác Hồ được thế giới nói đến như là một danh nhân văn hoá.

Có được điều đó, trước hết là do Hồ Chí Minh am hiểu sâu sắc về dân tộc mình, thấm nhuần lịch sử và văn hoá của dân tộc. Nhờ nắm vững cái cốt lõi phương pháp biện chứng của học thuyết C.Mác gắn với tư duy thực tiễn của người cách mạng Việt Nam gắn bó máu thịt với dân tộc mình, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp hài hoà đó.

Con người mà cuộc đời và sự nghiệp gắn liền những sự kiện lịch sử Việt Nam với những biến động lớn của thế giới trong một thời đoạn lịch sử đặc biệt với những đột phá thật bất ngờ.

Ảnh tư liệu

1. Nguyễn Ái Quốc, đến với học thuyết của C.Mác và Ph. Angghen, đến với tư tưởng của V.I Lênin, từ thân phận của một người mất nước, một người dân thuộc địa, một người được hấp thu nền học vấn và triết lý phương Đông, rồi được bổ sung văn hóa và triết lý phương Tây, trước hết là văn hóa Pháp.

Con người ấy, so với C.Mác, Ph Angghen và V. I Lênin, thì trải nhiều oan nghiệt, cay đắng về thân phận cá nhân hơn nhiều. Từ thân phận của một người mất nước, Nguyễn Ái Quốc trở thành một người yêu nước như chính cái tên Ái Quốc mà người thanh niên phải rời đất nước để tìm đường cứu nước.

Từ thân phận ấy, Hồ Chí Minh dễ có sự thông cảm sâu sắc hơn và mãnh liệt hơn với người dân thuộc địa nói riêng và những người lao động nghèo khổ, những dân tộc đang bị nô lệ, bị giày xéo phải gánh chịu áp bức, bất công trên thế giới nói chung. Sự cảm thông ấy không chỉ dừng lại ở thân phận cá nhân để nhìn ngắm và suy đoán về thế giới, mà đã vượt khỏi chính mình để có được cái tầm cao của người chiến sĩ cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Chính với cái tầm ấy mà người cứu nước Hồ Chí Minh trở thành người chiến sĩ cách mạng quốc tế. Hồ Chí Minh phải trở thành người chiến sĩ cách mạng quốc tế thì mới thực hiện được sự nghiệp cứu nước. Từ bước khởi đầu sự nghiệp cho đến khi từ biệt thế giới này, mục tiêu nhất quán của con người yêu nước Hồ Chí Minh là cứu nước, là giải phóng dân tộc.

2. Là con người sống ở gần ba phần tư đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh có điều kiện để thấy và hiểu được sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa với phong trào giải phóng dân tộc làm thay đổi cục diện thế giới từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, tạo ra một phản ứng dây chuyền, đánh sụp chủ nghĩa thực dân cũ, xuất hiện chủ nghĩa thực dân mới.

Ba phần tư thế kỷ này chất chứa bao nhiêu sự biến, tác động mạnh đến số phận của nhiều dân tộc trên hành tinh này.

Tuy nhiên, cũng như C.Mác, Ph Angghen và V.I Lênin, Hồ Chí Minh không thấy được những biến động dữ dội về đời sống chính trị làm thay đổi diện mạo của thế giới mà sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng với những bước tiến như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ của một phần tư cuối thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI, những sự biến nổi bật nhất. Đặc biệt khoa học và công nghệ, một phần tư thế kỷ này có những bước tiến lớn hơn rất nhiều những thế kỷ trước gộp lại.

Ảnh tư liệu

Chứng kiến những biến động ấy khiến cho tầm mắt không ít người đươc mở rộng hơn nhờ vào “sự xé toang một tấm màn bưng bít, sự hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ một số huyền thoại, sự phá sản nhiều giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới, không phải về lý tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn”.

Do được sống giữa trung tâm của những cơn bão táp cách mạng và cũng là trung tâm của văn hóa, văn minh loài người, đôi mắt của Nguyễn Ái Quốc được mở rộng, tầm nhìn của “người yêu nước” ấy vượt xa hơn, cao hơn những đồng chí và đồng bào của mình, vì vậy Nguyễn Ái Quốc đã trở thành Hồ Chí Minh.

3. Hồ Chí Minh đã từng là người đứng ở vị trí quyền lực cao nhất của Đảng và Nhà nước của một nước Việt Nam đã giành được độc lập, tự do trong 24 năm, từ tháng 8.1945 đến tháng 9.1969, sau cũng ngần ấy năm đã từng là lãnh tụ của Đảng, của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trước 1945.

So với V.I Lênin chỉ có 7 năm lãnh đạo Nhà nước Xô Viết (1917-1924), Hồ Chí Minh có hơn gấp ba thời gian ở cương vị Chủ tịch nước.

Với 24 năm là lãnh tụ của một Đảng cầm quyền, là Chủ tịch Nước, đứng ở đỉnh cao quyền lực, song Hồ Chí Minh trước sau vẫn thủy chung như nhất là người lãnh tụ của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, chiếm trọn trái tim của nhân dân, xứng đáng với lời ghi nhận của nhân dân và của Đảng:“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

C.Mác, Ph. Angghen và V.I Lênin, học vấn của Hồ Chí Minh không bằng, bù vào đấy là sự thâm nhập vào cuộc sống, lăn lộn nhiều hơn, đi nhiều hơn, thấy nhiều hơn, đến được nhiều chân trời hơn, sống với nỗi khổ đau của con người nhiều hơn. Những con người ở nhiều đất nước, nhiều châu lục, nhiều màu da, nhiều tiếng nói, nhất là tiếng nói của những người cùng khổ.

Quả là hiếm có lãnh tụ cách mạng nào có điều kiện tắm mình trong những quằn quại suy tư, những khát vọng rộng lớn của con người đến như vậy. Hồ Chí Minh, vì thế, là người chiến sĩ cách mạng có những rung động thơ, những rung động của một nhà thơ. Nhà thơ trong nhà cách mạng Hồ Chí Minh.

Ảnh tư liệu

Để có được một số bài thơ hay mà không phải nhà cách mạng nào cũng có được: “Trong tâm hồn Hồ Chí Minh luôn luôn phảng phất có thơ” (Phạm Văn Đồng). Đấy là một nét độc đáo trong nhân cách Hồ Chí Minh. Điều này khiến cho Hồ Chí Minh biết cảm nhận và rung động mãnh liệt, sâu lắng với con người trong sự sống đa dạng và phức tạp của nó.

Câu thơ hay nhất cũng là câu thơ nói đến khát vọng tự do: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do”. Mà nói đến tự do của con người, con người thơ Hồ Chí Minh đặt vấn đề ở tầm triết lý sâu thẳm về thân phận con người trong cuộc đấu tranh vì tự do: “Nghĩ việc trên đời kỳ lạ thật, Cùm chân sau trước cũng tranh nhau; Được cùm chân mới yên bề ngủ, Không được cùm chân biết ngủ đâu?”.

5. Bắt đầu sự nghiệp của mình với việc đi tìm con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đến với “những người cùng khổ” để hiểu rõ thêm, sâu thêm về con người, về quyền của con người. Từ người mất nước, sục sôi trong huyết quản dòng máu của người yêu nước, thành người cách mạng, người chiến sĩ quốc tế, Nguyễn Ái Quốc trở thành Hồ Chí Minh, lãnh tụ của dân tộc trong thế kỷ XX, để rồi khi ra đi thì lời dặn lại thiết tha nhất cũng là đối với con người: “Đầu tiên là công việc đối với con người”!

Có thể nói, sức lay động mãnh liệt nhất trong tình cảm Hồ Chí Minh, chiếm lĩnh vị trí trung tâm trong tư tưởng Hồ Chí Minh là con người, là “công việc đối với con người”.Công việc ấy bao trùm lên toàn bộ sự nghiệp của Hồ Chí Minh và cũng là công việc quan trọng nhất của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, Đảng của Hồ Chí Minh. Sự nghiệp ấy là một “cuộc chiến đấu khổng lồ… chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi”.

Hồ Chí Minh có một ham muốn, và “ham muốn đến tột bậc” ấy cũng dành cho con người, cho hạnh phúc của con người. Một khi điều đó chưa được thực hiện trọn vẹn, trái tim của Hồ Chí Minh vẫn chưa yên: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nổi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Câu này nói với phóng viên báo Granma ngày 14.7 1969, năm mươi ngày trước khi Bác ra đi.

Liệu đến bao giờ “Sẽ đến thời khắp bốn phương tử tế. Cuối con đường có lẽ gặp con người” (Việt Phương)?

  • Tương Lai

Kỳ 2: Tầm vóc Hồ Chí Minh

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Học Bác về thái độ trước cái xấu

Không chỉ kiên quyết trước cái xấu, Bác Hồ còn căn dặn “không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên cho mình”.

1. “Diệt sâu mới cứu được cây”

Một buổi chiều giữa tháng 6 ba năm trước, tại Hội trường Ba Đình, bộ trưởng Bộ Công an đã phải lúng túng trước những câu hỏi của Quốc hội về lý do tại sao không điều tra vụ Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Lâm quên va ly chứa nhiều phong bì tiền ở sân bay, tại sao “tha” một số quan chức Tổng Công ty Dầu khí vì lý do tuổi tác trong vụ cảng Thị Vải,… Chủ tịch Quốc hội (khi đó là ông Nguyễn Văn An) nói thẳng: “Bộ Công an thì có quyền đề nghị viện kiểm sát và các cơ quan hữu quan (không xử lý quan chức dầu khí vì tuổi cao – PV) nhưng quyền ấy phải theo pháp luật. Nếu quyền mà không đúng pháp luật thì sẽ mất lòng tin. Không phải có quyền thì ta muốn làm gì cũng được. Cho nên nếu theo luật hình sự… “tuổi cao, về hưu, có sự cống hiến cho ngành” đấy là yếu tố giảm nhẹ chứ không (là yếu tố – PV) loại trừ”.

Hơn 60 năm trước, Bác Hồ đã dự liệu về những chuyện như thế. Trong thư gửi những người dự Hội nghị Tư pháp toàn quốc (tháng 2-1948), Bác căn dặn: “Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương phụng công, thủ pháp, chí công vô tư cho nhân dân noi theo”.

Hai năm sau (1950), đại tá Trần Dụ Châu – Cục trưởng Cục Quân nhu bị phát hiện lợi dụng chức quyền tham ô ăn chơi, bị kết án tử hình. Trước ngày thi hành án, Trần Dụ Châu gửi đơn lên Bác xin được khoan hồng. Phút cuối, ông Trần Đăng Ninh đến gặp Bác Hồ xin ý kiến, Bác chỉ cho xem một cây xoan héo lá, úa ngọn và hỏi lý do tại sao cây sắp chết. Ông Ninh trả lời: “Dạ, vì thân cây bị sâu đục một lỗ rất to, chảy hết nhựa!”. “Thế theo chú muốn cứu cây thì phải làm gì?”. “Dạ, phải bắt và giết hết những con sâu ấy đi ạ”. Bác gật đầu: “Chú nói đúng đấy, với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng vậy. Nếu phải giết đi một con mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa là nhân đạo”.

Sau một đêm trắng, Hồ Chủ tịch ký bác đơn của Trần Dụ Châu và bản án được thi hành.

