Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Tư tưởng Bác Hồ về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

TQĐT – Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, năm 2009, cán bộ, đảng viên, công chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể chính trị – xã hội triển khai học tập chuyên đề: “Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về việc nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.

Bác Hồ dạy: “Làm cán bộ, tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”.
Ảnh chụp Bác tại Đại hội II của Đảng (2-1951)

Nói về những phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam, Bác Hồ chỉ rõ: Mỗi người đều phải tuân theo đạo đức công dân. Đạo đức công dân, theo Bác là hăng hái tham gia công việc chung, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ Tổ quốc, cần, kiệm xây dựng nước nhà… Người nói, mỗi người đều phải có bổn phận với đất nước. Nước là của dân và dân là chủ của nước. Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về trách nhiệm công dân trước hết và bao trùm nhất là trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân.

Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, Người yêu cầu, vừa phải thực hiện đạo đức công dân, vừa thực hiện đạo đức của người cán bộ – đạo đức cách mạng, nghĩa là: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”. Xuất phát từ quan niệm “dân là chủ và dân làm chủ”; Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Chính phủ, cán bộ, công chức nhà nước là công bộc của dân, phải nêu cao ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân. Trong bức thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng ngày 17-10-1945 Bác viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là đày tớ của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”.

Với cán bộ, đảng viên, cần nhận thức rõ, nêu cao ý thức trách nhiệm hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, là mục đích và bản chất của Đảng. Bác Hồ đã khẳng định, Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là đảng của nhân dân lao động, của dân tộc. Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc; đại biểu cho lợi ích giai cấp và dân tộc. Đảng lấy dân làm gốc. Đảng cầm quyền, nhưng dân làm chủ. Đảng cầm quyền là để bảo đảm cho dân làm chủ. Người dân uỷ thác quyền lực đó cho những chức danh cụ thể, kể cả chức vụ Chủ tịch nước. Trong buổi gặp các nhà báo đầu năm 1946, Bác Hồ đã tuyên bố: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm…”.

Cán bộ, đảng viên, công chức phải phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân vì theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng là do nhân dân tiến hành. Nhân dân là người làm ra lịch sử. Sức mạnh của nhân dân là vô địch. Không có nhân dân, Đảng, Chính phủ không có lực lượng. Có dân là có tất cả: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”.

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trước hết, về ý thức trách nhiệm, theo Bác Hồ, đó là thể hiện trong mối quan hệ với nhiệm vụ được giao, với công việc phải làm. Khi được giao việc gì, bất kỳ to, hay nhỏ, khó hay dễ, đều phải dồn hết tâm huyết làm đến nơi, đến chốn, tự giác làm. Nếu làm việc theo lối cẩu thả, dễ làm, khó bỏ, làm cho qua chuyện, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm. Ý thức trách nhiệm còn thể hiện không thụ động, trông chờ, ỷ nại; phải chủ động nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện đúng đường lối quần chúng.

Bác Hồ căn dặn cán bộ, đảng viên, Đảng, Chính phủ đề ra đường lối, chính sách; cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần… Từ đó, căn cứ tình hình thực tế đơn vị, địa phương mình rồi đặt ra kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực; tuyên truyền, vận động, tổ chức nhân dân thi đua thực hiện. Đồng thời, phải bàn với dân, hỏi han, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình, “Phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân”.

Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, theo tư tưởng Hồ Chí Minh là mọi người đều phải có trách nhiệm với Đất nước – Tổ quốc. Tổ quốc và nhân dân có mối quan hệ máu thịt, theo nghĩa “đồng bào”. Thế nên, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải tận tâm, tận lực, tận tình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Và phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, xác định vì nhân dân mà làm việc: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh”. Bác Hồ đã nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Phục vụ nhân dân là phải “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Phục vụ nhân dân theo tư tưởng Bác Hồ là hướng dẫn nhân dân tự chăm lo đời sống của chình mình (hướng dẫn tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…); là đề ra được các chủ trương, chính sách đúng đắn vì lợi ích của nhân dân (hợp lòng dân). Bác đã căn dặn, việc to, việc nhỏ đều phải phù hợp với lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng, thì mới có thể phục vụ được quần chúng, “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa…”. Phụng sự, phục vụ nhân dân phải luôn luôn thấu triệt cán bộ là công bộc, là đày tớ của dân. Bác Hồ đã dạy: “Làm cán bộ, tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi học suốt đời mới thuộc được”. Làm đày tớ thì phải học dân, hỏi dân, hiểu dân. “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về ý thức trách nhiệm trước Tổ quốc, Đảng và dân tộc là trên hết, là mục đích cao cả nhất, đó là trách nhiệm của một người dân mất nước, khi nước nhà chưa giành được độc lập, tự do. Vì vậy, Người xác định trách nhiệm: “Riêng phần tôi, xin đem hết toàn lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dẫu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”. Đó là tấm gương suốt đời, tất cả vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc, lợi dân”. Trước khi “từ biệt thế giới này”, đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin, Bác viết trong bản Di chúc: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân hết sức rộng lớn và sâu sắc. Trước hết là ở nhận thức về Tổ quốc, về nhân dân, về vị trí, vai trò của cán bộ, đảng viên, công chức. Dân là chủ, là gốc của nước. Cán bộ là công bộc, là đày tớ của dân. Phục vụ nhân dân là nhiệm vụ của mọi cán bộ, công chức, là gốc của mọi công việc. Đó cũng là những vấn đề cốt lõi của việc nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo tấm gương đạo đức Bác Hồ kính yêu.

Phan Nguyễn

baotuyenquang.com.vn

Hành trình tìm đường cứu nước và những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc

Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ…

Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng.

Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Sống hoà mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người.

Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác-Lênin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité tháng 7-1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong bối cảnh bấy giờ, có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo.

Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12-1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

* Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển của dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn, đó là:

Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

T.S

(Theo Ban Tuyên giáo Trung ương)

baobacninh.com.vn

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn liền với xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Tổng kết 4 năm thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng bộ xã Đông Cứu được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, đó là kết quả phấn đấu vươn lên không ngừng của toàn Đảng bộ và nhân dân Đông Cứu trong nhiều năm qua.

Để có thành tích này, ngay từ khi triển khai Chỉ thị 06-CT-TW của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng uỷ đã xây dựng kế hoạch thành lập Ban chỉ đạo xã cũng như Ban chỉ đạo của 10 Chi bộ cơ sở, xây dựng chương trình hành động thực hiện các giá trị chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh; tổ chức học tập, quán triệt các chuyên đề về tấm gương đạo đức của Bác cho toàn Đảng bộ và các đoàn thể nhân dân. Trên cơ sở học tập, thảo luận, xây dựng các tiêu chí cụ thể cho cán bộ đảng viên, đoàn viên, hội viên.

Từ ngày triển khai cuộc vận động đến nay, Đông Cứu được đánh giá là một đơn vị điển hình tiên tiến trong việc triển khai sâu rộng cuộc vận động và thực hiện làm theo có hiệu quả thiết thực. Ở mỗi chuyên đề từng cán bộ, đảng viên đều có những chương trình hành động cụ thể cho bản thân cũng như gia đình mình làm theo Bác, thực hiện theo chương trình viết thu hoạch, kiểm điểm ở từng đơn vị gắn với nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên đi đầu gương mẫu trong mọi hoạt động xã hội ở nông thôn, nói và làm theo nghị quyết của Đảng, đó là nền tảng tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.

Đông Cứu khéo kết hợp cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. 6 nội dung cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa được cụ thể hóa thành các giá trị chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh, được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng tạo sự lan tỏa rộng khắp thành phong trào xã hội.

Trên lĩnh vực kinh tế: tốc độ tăng trưởng hàng năm là 12%, hoàn thành dồn điền đổi thửa ở 6/6 cơ sở, tạo năng lực mới cho sản xuất, năng suất lúa ổn định 64 tạ/ha/vụ, hệ số sử dụng đất là 2.5  lần. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, ổn định đàn gia cầm 40.000 con/năm, là địa phương có nhiều mô hình chăn nuôi gia cầm năng động, cung cấp con giống cho nông dân trong vùng. Toàn xã có 31,4 ha chăn nuôi thuỷ sản theo mô hình trang trại cho hiệu quả kinh tế cao, có 29 ha rừng cảnh quan rừng đã được phủ xanh. Đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, ai giỏi nghề gì làm nghề đó, thu hút 16,6% lao động nông nghiệp làm ngành nghề phụ tạo thu nhập cao. Xã không còn hộ đói, hộ nghèo chỉ còn dưới 10% theo tiêu chuẩn mới. 100% các thôn có đường bê tông, có hệ thống điện chiếu sáng ban đêm, có tổ vệ sinh môi trường hoạt động nền nếp.

Trường học đạt chuẩn quốc gia ở cả 3 khối lớp, xã-thôn có quỹ khuyến học, nhiều dòng họ có quỹ khuyến học. Hàng năm vào năm học mới xã tổ chức phát thưởng cho các thầy cô giáo và các học sinh đạt loại giỏi cấp huyện, tỉnh cũng như tổ chức tốt lễ dâng hương tại đền Thái sư Lê Văn Thịnh để phát huy truyền thống hiếu học. Địa phương không có trẻ em bỏ học, trẻ em mắc tệ nạn xã hội, 100% trẻ em trong độ tuổi được đến trường, liên tục từ năm 2005 đến nay trường Mầm non, trường Trung học cơ sở đạt tiên tiến xuất sắc.

Tỉ lệ sinh con thứ 3 ngày càng giảm, chất lượng dân số ngày càng tăng, tỉ lệ phát triển dân số hàng năm là 0,7%. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng, trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia, cộng tác viên dân số, y tế ở thôn làm tốt công tác tuyên truyền chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nên ở Đông Cứu chưa hề xảy ra dịch bệnh.

Phong trào đền ơn đáp nghĩa và các hoạt động xã hội nhân đạo ở Đông Cứu ngày càng được tăng cường, 100% hộ gia đình chính sách có cuộc sống ổn định, hộ nghèo được quan tâm hỗ trợ vốn học nghề cũng như về khoa học kỹ thuật giúp họ vươn lên trong cuộc sống.

Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh chính trị ở Đông Cứu thực sự có bước phát triển bền vững, các vụ vi phạm trên địa bàn đều được giải quyết dứt điểm đúng thẩm quyền. Đã xử lý 151 vụ, lập hồ sơ giáo dục tại cộng đồng 14 đối tượng, đưa đi cai nghiện tập trung 8 đối tượng, xây dựng 2 mô hình điểm phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội ở Bảo Tháp và Cứu Sơn. Công an xã liên tục nhiều năm đạt đơn vị Quyết thắng.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ nên xã không có khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp. Các mâu thuẫn nhỏ trong cộng đồng đều được hoà giải thành ở cơ sở thôn xóm, số việc chuyển lên xã trong 4 năm qua đã hòa giải thành 20/24 việc; án dân sự chuyển giao về xã hoàn thành 100% số việc.

Kinh tế phát triển, an ninh nông thôn ổn định bền vững là tiền đề quan trọng nâng cao chất lượng đời sống văn hóa xây dựng nông thôn mới. Việc cưới, việc tang, tân gia, mừng thọ và lễ hội thực sự theo đúng quy ước thôn làng, đúng theo lời dạy tiết kiệm của Bác. Cán bộ đảng viên thật sự gương mẫu đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước. Các thiết chế văn hóa ở Đông Cứu ngày càng được tăng cường, 100% khu dân cư đều có nhà sinh hoạt cộng đồng, có hệ thống loa truyền thanh thôn xã cũng như có nhiều loại hình câu lạc bộ cùng nhóm sở thích, 6/6 thôn đều có đội bóng đá thiếu niên. Toàn xã có 90% số hộ đạt chuẩn văn hóa, 5/6 đạt Làng văn hóa.

Nhờ xác định tốt phát triển kinh tế gắn với nâng cao đời sống văn hóa là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt nên từ khi triển khai cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng bộ xã Đông Cứu luôn đạt Trong sạch vững mạnh tiêu biểu. Đó chính là kết quả của sự sáng tạo, gắn bó hữu cơ giữa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Lê Ba

baobacninh.com.vn

Ngành Y tế học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với GS. Trần Hữu Tước và Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch (người ngồi bên trái). Ảnh: TL - suckhoedoisong.vn

Ngày 27-2-1955, Bác Hồ gửi thư cho Hội nghị cán bộ ngành y tế toàn quốc, thư Bác là lời căn dặn, động viên toàn thể cán bộ ngành y tế vươn lên hoàn thành nhiệm vụ.

Trong thư Người đề xuất những tư tưởng, quan điểm về sức khỏe, chỉ đạo xây dựng và định hướng phát triển ngành y tế Việt Nam. Người nhắc nhở: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang”, đồng thời Người cũng dặn dò “Những chiến sỹ y tá phải có chí, chịu khổ, chịu khó, phải giàu lòng bác ái, hy sinh”. Theo Người, nhân ái hay bác ái là nét nổi bật trong nhân cách người thầy thuốc, một nền y học tiến bộ phải tồn tại trên lòng nhân ái.

Thấm nhuần tư tưởng và quan điểm chỉ đạo của Người, 56 năm qua các thế hệ thầy thuốc Việt Nam đã góp phần công sức của mình vào sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam phải nỗ lực phấn đấu, học tập vươn lên hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ngành y tế cả nước cũng như ngành y tế Bắc Ninh đang từng ngày, từng giờ phấn đấu vươn lên đưa kiến thức khoa học và kỹ thuật, công nghệ mới vào áp dụng tại các đơn vị để làm tốt hơn công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Năm 2010, ngành y tế Bắc Ninh đã làm tốt công tác y tế dự phòng, kiểm soát dịch bệnh một cách có hiệu quả, nhiều bệnh dịch nguy hiểm đã được khống chế và đẩy lùi; ngành y tế đã triển khai các biện pháp dự phòng tích cực, thiết lập, duy trì hệ thống giám sát và xử lý kịp thời dịch bệnh. Công tác kiểm tra VSATTP được tăng cường từ tỉnh đến cơ sở, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 98%, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống dưới 17%. Các trạm y tế cơ sở được củng cố, 100% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế và có bác sỹ công tác.

Chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên một bước, tỷ lệ giường bệnh/vạn dân đạt 20,5. Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh được đầu tư xây dựng với quy mô 1000 giường và được đầu tư trang thiết bị hiện đại như máy CT-Scanner, hệ thống chạy thận nhân tạo, máy tán sỏi ngoài cơ thể, các trang thiết bị của dự án ODA Tây Ban Nha…; đã được Bộ Y tế quyết định là Bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Bạch Mai. Các Bệnh viện tuyến Trung ương đã chuyển giao nhiều kỹ thuật mới cho BVĐK tỉnh và các bệnh viện chuyên khoa theo đề án 1816…

Hệ thống dân số- KHHGĐ từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được củng cố, triển khai chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ KHHGĐ đến 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 11,5%o.

Năm 2011, ngành tiếp tục thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm: Dự phòng chủ động, giám sát dịch chặt chẽ, khống chế dập dịch và điều trị kịp thời, không để dịch lan rộng và người mắc bệnh dịch tử vong. Tiêm chủng đầy đủ miễn dịch cơ bản cho trẻ đạt trên 98%.

Xây dựng chiến lược Dân số giai đoạn 2011-2020, phấn đấu đạt tỷ lệ giảm sinh 0,3%o, nâng cao chất lượng dân số, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trên 1%, giảm tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh. Triển khai thực hiện chuẩn quốc gia y tế giai đoạn 2011-2020, kiên cố hóa trạm y tế xã, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đề ra.

Tiếp tục thực hiện quy hoạch phát triển ngành đến năm 2020, đưa ngành y tế Bắc Ninh đáp ứng nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe ngày càng cao của người dân. Hoàn thành tiếp nhận viện trợ ODA trang thiết bị của chính phủ Tây Ban Nha cho BVĐK tỉnh, triển khai dự án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế” do EU tài trợ. Đẩy mạnh công tác VSATTP, tăng cường truyền thông phối hợp liên ngành, tập huấn, giám sát, thanh kiểm tra không để các vụ ngộ độc lớn xảy ra trên địa bàn tỉnh. Công tác bảo vệ sức khỏe lao động – môi trường được chú trọng, thực hiện việc kiểm tra giám sát môi trường lao động, bệnh nghề nghiệp, tiến tới quản lý sức khỏe người lao động trong đó có sức khỏe lao động y tế. Tiếp tục tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị các BVĐK huyện, BVĐK tỉnh, BV Lao và bệnh phổi, BV Tâm thần. Đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ chuyên môn, đội ngũ cán bộ quản lý, thực hiện Nghị định 43 của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn, giao quyền tự chủ cho các đơn vị, chuẩn hóa công tác xây dựng kế hoạch (việc, người, tiền), tăng cường quản lý chất lượng bệnh viện và các đơn vị, đáp ứng nhu cầu cung ứng dịch vụ của người dân.

Thực hiện nghiêm Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn, đảm bảo cung ứng thuốc, hóa chất, vật tư kịp thời với chất lượng và giá cả phù hợp. Triển khai thực hiện Luật KCB ở các đơn vị công lập và ngoài công lập, đẩy mạnh xã hội hóa công tác y tế, tranh thủ mọi nguồn lực để phát triển.

Thực hiện công tác thi đua khen thưởng, biểu dương gương người tốt tại đơn vị, học tập và làm theo ở đơn vị, cần phân công nhiệm vụ cụ thể đến từng người lao động, căn cứ vào mức độ hoàn thành của từng người mà đánh giá việc làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đạo đức người thầy thuốc, quy tắc ứng xử của ngành.

Đào tạo cán bộ chuyên khoa, chuyên ngành, chuyên sâu, đào tạo tại tỉnh, đào tạo tại các đơn vị trung ương, chuyển giao kỹ thuật theo Đề án 1816, việc sử dụng cán bộ chuyên môn hợp lý sau đào tạo, cải thiện môi trường làm việc cho người lao động, phấn đấu tăng thu nhập, thực hiện công bằng, công khai, dân chủ, tăng cường giám sát, kiểm tra, kịp thời điều chỉnh phát sinh tại các đơn vị.

Bước sang năm 2011, năm đầu thực hiện Quy hoạch phát triển ngành, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2011-2015) của tỉnh và cả nước, cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động ngành y tế tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, giữ vững đạo đức người thầy thuốc, thực hiện lời dạy của Người “Thầy thuốc như mẹ hiền”.

Nguyễn Phương Thược

baobacninh.com.vn

Đạo đức người cán bộ cách mạng trong tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh

(HNMO) – Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Bộ Chính trị có Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các ngành, các cấp “Tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh…”.

Đạo đức Hồ Chí Minh không phải cái trừu tượng, xa vời, không phải nhất thành bất biến, mà là những biểu hiện trong mỗi lời nói, mỗi việc làm của Người đều hướng tới chân, thiện, mỹ. Đạo đức Hồ Chí Minh là nói đi đôi với làm, mà làm thì phải có hiệu quả, Người cho rằng nếu làm gì cũng không có hiệu quả thì không phải là người có đạo đức. Đạo đức Hồ Chí Minh rất gần gũi, rất cụ thể và mang đầy đủ, sâu sắc giá trị truyền thống, tư tưởng tôn giáo.

Chẳng hạn, tư tưởng của Nho giáo, là tam cương ngũ thường. Tam cương là tôn trọng ba mối quan hệ (ba Đạo: Quân, Sư, Phụ). Quan hệ Quân là Vua (là quan hệ Nhà nước, cấp trên với cấp dưới), Sư là Thầy (là quan hệ nhà trường, quan hệ học trò với thầy cô giáo), Phụ là cha mẹ (là quan hệ gia đình, vợ với chồng và cha mẹ với con cái); ngũ thường là năm cái con người có phải giữ cho nó làm thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín). Nhân là lòng thương yêu, từ thiện; Nghĩa là làm những việc nên làm, có đạo lý; Lễ là sự tôn trọng, hòa nhã trong cư xử với mọi người, tuân thủ các quy tắc xã hội, pháp luật; Trí là khôn ngoan, sáng suốt, cảm giác được đúng, sai trong hoạt động; Tín là giữ đúng lời, đáng tin cậy. Đồng thời Đạo của người quân tử (cán bộ hiện nay) từng bước phải theo là: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; người quân tử luôn phải giữ đúng mực, không thái quá, không bất cập trong mọi hành động và thái độ xử thế.

Tư tưởng Phật giáo, là lòng từ, bi, hỷ, xả, thương xót đồng loại và cả chúng sinh. Từ là làm để cho người khác có niềm vui; Bi là trừ đi sự đau khổ của người khác; Hỷ là luôn vui vẻ trong công việc của mình; Xả là không chờ đợi để hưởng lợi riêng về những việc đã mang lại cho người.

Tư tưởng Lão giáo, biết bằng suy tưởng bằng tâm linh, gần gũi với quy luật thiên nhiên và hướng về con người, quên đi cái ta tầm thường nhỏ bé. Những quy luật thiên nhiên đại thể rất gần với khoa học tự nhiên, như là luật nhân quả, luật bảo tồn vật chất và chuyển hóa năng lượng. Qua đó con người không còn sợ mất mát, cũng không còn sợ chết và trở nên dũng cảm khi làm những việc ích lợi cho cộng đồng.

Tư tưởng Thiên Chúa giáo, là công bình, bác ái. Công bình trong tương giao giữa cá nhân với cá nhân; công bình trong pháp lý giữa cấp trên và cấp dưới; công bình trong xã hội là điều hòa các mối quan hệ trong xã hội. Bác ái là phân biệt được công bình để từ tâm yêu thương, giúp đỡ đồng loại.

Chủ tịch Hồ chí Minh yêu cầu đạo đức người cán bộ cách mạng phải “trung với nước, hiếu với dân, yêu thương con người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng”. Người cho rằng “Mỗi đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân…làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân”. Theo đó thì đày tớ của dân không phải cha mẹ dân, chỉ là kẻ làm công, lấy tiền thuê của nhân dân mà thôi. Có lẽ vì vậy mà sinh thời Hồ Chủ tịch thường dùng hai chữ “công bộc” để nhắc cho mỗi cán bộ hiểu được chức vụ của mình. Người rất coi trọng việc xây dựng đạo đức cách mạng, trong đó nhấn mạnh việc ngăn ngừa vi phạm đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo. Vì cán bộ lãnh đạo phạm sai lầm thì sẽ dẫn đến hậu quả rất nặng nề, những sai lầm đó là: “Trái phép… vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu làm cho dân oán thán. Cậy thế… quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân. Hủ hóa: ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ… thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Tư túng kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu của mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ, người có tài, có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài… Chia rẽ: bênh vực lớp này, chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau, hòa thuận nhau. Kiêu ngạo: lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”. Nên để rèn luyện tu dưỡng đạo đức người cán bộ, Bác rất chú trọng việc “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Người cho rằng “chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Nó là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu mệnh lệnh…”. Vì vậy Bác dạy rằng “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Hồ Chủ tịch rất coi trọng công tác xây dựng cán bộ, Người cho rằng vấn đề cán bộ là vấn đề “rất trọng yếu, rất cần thiết”, “công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém”.

Trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có những lời căn dặn, dạy bảo phù hợp với lĩnh vực công việc.

Công minh, là công bằng và sáng suốt. Biểu hiện trong thực hành công việc phải công bình với tất cả mọi người, không phân biệt thân, sơ, không tư ý, tư lợi mà luôn nghĩ đến lợi ích chung. Muốn vậy phải hiểu và tuân thủ các quy phạm pháp luật, các quy chuẩn đạo đức xã hội. Khi xét người, xét việc phải đặt mình vào hoàn cảnh của người để xét và phải có lòng khoan dung để phân biệt rõ ràng thực, hư để hành động cho sáng suốt.

Chính trực, là có tính ngay thẳng. Chính là quan trọng, đích xác, trái với tà ngụy, không thành thực. Yêu cầu của chính trực là phải thiện lương, thật thà, luôn hướng về những điều phù hợp đạo lý, lòng luôn hướng về nhân nghĩa, tuân thủ pháp luật. Trong thực hành công việc phải chân thành, chính xác, kịp thời, đồng thời phải có tính mềm dẻo không a dua, xu phụ (theo hùa), không gay gắt nghiêm ngặt quá. Nếu vì tư ý mà thành kiến, thiên lệch sự thật, che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến điều quần chúng oán ghét thì không phải là chính trực.

Khách quan, là cái tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí con người. Như vậy khi thực hành công việc phải xem xét, nhận thức sự vật, hiện tượng với tính cách là cái tồn tại ở ngoài ý thức chủ quan của con người, phải xem xét đúng như nó vốn có trong thực tế. Muốn vậy đòi hỏi phải phát huy tính năng động và sáng tạo của ý thức trong quá trình phản ánh sự vật, nỗ lực chủ quan trong việc tìm ra những phương pháp tư duy và hoạt động thực tiễn để từng bước thâm nhập vào bản chất sự vật.

Thận trọng, là đắn đo, suy tính cẩn thận trong hành động để tránh sai sót. Yêu cầu của thận trọng là sáng suốt để phân biệt phải trái, nghiêm túc trong công việc, thận trọng mà mau mắn trong hành động. Phải xem xét khách quan và nhận thức bao quát toàn diện tất cả các mặt, các yếu tố trong các mối liên hệ của người, của việc để tìm ra bản chất; phải tìm ra được những nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh của sự vật, hiện tượng, tìm những mâu thuẫn để giải quyết, không suy diễn thuần túy.

Khiêm tốn, là nhã nhặn, không khoe khoang, có thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu, không cho mình là hơn người. Khiêm tốn yêu cầu phải biết trọng phẩm giá, phân biệt rõ được sự khen, sự chê, không dùng quyền thế để khinh mạn, hách dịch, đè nén người, không dùng kiến thức để dối trá người. Luôn cầu thị và tích cực học hỏi, rèn luyện phẩm chất đạo đức bản thân và hòa đồng với mọi người.

Trong tình hình hiện nay, cán bộ, đảng viên học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mang lại giá trị rất lớn trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền và sự nghiệp đổi mới đất nước. Cán bộ có những đức tính Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn là người trong hoạt động thực tiễn thể hiện được sự phấn đấu, nghị lực tinh thần vượt khó, hết lòng phục vụ nhân dân, có lòng nhân ái, khoan dung nhân hậu với con người, là người cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Những đức tính Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn là phẩm chất, là cụ thể hóa đạo đức người cán bộ cách mạng.

Nguyễn Văn (Viện KSND Tối cao)

hanoimoi.com.vn

Nội dung học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, đã hiến dâng tất cả tình cảm, trí tuệ và cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Người đã để lại tài sản vô giá là tư tưởng và tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, của nhân loại và thời đại. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác là niềm vinh dự và tự hào đối với mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người Việt Nam.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất quan trọng và thường xuyên, qua đó để giáo dục, rèn luyện mình, xứng đáng là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

1. Thực hiện chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh “Trung với nước, hiếu với dân” cần quán triệt những nội dung của chủ nghĩa yêu nước trong giai đoạn mới; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Tư tưởng và phẩm chất đạo đức tiêu biểu của Hồ Chí Minh là tinh thần yêu nước nồng nàn, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, toàn tâm, toàn ý cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ quyết tâm “ dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được tự do, độc lập”, để rồi phấn đấu cho “ đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, để nước ta “ sánh vai với cường quốc năm châu”. Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh chúng ta cần:

– Mỗi người cần nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn những hy sinh to lớn của ông cha để chúng ta có non sông, Tổ quốc Việt Nam độc lập, tự do, thống nhất trọn vẹn hôm nay. Nâng cao tinh thần yêu nước, tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc là lương tâm và trách nhiệm của mỗi người Việt Nam chân chính. Trung với nước ngày nay là trung thành vô hạn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nền văn hóa, bảo vệ Đảng, chế độ, nhân dân và sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích của đất nước.

– Trung với nước, hiếu với dân ngày nay là luôn luôn tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân dưới cả ba hình thức: làm chủ đại diện, làm chủ trực tiếp và tự quản cộng đồng; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, giải quyết kịp thời những yêu cầu, kiến nghị hợp tình, hợp lý của dân; khắc phục cho được thói vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ trước những khó khăn, bức xúc… của nhân dân.

