Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Sửa đổi lề lối làm việc (Phần 2)

IV. TƯ CÁCH VÀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Bác Hồ làm việc ở Pắc Bó

A. TƯ CÁCH CỦA ĐẢNG CHÂN CHÍNH CÁCH MẠNG

1. Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.

2. Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau.

3. Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương.

4. Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không.

5. Phải luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng. Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.

6. Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng.Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng.

7. Mỗi công việc của Đảng phải giữ vững tính cách mạng của nó, lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát.Nếu không vậy thì không biết nắm vững các cách thức tranh đấu và các cách thức tổ chức, không biết liên hợp lợi ích ngày thường và lợi ích lâu dài của dân chúng.

8. Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên. 9. Đảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo.

10. Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hoá ra ngoài.

11. Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới. Kỷ luật này là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng.

12. Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hoá ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng.

Muốn cho Đảng được vững bền Mười hai điều đó chớ quên điều nào.

B. PHẬN SỰ CỦA ĐẢNG VIÊN VÀ CÁN BỘ

1. Trọng lợi ích của Đảng hơn hết

Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hoá, chính trị của nhân dân. Vì toàn dân được giải phóng, tức là Đảng được giải phóng.

Vì vậy, mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài. Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết.

Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc. Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”. Nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng.

Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng. Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ phải hiểu rõ, phải thực hành như thế. Vì hiểu rõ và thực hành như thế, cho nên trong Đảng ta đã có những liệt sĩ oanh liệt hy sinh cho Đảng, cho dân tộc, cho Tổ quốc, mà tiếng thơm để muôn đời. Các liệt sĩ đó đã nêu gương anh dũng cho tất cả đảng viên và cán bộ ta bắt chước.

Nhiều khi lợi ích của cá nhân hợp với lợi ích của Đảng. Thí dụ đảng viên và cán bộ cẩn thận giữ gìn sức khoẻ của mình để làm việc. Ham học tập để nâng cao trình độ của mình. Làm đúng cần, kiệm, liêm, chính để cho dân tin, dân phục, dân yêu.

Những lợi ích cá nhân đó rất chính đáng. Đảng mong cho đảng viên và cán bộ như thế. Song ngoài ra, như ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại, v.v.. Đó đều là trái với lợi ích của Đảng.

2. Đạo đức cách mạng

Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm.

Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.

a) NHÂN là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền. Những người đã không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải họ đều làm được.

b) NGHĩA là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

c) TRÍ vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

d) DŨNG là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

đ) LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người. Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.

Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?

3. Phải giữ kỷ luật

Lợi ích của dân tộc, gồm có lợi ích của Đảng. Lợi ích của Đảng, gồm có lợi ích của đảng viên. Vì vậy, sự phát triển và thành công của Đảng, một mặt tức là thành công của dân tộc, một mặt tức là thành công của đảng viên. Vì vậy, chỉ có khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi. Chính vì vậy mà đảng viên cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng.

Không ai bắt buộc ai vào Đảng làm chiến sĩ xung phong. Đó là do sự “tự giác”, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ xung phong. Đã vậy, thì mỗi người đảng viên phải cố gắng cho xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc.

Nhất là những người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc. Càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo.

Cũng vì lợi ích của dân tộc, mà Đảng cần phải khuyến khích và khen thưởng những ưu điểm và tài năng của đảng viên. Cần phải giúp cho họ học hành, giúp cho họ làm việc và tuỳ theo hoàn cảnh mà giúp họ về mặt sinh hoạt, trong lúc ốm đau. Khiến cho họ ham làm việc, vui làm việc. Nói tóm lại: mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải hoàn toàn phục tùng lợi ích của Đảng. Không nên có mục đích cá nhân. Không nên vì cá nhân mà yêu cầu Đảng cái này cái khác, hoặc trách móc Đảng không giúp đỡ mình, không khen thưởng mình.

Đồng thời, bất kỳ ở hoàn cảnh nào, đảng viên và cán bộ cần phải luôn luôn ra sức phấn đấu, ra sức làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ văn hoá, trí thức và chính trị của mình. Luôn luôn giữ gìn kỷ luật. Luôn luôn xứng đáng một người cán bộ, một người đảng viên.

4. Đối với các hạng đảng viên

Đảng ta là một đảng cách mạng, một đảng vì dân, vì nước. Song Đảng có rất đông đảng viên. Phần đông cố nhiên đã hiểu biết vì dân, vì nước mà vào Đảng. Nhưng cũng có phần vì lẽ khác mà theo vào Đảng. Thí dụ: có người tưởng vào Đảng thì dễ tìm công ăn việc làm. Có người vào Đảng mong làm chức này, tước nọ. Có người vì anh em bạn hữu kéo vào, v.v.. Những người này không biết rằng: cách mạng là một sự nghiệp gian nan cực khổ, phải có lòng kiên quyết, có chí hy sinh.

Vì vậy khi gặp sự khó khăn, họ không khỏi dao động, hoang mang.

Dù sao, họ tin Đảng ta, họ kính trọng Đảng ta, họ tìm vào Đảng ta, đó cũng là một điều tốt. Trừ những bọn vào Đảng để mong phá hoại, còn những hạng kia chúng ta đều hoan nghênh. Một khi họ đã theo Đảng thì Đảng phải cảm hoá họ, dạy dỗ họ, nâng cao sự hiểu biết và lòng phụ trách của họ lên dần dần. Trong sự huấn luyện và tranh đấu lâu dài, họ rất có thể thành những người chiến sĩ khá.

Đối với những người không chịu nổi khó nhọc, không chịu nổi kỷ luật nghiêm khắc mà xin ra khỏi Đảng, thì Đảng vẫn bằng lòng để họ ra. Đảng chỉ yêu cầu một điều là: họ thề không lộ bí mật của Đảng, không phản Đảng, không phá hoại Đảng. Như thế thì Đảng vẫn giữ cảm tình thân thiện với họ.

Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.

5. Những khuyết điểm sai lầm

Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm, thí dụ những bệnh sau đây:

a) Bệnh tham lam – Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình.

b) Bệnh lười biếng – Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết. Làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh.

c) Bệnh kiêu ngạo – Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác.

d) Bệnh hiếu danh – Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, uỷ viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực.

đ) Thiếu kỷ luật – Đã mắc bệnh cá nhân thì tư tưởng và hành động cũng đặt cá nhân lên trên. Vì thế mà việc gì cũng không lấy Đảng làm nền tảng. Mình muốn thế nào thì làm thế ấy. Quên cả kỷ luật của Đảng. Phê bình thì cốt công kích những đồng chí mình không ưa. Cất nhắc thì cốt làm ơn với những người mình quen thuộc.

e) óc hẹp hòi – ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ta uất ức và mình thành ra cô độc.

g) óc địa phương – Bệnh này tuy không xấu bằng các bệnh kia nhưng kết quả cũng rất tai hại. Miễn là cơ quan mình, bộ phận mình, địa phương mình được việc. Còn các cơ quan, bộ phận, địa phương khác ra sao cũng mặc kệ. Đó là vì cận thị, không xem xét toàn thể. Không hiểu rằng lợi ích nhỏ phải phục tùng ích lợi to, ích lợi bộ phận phải phục tùng ích lợi toàn thể.

h) óc lãnh tụ – Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi.

Nào có biết so với công cuộc giải phóng cả dân tộc thì những thành công đó chỉ là một chút cỏn con, đã thấm vào đâu! Mà so với những sự nghiệp to tát trong thế giới, càng không thấm vào đâu.

Cố nhiên, Đảng ta mong cho có nhiều anh hùng, nhiều lãnh tụ, được dân tin, dân phục, dân yêu. Những anh hùng và lãnh tụ như thế là của quý của Đảng, của dân tộc. Song, những anh hùng và lãnh tụ như thế đều do tranh đấu và kinh nghiệm rèn luyện ra, đều do dân chúng và đảng viên tin cậy mà cử ra, chứ không phải tự mình muốn làm lãnh tụ, làm anh hùng mà được.

Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, lãnh tụ.

Đem so với công việc của cả loài người trong thế giới, thì những người đại anh hùng xưa nay cũng chẳng qua làm tròn một bộ phận mà thôi. Mỗi người chúng ta cố làm đầy đủ những công việc Đảng giao phó cho, thế là ta làm tròn nhiệm vụ, và lòng tự hào đó giúp cho ta tiến bộ mãi.

6. Những bệnh khác

a) Bệnh “hữu danh, vô thực” – Làm việc không thiết thực, không tự chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch.

Thí dụ việc tổ chức – Trong báo cáo thì làng nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có. Hạng người nào cũng có. Có hàng vạn hàng ức người. Nhưng khi soạn lại cặn kẽ, hỏi lại rõ ràng, nhưng nơi đó có bao nhiêu người, những tổ chức đó đã làm việc gì, cán bộ đã đến đó mấy lần, đã làm gì cho những tổ chức đó, thì chưa có gì thiết thực hết.

Thế là không làm tròn nhiệm vụ của mình. Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm.

b) Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa.

Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống.

Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ.

c) Bệnh cận thị – Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ. Thí dụ: việc tăng gia sản xuất, việc tiếp tế bộ đội thì không lo đến, mà chỉ lo thế nào để lợi dụng cơm cháy và nước gạo trong các bộ đội.

Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn.

d) Bệnh “cá nhân”

1. Việc gì không phê bình trước mặt để nói sau lưng. Khi khai hội thì không nói, lúc khai hội rồi mới nói. Không bao giờ đề nghị gì với Đảng. Không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng. Muốn sao làm vậy.

2. Muốn làm xong việc, ai có ưu điểm cũng không chịu học theo, ai có khuyết điểm cũng không dám phê bình.

3. Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình.

4. Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí.

5. Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ.

6. Gặp dân chúng thì không điều tra, không hỏi han, không tuyên truyền, không giải thích. Xem như dân chúng không có quan hệ gì với mình.

7. Thấy những việc có hại đến dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không ngăn cản, không giải thích.

8. Làm việc không có kế hoạch, gặp sao làm vậy, làm lấy lệ, làm không có ngăn nắp, làm không đến nơi đến chốn.

9. Tự cho mình là “cách mạng già”, “cách mạng cũ”; việc to làm không nổi, việc nhỏ không chịu làm. Làm việc thì lờ mờ, học hành thì biếng nhác.

10. Biết mình có khuyết điểm, nhưng không chịu cố gắng sửa đổi.

Những tật bệnh đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để, Đảng xa rời dân chúng.

Mắc phải bệnh đó thì dễ đi đến chỗ để lợi ích cá nhân lên trên, để lợi ích Đảng và dân tộc xuống dưới.

Một người cách mạng bao giờ cũng phải trung thành, hăng hái, xem lợi ích của Đảng và dân tộc quý hơn tính mệnh của mình. Bao giờ cũng quang minh chính trực, ham cách sinh hoạt tập thể, luôn luôn săn sóc dân chúng, giữ gìn kỷ luật, kiên quyết chống lại “bệnh cá nhân”.

đ) Bệnh lười biếng – Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết, không chịu nghiên cứu rõ ràng. Không lập tức đưa ngay mệnh lệnh và nghị quyết đó cho cấp dưới, cho đảng viên, cho binh sĩ. Cứ xếp lại đó. Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng.

Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng, không đến nơi đến chốn. Kết quả nhỏ là: nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần. Kết quả nặng là: phá hoại tổ chức của Đảng, giảm bớt kỷ luật của Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi. Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp. Vì không hiểu rằng: Đảng cũng như thân thể một con người. Mệnh lệnh và nghị quyết cũng như mạch máu. Mạch máu chạy đều khắp thân thể thì người mạnh khoẻ. Mạch máu dừng lại đâu, không chạy thì chỗ đó sẽ tê liệt, sinh bệnh. Mệnh lệnh và nghị quyết đi mau, đi suốt từ trên đến dưới, công tác mau chóng, việc gì cũng xong xuôi. Nó ngừng lại cấp nào, từ cấp đó trở xuống là tê liệt, không biết đường nào mà công tác.

Cách chữa:

– Các cơ quan chỉ đạo phải có cách lãnh đạo cho đúng. Mỗi việc gì đều phải chỉ bảo cách làm.

– Cấp trên phải hiểu rõ tình hình cấp dưới và tình hình quần chúng, để chỉ đạo cho đúng.

– Khi nghị quyết việc gì, phải cẩn thận, rõ ràng. Khi đã nghị quyết thì phải kiên quyết thi hành.

Mỗi nghị quyết phải mau chóng truyền đến các cấp dưới, đến đảng viên, đến dân chúng. Cách tiện nhất là khai hội với các đảng viên, khai hội với dân chúng (hoặc binh sĩ), phái người đến báo cáo, giải thích.

– Các cấp dưới, đảng viên và dân chúng (hoặc binh sĩ) phải thảo luận những mệnh lệnh và nghị quyết đó cho rõ ràng, hiểu thấu ý nghĩa của nó và định cách thi hành cho đúng.

– Cấp dưới cần phải báo cáo. Cấp trên cần phải kiểm soát.

e) Bệnh tị nạnh – Cái gì cũng muốn “bình đẳng”.

Thí dụ: Cấp trên vì công việc phải cưỡi ngựa, đi xe. Cấp dưới cũng muốn cưỡi ngựa, đi xe.

Người phụ trách nhiều việc, cần có nhà rộng. Người không phụ trách nhiều việc, cũng đòi nhà rộng.

Phụ cấp cho thương binh cũng muốn nhất luật, không kể thương nặng hay nhẹ.

Làm việc gì, thì muốn già, trẻ, mạnh, yếu đều làm bằng nhau.

Có việc, một người làm cũng được, nhưng cũng chờ có đủ mọi người mới chịu làm.

Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng. Không hiểu rằng: người khoẻ gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng.

Cách chữa – Giải thích cho họ hiểu: đồng cam cộng khổ là một điều rất hay , rất tốt. Nhất là trong lúc cái gì cũng còn túng thiếu, và mỗi đảng viên, mỗi cán bộ cần phải làm kiểu mẫu trong sự cần lao, tiết kiệm. Nhưng cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh. Cái gì thái quá cũng không tốt. Bình đẳng thái quá cũng không tốt. Thí dụ: nếu một chiến sĩ bị thương được đi xe, ăn ngon, các chiến sĩ khác đều đòi đi xe, đòi ăn ngon . Hoặc vì bình đẳng mà bắt buộc một trẻ em cũng ăn nhiều, cũng gánh nặng, như một người lớn. Nếu như thế là bình đẳng, thì bình đẳng đó rất vô lý, rất xấu, chúng ta phải kiên quyết chống lại thứ bình đẳng đó.

Sợ mất oai tín và thể diện mình, không dám tự phê bình.

Lại nói: Nếu phê bình khuyết điểm của mình, của đồng chí mình, của Đảng và Chính phủ, thì địch sẽ lợi dụng mà công kích ta.

Nói vậy là lầm to. Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình, cũng như có bệnh mà giấu bệnh. Không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết “cũng la lết quả dưa”.

Nói về từng người, nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình!

Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

Đảng cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng. Sợ phê bình, tức là “quan liêu hoá”, tức là tự mãn tự túc, tức là “mèo khen mèo dài đuôi”.

Phê bình không phải để công kích, để nói xấu, để chửi rủa.

g) Bệnh xu nịnh, a dua – Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái.

Còn bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, bệnh nóng tính, bệnh lụp chụp, v.v., đã nói qua, đây không nhắc nữa.

7. Những khuyết điểm sai lầm vì sao mà có và tự đâu mà đến?

Khuyết điểm đâu mà nhiều thế?

Đảng ta là một đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng.

Nhưng không vì thế mà kinh sợ. Ta đã thấy rõ những bệnh ấy thì ta tìm được cách chữa.

Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình.

Đá đi lâu cũng mòn. Sắt mài lâu cũng sắc. Ta cố gắng sửa chữa thì khuyết điểm ngày càng bớt, ưu điểm ngày càng thêm. Đảng viên và cán bộ ngày càng trở nên người chân chính cách mạng. Đảng ngày càng phát triển.

Mong ai nấy đều phải thiết thực sửa đổi. Đảng ta là một tổ chức rất tiến bộ, đã có những thành tích rất vẻ vang.

Trong Đảng ta, gồm có những người có tài, có đức. Phần đông những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết, dũng cảm nhất đều ở trong Đảng ta. Chúng ta chắc chắn đi đến thắng lợi và thành công.

Tuy vậy, không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay. Trong Đảng ta chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vu vơ, những việc không chính đáng, như vừa kể trên.

Cũng như một nhà có rể khờ, dâu dại, không thể cấm họ gặp gỡ bà con. Đảng ta dù muốn giấu những người và những việc không tốt kia, cũng không thể giấu. Quần chúng luôn luôn liên lạc với Đảng ta. Những người hăng hái đồng tình với Đảng ta, hoặc tham gia Đảng ta. Họ chẳng những trông thấy những người tốt, việc tốt, mà họ cũng trông thấy những người xấu, việc xấu trong Đảng. Họ sẽ ngơ ngác mà hỏi ” Đảng này là Đảng tốt, đảng viên đều là người tốt, vì sao lại có những người vu vơ, những việc mờ tối như thế nhỉ?”.

Câu hỏi đó làm cho chúng ta càng thêm chú ý, làm cho đảng viên và cán bộ phải cẩn thận giữ mình, và cẩn thận săn sóc, dắt dìu những người cảm tình, những đảng viên mới, chớ để họ bị ảnh hưởng xấu. Đồng thời, chúng ta phải trả lời cho câu hỏi đó cho đúng. Nếu không thì người ta sẽ thất vọng và bi quan.

Trả lời thế nào?

Rất là giản đơn, dễ hiểu:

Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa, v.v.. Những thói xấu đó có đã lâu, nhất là trong 80 năm nô lệ. Những thói xấu đó, họ mang từ xã hội vào Đảng.

Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái? Vì lội bùn thì nhất định có hơi bùn. Cần phải tắm rửa lâu mới sạch. Trái lại, nếu lội bùn mà không có hơi bùn, mới thật là kỳ quái. Nếu trong Đảng ta, một đảng mới từ trong xã hội cũ bước ra, nếu nó hoàn toàn không có những người xấu, việc xấu như thế mới là kỳ quái chứ! Cố nhiên nói thế không phải là để tự bào chữa.

Đảng một mặt phải làm công việc giải phóng dân tộc, một mặt phải giáo dục đảng viên và cán bộ, kiên quyết cảm hoá những phần tử xấu, sửa chữa những thói xấu còn lại. Phải cố sửa chữa cho tiệt nọc các chứng bệnh, khiến cho Đảng càng mạnh khoẻ, bình an.

8. Cách đối với các khuyết điểm

Vì Đảng rất to, người rất đông; mỗi hạng người lại có thói quen, tính nết, trình độ, tư tưởng, nhận xét khác nhau. Nhất là khi phong trào cách mạng càng sôi nổi, hoàn cảnh càng khó khăn, thì sự khác nhau đó càng rõ rệt, càng trở nên gay go.

Nên giải quyết những mối mâu thuẫn đó thế nào?

Có người thì cho rằng: trong Đảng việc gì cũng tốt, không có khuyết điểm gì đáng lo. Có người lại cho rằng: trong Đảng cái gì cũng kém, đầy những khuyết điểm, vì vậy mà họ bi quan, thất vọng. Hai cách nhận xét đó đều không đúng.