2. Tôn trọng lợi ích của dân

Dư luận TP Hải Phòng những ngày này đang hết sức nóng bỏng vì phiên tòa phúc thẩm vụ “ăn” đất ở Quán Nam sắp diễn ra. Nóng bỏng vì có đến ngót 1.000 lô đất công được chia chác trái phép cho ít nhất 420 cán bộ các ngành của TP, bất chấp nhiều đối tượng chính sách xã hội đang thiếu chỗ ở, bất chấp việc nhiều cán bộ được đất đã có nhà cao cửa rộng. Trước đó, vụ chia chác đất công ở Đồ Sơn (cũng ở Hải Phòng) đã gây phẫn nộ trong dư luận. Cả nước quan tâm chỉ vì sự chia chác đặc quyền, đặc lợi này diễn ra công khai, bằng giấy trắng mực đen và văn bản nghị quyết… Trong những vụ này, quyền lợi chính đáng của người dân đã bị một số cán bộ công quyền bỏ qua.

Còn nhớ khi điều hành nhà nước cách mạng non trẻ, Bác đã rất quan tâm giáo dục cán bộ về chuyện này. Cuối năm 1954, Chính phủ có chủ trương thu hồi tiền của cách mạng phát hành trước đây để đổi lại cho nhân dân tiền Đông Dương ngân hàng. Tháng 2-1955, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh từ miền Nam ra gặp Bác báo cáo kết quả, trong đó có chuyện (so với số tiền đã phát hành thì) thu về còn thiếu khoảng 600 ngàn đồng. Bác nghiêm giọng: “Vậy là chú đã “quỵt” của bà con Nam bộ 600 ngàn đồng. Chú đã phạm đến quyền lợi của nhân dân”. Luật sư vội giải thích: Đồng bào Nam bộ không chịu đổi lại vì trên giấy bạc Việt Nam có in ảnh Bác. Bà con giữ lại để biểu thị quyết tâm theo Bác đến cùng”.

Nghe vậy, Bác rất xúc động nhưng vẫn dặn dò: “Mỗi việc làm của các chú, bất cứ việc gì đều phải quan tâm đến quyền lợi chính đáng của nhân dân chứ không được hứa suông. Bất luận việc gì đã hứa với dân là phải tìm cách làm cho được, không làm được phải xin lỗi dân. Chính quyền ta của dân, vì dân thì phải như vậy”.

3. Không bắt luật pháp phải ưu tiên

Ba năm trước, người đứng đầu cơ quan chống tham nhũng của Chính phủ là ông Quách Lê Thanh cũng đã hết sức lúng túng khi phải trả lời tại sao không giao nộp và báo cơ quan điều tra khi cấp dưới (vụ phó Vụ II Thanh tra Chính phủ Lương Cao Khải) ba lần đến nhà đưa hàng trăm triệu đồng tiền hối lộ. Tổng Thanh tra Quách Lê Thanh trả lời đã báo cáo Đảng nhưng đại biểu Quốc hội tỏ thái độ không đồng ý. Chủ tịch Quốc hội đã “phải nói thêm” là “Đảng lãnh đạo, nên có yêu cầu báo cáo trong nội bộ Đảng. Nhưng báo cáo với Đảng không có nghĩa là không báo cáo với Chính phủ, với Quốc hội. Thủ trưởng cơ quan hành chính phải làm đúng theo luật pháp, tuân thủ các quy định của nhà nước”.

Còn với Bác, tuân thủ luật pháp là đức tính nổi bật ngay từ ngày đầu quản lý đất nước. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên năm 1946, tại Hà Nội nơi Bác ứng cử có 118 chủ tịch UBND và đại biểu các giới, làng xã ra một bản đề nghị: “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi suy tôn và ủng hộ vĩnh viễn cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Nhiều nơi trong cả nước cũng đề nghị Bác không cần ra ứng cử và đồng thanh nhất trí cử Bác vào Quốc hội. Thế nhưng Bác đã viết một bức thư ngắn: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nên tôi không thể vượt qua khỏi thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa…”.

Trong đời sống, sự tôn trọng kỷ cương được Bác thực hành hàng ngày. Có lần Bác đến một ngôi chùa cổ, vị sư trụ trì ra đón và khẩn khoản xin Bác đừng cởi dép khi vào trong chùa. Bác không đồng ý và lặng lẽ làm đúng quy định như khách thập phương đến lễ chùa. Trên đường về thành phố, xe Bác đến một ngã tư thì vừa lúc đèn tín hiệu đỏ bật sáng. Sợ phố đông, xe dừng lâu, đồng chí bảo vệ định chạy lại đề nghị công an giao thông bật đèn xanh để Bác đi. Bác hiểu ý ngăn lại: “Các chú không được làm như thế, phải tôn trọng và gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông. Không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên riêng cho mình”.

***

Tháng 7-1969, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về việc tổ chức bốn ngày lễ lớn của năm sau: ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin và ngày sinh của Bác. Báo Nhân Dân đăng nghị quyết này, Bác đọc liền cho mời mọi người đến: “Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu học sinh đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về ngày sinh của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”. Và tại kỳ họp 6 Quốc hội khóa II, khi chuẩn bị sinh nhật Bác, các đại biểu nhất trí đề nghị Quốc hội trao tặng Bác Huân chương Sao Vàng. Bác rất cảm động nhưng nhất quyết từ chối vì tự xét mình chưa có công huân xứng đáng.

Hiện nay toàn Đảng đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. GS-TS Hoàng Chí Bảo, thường trực Hội đồng lý luận Trung ương, tâm sự với người viết: “Cuộc vận động lần này phải gắn với những điều cuộc sống hôm nay đang đòi hỏi. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang thoái hóa, biến chất, thậm chí phạm tội. Chuyện tham nhũng nhà đất, trù úm dân chúng, lợi dụng chức quyền mưu lợi cá nhân… là rất xa lạ với đạo đức Hồ Chí Minh. Cho nên muốn gây dựng được niềm tin trong dân chúng thì trước hết phải kiên quyết xử lý những hành vi tiêu cực, hư hỏng thoái hóa ngay từ trong Đảng”.

Theo GS Bảo, cách hành động thiết thực là yêu cầu cán bộ, đảng viên “lời nói đi đôi với việc làm” như tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

PHAN LỢI – Báo Pháp Luật TP.HCM
(Theo TTO)

doanthanhnienluat.com

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về củng cố Nhà nước pháp quyền thời kỳ đầu cách mạng

QĐND Online- Với thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung và lịch sử Nhà nước Việt Nam nói riêng bước sang trang mới, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập. Với bao nỗi lo toan của người đứng đầu một nhà nước mới được thiết lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Trung ương Đảng bắt tay vào đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng mô hình một Nhà nước cộng hòa non trẻ. Mô hình đó như thế nào? Đó thực sự là một quá trình trăn trở, tìm tòi, vừa học, vừa làm, vừa bổ sung ngày một thêm hoàn chỉnh, Mối quan tâm đầu tiên của Chủ tịch Chính phủ lâm thời là phải củng cố nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân, quản lý Nhà nước phải bằng pháp luật. Nhà nước phải có luật pháp mới có đủ uy tín, quyền lực để bảo đảm và bảo vệ độc lập dân tộc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, văn minh thực sự. Do đó, ngoài những công việc lãnh đạo đất nước với trăm công ngàn việc, Chủ tịch  Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm củng cố xây dựng hệ thống pháp luật.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại

Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, từ rất sớm đã chứa đựng tư tưởng pháp luật cách mạng và tiến bộ. Trong bài ca về 8 yêu sách mà Nguyễn Ái Quốc gửi cho các nước đồng minh họp Hội nghị Vécxây đầu năm 1919 có hai câu:

“ Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.

Trong phiên họp đầu tiên của Chỉnh phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”.  Tháng 11 năm 1946, chỉ một thời gian rất ngắn sau ngày Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, cuộc Tổng tuyển cử đã thành công tốt đẹp. Thắng lợi đó là một minh chứng hùng hồn nói lên cơ sở pháp lý vững chắc của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Sau đó, bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua. Sự kiện này đặt nền móng cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Qua mỗi bước ngoặt lịch sử, Nhà nước ta đều có Hiến pháp và một hệ thống pháp luật ngày càng đầy đủ hơn và hoàn thiện hơn.

Thời kỷ đầu của Chính phủ lâm thời, điều kiện chưa tổ chức được cơ quan lập pháp, Bác Hồ trên cương vị Chủ tịch Chính phủ lâm thời đã ký một loạt các sắc lệnh cấp bách làm cơ sở pháp lý quản lý đất nước. Điều đặc biệt, trước khi có Hiếp pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh giữ lại mọi luật lệ của chế độ cũ trừ những điều luật trái với nền độc lập, tự do. Theo quan niệm của Người: Một xã hội không thể hoạt động không có pháp luật. Từ ngày 1- 9-1945 đến ngày 30- 5- 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban bố 90 sắc lệnh liên quan đến mọi mặt của xã hội, trong đó gần một nửa là những sắc lệnh củng cố hệ thống pháp luật Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Từ việc ra sắc lệnh ban bố Hiến pháp mới, Tổng tuyển cử đến việc tổ chức các cơ quan pháp luật như: Lập các tòa án, tổ chức đoàn luật sư, ban hành các luật… sự ra đời của các sắc lệnh này nhằm xóa bộ máy chính quyền quan lại, quan liêu cũ, thay bằng một hệ thống quản lý nhà nước kiểu mới, thay đổi luật pháp thực dân, luật pháp nô lệ phụ thuộc kiểu thuộc địa phong kiến bằng luật pháp dân chủ nhân dân.

Đặc biệt trước ngày đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 1- 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 3 về Tiết quân luật tại Hà Nội. Điều đó cho thấy sự quan tâm của Người đối với việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật. Tiếp đó, những sắc lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thời kỳ đầu Chính phủ lâm thời trong điều kiện chưa tổ chức được cơ quan lập pháp, những sắc lệnh của Người có giá trị pháp lệnh Nhà nước. Sắc lệnh ra đời được nhân dân hết lòng ủng hộ vì trước hết nó phục vụ cho quyền lợi của quảng đại quần chúng nhân dân, phục vụ cho lợi ích của dân tộc, quốc gia, phản ánh mọi nguyện vọng dân chủ trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục… được nhân dân tin tưởng và bảo vệ. Sắc lệnh số 34 về việc thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp; Sắc lệnh số 39 về việc thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 13 ấn định cách tổ chức của Tòa án; Sắc lệnh số 46 về tổ chức Đoàn Luật sư; Sắc lệnh số 53 quyết định Quốc tịch Việt Nam… Những sắc lệnh của Chính phủ lâm thời ra đời dã góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền móng của chế độ mới.

Ngoài việc ban hành các sắc lệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cao công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật sâu rộng trong cán bộ, nhân dân. Làm sao mọi người có kiến thức pháp luật, tự giác chấp hành pháp luật và tham gia tích cực vào việc giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, của những người có chức có quyền vào việc chống vi phạm pháp luật. Đó là việc lâu dài nhưng đòi hỏi phải làm tốt thì pháp luật sau khi được công bố mới thực hiện tốt được.

Những ngày đầu có chính quyền cách mạng trong thế nước “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những thác gềnh mang theo những thành quả lớn lao làm nền tảng cho một quốc gia đó là một thể chế chính trị được thiết lập vững chắc với việc thành lập các cơ quan lập pháp, tư pháp và hành pháp.