– Trung với nước, hiếu với dân ngày nay thể hiện ở ý chí vươn lên quyết tâm vượt qua nghèo nàn, lạc hậu, góp phần dựng xây đất nước phồn vinh, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, theo kịp trình độ các nước phát triển trong khu vực và thế giới; thực hiện bằng được mong ước của Bác Hồ kính yêu: “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

– Trung với nước, hiếu với dân là phải luôn luôn có ý thức giữ gìn đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng, trong cơ quan, đơn vị; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng trước mọi mưu đồ của các thế lực thù địch, cơ hội hòng chia rẽ dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ Đảng với nhân dân. Đoàn kết là yêu nước, chia rẽ là làm hại cho đất nước. Mọi biểu hiện cục bộ, bản vị là trái với tinh thần yêu nước chân chính.

– Trung với nước hiếu với dân là phải có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, có lương tâm nghề nghiệp trong sáng; quyết tâm phấn đấu để thành đạt và cống hiến nhiều nhất cho đất nước, cho dân tộc; quyết tâm xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh. Phải có tinh thần ham học hỏi, phát huy truyền thống hiếu học và quý trọng nhân tài của ông cha ta; biết vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học, công nghệ hiện đại, các sáng kiến trong sản xuất, công tác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Mọi sự bảo thủ, trì trệ, lười học tập, ngại lao động, đòi hỏi hưởng thụ vượt quá khả năng và kết quả cống hiến là trái truyền thống đạo lý dân tộc và trái với tư tưởng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Trung với nước, hiếu với dân yêu cầu mỗi chúng ta phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ cá nhân – gia đình – tập thể – xã hội; quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi. Theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu nước là sẵn sàng phấn đấu hy sinh cho lợi ích chung, việc gì có lợi cho dân, cho nước, cho tập thể thì quyết chí làm, việc gì có hại thì quyết không làm. Làm việc gì trước hết phải vì tập thể, vì đất nước, vì nhân dân, phải nêu cao trách nhiệm của người lãnh đạo, không tham lam, vụ lợi, vun vén cá nhân…

2. Thực hiện đúng lời dạy: “Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư ” nêu cao phẩm giá con người Việt Nam trong thời kỳ mới

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là chuẩn mực đạo đức truyền thống trong quan hệ “đối với mình”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng và phát triển phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, trở thành chuẩn mực cơ bản của đạo đức cách mạng. Người là một tấm gương mẫu mực về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Học tập và làm theo tấm gương của Người, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong giai đoạn hiện nay là:

–  Tích cực lao động, học tập, công tác với tinh thần lao động sáng tạo, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của nhân dân; không xa hoa, lãng phí, không phô trương, hình thức; biết sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn của Nhà nước, của tập thể, của chính mình một cách có hiệu quả.

– Thực hiện chí công, vô tư là kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng. Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên phải loại bỏ thói chạy theo danh vọng, địa vị, giành giật lợi ích cho mình, lạm dụng quyền hạn, chức vụ để chiếm đoạt của công, thu vén cho gia đình, cá nhân…, cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Phải thẳng thắn, trung thực, bảo vệ chân lý, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ người tốt; chân thành, khiêm tốn; không chạy theo chủ nghĩa thành tích, không bao che, giấu giếm khuyết điểm…

– Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư phải kiên quyết chống bệnh lười biếng, lối sống hưởng thụ, vị kỷ, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, miệng nói lời cao đạo nhưng tư tưởng, tình cảm và việc làm thì mang nặng đầu óc cá nhân, tư lợi, việc gì có lợi cho mình thì “hăng hái”, tranh thủ kiếm lợi, việc gì không “kiếm chác” được cho riêng mình thì thờ ơ, lãnh đạm. Không làm dối, làm ẩu, bòn rút của công, ăn bớt vật tư, tiền của của Nhà nước và của nhân dân. Phải có thái độ rõ rệt lên án và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, loại trừ mọi biểu hiện vô liêm, bất chính ra khỏi đời sống xã hội.

3. Nâng cao ý thức dân chủ và kỷ luật, gắn bó với nhân dân, vì nhân dân phục vụ

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao dân chủ và kỷ luật và chính Người là một mẫu mực về tinh thần dân chủ, tôn trọng tập thể, tôn trọng quần chúng nhân dân, luôn luôn quan tâm đến mọi người, gắn bó với nhân dân. Người luôn luôn phê phán “óc lãnh tụ”, phê phán thói “quan cách mạng”, phê phán những biểu hiện quan liêu, coi thường quần chúng, coi thường tập thể, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đó là những căn bệnh khác nhau của chủ nghĩa cá nhân.

– Học tập và làm theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc, pháp luật, kỷ cương. Mọi biểu hiện dân chủ hình thức, lợi dụng dân chủ để “kéo bè, kéo cánh”, để làm rối loạn kỷ cương, để cầu danh, trục lợi hoặc chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, đứng trên quần chúng…, làm cho nhân dân bất bình, cần phải lên án và loại bỏ.

– Học tập đạo đức Hồ Chí Minh tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất cứ cương vị nào phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn nghèo đói. Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà còn phải biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói nghèo. Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.

– Học tập đạo đức Hồ Chí Minh phải rất coi trọng tự phê bình và phê bình. Người dạy cán bộ, đảng viên và mọi người chúng ta: không sợ khuyết điểm, không sợ phê bình, mà chỉ sợ không nhận ra khuyết điểm, sai lầm và không có quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, sẽ dẫn đến khuyết điểm ngày càng to và hư hỏng. Tự phê bình phải được coi trọng, được đặt lên hàng đầu, theo tư tưởng Hồ Chí Minh “phải nghiêm khắc với chính mình”. Phê bình phải có mục đích là xây dựng tổ chức, xây dựng con người, xây dựng đời sống tình cảm và quan hệ đồng chí, quan hệ xã hội lành mạnh, trong sáng, có lý, có tình. Phải khắc phục bệnh chuộng hình thức, thích nghe lời khen, (thậm chí xu nịnh), tâng bốc nhau, không dám nói thẳng, nói thật để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đồng thời, cần phê phán những biểu hiện xuất phát từ những động cơ cá nhân, vụ lợi mà “đấu đá”, nhân danh phê bình để đả kích, lôi kéo, chia rẽ, làm rối nội bộ.

4. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phát huy chủ nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình đoàn kết quốc tế bắt nguồn từ tình yêu thương đối với con người, với nhân loại và đoàn kết toàn nhân loại vì mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Nhờ đó mà nhân dân thế giới kính yêu Người, trao tặng Người danh hiệu nhà văn hóa kiệt xuất trên thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế. Từ chủ nghĩa quốc tế cao cả, Người đã xây dựng nên tình đoàn kết quốc tế rộng lớn của dân tộc ta với các dân tộc trên thế giới, góp phần quan trọng vào những thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta và phong trào cách mạng thế giới.

– Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, việc mở rộng tình đoàn kết quốc tế, hợp tác cùng có lợi, chủ động, tích cực hội nhập là một nguồn lực quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước. Đoàn kết quốc tế trong sáng là thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy với các quốc gia trên thế giới, phấn đấu vì độc lập, hòa bình, hợp tác và phát triển

– Đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các nước khác, mở rộng hợp tác cùng có lợi, phấn đấu vì hòa bình, phát triển, chống chiến tranh, đói nghèo, bất công, cường quyền, áp đặt trong quan hệ quốc tế. Khép lại những vấn đề của quá khứ, lịch sử, xoá bỏ mặc cảm, hận thù, nhìn về tương lai, xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc.

– Học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần nâng cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, kiên quyết đấu tranh chống tâm lý tự ty, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi; phê phán các biểu hiện vong bản, vọng ngoại, ảo tưởng trước chủ nghĩa tư bản.

Sự nghiệp đổi mới đất nước đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với sự hình thành và phát triển những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam, đồng thời tạo ra những thuận lợi và những thử thách mới đối với mỗi chúng ta trong lĩnh vực đạo đức. Hơn lúc nào hết, hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta phải quan tâm đầy đủ đến vấn đề đạo đức, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức đúng đắn, tiến bộ; đẩy mạnh giáo dục, rèn luyện và tăng cường quản lý đạo đức trong Đảng và trong nhân dân. Kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của ông cha, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp quan trọng để khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm lành mạnh nền đạo đức xã hội, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội, tạo động lực cho sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững. Vấn đề cơ bản nhất khi thực hiện cuộc vận động là mỗi người chúng ta phải nhận thức đầy đủ vị trí của vấn đề đạo đức, thường xuyên tự giác, nỗ lực học tập, rèn luyện, tu dưỡng theo gương Bác Hồ vĩ đại.

TB (Theo Tài liệu học tập trong cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

haugiang.gov.vn

Ngôi nhà nhỏ và nhân cách lớn

Không một ai đến thăm nơi ở khiêm nhường của Bác mà không trào dâng niềm xúc cảm trước sự vĩ đại của một nhân cách văn hóa lớn đã trở thành huyền thoại ngay trong cuộc sống đời thường của mình. Với nếp sống thanh cao, giản dị trong một tầm suy nghĩ sâu sắc mãi mãi là bài học lớn cho mỗi người chúng ta.

Năm 1954 từ Việt Bắc trở về Hà Nội, từ chối không ở ngôi nhà của toàn quyền Đông Dương để dành làm nhà tiếp khách cho Đảng và Nhà nước, Bác Hồ chọn cho mình gian nhà cấp bốn của người thợ điện. Ngôi nhà 1 tầng khoảng 50m2, ẩm thấp, ở bên góc bờ ao trong Phủ Chủ tịch (cách ngôi nhà sàn hiện nay khoảng 100m). Nhà đổ mái bằng nên mùa hè rất nóng, còn mùa đông thì lạnh.

Mùa hè năm 1958, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh, Cục trưởng Cục thiết kế Dân dụng, Bộ Kiến trúc (nay là Công ty TVXD dân dụng Việt Nam, Bộ Xây dựng) được giao thiết kế ngôi nhà ở cho Bác.

KTS Nguyễn Văn Ninh kể lại: lúc đó được giao thiết kế nhà ở cho Bác là điều mơ ước của một kiến trúc sư. Bác đã chịu nhiều gian khổ, nay hòa bình rồi, Bác cần phải sống trong một biệt thự sang trọng là điều đương nhiên, hình như Bác biết ý định đó Bác nói: “Bác không phải vua quan nên không thể ở trong những ngôi nhà sang trọng như chú vẽ đây. Chú thiết kế cho Bác ngôi nhà ở phía bên kia bờ ao, giống như nhà sàn Việt Bắc trước kia Bác đã ở. Chú xem nên làm thế nào thật đơn giản, chỉ cần một phòng ngủ và một phòng làm việc nhỏ thôi, không cao lắm, không cầu kỳ”.

Bác căn dặn kiến trúc sư rất cụ thể: Cần làm hành lang xung quanh để khi có các đồng chí lãnh đạo đến làm việc với Bác có lối đi và khi Bác làm việc, các đồng chí phục vụ đi lại không ảnh hưởng đến Người. Bác nói: Lợi dụng vách ngăn hai phòng làm một giá sách cho gọn, tiết kiệm và tiện sử dụng. Người nhắc nhở: Nhà làm bằng gỗ bình thường, gỗ loại một để dành làm tà vẹt đường sắt và trường học. Dưới tầng trệt, Bác bảo làm bệ xi măng thấp ở chung quanh, trên có lát ván tạo thành hàng ghế băng dài cho các cháu thiếu niên vào chơi có đủ chỗ ngồi.

Khi đó, Bác đã gần 70 tuổi, KTS Nguyễn Văn Ninh đề nghị đặt thêm khu vệ sinh trong nhà để sử dụng thuận tiện, nhưng Bác không đồng ý. Bác bảo: “Khu vệ sinh ở nhà cũ còn tốt, cứ để Bác dùng cho đỡ lãng phí, và tạo điều kiện để Bác đi lại cho khỏe mạnh”.

Sau khi được Bác góp ý, bản vẽ thiết kế đã nhanh chóng hoàn thành và đi vào thi công. Trong thời gian Bác đi công tác, đội thi công 30 chiến sỹ công binh đã khẩn trương xây dựng và hoàn thành ngôi nhà vào ngày 1-5-1958, sau khoảng một tháng. Khi công trình cơ bản đã xong, KTS Nguyễn Văn Ninh mời Bác đi thăm nhà, một lúc sau dừng lại Bác cười nói: “Chú Kiến (Bác vẫn gọi thân mật Kiến trúc sư là chú Kiến-kiến trúc, kiến thiết) làm nhà cho Bác sang quá, còn hơn cả nhà quan tể tướng ngày xưa”. Vào dịp sinh nhật năm 1958, Bác Hồ đã chuyển sang ở ngôi nhà này cho tới ngày 17-8-1969.

Buổi khánh thành ngôi nhà sàn, Bác Hồ mặc bộ quần áo nâu, đi đôi guốc mộc. Bác chiêu đãi kiến trúc sư và thợ thi công bằng bữa “tiệc ngọt” tân gia, Bác nói vui: “Kẹo thuốc hôm nay là tiền nhuận bút của Bác bỏ ra mua, không phải của công đâu, Bác khao đấy, các chú cứ thoải mái, không hết thì mang về”. Trước khi về, Bác chờ bằng được “chú Kiến” ra ngồi ở giữa rồi mới chụp ảnh chung kỷ niệm.

Được một thời gian, nghe anh em cảnh vệ kể lại, những đêm làm việc khuya nghe tiếng phất muỗi của Bác, trong lòng thương Bác vô cùng, bởi đèn sáng giữa một khu vực nhiều cây cối và gần hồ nước nên nhiều muỗi. Đây cũng là điều mà KTS Nguyễn Văn Ninh chưa thể lường hết được, ông vô cùng xúc động và ân hận. Sau nhiều lần bàn tính cuối cùng ông đã đưa ra phương án tối ưu là dùng lưới đồng nhỏ căng lên các ô cửa sổ, vừa ngăn muỗi mà vẫn có gió mát. Công việc trên làm khi Bác vắng nhà, vẫn sợ khi Bác về lại phê bình là tốn kém.

Ngôi nhà được thiết kế theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc với kích thước đã ở mức tối thiểu: dài 10,15m rộng 6,82m, có hai tầng, tầng trên cao 2,62m có hai phòng: mỗi phòng rộng 13,50m2 dùng làm phòng ngủ và phòng làm việc về mùa đông. Tầng dưới cao thông thủy 2,20m là nơi Bác Hồ thường làm việc về mùa hè, nơi họp Bộ Chính trị quyết định nhiều vấn đề quan trọng của cách mạng Việt Nam, nơi tiếp khách thân mật. Cầu thang một nhịp 14 bậc đặt ở hướng tây nam, che được ánh nắng ban chiều dọi vào phòng ngủ.