Sự thật là: Đảng ta rất tiền tiến, rất vẻ vang. Nhưng nội bộ vẫn còn những sự sai lầm và khuyết điểm. Đồng thời, chúng ta thấy cái nguồn gốc của những sai lầm khuyết điểm đó, và chắc tìm được cách sửa chữa. Chúng ta quyết tâm công tác thêm, để làm cho Đảng tiến bộ thêm mãi.

Thái độ mỗi người đối với những khuyết điểm của Đảng ta cũng khác nhau.

Bọn phản động thì lợi dụng những khuyết điểm đó và tô vẽ thêm để phá hoại Đảng ta.

Lợi dụng những sai lầm và khuyết điểm đó, để đạt mục đích tự tư tự lợi của họ. Đó là thái độ của đảng viên và cán bộ đầu cơ.

Bọn thứ ba thì sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi. Không phê bình, không tự phê bình. Đó là thái độ của những đảng viên và cán bộ ươn hèn yếu ớt.

Bọn thứ tư thì đối với những người có khuyết điểm và sai lầm đó, như đối với hổ mang, thuồng luồng. Họ đòi phải đuổi bọn kia ra khỏi Đảng ngay. Nếu Đảng không làm như thế thì họ cho rằng: Thôi, hỏng hết rồi! Do đó, họ đâm ra chán nản, thất vọng. Hoặc họ không làm gì nữa hết. Thậm chí họ bỏ Đảng. Đó là thái độ những người máy móc quá. Đó cũng là bệnh “chủ quan”.

Thái độ thứ năm, là thái độ đúng. Tức là:

a) Phân tách rõ ràng, cái gì đúng, cái gì là sai.

b) Không chịu nổi ảnh hưởng của những chủ trương sai lầm, những phần tử không tốt. Ra sức học tập và nâng cao những kiểu mẫu tốt.

c) Không để mặc kệ. Mà ra sức tranh đấu sửa chữa những khuyết điểm, không để nó phát triển ra, không để nó có hại cho Đảng.

d) Không làm cách máy móc. Nhưng khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để giúp đồng chí khác sửa đổi những sai lầm và khuyết điểm, giúp họ tiến bộ.

đ) Đoàn kết Đảng bằng sự tranh đấu nội bộ. Nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng.

Bọn phản động và bọn đầu cơ là địch nhân lọt vào trong Đảng để phá hoại. Vì vậy chúng ta phải ra sức đề phòng. Mỗi khi trong Đảng có khuyết điểm thì chúng ta phải tìm cách chớ để cho ai lợi dụng. Đó là phận sự của mỗi một đảng viên chân chính.

Thái độ thứ ba, ai mặc kệ ai, cố nhiên cũng không đúng. Tuy vậy, trong Đảng, còn có nhiều người giữ thái độ đó, nhất là khi cấp dưới đối với cấp trên. Thái độ đó thường sinh ra thói “không nói trước mặt, hục hặc sau lưng”. Nó gây nên sự uất ức và không đoàn kết trong Đảng. Nó để cho bọn vu vơ có thể chui vào hoạt động trong Đảng. Nó để cho khuyết điểm ngày càng chồng chất lại và phát triển ra.

Nếu theo thái độ thứ tư thì Đảng chỉ còn một nhóm cỏn con, vì số đông sẽ bị khai trừ hết. Mà chính những người có thái độ đó cũng bị khai trừ, vì họ đã phạm cái khuyết điểm hẹp hòi.

Kết luận – Trong công tác, trong tranh đấu, trong huấn luyện, các đảng viên, các cán bộ, cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí mình. Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi.

C. TƯ CÁCH VÀ BỔN PHẬN ĐẢNG VIÊN

1. Tư cách

a) Thừa nhận chính sách của Đảng. Thực hành các nghị quyết của Đảng. Ra sức làm công việc Đảng. Nộp đảng phí.

b) Những người trí thức, công nhân, nông dân, phụ nữ, quân nhân, hăng hái yêu nước, từ 18 tuổi trở lên đều được vào Đảng.

c) Mỗi người muốn vào Đảng phải có hai đảng viên cũ giới thiệu.

– Những người bỏ đảng phái khác mà vào Đảng, phải có ba người giới thiệu, và phải được cấp trên của Đảng chuẩn y.

– Những người rời Đảng đã lâu, mà có người làm chứng rằng, trong thời gian đó không hề làm việc gì có hại cho Đảng, thì được trở lại làm đảng viên.

d) Những người mới vào Đảng phải qua một thời kỳ dự bị. Nông dân và công nhân hai tháng. Quân nhân ba tháng. Trí thức bốn tháng.

đ) Trong thời kỳ dự bị, Đảng phải dạy dỗ cho họ, và trao việc cho họ làm. Đồng thời, Đảng phải xem xét tính nết, công tác và lịch sử của họ.

– Những người giới thiệu phải giúp đỡ họ học tập và công tác.

e) Những người dự bị phải công tác cho Đảng và nộp đảng phí.

Họ có quyền tham gia huấn luyện, đề ra ý kiến, bàn bạc các vấn đề, nhưng không có quyền biểu quyết.

Họ cũng chưa có quyền giữ các trách nhiệm chỉ đạo như làm tổ trưởng, thư ký, v.v.. (Trong những hoàn cảnh đặc biệt, như nơi đó mới bắt đầu có Đảng, hoặc đại đa số đều đảng viên mới, thì không phải theo lệ này).

2. Bổn phận

a) Suốt đời tranh đấu cho dân tộc, cho Tổ quốc.

b) Đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết, lên trước hết.

c) Hết sức giữ kỷ luật và giữ bí mật của Đảng.

d) Kiên quyết thi hành những nghị quyết của Đảng.

đ) Cố gắng làm kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi việc.

e) Cố gắng học tập chính trị, quân sự, văn hoá. Phải gần gũi quần chúng, học hỏi quần chúng, cũng như phải lãnh đạo quần chúng.

Xem tiếp: Phần 3

bachovoihue.com

Sửa đổi lề lối làm việc (Phần 1)

I. PHÊ BÌNH VÀ SỬA CHỮA

Bác Hồ làm việc ở Pắc Bó

1. Cán bộ và đảng viên ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập. Đó là một khuyết điểm rất to. Khác nào người thầy thuốc chỉ đi chữa người khác, mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa. Từ nay, chúng ta cần phải thiết thực học tập, sửa chữa các khuyết điểm. Vì có tẩy sạch khuyết điểm, công việc mới có thể tiến bộ.

2. Trong bức thư trước, Hồ Chủ tịch đã vạch rõ khuyết điểm của chúng ta. Những cán bộ và đảng viên các nơi, hoặc chỉ nghiên cứu qua loa, hoặc nhận thấy khuyết điểm rồi nhưng không cố gắng sửa chữa. Đó là vì nghiên cứu một cách không thiết thực, không có tổ chức.

Từ nay, chúng ta phải làm như sau này:

A- TỔ CHỨC: Mỗi cơ quan, bộ đội, đoàn thể phải tổ chức một uỷ ban học tập, do cán bộ cao cấp lãnh đạo, do các cấp cử đại biểu tham gia. Số uỷ viên nhiều hay ít, tuỳ hoàn cảnh mà định. Uỷ ban này định ra kế hoạch; nghiên cứu, thảo luận, kiểm tra và thực hành.

B- THỜI GIAN HỌC TẬP: từ 2 đến 3 tháng. Mỗi nơi tuỳ hoàn cảnh mà định ngày giờ. Dù sao, phải có ngày giờ nhất định.

D- CÁCH THỨC HỌC TẬP:

1. Nghiên cứu – Mỗi người phải đọc kỹ càng các tài liệu, rồi tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, có khuyết điểm gì và ưu điểm gì.

2. Thảo luận – Khai hội thảo luận và phê bình. Trong lúc thảo luận, mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh. Những kết luận trong cuộc thảo luận phải có cấp trên duyệt y mới là chính thức.

Đ- CÁCH PHÊ BÌNH: Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Vì vậy, phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người. Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét.

E- KIỂM TRA: Uỷ ban học tập phải có một ban kiểm tra để xem xét việc học tập và sự tiến bộ của mọi người, giúp đỡ người tiến bộ ít, khen ngợi người tiến bộ nhiều.

G- BÁO CÁO: Mỗi tháng phải báo cáo về Trung ương một lần.

H- THỰC HÀNH: Người có ưu điểm thì phải cố gắng thêm, và người khác phải cố gắng bắt chước. Mọi người phải tích cực sửa chữa khuyết điểm của mình và giúp anh em sửa chữa khuyết điểm của họ. Mọi người phải nhớ rằng: cộng nhiều khuyết điểm nhỏ thành một khuyết điểm to, sẽ rất có hại. Cộng nhiều ưu điểm nhỏ thành một ưu điểm lớn, rất lợi cho Đảng và công cuộc kháng chiến.

II. PHẢI SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC CỦA ĐẢNG

Đảng ta hy sinh tranh đấu, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, tranh lại thống nhất và độc lập. Công việc đã có kết quả vẻ vang.

Nhưng, nếu mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, thì thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa.

Cán bộ và đảng viên làm việc không đúng, không khéo, thì còn nhiều khuyết điểm. Khuyết điểm nhiều thì thành tích ít. Khuyết điểm ít thì thành tích nhiều. Đó là lẽ tất nhiên.

Vì vậy, ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh.

Khuyết điểm có nhiều thứ. Chúng ta có thể chia tất cả các khuyết điểm vào ba hạng:

– Khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan.

– Khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng với ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi.

– Khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa.

Đó là ba chứng bệnh rất nguy hiểm. Nếu không chữa ngay, để nó lây ra, thì có hại vô cùng.

A- BỆNH CHỦ QUAN

Mỗi chứng bệnh sinh ra do nhiều nguyên nhân. Nhưng kết quả nó đều làm cho người ta ốm yếu. Nguyên nhân của bệnh chủ quan là: Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông.

Trước hết, ta phải hiểu lý luận là gì?

Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính.

Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế.

Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi.

Hiện nay, phong trào cách mạng rất cao. Nhưng thử hỏi cán bộ và đảng viên ta đã mấy người biết rõ lý luận và biết áp dụng vào chính trị, quân sự, kinh tế, và văn hoá? Đã mấy người hiểu “biện chứng” là cái gì?

Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại.

Đó là chứng kém lý luận trong bệnh chủ quan.

Có những cán bộ, những đảng viên cũ, làm được việc, có kinh nghiệm. Cố nhiên, những anh em đó rất quý báu cho Đảng. Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh khinh lý luận. Họ quên rằng: nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều. Họ quên rằng: kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi.

Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ.

Những anh em đó, cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn.

Có những người xem được sách, xem nhiều sách. Siêng xem sách và xem nhiều sách là một việc đáng quý. Nhưng thế không phải đã là biết lý luận.

Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách.

Xem nhiều sách để mà loè, để làm ra ta đây, thế không phải là biết lý luận.

Những anh em đó cần phải ra sức thực hành mới thành người biết lý luận.

Nói tóm lại, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông.

Có những người xem được sách, xem nhiều sách. Siêng xem sách và xem nhiều sách là một việc đáng quý. Nhưng thế không phải đã là biết lý luận.

Đây phải nói rõ vấn đề trí thức.

Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều.

Nhưng có đôi người trí thức vì thế mà kiêu ngạo, lên mặt. Chứng kiêu ngạo lên mặt rất có hại cho họ. Nó ngăn trở họ tiến bộ.

Trí thức là gì?

Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác.

Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế.

Vì vậy, những người trí thức đó cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế.

Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận.

Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.

Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem loè thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích.

Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành.

B- BỆNH HẸP HÒI

Bệnh này rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải.

Trong, thì bệnh này ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết.

Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân.

Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hoá,v.v., đều do bệnh hẹp hòi mà ra!

Có những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận của mình, không thấy lợi ích của toàn thể, muốn đem lợi ích của toàn thể phục tùng lợi ích của bộ phận mình. Họ quên hẳn cái chế độ dân chủ tập trung. Họ quên rằng thiểu số phải phục tùng đa số, hạ cấp phải phục tùng thượng cấp, bộ phận phải phục tùng toàn thể.

Chúng ta phải kiên quyết chữa ngay bệnh ấy, mỗi một đảng viên, mỗi một bộ phận, mỗi một lời nói, việc làm, tuyệt đối phải nhằm vào lợi ích của toàn cuộc, lợi ích của toàn Đảng.

Vì ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách tẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Đó là một thứ bệnh hẹp hòi, trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất của Đảng.

Cũng vì bệnh hẹp hòi đó mà cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương không đoàn kết chặt chẽ.

Phải biết rằng: chỉ có hai hạng cán bộ đó đoàn kết chặt chẽ và chỉ có cán bộ địa phương ngày càng thêm nhiều, thì nền tảng của Đảng mới phát triển và vững vàng. Cán bộ phái đến, trình độ thường cao hơn, kinh nghiệm nhiều hơn. Nhưng cán bộ địa phương lại biết rõ nhân dân, quen thuộc công việc hơn. Hai hạng cán bộ phải giúp đỡ nhau, bồi đắp nhau, thì công việc mới chạy.

Vì bệnh hẹp hòi mà cán bộ phái đến thường kiêu ngạo, khinh rẻ cán bộ địa phương, cho họ là dốt kém. Thành thử không thân mật hợp tác.

Từ nay, hễ có việc lôi thôi như thế nữa, thì cán bộ phái đến phải chịu lỗi nặng hơn, nhất là những cán bộ lãnh đạo.

Hai hạng cán bộ phải kết thành một khối, không phân biệt, không kèn cựa. Phải cùng nhau chữa cho tiệt cái nọc bệnh hẹp hòi.

Cán bộ quân sự với cán bộ địa phương cũng vậy, phải đoàn kết nhất trí, giúp đỡ lẫn nhau.

Cán bộ quân sự trong một địa phương thường giữ địa vị lãnh đạo và có quyền lực trong tay. Vì vậy, nếu từ nay còn có sự không hoà thuận giữa hai bên, thì cán bộ quân sự phải chịu lỗi lớn hơn.

Bộ đội này với bộ đội khác, địa phương này với địa phương khác, cơ quan này với cơ quan khác, đều phải phản đối bệnh ích kỷ, bệnh địa phương. Thí dụ: không muốn cấp trên điều động cán bộ, hoặc khi điều động thì chỉ đùn những cán bộ kém ra. Có vật liệu gì dù mình có thừa, hoặc không cần đến, cũng thu giấu đi, không cho cấp trên biết, không muốn chia sẻ cho nơi khác.

Bệnh địa phương đó, phải tẩy cho sạch.

Lại còn vấn đề cán bộ cũ và cán bộ mới.

Đảng càng phát triển thì cần đến cán bộ mới càng nhiều.

Vả chăng, số cán bộ cũ có ít, không đủ cho Đảng dùng. Đồng thời, theo luật tự nhiên, già thì phải yếu, yếu thì phải chết. Nếu không có cán bộ mới thế vào, thì ai gánh vác công việc của Đảng.

Vì vậy, cán bộ cũ phải hoan nghênh, dạy bảo, dìu dắt, yêu mến cán bộ mới. Cố nhiên cán bộ mới, vì công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán bộ cũ: họ nhanh nhẹn hơn, thường giàu sáng kiến hơn.

Vì vậy, hai bên phải tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, học lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ với nhau.

Cán bộ cũ thường giữ địa vị lãnh đạo. Vì vậy, nếu từ nay, quan hệ giữa hai hạng cán bộ ấy không ổn thoả, thì cán bộ cũ phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Như thế mới chữa khỏi bệnh hẹp hòi.

Từ trước đến nay, vì bệnh hẹp hòi mà có những sự lủng củng giữa bộ phận và toàn cuộc, đảng viên với Đảng, cán bộ địa phương và cán bộ phái đến, cán bộ quân sự và cán bộ “mặt trận”, cán bộ mới và cán bộ cũ, cơ quan này và cơ quan khác, bộ đội này và bộ đội khác, địa phương này và địa phương khác.

Vậy từ nay, chúng ta phải tẩy cho sạch cái bệnh nguy hiểm đó, khiến cho Đảng hoàn toàn nhất trí, hoàn toàn đoàn kết.

Bệnh hẹp hòi đối ngoại.

Có nhiều đồng chí có bệnh tự tôn, tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, muốn học những ưu điểm của người khác. Biết được vài câu lý luận đã cho mình là giỏi, không xem ai ra gì, tưởng mình là hơn hết. Đó là bệnh hẹp hòi hạng nặng.

Họ quên rằng: chỉ đoàn kết trong Đảng, cách mạng cũng không thành công được, còn phải đoàn kết nhân dân cả nước. Họ quên rằng: so với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết.

Vì vậy ta cần phải hợp tác với những người ngoài Đảng. Ta không được khinh rẻ họ, chê bai họ. Ta phải liên lạc mật thiết với dân chúng. Không được rời xa dân chúng. Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại.

Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi.

Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào (như tôn giáo, quốc dân thiểu số, anh em trí thức, các quan lại cũ, v.v.).

Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, phải kiên quyết chữa cái bệnh hẹp hòi đó để thực hành chính sách đại đoàn kết. Chính sách thành công thì kháng chiến mới dễ thắng lợi.

Bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi, v.v., mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó.

Gặp mỗi vấn đề, ta phải đặt câu hỏi:

Vì sao có vấn đề này?

Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao?

Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy.

Để chữa khỏi những bệnh kia, ta phải tự phê bình ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau.

Trong lúc phê bình, khuyết điểm phải vạch ra rõ ràng, mà ưu điểm cũng phải nhắc đến. Một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau.

Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khoẻ vô cùng.

III. MẤY ĐIỀU KINH NGHIỆM

1. Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong

Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định. Sau đây là những kinh nghiệm rõ ràng:

Chính phủ muốn giúp đồng bào làng X. ở thượng du mở mang văn hoá, đã lập ra trường và phái giáo viên đến mấy lần, nhưng không ai đến học. Các giáo viên đều lắc đầu trở về.

Đồng chí A ở Vệ quốc quân, đánh giặc bị thương, gẫy tay, không cầm súng được nữa, xin đi làm giáo viên.

Được phái đến làng X, A liền đi thăm các nhà, nói chuyện với các bậc cha mẹ và trẻ em. Kết quả những cuộc nói chuyện đó là: vì nhà nghèo, thiếu người, trẻ em phải ở nhà giúp việc không đi học được.

A liền tìm cách giải quyết: vừa học vừa làm. Khuyên các trẻ em họp thành tiểu tổ, như tổ chăn trâu, tổ cắt cỏ, tổ đan nón, v.v.. Các trẻ em vừa làm vừa học. Nhờ cách hợp tác, làm lại được nhiều hơn làm riêng ở nhà. Đồng bào trong làng thấy vậy, chẳng những cho các con đã lớn đi học, mà gửi cả con còn bé cho thầy, “học được chữ nào hay chữ ấy”. Rồi người lớn thấy vui cũng đi học.

Nhà trường dột, đồng chí A tự mình lợp lại. Đồng bào thấy vậy, kéo nhau đến giúp.

Đối với các em làm biếng hoặc nghịch ngợm, A không đánh phạt, chỉ dùng cách khuyên dỗ, và bày cho các em khác phê bình. Thành thử dần dần em nào cũng trở nên ngoan ngoãn.

Khi dân làng có việc gì, A cũng ra tay giúp. Khi có ai cãi cọ nhau, thì A lấy tư cách thầy học trong làng đến dàn xếp.

Thành thử dân làng, nhất là những cha mẹ học trò, ai cũng kính trọng và yêu mến đồng chí A. Những nhà gần làng thấy vậy, cũng gửi con đến học.