Phí Hồng Vân

qdnd.vn

Bài báo cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tác giả: NGUYỄN QUỐC DŨNG (VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG ÐẢNG)

Dưới bút danh T.L, ngày l-6-1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài viết “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” (1) đăng trên Báo Nhân Dân, số 5526. Ðây là bài báo cuối cùng trong tổng số hơn 1.000 bài báo mà Bác đã viết trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình.

Bài báo có nội dung không dài, trong đó Bác đề cập những thành tích của thiếu niên, nhi đồng hai miền nam, bắc; những vấn đề tồn tại. Và từ đó Người đề ra trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc chăm sóc, giáo dục các em.

Mở đầu bài báo, Bác khẳng định: “Nói chung trẻ con ta rất tốt”. Ðể minh chứng điều này, Bác lấy dẫn chứng về các em bé ở hai miền nam, bắc đã không quản ngại hy sinh, gian khổ để góp sức mình vào sự nghiệp cách mạng của Ðảng. Ðối với các em bé miền nam, hằng ngày, hằng giờ phải đối mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt do kẻ thù gây ra, song không vì thế mà làm chùn bước các em. Bác viết: “Ở miền Nam, các cháu bé rất dũng cảm, đã hăng hái giúp đỡ bộ đội, giúp đỡ gia đình có người kháng chiến, làm giao liên, đánh du kích, v.v. Nhiều cháu mới hơn 10 tuổi đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ”. Ðó là sự khen ngợi mà Bác dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng miền nam- thành đồng của Tổ quốc.

Còn đối với thiếu nhi miền bắc, Bác đã dành những lời khen ngợi thân thiết: “Ở miền Bắc, các cháu đều hăng hái thi đua làm “nghìn việc tốt” như giúp đỡ gia đình bộ đội, trả lại của rơi, gan góc liều mình cứu bạn, v.v. Ở nông thôn thì nhiều nơi các cháu tổ chức giúp các hợp tác xã chăm sóc trâu bò béo khỏe, trồng cây và bảo vệ cây xanh tốt”. Không những thế, “các cháu sơ tán xa gia đình vẫn cố gắng vượt mọi khó khăn, kính thầy yêu bạn, đoàn kết với đồng bào địa phương và thi đua học tập tốt, lao động tốt. Nhiều cháu học giỏi, tất cả các môn đều đạt điểm 5, điểm 10, đã được giải thưởng của Bác Hồ”.

Niềm mong mỏi của Bác năm nào (tháng 9-1945) khi Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (2)  đã được các em gắng công thực hiện bằng những việc làm cụ thể.

Các em bé miền bắc mặc dù không phải đối mặt trực tiếp và thường xuyên với cuộc chiến tranh tàn khốc do đế quốc Mỹ gây ra, song đã nỗ lực để không thua kém các bạn miền nam, hằng ngày đã góp sức với ông bà, cha mẹ, anh chị lao động, sản xuất và học tập. Với những hành động “tuổi nhỏ làm việc nhỏ” rất thiết thực, các em đã được Bác Hồ ghi nhận và biểu dương về những thành tích đó. Bài báo viết: “Hàng trăm cháu có thành tích xuất sắc đã được Bác Hồ thưởng huy hiệu. Hơn hai triệu cháu được bình bầu là Cháu ngoan Bác Hồ”. Ðó quả thực là những đóa hoa tô thắm cho truyền thống yêu nước nồng nàn của các em vào lịch sử của dân tộc. Ðó cũng là kết quả mà Ðảng ta và Bác Hồ đã giáo dục, rèn luyện các em để các em trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh : “Nhân dân ta rất tự hào có nhiều con cháu tiến bộ như thế. Mong các cháu ngày càng cố gắng hơn nữa và tiến bộ hơn nữa”. Bên cạnh những em đã có nhiều cố gắng trong học tập, lao động, sản xuất, Bác cũng chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm đối với một số thiếu niên, nhi đồng khác. Người viết : “Song vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn”.  Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Bác Hồ đã dành nhiều công sức, tâm huyết để đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam. Khi ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, thời điểm mà Người sắp phải từ biệt thế giới này, Người một lần nữa đặt vấn đề chăm sóc và giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng và khẳng định: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà”. Người yêu cầu: “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Ðảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ”.

Sinh thời, Bác từng viết: “Trẻ em như búp trên cành/Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”… Các em thiếu niên, nhi đồng phát triển tốt hay xấu đều do công tác chăm sóc, giáo dục của xã hội mà nên. Do đó, phải chăm sóc và giáo dục các em trở thành những người “vừa hồng, vừa chuyên”, và “phải làm kiên trì”,  “bền bỉ”.

Ðể chăm sóc, giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ đã đặt ra kế hoạch: “Trong thời gian tới và trong dịp hè này, cần phải đẩy mạnh công tác thiếu niên, nhi đồng đạt nhiều kết quả tốt và thiết thực”. Muốn vậy, Bác căn dặn: “Trước hết các gia đình (tức là ông bà, cha mẹ, anh chị) phải làm thật tốt công việc ấy. Các đảng ủy đường phố và hợp tác xã phải phụ trách chỉ đạo thiết thực và thường xuyên. Ủy ban thiếu niên, nhi đồng, Ðoàn thanh niên, ngành giáo dục và các ngành, các đoàn thể cần phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc, giáo dục các cháu càng ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ. Các tỉnh ủy, thành ủy cần phải phụ trách đôn đốc việc này cho có kết quả tốt”.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam

Về điều này, trong Di chúc, Bác đã từng đặt ra nhiệm vụ chăm sóc thế hệ trẻ nước nhà, trong đó có các em thiếu niên, nhi đồng. Bác viết: “Ðảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”; “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(3).Kết thúc bài báo, Bác chỉ rõ: “Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”. Ðây là lời di huấn mà Bác chỉ thị cho toàn Ðảng, toàn xã hội phải có trách nhiệm để thực hiện.

Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ niệm 85 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6) đọc lại bài báo “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta thấy vẫn nóng hổi tính thời sự. Mỗi người chúng ta ở mỗi cương vị công tác hãy thực hiện tốt hơn nữa di huấn của Người về việc chăm sóc và giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng.

—————

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 12, tr 467 – 468.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb  Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 4, tr 33.
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 12, tr 510.

Theo Báo Nhân dân

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và người học trò Võ Văn Kiệt

Lý thuyết là mầu xám, cây đời mãi mãi xanh tươi – một triết lý sâu sắc, đơn giản, trở thành câu thơ nổi tiếng của Goethe trong vở kịch “Faust”, thường được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhắc đi nhắc lại với nhiều người chung quanh mình trong công việc, đến mức trở thành một quan niệm, một phương thức làm việc, và còn hơn thế nữa: một phương thức và một lẽ sống…

Sau này, trong những ngày được giúp cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, tôi có dịp làm “nhân chứng” cho ảnh hưởng lan tỏa của điều nhắc nhủ nêu trên.

Một lần tình cờ tôi hỏi Anh Sáu Dân, nhân lúc đang phải triết lý về cuộc đời:

– Anh Sáu ạ, điều gì khiến anh có ấn tượng sâu sắc như vậy khi anh thường nói với chúng tôi về lời nhắc nhủ của anh Tô (Thủ tướng Phạm Văn Đồng)?

– Chuyện đó quan trọng lắm: Điều nhắc nhủ ấy của Anh Tô khiến tôi hiểu Ông Cụ đầy đủ hơn, dậy tôi cách học Ông Cụ, không như thế thì không thể hiểu được Ông Cụ! – Anh Sáu nói như thế về Bác Hồ với tất cả kính yêu và mến phục của mình.

Ngày tháng vùn vụt trôi đi trong công việc ngập đầu, hầu như không thấy Anh Sáu viện dẫn sách vở hay lý luận ra để giải thích quyết định của mình. Ngay cả trong những công việc rất khó, Anh Sáu không lý luận dài dòng, mà đi thẳng vào tình huống, vào công việc, nói rõ mục đích phải đạt được. Đôi ba lần, gặp phải công việc còn nhiều ý kiến tranh cãi ngang ngửa, nếu cần thúc giục những người chung quanh động não góp ý, tôi thấy Anh Sáu không áp đặt ý kiến của mình, mà thường nhắc đến những quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những giờ phút quyết định vận mệnh đất nước, hoặc trong tình huống hiểm nghèo.

– Không chần chừ được. Thời cơ không chờ đợi! Nếu Bác không quyết nắm lấy thời cơ thì làm sao có Cách Mạng Tháng Tám, làm sao thành công được!.. Cứ suy nghĩ kỹ mà xem… Khó khăn của chúng ta bây giờ ăn nhằm gì!..

– Phải đi nước ngoài thương thuyết trong tình hình đất nước nghìn cân treo sợi tóc, việc quán xuyến cả đất nước Bác trao vào tay cụ Huỳnh Thúc Kháng. Đức độ nào, tầm nhìn và sự từng trải nào khiến Bác dám quyết như vậy?

– Vân… vân…

– …

Anh Sáu không giải thích, không nói nhiều, mà cứ nêu câu hỏi như thế, đòi hỏi mọi người chung quanh phải suy nghĩ, phải noi gương.., để tìm ra giải pháp cho vấn đề đang đặt ra trước mặt!

Bác Hồ… Ảnh tư liệu

Tôi nhớ lại đấy là những lúc Anh yêu cầu chúng tôi tìm mọi lý lẽ và chuẩn bị mọi việc để trình bầy với Bộ Chính trị quyết định những việc hệ trọng: sớm bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Trong bối cảnh lúc bấy giờ, cần nói thẳng thắn là phía ta có “hội chứng Mỹ” rất nặng, rất lo ngại “diễn biến hòa bình”, đầy nghi ngờ sự thao túng của các nước lớn đối với WTO, lo mở cửa nền kinh tế chế độ chính trị của đất nước sẽ bị uy hiếp, vân vân…

Khổ một nỗi hồi ấy lực cản đối với những quyết định hệ trọng như thế rất lớn! Gần như là một lẽ tự nhiên! Kể cả trong hàng ngũ trí thức nữa, chứ không phải chỉ trong những cán bộ chính trị! Hiểu rõ lịch sử vô cùng gian truân đất nước đã trải qua, sẽ hiểu được sự giằng co quyết liệt này để quyết định cho đất nước những bước đi tất yếu như vậy!

Tôi không muốn tôn sùng vai trò cá nhân, nhưng nhìn lại lịch sử thì cần công bằng. Trong sự hiểu biết của mình, tôi dám cả quyết cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, kể cả sau này với tư cách

Cố vấn, thực sự là người tiên phong của những người đi tiên phong trong lựa chọn những quyết định thay đổi hẳn cục diện đất nước như vừa trình bầy trên.

Trong những năm tháng ấy, tâm sự với chúng tôi, Anh Sáu cho biết, Anh luôn luôn nghĩ đến những quyết định và việc làm của Bác, để học tập, để noi gương, để mổ xẻ cặn kẽ tình huống công việc mình đang đối mặt.., nhất là để kiên định quan điểm và sự lựa chọn quyết định của chính mình. Trong những năm tháng giúp anh Sáu, hình như tôi chưa thấy một lần nào có chuyện Anh Sáu nói hay viết “Hồ Chủ tịch nói rằng…”, “Hồ Chủ tịch dạy rằng…” Quả thực đến nay tôi chưa tìm lại được một diễn văn nào của Anh Sáu trong thời gian tôi giúp việc có trích nguyên văn một câu nói nào đó của Bác! Có điều kiện, tôi sẽ xác minh kỹ hơn để khẳng định điều này. Song tôi tin rằng hầu như ở Anh Sáu không có chuyện lý luận hay ngôn từ theo kiểu trích cú tầm chương như vậy mỗi khi nói về Bác Hồ, dù là trong hội nghị, buổi nói chuyện, hay là trong các cuộc họp bàn công việc với những người chung quanh.