Ngôi nhà sàn này Bác đã sống và làm việc trong 11 năm cuối đời, chỉ có những vật dụng rất đơn sơ: một chiếc bàn, giá sách, tủ quần áo, giường gỗ cá nhân, tấm chăn đơn, chiếc chiếu cói, cây quạt cọ, chai nước lọc. Điều này đã được nhà thơ Tố Hữu khắc họa trong trường ca “Theo chân Bác”:

Nhà gác đơn sơ một góc vườn

Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn

Giường mây chiếu cói, đơn chăn gối

Tủ nhỏ, vừa treo mấy áo sờn…

Ngôi nhà sàn Bác Hồ không những có ý nghĩa về lịch sử mà còn là một công trình kiến trúc mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn. Một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao”.

Ngày 15-5-1975, ngôi nhà sàn Bác Hồ được xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa đặc biệt của Quốc gia. Năm 2001, KTS Nguyễn Văn Ninh (1908-1975) đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học-Nghệ thuật, đợt 1 về cụm công trình kiến trúc: Lễ đài Ba Đình (1955), nhà sàn Bác Hồ (1958), Lễ đài Ba Đình (1960).

Nhiều năm đã trôi qua, những ngôi nhà ở của Bác Hồ mãi trở thành biểu tượng cho lối sống giản dị, trong sáng của đạo đức một con người Việt Nam chân chính-Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!

Bắc Ninh 9-2011

KTS. Nguyễn Huy Phách

baobacninh.com.vn

Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lê nin và Cách mạng vô sản thế giới

Hồ Chí Minh – nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế.

Từ khi rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận thức muốn hoạt động cách mạng cần phải tham gia các tổ chức và hoà mình vào phong trào đấu tranh cách mạng. Người đã hoạt động trong phong trào của người Việt Nam yêu nước và phong trào công nhân Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ nhiệm kiêm chủ báo Người cùng khổ; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp; tham gia Quốc tế Cộng sản, hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức…

Những hoạt động đầy nhiệt huyết của Người-với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản quốc tế đã in dấu đậm nét trong lịch sử cách mạng vô sản thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều lần phải sống trong thiếu thốn, khổ cực, nguy hiểm, tù đày, thậm chí bị hiểu lầm, nhưng trong hoàn cảnh nào, Người cũng có một niềm tin sắt son vào chủ nghĩa Mác-Lênin, nêu cao ý chí, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.

Hồ Chí Minh có công truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản, Người tích cực đưa lý luận Mác – Lênin vào phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; kiên trì bảo vệ, phát triển sáng tạo những quan điểm của V.I Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Với trách nhiệm là Ủy viên Ban phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng, phong trào cộng sản ở các nước châu Á và xúc tiến thành lập đảng cộng sản ở Việt Nam.

Sức lan toả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc rất mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Hàng loạt các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở các nước Á, Phi và Mỹ Latinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp quan trọng với lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở các nước chính quốc, nhân dân các dân tộc ở các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước. Đây là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin.

Xuất phát từ tình hình ở các nước tư bản, Lênin đã nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Xuất phát từ tình hình Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác -Lênin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé và phong trào còn non yếu, do đó phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh còn đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đây là những luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Các Mác, Ăngghen xác định, quần chúng làm cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân. Lênin, trong cách mạng vô sản Nga, xác định quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Đối với Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng là “cả quần chúng”, bao gồm: giai cấp công nhân – giai cấp lãnh đạo cách mạng, giai cấp nông dân-cùng với công nông là gốc của cách mạng, tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc, các cá nhân yêu nước, “Bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Quan điểm này của Người không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Hồ Chí Minh có những sáng tạo độc đáo trong các bước đi giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc; luận giải khoa học, sâu sắc về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước, giải quyết vấn đề dân chủ từng bước. Bảo vệ nền độc lập dân tộc đã giành được bằng biện pháp hòa bình, nhưng khi kẻ thù đã dùng chiến tranh xâm lược để áp đặt sự nô dịch mới, thì cần dựa vào và phát huy sức mạnh của cả dân tộc để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc chân chính, cần xây dựng một xã hội mới là xã hội xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

Trong di sản tư tưởng của Người, có cả một hệ thống những chỉ dẫn khoa học về cách thức, biện pháp, bước đi trong thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ tính khoa học, cách mạng mà còn có nhiều luận điểm bổ sung từ góc độ đạo đức, văn hoá, nhân văn.

T.S

(Theo Ban Tuyên giáo T.W)

baobacninh.com.vn

Lối sống giản dị, tiết kiệm đạo đức truyền thống của dân tộc ta

Một trong những đức tính hình thành nên nhân cách vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lối sống giản dị, tiết kiệm. Sinh thời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét về đức tính tiết kiệm của Bác Hồ: Bác tiết kiệm vì Bác không nỡ phụ người, không đành phụ của. Bác tiết kiệm không phải chỉ vì lý do kinh tế, mà chính bởi tại lòng Nhân!

Trong bài “Tư cách một người cách mệnh”, bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) năm 1927, đức tính đầu tiên Người nêu lên là “Tự mình phải: Cần kiệm” (1). Trong bài “Thế nào là kiệm” đăng Báo Cứu quốc số ra ngày 31-5-1949,  Người cho rằng kiệm “là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” và “người yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm” .

Ngày 2-9-1947, trên báo Sự Thật, Bác viết: “Một hạt gạo, một đồng tiền, tức là mồ hôi nước mắt của đồng bào. Vì vậy, ta phải ra sức tiết kiệm. Hoang phí là một tội ác!”(2). Bác phân tích: “Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí làm chợ đen, chợ đỏ, thụt két, buôn lậu”(3). Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãng phí không những tiêu tốn tiền của, mồ hôi nước mắt của nhân dân, mà nguy hiểm hơn, từ hoang phí xa xỉ sẽ dẫn đến tham ô, nhũng nhiễu, mất tư cách, đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Bác nói: “…Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành 4 điều đó, mà muốn được lòng dân thì cũng như bắc dây leo trời!”(4).

Một lần nói chuyện với các giám đốc và chủ tịch các uỷ ban nhân dân, Bác nói: “Phải biết tiết kiệm những đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các cơ quan. Rút bớt hết những việc gì không cần thiết, chớ hao phí giấy má, tiền bạc và các thứ của công. Hao phí những thứ đó tức là hao phí mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những thứ cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người tiết kiệm như thế, trăm người như thế, vạn người như thế, công quỹ bớt được một số tiền đáng kể lấy ở mồ hôi, nước mắt dân nghèo mà ra…”(5).

Theo Bác thì kiệm không chỉ có nghĩa là không hoang phí, không xa xỉ, mà còn phải biết tổ chức, quản lý, tiết kiệm thời gian. “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm”(6).

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những quan tâm giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân ta thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, mà chính Người là một tấm gương ngời sáng về lối sống giản dị, tiết kiệm. Trong kháng chiến chống Pháp, ở Việt Bắc có lần Bác đi công tác về muộn, thấy Bác mệt, đồng chí bảo vệ nói với một cán bộ văn phòng: “Bác mệt, không ăn cơm được, cô nấu cho Bác một bát cháo”. Đang nằm nghỉ, Bác liền nhỏm dậy bảo: “Cô nấu cho Bác bằng cơm nguội ấy, vừa chóng chín, vừa tiết kiệm được gạo, khỏi bỏ phí cơm thừa”. Từ giữa tháng 8 năm 1969, sức khỏe của Bác yếu dần. Có hôm, Người gượng ngồi dậy, ăn vài củ khoai tây hầm. Tay run, củ khoai rớt xuống mặt bàn, Bác nhặt lên, lấy khăn định lau sạch để ăn; nhưng bác sĩ ngăn lại. Người nói: “Ngoài kia dông bão ngập trời, củ khoai do người nông dân một nắng hai sương làm ra mà vẫn không đủ ăn, sao ta nỡ bỏ đi ?”.

Bác thường tận dụng mặt sau bản tin Thông tấn xã Việt Nam để viết nháp, mặc bộ bà ba nhuộm màu nâu, đi đôi dép cao su đã mòn vẹt đế. Thấy quần áo Bác mặc hơi cũ, anh em phục vụ mang bộ mới thay vào,  Bác thường không bằng lòng. Cổ áo bị sờn rách, mọi người đề nghị thay áo khác, Bác nói: “Cả cái áo chỉ sờn ở cổ mà vứt đi thì không được, chú chịu khó lộn ra ngoài, may lại vẫn lành như mới”. Có lần một đồng chí lãnh đạo thưa thật với Bác rằng Bác là Chủ tịch nước, Bác mặc áo sờn rách như thế thì không phù hợp. Bác nói: “Này chú! Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá thế này là cái phúc của dân đấy! Đừng bỏ cái phúc ấy đi !”

Một lần, thấy lớp nhựa ở vòng tay lái chiếc ô tô đã cũ toả ra mùi khó chịu, đồng chí lái xe lấy nước hoa vẩy vào trong xe. Khi lên ô tô, thấy mùi nước hoa Bác tỏ vẻ không vui. Bác bảo: Không phải Bác không thích nước hoa. Nhưng nhân dân mình còn nghèo, vị chủ tịch của những người nghèo khổ dùng nước hoa sao đành!

Những ứng xử nhân bản trong cuộc sống hàng ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh phản ánh đức tính cao đẹp của Người, kết tinh truyền thống quý báu của dân tộc ta. Trong tiến trình hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, những lời dạy của Bác về thực hành tiết kiệm vẫn mang tính thời sự nóng hổi. Học tập và làm theo lối sống giản dị, tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng và phát huy đạo đức truyền thống của dân tộc đồng thời là đòi hỏi thiết thực, cụ thể thường xuyên đối với mọi cán bộ, đảng viên.

Hồng Minh

1- Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, 2002, tập 2, tr.260.
2,3,4-: Sđd, tập 5, tr.208-209.
5- Báo Cứu quốc số 146, ngày 19-1-1946.
6- Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, tr.189.

baobacninh.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân là một trong những di sản lý luận quan trọng nhất mà Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đó là một hệ thống lý luận, nguyên tắc với những nội dung phong phú, từ việc xác định vai trò lãnh đạo của Đảng đến quy luật ra đời; từ tư cách đảng viên cho đến những yêu cầu xây dựng đảng ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế chậm phát triển nhưng có nền văn hiến và truyền thống văn hóa đặc sắc.

Một trong những nguyên tắc hàng đầu mà Người đề cập đến đó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng Cộng sản, nhằm làm cho Đảng Cộng sản trở thành Đảng có sức mạnh chiến đấu to lớn trong một tổ chức chặt chẽ. Theo Người, tập trung và dân chủ là “hai vế của một nguyên tắc” có mối quan hệ khăng khít với nhau. Tập trung trên nền tảng dân chủ; dân chủ phải dưới sự chỉ đạo tập trung.

Tập trung trong Đảng là: thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, bộ phận phải phục tùng toàn thể, tất cả các đảng viên phải chấp hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”1. Tức là đề cao vai trò của tập trung, thực hiện tập trung trong Đảng để tạo sự thống nhất ý chí và hành động, tạo thành sức mạnh lãnh đạo to lớn trong tiến trình cách mạng. Đây là biểu hiện cụ thể tính tiên phong, tính chiến đấu của giai cấp công nhân. Cùng với tập trung phải chú ý thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Dân chủ là làm cho mọi người mạnh dạn có ý kiến, làm cho Đảng tập trung được trí tuệ, tăng cường sức mạnh lãnh đạo của Đảng. Người khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do, bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lí. Đó là một quyền lợi, cũng là một nghĩa vụ của mỗi người”2…

Nguyên tắc thứ hai Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách phải luôn đi đôi với nhau. Chỉ có tập thể lãnh đạo mới phát huy được toàn bộ trí tuệ đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người lý giải một cách vắn tắt: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy được một hoặc nhiều mặt của vấn đề, không thể thấy hết tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người, nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt thì vấn đề ấy được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm.

Theo Hồ Chí Minh, cá nhân phụ trách là nhằm tạo ra tính chuyên trách, gắn trách nhiệm để giải quyết công việc một cách tốt nhất. Người giải thích: “Việc gì đã được đông người bàn bạc kĩ rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới chuyên trách, công việc mới chạy… Nếu không có cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong”3. Người còn lưu ý, trong thực hiện nguyên tắc này phải chống lại bệnh độc đoán, chuyên quyền, vi phạm dân chủ trong Đảng; đồng thời chống lại tệ dựa dẫm tập thể, không dám chịu trách nhiệm. Đây là hiện tượng thường thấy hàng ngày, khi có thành tích thì nhận về mình, còn khuyết điểm sai lầm thì đổ lỗi cho tập thể. Không chú ý đến lãnh đạo tập thể thì sẽ bao biện, độc đoán, chủ quan; đồng thời không chú ý đến cá nhân phụ trách thì sẽ dẫn đến bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ.

Nguyên tắc thứ ba được Hồ Chí Minh đề cập trong xây dựng Đảng là nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Có lúc, Hồ Chí Minh coi nguyên tắc tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển Đảng. Cũng có khi Người coi đó là nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh. Hồ Chí Minh nói: “Mỗi người đều có thiện, có ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”; vì vậy, “thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”4.

Nguyên tắc thứ tư được Người nhắc đến trong xây dựng Đảng kiểu mới là kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng là đòi hỏi tất cả mọi tổ chức đảng, mọi đảng viên đều phải bình đẳng trước Điều lệ Đảng, trước pháp luật Nhà nước, Nghị quyết của Đảng. Đảng ta là một tổ chức gồm những người tự nguyện phấn đấu cho lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa, cho nên tự giác là một yêu cầu bắt buộc đối với mọi tổ chức đảng và đảng viên. Theo đó, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên dù ở cương vị nào, làm bất cứ việc gì cũng phải chấp hành nghiêm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước. Việc coi thường kỷ luật Đảng, không tự giác chấp hành kỷ luật Đảng sẽ làm suy yếu và tan rã Đảng.