Đồng chí A chỉ có bằng tiểu học mà đã làm được công việc những ông giáo khác không làm nổi.

Trong các ngành hoạt động của chúng ta, nào chính trị, kinh tế, nào quân sự, văn hoá, chắc không thiếu những người có năng lực, có sáng kiến như A. Nhưng vì cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc.

Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo. Thí dụ: bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài.

2. Chính sách thì đúng, cách làm thì sai

Chúng ta thường kêu gọi làm làng kiểu mẫu, trại kiểu mẫu, bộ đội kiểu mẫu, nhà máy kiểu mẫu, v.v., khẩu hiệu đó rất đúng. Nhưng đến nay, hoặc chưa làm được, hoặc làm được nửa chừng rồi lại nguội. Vì lẽ gì?

Vì chúng ta quên một lẽ rất giản đơn dễ hiểu: tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả.

Muốn lập làng kiểu mẫu, đội kiểu mẫu, v.v., thì trước phải đào tạo ra những người kiểu mẫu, để làm cán bộ cho làng đó, đội đó. Làm được một làng, một đội rồi lấy đó làm kiểu mẫu, để khuyến khích và cổ động nơi khác.

Từ trước đến nay, chúng ta làm trái ngược lại. Chúng ta nghĩ ra một làng, một đội kiểu mẫu trong tư tưởng, mà không bắt đầu từ một làng, một đội sẵn có, cho nên kế hoạch không ăn khớp với những hoàn cảnh thiết thực (khách quan).

Đó cũng là vì bệnh chủ quan của chúng ta. Cho nên khẩu hiệu tuy đúng, nhưng thực hành không có kết quả mỹ mãn.

Một lẽ nữa, cũng vì cách lãnh đạo và cách làm không đúng. Khi chúng ta muốn lập một làng hoặc một đội kiểu mẫu, chúng ta đem cán bộ ngoài đến, để xung phong, mà không đào tạo cán bộ ngay ở đó. Khi cán bộ xung phong phải điều động đi nơi khác, thì làng kia hoặc đội kia lại xếp. Như cái bong bóng, thổi hơi vào, thì phùng lên, hơi ra hết, thì xẹp xuống.

Vả lại, chúng ta tham lam làm nhiều trong một lúc. Thí dụ: muốn lập một tỉnh kiểu mẫu thì thường hay dàn lực lượng ra làm cả tỉnh, không biết định cho mỗi huyện chọn một tổng làm kiểu mẫu, mỗi tổng chọn một làng làm kiểu mẫu. Thành thử, “ăn nhiều, nuốt không xuống”. Chúng ta không biết tập trung lực lượng, làm xong một nơi, lấy đủ kinh nghiệm, rồi làm nơi khác.

Vì vậy, từ nay bất kỳ việc gì, chúng ta phải bắt đầu từ gốc, dần dần đến ngọn, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, chớ nên tham mau, tham nhiều trong một lúc.

3. Không biết nghiên cứu kinh nghiệm đến gốc

Trong các cuộc vận động, như tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, mùa đông binh sĩ, v.v., chúng ta đã được nhiều thành tích rất khá. Nhưng chúng ta không biết nghiên cứu đến nơi đến chốn, vì sao mà có thành tích khá? Nơi nào thành tích tốt nhất? Ai là những người làm được thành tích đó? v.v., để mà học kinh nghiệm, để mà đặt ra khuôn phép cho công việc khác. Thành thử những cái tốt, cái hay đều không phát triển được. Và công việc xong rồi là thôi, cán bộ không học được kinh nghiệm gì, mà cũng không tiến bộ được mấy.

Đồng thời, chúng ta không ra sức nghiên cứu những sự khó khăn, những chỗ sai lầm, để giải quyết và sửa chữa cho kịp thời.

Thí dụ: nhiều cán bộ lo làm công việc của Đảng, nên phải xao nhãng công việc gia đình của họ, thành thử cha mẹ vợ con họ không vui lòng, mà cũng ảnh hưởng đến quần chúng. (Tuy có đôi nơi có sáng kiến, đề xướng khẩu hiệu: “cách mạng hoá gia đình”, “cả nhà tham gia công việc kháng chiến”, v.v.. Song toàn bộ vấn đề vẫn chưa giải quyết). Vấn đề này không giải quyết một cách hợp lý, rất có ảnh hưởng xấu cho sự tiến tới của cán bộ. Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ, cũng là một cớ thất bại. Thí dụ: người viết giỏi nhưng nói kém lại dùng vào những việc cần phải nói. Người nói khéo nhưng viết xoàng lại dùng vào công việc viết lách. Thành thử hai người đều không có thành tích.

Từ nay, công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Có như thế thì người mới có tài, tài mới có dụng.

4. Phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái

Chúng ta thường nêu vấn đề đó. Nhưng đến nay, cán bộ và đảng viên vẫn ít sáng kiến, ít hăng hái. Đó là vì lẽ gì?

Vì nhiều lẽ. Mà trước hết là vì: Cách lãnh đạo của ta không được dân chủ, cách công tác của ta không được tích cực.

Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế.

Đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và các cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình.

Thành thử cấp trên với cấp dưới cách biệt nhau. Quần chúng với Đảng rời xa nhau. Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra.

Họ không nói, không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị “trù” là khác.

Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác.

Kinh nghiệm là: cơ quan nào mà trong lúc khai hội, cấp trên để cho mọi người có gì nói hết, cái đúng thì nghe, cái không đúng thì giải thích, sửa chữa, ở những cơ quan đó mọi người đều hoạt bát mà bệnh “thì thầm thì thào” cũng hết.

Một người mà trong óc đã có uất ức, bất mãn, thì lời hay lẽ phải khó lọt vào bộ óc đó. Để cho họ tháo cái uất ức, bất mãn đó ra, thì lời hay lẽ phải dễ lọt vào óc họ. Đó là một lẽ rất giản đơn. Cấp trên cũng nên thỉnh thoảng trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới. Có như thế thì cũng khác nào như một người có vết nhọ trên mặt, được người ta đem gương cho soi, mình tự thấy vết nhọ. Lúc đó không cần ai khuyên bảo, cũng tự vội vàng đi rửa mặt.

Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa.

Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều.

Một vấn đề nữa: chúng ta thường nói đến hai chữ sáng kiến một cách mênh mông, không thiết thực. Như là phải có tài giỏi đặc biệt mới có sáng kiến. Nếu ta thử hỏi: sáng kiến là gì? thì chắc nhiều người trả lời không xuôi. Như thế mà mong cán bộ và đảng viên có sáng kiến thì sao mà có được!

Chúng ta phải nhận rõ: bất kỳ việc to việc nhỏ, hễ thêm điều lợi, trừ điều hại cho quần chúng, giúp quần chúng giải quyết vấn đề khó khăn, tăng kết quả của việc làm, tăng sức sản xuất của xã hội, đánh đổ sức áp bức của quân thù, đó đều là sáng kiến.

Cách dạy học của đồng chí A nói trên cũng là sáng kiến.

Sáng kiến không phải cái gì kỳ lạ. Nó chỉ là kết quả của sự nghiên cứu, suy nghĩ trong những hoàn cảnh, trong những điều kiện rất tầm thường, rất phổ thông, rất thiết thực.

Bất kỳ ai, nếu có quyết tâm làm ích lợi cho quần chúng, lại chịu học, chịu hỏi quần chúng, óc chịu khó nghĩ, tay chịu khó làm, thì nhất định có sáng kiến, nhất định làm được những việc có ích cho loài người.

Chúng ta cần phải nâng cao mở rộng dân chủ ra, khuyên gắng cán bộ và đảng viên, bày cho họ suy nghĩ, bày cho họ học hỏi quần chúng, cổ động họ tìm tòi, đề nghị, làm những việc ích lợi cho quần chúng. Khi họ đã có ít nhiều sáng kiến, thì giúp đỡ cho họ phát triển, khen ngợi cho họ thêm hăng hái. Như thế, thì những tính lười, tính “gặp chăng hay chớ” ngày càng bớt, mà sáng kiến và tính hăng hái ngày càng nhiều thêm.

5. Vì ai mà làm? Đối ai phụ trách?

Nếu chúng ta hỏi cán bộ: “Việc đó, làm cho ai? Đối với ai phụ trách?”, chắc số đông cán bộ sẽ trả lời: “Làm cho Chính phủ hoặc Đảng, phụ trách trước cấp trên”.

Câu trả lời đó chỉ đúng một nửa. Nếu chúng ta lại hỏi: “Chính phủ và Đảng vì ai mà làm việc đó? Và phụ trách với ai?” thì e nhiều cán bộ không trả lời được.

Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Đó là một lẽ rất giản đơn, rõ ràng. Nhưng nhiều cán bộ chưa hiểu, cho nên trong lúc làm việc, thường sai lầm; đến nỗi chia cán bộ Chính phủ và Đảng ra làm một phía, quần chúng ra một phía.

Chính phủ và Đảng chẳng những làm những việc trực tiếp lợi cho dân, mà cũng có khi làm những việc mới xem qua như là hại đến dân. Thí dụ: quyên tiền, thu thuế, công tác phá hoại, v.v..

Vì cán bộ và đảng viên không hiểu rõ hai lẽ: vì ai mà làm, đối ai phụ trách, khi gặp mỗi công việc không biết tìm đủ cách giải thích cho dân hiểu. Cho nên những việc trực tiếp lợi cho dân, như đắp đê, hộ đê, tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, v.v., cán bộ chỉ làm theo cách hạ lệnh, cách cưỡng bức. Kết quả dân không hiểu,dân oán. Thì có gì lạ đâu? Một thí dụ rất tầm thường, dễ hiểu: bánh ngọt là một thứ ngon lành, nhưng đem bánh ngọt bắt người ta ăn, nhét vào miệng người ta, thì ai cũng chán!

Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ. Nhưng trước hết cần phải chịu khó tìm đủ cách giải thích cho họ hiểu rằng: những việc đó là vì ích lợi của họ mà phải làm.

Có khi vì cán bộ không hiểu lẽ đó, vì muốn làm cho được việc, rồi dùng cách hạ mệnh lệnh, cách áp bức, phạm vào thói quan liêu, quân phiệt, đến nỗi Chính phủ hoặc Đảng phải trừng phạt. Đối với những bọn vu vơ, đầu cơ, thì phạt rất đáng. Nhưng với những cán bộ trung thành mà bị phạt, thì Chính phủ và Đảng cũng khổ tâm, mà người bị phạt cũng khổ tâm!

Chẳng những lúc thi hành các mệnh lệnh, cán bộ ta có cái thái độ xa quần chúng như thế, mà đối với cách làm việc, cách tổ chức, cũng có thái độ sai lầm đó.

Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng, vì cần cho quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc.

Đằng này cán bộ ta chỉ biết khư khư giữ nếp cũ. Cái không hợp cũng không dám sửa bỏ, cái cần thiết cũng không dám đặt mới. Đó là vì thói không phụ trách “quá hữu”, gặp sao hay vậy.

Song lại có thái độ xa quần chúng, thói không phụ trách “quá tả” là không suy nghĩ chín chắn, so sánh kỹ càng, hôm nay đặt ra cái này, hôm sau sửa lại cái khác, làm cho quần chúng hoang mang. Như tỉnh nọ, bắt đầu kháng chiến, thì bỏ hết Việt Minh các huyện, các xã. Thật là một hành động khờ dại.

6. Sát quần chúng, hợp quần chúng

Cán bộ ta có hai chứng bệnh nữa là:

a) Bệnh khai hội.

Khai hội không có kế hoạch, không sắp sửa kỹ lưỡng, không thiết thực. Khai hội lâu, khai hội nhiều quá.

Cán bộ khu về tỉnh, cán bộ tỉnh về huyện, cán bộ huyện về làng, thì khệnh khạng như “ông quan”. Lúc khai hội thì trăm ngàn lần như một: “Tình hình thế giới, tình hình Đông Dương, thảo luận, phê bình, giải tán”.”Ông cán” làm cho một “tua” hai, ba giờ đồng hồ. Nói gì đâu đâu. Còn công việc thiết thực trong khu, trong tỉnh, trong huyện, trong xã đó, thì không động đến. Lúc “ông cán” nói, người ngáp, kẻ ngủ gục, mọi người mong ông thôi đi, để về nhà cho mau. Có ai hiểu gì đâu mà thảo luận!

Vì vậy, mà quần chúng sợ khai hội. Mỗi lần họ đi khai hội, chẳng khác gì “đi phu”. Đó cũng vì bệnh xa quần chúng, bệnh hình thức, khai hội lấy lệ, khai hội để mà khai hội, chớ nào phải vì lợi ích của quần chúng mà khai hội!

Về việc đặt khẩu hiệu, đặt chương trình làm việc, chương trình tranh đấu, tuyên truyền, làm báo tường, viết báo, cũng như thế. Không chịu khó hỏi quần chúng cần cái gì, muốn nghe muốn biết cái gì, ham chuộng cái gì. Chỉ mấy cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái mình làm là đúng, mình viết là hay. Nào có biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là “đem râu ông nọ, chắp cằm bà kia”, không ăn thua, không thấm thía, không ích lợi gì cả.

Một việc nữa cần nhắc đến là các ban huấn luyện. Huấn luyện là một việc rất cần. Tục ngữ có câu: “Không thầy đố mày làm nên”, và câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”.

Những việc rất dễ dàng còn phải học. Huống chi công việc cách mạng, công việc kháng chiến, không có huấn luyện, thì làm sao xuôi?

Song những tài liệu huấn luyện phải nhằm vào sự cần dùng, cần thiết của quần chúng. Phải hỏi: người đến chịu huấn luyện rồi, có áp dụng được ngay không? Có thực hành được ngay không?

Nếu không thiết thực như thế, thì huấn luyện mấy năm cũng vô ích.

Tiếc thay, nhiều cán bộ huấn luyện của ta chưa hiểu cái lẽ giản đơn đó. Vì vậy mà có cán bộ đem “kinh tế học” huấn luyện cho chị em phụ nữ thôn quê ở thượng du!

Nói tóm lại, cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo, v.v. của chúng ta, đều phải lấy câu này làm khuôn phép:

“Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”.

Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Do đó mà định cách làm việc, cách tổ chức. Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng.

Nếu không vậy, nếu cứ làm theo ý muốn, theo tư tưởng, theo chủ quan của mình, rồi đem cột vào cho quần chúng, thì khác nào “khoét chân cho vừa giầy”. Chân là quần chúng. Giầy là cách tổ chức và làm việc của ta. Ai cũng đóng giầy theo chân. Không ai đóng chân theo giầy.

b) Bệnh nể nang.

Vì họ hàng quen biết, bầu bạn, thân thích, anh em, cho nên lúc họ có sai lầm cũng cứ nể nang không thiết thực phê bình, thiết thực sửa đổi, sợ mất lòng.

Xem tiếp: Phần 2

bachovoihue.com

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc – cẩm nang chỉ dẫn hành động

Năm 1947, giữa lúc phải tập trung chuẩn bị chiến dịch Thu Đông, nhằm đánh bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Cuốn sách có 6 phần: Phê bình và sửa chữa; Mấy điều kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo; Chống thói ba hoa. Cuốn sách đã chỉ dẫn, động viên sức mạnh của Đảng, của dân tộc, của quân, dân ta góp phần đưa cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện giành thắng lợi vẻ vang. Ngày nay, thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, yêu cầu “làm theo” trở thành cấp thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên, với tất cả các cơ quan, đơn vị, cuốn “Sửa đổi lối làm việc” càng trở nên cần thiết.

Tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, làm theo những điều chỉ dẫn của Người trong mỗi câu, mỗi ý của tác phẩm này là việc làm rất bổ ích, thiết thực hiện nay. Mỗi câu, mỗi ý nói lên những việc cụ thể cần làm và nên làm như thế nào để công tác của mỗi người, mỗi cơ quan, đơn vị hoàn thành, đi đến thắng lợi. Với cách viết ngắn gọn, xúc tích, mỗi trang, mỗi dòng đều toát lên sự chân tình, thẳng thắn, gần gũi, ai cũng học được, làm theo được. Đây là cuốn sách giáo khoa có nội dung sâu sắc, toàn diện về giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng của Đảng, của Nhà nước ta. Xin giới thiệu nội dung cơ bản của tác phẩm.

I. Phê bình và sửa chữa.

Người nêu mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phê bình và tự phê bình. Phải mau phê bình và sửa chữa để khắc phục khuyết điểm, vì “có tẩy sạch khuyết điểm, công việc mới có tiến bộ”(1). Người chỉ ra những căn bệnh mà mỗi cán bộ, đảng viên phải khắc phục, sửa chữa (chủ quan, hẹp hòi, ba hoa…). Người chỉ ra cách phê bình: “phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớtPhải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm… Chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người”.

Bệnh chủ quan là chứng bệnh kém lý luận hoặc lý luận suông. “Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéoKết quả thường thất bại…”. Vì vậy, “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”.

Bệnh hẹp hòi “rất nguy hiểm… trong thì ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết; ngoài thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, v.v… đều do bệnh hẹp hòi mà ra!”. Đó là những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận của mình, không thấy lợi ích của toàn thể. Vì ham danh vọng và địa vị cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa thì kéo vào, không ưa thì tìm cách bẩy ra…”.

Người nhấn mạnh “Để chữa khỏi những bệnh kia, ta phải tự phê bình ráo riết và phải lấy lòng nhân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau… Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”.

II. Mấy điều kinh nghiệm.

Hồ Chí Minh đã khái quát một số kinh nghiệm quan trọng, phân tích nội dung, dẫn chứng thực tế trong hoạt động phong phú của cán bộ, đảng viên và nhân dân qua các phong trào ở các địa phương, đơn vị.

1. Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong, Người chỉ ra nguyên lý: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”.

2. Có chính sách đúng, phải có cách 1àm đúng, phù hợp tình hình, yêu cầu thực tế mới đạt kết quả. Phải làm “kiểu mẫu” để rút kinh nghiệm, không làm tràn lan, chủ quan, tham làm nhanh, “tham làm nhiều trong một lúc”.

3. Phải nghiên cứu, rút kinh nghiệm công việc đã làm một cách tường tận, gốc rễ; tỉ mỉ, cẩn thận, toàn diện trước khi thực hiện công tác mới.

4. Phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái, tính sáng tạo, dân chủ trong công tác của cán bộ, đảng viên. Dân chủ, hăng hái, sáng kiến luôn gắn chặt với nhau, vì “có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc thì những khuyết điểm lặt vặt cũng tự sửa chữa được nhiều”.

5. Phải xác định trách nhiệm trước công tác, nhiệm vụ được giao. Khi thực hiện bất kỳ nhiệm vụ gì cũng phải trả lời câu hỏi “Vì ai mà làm? Đối với ai phụ trách?”. Phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, luôn vì lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia công tác “tìm đủ cách giải thích cho dân hiểu”, không “làm theo cách hạ lệnh, cách cưỡng bức”.

6. Phải sâu sát quần chúng, hợp quần chúng. Tránh bệnh hình thức, xa rời nhân dân. Thực hiện phương châm “Từ trong quần chúng mà ra, trở lại nơi quần chúng”. Mọi việc làm phải hợp với trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Do đó mà định ra cách làm việc, cách tổ chức. Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”.