Trong những năm tháng làm việc cạnh Anh Sáu, không dưới một lần, anh em chúng tôi hỏi trực tiếp – đương nhiên là để hiểu rõ cái chất “Sáu Dân” của Anh:

– Anh Sáu ạ, sao anh hay làm trái nghị quyết của Đảng thế?

– Thế thì tôi đáng bị kỷ luật nặng rồi!

– Nếu chiểu theo câu chữ của văn bản chính thức thì không oan Anh Sáu ạ.

– Tôi hiểu câu hỏi của các anh…

Mỗi lần trả lời loại câu hỏi này trong các vấn đề khác nhau, chúng tôi hiểu thêm một khía cạnh mới trong suy nghĩ của Anh.

Không biết bao nhiêu lần Anh thường nói với chúng tôi: Không nên và không được tư duy theo cách đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống. Cũng không thể nói “ý Đảng lòng dân” đến mức như là một khuôn sáo… Đúng ra phải nghĩ ngược lại: Đưa cuộc sống vào đường lối chính sách của Đảng, nguyện vọng của dân phải trở thành ý chí của Đảng!.. Tự nhận là con cháu Bác Hồ thì phải làm như thế, học tập Bác thì phải làm như thế…

Anh Sáu hỏi lại chúng tôi nhiều lần: Hãy thử tìm xem, trong Tuyên ngôn Độc lập, rồi đến Hiến pháp 1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, trong nhiều sự việc quan trọng khác, và ngay cả trong Di chúc của Bác nữa, có thấy chỗ nào Bác làm theo cách “đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống” không? Hay là Bác xuất phát từ những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống vạch ra chương trình hành động cho đất nước, cho Đảng?..

Anh Sáu nhấn mạnh: Cái chính là phải trung thành với mục tiêu của cách mạng và không được để lợi ích cá nhân xen vào. Nghĩ được như vậy thì sẽ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm… Nghĩ được như thế, mới có thể hiểu được những quyết định có một không hai của Bác Hồ. Anh giục chúng tôi: Các anh cứ đi sâu tìm hiểu, phân tích những quyết định động trời của Bác thời kỳ cách mạng trứng nước, khi quyết định toàn quốc kháng chiến, khi phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước…[1] Phân tích cho kỹ xem kết luận như vậy có đúng không! Rõ ràng chỉ có Bác mới dám quyết như vậy! Trung thành với sự nghiệp cách mạng mới dám quyết như vậy! Trung thành với “chủ nghĩa” thì không dám và không thể làm như vậy!.. Lần nào cũng thế, Anh Sáu trở nên sôi nổi khác thường khi nói đến những chuyện này.

Chúng tôi hiểu thêm Anh Sáu học Bác như thế nào. Nếu thống kê các việc “làm trái” như thế của Anh Sáu, chắc chắn có thể kết luận: Trong mọi thời kỳ công tác và ở bất kể cương vị gì, Anh Sáu cũng có hàng chuỗi các việc “làm trái” như thế – từ những năm tháng chỉ đạo kháng chiến trong vùng địch hậu, rồi đến cương vị đứng mũi chịu sào Thành phố Hồ Chí Minh vừa mới được giải phóng, Thủ tướng Chính phủ, Cố vấn…

Quả thực, vấn đề không phải là câu chuyện của câu chữ văn bản chỉ thị hay nghị quyết, mà là điều anh Sáu tâm đắc: … Cây đời mãi mãi xanh tươi…

Khi nói đến Bác Hồ, hầu như trong hoàn cảnh nào cũng vậy, Anh Sáu trước hết nói về tinh thần, về ý nghĩa, việc Bác làm, về cách xử sự tình huống của Bác, về cách Bác giải quyết vấn đề…, trước hết là về lòng trung thành vô hạn với lợi ích dân tộc, là ý chí và sự mẫn tiệp của

Bác trong sứ mệnh chèo lái con thuyền quốc gia, trong nhiệm vụ là biểu tượng tinh thần của dân tộc, trong cương vị là lãnh tụ sáng lập và rèn luyện Đảng…

Qua những mẩu chuyện cũ anh kể lại khi sống trong vùng địch hậu, cả những lúc cơ sở cách mạng mất trắng từng mảng lớn, bản thân tôi càng hiểu sâu sắc thêm Bác Hồ là linh hồn, là niềm tin bất khuất của đồng bào Nam Bộ trong những năm chiến tranh khốc liệt nhất! Có nhiều mẩu chuyện nhỏ rất cảm động. Anh Sáu tâm sự, nếu không có niềm tin sắt đá như vậy, chính Anh cũng sẽ không dám dựa vào đồng bào, sẽ không có gan quay lại sống với đồng bào và xây dựng cơ sở mới ngay trong vùng địch đã chà đi xát lại sạch bong.

Trong những năm tháng giúp Anh Sáu, điều Anh Sáu nói với chúng tôi nhiều nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh lại là những vấn đề liên quan đến Đảng, cụ thể là vấn đề dân chủ trong Đảng, đổi mới sinh hoạt Đảng, chống sự tha hóa của đảng viên – trước hết là những đảng viên có chức có quyền, về đổi mới xây dựng Đảng. Có lẽ sau này có dịp, nhất là khi bàn đến đổi mới Đảng, các cơ quan nghiên cứu của Đảng nên sưu tầm và công bố những ý kiến đóng góp của Anh Sáu chung quanh chủ đề xây dựng Đảng với tư cách là đảng lãnh đạo đất nước trong thời bình để toàn Đảng và cả nước tham khảo.

… và người học trò xuất sắc Võ Văn Kiệt. Ảnh tư liệu

Câu hỏi lớn nhất bàn về xây dựng Đảng Anh Sáu nêu ra cho chúng tôi là: Vì sao Bác Hồ, chỉ có Đảng với 5000 đảng viên, đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám và giành lại được đất nước?

Tôi không thể nhớ lại được anh em chúng tôi trong nhóm giúp Anh Sáu, với tính cách nguyên là các thành viên trong Ban Nghiên cứu của Thủ tướng do Anh Sáu thành lập, đã có bao nhiêu cuộc họp bàn và tranh luận với anh Sáu chung quanh chủ đề này. Cứ mỗi khi buổi thảo luận kết thúc, Anh Sáu thường kết luận với câu hỏi mới, đặt vấn đề mới cho cuộc họp sau. Bao nhiêu cuộc họp như thế thì chịu không nhớ được. Ít nhất là phần lớn các cuộc họp của chúng tôi trong hai, ba năm cuối cùng trước khi Anh Sáu đi xa đều xoay quanh chủ để này. Điều tôi hoàn toàn chắc chắn, cuộc họp cuối cùng của Anh Sáu với chúng tôi, chỉ một hai tuần trước khi Anh Sáu lâm bạo bệnh, là bàn về đổi mới Đảng như thế nào. Viết đến đây, tôi liên tưởng đến lời dặn cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc của Người: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi… Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng…”.

Trong những năm tháng này, ngoài anh em chúng tôi, Anh Sáu còn đi gặp không biết bao nhiêu chiến hữu và bạn bè của mình ở khắp đất nước. Trong những chuyến đi như vậy, bàn về xây dựng Đảng là chủ đề chính của Anh Sáu. Khi về, Anh kể lại cho chúng tôi nghe nhiều thông tin phong phú vể tình hình các đảng bộ địa phương.

Chủ kiến của Anh Sáu là: Cách mạng Tháng Tám, Bác đã lãnh đạo Đảng với 5000 đảng viên làm nên sự nghiệp, trước hết vì đường lối cách mạng đúng, người lãnh đạo sáng suốt, đảng viên chiến đấu ngoan cường, số lượng đảng viên không phải là điều quyết định… Anh dẫn chứng trong Cách Mạng Tháng Tám nhiều nơi không có đảng viên, nhưng nhân dân hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, tự vùng lên cướp chính quyền, tự lập nên chính quyền cách mạng…

Anh Sáu phân tích: Không tin vào nhân dân, không dựa vào nhân dân như thế làm sao Cách mạng có thể thành công? làm sao có thể bảo vệ được Cách mạng trong những hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc?.. Vì coi cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì không độc quyền yêu nước, nên Bác thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, trở thành hiện thân của đại đoàn kết dân tộc, thực sự phát huy được sức mạnh vô địch của nhân dân!.. Quan trọng hơn tất cả, chỉ có như vậy, Bác mới làm cho sự nghiệp Cách mạng trở thành sự nghiệp của nhân dân. Anh Sáu thẳng thắn: Phải thừa nhận chính điểm này chúng ta học tập Bác chưa tốt, làm chưa tốt. Bác nói xây dựng nhà nước của dân, do dân vì dân chính là nói theo tinh thần này! Anh Sáu hỏi lại chúng tôi: Trong lịch sử Chính phủ các thời kỳ cho đến nay, có thời kỳ nào có được đông đảo các nhân sỹ trí thức lớn ngoài Đảng tham gia như Chính phủ cụ Hồ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 không? Tại sao bây giờ hễ là bộ trưởng nhất thiết cứ phải là uỷ viên Trung ương mà lại không phải là trí thức có đức có tài đúng với lĩnh vực phụ trách? Ngoài Đảng cũng được chứ sao?.. Tại sao bây giờ không chọn được người tài đức vào đúng chỗ đúng việc? Đảng ta bây giờ với 3 triệu đảng viên, nếu cứ 3 loại đi 2 yếu kém, Đảng vẫn còn được một triệu đảng viên có đủ phẩm chất, vẫn nhiều gấp 20 lần khi làm Cách Mạng Tháng Tám, nếu có đường lối đúng đắn, vẫn hoàn toàn có thể lãnh đạo thành công xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất dân chủ và giầu mạnh… Phải học Bác như thế từ trong lý tưởng, trong thực tiễn…

Trong nhiều buổi họp khác nhau, Anh Sáu còn nhắc đi nhắc lại: Tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do!”, tinh thần “độc lập tự chủ và sáng tạo” thì phải học Bác suốt đời!.. Anh nhấn mạnh: Cứ khi nào không thấm nhuần hai điều cốt yếu này, là cách mạng y như gặp khó khăn, là y như phát sinh nhiều vấn đề…

Có thể nói qua những buổi trao đổi như thế, hầu như bao giờ cũng sôi nổi, chúng tôi chẳng những hiểu thêm Anh Sáu học tập Bác Hồ như thế nào, mà còn hiểu rõ được cái chất “Sáu Dân” của người đảng viên Võ Văn Kiệt, nhất là trong tình hình ngày nay cái tính đảng chân chính trong con người đảng viên, trong bản chất và đường lối chính sách của Đảng hình như rất ít được nói tới, được coi trọng mỗi khi bàn về Đảng, về xây dựng Đảng.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thực là người hiểu sâu sắc Bác Hồ, nêu một tấm gương sáng về học tập tư tưởng và đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh, xứng đáng là học trò xuất sắc của Người.
Hà Nội, 19-05-2010

—–

[1] Những câu chuyện này diễn ra vào lúc Anh Sáu và chúng tôi có nhiều cuộc thảo luận đánh giá lại lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám, với mục đích tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đổi mới Đảng cho phù hợp với đòi hỏi của giai đoạn cách mạng hiện tại. Trong những cuộc thảo luận như thế, chúng tôi đụng chạm tới nhiều sự kiện phức tạp: Cách ứng xử với các đảng phái và các nhân vật chính trị khác chính kiến và đối lập, đối phó với những lực lượng chống phá Cách mạng Tháng Tám và Tầu Tưởng, việc Bác chủ động đề nghị Việt Nam đứng trong khối Liên hiệp Pháp trong quá trình thương lượng không thành với Pháp, việc Bác quyết định nhất thời giải tán Đảng để tránh né những đòn chí mạng đánh vào nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời trứng nước, việc Bác chủ động cho tiến hành chủ trương tìm cách thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, các hòa hoãn chính trị nhằm tranh thủ thời gian tối thiểu chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến chống Pháp, việc Bác phát động toàn quốc kháng chiến chống Mỹ xâm lược trong bối cảnh phe xã hội chủ nghĩa rạn nứt và chia rẽ ngày càng sâu sắc… Vân vân…

Nguồn tin: Vietnamnet.vn

thanhnienphuockien.com

Nhớ Bác, trong mỗi việc làm

Dẫu bận trăm điều quốc kế, dân sinh, Bác Hồ vẫn luôn dành thời gian đến thăm và chỉ đạo các địa phương. Sáng ngày 6 tháng 4 năm 1961, ngày vinh dự, tự hào và thật đáng nhớ của nhân dân Bắc Giang, Bác Hồ về thăm và nói chuyện với ba vạn người tại sân vận động thị xã.