Trong hệ thống các nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới, Hồ Chí Minh không quên đề cao nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đoàn kết, thống nhất là một thuộc tính cơ bản, một nguyên tắc hoạt động quan trọng của Đảng, quyết định sức mạnh của Đảng. Trong Di chúc, Người viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kì quý báu của đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”5. Đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin; đường lối, chủ trương của Đảng; Điều lệ Đảng. Thực hành dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh thực hiện tự phê bình và phê bình, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống mọi biểu hiện tiêu cực trong Đảng.

Việc nắm vững và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc trong xây dựng Đảng kiểu mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là vấn đề có tính quy luật nhằm xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Đỗ Đình Cường

1. Hồ Chí Minh toàn tập, t5, NXB CTQG, H. 2009, tr.553
2. Hồ Chí Minh toàn tập, t8, NXB CTQG, H. 2009, tr.216
3. Hồ Chí Minh toàn tập, t5, NXB CTQG, H. 2009, tr.505
4. Hồ Chí Minh toàn tập, t5,NXB CTQG, H.2009, tr262
5. Hồ Chí Minh toàn tập, t12, NXB CTQG, H. 2009, tr.510

baobacninh.com.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

(TCTG)- HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG, HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN    (Tài liệu học tập năm 2009 của Ban Tuyên giáo Trung ương)

Chú dẫn của nhà xuất bản

Hai năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội, làm cho toàn Đảng, toàn dân ta ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về những nội dung cơ bản, giá trị tinh thần to lớn của tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Kết quả bước đầu của Cuộc vận động đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trong nhận thức, ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tổ chức học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo các chủ đề là một nội dung quan trọng trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tiếp theo các chủ đề học tập năm 2007, 2008, thực hiện Kế hoạch số 03-KH/BTGTW ngày 14-5-2007 của Ban Chỉ đạo Trung ương, năm 2009, toàn Đảng, toàn dân toàn quân ta sẽ học tập chủ đề: Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn với Kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Bác.

Nhằm cung cấp kịp thời tài liệu học tập cho các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chủ đề năm 2009 – Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân (Tài liệu học tập năm 2009) do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn.

Đây là tài liệu được phát hành rộng rãi trong cả nước, giúp cho tất cả cán bộ, đảng viên, công chức nâng cao nhận thức về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng kế hoạch cá nhân làm theo Bác với các nội dung cụ thể và thiết thực, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp triển khai Cuộc vận động trong năm 2009 do Ban Chỉ đạo Trung ương đề ra.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Tháng 4 năm 2009

Nhà xuất bản chính trị quốc gia

I. SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trách nhiệm là phần việc được giao, nghĩa vụ phải làm tròn theo cương vị, chức trách của mình. Con người có bao nhiêu vị trí, vai trò, chức năng trong các mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu trách nhiệm. Đó là trách nhiệm thành viên của mỗi người trong quan hệ gia đình; trong cộng đồng, tổ chức, xã hội; trách nhiệm công dân trong quan hệ với đất nước; trách nhiệm phục vụ nhân dân, là công bộc của dân, của cán bộ, công chức…

Trách nhiệm là một khái niệm kép, vừa thuộc phạm trù đạo đức, vừa thuộc phạm trù pháp luật. Có trách nhiệm chỉ chịu sự phán xét của dư luận, đạo đức. Có trách nhiệm ngoài sự phán xét của dư luận, đạo đức còn chịu sự xét xử của pháp luật. Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, chịu sự phán xét của cả dư luận, đạo đức, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trong đó việc nhận thức đúng đắn, tự giác thực hiện có vai trò quan trọng.

ý thức trách nhiệm là sự nhận thức (nông, sâu, đầy đủ hay chưa đầy đủ) về nghĩa vụ phải hoàn thành trong mối quan hệ nhất định. Ngược lại với ý thức trách nhiệm là thái độ vô trách nhiệm. Hồ Chí Minh chỉ rõ trách nhiệm của mỗi người trong các mối quan hệ, nhưng nhấn mạnh trước hết là trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân. Người thường nhắc nhở mỗi người có 3 trách nhiệm: trước Đảng, trước dân, trước công việc. Trong 3 trách nhiệm đó, trước hết cần có ý thức trách nhiệm cao trước công việc, trước nhân dân để làm thật tốt rồi mới đem kết quả đó mà báo cáo với cấp trên, với Đảng.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cần phải “nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Tiếp theo các chủ đề học tập được triển khai trong các năm 2007, 2008, theo kế hoạch toàn khoá, trong năm 2009, chủ đề học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là: Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân gắn với kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hiện nay. Mục đích của việc học tập là:

1. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới

Trong phạm vi đạo đức, trách nhiệm mang tính bổn phận mà mỗi tổ chức, cá nhân đều phải tự giác, tự mình thực hiện.

– Dân tộc Việt Nam, với 54 dân tộc anh em hình thành và phát triển trên một miền đất có điều kiện tự nhiên vừa thuận lợi, vừa khắc nghiệt, gắn liền với nền văn minh lúa nước. Vì vậy, ngay từ rất sớm đã hình thành cộng đồng dân tộc thống nhất, dựa trên các cộng đồng làng xã phát triển và khá bền vững. Trong mối quan hệ chặt chẽ và gắn bó qua nhiều đời đó, mỗi thành viên là một bộ phận không tách rời của cộng đồng, có lợi ích chung và có trách nhiệm chung. Đó chính là nguồn sức mạnh của cộng đồng.

– Thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã xác định nhiệm vụ “phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới”. Việc động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặc biệt phát huy vai trò nêu gương đi trước, làm trước của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức… có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

2. Phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tập thể, đẩy mạnh tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, chống chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, cục bộ, địa phương…

– Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, chủ nghĩa yêu nước đã giữ vai trò to lớn, có ý nghĩa quyết định. Lòng yêu nước, bắt nguồn từ yêu nhà, yêu quê hương xứ sở, Tổ quốc, nhân dân, là sức mạnh vô địch… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[1]. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay có cơ hội lớn và thách thức lớn, rất cần phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, được thể hiện cụ thể trong ý thức trách nhiệm của mỗi người Việt Nam.

– Đối lập với tinh thần tập thể, ý thức trách nhiệm trước tập thể là chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của cộng đồng. Ông cha ta đã ca ngợi những người có công với làng, với nước, dựng đền thờ, tôn vinh là thánh, là thần, là phật hoàng, là thành hoàng…, đồng thời phê phán gay gắt những kẻ phản bội, đầu hàng, những thói hư, tật xấu, chủ nghĩa cá nhân…

– Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, những mặt tiêu cực của toàn cầu hóa, của cơ chế kinh tế thị trường khách quan tác động vào tư tưởng mỗi người, kích thích chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, làm suy giảm sự cố kết của cộng đồng dân tộc. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch cũng tận dụng điều kiện đó để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, mà khuyến khích lối sống cá nhân, thực dụng, hưởng thụ, vọng ngoại… là một trong những thủ đoạn chủ yếu. Trong điều kiện đó, việc làm rõ trách nhiệm của mỗi cá nhân; trên cơ sở tôn trọng lợi ích và quyền tự do của mỗi cá nhân, tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm của cá nhân trước tập thể, cộng đồng, Tổ quốc và nhân dân có nghĩa to lớn và tác dụng xã hội tích cực.

3. Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức có phẩm chất đạo đức cách mạng, hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang trong giai đoạn cách mạng mới

– Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã xác định nhiệm vụ tổ chức, lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành lại nền độc lập và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Ngoài mục đích đó, Đảng không có lợi ích nào khác. Chính vì vậy, Đảng đã được nhân dân tin cậy, đi theo, làm nên những thắng lợi vẻ vang trong thế kỷ XX. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Đó là chiến thắng trong các cuộc chiến tranh để bảo vệ nền độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đó là thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới.

– Trong giai đoạn cách mạng mới, thực hiện nhiệm vụ đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, phải chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải xác định rõ trách nhiệm của mình trước Tổ quốc và nhân dân. Đó là nhân tố quyết định, bảo đảm thắng lợi của công cuộc đổi mới.

– Công tác xây dựng Đảng trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đồng thời cũng còn nhiều yếu kém, khuyết điểm. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức đã và đang làm giảm sức chiến đấu của Đảng, làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng. Việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong giai đoạn hiện nay là một giải pháp quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng, góp phần làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, hoàn thành trách nhiệm vẻ vang trước Tổ quốc và nhân dân.

4. Đưa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, đẩy mạnh việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

– Thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07-11-2006 của Bộ Chính trị, trong những năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã triển khai mạnh mẽ Cuộc vận động và đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là Cuộc vận động lớn, kéo dài nhiều năm, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức tự giác và tổ chức thực hiện làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Trong hai năm 2007, 2008, theo Kế hoạch toàn khóa đã ban hành (Kế hoạch số 03-KH/BTGTW ngày 14-5-2007), việc triển khai Cuộc vận động đã đạt được kết quả quan trọng. Nhiệm vụ của những năm sắp tới là kết hợp tiếp tục giáo dục nhận thức theo các chủ đề với tăng cường tổ chức, hướng dẫn việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Nghiên cứu, quán triệt tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân có ý nghĩa thiết thực và trực tiếp trong thực hiện nhiệm vụ này.

– Năm 2009 là năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành tổng kết 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác. Việc học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người về ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là biểu hiện làm theo Di chúc của Bác một cách thiết thực, góp phần tạo nên sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, phấn đấu đạt được các mục tiêu do Đại hội X của Đảng đã đề ra.

II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG, HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

– Trong hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: mỗi người đều phải tuân theo đạo đức công dân. Đó là tuân theo pháp luật của Nhà nước, kỷ luật lao động, giữ gìn trật tự chung, đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ, đúng số… Đạo đức công dân là hăng hái tham gia công việc chung, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ Tổ quốc, cần, kiệm xây dựng nước nhà… Người nói, mỗi người đều phải có bổn phận với đất nước. Nước là nước của dân; và dân là chủ của nước. Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trách nhiệm công dân trước hết và bao trùm nhất là trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân. Cơ sở của việc nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ quan niệm mỗi người đều có trách nhiệm trước Tổ quốc. Khi Tổ quốc lâm nguy thì mọi người đều phải đứng lên. Trong lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946 Bác viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”[2].

– Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, Người yêu cầu để làm gương cho nhân dân, phải có đạo đức cách mạng, vì cán bộ, đảng viên là tấm gương của xã hội, phải nêu gương, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Mỗi cán bộ, đảng viên, cán bộ quản lý, lãnh đạo vừa phải thực hiện đạo đức công dân, vừa thực hiện đạo đức của người cán bộ. Dù công tác ở lĩnh vực nào cũng đều phải có phẩm chất đạo đức. Cấp bậc càng cao càng phải nêu gương về đạo đức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân[3]. Người viết: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”[4].

Cơ sở của trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức là “dân là chủ và dân làm chủ”. Chính phủ, cán bộ là công bộc của dân. Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Việc gì hại đến dân thì Chính phủ phải hết sức tránh. Việc gì lợi cho dân thì Chính phủ phải ra sức làm.

– Đối với cán bộ, đảng viên của Đảng, cơ sở của ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân bắt nguồn từ mục đích và bản chất của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là đảng của nhân dân lao động, của dân tộc. Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc; đại biểu cho lợi ích của giai cấp và dân tộc. Đảng quy tụ những người kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Đảng lấy dân làm gốc. Đảng cầm quyền, nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền là để bảo đảm cho dân làm chủ. Mọi quyền lực vẫn thuộc về dân. Người dân ủy thác quyền lực đó cho những chức danh cụ thể, kể cả chức vụ Chủ tịch nước.

Trong Lời kết thúc buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam (3-3-1951), Hồ Chí Minh nói: “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”[5].

– Cán bộ, đảng viên, công chức phải phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của quần chúng nhân dân; nhân dân là sức mạnh vô địch.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng là do nhân dân tiến hành. Nhân dân là người làm ra lịch sử. Sức mạnh của nhân dân là vô địch. Không có nhân dân, Đảng, Chính phủ không có lực lượng. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trên thế giới này không có sức mạnh nào bằng sức mạnh của nhân dân. Có dân là có tất cả. “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong[6]… Nhiệm vụ phục vụ nhân dân của Đảng là tổ chức và phát huy sức mạnh trong nhân dân để đấu tranh giành lợi ích cho nhân dân, để xây dựng và bảo vệ xã hội mới do nhân dân làm chủ.

2. Nội dung nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh

a) Về ý thức trách nhiệm

– Theo Hồ Chí Minh, ý thức trách nhiệm của mỗi người trước hết thể hiện trong quan hệ với nhiệm vụ được giao, với công việc phải làm.

Khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, đều phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, làm một cách tự giác, theo lương tâm, lương tri, theo nhu cầu nội tâm của cá nhân mình. Nếu làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy…, là không có tinh thần trách nhiệm. Tất cả mọi người, ở mọi địa vị, mọi công tác, mọi hoàn cảnh đều phải có tinh thần trách nhiệm.

– ý thức trách nhiệm biểu hiện trong việc nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ; thực hiện đúng đường lối quần chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Đảng và Chính phủ đề ra chính sách. Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy. Theo chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, hiểu thấu hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình. Rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực, để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu thấu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy. Như thế là làm trọn nhiệm vụ.

Để thực hiện trách nhiệm, phải bàn bạc với quần chúng, hỏi han ý kiến, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình. Người nói, “Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệmđối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân”[7].

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư, tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm.

b) Về nội dung hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

– Mọi người đều phải có trách nhiệm với đất nước. “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Theo Hồ Chí Minh, Tổ quốc – Đất nước là của tất cả mọi người Việt Nam và nhân dân chính là chủ nhân của đất nước. Tổ quốc và nhân dân có mối quan hệ máu thịt, theo nghĩa “đồng bào”. Khi Tổ quốc lâm nguy thì mọi người phải “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”[8].

– Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Cán bộ, đảng viên phải tận tâm, tận lực, tận tình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Người dạy: Việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân thì phải hết sức tránh. Mục đích hoạt động của các cấp, các ngành, của mọi cán bộ, đảng viên là nhằm không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, cả đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần. Cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân là tiêu chí số một đánh giá năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người, trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau.