III. Tư cách và đạo đức cách mạng.

1. Tư cách của Đảng chân chính cách mạng.

Hồ Chí Minh đã nêu lên 12 tiêu chí của một Đảng cách mạng chân chính, bao gồm: Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng; Hiểu biết lý luận cách mạng gắn với thực hành; Liên hợp chặt chẽ với quần chúng; Nêu cao tính cách mạng và “lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát”; Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình; Đảng phải chọn những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo; Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài; Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới; Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành như thế nào. Người đã khẳng định bằng hai câu thơ lục bát: “Muốn cho Đảng được vững bền, Mười hai điều đó chớ quên điều nào”.

2. Phận sự của đảng viên và cán bộ.

Người cán bộ, đảng viên phải “Trọng lợi ích của Đảng hơn hết… vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”.

Đảng viên và cán bộ phải có “đạo đức cách mạng”. Người khái quát và đi sâu phân tích năm chữ Nhân, Nghĩa, Chí, Dũng, Liêm.

Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào.

Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng…

Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng…

Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại vinh hoa, phú quý không chính đáng.

Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình… Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ…”.

Người cán bộ, đảng viên “phải giữ kỷ luật”. Kỷ luật của Đảng là kỷ luật tự giác. “Không ai bắt buộc ai vào Đảng làm chiến sĩ tiên phong. Mà đó là tự giác, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên”.

Đối với những người không chịu nổi khó nhọc, không chịu nổi kỷ luật nghiêm khắc của Đảng mà xin ra khỏi Đảng thì Đảng vẫn bằng lòng để họ ra. Đảng chỉ yêu cầu họ một điều là: họ thề không lộ bí mật của Đảng, không phản Đảng, không phá hoại Đảng. Như thế thì Đảng vẫn giữ cảm tình thân thiện với họ”.

Phải khắc phục “những khuyết điểm, sai lầm”. Đó là “bệnh tham lam”, “Bệnh lười biếng”, “bệnh kiêu ngạo”, “bệnh hiếu danh”, “thiếu kỷ luật”, “óc hẹp hòi”, “óc địa phương”, “óc lãnh tụ”, “bệnh hữu danh vô thực”, “bệnh kéo bè, kéo cánh”, “bệnh cận thị”, “bệnh cá nhân”, “bệnh tị nạnh”, “bệnh xu nịnh, a dua”. Người nhắc nhở về bệnh sợ tự phê bình. Người đã nói rất khảng khái”: “… Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Phải bình tĩnh tìm ra nguyên nhân sai lầm và cách sửa chữa khuyết điểm. Hồ Chí Minh chỉ rõ “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa v v… Những thói xấu đó, họ mang từ xã hội vào Đảng”. Người phê phán thái độ đối với người có khuyết điểm, sai lầm như đối với hổ mang, thuồng luồng… đòi đuổi ra khỏi Đảng ngay…, làm cho họ chán nản, thất vọng. Hoặc họ không làm gì nữa hết. Thậm chí họ bỏ Đảng. Đó là thái độ những người máy móc quá. Đó cũng là bệnh chủ quan”.

3. Tư cách và bổn phận của đảng viên.

Hồ Chí Minh viết về tiêu chuẩn người đảng viên, thể thức giới thiệu, kết nạp người vào Đảng, rèn luyện, giáo dục đảng viên mới. Người chỉ rõ bổn phận của người đảng viên là “Suốt đời tranh đấu cho dân tộc, cho Tổ quốc; đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết, lên trước hết; hết sức giữ kỷ luật và giữ bí mật của Đảng; kiên quyết thi hành những nghị quyết của Đảng; cố gắng làm kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi việc; cố gắng học tập chính trị, quân sựvăn hóa. Phải gần gũi quần chúng, học hỏi quần chúng, cũng như phải lãnh đạo quần chúng”.

4. Phải rèn 1uyện tính đảng.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Mỗi cán bộ, đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc. Kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Tính đảng là: “Phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết; việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn; lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau. Đảng phải nghiêm ngặt kiểm tra, các địa phương phải kiên quyết thực hành những nghị quyết của Đảng. Nơi nào sai lầm, ai sai lầm, thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu, chống thói “trước mặt thì nể, kể lể sau lưng”. Phải kiên quyết thực hành kỷ luật. Phải đòi hỏi mỗi đảng viên, trước hết là mỗi cán bộ, phải thật thà tự phê bình, tự sửa chữa những khuyết điểm của mình”.

IV. Vấn đề cán bộ.

Với tư duy biện chứng, cách nhìn toàn diện, Hồ Chí Minh đã xác định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.

“Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Người chỉ ra những hạn chế trong công tác huấn luyện cán bộ, nêu lên nội dung huấn luyện cần tập trung: “Huấn luyện nghề nghiệp, Huấn luyện chính trị, Huấn luyện văn hóa; Huấn luyện lý luận. Học lý luận, phải nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế. Nên chia ra khoa học chính trị, khoa học kinh tế, khoa học lịch sử… tổ chức từng ban cao cấp hoặc trung cấp… Vô luận công tác môn nào, lớp huấn luyện nào, đều phải tuyệt đối chống bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa”.

Xuất phát từ luận đề “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Hồ Chí Minh đã xác định “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Vấn đề cán bộ là vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp, Đảng phải làm như thế nào? Người đã nêu lên 6 việc phải làm: Phải biết rõ cán bộ; phải cất nhắc cán bộ một cách cho đúng; phải khéo dùng cán bộ; phải phân phối cán bộ cho đúng; phải giúp cán bộ cho đúng; phải giữ gìn cán bộ.

Lựa chọn cán bộ có 4 tiêu chí:

a. Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh.

b. Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ đó là người lãnh đạo của họ.

c. Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn.

Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo…

d. Những người luôn giữ đúng kỷ luật.

Có 5 cách đối với cán bộ:

a. Chỉ đạo – Thả cho họ làm, thả cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ.

b. Nâng cao – Luôn luôn tìm cách cho họ học thêm lý luận và cách làm việc, làm cho tư tưởng, năng lực của họ ngày càng tiến bộ.

c. Kiểm tra – Không phải ngày nào cũng kiểm tra. Nhưng thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm.

d. Cải tạo – Khi họ sai lầm thì dùng cách “thuyết phục” giúp cho họ sửa chữa. Không phải một sai lầm to lớn, mà đã vội cho họ là “cơ hội chủ nghĩa đã cảnh cáo”, đã “tạm khai trừ”. Những cách quá đáng như thế đều không đúng.

đ. Giúp đỡ – Phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc.

Mấy điểm lớn trong chính sách cán bộ. Đó là những vấn đề rất hệ trọng.

Cần chú ý mấy việc: “Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ”.

 a. Hiểu biết cán bộ: Cần biết những chứng bệnh người ta hay sai phạm để hiểu cán bộ: Tự cao, tự đại; ưa người ta nịnh mình; Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người; Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lấp vào tất cả mọi người khác nhau. Hồ Chí Minh đã nêu phương pháp:

“Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng.

Xem xét cán bộ không chỉ xem xét ngoài mặt mà còn phải xem tính chất của họ. Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ”.

b. Khéo dùng cán bộ. Cần tránh những chứng bệnh:

“Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài.

“Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực.

“Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình”.

“Cách dùng cán bộ đúng là phải có lòng độ lượng vĩ đại, chí công vô tư, không có thành kiến mới không bỏ rơi cán bộ. Phải có tinh thần rộng rãi, gần gũi người mình không ưa. Phải chịu khó dạy bảo, nâng đỡ người kém. Phải sáng suốt, tránh bị bọn “vu vơ” bao vây, xa cách cán bộ tốt. Phải có thái độ vui vẻ, thân mật để gần gũi đồng chí.

Phải thực hành những công việc cụ thể: Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến, khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc; không nên tự tôn, tự đại, mà phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới”.

c. Phải có gan cất nhắc cán bộ – “Cất nhắc cán bộ, phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy… Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, với nhân dân… Biết rõ ràng cán bộ, mới có thể cất nhắc cán bộ một cách đúng mực”.

d. Yêu thương cán bộ – Trong lúc tranh đấu, rất dễ mất một người cán bộ. Vì vậy, Đảng phải yêu thương cán bộ. Nhưng thương yêu không phải là vỗ về, nuông chiều, thả mặc. Thương yêu là giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm”.

đ. Đối với những cán bộ sai lầm – Hồ Chí Minh đã cắt nghĩa rất biện chứng và thấu tình “Trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết. Vì vậy, đối với cán bộ bị sai lầm, ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế, mà công kích họ. Trái lại, ta phải dùng thái độ thân thiết, giúp họ tìm ra cái cớ vì sao mà sai lầm? Sai lầm như thế, sẽ có hại đến công việc như thế nào? Làm thế nào mà sửa chữa? Tóm lại, phải phê bình cho đúng”. Người đã nêu lên rất thẳng thắn “Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”.

V. Cách lãnh đạo.

Hồ Chí Minh đã “chỉ vẽ” rất cụ thể cách thức và nội dung công việc của người cán bộ.

1. Lãnh đạo và kiểm soát.

Lãnh đạo đúng nghĩa là.

“- Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng.

– Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong.

– Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được…

“Chọn người và thay người cũng là một vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo… Phải chú ý với những người “công thần cách mạng”, “những người nói suông”. Chống bệnh quan liêu, bàn giấy.

Vì ba điều mà cần phải có kiểm soát: 1. Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu. 2. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan. 3. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết. Kiểm soát có hai cách: từ trên xuống và từ dưới lên.

2. Lãnh đạo thế nào?

“Có hai cách lãnh đạo: Một là liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng; Hai là liên hợp người lãnh đạo với quần chúng.

… Bất kỳ việc gì, nếu không có chính sách chung, kêu gọi chung, không thể động viên khắp quần chúng… Bất kỳ việc gì (thí dụ việc chỉnh đốn Đảng), người lãnh đạo phải có một số người hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo.

Nhóm trung kiên này phải mật thiết liên hệ với quần chúng, công việc mới thành.

Vì vậy, bất kỳ cơ quan nào, bộ đội nào, cũng cần phải chọn một nhóm người hăng hái, trung thành, có năng lực, giữ kỷ luật, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo.

Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”.

3. Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng.

Hồ Chí Minh xác định “Dân chúng rất khôn khéo, rất anh hùng. Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng.

… Mỗi khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng”.

Phải tránh cách làm việc quan liêu, mệnh lệnh, ép buộc dân chúng. Phải “làm theo cách của quần chúng”. Phải thực hành theo nguyên tắc:

– Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.

– Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết.

– Chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”. Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực nơi đó và lúc đó, đưa ra tranh đấu.

– Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng.

“Phải đưa chính trị vào giữa dân gian“. Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”.

VI. Chống thói ba hoa.

Bệnh ba hoa là “bạn đường” của bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi. “Vì thói ba hoa còn, tức là bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi cũng chưa khỏi hẳn”.

1. Thói ba hoa là gì?

Người đã chỉ ra biểu hiện của thói ba hoa.

a. Dài dòng, rỗng tuếch. Nói dài, viết dài mà không có nội dung.

b. Có thói “cầu kỳ“. Là cách “dùng từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây” quần chúng không hiểu.

c. Khó khăn, lúng túng. Không chịu học tập, thiếu chuẩn bị, khi nói, khi viết quần chúng không hiểu.

d. Báo cáo lông bông. Báo cáo giả dối. Thành công ít, thì suýt ra nhiều. Còn khuyết điểm thì giấu đi… Hoặc là báo cáo chậm trễKhông nêu rõ nội dung, vấn đề một cách rõ ràng, có hệ thống.

đ. Lụp chụp, cẩu thả. Phải tránh bệnh này bằng cách: “Không biết rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn”.

e. Bệnh theo “sáo cũ“. Do làm việc thiếu chuẩn bị, nội dung mênh mông, không thiết thực, công thức máy móc, nói, viết những từ hoa mỹ, quần chúng không hiểu, không đem lại kết quả.

g. Nói không ai hiểu. Nội dung tuyên truyền, khẩu hiệu của Đảng “viết một cách cao xa, màu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu”.

h. Bệnh hay nói chữ. Là bệnh ham dùng chữ nước ngoài nhưng không biết rõ nghĩa, “dùng không đúng mà cũng ham dùng, cái hại càng to”.

2. Cách chữa thói ba hoa.

“l. Phải học cách nói của quần chúng. Chớ nói như cách giảng sách.

2. Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu.

3. Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm làm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?

4. Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết.

5. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: “Chó ba khoanh mới nằm. Người ba năm mới nói”.

_____

(1) Những đoạn trong ngoặc kép ở bài này đều trích trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.2002, tr.231-236.

TS. Phan Hữu Tích

xaydungdang.org.vn

Văn hóa ẩm thực của Bác Hồ

Bà con Làng Sen, xã Kim Liên đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm lại quê nhà sau 50 năm xa cách - Ảnh: Tư liệu

Văn hóa ẩm thực của Bác Hồ – đó là một nét bình dị trong nhân cách và phong cách của Người, càng làm đậm thêm sự vĩ đại của một lãnh tụ có phong cách gần dân hiếm có.

Từ năm 1923, nhà văn Xô viết Oxip Mendenxtam, sau khi tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc để viết một bài phỏng vấn, đã nhận xét: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa Châu Âu mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai” (đã được các nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh trích dẫn nhiều lần). Cũng qua người cộng sản trẻ tuổi mới đến từ phương Đông, nhà văn đã cảm nhận được: “Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp”.

Cậu bé Nguyễn Sinh Cung sinh ra, lớn lên giữa một vùng quê nghèo nhưng đậm văn hóa truyền thống. Nam Đàn có món tương ngon nổi tiếng (nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn), có giống cà pháo (thường gọi là cà Nghệ) dày cùi, ít hạt, muối giòn tan. Hương vị ẩm thực quê hương thấm đậm tâm hồn cậu bé Cung từ thuở ấu thơ và không phai nhạt trong vị lãnh tụ Hồ Chí Minh sau này trên những chặng đường cách mạng. Cả khi đã đảm nhiệm cương vị Chủ tịch nước, dù đã đi nhiều nơi trên thế giới, nếm hương vị bữa ăn của nhiều miền, nhiều dân tộc nhưng Hồ Chí Minh vẫn không quên tương, quên nhút, quên cà xứ Nghệ…

Những năm Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Pa-ri, vợ và mẹ ông Maurice Thorez (sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp) đã rất ngạc nhiên và cảm động khi thấy sau bữa ăn Nguyễn Ái Quốc cẩn thận nhặt từng mẩu vụn bánh mì rơi trên bàn để dành cho chim. Sau tháng 9/1945, đã là Chủ tịch nước nhưng Bác Hồ vẫn dùng cơm với anh em phục vụ, bảo vệ. Bữa ăn nhiều khi chỉ có rau muống xào, đậu phụ kho và một bát canh. Người phát động nhân dân chống giặc đói và gương mẫu thực hiện mười ngày nhịn ăn một bữa. Nhân dân còn phải ăn độn ngô, khoai, Bác yêu cầu cơ quan (trong đó có Bác) cùng ăn độn ngô với nhân dân… Bữa cơm đơn sơ bởi Người vẫn tâm niệm: Nước ta còn nghèo, không thể sống khác đồng bào.

Những chuyện về phong cách ẩm thực Hồ Chí Minh cho đến nay chúng ta cũng chỉ được nghe kể lại một cách tản mạn. Nhưng chỉ chừng đó thôi cũng đã đủ hiện lên hình ảnh một con người vĩ đại có cách ăn uống giản dị nhưng có sự nhận và nét cảm rất Việt Nam.

Trong những ngày gian nan: “Sáng ra bờ suối tối vào hang/Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”, hay khi ở cương vị lãnh đạo đất nước, Bác Hồ vẫn giữ phong cách ăn uống giản dị, tiết kiệm. Người đặc biệt yêu quý và yêu thích những món ăn quen thuộc của dân tộc: mắm, cà dầm tương, canh cua ăn với rau chuối thái ghém… Bữa ăn của Người thường chỉ có một món canh, một hoặc hai món mặn, một chút dưa hoặc cà cùng nước chấm. Khi có khách thì làm thêm một vài món theo khẩu vị của khách. Món ăn hằng ngày Bác thích là cá kho khô, cá trê hoặc cá bống. Bác cũng rất thích những món ăn của đồng bào miền Nam: cá rô kho tộ, canh chua cá lóc, mắm cá…

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người rất gần gũi và đã dùng cơm với Bác Hồ nhiều lần, viết: “Điều làm tôi xúc động hơn cả là trong mỗi bữa ăn, Bác thường lưu ý mọi người ăn món nào thì ăn cho hết, món nào ăn không hết, để lại thì để cho tươm tất. Ở gần Bác trong nhiều năm, tôi kể lại chuyện này để nói lên tấm lòng cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng kính trọng của Người đối với những người chế biến ra món ăn và sâu xa hơn nữa là đối với những người sản xuất ra bữa ăn”.

Trong kháng chiến, có lần anh em bắt được con cá anh vũ – một loại cá chép rất quý vì có mép rất béo do thường xuyên phải bám vào đá để chống lại dòng nước chảy xiết trên những sông suối vùng Tuyên Quang, Yên Bái. Mọi người định làm món bồi dưỡng cho Bác. Một anh vui mồm nói: “Cá này quý lắm, ngày xưa là cá tiến vua đấy”. Bác nghe được, cười: “Bác có phải là vua đâu” và bảo nhà bếp làm cho mọi người cùng ăn. Chủ tịch Liên khu 4 Lê Viết Lượng gửi biếu Bác một lọ cà dầm mắm. Bác rất thích. Có bữa bận việc phải ăn sau, Bác dặn: “Các cô chú cứ ăn thịt cá đi, để phần Bác món cà dầm mắm”.

Ở Chiến khu Việt Bắc, nhiều khi thiếu rau. Bác bày cách cho anh em lấy mít non làm nhút. Quanh nơi ở, Bác cùng anh em tích cực tăng gia, trồng thêm rau, nuôi thêm gà để cải thiện chất lượng bữa ăn, vừa có chất tươi vừa tiết kiệm, không phải đi mua hoặc chờ cung cấp. Trong hồi ký của mình (Con đường theo Bác), ông Hoàng Quốc Việt đã kể lại việc biếu Bác mấy quả bí tăng gia được. Bác nhận bí, rồi gửi lại cho ông Hoàng Quốc Việt một bức thư, chỉ gồm hai câu:

“Ăn quả nhớ người trồng cây
Cảm ơn chú Việt. Bí này còn non” .

Chỉ vậy thôi nhưng đã làm ông Hoàng Quốc Việt (và có lẽ tất cả những người đọc những dòng đó) thấm thía rằng: Đừng vội hái quả non, mọi cái phải đạt tới “độ chín” mới có giá trị.

Lòng thương yêu nhân dân của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ: Ngày đêm lo cho dân, lo từ việc lớn đến việc nhỏ – mà chuyện cái ăn, cái mặc là biểu hiện rõ nét, sinh động nhất: “Dân không đủ muối, Đảng phải lo. Dân không có gạo ăn đủ no, dân không có vải mặc đủ ấm, Đảng phải lo. Các cháu bé không có trường học… tất cả mọi việc Đảng phải lo… ngay đến cả tương, cà, mắm, muối của dân Đảng đều phải lo…”. Nhìn rộng hơn, xa hơn, những điều đó chính là đạo lý của một Đảng cầm quyền, của Nhà nước, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà chúng ta đang gắng xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh – phải chăm lo cho dân từ những điều nhỏ nhất: “Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Trong cuộc sống hằng ngày, không bao giờ Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới chuyện ăn uống, nhưng qua những chuyện tình cờ cũng có thể thấy sự cảm nhận rất tinh tế của Người. Những khi đi công tác, phương châm đầu tiên là gọn, nhẹ, thức ăn dự trữ mang theo chỉ là muối vừng, thịt kho mặn, nhưng có lần dừng chân nấu ăn bên bờ suối, Bác nhận làm món trứng rán. Trứng đã rán xong nhưng cơm chưa chín, Bác lấy que sắt nung vào bếp lửa rồi áp lên mặt lớp trứng tạo thành những đường trang trí hình quả trám rất đẹp. Bác bảo: “Khi có điều kiện làm cho ngon hơn, đẹp hơn thì ta cứ làm”.