Bây giờ, những người may mắn được chứng kiến buổi gặp gỡ thân thiết và trang trọng ấy nay đã ở bậc cao niên. Nhưng với họ, được nghe Bác căn dặn là những lời luôn thấm thía nhắc nhở suốt cuộc đời. Thân thiết, cởi mở, Bác căn dặn việc xây dựng Đảng, chính quyền, phát triển kinh tế, chăm lo thế hệ trẻ… sao cho Bắc Giang vững vàng về kinh tế, phát triển văn hoá – xã hội ổn định. Bác đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng và nhắc nhở: “Đảng ta là đảng lãnh đạo cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân, đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì vậy, cán bộ và đảng viên phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đày tớ hết sức trung thành với nhân dân”. Trước đó, Người đã từng căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải coi việc nước, phụng sự nhân dân là trước hết và trên hết. Trong cuộc sống của mình, Người luôn làm gương cho việc hy sinh quyền lợi cá nhân, gia đình vì sự nghiệp lớn của dân tộc.

Trong bối cảnh năm đầu của thập niên sáu mươi thế kỷ trước, khi chuẩn bị bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất có nhiều vấn đề đặt ra sau khi cải tạo kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, riêng với Bắc Giang, Bác còn căn dặn: “cán bộ phải thật sự đoàn kết, nhất trí, phải đi sâu, đi sát, phải lãnh đạo thiết thực và toàn diện. Phải chống tư tưởng bảo thủ, chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chống lãng phí, tham ô”, “một điểm quan trọng nữa là cần phải củng cố tốt và phát triển tốt các chi bộ Đảng và các chi đoàn thanh niên”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ luôn được Bác coi trọng. Trong thực tế lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước ngay sau khi nước nhà độc lập, Bác đã khẳng định: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết phải có nhân tài. Trong số hai mươi triệu đồng bào không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiến năng, các địa phương cần phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết”.

Bàn sâu về công tác tuyển dụng, đào tạo và sử dụng cán bộ, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10 – 1947), khi nói về việc dạy cán bộ và dùng cán bộ, Bác luôn quan tâm đến vấn đề đào tạo, quy hoạch thay thế cán bộ và coi đó là một tất yếu. Bác viết: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, Đảng ta phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Nhấn mạnh tính chiến đấu trong Đảng, lường trước sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ và việc đào tạo cán bộ thay thế, Người viết: “Đảng ta là một đoàn thể đấu tranh. Trong cuộc tranh đấu thường hao tổn một số cán bộ quý báu. Vì vậy chúng ta càng phải quý cán bộ, phải bổ sung cán bộ, phải giữ gìn cán bộ cũ và đào tạo cán bộ mới”. Bác biết rằng: “Trong Đảng ta có những nơi thường dùng những người văn hay, nói khéo, nhưng không làm được việc, không ra tranh đấu. Mà những đồng chí viết không hay, nói không thạo nhưng rất trung thành, hăng hái, rất gần gũi quần chúng, thì bị dìm xuống. Chúng ta phải sửa chữa ngay quan điểm đó”. Tuy nhiên, khi nói đến chính sách cán bộ và việc tạo điều kiện cho họ phấn đấu hết mình, Bác yêu cầu: “Phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Khi họ đau ốm phải có thuốc thang. Tuỳ theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đề gia đình. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ và sự đoàn kết thân ái trong Đảng. Không phải vài ba tháng , vài ba năm mà đào tạo được một người cán bộ tốt… Phải thương yêu cán bộ giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm”. Khi dùng cán bộ phải hiểu rằng: “Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay, vì vậy chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ”. Những dòng Di chúc cuối cùng để lại, Bác vẫn nhắc nhở “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ (đoàn viên thanh niên), đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Từ đó, qua nhiều kế hoạch 5 năm, qua nhiều nhiệm kỳ đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, cán bộ và nhân dân trong tỉnh đã đẩy năng suất cây trồng, vật nuôi lên từng bước vững chắc, tự túc được lương thực thực phẩm và sản xuất được hàng hoá xuất khẩu. Với Bác Hồ, nhân đạo tức là phải chống thứ giặc nghèo nàn – cội nguồn của những tệ nạn xã hội, suy dinh dưỡng, bệnh tật, kém văn hoá – giáo dục, suy thoái thể chất, tinh thần và nhân cách. Bởi vậy Bác khát khao cho mọi người “ngày càng tiến bộ lên, càng ngày càng giầu có”. Lời Người căn dặn năm nào, bây giờ đang được lớp lớp con cháu chứng minh bằng thực tế sinh động. Dẫu còn những gia đình phải đương đầu vật lộn trong cuộc sống khó khăn nhưng những thành tựu về giáo dục, y tế, văn hoá và một số lĩnh vực trên địa bàn tỉnh đã có những bước tăng trưởng đáng mừng. Cán bộ, nhân dân Bắc Giang đã có thể báo công dâng Bác những gì đã làm được trong bốn chục năm làm theo Di chúc của Người và hơn hai năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Lan Hương – BGO

sites.google.com

Hồ Chí Minh – Chân dung một con người

Xem phần một: Hồ Chí Minh – Chân dung một con người

Ở Paris có bức tường “Những người làm nên thế kỷ 20″ (Ils ont fait le XX Siecle) có nụ cười Bác Hồ ở đây, giữa những trí tuệ, những tâm hồn lớn ở thời đại chúng ta. Trong một thế giới vẫn còn nhiều bạo ngược và lẫn lộn, đã có một cuộc đời Hồ Chí Minh, một con người Hồ Chí Minh.

Người ta có thể gọi Bác bằng nhiều cách khác nhau: 1 vị lãnh tụ, 1 người cộng sản chân chính, 1 tâm hồn và trí tuệ lớn lao, 1 con người của những quyết định lịch sử; nhưng trên hết thảy, Hồ Chí Minh là 1 người con yêu nước vĩ đại đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Ngày 19 tháng 5 năm 1890, cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời tại quê ngoại làng Chùa, Nam Đàn, Nghệ An. 500 năm trước, chúng ta có người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. 500 năm sau, theo đúng lời sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:“Đụn Sơn phân giải, Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh”, chúng ta có Hồ Chí Minh.

Tuổi thơ của cậu bé Cung đã chứng kiến kiếp sống nô lệ lầm than của dân tộc dưới nhiều tầng áp bức. Ngày vua Thành Thái bị thực dân Pháp bắt đi đầy, vua đã khẳng khái: “Muôn dân nô lệ từng đàn. Vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta”. Khi đó Nguyễn Sinh Cung đang ở Huế cùng cha, trước cảnh đó, cậu đã cúi mặt xuống để không rơi lệ; nhưng cha cậu – nhà Nho yêu nước Nguyễn Sinh Sắc đã nhắc cậu ngẩng mặt lên nhìn để không quên thù nhà nợ nước vẫn còn chưa trả xong. Từ đó cho đến mấy chục năm về sau, người thanh niên yêu nước đó không bao giờ cúi mặt nữa, không bao giờ chịu khuất phục trước bất kỳ sức mạnh nào; kể cả sau này là Nguyễn Tất ThànhNguyễn Ái QuốcVăn BaLý ThuỵHồ QuangBác Hồ, hay Hồ Chí Minh.

Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Nhà Rồng với đôi bàn tay trắng. Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Pháp. Rồi anh sang Liên Xô để hoạt động cách mạng Quốc tế. Năm 1924, Lý Thụy sang Trung Quốc, thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội ở Quảng Châu, đồng thời viết cuốn Đường kách mệnh.

Sau 30 năm bôn ba, đến năm 1941, Người trở về Việt Nam, thành lập Mặt trận Việt Minh, từ đây Người là Hồ Chí Minh, trực tiếp lãnh đạo Đảng Cộng Sản Đông Dương và phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Bác viết:

Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài, nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta.

Năm 1946, trong lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, Người khẳng định:

Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ.

Bằng niềm tin sắt đá và nhiệt huyết của mình, Người đã nêu gương sáng của 1 người Việt Nam sống có lý tưởng:

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Trí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập, nhất định thành công.

Cuộc đời Bác còn có gì đặc biệt ? Trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tùng, Bác đã tự nhận là người không có gia đình và không có con nhưng “gia đình tôi là Việt Nam, con cái tôi là các thanh niên Việt Nam”. Hiếm có vị lãnh tụ nào nếm mật nằm gai chịu khổ cùng quân dân trong những năm kháng chiến, rồi lại sát cánh cùng cả nước dựng xây trong những năm hòa bình như Hồ Chí Minh đã làm. Cho dù không phải tất cả đều diễn ra như mong muốn  Trước những sai lầm nặng nề trong cải cách ruộng đất bởi tính giáo điều bảo thủ và áp đặt cộng sản, Bác đã khóc nhận trách nhiệm và tự phê bình trước toàn dân:

Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận những khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có, và tìm mọi cách sửa chữa những khuyết điểm đó, như thế mới là một đảng mạnh dạn, chắc chắn, và chân chính.

Những năm sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ bị phá vỡ, đất nước bị chia cắt, lại phải lo thù trong giặc ngoài; một mặt là sự đánh phá khốc liệt của đế quốc Mỹ tại miền Bắc Việt Nam, một mặt là sự chống Cộng điên cuồng của chính quyền tay sai miền Nam Việt Nam; dân tộc ta vẫn kiên cường đi theo con đường đã vạch ra, đấu tranh không mệt mỏi giữa một bên là sức mạnh vật chất kinh khủng và mù quáng với một bên là sự lựa chọn trí tuệ và tình thương của từng con người. Trong những lúc cam go khó khăn nhất đó, Người vẫn vững một niềm tin, bởi đến ngày thống nhất, chúng ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Thế giới đánh giá ra sao về vị Chủ tịch nước này ? Họa sĩ Thụy Điển Eric Johansonnói về Nguyễn Ái Quốc:

Đó là một con người kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, một con người uyên bác.