– Phục vụ nhân dân là phải quan tâm, chăm lo mọi mặt của đời sống nhân dân, tìm cách thoả mãn các nhu cầu, lợi ích của nhân dân, trước hết là những nhu cầu thiết yếu nhất theo tinh thần: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[9]. Phải: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”2. Phải biết kết hợp các loại lợi ích khác nhau: Lợi ích gần và lợi ích xa, trước mắt và lâu dài; lợi ích của Trung ương và lợi ích của địa phương; lợi ích của các giai cấp, tầng lớp xã hội, làm cho ai cũng cảm nhận được rằng họ đang là đối tượng được phục vụ.

– Phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân và xác định vì dân mà làm việc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế”3. Tôn trọng dân, trước hết là tôn trọng quyền làm chủ của dân, tôn trọng ý kiến của dân. Không được tự cao, tự đại, khinh rẻ dân, chê bai dân. Bởi vì, so với nhân dân thì số đảng viên chỉ là số ít. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng đắn rằng Đảng và Chính phủ cũng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, đem lại hạnh phúc, tự do cho dân. Vì vậy, mỗi cán bộ đảng viên cũng phải xác định vừa phụ trách trước Đảng và Chính phủ vừa phụ trách trước nhân dân, “Mà phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ”[10]. Cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ cũng chỉ là công bộc của dân.

– Phục vụ nhân dân là hướng dẫn nhân dân tự chăm lo cho đời sống của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: Sự hướng dẫn này được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, chủ yếu là tập trung vào những nội dung cơ bản: Hướng dẫn nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất; hướng dẫn nhân dân biết cách thực hành tiết kiệm; hướng dẫn nhân dân phân phối cho công bằng những phúc lợi xã hội theo phương châm “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”[11].

– Phục vụ nhân dân trước hết phải đề ra được các chủ trương, chính sách đúng đắn, vì lợi ích của nhân dân.

Chủ trương, chính sách phải xuất phát từ các điều kiện thực tế và quan tâm tới nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, ngay cả cấp cơ sở. Người dạy: “Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc”[12].

Về cách làm việc, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải nhận thức sâu sắc phương pháp “Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”. Việc to, việc nhỏ đều phải phù hợp với lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng, thì mới có thể phục vụ được quần chúng. “Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”2.

– Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân phải luôn luôn quán triệt cán bộ là công bộc, là đày tớ của dân.

Hồ Chí Minh dạy: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”3. Làm đày tớ thì phải học dân, hỏi dân, hiểu dân. “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân4.

Đày tớ là phục vụ dân; có cái gì lo thì lo trước dân, có cái gì vui thì vui sau dân. Tự phê bình trước dân và nếu có khuyết điểm thì nhận; đồng thời hoan nghênh nhân dân phê bình mình. ý thức phục vụ nhân dân không phải nằm ở nghị quyết, chỉ thị, kêu gọi, hô hào, nói suông. Người yêu cầu “các vị bộ trưởng nên luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi ở bàn giấy”; hoặc “hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết mà không làm”.

Tóm lại, nội dung tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh hết sức rộng lớn, sâu sắc. Trước hết là ở nhận thức về Tổ quốc, về nhân dân, về vị trí của cán bộ, đảng viên. Nhận thức đúng sẽ mở đường cho hành động đúng. Nhận thức sai, hành động sai. Hai điểm cốt yếu quan trọng nhất của vấn đề này trong tư tưởng Hồ Chí Minh là dân là chủ, là gốc của nước. Có dân là có tất cả. Cán bộ là đày tớ của dân. Phục vụ dân là nhiệm vụ của mọi cán bộ, công chức, là gốc của mọi công việc.

3. Các giải pháp nâng cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh

a) Các giải pháp về phía Đảng

– Giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về Đảng.

+ Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Văn minh là trí tuệ, là bản lĩnh, là tính nhân văn của một Đảng cách mạng chân chính. Đạo đức chủ chốt của Đảng là quyết tâm suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”[13].

+ Người khẳng định, Đảng ta vĩ đại, lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng. Đảng ta vĩ đại vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác. Đảng là mỗi chúng ta. Đảng phải giáo dục cho cán bộ, đảng viên nhận thức được rằng, mỗi cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, có ý thức phục vụ nhân dân tốt thì Đảng trong sạch, vững mạnh.

– Phải xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự có đạo đức cách mạng.

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò quyết định của cán bộ, có cán bộ tốt, việc gì cũng xong. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, mỗi cán bộ, đảng viên càng phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch. Phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

+ Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là thực hiện nghiêm minh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.

Phải rà soát lại tất cả những chủ trương, chính sách đã có để kiên quyết chống tư tưởng đặc quyền, đặc lợi trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Còn đặc quyền, đặc lợi thì còn có kẽ hở để vi phạm đạo đức cách mạng.

Phải kiểm tra, kiểm soát trong việc thực hiện chính sách của Đảng để biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu; biết rõ ưu điểm, khuyết điểm của các cơ quan và của các mệnh lệnh, nghị quyết. Đặc biệt để chống lại cái thói nghị quyết một đường thi hành một nẻo.

Có hai cách kiểm soát. Một cách là từ trên xuống, tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả của những công việc của cán bộ mình. Một cách là từ dưới lên, tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo. Cách này là cách tốt nhất để kiểm soát các nhân viên.

– Phải giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng.

+ Hồ Chí Minh luôn luôn coi kỷ luật đảng là nhất trí về tư tưởng, hành động và xuất phát từ lòng tự giác của đảng viên. Cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức, số ít phục tùng số nhiều, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương… Phải giáo dục tư cách, bổn phận đảng viên và rèn luyện tính Đảng.

+ Duy trì kỷ luật Đảng phải có thái độ khen, chê đúng mực đối với các hạng đảng viên, cán bộ. Người dạy: Khi cán bộ có khuyết điểm thì trước hết cần có nhận thức đúng về khuyết điểm. Người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm. Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Sửa chữa sai lầm, trước hết cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo; song tuyệt nhiên không phải không dùng xử phạt. Khuyết điểm có việc to việc nhỏ. Nếu tất cả không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Trong bài Sự nghiệp vĩ đại của Lênin, Người đã nhắc lại câu nói của V.I.Lênin: “Không xử bắn bọn ăn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người cách mạng”[14]. Vì vậy, hoàn toàn không xử phạt là không đúng. Mà mắc sai phạm gì cũng dùng đến xử phạt cũng là không đúng.

b) Các giải pháp từ phía cán bộ, đảng viên

Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh vai trò của cán bộ, đảng viên cũng như mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên với tổ chức, với quần chúng. Người nói: hàng trăm người dân mới có một đảng viên. Cần phải hiểu đúng ý nghĩa của vấn đề. Một mặt, sức mạnh to lớn của quần chúng so với đảng viên; mặt khác, đảng viên là người đại biểu ưu tú của dân tộc; là người lãnh đạo và tấm gương để nhân dân noi theo. Do vậy, cán bộ, đảng viên phải có nhận thức và hành động đúng.

– Về nhận thức:

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc về tư cách và bổn phận của mình.

Người nói, có những điều tưởng như ai cũng nhận thức đầy đủ cả rồi, nhưng thực tế lại không phải như vậy. Không ai bắt buộc ai vào Đảng. Đó là do sự tự giác, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ xung phong. Vậy thì, mỗi đảng viên phải xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc. “Làm đảng viên, làm cán bộ là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”. “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”.

+ Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần phải có “tính Đảng”. Thể hiện ở các điểm sau:

Một là, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Hai là, việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi, đến chốn, không qua loa, đại khái.

Ba là, lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau.

Bốn là, phải ráo riết dùng phê bình và tự phê bình.

Năm là, nơi nào sai lầm, ai sai lầm thì lập tức phải sửa chữa, v.v..

Đó là những điều “tối thiểu” mà bất kỳ ai, khi viết đơn vào Đảng cũng đã “thuộc” và hứa trước đảng kỳ. Phải thông qua tu dưỡng như chuyện rửa mặt hằng ngày. Tự giác tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện về mọi mặt là thước đo tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân.

– Về chính trị, tư tưởng:

+ Phải nắm vững đường lối cách mạng của Đảng. Đường lối đó vừa có nội dung xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình cách mạng, đồng thời phản ánh thực tiễn của từng giai đoạn. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời.

+ Tu dưỡng về chính trị là phải chống khuynh hướng “tả” và khuynh hướng “hữu”, ngả nghiêng dao động. Điều này hoàn toàn xa lạ với việc nắm vững và kiên định về chiến lược, mềm dẻo về sách lược và hết sức linh hoạt trong sử dụng các biện pháp tiến hành cách mạng theo tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

+ Phải nghiêm túc nghiên cứu, học tập lý luận Mác – Lênin.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, “lý luận cách mạng như cái bàn chỉ nam”, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng, như nhắm mắt mà đi.

Học lý luận không chỉ củng cố lập trường quan điểm chính trị, nâng cao nhận thức, tầm trí tuệ mà còn là xác lập cơ sở, nền móng vững chắc hoàn thiện nhân cách làm người. Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: Học chủ nghĩa Mác – Lênin là để biết cách sống với nhau có tình, có nghĩa; tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa giữa con người với con người.

Trong nghiên cứu học tập lý luận phải phê phán thói “khinh lý luận” hoặc lý luận suông. “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”[15]. Về bệnh lý luận suông, Người nói: “Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách”[16].

Học lý luận để thấm nhuần tư tưởng cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, từ đó vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, lấy thực tiễn Việt Nam làm điểm xuất phát, lấy cải tạo hiện thực Việt Nam làm mục tiêu.

– Về đạo đức:

+ Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trước hết là “trung với nước, hiếu với dân”. Người nói, đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng. Điểm xuất phát quan trọng nhất là phải xác định lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít đi và tính tốt ngày càng thêm. Tu dưỡng đạo đức cách mạng phải toàn diện, trên tất cả các khía cạnh.

+ Phải thường xuyên nuôi dưỡng lòng thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ oai quyền.

+ Tu dưỡng đạo đức là rèn luyện đức tính ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Là rèn luyện cho đầu óc trong sạch, sáng suốt, có đức tính biết xem người, biết xét việc…

+ Tu dưỡng đạo đức phải rèn luyện đức tính có gan nói, có gan phụ trách, có gan làm việc, có gan tự phê bình, có gan sửa chữa khuyết điểm, có gan chịu đựng khó khăn, chống lại sự vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

+ Phải rèn đức tính trong sạch, không tham địa vị, không tham tiền tài, ít lòng ham muốn về vật chất. Không ham người tâng bốc mình.

+ Phải rèn luyện đức tính cần, kiệm, liêm khiết, chính trực.

+ Phải tu dưỡng, rèn luyện, đấu tranh bền bỉ hằng ngày, suốt đời.

– Về văn hoá, học vấn, chuyên môn nghiệp vụ:

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc học văn hoá, nâng cao học vấn là một mặt của chế độ công tác, một biểu hiện của đạo đức cách mạng.

+ Cán bộ, đảng viên phải chịu khó, học tập thường xuyên, mọi nơi, mọi lúc, “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân”. Học tập suốt đời nhằm thâu thái tri thức, khoa học, kỹ thuật của nhân loại, tăng năng suất công tác, cải tiến công việc.

Người khẳng định, cán bộ, đảng viên không chỉ giỏi về chính trị mà cũng phải giỏi về chuyên môn. Làm nghề gì cũng phải học và làm nghề gì phải thạo nghệ ấy. Không có chuyên môn sẽ dẫn tới bệnh nói suông, lãnh đạo chung chung. Cán bộ chính trị phải biết kinh tế, cán bộ kinh tế phải có chính trị. Đó chính là một biểu hiện của nâng cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

– Về phương pháp công tác, cách lãnh đạo:

Cách lãnh đạo, cách làm việc của cán bộ, đảng viên, hiểu rộng ra là văn hóa lãnh đạo, văn hóa ứng xử. Theo Hồ Chí Minh nói chung có hai cách làm việc: Làm việc theo cách quan liêu và làm việc theo cách quần chúng.

+ Thực hành cụ thể theo cách quần chúng thì phải theo nguyên tắc “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Đó là cách làm việc thể hiện được nguyện vọng, tâm tư của quần chúng. Việc gì cũng phải tin vào dân chúng, học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng, theo tình hình thiết thực của dân chúng, theo trình độ giác ngộ của dân chúng và sự tình nguyện của dân chúng…

+ Làm việc theo cách quan liêu cũng gần với kiểu làm việc theo cách quyền lực, xa lạ với cách làm việc quần chúng. Theo Hồ Chí Minh, là cán bộ công chức, dù ít dù nhiều đều có quyền hành “cấp cao quyền to, cấp thấp quyền nhỏ”. Có quyền mà xa dân, làm việc theo kiểu quan liêu, mệnh lệnh, không dân chủ thì sớm muộn nhất định thất bại. Có quyền mà nhận thức đúng đắn rằng quyền lực đó là của dân và nhân dân giao phó quyền lực đó cho mình, thì sẽ làm hết trách nhiệm đối với nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh.

Phong cách và phương pháp công tác có văn hóa của cán bộ, đảng viên là theo đúng đường lối quần chúng, là nguyên tắc, là tình cảm, trách nhiệm của những công bộc của dân.


III. TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM HẾT LÒNG, HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

1. Tấm gương về ý thức trách nhiệm trước Tổ quốc, Đảng và dân tộc

– Động cơ thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước là trách nhiệm của một người dân mất nước.

Mang theo hoài bão, khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, Hồ Chí Minh tự mình quyết tâm đi ra nước ngoài “xem người ta làm thế nào” để trở về cùng đồng bào cứu nước, đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Trong gần 10 năm bôn ba, trải qua biết bao khó khăn của sự kiếm tìm, Người đã hoàn thành trách nhiệm do mình tự đặt ra, đó là tìm thấy chân lý “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản[17].

– Sau khi tìm được con đường cứu nước, Hồ Chí Minh tự xác định trách nhiệm tuyên truyền, vận động, tổ chức, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Người đã tập hợp, giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo được những người tiên tiến nhất trong cộng đồng dân tộc, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành độc lập.

– Từ năm 1930 đến năm 1945 là thời kỳ tư tưởng và cuộc sống của Hồ Chí Minh gặp nhiều thử thách, nhưng trong thử thách, Người luôn luôn kiên định mục tiêu và luôn mong muốn, khát khao được hoạt động vì sự nghiệp cứu nước của dân tộc.