Con người và phong cách Hồ Chí Minh đậm tính văn hóa, điều này đã được nhiều người khẳng định. Trong văn hóa ẩm thực của Hồ Chí Minh (nếu có thể gọi như vậy) kết tinh, thâu thái cả những kinh nghiệm truyền thống và khoa học. Không những thế, đó còn là cách ứng xử đầy lòng yêu thương trân trọng con người, là sự cảm thụ sâu sắc và tinh tế và nhiều điều khác nữa…

Theo Thanhnien.com.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những năm Sửu hào hùng và thông tuệ của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Cuộc đời của vĩ nhân Hồ Chí Minh đã trải qua sáu năm Sửu:

Năm Tân Sửu (1901) Nguyễn Tất Thành 11 tuổi. Đây là năm cậu được sống bên người cha ở quê hương và thông qua quan hệ của người cha mà Thành được nghe hai câu thơ cụ Sào Nam hay đọc:

Mỗi phận bất vong duy trúc bạch
Lập thân tối hạ thị văn chương

Nhờ cha giảng giải, Thành hiểu được đại ý: Mỗi bữa ăn phải xem mình sống có ích gì cho đời hay không, nếu chỉ lấy văn chương khoa bảng làm phương tiện lập thân thì quá thấp hèn.

Ai ngờ câu thơ ấy hoàn toàn ứng với suốt cuộc đời nhà cách mạng Hồ Chí Minh. Và, tới nay nó vẫn đang còn có sức cảnh tỉnh đối với những ai học giả lấy bằng thật để mong đủ “tiêu chuẩn” nhằm đoạt lấy chức quyền mưu vinh thân phì gia.

Năm Quý Sửu (1913) chàng thanh niên 23 tuổi Nguyễn Tất Thành lao động cực nhọc ở xứ sương mù (nước Anh) để kiếm sống và lấy tiền học tiếng Anh ngoài giờ làm việc với tâm nguyện: Biết thêm một ngoại ngữ là có thêm một chiếc chìa khoá để mở cánh cửa vào kho tàng kiến thức của nhân loại.

Năm Ất Sửu (1925) ở tuổi 35, quả là “tam thập nhi lập”, với tên mới là Nguyễn ái Quốc (được dùng chính thức từ năm 1919 khi anh Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp), anh đã trở thành một chiến sĩ quốc tế già dặn, tràn đầy sức phấn đấu và cũng là tâm điểm truy lùng của bọn mật thám  quốc tế. Nguyễn Ái Quốc dành rất nhiều công sức và trí tuệ để gieo trồng các hạt giống cách mạng. Đầu năm, Người mở lớp huấn luyện chính trị tại số nhà 13/1 phố Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc). Phần lớn học viên là những thanh niên Việt Nam yêu nước, xuất thân từ học sinh, trí thức, cũng có một vài người là tú tài nho học.

Trong khoảng đầu năm này, Nguyễn Ái Quốc sáng lập tổ chức chính trị chân chính của Việt Nam, bao gồm hầu hết những người trẻ tuổi, lấy tên là Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội với mục đích: Sẵn sàng hy sinh tính mệnh, quyền lợi để làm cuộc cách mạng dân tộc (đập tan bọn đế quốc Pháp) rồi sau làm cách mạng cộng sản chủ nghĩa. Điều lệ của Hội thể hiện Hội như một đảng chính trị, đã đề cập đến chương trình hoạt động như kết nạp hội viên, tổ chức các đoàn thể (công hội, nông hội, hội học sinh, hội phụ nữ…), thành lập chính phủ nhân dân. Điều nổi bật bộc lộ sự thông tuệ, tầm nhìn xa, đúng quy luật của Nguyễn Ái Quốc là đã chỉ rõ việc xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân sau khi giành được chính quyền: áp dụng những nguyên tắc “tân kinh tế chính sách”. Ở Liên Xô, sau Cách mạng Tháng Mười đã phạm sai lầm là áp dụng chính sách cộng sản thời chiến. Đầu năm 1920, V.I.Lênin đã sửa chữa, đề ra chính sách kinh tế mới. Điều này cho thấy từ những năm 20 của thế kỷ trước, với sự thông tuệ của mình, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra hướng phát triển kinh tế của Việt Nam sau khi giành được độc lập là đi theo chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin chứ không phải làm theo chính sách cộng sản thời chiến.

Quan niệm báo chí là cơ quan ngôn luận và vũ khí đấu tranh cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra tờ báo cách mạng đầu tiên là tuần báo Thanh niên – cơ quan Trung ương của Tổng bộ Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội.

Nguyễn Ái Quốc yêu quý dân tộc mình, đau đáu một nỗi lo sao cho dân nước mình khỏi kiếp đời nô lệ, đồng thời Người cũng nặng nỗi niềm với những dân tộc cùng bị áp bức. Tiếp theo một tổ chức quốc tế, Hội liên hiệp thuộc địa, mà Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập năm 1921, ngày 9-7 năm này (1925 – Ất Sửu) với bí danh là Lý Thụy, Người lại cùng một số đồng chí người Trung Quốc chính thức thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức. Đây là một đoàn thể có tính chất quốc tế bao gồm người Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, In-đô-nê-xi-a, Miến Điện. Tôn chỉ của Hội là liên lạc với các dân tộc cùng làm cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc với tuyên ngôn: Con đường thoát duy nhất để xoá bỏ ách nô lệ chỉ có thể là liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới áp dụng những phương pháp cách mạng để lật đổ chủ nghĩa tư bản đế quốc cực kỳ hung ác. Nguyễn Ái Quốc đã được đại hội bầu làm Bí thư đồng thời trực tiếp phụ trách Chi bộ Việt Nam của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức.

Ở Nguyễn Ái Quốc, dân tộc và quốc tế quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời. Người luôn chứng tỏ vừa là nhà yêu nước lỗi lạc, vừa là một chiến sĩ quốc tế kiên cường. Người là nhà hoạt động dân chủ khi gia nhập Đảng xã hội Pháp (1919); là nhà cách mạng xã hội chủ nghĩa và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên khi tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (1920); là thành viên sáng lập và Uỷ viên Thường trực Hội liên hiệp thuộc địa (1921). Năm 1925 (ất Sửu), Nguyễn Ái Quốc còn đảm nhiệm công tác vận động nông dân ở Trung Quốc và các thuộc địa Đông Dương, Miến Điện, Xiêm, Đài Loan, Phi-líp-pin. Năm Ất Sửu là một trong những năm đồng thời với hoạt động thực tiễn sôi nổi là sự bừng sáng của trí tuệ thể hiện ở những tác phẩm Nguyễn ái Quốc viết bằng tiếng Pháp đăng trên các sách báo ở Pa-ri. Tác phẩm tiêu biểu nhất là Bản án chế độ thực dân Pháp. Nội dung và hình thức của tác phẩm toát lên tinh thần cách mạng tiến công, tư tưởng cách mạng triệt để, kết hợp tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; thể hiện sự phân tích khoa học kết hợp với tình cảm cách mạng nồng nhiệt của Nguyễn Ái Quốc. Cuốn sách vừa có giá trị cao về lý luận cách mạng, tư tưởng chính trị, vừa có giá trị lớn về văn học. Thật kỳ diệu, Nguyễn Ái Quốc – người truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam chính là người đã dịch lời Quốc tế ca một cách tài hoa để phổ biến rộng rãi ở nước ta vào mùa xuân năm Sửu ấy.

Năm Đinh Sửu (1937), 40 tuổi, Nguyễn Ái Quốc lập kế hoạch nghiên cứu sinh và cuối năm Người chuẩn bị tư liệu để viết luận án tiến sĩ với đề tài: “Cách mạng ruộng đất ở Đông Nam Á” sau khi đạt điểm xuất sắc môn lịch sử hiện đại. Nhưng rồi tình hình thực tiễn của cách mạng Đông Dương thôi thúc, Nguyễn Ái Quốc đành bỏ dở việc bảo vệ luận án, tìm cách trở về lãnh đạo phong trào cách mạng.

Năm Kỷ Sửu (1949), Hồ Chí Minh 59 tuổi, là năm cùng với những hoạt động sôi nổi, khẩn trương lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp trong giai đoạn gay go quyết liệt là những chỉ dẫn mang tầm tư tưởng của một vĩ nhân văn hoá – chính trị kiệt xuất.

Đầu năm mới, Người có thơ chúc Tết động viên mọi người gắng sức thi đua kháng chiến kiến quốc. Lời thơ của Người cho tới hôm nay vẫn như một lời hịch:

“Người người thi đua,
Ngành ngành thi đua,
Ngày ngày thi đua,
Ta nhất định thắng,
Địch nhất định thua”(1).

Cũng như những mùa xuân trước, xuân này Người lại dành những tình cảm sâu sắc cho Đảng và cho Nhân dân:

Với Đảng, Người nói: “Trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng”(2). Người chỉ rõ:

– Về vai trò, “Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng”(3).

– Về tư cách của Đảng, Người nghiêm khắc nhắc nhở: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hoá. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó.

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên…

Muốn đi tới mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa”(4).

– Với nhân dân, Người đồng cảm với những gian truân, vất vả của đồng bào. Đọc lại bức thư chúc Tết đồng bào trong vùng tạm bị chiếm của Người, chúng ta không thể không bồi hồi xúc động: “Trong ngày trời xuân tươi ấm, Tết nhất vui vẻ, đại gia đình Việt Nam ở vùng tự do sum họp vui vầy, để tưởng nhớ đến tổ tiên và hân hoan cùng con cháu, tôi ngậm ngùi nghĩ đến đồng bào.

Cùng ngày tốt lành, trời Nam đất Việt, mà các đồng bào phải riêng chịu sự lạnh lùng, nhục nhã, cơ cực, tức buồn dưới gót sắt lũ quỷ thực dân tàn bạo.

Mắt tôi như trông thấy các cụ tuổi cao tóc bạc đang đau xót, tức giận trước một cảnh tượng điêu tàn.

Mắt tôi như trông thấy những gia đình túng thiếu khổ sở, đã vất vả về vật chất, càng cay đắng về tinh thần.

Mắt tôi như trông thấy các cháu nam nữ thanh niên đang đau xót, hoặc bị truỵ lạc, hoặc bị giày vò, đang ngóng đợi ngày mai tươi sáng.

Mắt tôi như trông thấy các cháu nhi đồng, đang run rẩy bồi hồi như những đàn chim con bị mưa sa gió bão.

Tôi rất đau lòng thương xót đồng bào tạm lâm vào hoàn cảnh ấy, vì lũ thực dân hung ác, nhưng một phần cũng vì tôi, người phụ trách số phận đồng bào, chưa lập tức xua đuổi được loài thú dữ và cứu vớt ngay đồng bào ra khỏi địa ngục thực dân”(5). Ngày nay hoàn cảnh cụ thể tuy đã đổi thay nhiều lắm, nhưng nỗi niềm suy tư thì vẫn còn đó. Tư tưởng, tình cảm của Người vẫn đang nhắc cán bộ, đảng viên rằng: Sự khổ đau, vất vả của đồng bào là do đâu? Và trách nhiệm của người lãnh đạo trước số phận nhân dân phải thế nào?

Đề cập đến việc phê bình những vấn đề của Đảng và Chính phủ trên các phương tiện thông tin đại chúng, Người đã có bài “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng” đăng trên báo Sự Thật ngày 15-4-1949, phê phán quan niệm cho rằng việc phê bình công khai sẽ làm mất uy tín, mất thể diện của người được phê bình và có thể sẽ bị địch lợi dụng. Theo Người, nghĩ như thế là sai lầm, “ốm sợ thuốc”, không hiểu ý nghĩa và sức mạnh của phê bình.

Lời Người ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (nay là Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) có thể khẳng định rằng đó là lời vàng để lại cho muôn đời cháu con:

“Học để làm việc,

làm người,
làm cán bộ,

Học để phụng sự Đoàn thể,

giai cấp và nhân dân,
Tổ quốc và nhân loại.

Muốn đạt mục đích, thì phải

cần, kiệm, liêm, chính   
chí công, vô tư”(6).

Chân lý sáng ngời: Mục đích của việc học trước tiên là để làm việc. Có biết làm việc mới biết làm người. Và có biết làm người mới có thể làm cán bộ, muốn đạt mục đích phải cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Như vậy, việc học ấy mới có ích, học là để phục vụ cộng đồng.

Tác phẩm Dân vận của Người xuất bản trong năm này là một dấu mốc quan trọng về lý thuyết văn hoá dân chủ ở nước ta. Dân vận là một tác phẩm ngắn, vẻn vẹn 573 từ mà hàm chứa những nội dung phong phú, những quan điểm lớn, những tư tưởng vĩ đại. Nó tựa như một sự chắt lọc tinh khiết đến mức cao minh, ngời ngời chân lý. Xét về mặt văn chương chính luận thì có thể coi đó là một mẫu mực. Nếu người ta coi thế kỷ 21 là thế kỷ của thông tin, của nền kinh tế tri thức thì tác phẩm Dân vận của Người (viết giữa thế kỷ 20) đúng là văn phong của một trí tuệ đi trước thời đại. Với tác phẩm này, thêm một minh chứng rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là văn hoá của tương lai:

Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự việc kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(7).

Năm Tân Sửu (1961), tuy đã 71 tuổi nhưng Bác vẫn khoẻ và rất vui vì miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, đang hăng hái thi đua xây dựng CNXH và làm hết sức mình để góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Như thường lệ, đầu xuân, Người có Thơ mừng năm 1961:

Mừng năm mới, mừng xuân mới,
Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh,
Kế hoạch 5 năm thêm phấn khởi.
Chúc miền Bắc hăng hái thi đua;
Chúc miền Nam đoàn kết tiến tới!
Chúc hoà bình thống nhất thành công!
Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi”(8).

Cả nước ta nô nức bước vào thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất, nhưng để đề phòng những sai lầm có thể mắc phải, Bác đã có lời khuyên: “Đường lối chủ trương có rồi, phải có biện pháp thực hiện cho tốt. CNXH là phải có biện pháp. Kế hoạch một phần biện pháp phải hai phần và quyết tâm phải ba phần, có như thế mới có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước”(9).

Xuân này chúng ta nghĩ gì về lời dạy ấy khi mà không ít kế hoạch đề ra nhưng biện pháp không rõ và quyết tâm không cao, ý thức trách nhiệm kém… nên biết bao công trình, dự án đề ra rồi mà vẫn đang còn dang dở?

Năm này Bác cũng dành nhiều công sức để giảng giải, động viên, khích lệ làm cho mọi người hiểu đúng đắn thế nào là CNXH ở Việt Nam và làm cách gì để xây dựng thành công CNXH. Người nói đơn giản, cụ thể, dễ hiểu, nôm na đi vào lòng người một cách sâu sắc: “Chủ nghĩa xã hội là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”(10). CNXH là một chế độ chính trị, là “chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”. Chế độ dân chủ ấy cần sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng Đảng lãnh đạo là thế nào? Phải có những điều kiện gì? Người chỉ rõ: Đảng lãnh đạo nghĩa là tất cả các cán bộ từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào, ngành nào đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân, đều phải theo đúng chính sách của Đảng và đi đúng đường lối quần chúng. Do đó mà lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực, cụ thể và toàn diện. Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện, chung chung. Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu mệnh lệnh, phải hết sức tránh bệnh hình thức, chống lãng phí, tham ô.

Người nhấn mạnh: Chúng ta sẽ xây dựng CNXH bằng chính tiềm năng, sức lực, từ hoàn cảnh và phương pháp của dân tộc Việt Nam. Vì vậy “muốn xây dựng CNXH trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”(11). Đó là: những con người có ý thức và năng lực làm chủ nước nhà, là những người chẳng những thạo về chính trị mà phải giỏi về chuyên môn, biết đoàn kết, học hỏi quần chúng; là những người yêu lao động và biết lao động, dám nghĩ, dám làm, dám  chịu trách nhiệm, sáng tạo tìm ra cái mới, ủng hộ cái mới, thực hiện cái mới, là dũng cảm chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu mệnh lệnh, chống tham ô, lãng phí, bảo thủ, dụt dè.

Người khẳng định: Chúng ta chỉ có thể xây dựng CNXH bằng tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Sản xuất mà không tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống. Cho nên phải biết giữ gìn của công. Tham ô, lãng phí tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân là hành động trộm cắp mà ai cũng thù ghét, phải trừ bỏ. Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta. Chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khoẻ và sử dụng hợp lý sức lao động của nhân dân ta.

Xác định giá trị của con người và cách dùng người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: bất cứ ai, làm việc gì có lợi cho dân cho nước thì đều vẻ vang, còn làm đến “bộ trưởng mà không làm tròn nhiệm vụ là tồi”(12). Do vậy mà bất kỳ ai có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu cách mạng là phải dùng.

Năm Tân Sửu (1961) cũng là năm Sửu cuối cùng của Bác, nhưng những lời Người nói, những việc Người làm thì mãi trường tồn cùng dân tộc,  núi sông. Tư tưởng của Người mãi mãi vẫn là vẻ đẹp tâm hồn và sức xuân của dân tộc Việt Nam.

____

(1,2,3,4,5,6,7) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.557, 551, 552, 560, 284, 698. (8,9,10,11,12,) Sđd, tập 10, tr.246, 266, 317, 310, 466.

PGS. Trần Đình Huỳnh

xaydungdang.org.vn

Quan điểm giáo dục qua tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch

Bác nói và viết ít nhiều đều mang ý nghĩa giáo dục, điều đó có thể hiểu theo nhiều góc độ, nhiều phương diện. Trong “Nhật ký trong tù” có nhiều bài thơ liên quan đến việc giáo dục con người, nhưng có ba bài: “Tự khuyên mình” (Tự Miễn); “Nghe tiếng giã gạo” (Vãn thung mễ thanh) và “Nửa đêm” (Dạ bán) là rõ hơn cả. 

Bài “Tự khuyên mình” Bác viết cho chính Bác, trực tiếp nói đến giáo dục. Hai bài còn lại gián tiếp nói đến giáo dục qua những hình ảnh được sử dụng trong thơ và có tính chất ký sự. Bác ghi lại những điều quan sát rồi suy gẫm, khái quát vấn đề. Trình bày những suy tư về giáo dục bằng thơ là việc không phải hiếm người làm. Nhưng ở Bác, quan điểm giáo dục được trình bày rõ ràng, giản dị nhưng đầy chất triết lý.

1. Ở bài “Tự khuyên mình”: 

Bác đưa ra một quy luật tự nhiên: không có cảnh rét mướt tiều tụy của mùa đông thì cũng sẽ không có cảnh ấm áp huy hoàng của mùa xuân. Đó là lẽ tất yếu – quy luật tuần hoàn của tự nhiên cũng như “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”. Từ đó, Bác nghĩ đến con người, đời người:

“Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.”