Còn nhà thơ Xô Viết Oxit Măngđenstand đã viết:

Cả khuôn mặt Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và tế nhị, từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải nền văn hóa ở châu Âu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai. Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bỉển lặng của nền hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương.

Tạp chí TIME đánh giá Bác là 1 trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ 20.

Cuộc sống riêng của Người cũng có nhiều điểm đáng nói. Quê hương nghĩa nặng tình sâu, nhưng cả một đời vì nước vì non, cho đến khi luống tuổi, Bác mới chỉ kịp về thăm quê đôi lần. Trong dịp đi thăm quê Bác năm ngoái, người viết có được nghe hướng dẫn viên khu di tích kể lại rằng khi nhà nước có ý định trùng tu lại khu di tích này có đặt cổng ở phía vườn; lúc Bác về thăm mới chỉ rằng xưa kia cổng nhà Bác nằm ở phía này, khung cửi cũ của mẹ Bác – bà Hoàng Thị Loan – đặt ở phía kia. Vậy là suốt mấy chục năm bôn ba, cậu bé Cung vẫn nhớ như in những hình ảnh ngôi nhà nhỏ của ông Phó bảng đã nuôi dưỡng tâm hồn Người ngày nào.

Trong thư gửi anh cả Nguyễn Sinh Khiêm, Bác viết:

vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc Anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc Anh tạ thế, tôi không thể lo việc. Than ôi! Tôi chịu tội bất đễ trước linh hồn Anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước.

Thân sinh Bác, cụ Nguyễn Sinh Sắc, mất tại miền Nam, Bác còn chưa đến thăm được.

Tuổi xế chiều, Bác Hồ đã về sống ở đây, đúng như mong muốn của Người được sống trong ngôi nhà nhỏ, có vườn cây, ao cá, sớm chiều bầu bạn với các cụ già em nhỏ, xa lánh vòng danh lợi. Cuộc sống vật chất của Người chỉ nhỏ bé vậy thôi, trái ngược với ham muốn to lớn của Người:

Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

Xin mượn câu nói của đồng chí Lê Duẩn thay cho lời kết bài: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, và non sông đất nước ta.”

Trong phòng riêng của người viết có treo 1 tấm ảnh “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” như một lời nhắc nhở noi theo tấm gương của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, với niềm tự hào được làm một người con đất Việt – Trên ngực áo này không một tấm huân chương, và sau làn vải ngực áo này có một trái tim.

Nhân ngày này, xin được viết đôi dòng gửi đến Bác tình cảm kính yêu chân thành nhất. Chúc mừng 19 tháng 5 với 2 mốc son chói lọi: 1890 và 1983, chúc mừng sinh nhật Hồ Chủ Tịch

———–

Bài viết có sử dụng tư liệu:

  • Phim “Hồ Chí Minh – Chân dung một con người”
  • Phim “Việt Nam – Cuộc chiến mười nghìn ngày”
  • Chuyên đề “Bác Hồ kính yêu
  • Truyện “Bác Hồ viết di chúc” (Vũ Kỳ)

sites.google.com

Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn

Người Chánh Văn phòng Khu giải phóng Tân Trào ngày ấy là cụ bà Trần Thị Minh Châu, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, Cục trưởng Cục Xuất bản Bộ Văn hóa… năm nay 88 tuổi đời, 70 tuổi Đảng. Chiều 19/8, đúng kỷ niệm 65 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám, tôi đến thăm cụ.

Có thể nói rằng, cụ bà Trần Thị Minh Châu là một nhà báo lão thành, vì cụ từng tham gia viết Báo Đảng bí mật từ thời kỳ Mặt trận Bình dân năm 1939 với các đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư Trường Chinh, đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Đào Duy Kỳ… Rồi sau đó cụ là người phụ trách (như tổng biên tập bây giờ) tờ Báo Bãi Sậy ở Hưng Yên (cùng nhà văn Học Phi)… Những năm gần đây, cụ vẫn viết báo, viết sách. Còn bây giờ: “Bà già rồi, yếu rồi, không còn viết nữa, chứ cũng có nhiều chuyện đáng để viết lắm đấy”. Tôi xin cụ kể cho nghe những kỷ niệm ở Tân Trào ngày cụ làm Chánh Văn phòng Khu giải phóng. Cụ Trần Thị Minh Châu hồi tưởng…

Cho tôi gặp đồng chí Chi

Tháng 4 năm 1945, đang công tác tại Võ Nhai – Đình Cả (Thái Nguyên), sau khi chỉ huy Cứu Quốc quân đánh thắng thực dân Pháp liên tiếp ở Tràng Xá, La Hiên và Đình Cả thì có quyết định của cấp trên điều tôi về Tân Trào nhận nhiệm vụ mới.

Sau nhiều ngày trèo đèo lội suối, tôi đã đến được Tân Trào thuộc châu Tự Do (Sơn Dương – Tuyên Quang) Thủ đô cách mạng. Tại Tân Trào đã thành lập Ủy ban khu giải phóng Trung ương lâm thời gồm sáu tỉnh: Cao Bằng – Bắc Kạn – Lạng Sơn – Hà Giang – Tuyên Quang – Thái Nguyên do đồng chí Tống (Phạm Văn Đồng) làm Chủ tịch, đồng chí Hưng (Võ Nguyên Giáp) làm Ủy viên Thường trực. Cạnh nhà của Ủy ban khu giải phóng Trung ương có hai đơn vị là Ban quản lý do đồng chí Lý (Hoàng Hữu Kháng) phụ trách và Văn phòng, khi tôi về liền được cử phụ trách, lấy bí danh là Chi.

Một hôm có một đồng chí lên Tân Trào vào Văn phòng đề nghị: Cho tôi gặp đồng chí Chi. Vâng, mời anh vào. Ông ấy cứ loay hoay mãi: Tôi có việc cần lắm, chị cho tôi gặp đồng chí Chi ngay, càng sớm càng tốt. Tôi chỉ muốn gặp đồng chí Chi để giải quyết công việc này, xong tôi phải về ngay. Lúc bấy giờ buồn cười, tại sao mình không nói tôi là Chi đây, lại cứ vâng mời anh vào làm việc.

Thấy khách cứ băn khoăn đi ra đi vô, cậu Nguyễn Chính (tức Du Phong) đang ngồi đánh máy ở phòng trong, chạy ra bảo: Thì đồng chí Chi là đồng chí này chứ còn ai nữa mà từ nãy giờ cứ lằng nhằng mãi. Ông kia ngạc nhiên, chị là đồng chí Chi à? Vâng, tôi là Chi. Ngồi làm việc một lúc lâu, đến khi xong việc, ông ấy đứng lên bảo: Tôi xin lỗi chị, tôi tưởng Chi là anh Chi. Tôi bảo có gì đâu mà phải xin lỗi.

Thì ra, các tỉnh trong vùng giải phóng nhận được công văn từ Văn phòng Khu giải phóng, lại nghe nói người phụ trách Văn phòng là đồng chí Chính trị viên Cứu Quốc quân từng chỉ huy đánh thắng quân Pháp ở Võ Nhai. Họ cứ yên chí đây là một nam giới nên rất bất ngờ khi thấy đó là một cô gái trẻ đẹp mới 23 tuổi.

Chiếc áo Bác Hồ

Thời gian ở Tân Trào, tôi cùng anh em được xếp ở nhà ông Tiến Sự là một già bản có uy tín nhất làng Kim Long. Hằng ngày, tôi được anh em và đồng bào kể nhiều chuyện về “Ông Ké” người dong dỏng cao, quắc thước, nhanh nhẹn, đặc biệt ông có đôi mắt rất sáng, rất tinh anh. “Ông Ké” mới về đây được vài tháng đã dựng lán bên lưng núi Nà Lừa để ở và làm việc. Nhưng ông luôn quan tâm đến đồng bào nên được đồng bào vô cùng quý mến.

Phải hơn một tháng sau khi tôi đến Tân Trào công tác, đồng chí Lê Giản mới “bật mí” cho tôi biết “Ông Ké” chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, là Cụ Hồ Chí Minh.

Với anh em phục vụ, “Ông Ké” luôn gần gũi và quan tâm. Lúc đó bên cạnh lán của Bác còn có lán điện đài liên lạc với quân Đồng Minh do một số người Mỹ trong nhóm tình báo “Con Nai” của OSS làm việc. Mỗi lần đi công tác với các bạn Mỹ về, bao giờ Bác cũng có quà, dù món quà rất đơn giản, cho mọi người, nhưng đó là thể hiện tấm lòng của Bác.

Có một kỷ niệm tôi không bao giờ quên trong cuộc đời của mình. Một hôm, Bác được các bạn người Mỹ tặng chiếc áo bludông để mặc vào mùa đông giá rét. Bác không dùng cho riêng mình mà đem ra cho anh em. Nhưng cơ quan Ủy ban Giải phóng rất đông người nên Bác bảo hãy bắt thăm để cho công bằng. Thấy tôi ngồi im lặng không tham gia, Bác bảo tôi cũng phải bắt thăm. Tôi giãy nảy vì người tôi bé nhỏ, còn cái áo thì vừa to vừa rộng thùng thình làm sao tôi mặc được. Bác ôn tồn nói: “Cô vẫn phải tham gia bắt thăm, không phân biệt nam nữ”. Cuối cùng tôi lại chính là người bắt trúng, cái áo thuộc về tôi. Lúc đó Bác mới nhẹ nhàng: “Bác không tặng cái áo này cho cô Chi đâu. Cô giữ lấy đến khi nào chú ấy ở ngoài Côn Đảo về thì để chú ấy mặc”.

Tôi sửng sốt quá vì chưa bao giờ tôi thấy Bác hỏi về hoàn cảnh gia đình tôi. Vậy mà Bác biết rõ anh Đào Duy Kỳ, chồng tôi, đang ở nhà tù Côn Đảo. Tôi cảm động quá không cầm nổi nước mắt, nước mắt cứ nhạt nhòa. Tôi thấy tấm lòng của Bác thật mênh mông. Đó là tấm lòng của người cha vô cùng tôn kính, vô cùng thân thương, luôn luôn lo lắng, chăm sóc hết mực cho con cái. Từ đó, đi đâu tôi cũng mang chiếc áo theo bên người.

Hà Nội tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Bác và các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn… về Hà Nội. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Lê Giản… và tôi được Bác giao nhiệm vụ vẫn tiếp tục ở lại xây dựng và củng cố căn cứ Việt Bắc.

Cuối tháng 9/1945, trước yêu cầu mới của cách mạng, chúng tôi lần lượt về Hà Nội nhận nhiệm vụ. Đồng chí Phạm Văn Đồng làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, đồng chí Lê Giản làm Giám đốc Nha Công an Trung ương. Tôi tham gia phong trào Nam tiến, cùng đoàn với đồng chí Lê Đức Thọ, để có điều kiện sớm gặp anh Đào Duy Kỳ vừa được đón từ Côn Đảo về đất liền.

Bà Trần Thị Minh Châu (thứ 3, từ phải qua) và Đội Du kích Võ Nhai.

Bác Hồ và những người lính Mỹ (0SS)

Cũng trong khi ấy người Mỹ muốn xâm nhập Đông Dương để ngăn chặn sự tấn công của Nhật ở phía Nam Trung Quốc và Đông Dương. Họ gặp phải nhiều khó khăn, nên cũng cần tìm một đối tác hợp lý để nhanh chóng vào sâu Đông Dương.