+ Hai lần người bị bắt và bị giam trong nhà tù đế quốc. Trong tù, Người xác định “muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao”. Người không ngại sự gian khổ, đau đớn và lo về tính mạng của mình, mà lo cho cách mạng, buồn vì không được hoạt động. Người tâm sự: Đối với người cách mạng, không gì khổ tâm bằng đã không hoạt động được, lại mất liên lạc với đoàn thể lâu ngày.

+ Ngay sau khi về nước, chấp nhận một cuộc sống vô cùng thiếu thốn, gian khổ, Hồ Chí Minh khẩn trương bắt tay vào thực hiện nhiều công việc quan trọng, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Người vừa xác định trách nhiệm của người lãnh đạo, vừa xác định trách nhiệm cứu quốc là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm. Người xác định trách nhiệm của Người: “Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”[18].

– Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, trong 24 năm giữ cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh đã tự xác định cho mình trách nhiệm vừa là người lãnh đạo cao nhất, vừa là đày tớ của dân.

+ Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”[19].

+ Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vai trò, trách nhiệm của Người trong hệ thống quyền lực. Đó là nhận sự uỷ thác của quốc dân, đồng bào, quyết tâm hoàn thành trách nhiệm được Tổ quốc giao phó “giống như người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận” nhằm làm cho “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[20]; xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới…

– Trong tiến trình cách mạng, không tránh khỏi có lúc Đảng phạm sai lầm, khuyết điểm. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương và Chính phủ nhận trách nhiệm. Trong Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản hoàn thành, sau khi nêu những khuyết điểm, sai lầm của Đảng trong việc đoàn kết nông thôn, việc đánh kẻ địch, việc chấn chỉnh tổ chức, trong chính sách thuế nông nghiệp, Người viết: “Vì sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ có chỗ thiếu cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc – cho nên khi cải cách ruộng đất đã xảy ra những khuyết điểm, sai lầm… Trung ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm ấy và đã có kế hoạch kiên quyết sửa chữa, nhằm đoàn kết cán bộ, đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn, đẩy mạnh sản xuất”[21].

2. Tấm gương hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

a) “Tổ quốc trên hết”; “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”

Cả cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần và quyết tâm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong câu trả lời phóng viên báo Granma, Cuba, Người nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”. Điều đó được chứng minh một cách đầy đủ bằng cả cuộc đời hoạt động của Người.

Sau hơn ba mươi năm lặn lội tìm đường cứu nước, cứu dân, khi chính quyền đã về tay nhân dân, Hồ Chí Minh không hề gợn lên một suy nghĩ nhỏ nào về hưởng thụ. Sau khi giành được độc lập, Người đã cùng Trung ương Đảng, Chính phủ đưa chính quyền nhân dân non trẻ vượt qua bao thác ghềnh, gian khó. Nếm mật, nằm gai, lội suối ngủ rừng, tiếp tục lãnh đạo nhân dân đánh thắng hai cuộc chiến tranh của thực dân, đế quốc. Trong điều kiện hòa bình, với cương vị Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Người vẫn giữ gìn lối sống trong sạch, giản dị, vì nước, vì dân.

b) Tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc; “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”

Trước thời cơ giành độc lập, Người quyết tâm: “dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc”.

Sau khi giành được chính quyền và trong suốt 24 năm lãnh đạo đất nước, Người luôn luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để giữ gìn và bảo vệ nền độc lập ấy.

Trước chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người có sức lan tỏa mạnh mẽ, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc chiến đấu vì độc lập, tự do và giành được thắng lợi vẻ vang.

c) Tất cả vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, không dành riêng cho cá nhân và gia đình

Trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”[22].

Trong bản Di chúc, Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[23].

IV. HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ NĂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG, HẾT SỰC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1. Quán triệt tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh “trung với nước, hiếu với dân”, nâng cao nhận thức về ý thức trách nhiệm, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong cán bộ, đảng viên, công chức

– Giáo dục đạo đức trước hết là tác động vào nhận thức, tạo ra ý thức đạo đức đúng đắn, qua đó mỗi người tự giác thực hiện để có hành vi đạo đức phù hợp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những phẩm chất đạo đức cơ bản của người cán bộ cách mạng, tiêu biểu nhất là “trung với nước, hiếu với dân”. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trước hết cần quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người, để vận dụng và làm theo.

– Học tập và làm theo tư tưởng “tận trung với nước, tận hiếu với dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là mỗi người phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của đất nước, của dân tộc, đặt độc lập dân tộc, chủ quyền và lợi ích quốc gia lên trên hết và trước hết. ý thức hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của mỗi người phải được thể hiện trong hành động đem hết tài năng, sức lực cống hiến cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho sự phát triển của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

– Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, mỗi cán bộ, công chức phải hoàn thành nhiệm vụ, chức trách của mình theo đúng pháp lệnh công chức. Biểu hiện cụ thể là làm tốt những công việc hàng ngày, nhất là những việc liên quan trực tiếp tới đời sống của người dân.

– Để nâng cao ý thức trách nhiệm, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân cần kiên quyết đấu tranh, phê phán những quan niệm và biểu hiện sai trái. Đó là sự lầm lẫn giữa quyền uy được tổ chức giao phó với quyền lực cá nhân. Sự lẫn lộn đó dẫn tới cơn khát quyền lực, chạy quyền, mua quyền, bán quyền, lộng quyền, cửa quyền, tham quyền cố vị. Khi có quyền mà thiếu lương tâm sẽ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân, đục khoét dân, ăn của đút, “dĩ công vi tư”. Lúc sinh thời Bác Hồ đã cảnh báo: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”[24].

2. Cụ thể hóa ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương

– Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, mỗi người, dù ở cương vị nào cũng cần phải tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức. Người đã có nhiều lời dạy rất cụ thể về đạo đức của các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội… Những lời dạy của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị và cần được cụ thể hóa trong điều kiện mới.

– Cơ sở để vận dụng, cụ thể hóa những lời dạy của Bác với các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội là đường lối, quan điểm, giải pháp… đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Đó là đảm bảo quyền làm chủ của dân “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, thực hiện đường lối quần chúng “gần dân, học dân, gắn bó với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, thực hiện được nhiệm vụ của người cán bộ “nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, đảm bảo dân sinh, nâng cao dân trí”. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, dù làm việc ở vị trí nào cũng đều cần quán triệt những quan điểm chung đó.

– Cần cụ thể hóa tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân thànhcác nhiệm vụ trên từng vị trí công tác, từng loại công việc. Thấm nhuần, quán triệt sâu sắc tư tưởng và tấm gương vì nước quên mình, vì nhân dân phục vụ của Bác Hồ để vận dụng, cụ thể hóa nội dung những lời dạy của Bác đối với ngành, địa phương, giới mình trong điều kiện mới, gắn với hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị.

3. Kết hợp chặt chẽ giữa tổ chức, hướng dẫn với động viên, kiểm tra, giám sát việc làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

– Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hướng vào việc nâng cao vai trò tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Vì vậy, cần động viên, khuyến khích, hướng dẫn mọi người, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, công chức tự giác đề ra chỉ tiêu phấn đấu “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh”. Trong đợt học tập chủ đề “Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của năm nay, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức công tác ở mọi cấp, mọi ngành, nhất là các cán bộ lãnh đạo chủ trì, chủ chốt, cần xây dựng kế hoạch của mỗi cá nhân học tập và làm theo Bác với những việc làm cụ thể, định kỳ báo cáo trước chi bộ, cơ quan, đơn vị.

– Để hỗ trợ mỗi cá nhân thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi tập thể đảng, chính quyền, đoàn thể xây dựng các chương trình hành động, giúp đỡ, giám sát và kiểm tra việc tự giác làm theo. Định kỳ yêu cầu các cá nhân báo cáo những việc đã làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

4. Phát huy vai trò nêu gương trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

– Một trong những nguyên tắc thực hành đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải nêu gương về đạo đức. Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người đều phải nêu gương về đạo đức. Ông bà nêu gương cho con cháu, cha mẹ nêu gương cho con, anh chị nêu gương cho em, đảng viên nêu gương cho quần chúng… Phát huy vai trò nêu gương trong thực hành đạo đức có ý nghĩa to lớn không chỉ trước mắt mà còn mãi mãi lâu dài về sau.

– Trong phạm vi xã hội, việc nêu gương về đạo đức của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo các cấp, có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, nhân dân ta đã có câu nói rất hay và rất đúng là “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Theo yêu cầu đó của dân, trong Đảng và hệ thống quản lý nhà nước, việc lãnh đạo đi trước, làm trước để đảng viên, quần chúng, nhân dân đi sau, làm theo có ý nghĩa rất quan trọng. Việc nêu gương về đạo đức không chỉ là sự vận động mà phải trở thành những quy định, sự ràng buộc trách nhiệm để mỗi người đều tự giác và cần phải thực hiện. Các cấp, các ngành cần chủ động ban hành các quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo trước nhân viên; cán bộ, đảng viên trước quần chúng.

Mục lục

Chú dẫn của Nhà xuất bản

I. Sự cần thiết nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

III. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

IV. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong giai đoạn hiện nay

Chịu trách nhiệm xuất bản: Ts. Nguyễn Duy Hùng
Chịu trách nhiệm nội dung: Ts. Hoàng Phong Hà
Biên tập nội dung: TS. Trịnh Đình Bảy, Phí ngọc Nội
Trình bày bìa: Phạm Thuý Liễu
Chế bản vi tính: Nguyễn Thị Hằng
Sửa bản in: Phòng biên tập kỹ thuật
Đọc sách mẫu: Phí Ngọc Nội

CTQG-2009


[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.6, tr.171.
[2]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.280.
[3]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.7,tr. 480.
[4]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr.285.
[5]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr. 185.
[6]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.212.
[7]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.346.
[8]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.3, tr.557.
[9], 2. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.56, 152. 3. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 243.
[10]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 294.
[11]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.185.
[12], 2. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 246, 297. 3. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.555. 4. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.89.
[13]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.249.
[14]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.386.
[15]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.7, tr.234.
[16]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.234.
[17]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr.314.
[18]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.3, tr.198.
[19]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.240.
[20]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.161.
[21]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr. 236.
[22]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr. 161.
[23]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.512.
[24]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr. 57.

tuyengiao.vn

Ngành Y tế học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức

Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với GS. Trần Hữu Tước và Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch (người ngồi bên trái). Ảnh: TL - suckhoedoisong.vn

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn hướng tới một chủ nghĩa nhân văn cao cả và trong sáng. Điều đó đã trở thành hoài bão, là mục tiêu và động lực chiến đấu kiên cường và bất khuất của Người. Mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa nhân văn Chủ tịch Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và đi đến giải phóng triệt để con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng con người là gốc của mọi công việc. Mối quan tâm lớn nhất, xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vấn đề con người và sự phát triển con người một cách toàn diện, trong đó xem sức khỏe là vốn quý nhất. Người đưa ra những tư tưởng, quan điểm về sức khỏe, về xây dựng và phát triển ngành Y tế Việt Nam từ những tinh túy văn hóa dân tộc và nhân loại. Trong hệ thống các quan điểm đó, vấn đề về y đức được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Tư tưởng y đức của Người là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình chỉ đạo xây dựng và phát triển nền y học nước ta.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua mấy ngàn năm lịch sử, đã tích lũy được rất nhiều tri thức và kinh nghiệm về nhiều lĩnh vực, trong đó có những tri thức bảo vệ sức khỏe, duy trì và phát triển nòi giống và đã sản sinh ra nhiều danh y nổi tiếng. Tiêu biểu nhất cho các danh y dân tộc là hai đại danh y Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIII) và Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (thế kỷ XVIII). Các danh y đã để lại cho hậu thế của dân tộc một khối lượng tri thức phong phú về y lý, y đức, y thuật và những bài thuốc quý. Cũng trong quá trình xây dựng nền y học dân tộc, các danh y của ta đã khẳng định yếu tố cơ bản, yếu tố gốc của người thầy thuốc là y đức. Làm nghề y là theo phương châm trị bệnh cứu người. Con người phải được đối xử bình đẳng trong chữa trị bệnh.

Sau hơn 20 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được nhiều thành tựu kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới, đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều ưu điểm nhưng những tác động tiêu cực của nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề giữ gìn phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc. Trước thực trạng đó, dưới ánh sáng của nghị quyết các Đại hội Đảng và vận dụng tư tưởng y đức Hồ Chí Minh, ngành Y tế đã tích cực nhạy bén, chủ động đề ra “Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đến năm 2010 và 2020” và đề ra các quy định về y đức và tiêu chuẩn nâng cao y đức, cùng các vấn đề liên quan đến xây dựng và hoàn thiện nhân cách người thầy thuốc trong giai đoạn hiện nay. Đây là những công việc thật hợp lòng dân. Trong phạm vi chuyên đề này, chúng ta cùng chia sẻ với nhau về việc ngành Y tế học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức.

Không có nghề nào lại đi vào đời sống con người một cách sâu sắc và cấp thiết như nghề y, nó đi liền với sự xuất hiện con người và chắc chắn sẽ tồn tại cho đến khi không còn sự sống của loài người trên trái đất này. Cũng không có nghề nào như nghề y mà một lỗi lầm hay một thiếu sót dù nhỏ lại có thể gây nên những tác hại lớn đến sức khỏe và thậm chí đến tính mạng của con người, mà người người mắc lỗi có khi không còn cơ hội sửa chữa, khắc phục được nữa. Đã từ lâu, người ta đã coi nghề y là một nghề quan trọng, đặc biệt, một nghề nhân đạo có quan hệ đến đời sống và tính mạng con người, đến hạnh phúc của từng gia đình, tương lai nòi giống, đến sức khỏe và sự cường thịnh của một dân tộc, của toàn xã hội.

Chính vì vị trí đặc biệt của ngành y, mà hàng ngàn năm trước Công Nguyên, lúc xã hội còn phụ thuộc vào thần quyền, tôn giáo, cả dưới các chế độ nô lệ, phong kiến và tư bản, loài người từ Đông sang Tây đã nêu cao vấn đề y đức. Những lời thơ dân gian, những đạo luật, những điều thuyết giảng trong tôn giáo, những phần thưởng và hình phạt, những điều răn trong triết học và những lời thề của thầy thuốc, những lời dạy của các bậc danh y, những tiêu chuẩn, quy chế và luật pháp về y đức trong hành nghề y, dược… đã được sử dụng trong các thời đại khác nhau để giáo dục và bảo đảm giữ gìn đạo đức người thầy thuốc.