Khi gặp tai ương (tai họa có hại cho bản thân) thì con người được rèn luyện, thử thách càng trở nên vững vàng hơn. Thật giản dị nhưng đó là một chân lý. Trong thực tế, đây là một việc không phải ai cũng làm được. Có người gặp khó khăn (tai họa) là nản chí, khuất phục hoàn cảnh, bị hoàn cảnh chi phối. Còn Bác, Bác không như vậy vì Người đã xác định rồi:

“Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân.”

Sự đối lập hai cảnh “Đông hàn tiều tụy cảnh” (Cảnh rét mướt tiều tụy của mùa đông” với “xuân noãn đích huy hoàng” (cảnh ấm áp huy hoàng của mùa xuân) là để làm bật ý: không trải qua gian khổ sẽ không có ngày sung sướng. Từ quy luật tự nhiên rút ra quy luật cuộc đời và rút ra bài học cho chính bản thân.

Con người ta không ai muốn mình gặp phải tai ương. Nhưng khi gặp tai ương thì hoặc là lui lại hoặc là vượt qua để rèn luyện tinh thần. Bác đã coi tai ương là dịp, là cái để tự phấn đấu, trưởng thành. Tai ương là dịp để rèn luyện tinh thần, phải nói là dịp tốt để rèn luyện tinh thần.

2. Ở bài Nghe tiếng giã gạo: 

Cách biểu đạt của Bác có khác. Đối lập hai khâu trong một quá trình:

“Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông”

So sánh cuộc đời con người (nhân sinh tại thế) với việc giã gạo, rõ ràng quá, dễ hiểu quá! Có rèn luyện trong gian khổ, có trải qua đau đớn, thậm chí phải trải qua thất bại mới có thành công. Gạo có bị giã mới “Trắng tựa bông”. Con người có rèn luyện trong gian khổ mới thành công một cách tốt đẹp.

Như vậy, sự đối lập hai khâu trong một quá trình như đã nói ở trên là sự đối lập hòa hợp, đi đến thống nhất biện chứng trong một sự vật.

Cùng với tinh thần càng chịu nhiều đau thương, mất mát, tai ương thì càng rèn luyện mình vững vàng, bản lĩnh hơn như ở bài “Tự khuyên mình”. Ở đây, Bác khẳng định yếu tố nỗ lực chủ quan để vượt qua hoàn cảnh khó khăn là môi trường rèn luyện tốt. Ông cha ta nói “lửa thử vàng gian nan thử sức”, quả không sai!

“Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công”

Khó khăn rèn luyện để mình thành công quả là một ý thật sâu sắc, một bài học vô cùng quý giá, bổ ích.

3. Ở bài Nửa đêm: 

Bác trình bày quan điểm của mình một cách trực tiếp, đó là một sự đúc kết, chiêm nghiệm.

Ở đây, chúng ta lại bắt gặp sự đối lập, hòa hợp, giữa thức và ngủ, giữa thiện và ác.

Khi người ta ngủ đều có chung một hoạt động (nhịp đập của trái tim) do đó khó phân biệt được người hiền và kẻ ác, tất cả đều như nhau. Nhưng lúc tỉnh dậy (đúng hơn là sau khi tỉnh dậy), kẻ ác và người lành mới phân biệt được bởi việc làm của họ khác nhau:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền.
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên.”

Như vậy, qua bài thơ, ta thấy Bác khẳng định phẩm chất của con người, đạo đức của con người, nhân cách của con người phần nhiều do giáo dục mà nên. Điều đó chính là Bác muốn nhấn mạnh ý nghĩa của hoàn cảnh giáo dục đối với việc hình thành tính cách con người. Bác triết luận rằng trong giáo dục phải chú ý đặc biệt đến hoàn cảnh sống tốt hơn để phát triển cái thiện, đẩy lùi cái ác. Hoàn cảnh, môi trường, giáo dục có văn hóa, đầy sự yêu thương chắc chắn sẽ đẩy lùi cái ác, hướng tới cái thiện.

Tiêu diệt cái ác có thể bằng nhiều cách (có thể bằng pháp luật) là cần thiết nhưng chúng ta cần xây dựng, khuyến khích và phát triển cái thiện ở con người vì nó cũng góp phần đẩy lùi cái ác. Đó là bài học giáo dục quý báu rút ra từ bài thơ “Nửa đêm” này của Bác. Bác khẳng định dứt khoát rằng tính cách con người phần nhiều do giáo dục mà có. Khẳng định đó có tính triết lý và cũng rất thực tế. Bài thơ có sức mạnh thuyết phục do nó giản dị, dễ hiểu và có thể làm theo được.

Qua ba bài thơ trên, như vừa phân tích, mọi người có thể rút ra những kết luận bổ ích về vấn đề giáo dục, về sự nghiệp giáo dục. Ba bài thơ trên thể hiện rõ quan điểm giáo dục, tư tưởng giáo dục của Bác. Đó là tư tưởng tự rèn luyện, tự giáo dục tùy theo hoàn cảnh sống của con người. Đúng là nội dung tư tưởng của ba bài thơ trên và “Nhật ký trong tù” nói chung vượt ra ngoài hình thức thơ Đường luật chật hẹp mà nó chứa đựng. Ba bài thơ trên của Bác có một ý nghĩa giáo dục sâu xa cho mọi thời đại, mọi xã hội đối với việc hình thành và phát triển, hoàn thiện nhân cách con người.

Nguyễn Đình Triều
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn

tdmu.edu.vn

Sáng mãi tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.

Ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức – văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: “Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội. Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho dân tộc và nhân loại. Con người, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người là một chỉnh thể thống nhất, ở đó có mối liên hệ hữu cơ không thể tách rời giữa tư tưởng và hành động, giữa lý luận và thực tiễn, trong suy nghĩ và cách ứng xử. Cả cuộc đời Người hành động để cứu dân, cứu nước, cho nước nhà được độc lập, đồng bào ta được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, mọi người tiến bộ, sống nhân ái, hạnh phúc – đó là lẽ sống của Người.

”Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta, đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Điều đó đã trở thành chân lý làm rung động con tim mỗi người Việt Nam khi nhắc đến tên người- Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đó đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo để làm một người cách mạng, một người công dân tốt hơn.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, đó là lý tưởng, là lẽ sống mà cũng là học thuyết chính trị – đạo đức của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.

Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho Người một ý chí, một nghị lực phi thường để “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Cho đến khi phải từ biệt thế giới này, điều luyến tiếc duy nhất của Người vẫn chỉ là “không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một bậc đại trí, đại đồng, hy sinh chẳng quản, gian nguy không sờn. Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của tinh thần: Thắng không kiêu, khó không nản. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô cùng gian khổ: hai lần ngồi tù, một lần lãnh án tử hình; có giai đoạn hoạt động rất sôi nổi, được đánh giá cao, có giai đoạn bị hiểu lầm, ngộ nhận, lâm vào cảnh “như là sống ở bên lề, ở bên ngoài của Đảng”. Vượt qua được thử thách khổ ải, tù đày đã rất khó, nhưng vượt qua được thử thách do bị hiểu lầm, nghi kị còn day dứt hơn nhiều. Để kiên trì chân lý, giữ vững quan điểm độc lập, tự chủ, Người đã bình tĩnh, chủ động vượt qua những năm tháng khó khăn đó. Lê-nin từng nói: không sợ đói, không sợ chết, chỉ sợ không chiến thắng được phút yếu đuối của bản thân. Trong khó khăn, Người vẫn luôn luôn “tự khuyên mình”: muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao. Dù có lúc phải “hoá lệ thành thơ” thì điều đó cũng chỉ vì nhân dân, vì Tổ quốc chứ không phải vì cảnh ngộ cá nhân.
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một lãnh tụ hết lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân, luôn luộn tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, cho nên mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của nhân dân, luôn luôn dựa vào dân, “lấy dân làm gốc”. Người giáo dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bởi “nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”.

Để làm tròn trách nhiệm là người đầy tớ trung thành của nhân dân, Người dạy cán bộ phải gần dân, hiểu tâm lý, nguyện vọng của dân, lắng nghe ý kiến của dân. của “những người không quan trọng”, không được lên mặt “quan cách mạng”, cậy quyền cậy thế, đè đầu cưỡi cổ dân. Mặc dù uy tín rất cao, có sức hấp dẫn rất lớn, được toàn dân suy tôn là “Cha già của dân tộc” nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Người coi việc phải gánh chức Chủ tịch cũng như việc “người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra mật trận”. Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn tự tay viết thư trả lời, cảm ơn một cách thân tình, chu đáo, nêu một tấm gương ứng xử rất văn hóa, đầy khiêm nhường và kính trọng đối với nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực. Bác Hồ là “muôn vàn tình thân yêu” đối với đồng chí, đồng bào. Trong tình yêu thương đó, có chỗ cho mọi người, không quên, không bỏ sót một ai. Trái tim mênh mông của người ôm trọn mọi nỗi đau khổ của nhân dân. Người nói một cách cảm động: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng; gộp những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Tình thương yêu đó được mở rộng đối với nhân dân lao động toàn thế giới. Đối với những người lầm lạc, ngay cả đối với những người chống đối hay kẻ thù, Người cũng thể hiện một lòng khoan dung, độ lượng hiếm có. Kẻ thù xâm lược đã gây nên bao tội ác man rợ đối với nhân dân ta, nhưng khi chúng đã thất thế, đầu hàng hay bị bắt, Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải đối xử với chúng một cách khoan hồng, phải làm “cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Cần kiệm, giản dị, ít lòng ham muốn về vật chất, đó là “tư cách của người cách mạng”. Người đề ra và tự mình gương mẫu thực hiện. Cũng như V.I.Lê-nin, Người coi khinh mọi sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng. Một cốt cách giản dị, một sự giản dị vĩ đại. Đó là một cuộc đời trong sạch, suốt đời thực hành cần kiệm, liêm chính.

Nét nổi bật trong đạo đức Hồ Chí Minh là sự khiêm tốn phi thường. Mặc dù có công lao rất lớn, Người không để ai sùng bái cá nhân mình, mà luôn luôn nêu cao sự nghiệp anh hùng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Người nói: Quần chúng mới là người làm nên lịch sử và lịch sử là lịch sử của chính họ chứ không phảl của một cá nhân anh hùng nào.

Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, “khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người còn là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.

(TS. Tổng hợp)

haugiang.gov.vn

Thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thân mẫu Bác Hồ

Bà Hoàng Thị Loan sinh năm 1868 trong một gia đình nho học. Mọi người trong gia đình Bà đều trực tiếp tham gia lao động, giàu lòng nhân ái, trọng nghĩa khí, có cách nhìn tân tiến trong cuộc sống, vượt ra ngoài sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến đương thời. Từ nhỏ, bà Loan đã được tiếp thụ sự giáo dục tiến bộ của gia đình, lại được sống ở một vùng quê nổi tiếng về thuần phong mỹ tục. Đây lại là xứ sở hát phường vải – một loại hình văn hóa dân gian hết sức độc đáo. Bà yêu thích tìm hiểu về văn hóa dân tộc, thông hiểu nhiều làn điệu dân ca, hát ví. Bà có dung nhan sắc sảo, tính tình hiền từ, luôn vui vẻ hòa nhã với mọi người, chăm chỉ công việc đồng áng và canh cửi.

Cuối năm 1883, bà Loan kết hôn với ông Nguyễn Sinh Sắc – một nho sinh mồ côi cả cha lẫn mẹ. Bà chấp nhận cuộc sống vất vả, khó khăn để chồng yên tâm kinh sử, hun đúc tài năng. Với phẩm chất nhân hậu, chịu thương, chịu khó, không muốn con mình thiếu thốn, không muốn chồng mình phải ngừng học tập vì miếng cơm, manh áo, Bà đã lao động cật lực để nuôi gia đình. Bằng tấm lòng yêu chồng, thương con vô bờ bến, Bà đã hy sinh tất cả, toàn tâm toàn lực vì sự nghiệp của chồng con. Sự học hành, đỗ đạt của ông Nguyễn Sinh Sắc luôn gắn với công lao, tâm sức của Bà.

Bà Hoàng Thị Loan là tấm gương sáng ngời về tính cách bình dị, khiêm tốn, đức hy sinh, chung thủy, thương người, yêu nước. Bà đã dành rất nhiều tâm huyết truyền thụ cho các con những hiểu biết ban đầu về thế giới tự nhiên và xã hội. Tất cả những câu hỏi ngây thơ, ngộ nghĩnh của các con đều được Bà giải thích cặn kẽ, rõ ràng, dễ hiểu. Là một người mẹ chuyên cần, chăm chỉ, Bà luôn chú trọng dạy các con yêu lao động, biết làm những điều phù hợp với lứa tuổi của mình một cách say mê, sáng tạo. Bất cứ ở đâu, bà Loan cũng thể hiện một lối sống trong sáng, có nghĩa, có tình khiến ai cũng yêu quý, kính trọng. Bằng tấm lòng và sự mẫn cảm của người mẹ, Bà đã vun trồng, uốn nắn, dạy dỗ các con những bài học đầu tiên về cách sống, về đạo lý làm người. Vì vậy, ngay từ nhỏ, những người con của Bà đã có chí hướng, sống chan hòa gắn bó với cộng đồng và giàu tâm huyết với quê hương, đất nước.

Xót xa thay! Chính vì lao động quá sức, đời sống kham khổ, Bà Hoàng Thị Loan đã lâm bệnh nặng và qua đời ở tuổi 33 vào ngày 10-2-1901 (tức ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý) tại Kinh đô Huế. Thi hài của Bà được mai táng ở núi Tam Tầng, bên dòng sông Hương. Năm 1922, hài cốt của Bà được cô Thanh – con gái Bà đem về mai táng tại vườn nhà ở làng Sen (Kim Liên) và đến năm 1942, lại được cậu con trai Nguyễn Sinh Khiêm đưa lên cải táng trên ngọn núi Động Tranh Thấp trong dãy Đại Huệ. Năm 1984, để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với người đã sinh thành, dưỡng dục anh Nguyễn Sinh Cung tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh (cũ) và lực lượng vũ trang Quân khu 4, thay mặt cho đồng bào và chiến sĩ cả nước, đã xây dựng Khu mộ của Bà khang trang, đẹp mắt.

Nếp sống giản dị, thanh cao, yêu lao động, giàu nhân nghĩa, mang đậm bản sắc địa phương và truyền thống dân tộc của bà Hoàng Thi Loan đã thể hiện rất rõ trong nhân cách, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau mãi mãi trân trọng và tri ân Bà. Trong một lần đến viếng mộ Bà, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Cụ – Người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã mang lại vinh quang cho đất nước Việt Nam, Người mà mọi người Việt Nam, từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ mãi mãi ghi ơn!

Nguyễn Thị Hiệp

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh là tấm gương phản chiếu phẩm chất của một người thầy mẫu mực.

“Đầu năm 1911, Người bỏ học. Trên đường ra nước ngoài, Người qua Phan Thiết và đã dạy học trong một thời gian ngắn tại trường Dục Thanh, một trường tư do một số văn thân yêu nước lập ra” [1, tr.15]. Đây là trích đoạn trong tập sách Chủ Tịch HồChí Minh, tiểu sử và sự nghiệp. Điều đó cho thấy Hồ Chí Minh đã từng là một thầy giáo trước khi trở thành một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trong bài viết này, tính chất mẫu mực của người thầy trong nhân cách Hồ Chí Minh mà chúng tôi tìm hiểu bao hàm nhiều phương diện ý nghĩa hơn là khái niệm một thầy giáo đơn thuần, bởi nhân cách và trí tuệ của Người được trui rèn và tỏa sáng trong suốt một quá trình đấu tranh lâu dài không mệt mỏi cho nền độc lập dân tộc, cho sự thống nhất nước nhà.

hồ chí minh
1.Hồ Chí Minh là tấm gương phản chiếu phẩm chất của một người thầy mẫu mực 

Xét về cách giải quyết vấn đề, Hồ Chí Minh có một thế giới quan khoa học. Ở Người, ta thấy một lối nghĩ, lối làm rất khoa học, chính xác và quyết đoán. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, Người sớm tiếp xúc và tham gia các phong trào yêu nước. Trong những năm học ở Trường Quốc học Huế (1905 – 1910), Người đã làm liên lạc cho một số nhà nho yêu nước lúc bấy giờ. HồChí Minh sớm nhận thức và rất nhanh nhạy trong việc đánh giá đường lối đấu tranh của các phong trào yêu nước. Người thấy rằng, phong trào Cần vương thất bại là vì không tập hợp được quần chúng; cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám sớm tan rã vì không có đường lối rõ ràng; chủ trương của cụ Phan Chu Trinh thì có tính cải lương; còn cụ Phan Bội Châu lại dựa vào Nhật để đánh thực dân Pháp, khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Vì thế, Người đã quyết tâm đi tìm con đường cứu nước mới _ con đường dân tộc độc lập, dân chủ tự do. Năm 1911, Bác đã rủ một người bạn ra nước ngoài xem họ làm thế nào để về giúp đồng bào thì người kia hỏi lấy tiền đâu mà đi, Bác vừa trả lời “Đây, tiền đây” [2, tr.14] vừa giơ hai bàn tay ra; và rồi Bác đã đồng ý làm bất cứ việc gì để được đi ra nước ngoài. Chính lòng yêu nước vô bờ bến và sự quyết đoán ấy, BácHồ đã tìm được con đường cứu nước mới và trở thành thành viên của Đệ tam Quốc tế. Từ sau năm 1940, Bác trở về nước cùng Trung ương Đảng chuẩn bị tổng khởi nghĩa và thực hiện thành công cuộc tổng khởi nghĩa vào năm 1945, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước, cho con người Việt Nam. Người được bầu làm Chủ tịch nước. Trong vai trò mới, Người đã dũng cảm và khéo léo chèo chống con thuyền cách mạng vượt qua hết khó khăn này đến gian nguy khác bằng chính cách nhìn nhận, đánh giá tình thế cách mạng một cách khoa học, chính xác và táo bạo. Cụ thể nhất là việc Người đặt bút ký với Sainteny _ đại diện của Pháp, bản Hiệp định ngày 6 tháng 3 năm 1946, mà theo căn cứ của Bản hiệp định thì nước Việt Nam thừa nhận ở trong khối Liên hiệp Pháp, cho phép 15.000 lính Pháp đổ bộ vào Bắc và Trung bộ Việt Nam để thay thế quân Tưởng. Trước sự nghi ngờ của dư luận cho rằng Hồ Chí Minh đã bị Pháp mua chuộc, Bác đã dõng dạc tuyên bố trước nhân dân : “Hồ Chí Minh không và sẽ không bao giờ là một người bán nước”, đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan buộc ta phải tạm thời nhượng bộ Pháp. Và chính nhờ hiệp định này nhân dân ta tránh được cuộc đối đầu trực tiếp vớinhiều thế lực thù địch để có thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Hồ Chí Minh là người không ngừng học hỏi để hoàn thiện bản thân, nắm bắt tri thức nhân loại. Ví như, để học tiếng Anh, Bácđã một mình đến Luân Đôn. Và để có thể sống ở Luân Đôn, Bác đã phải làm đủ nghề cực nhọc với những đồng lương rẻ mạt như: nhận cào tuyết trong một trường học, việc đốt lò trong xưởng, việc rửa chén bát trong nhà hàng. Rồi ta lại thấy rất rõ điều này qua việc Bác học tiếng Pháp. Bác học từng chữ một khi trên tàu lênh đênh ra nước ngoài nhờ vào hai thanh niêngiải ngũ người Pháp; hay để viết được báo bằng tiếng Pháp cho đúng, Bác luôn viết thành hai bản, một bản nhờ người khác sửa, một bản giữ lại để sau này đối chiếu đúng sai; lúc đầu viết ngắn, sau lại viết dài rồi rút gọn lại. Chính lòng kiên trì và sự miệt mài học tập, Bác đã viết được những bài báo, vở kịch được công chúng khen ngợi. Bác lại thường xuyên tham gia những buổi thảo luận của những người trong Đảng xã hội Pháp. Rồi Bác lại đến nước Nga để được gặp Lê Nin, nhưng đã không kịp vì Lê Nin đã mất trước đó mấy ngày. Ngay lúc ấy, Bác liền liên lạc với những người quen và bắt đầu học tiếng Nga để thuận việc tiếp xúc với lí tưởng chủ nghĩa xã hội Nga. Có thể nói, trí tuệ của Hồ Chí Minh là kết tinh của một quá trình phấn đấu, học hỏi không ngừng với niềm khát khao vươn tới trí tuệ nhân loại và tình yêu nước sâu sắc.