Một sự kiện tình cờ đã đến – một máy bay của Mỹ bị trúng đạn Nhật, phi công đã nhảy dù xuống vùng núi gần thị xã Cao Bằng – được Việt Minh cứu.

Bác Hồ đã lệnh phải bảo vệ an toàn và bí mật đưa về gặp Bác. Người phi công ấy là Trung úy Sao (William Shaw).

Bác Hồ đã gặp Sao nói chuyện chân tình. Quà tặng cho Sao là một tấm lụa trắng thêu dòng chữ tiếng Anh “Chúc mừng khách đến”, một tấm vải đỏ có chữ ký của nhiều hội viên Mặt trận Việt Minh ủng hộ Đồng Minh chống phát xít.

Bác Hồ còn tặng Sao một bản dịch tiếng Anh toàn văn bản Chương trình Việt Minh rồi cho người đưa Sao về Côn Minh. Sao đã báo cáo tất cả những gì tai nghe mắt thấy, tất cả sự chăm sóc bảo vệ của Việt Minh cho tướng Sê-nô (Claire L. Chernault).

Sau đó không lâu, Bác Hồ với danh nghĩa là phái đoàn của Việt Nam độc lập đồng minh sang đàm phán với Mỹ – Đồng minh về hợp tác đánh Nhật, đã gặp được tướng Sê-nô. Qua sự phản ánh của Trung úy Sao – qua tình báo riêng của Bộ Tư lệnh – và cũng qua sự tiếp xúc với Bác Hồ, người Mỹ rất vui mừng vì đã nhận được những thông tin hết sức quan trọng về quân Nhật trên lãnh thổ Đông Dương. Ngoài ra Việt Minh còn giúp đỡ cứu trợ những phi công Mỹ bị nạn và những gì mà Đồng minh yêu cầu.

Về phía Việt Minh, Bác Hồ chỉ mong muốn Mỹ giúp đỡ vũ khí, điện đài và giúp đào tạo cán bộ, nhân viên sử dụng vũ khí, điện đài.

Tướng Sê-nô đã tin cậy đáp ứng mọi yêu cầu của Bác Hồ.

Khi trở về Việt Nam, theo Bác có hai người Mỹ cùng đi. Họ trở thành những người Mỹ đầu tiên có mặt ở Khu giải phóng Việt Nam. Họ có nhiệm vụ đón tiếp những người Mỹ khác sẽ lần lượt đến.

Trong chuyến đi này, Bác giành được hai mục đích: Một là đã gây được thiện cảm với Mỹ – Đồng minh, tranh thủ được sự giúp đỡ của Mỹ – được Mỹ công nhận vai trò của Việt Nam trong sự hợp tác đánh Nhật. Hai là đã tạo được thế vững chắc cho cách mạng Việt Nam bên cạnh người bạn láng giềng Trung Quốc.

Vào lúc 16h ngày 16/7/1945, chúng tôi đón đoàn phi công nhảy dù xuống Tân Trào gồm 6 người do Thiếu tá Tô-mát chỉ huy.

Để chuẩn bị tiếp đoàn Mỹ, Bác Hồ bảo chúng tôi phải làm một bữa tiệc mừng.

Chúng tôi lại chụm đầu vào bàn bạc: Khó quá, ở giữa rừng này làm gì có thực phẩm, bát đĩa cũng không. Cũng chẳng ai biết nấu cơm tây, lại còn tiệc tây nữa.

Biết nỗi lo của chúng tôi nên Bác nói:

– Các chú, các cô bí rồi phải không? Vậy hãy cho người sang Định Hoá nhờ Chủ tịch Chanh mua giúp cho con bê – đem về thui chín vàng, để cả con nằm trên chõng tre. Hai bên làm dẫy ghế ngồi cũng bằng tre nứa. Sắp mỗi người một con dao (người Mỹ đã sẵn có dao và nĩa). Có đĩa muối, đĩa gừng, có rượu do đồng bào tự nấu, uống bằng bát to. Mọi người tự do thích ăn chỗ nào thì tự cắt lấy.

Chúng tôi nhìn nhau ngần ngừ. Bác như đã hiểu, Người giải thích luôn: “Không có gì ngại cả – kể cả Tây và ta, không phải ai cũng được ăn một bữa tiệc dân dã trong rừng đâu. Cứ làm đi, để rồi xem họ có thích không? Còn thú vị lắm nữa kia!”.

Quả là sau đó, đoàn Mỹ rất hài lòng, mừng rỡ lắm. Chúng tôi lại thì thầm với nhau:

– Đúng là Bác không chỉ rành việc lớn mà thạo cả việc nhỏ, mọi việc đều chu đáo!

Đoàn Mỹ sang Việt Nam chỉ mang theo lương khô. Bác lại bàn phải lo thực phẩm tươi sống cho họ. Mỹ bây giờ là đồng minh, là bạn của mình, nên phải chăm lo sức khỏe cho họ, không để họ sống thiếu thốn, kham khổ như mình.

Ủy ban Khu giải phóng đóng ở Tân Trào, nhân dân huyện Sơn Dương vốn rất nghèo. Chúng tôi phải sang huyện Định Hóa bàn với Chủ tịch Chanh. Đồng chí Chanh nhận lời ngay và cử hai hội viên là Nguyễn Văn Sách và Ma Văn Bầu lo việc này.

Từ đấy cứ cách hai ba ngày có một đoàn người vừa gánh vừa khiêng những đậu, thịt, rau, trứng, măng từ Định Hóa sang… Họ phải leo qua đèo De, luồn rừng trên 20 cây số mới đến được Tân Trào. Các bạn Mỹ thích ăn thịt thú rừng nên có khi được cả một con dê, hay có lần một con nai còn nguyên cặp lộc nhung mềm.

Có mấy tháng liền nhân dân Định Hóa tiếp tế cho cả Khu giải phóng, trong khi ấy gia đình con cái họ chỉ ăn con cá, con ốc bắt được ở suối với lọ măng ngâm ớt.

Đồng bào nói: Mình nuôi bạn Mỹ để Mỹ cùng Bộ đội Cụ Hồ đánh Tây, đuổi Nhật, nước Việt Nam được độc lập tự do, mình sẽ được ấm no.

Trước khi Bác về Hà Nội, Bác lại dặn chúng tôi:

– Ta chẳng có tiền, cũng chẳng có vật gì kỷ niệm cho đồng bào. Có đống dù của Mỹ, các cô chịu khó tháo từng ô đem biếu đồng bào. Tính theo đầu người, mỗi người một mảnh. Đồng bào có thể cắt may áo, may chăn.

Nhận được món quà nhỏ từ những tấm vải dù nhân dân rất là phấn khởi.

Đồng bào Sơn Dương, Định Hóa, cũng như mọi người dân Việt Nam đã có tập quán nuôi quân, khi còn là du kích, dân quân tự vệ. Nhân dân không chỉ nuôi ăn mà còn mang cả quần áo, lo giày dép, thuốc men. Không bao giờ nhân dân đòi thanh toán. Họ nói: Con cái góp cho cách mạng còn được, thì tài sản của dân cũng là của cách mạng, của nước nhà

Kiều Mai Sơn

cand.com.vn

Ký ức của những người con Tây Nguyên được gặp Bác Hồ

Lúc sinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm và dành nhiều tình cảm thân thương đối với đồng bào Tây Nguyên. Trong những năm tháng chiến tranh, nhiều người con Tây Nguyên ra miền Bắc học tập, lao động và chiến đấu đã vinh dự được gặp Bác Hồ. Được gặp Bác, được Bác khuyên dạy những điều hay, lẽ phải là niềm vinh dự to lớn và trở thành kí ức gắn bó mãi mãi với cuộc đời của mỗi người con Tây Nguyên…

Vinh dự được gặp Bác Hồ

Ở Tây Nguyên cùng với Anh hùng Núp, trong kí ức của những người con ưu tú ở Tây Nguyên được gặp Bác Hồ hôm nay còn sống, ai ai cũng bồi hồi nhớ Bác. Một trong những người cán bộ cách mạng đầu tiên ở Tây Nguyên hiện đang sống ở Pleiku là ông KSor Ní, năm nay đã bước sang tuổi 87.

Tháng 8/1945 sau khi đón đại diện của Việt Minh về tiếp nhận chính quyền tại Pleiku, ông KSor Ní cùng với bạn bè, những người thanh niên yêu nước về quê tổ chức khởi nghĩa, bao vây huyện lỵ Cheo Reo, buộc chính quyền tay sai thân Nhật phải hạ vũ khí đầu hàng. Trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước ta năm 1946, ông KSor Ní được bầu là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai khoá I.

Tháng 5 năm 1946, ông ra Hà Nội dự Đại hội Thanh niên các dân tộc Việt Nam và lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Nhớ lần ấy, chàng thanh niên Jơ Rai trẻ tuổi KSor Ní đứng giữa phố Hà Nội tình cờ nghe đài Pháp đưa tin không đúng sự thật rằng: “Pháp đã chiếm được Tây Kỳ (Tây Nguyên) và nhân dân Tây Kỳ vui khi thấy quân Pháp trở lại”.

Nghe những lời tuyên truyền sai sự thật ấy, KSor Ní tức giận không sao chịu được và ông đã lập tức viết bài báo bằng tiếng Pháp, phản đối lại những luận điệu xuyên tạc ấy của Pháp và kêu gọi nhân dân Tây Kỳ đoàn kết để đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước Việt Nam. Khi bài báo đăng trên tờ “Le Peuple” (Nhân Dân), Bác Hồ đã đọc và cho người mời KSor Ní cùng Y Ngông Niek Đam (Thường trực Quốc hội khóa I) đến gặp Bác.

Nhận được giấy mời của Bác, cả KSor Ní và Y Ngông vừa mừng nhưng cũng vừa lo vì không biết Bác mời gặp có chuyện gì. KSor Ní kể rằng, khi gặp Bác ở phòng làm việc, Bác thân mật hỏi thăm sức khỏe và tình hình ở Tây Kỳ nên anh em cảm thấy rất gần gũi. Tại buổi gặp gỡ đầu tiên ấy, Bác Hồ đã căn dặn, chúng ta phải đoàn kết đánh Pháp mới bảo vệ được nền độc lập. Bác xoè bàn tay và giải thích: “Một bàn tay hoàn chỉnh phải có năm ngón, thiếu một ngón là một bàn tay không hoàn chỉnh. Một ngón tay đau thì cả bàn tay cũng đau.

Các già làng dâng hoa Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Gia Lai-Kon Tum.

Cũng như cả nước Việt Nam độc lập thì Tây Kỳ phải được độc lập, vì Tây Kỳ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam”. Cuối buổi gặp gỡ, Bác đã căn dặn: “Các cháu phải cố gắng học tập và công tác tốt, đặng góp phần đánh thắng giặc Pháp, để Việt Nam mau giải phóng và được độc lập hoàn toàn”. Sau lần được gặp Bác Hồ, đồng chí KSor Ní trở về kể lại cho anh em đồng đội nghe và động viên đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng đi theo cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Hôm nay đã ở tuổi xế chiều, nhưng niềm hạnh phúc được gặp Bác Hồ vẫn mãi dâng trào với người cán bộ lão thành cách mạng KSor Ní. Ông luôn nhớ Bác, khắc ghi lời Bác dạy và luôn nhắc nhở các thế hệ con cháu: “Tây Nguyên là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của một nước Việt Nam thống nhất”.

Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn

Cùng với nhiều người con ưu tú của Tây Nguyên được gặp Bác Hồ, khắc ghi lời dạy của Bác Hồ, ông Nguyễn Văn Sỹ (Ksor Krơn), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai – Kon Tum, người đã trọn một đời sắt son với Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân đã xúc động mỗi khi nhắc đến những lần được gặp Bác Hồ.

Ông Ksor Krơn kể, cuộc đời mình từng hàng chục năm làm cách mạng nhưng không hề có lương, chỉ toàn là ăn cơm của dân, được nhân dân nuôi và che chở. Ý thức gần dân, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân trong con người Ksor Krơn là một minh chứng sinh động. Ông luôn sống và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại. Ông tâm sự, sau hơn 35 năm đất nước hoàn toàn thống nhất, cấp ủy Đảng và chính quyền ở các tỉnh Tây Nguyên từng ngày thực hiện theo lời dặn của Bác là làm sao cho đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Lời mong ước của Bác Hồ ngày càng đến được hiện thực với nhiều gia đình hơn ở Tây Nguyên. Đó là niềm hạnh phúc mà chúng ta đã thực hiện theo lời dạy của Bác.

Các già làng Tây Nguyên nghe đọc lại thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam.

Ông Ksor Krơn nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác Hồ trong một chuyến công tác thăm đập thủy lợi Bái Thượng (Thanh Hóa). Lúc về Bác dừng chân nói chuyện với nhân dân ở địa phương và có mời các sinh viên đến nghe, trong đó có Ksor Krơn. Bác nêu gương Anh hùng Lao động Trịnh Xuân Bái ở Thanh Hóa cho mọi người noi theo và dặn mọi người muốn làm được việc lớn phải đoàn kết phát huy trí tuệ, sức mạnh tập thể, noi gương sáng, bỏ đi những ý thức cá nhân hẹp hòi ích kỷ…

Lời dạy ấy của Bác là kim chỉ nam đã đi suốt cuộc đời làm cách mạng của ông Ksor Krơn. Hôm nay, luôn tâm huyết với những điều Bác dạy, ông Ksor Krơn nói: “Những người làm cách mạng mà không loại bỏ được sự cá nhân ích kỷ, không phát huy được cái mạnh vì lợi ích chung của nhân dân thì sẽ không tồn tại lâu được”.

Chính vì thế mà mỗi lần có dịp được tâm sự, nói chuyện với thế hệ cán bộ trẻ hôm nay ở Tây Nguyên, ông Ksor Krơn luôn khuyên mọi người phải nhớ và thực hiện theo những lời dạy tốt đẹp của Bác Hồ. Còn với nghệ sĩ nhân dân Y Brơm tham gia cách mạng khi mới tròn 12 tuổi. Chàng thanh niên của núi rừng Tây Nguyên được gặp Bác Hồ khi anh là diễn viên của đoàn văn công Tây Nguyên. Hồi ấy, Y Brơm được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để phục vụ khách quý của Bác.

Một lần vào tháng 5/1967, Y Brơm dựng vở “Múa Trống Tây Nguyên” để biểu diễn cho khách quốc tế xem. Trước khi đi biểu diễn nước ngoài, Bác Hồ đã xem và xúc động đứng dậy tặng hoa cho các nghệ sĩ biểu diễn. Xem xong vở diễn, Bác gọi Y Brơm đến bảo: “Cháu giỏi lắm, sau này về dạy lại cho bà con Tây Nguyên nhé!”. Y Brơm xúc động muốn khóc và khắc ghi mãi lời Bác dạy trong suốt cuộc đời mình. Đối với Y Brơm hình tượng Bác Hồ như một vị thần, mà theo tiếng địa phương gọi là Yàng. Những lời nói, việc làm của Bác đã trở thành động lực mạnh mẽ đối với cá nhân ông cũng như đồng bào Tây Nguyên, giữ vững khối đại đoàn kết, lao động, sáng tạo để xây dựng Tây Nguyên ngày càng giàu đẹp.

Nhớ lời Bác dạy, Nghệ sĩ Nhân dân Y Brơm suy nghĩ: phải học nhiều hơn, sáng tạo nhiều hơn về nghệ thuật gắn với đời sống văn hóa đồng bào Tây Nguyên để góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc ấy. Cũng chính từ sự lao động sáng tạo miệt mài mà Y Brơm là một trong 3 nghệ sĩ múa được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân đầu tiên ở Việt Nam (1984). Trong 140 tác phẩm đặc sắc của Y Brơm, có 40 tác phẩm được Nhà nước công nhận, trong đó có một chùm tác phẩm đạt Giải thưởng Nhà nước.

Sau giải phóng, về công tác ở quê hương, Y Brơm đã dành hết tình cảm, tâm huyết của mình cống hiến cho đồng bào Tây Nguyên yêu thương mà không bao giờ nghĩ đến việc phải được hưởng một chút gì về vật chất. Y Brơm quan niệm, chức quyền, giàu sang cũng chỉ là phù du, nhưng văn hóa đặc trưng của buôn làng Tây Nguyên thì mãi mãi trường tồn với thời gian và ông đã sống hết mình với nghệ thuật

Ngọc Như (Báo CAND Tết 2011)

cand.com.vn

Chuyện Bác Hồ đi bầu cử

Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: “Ai đến trước, bầu trước. Bác đến sau, Bác chờ”.

Chuyện Bác Hồ đi bầu cửNgày 8/5/1960, nhân dân và thanh thiếu niên Thủ đô Hà Nội chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bỏ phiếu bầu Quốc hội Khóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại phòng bỏ phiếu số 1, tại số nhà 67 phố Cửa Bắc, khu phố Ba Đình – Hà Nội. Ảnh: Mai Nam.
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong hoàn cảnh chính quyền non trẻ gặp muôn vàn khó khăn, cùng một lúc phải chống lại thù trong giặc ngoài và giặc đói giặc dốt, Bác Hồ vẫn đề nghị Chính phủ lâm thời tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

Tại cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên (Quốc hội khoá I) năm 1946,Thủ đô Hà Nội là nơi Bác Hồ ra ứng cử. Gần đến ngày bầu cử, có 118 vị là Chủ tịch Ủy ban Hành chính đã công bố một bản đề nghị “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi ủng hộ và suy tôn vĩnh viễn Cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.

Đây cũng là nguyện vọng của đông đảo nhân dân ta. Mặc dù vậy, Bác Hồ đã viết một bức thư ngắn cảm tạ đồng bào và đề nghị đồng bào cho Người thực hiện quyền và nghĩa vụ của người công dân.

Bức thư có đoạn viết: “Tôi là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nên tôi không thể vượt qua thể lệ của cuộc Tổng tuyển cử đã định”.

Trước ngày Tổng tuyển cử một hôm, tại khu Việt Nam học xá (Nay là khu vực Trường Đại học Bách Khoa, Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dự mít tinh của hơn hai vạn đồng bào Hà Nội ủng hộ cuộc bầu cử Quốc hội.

Tại cuộc mít tinh, Người nói: ” Làm việc bây giờ là hy sinh, là phấn đấu quên lợi ích riêng mà nghĩ lợi ích chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu”.

Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I, Người đã trúng cử với số phiếu rất cao. Khi kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khoá I tín nhiệm bầu vào vị trí Chủ tịch Chính phủ kháng chiến, Người phát biểu: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác, thì tôi phải gắng làm, cũng như mọi người lính vâng lệnh Quốc dân ra trước mặt trận”.

Đúng 14 năm sau, sáng 15/4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 12 Quốc hội khoá I. Sau khi nêu lên: “Quốc hội ta là Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam châu Á, cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do”.

Là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Quốc hội khoá I đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ cộng hòa. Do điều kiện đất nước bị chia cắt, nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khoá I kéo dài từ tháng 1/1946 đến tháng 5/1960.

Thông qua 12 kỳ họp, đặc biệt là hoạt động của Ban Thường trực Quốc hội, luôn có mặt bên cạnh Chính phủ để chỉ đạo công tác kháng chiến – kiến quốc; xây dựng Hiến pháp, Luật Cải cách ruộng đất; đàm phán, ký kết và đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ ne vơ; khôi phục kinh tế miền Bắc.

Quốc hội khóa I đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy, giải phóng và đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, chi viện cho công cuộc giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những cống hiến của Quốc hội khoá I suốt 14 năm và khẳng định: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân, vì nước, đã làm tròn một cách vẻ vang nghĩa vụ của người đại biểu của dân”.

Người cảm ơn Quốc hội khóa I và tin chắc rằng Quốc hội khóa II của chúng ta sẽ đưa hết tinh thần và lực lượng để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Cùng năm 1960 ấy, ngày 24/4, phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ra mắt cử tri Thủ đô, sau khi cảm ơn đồng bào đã nhất trí yêu cầu Người và các vị khác ra ứng cử vào Quốc hội khoá II, Người đã nêu lên tính chất dân chủ của Luật Bầu cử, giá trị cao quý của lá phiếu cử tri và tin tưởng rằng những cử tri sáng suốt sẽ bầu ra được một Quốc hội có những đại biểu thật xứng đáng.

Người thay mặt các ứng cử viên hứa với đồng bào: ” Những người được cử vào Quốc hội khoá II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đầy tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội.

“Bác đến sau, Bác chờ”

Sự tôn trọng, dân chủ, nghiêm túc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc làm rất nhỏ của công tác bầu cử. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác Hồ, sau này là Cục trưởng cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ – Bộ Công an) kể lại: Chiều 27/4/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử HĐND cấp huyện và xã. Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, Tiểu khu 1, Khu phố Ba Đình, Hà Nội đặt tại Nhà thuyền (Hồ Tây).

Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: “Ai đến trước, bầu trước; Bác đến sau, Bác chờ”. Sau đó, Người đã gương mẫu chờ đến lượt mình mới lấy lá phiếu và bầu cử. Nghĩa vụ là vậy, còn về “quyền” Bác cũng kiên quyết thực hiện đúng quyền của mình. Bác yêu cầu đưa lý lịch những người ứng cử để Người cân nhắc lựa chọn.

Một nhà báo định chụp ảnh Bác đang bầu cử, Người đã lấy tay che lá phiếu và ngăn lại: “Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải tôn trọng cử tri. Phải tôn trọng tự do và bí mật của công dân!”.

Sau khi bỏ phiếu xong, ra về đến Phủ Chủ tịch, Bác xuống xe quay sang hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng: “Chú có biết vì sao Nguyễn Hải Thần bị nhân dân khinh ghét không?”

Năm 1945, mỗi lần Nguyễn Hải Thần đi đâu bọn lính bảo vệ ông ta ngồi trên xe tay lăm lăm súng lưỡi lê tuốt trần và còn đặt khẩu đại liên diễu võ giương oai, trông rất lố lăng.

Nghe Bác hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng chột dạ và cảm thấy cuộc bảo vệ hôm đó có điều gì sơ suất khiến Bác không hài lòng. Sau này đồng chí bảo vệ tiếp cận ngồi cùng xe Bác nói lại, khi Bác đến nơi bỏ phiếu, nhìn thấy vắng cử tri, Bác không vui. Bác muốn như mọi người dân bình đẳng khi đi thực hiện quyền làm chủ của mình.

Ôn lại những câu chuyện về Bác, chúng ta càng thấy rõ hơn tâm huyết và tầm nhìn xa trông rộng của Bác; Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho một xã hội bình đẳng, dân chủ và dày công vun đắp, xây dựng một Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân.

Theo Nguyễn Đức Quý

Công An Nhân dân

vtc.vn