2. Hồ Chí Minh luôn thể hiện năng lực của một người thầy mẫu mực 

Ở Người, ta thấy một sự cảm hoá rất mạnh mẽ. Sự cảm hoá ấy dựa trên sự chia sẻ, đồng cảm và yêu thương qua suy nghĩ, lời nói và hành động. Nhờ năng lực đó mà Bác đã được những người Pháp, người Anh, người Nga nhiệt tình dạy cho những thứ tiếng của họ. Đặc biệt thời gian ở Luân Đôn, khi đang làm chân phụ dọn dẹp ở tiệm ăn Các lơ tông, với hành động giữ lại những phần ăn thừa như thịt gà, bit tết… một cách cẩn thận và sạch sẽ để chia cho những người nghèo, Bác đã được Ét Cốp Phi E _ một ông vua đầu bếp thời bấy giờ cho lên phụ bếp, lại dạy cho cách nấu ăn và tăng lương. Việc này đối với tiệm ăn Các lơ tông là chưa có tiền lệ. Hay một ví dụ khác, vào năm 1922, Bác cùng với những người trong Ban thường vụ Hội Liên hiệp thuộc địa họp bàn việc cho xuất bản Báo Người cùng khổ nhưng không thành công vì thiếu tài chính. Nhưng Bácquyết vẫn cứ cho ra Báo Người cùng khổ bằng cách quyên góp tiền từ công chúng. Trong các cuộc mít tinh, Bác thường lên diễn đàn và nói: “Các bạn thân mến! Báo Người cùng khổ phát không, nhưng hết sức cảm ơn nếu các bạn vui lòng quyên góp ít tiền để giúp chúng tôi trả tiền in. Một xu, một quan, ít nhiều cũng tốt” [2, tr.44]. Thế là Báo Người cùng khổ được phát hành.

Ngoài sự cảm hoá nhân dân, quần chúng, mọi tầng lớp bằng hành động cụ thể, Bác còn cảm hoá họ bằng những câu văn, bài thơ, lời kêu gọi chứa chan tình thương và nhiệt huyết. Với các văn nghệ sĩ, những người lính, Bác thường xuyên viết thư thăm hỏi, động viên; với các cháu thiếu nhi, không trung thu nào là Bác không viết những vần thơ yêu thương, khích lệ. Ví như trong Thư trung thu năm 1952, có đoạn :

“Ai yêu nhi đồng
Bằng Bác Hồ Chí Minh
Mong các cháu cố gắng
Thi đua học và hành.”[3, tr.81]

Hay như “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ngày 20 tháng 12 năm 1946 có đoạn viết :
“Không. Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước” [1, tr.98]. Sau lời kêu gọi này là hàng loạt phong trào thi đua yêu nước được ra đời như: thi đua diệt giặc đói, giặc dốt, thi đua giết giặc, thi đua sản xuất. Có thể nói là “người người thi đua, nghành nghành thi đua”.

Hồ Chí Minh luôn có lối sống mẫu mực, chân thành, giản dị mà đầy tình nghĩa. “…Chúng tôi đều nhìn Bác, một vị Chủ tịch nước trong bộ quần áo kaki bạc màu, chân đi dép, hiện thân của sự giản dị, trong sáng, một mẫu người tuổi trẻ mà chúng tôi hằng mong đợi, ước mơ” [4, tr.79]; hay “…Bác Hồ là tinh hoa của những tinh hoa Việt Nam, tổng hợp của những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc, của thời đại” [5, tr.209]. Với một lời cảm nhận, một lời nhận xét trên của những người đã từng tiếp xúc với Bác cho ta thấy: Hồ Chí Minh là mẫu đạo đức, tác phong của những người cách mạng được gần gũi và làm việc cùngBác. Bác luôn nêu lên những chuẩn mực đạo đức mới, tự mình thực hiện và phổ cập đế mọi người cùng thực hiện. Bác luôn coi đạo đức là cái gốc của con người, đặc biệt là người cách mạng. Mà có lẽ đạo đức ấy là sự quyết tâm tự đấu tranh để hoàn thiện bản thân và chiến thắng cái xấu trong cuộc sống. Ta có thể thấy rất rõ điều này qua những lời nói, việc làm bình dị nhất từ con người Hồ Chí Minh như trong cách xưng hô: nói với toàn dân thì “thưa đồng bào”, nói với cấp dưới là “các chú”, nói với thiếu nhi là “bác” với “cháu”; trong cách ăn mặc Bác cũng rất giản dị “…Khi ở Pari về, người ta thấy Hồ Chí Minh mặc một bộ kaki đã vá. Có người yêu cầu Chủ tịch thay bộ áo quần khác. Chủ tịch đáp: Nhiều đồng bào ta có được bộ quần áo này cũng là tốt lắm. Thế thì việc gì phải thay” [2, tr.148]. Còn khi về Hà Nội, Bác sống trong một ngôi nhà sàn đơn sơ vớinhững vật dụng cần thiết nhất. Vậy đấy, Bác là chân dung của một nhà cách mạng vì nước quên thân, vì dân phục vụ.

Hồ Chí Minh lại là người có tài quản lý và tổ chức. Ví như câu chuện bác chọn Phó Thủ tướng : “… Bác đọc danh sách, thấy đồng chí nào cũng có quá trình phấn đấu đáng tin cậy. Nhưng Bác suy nghĩ và phân tích: chú này có quá trình khái quát nhanh, chú kia chặt chẽ về tài chính…nhưng làm Phó Thủ tướng ngoài năng lực, ý chí tổ chức kỉ luật và tinh thần trách nhiệm, cần phải sâu sát tình hình thực tế, tổ chức thực hiện kiểm tra đôn đốc… Bác thấy chú Mười là đủ tiêu chuẩn vừa nói nhưng đểBác xem sức khoẻ thế nào đã.” [4, tr.48]. Thế là Bác mời đồng chí Đỗ Mười đến nói chuyện, lại mời cùng ăn cơm. Sau rồi,Bác suy nghĩ và quyết định đồng chí Đỗ Mười làm Phó Thủ tướng, nhưng lại quy định chỉ được làm việc ban ngày để đảm bảo sức khoẻ làm việc lâu dài. Ngoài ra, ta còn thấy sự tài tình của Bác trong việc tổ chức và quản lý bộ máy nhà nước, chính quyền cách mạng trong nhiều tình huống vào những hoàn cảnh khác nhau như khi mới thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời, khi tổ chức chiến dịch biên giới… Thế mới biết, Bác rất cẩn thận và tỉ mỉ trong việc tuyển chọn “đầy tớ” của nhân dân, những cán bộ cốt cán có đủ năng lực và phẩm chất để đưa con thuyền cách mạng đến với chiến thắng cuối cùng.

Cuộc đời của Hồ Chí Minh, sự nghiệp của Hồ Chí Minh là tấm gương để mỗi người dân Việt Nam noi theo và phấn đấu. Đặc biệt, ngày nay, những Thầy, Cô giáo trẻ lại càng phải học tập tấm gương đạo đức và nhân cách của Hồ Chí Minh. Đó là học tập cách nhìn nhận đánh giá sự vật hiện tượng một cách khách quan khoa học, để có thể nắm bắt tri thức và không ngừng bồi dưỡng kiến thức; học cách cảm hoá, quản lí con người thông qua việc rèn luyện lối sống chân thành, trung thực, giản dị giàu tình nghĩa nhưng công bình và liêm chính.

ThS. Lê Sỹ Đồng 
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân Văn


Tài liệu tham khảo
1. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự Thật, 1975.
2. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Sự Thật, 1975.
3. Trúc Chi, Hồ Chí Minh vẻ đẹp bên trong của viên ngọc, Nxb Thanh Niên, 2000.
4. Phan Hiền, Bác Hồ với sự nghiệp trồng người, Nxb Trẻ, 2004.
5. Hà Huy Giáp, Bác Hồ người Việt Nam đẹp nhất, Nxb Thanh Niên, 1977.
6. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Hà Nội, 2003.

tdmu.edu.vn

Bác Hồ qua những bức ảnh tư liệu của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

“… Hồ Chí Minh mà chúng tôi ví như Pierre le Grand (Pie Đại Đế), Hochimagne, nhưng hơn… Cả đến ngọn lúa cũng gợi hình ảnh Hồ Chí Minh. Sao chưa có kịch, có tiểu thuyết tả người anh hùng ấy? Có khi không phải tả, nhưng nhân vật vẫn trội lên, đẹp đẽ, lớn lao và ở đâu cũng có mặt”.

Cha tôi, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã ghi những dòng nhật ký này ngày 24.10.1947, giữa những bộn bề công việc của buổi đầu kháng chiến. Khác với một số đồng nghiệp bấy giờ còn lúng túng chưa biết viết gì và viết như thế nào, cha tôi đã sớm có được những tác phẩm ngợi ca Cách mạng và vị lãnh tụ của dân tộc. Với những bài ký về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tạp chí Tiên Phong cuối năm 1945 đầu năm 1946 và sau đó là những bài đăng trên Văn Nghệ kháng chiến, cha tôi là một trong những người đầu tiên viết về Người. Nói như giáo sư Phong Lê, “Nguyễn Huy Tưởng xứng đáng thuộc số người sớm và hiếm hoi thỏa mãn một nhu cầu tinh thần lớn của nhân dân trong cuộc đổi đời của dân tộc sau 1945. Qua các trang ghi linh hoạt này Nguyễn Huy Tưởng cũng là người sớm phát hiện ra cái giản dị, cái thường ngày của một con người vĩ đại, con người trong sự ngưỡng mộ, thành kính của dân tộc”… Những bài viết đó, sau khi về Tiếp quản Thủ đô, cha tôi đã tập hợp lại in thành một tập sách lấy tên là Gặp Bác, như để mừng ngày Hồ Chủ tịch và Chính phủ về lại Thủ đô, 1.1.1955.

Tuy nhiên, qua những dòng nhật ký trên của cha tôi, có thể thấy ông chưa hài lòng với những gì đã viết, mà đòi hỏi mình cao hơn. Không phải chỉ những bút ký, ghi chép, mà là “kịch”, là “tiểu thuyết” – những tác phẩm cần đến sự khái quát rất cao. Thực tế là sau này, khi viết kịch Những người ở lại hay Ký sự Cao Lạng, rồi kịch bản phim Lũy Hoa…, ông đã lồng vào đó những trang thật cảm động về lãnh tụ. Nhưng chắc chắn mong muốn của ông không dừng ở đó. Nếu cha tôi không bị bạo bệnh mất sớm, tôi dám chắc thế nào ông cũng có một vở kịch hay một tiểu thuyết riêng về Bác. Hồi ký của nhà thơ Tố Hữu, nhà văn Tô Hoài, nhà văn Kim Lân, nhà văn Nguyên Hồng… đều cho biết cha tôi rất kính yêu lãnh tụ và say sưa với đề tài Bác Hồ. Nhiều trang nhật ký của cha tôi cũng chứng thực điều đó. Ở bài viết này, tôi muốn nói đến một số kỷ vật khác, cho thấy mối quan tâm đặc biệt của cha tôi đối với Bác. Đó là những tấm ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà cha tôi có được và mẹ tôi đã lưu giữ sau khi ông qua đời.

Tấm ảnh đầu tiên xin được nói đến là bức chân dung Hồ Chủ tịch trong kháng chiến, in trên giấy ảnh khổ 42x53mm (ảnh 1). Mặt sau có đóng dấu: “Ảnh của Đoàn nhiếp ảnh Việt Nam – Nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành – Chụp lại phải xin phép”. Tấm ảnh không đề ngày, nhưng qua những hàng chữ trên, ta có thể biết thời điểm ra đời của nó là sau khi NXB Văn Nghệ đã thành lập và đi vào hoạt động, tháng 3.1948. Bấy giờ cha tôi làm Thường vụ Hội Văn Nghệ Việt Nam, trực tiếp giải quyết những vấn đề thường nhật của Hội cũng như các cơ quan trực thuộc là báo Văn Nghệ và Nhà xuất bản. Rất có thể ông đã cho xuất bản bức chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh để phát hành rộng rãi, đáp ứng nhu cầu tình cảm của nhân dân đối với lãnh tụ, đặc biệt trong những ngày đầu kháng chiến.

Tấm ảnh tiếp theo tôi muốn giới thiệu ghi lại hình ảnh Bác đang cùng một số người xem tranh, có kích thước 50x50mm (ảnh 2). Đằng sau có bút tích của cha tôi, viết bằng bút chì, nay đã mờ nhưng vẫn còn đọc được: “Cụ Hồ Chủ tịch cùng với mấy vị trong Đoàn Đại biểu Nam Bộ đương xem bức tranh của họa sỹ Diệp Minh Châu gửi ra kính dâng Cụ. – ảnh BTCH, X-1948”. Đây chính là bức tranh nổi tiếng vẽ bằng máu của họa sỹ Diệp Minh Châu mà trên ảnh đen trắng ta không thể nhận ra màu sắc. Còn mấy chữ BTCH có lẽ là viết tắt của Bộ Tổng chỉ huy, cơ quan giữ bản quyền tấm ảnh này. Riêng về mấy người cùng xem tranh với Bác, từ nhật ký của cha tôi ta có thể biết thêm đôi điều về họ. Ngày 21.11.1948 cha tôi ghi: “Gặp anh em trong phái đoàn Nam Bộ: Cha Kính, trẻ như một sinh viên, Tần, Thanh niên, Khung, Lao động…” Thời gian đã quá xa để có thể biết ai là linh mục Nguyễn Bá Kính, đại biểu Liên đoàn công giáo Nam Bộ, ai là Nguyễn Văn Tần, đại biểu Thanh niên Nam Bộ, ai là Phạm Văn Khung, đại biểu Liên hiệp công đoàn Nam Bộ… Nhưng dù họ là ai, thuộc thành phần nào, trên ảnh tất cả đều như những đứa con xúm xít quanh vị cha già dân tộc.

Tấm ảnh thứ ba ghi lại hình ảnh Hồ Chủ tịch đang tăng gia cùng cán bộ, chiến sỹ (ảnh 3). Đằng sau có đề: “Kỷ niệm Đại hội Quốc hội Việt Nam lần thứ 3 (1953)”, bên dưới đóng dấu “Ban Thường trực Quốc hội”. Ảnh có kích thước 75x75mm, xung quanh có khung và phía dưới để chỗ cho chữ ký của Hồ Chủ tịch. Vậy là đã rõ. Đây là quà của Bác tặng các đại biểu dự Kỳ họp thứ ba Quốc hội Khóa I, đầu tháng 12.1953, Quốc hội thông qua Luật Cải cách ruộng đất. Quý nhất là chữ “Hồ Chí Minh” Bác ký tặng đến nay sau hơn nửa thế kỷ nét mực tím vẫn còn tươi nguyên, trong khi bản thân tấm ảnh đã phai ít nhiều. Cùng với tấm ảnh này, cha tôi còn để lại một bức nữa cũng y vậy, chỉ khác là nhỏ hơn, cũ hơn và không có khung cũng như không để chừa rộng ở phía dưới. Có thể là từ bức ảnh ấy người ta đã làm thành tấm ảnh to hơn, rộng rãi hơn để Bác ký tặng. Nhưng liệu cha tôi có tham gia gì vào việc này, liệu có phải NXB Văn Nghệ mà ông là người lo toan gánh vác đã in tấm ảnh đó, thì chẳng thể có cơ sở gì để khẳng định. Chỉ biết ở mặt sau tấm ảnh, phía trên, cha tôi đã ghi tên mình, “Nguyễn Huy Tưởng”, một cách thật nắn nót, chứng tỏ ông rất coi trọng việc mình có tấm ảnh này!

Bức thứ tư là ảnh Hồ Chủ tịch chụp cùng một cụ ông mặc quốc phục, bên cạnh là micrô, đèn chiếu… (ảnh 4). Cùng với tấm ảnh này, cha tôi còn để lại một tấm khác nữa cũng có chung kích thước (115x82mm), ghi lại hình ảnh Bác vừa đọc diễn văn vừa khóc. Cả hai bức ảnh không có ghi chú gì, nên ta không thể biết cụ thể về nội dung của chúng. Nhưng qua nhật ký của cha tôi, tôi có thể suy đoán mà không sợ sai rằng, đó là ảnh chụp Hồ Chủ tịch tại Kỳ họp thứ sáu Quốc hội Khóa I, cuối năm 1956. Ngày 29.12.1956, cha tôi ghi nhật ký: “Hồ Chủ tịch… đọc bài chào mừng, nhắc đến miền Nam, khóc”. Đây quả là những hình ảnh gây xúc động mạnh trong lễ khai mạc, và tôi đoán rằng Văn phòng Quốc hội đã làm để tặng các đại biểu. Thế nhưng người chụp cùng Bác là ai? Phải chăng là một vị nhân sỹ trong Quốc hội, hay một bậc cao niên thay mặt nhân dân Thủ đô lên chào mừng Hồ Chủ tịch và Quốc hội? Có điều chắc chắn, bức ảnh toát lên một tinh thần đại đoàn kết dân tộc mà Hồ Chủ tịch là tiêu biểu, nó khiến ta nhớ tới những câu chuyện cảm động về Cụ Hồ với cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng), cụ Hồ với cụ Bùi (Bùi Bằng Đoàn), hay với nhiều cụ ông, cụ bà khác…

Bức cuối cùng mà tôi muốn nói tới là tấm ảnh Bác chụp trong chuyến thăm Cộng hòa Dân chủ Đức, giữa năm 1957 (ảnh 5). Bên Bác là một vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Đức đi tháp tùng mà ta có thể đoán ra, còn xung quanh là các lưu học sinh và thày cô giáo đang học tập và công tác tại nước bạn. Một trong những lưu học sinh ấy, người ngồi cạnh Bác, phía bên phải, chính là chị gái cả của tôi, chị Nguyễn Thị Hiền. Bấy giờ chị tôi đang theo học tại CHDC Đức và chị đã vinh dự được chụp ảnh cùng Bác trong chuyến thăm nước bạn của Người. Chị tôi đã gửi tấm ảnh này cho các bạn Đức kèm theo lời giới thiệu đầy tự hào: “Hồ Chí Minh, Bác Hồ kính yêu của chúng tôi mà các bạn muốn biết là trên tấm ảnh trên đây”…

Có thể những câu chuyện trên đây ít nhiều mang tính riêng tư. Có thể có nhiều người khác nữa cũng đang có những tấm ảnh như thế, thậm chí đã từng công bố… Ở đây tôi chỉ muốn được nói rằng, những tấm ảnh đó chính là một phần của cuộc đời cha tôi, một phần thuộc đời sống tinh thần của gia đình chúng tôi.

Nguyễn Huy Thắng

sites.google.com

Duyên nợ của Bác với báo chí

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân. Mục đích của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó…

Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo chí. Các cô, các chú đã có những ưu điểm như đã đóng góp vào cuộc kháng chiến thắng lợi, xây dựng hòa bình và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Nhiều đồng chí đã cố gắng làm việc. Gần đây, sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương, các đồng chí đã thấy rõ công việc báo chí là rất quan trọng, và đã thấy được những ưu điểm và khuyết điểm của mình. Như thế là tiến bộ.

Bệnh dùng chữ

Ưu điểm của các cô, các chú không ít. Nhưng khuyết điểm thì còn nhiều. Trong các đồng chí cũng còn có người hoặc ít hoặc nhiều chưa thoát khỏi ảnh hưởng tư sản và tiểu tư sản, cho nên nắm vấn đề chính trị được chắc chắn. Nói về văn nghệ, Bác thú thật có ít thì giờ xem các bài văn nghệ. Có lẽ vì thế mà có lúc xem đến thì thấy cách viết thường ba hoa, dây cà, dây muống; và hình như viết là để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy.

Còn viết về chính trị thì khô khan và có hai cái tệ: một là rập khuôn, hai là dùng quá nhiều chữ nước ngoài. Cái bệnh dùng chữ, là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái ngược lại báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên, có những chữ không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: những chữ kinh tế, chính trị… thì ta phải dùng. Hoặc có những chữ nếu dịch ra nếu dịch ra thì mất cả ý nghĩa, như chữ “độc lập”. Nếu “Việt Nam độc lập” mà nói “Việt Nam đứng một” thì không thể nghe được.

Nhưng có những tiếng ta sẵn có, thì tại sao lại dùng chữ nước ngoài. Ví dụ: vì sao không nói “đường to” mà lại nói “đại lộ”, không nói “người bắn giỏi” mà lại nói “xạ thủ”, không nói “hát múa” mà lại nói “ca vũ”?… Những ví dụ như vậy nhiều lắm, nhiều lắm. Các báo Nhân dân, Thời mới, Quân đội nhân dân… đều dùng chữ nhiều lắm.

Tóm lại chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi.

Khoa học ngày càng phát triển, có những chữ mới mà ta chưa có, thì ta phải mượn. Ví dụ: ta phải nói “kilô”, vì nếu nói chữ “cân”, thì không đúng nghĩa là 1.000 gram. Song những chữ dùng tiếng ta cũng đúng nghĩa thì cứ dùng tiếng ta hơn. Có những người hình như sợ nói tiếng ta thì nói xấu hổ thế nào ấy! Họ làm cho các cháu học sinh cũng bị lây bệnh nói chữ, như “phụ đạo”, “giáo cụ trực quan”… Thật là tai hại!

Nghề báo – khó như mọi nghề khác

Mấy khuyết điểm nữa: Sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương về báo chí, có một số đồng chí tiến bộ, những cũng có một số vì trình độ văn hóa chính trị còn kém thì đâm ra bi quan và muốn đổi làm nghề khác. Họ không biết rằng nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ. Phải có ý chí tự lập, tự cường, kém thì phải cố mà học. Chúng ta phải làm thế nào để vượt được khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Người cách mạng gặp khó khăn thì phải đánh thắng khó khăn, chứ không chịu thua khó khăn. “Không có việc gì khó, có chí thì làm nên”. Câu nói đó rất đúng.

Có người chỉ muốn làm cái gì để “lưu danh thiên cổ” cơ. Muốn viết bài cho oai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn. Cái đó cũng không đúng. Những khuyết điểm đó đều do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra. Họ không thấy rằng: làm việc gì có ích cho nhân dân, cho cách mạng đều là vẻ vang. Bất kì việc gì mà mình là tròn nhiệm vụ đều là vẻ vang. Trong các anh hùng, chiến sĩ lao động có người là công nhân, là nông dân, có người làm thầy thuốc, có người đánh giặc giỏi… và có người dọn cầu xia cũng trở thành chiến sĩ. Tóm lại, trong lao động không có nghề gì là hèn, chỉ có lười biếng mới là hèn. Làm tròn nhiệm vụ thì công tác nào cũng vẻ vang.

Nói về Hội Nhà báo. Đó là một tổ chức chính trị và nghiệp vụ. Nhiệm vụ của hội là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ. Có như thế thì Hội nhà báo mới làm tròn nhiêm vụ của mình, và những người làm báo mới phục vụ tốt nhân dân, phục vụ tốt cách mạng.

Viết báo – là viết cho nhân dân

Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phải phục vụ ai?

Có người nói ở các nước tư bản có tự do báo chí và báo chí không có giai cấp. Nói vậy đúng không. Ví dụ: Các báo Pháp như báo Figaro, báo Nước Pháp buổi chiều… một mặt nó ru ngủ nhân dân, chia rẽ nhân dân, làm cho nhân dân mất chí khí phấn đấu, mất tinh thần đoàn kết giai cấp. Mặt khác, nó phục vụ giai cấp tư bản. Đó là những tờ báo chính trị. Lại còn những tờ báo “giật gân”, báo nói về ái tình, báo chuyên về lôi chuyện bí mật của những người có tiền ra để tống tiền… Tất cả báo chí ấy đều phục vụ lợi ích cho giai cấp bóc lột. Báo chí Pháp có thật tự do không? Không! Ví dụ báo Nhân đạo thường bị bọn thống trị tìm mọi cách để phá: nào phạt tiền, nào cho bọn du côn phá phách, nào làm khó khăn về giấy in, nhiều khi báo bị tịch thu…

Báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, vv.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng.

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu.

Mục đích chung của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Nhưng mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó. Về hình thức thì không rập khuôn; rập khuôn thì báo nào cũng thành khô khan, làm cho người xem dễ chán.

Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung. Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập tốt chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công.

Trong nghề báo ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế, thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài.

…Trên đây nói nhiều về người viết báo. Nhưng trong nghề làm báo còn có nhiều ngành khác, như ngành in mà các cô, các chú thích nói chữ gọi là ngành “ấn loát” cũng rất quan trọng. Bởi vì có những lúc không cẩn thận, in thiếu dấu, thiếu nét, hoặc in lờ mờ không rõ. Người viết bài thích dùng chữ, như gọi người đánh cá là “ngư dân”, rồi người đi in lại in thiếu dấu ở chữ u, hóa ra “ngu dân”. Đấy chỉ là một ví dụ để thấy rằng việc in cũng phải làm cho tốt.

Việc phát hành cũng rất quan trọng. Phải làm thế nào cho báo có nhiều người xem. Giá tiền báo cũng cần phải đúng mức. Trong công tác, người viết, người in, người sửa bài, người phát hành… đều phải khớp với nhau.

Bác học viết báo

Có đồng chí hỏi kinh nghiệm làm báo của Bác. Kinh nghiệm của Bác là kinh nghiệm ngược. Bác học viết báo Pháp trước, rồi học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo Việt Nam. Còn học thì một là học trong đời sống của mình, hai là học ở giai cấp công nhân.

Lúc ở Paris, tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng không biết làm thế nào để nêu được. Một đồng chí công nhân ở tòa báo Đời sống thợ thuyền (La vie ouvrière) cho Bác biết báo ấy có mục “tin tức vắn”, mỗi tin chỉ năm ba dòng thôi, bà bảo Bác có tin tức gì, thì cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Từ đó, ngoài những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin rất ngắn. Mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa cho báo, một bản thì giữ lại. Lần đầu tiên thấy tin được đăng thì rất sung sướng. Mỗi lần đều đem tin đã đăng trên báo so sanh với bài mình đã viết, xem sai chỗ nào. Về sau đồng chí ấy bảo Bác cố viết dài thêm vài dòng nữa, rồi lại vài dòng nữa… Cứ thế kéo dài đến 15, 20 dòng rồi đến cả một cột dài. Lúc đó đồng chí ấy lại bảo: “Thôi, bây giờ phải rút viết ngắn lại, cũng những việc như vậy nhưng phải viết cho rõ, cho gọn”.

Các báo đăng bài của mình đều là báo phái “tả”, đều nghèo, không trả cho mình đồng tiền nào. Mình ngày thì đi làm, tối đi mít tinh, tuy khá vất vả, nhưng vẫn cố gắng viết để nêu tội ác của bọn thực dân.

Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được. Tình cờ đọc một truyện ngắn của L. Tônxtôi thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được. Từ đó mình bắt đầu viết truyện ngắn.

Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe. Viết xong đưa đến Nhân đạo và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ: “Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm, chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”. Cách mấy hôm sau, thấy mấy truyện ngắn của mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là nhà báo trả cho 50 phờrăng tiền viết bài. Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết báo! Với 50 phờrăng có thể sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách….

Kinh nghiệm học viết báo của Bác là như thế.

Bác làm chủ bút

Có một thời gian mình làm cả chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo của tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). Các đồng chí thuộc địa Á – Phi viết bài và quyên tiền, còn bao nhiêu công việc mình đều bao hết. Cách bán báo; bán cho anh em công nhân Việt Nam, họ không biết chữ Pháp nhưng họ vẫn mua vì họ biết báo này chửi Tây, mua rồi họ nhờ anh em công nhân Pháp đọc cho họ nghe.

Một cách nữa là: ở Paris có những chỗ bán báo lấy hoa hồng. Là đồng chí với nhau cả, các anh chị ấy bán hộ cho mình mà không lấy hoa hồng, và họ bán được khá nhiều. Vì các số báo Le Paria vừa ra đều “được” Bộ Thuộc địa Pháp mua gần hết. Còn báo gửi đi các thuộc địa thì mấy chuyến đều bị tịch thu và người đưa báo thì bị bắt bỏ tù. Về sau, anh em thủy thủ Pháp bí mật chuyển hộ, thì không xảy ra việt gì. Nhưng rồi bọn thực dân cũng dò ra. Sau cùng phải dùng đồng hồ có chuông mà gửi. Cách gửi như vậy đắt lắm, nhưng báo đều đến được các thuộc địa.

Cách thứ tư: trong những cuộc mít tinh, mình đưa báo ra phát, rồi nói: “Báo này nói cho các đồng chí biết bọn thực dân áp bức chúng tôi như thế nào. Báo này để biếu thôi, nhưng đồng chí nào có lòng giúp cho báo, thì chúng tôi cảm ơn”. Kết quả là: nếu đem bán thì 100 tờ báo được 5 phờrăng, nhưng “biếu không” thì có khi được tới 10, 15 phờrăng. Vì anh em công nhân có một, hai xu hoặc một, hai phờrăng cũng cho cả.

Khi đi qua Liên Xô đồng chí L. phóng viên báo Tiếng còi bảo mình viết bài và dặn phải viết rõ sự thật: việc đó ai làm, ở đâu, ngày tháng nào… và viết phải ngắn gọn. Cách đây mấy năm, mình trở lại Liên Xô. Đồng chí L. lại bảo mình viết. Nhưng L. lại bảo: chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chỉ muốn biết những việc thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc.

Khi đến Hoa Nam, mình lại tập viết báo Trung Quốc. Mỗi lần viết xong, mình sửa đi sửa lại mấy lần rồi mới gửi đến Cứu vong nhật báo…. Thấy bài minh đã được đăng lại được đóng khung, điều đó khuyến khích mình tiếp tục viết. Nói tóm lại, mình phải học tập không ngừng và phải luôn luôn khiêm tốn.

Đến ngày Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ra tờ báo Thanh niên thì mình lại học viết tiếng ta. Lúc ấy, vấn đề khó khăn là làm thế nào để gửi báo về nước cho đến tay người đọc.

Năm 1941, mình bí mật về nước. Theo lời dạy của Lênin: tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo, cho nên mình cố gắng ra một tờ báo ngay, và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và Bảo Đại rình mò. Điều kiện sinh hoạt thì bữa đói, bữa no. Làm báo thì phải có đá in. Mấy đồng chí đi lấy trộm những tấm bia đá, rồi mài mấy ngày mới thành bản in. In thì phải viết chữ trái lên đá, thế là phải có một đồng chí phải hì hục tập viết chữ trái. Mấy số báo đầu, ba, bốn anh em cùng làm, nhưng in cứ toe toét, chỉ in được ít và xấu xí. Nhưng về sau cứ tiến bộ dần, mỗi lần in được gần 300 số. Phải đặt bia đá “nhà in” ở ba chỗ khác nhau. Khi động chỗ này thì chạy đến chỗ khác mà in, và báo vẫn ra đúng kì. Địch chịu không làm gì được.

Vấn đề giấy cũng gay. Lúc bấy giờ ai mua nhiều giấy địch cũng nghi, và theo dõi. Các chị em mỗi người đi chợ mua năm, mười tờ, nói dối là mua cho con cháu học, rồi góp lại để in báo.

In bản đá, muốn sửa chữa phải dùng a xít, Mà a xít thì mua đâu được? Có đồng chí đã nghĩ ra cách dùng chanh thay a xít. Chị em lại mua chanh để ủng hộ báo.

Còn việc phát hành: Để báo ở các hang đá bí mật Các đồng chí phụ trách cơ sở Việt Minh cứ đến đó mà lấy. Báo bán hẳn hoi, chứ không biếu.

Thế là mọi việc đều dựa vào quyết tâm của mình, dựa vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng.

Đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết điều gì cũng thắm thía với họ. Đồng bào còn tự động tổ chức những tổ đọc báo và bí mật đưa tin tức cho báo. Đồng bào lại tìm đến cách tuyên truyền cho lính dõng đọc báo để làm “binh vận”.

Đề tài duy nhất

Về nội dung viết, mà các cô, các chú gọi là “đề tài”, thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác với báo chí là như vậy đó.

Kết luận: kinh nghiệm của 40 năm là: không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì phải cố gắng học, mà cố học thì nhất định học được. Bây giờ các cô, các chú có điều kiện học tập dễ dàng hơn Bác trước kia. Mong các cô, các chú cố gắng và tiến bộ!

HỒ CHÍ MINH

Trích bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam, 16-4-1959
Hồ Chí Minh toàn tập

quangbinh.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các sắc lệnh trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng

Cách mạng Tháng Tám1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ ra đời nằm giữa vòng vây của thù trong, giặc ngoài, giữa muôn trùng khó khăn.

Muốn giữ vững chính quyền cách mạng, việc đầu tiên là phải củng cố nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân và quản lý nhà nước bằng pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng và củng cố công tác pháp luật.

Trong vòng 4 tháng sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch đã ký, ban hành 81 sắc lệnh quan trọng, trong đó gần một nửa là những sắc lệnh củng cố hệ thống pháp luật nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm việc thành lập uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp, lập ra các ban thanh tra, kiểm tra, các cơ quan của Chính phủ để giám sát mọi hoạt động theo pháp luật, xây dựng một nhà nước kiểu mới, nhà nước quản lý bằng pháp luật. Đây là sự thay đổi về chất của cả quá trình phát triển nhà nước ở Việt Nam. Thay đổi bộ máy chính quyền quan liêu, bóc lột cũ bằng một hệ thống quản lý nhà nước Việt Nam kiểu mới, thay đổi pháp luật thực dân, phong kiến bằng pháp luật của dân, do dân và vì dân là một sự biến đổi cách mạng triệt để, sâu sắc và cũng là cơ sở tạo nên sức mạnh tinh thần và vật chất của toàn dân, nhằm bảo vệ thành quả cách mạng.

Những sắc lệnh do Bác Hồ ký trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng trước hết là phục vụ nhân dân và quốc gia, thể hiện ý chí độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam, phản ánh tính chất dân chủ trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… do đó được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng và kiên quyết bảo vệ.

Sắc lệnh số 40 xoá bỏ tất cả các công sở cũ và các cơ quan thuộc Phủ toàn quyền Đông Dương. Sắc lệnh số 63 về tổ chức UBND các cấp. Tiếp đó là một loạt các sắc lệnh về việc xoá bỏ những chính sách bóc lột, văn hoá, giáo dục đồi truỵ của thực dân phong kiến, lập lại trật tự, kỷ cương quản lý nhà nước, khẳng định về mặt pháp luật thắng lợi của chính thể dân chủ nhân dân.

Sắc lệnh số 34 về thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp, Sắc lệnh số 39 về thành lập Uỷ ban dự thảo Thể lệ tổng tuyển cử, Sắc lệnh số 46 về tổ chức đoàn luật sư, Sắc lệnh số 53 về quốc tịch Việt Nam… đều thể hiện quyền bình đẳng về chính trị của người dân Việt Nam lần đầu tiên được nói đến và được thực hiện, mặt khác còn là những bản thông điệp cho những ai trong lực lượng đối lập hoặc chưa hiểu, chưa đi theo cách mạng, cho các tổ chức, đoàn thể, nhà nước trên thế giới biết nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một chính thể độc lập, có chủ quyền, có hiến pháp và pháp luật, được thể hiện bằng sức mạnh của chế độ mới, có năng lực tập hợp quần chúng, tập hợp các thế lực cách mạng, có đủ khả năng trấn áp những lực lượng đi ngược lại lợi ích cách mạng và lợi ích của nhân dân.

Những sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành trong những ngày đầu cách mạng đã thể hiện được tư tưởng đại đoàn kết toàn dân của Người, xoá bỏ hận thù, xoá bỏ sự miệt thị tôn giáo, dân tộc, đảng phái chính trị, tất cả đều bình đẳng trong một môi trường dân chủ, cùng tồn tại, hoà bình để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp. Mọi người, mọi tầng lớp xã hội nhận thức đúng đắn về chính thể dân chủ nhân dân, nhận thấy quyền lợi của mình được bảo đảm, được tôn trọng, do đó đã tập hợp và liên kết được các lực lượng đông đảo trong xã hội, tạo nên một sức mạnh cộng đồng vô cùng to lớn, bảo đảm thắng lợi của cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc.

Hơn 100 ngày sau khi giành được chính quyền cách mạng, thời gian so với chiều dài lịch sử của một dân tộc thì thật quá ngắn, nhưng những bản sắc lệnh ra đời trong bối cảnh đó đã vượt quá khuôn khổ chật hẹp của thời gian, đã ghi vào lịch sử của dân tộc như những mốc son rực sáng nhất.

Từ một nước nô lệ mà ở đó luật pháp chỉ là công cụ phục vụ cho chế độ thực dân, phong kiến, người dân chỉ là những đối tượng bị trấn áp, bóc lột, nay với cách mạng Tháng Tám, Việt Nam đã chuyển sang một thể chế mới, người dân trở thành chủ đất nước, có quyền độc lập, tự do xây dựng một xã hội mới công bằng, hạnh phúc, phát triển.

Những sắc lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành trong những ngày đầu cách mạng có giá trị như những tuyên ngôn về luật pháp của một chính thể dân chủ nhân dân, là sự khởi đầu, đặt nền móng cho những bước phát triển mới về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Tinh thần của những sắc lệnh đó vẫn là nền tảng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập kinh tế thế giới, trong sự nghiệp CNH, HĐH, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trần Minh Hiền
Nha trang, Khánh Hoà

xaydungdang.org.vn