Hippocrate, Ông tổ nghề Y, 377 năm trước Công nguyên đã nêu lên những nội dung cụ thể về y đức trong lời thề mà đến nay từ thầy giáo đến các học sinh trường y, từ bác sĩ đến các nhân viên điều dưỡng, hộ lý đều ghi nhớ:

– “Tôi sẽ cho chế độ ăn uống có lợi cho bệnh nhân phù hợp với bệnh trạng, thể theo quyền hạn và suy xét của tôi, tôi sẽ không cho thuốc giết người, nếu có ai yêu cầu và cũng không khởi xướng một gợi ý như vậy”.

– “Tới nhà ai, tôi cũng chỉ vì quyền lợi của bệnh nhân, sẽ tránh tất cả mọi hành động đồi bại và nhất là những cử chỉ lả lơi trên thân thể nữ giới cũng như nam giới, bất kể người đó là người tự do hay nô lệ”.

– “Những điểm liên quan đến đời sống của người khác, đáng phải bảo mật, mà trong phạm vi hay ngoài phạm vi nghề nghiệp, tôi nhìn thấy hay nghe thấy, tôi sẽ không bao giờ thổ lộ”.

Ở Việt Nam, các bậc danh y như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông đã có những di huấn về y đức quý báu để lại. Hơn 200 năm trước đây, ở nước ta, đại danh y Hải Thượng Lãn Ông đã từng nói: “Suy nghĩ sâu xa, tôi hiểu rằng thầy thuốc là người bảo vệ tính mạng con người: sống chết trong tay mình nắm, phúc họa trong một tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều lĩnh học đòi cái nghề cao quý đó chăng!”. Ông đã nêu lên chín điều răn dạy rất cụ thể và sâu sắc mà thầy thuốc thường gặp, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Cố giáo sư Hồ Đắc Di, một trong những thầy thuốc tiêu biểu của ngành Y tế Việt Nam đã nói với nhiều lớp học viên ngành y: “Trong mọi nghề, có lẽ nghề thầy thuốc và nghề thầy giáo là hai nghề cao thượng nhất: một mang lại sự sống, một mang lại trí tuệ. Cả hai đều đòi hỏi lương tâm trong sáng”.

Kế thừa truyền thống y đức của ông cha ta, tiếp thu tinh hoa y đức nhân loại, trên cương vị là lãnh tụ kính yêu của dân tộc và một nhà văn hóa lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc trau dồi, rèn luyện y đức – đạo đức của người thầy thuốc, người cán bộ y tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng bàn nhiều nhất về đạo đức. Nếu như mọi người đều có thể tìm thấy trong di sản Chủ tịch Hồ Chí Minh những quan điểm, tư tưởng đạo đức phù hợp với mình thì cán bộ, nhân viên ngành y, nhận rõ điều đó nhất. Có thể nói, sau đạo đức của người cán bộ cách mạng nói chung, đạo đức ngành Y được Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn đến nhiều nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng cán bộ, nhân viên ngành Y danh hiệu cao quý và đẹp đẽ nhất: “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”. Đây chính là yêu cầu Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra trong phương châm xử thế, phương châm hành động và phục vụ của các bộ và nhân viên ngành y đối với người bệnh.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong những bức thư gửi Trường Quân y năm 1946, Hội nghị Quân y năm 1948, Trường y tá Liên khu I năm 1949, Hội nghị Y tế toàn quốc năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh đến trách nhiệm, nghĩa vụ và tình thương, lòng bác ái, hy sinh, sự tận tâm phục vụ, tinh thần đoàn kết học tập tiến bộ và ý thức kỷ luật của cán bộ, nhân viên ngành Y.

Cùng với tư tưởng về y đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế tháng 2-1955: “Cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng”.

Trong tình thương yêu, có lẽ không có tình thương yêu nào đầm ấm, sâu sắc bằng tình thương của người mẹ. Trong cuộc sống, không có mối tình nào so sánh được với tình mẫu tử. Người thầy thuốc tận tâm, tận lực cứu sống những người bệnh thập tử nhất sinh cũng được coi như người mẹ tái sinh cuộc sống cho họ.

Từ tấm lòng lương y như từ mẫu mà nảy sinh ra những đức tính cần thiết của người cán bộ y tế như niềm nở, dịu dàng trong tiếp xúc, tận tình, cẩn trọng, chu đáo khi chăm sóc, ân cần, tỉ mỉ lúc dặn dò và trong những trường hợp khó khăn, nguy kịch thì sẵn sàng chịu khó, chịu khổ, hy sinh, quên mình để làm tròn phận sự cứu người. Có tình thương của người mẹ hiền thì người thầy thuốc tránh được những thói xấu như cầu lợi, kể công, phân biệt đối xử giữa giàu, nghèo, sang, hèn, hách dịch, lạnh lùng khi tiếp xúc, qua loa, tắc trách trong phục vụ, đố kỵ, kèn cựa với đồng nghiệp… “Thầy thuốc như mẹ hiền” là cốt lõi của đạo đức ngành y.

Điều làm cho những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có sức thuyết phục và sức cảm hóa rất mạnh là vì Người đã nêu tấm gương sáng chói nhất trong lịch sử nước ta về lòng thương yêu vô hạn đối với nhân dân, về đức hy sinh cao cả, hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, mưu độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc. Đó là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, người Bộ trưởng Y tế đáng kính, chỗ nào có dịch, có bệnh là Ông tìm đến. Phạm Ngọc Thạch đã vượt qua bom đạn, rừng núi vào tận chiến trường với quyết tâm tìm ra phương thức, cách chữa đạt hiệu quả cao đối với đồng bào, chiến sĩ miền Nam và Ông đã hy sinh trên chiến trường ngày 7/11/1968 trong khi thực hiện sứ mệnh cao cả đó. Đó là Giáo sư Tôn Thất Tùng với hai “bàn tay vàng” đã cứu sống biết bao nhiêu người, bằng phương pháp mổ gan không chảy máu nổi tiếng trên thế giới. Đó còn là Giáo sư Đặng Văn Ngữ, người thầy thuốc có công to lớn trong công cuộc chống sốt rét ở nước ta thời chống Pháp và chống Mỹ. Không chỉ bộ trưởng, giáo sư nổi tiếng mới thấm nhuần và hành động theo tư tưởng y đức Chủ tịch Hồ Chí Minh mà trong y tá, hộ lý cũng xuất hiện những người tiêu biểu về y đức, được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận, khen ngợi.

Trên cơ sở học tập, quán triệt tư tưởng “Thầy thuốc như mẹ hiền”, từ kinh nghiệm phục vụ ở các cơ sở khám, chữa bệnh, cố Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đã nêu lên ba yêu cầu ngắn gọn, để cán bộ, nhân viên dễ nhớ, dễ làm theo là:

– Đến, tiếp đón niềm nở,

– Ở, chăm sóc tận tình

– Đi, dặn dò ân cần.

Năm 1979, quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”, Bộ Y tế đã đề ra năm tiêu chuẩn người cán bộ y tế nhân dân để cán bộ, nhân viên toàn ngành dựa vào đó tự rèn luyện và giúp đỡ nhau tiến bộ.

Năm 1982, trong Chỉ thị “Về thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình hằng năm theo thư của Hồ Chí Minh”, Bộ Y tế còn nêu rõ những yêu cầu cụ thể về lòng “thương yêu người bệnh” cho từng loại cán bộ, nhân viên ở các lĩnh vực công tác khác nhau, để việc liên hệ, kiểm điểm và rèn luyện được dễ dàng. Chỉ thị nêu lên những việc cần làm đối với cán bộ, nhân viên từng lĩnh vực của ngành Y tế:

– Đối với cán bộ, nhân viên làm công tác vệ sinh phòng chống dịch, cần khắc phục khó khăn, bám sát thực địa, nắm chắc tình hình, vừa làm đầy đủ và có hiệu quả công tác chuyên môn, kỹ thuật, vừa làm tốt công tác vận động quần chúng, phối hợp với các ngành và các đoàn thể áp dụng các biện pháp vệ sinh, để ngăn ngừa dịch, bệnh, theo dõi, phát hiện và dập dịch nhanh chóng. Đồng thời chống mọi hiện tượng ngại khó, ngại khổ, quan liêu, đại khái, lơ là thiếu cảnh giác, thiếu trách nhiệm.

– Đối với cán bộ, nhân viên ở các cơ sở khám và chữa bệnh, cần phải có thái độ niềm nở, hòa nhã, quý trọng, lễ độ và thông cảm với người bệnh; cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh, cho thuốc, làm các thủ thuật một cách kịp thời, chu đáo, tỉ mỉ, thận trọng, chính xác; tiếp đón, săn sóc về ăn, ở, về vệ sinh trật tự một cách ân cần, chu tất; thực hiện các chức trách, chế độ một cách nghiêm ngặt… Không được có thái độ coi thường, lạnh nhạt, dùng những lời nói xách mé, vô lễ đối với người bệnh và gia đình; không được đùn đẩy, gây phiền hà cho bệnh nhân; không được tùy tiện, qua loa, tắc trách… dẫn đến bỏ sót bệnh, nhầm lẫn, sai sót có hại cho sức khỏe và tính mệnh người bệnh; không được lợi dụng nghề nghiệp, hối lộ, bớt xén thuốc men và tiêu chuẩn lương thực, thực phẩm của người bệnh…

– Đối với cán bộ, công nhân làm công tác dược, cần nhấn mạnh tinh thần tự lực, quyết tâm phấn đấu tạo thêm nguồn nhiên liệu, vật tư, bao bì, thi đua sản xuất, pha chế thuốc men đạt năng suất và chất lượng cao, đồng thời đẩy mạnh phong trào thuốc Nam, đáp ứng được những nhu cầu về phòng bệnh và chữa bệnh của nhân dân, phân phối thuốc đến tay người dùng một cách thuận tiện…, không ỷ lại, chờ đợi, bó tay trước khó khăn; không được chạy theo lợi nhuận mà làm bừa, làm ẩu, thiếu quan tâm đến các mặt hàng cần thiết, đến công thức và tiêu chuẩn chất lượng thuốc; không được móc ngoặc, trao đổi hàng hóa, lấy cắp và tuồn thuốc ra thị trường tự do…

– Đối với các trường đạo tạo cán bộ y – dược, cần đề cao trách nhiệm, khắc phục khó khăn để dạy tốt, học tốt và chăm lo đời sống và điều kiện giảng dạy, học tập. Thầy phải gương mẫu, giáo dục học sinh một cách toàn diện, trò phải chăm học và thường xuyên rèn luyện về đạo đức, về ý thức tổ chức kỷ luật, về tinh thần phục vụ, nhân viên phải bảo đảm các mặt công tác tổ chức và hậu cần… Chống mọi hiện tượng thiếu mẫu mực, những hiện tượng chây lười, vô tổ chức, vô kỷ luật, buông thả về đạo đức và lối sống trong học sinh…

– Đối với cán bộ lãnh đạo và quản lý, lòng thương yêu người bệnh phải được thể hiện ở tinh thần phụ trách cao, ở lề lối làm việc có chương trình, kế hoạch và có biện pháp kiên quyết thực hiện kế hoạch, ở tác phong sâu sát cơ sở, sâu sát quần chúng, tận tụy và hết lòng phục vụ sức khỏe nhân dân, chăm lo giáo dục tư tưởng và đời sống cán bộ, ở tinh thần không ngừng nâng cao trình độ công tác và năng lực lãnh đạo. Đồng thời khắc phục tư tưởng thiếu trách nhiệm, ngại quản lý, lùi bước trước khó khăn, bỏ qua những sai lầm của cán bộ, nhân viên; quan liêu, bảo thủ, trì trệ; thiếu gương mẫu trong công tác, học tập và sinh hoạt…

Những năm gần đây, dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường, y đức trở thành vấn đề bức xúc. Trước tình hình đó, ngành Y tế đã có những chủ trương, biện pháp với quyết tâm xây dựng y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 23/3/1996, Bộ Y tế đã có Chỉ thị số 04-BYT về vấn đề y đức. Tiếp đó, ngày 6/11/1996, Bộ Y tế lại có Quyết định số 2088/BYT-QĐ, 12 điều về y đức.

Có thể nói những qui định về y đức nêu trên được dư luận trong ngành và cả nước ủng hộ. Những điều quy định đó đã giúp cho việc giáo dục, rèn luyện, tự phê bình và phê bình, cũng như cổ vũ phong trào thi đua phấn đấu trở thành những cán bộ, nhân viên, học sinh ưu tú… ở các cơ sở y, dược, các trường đào tạo của ngành.

Đi đôi với những nội dung về y đức đã được cụ thể hóa thành các tiêu chuẩn của người cán bộ y tế, ngành Y tế còn xây dựng các điều lệ, chức trách, chế độ, quy trình kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng… cho các cơ sở điều trị, phòng bệnh, sản xuất và phân phối thuốc. Việc Nhà nước ban hành các điều luật và các văn bản dưới luật về bảo vệ sức khỏe, về môi trường, về hành nghề y, dược đã tạo cơ sở để cán bộ, nhân viên ngành Y tế nâng cao trách nhiệm và y đức.

Bước vào thời kỳ mới, ngành Y tế nước ta có nhiều điều kiện phát triển, đội ngũ cán bộ y tế có nhiều tiến bộ và cống hiến to lớn, nhưng cũng đứng trước những thách thức mới, trong đó có sự xuống cấp về y đức.

Nước ta là một nước nghèo, chậm phát triển và trải qua chiến tranh lâu dài nên để lại những hậu quả nặng nề về sức khỏe cho nhân dân. Những bệnh dịch và bệnh xã hội như sốt rét, lao, bướu cổ… còn đang là mối lo của đất nước, thì những bệnh và tệ nạn của thời đại đã lan tràn đến Việt Nam: bệnh HIV/AIDS, các bệnh nhiễm khuẩn đường tình dục, tai nạn giao thông, bệnh ung thư và tim mạch, bệnh suy dinh dưỡng ở trẻ em, bệnh suy giảm miễn dịch do suy dinh dưỡng… đã trở thành gánh nặng của ngành Y tế nước ta. Trong thời kỳ đẩy mạnh công công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nội dung y đức về cơ bản không thay đổi. Tuy vậy, người thầy thuốc hiện nay đứng trước cơ chế mới phải đấu tranh để giữ vững bản chất nghề nghiệp, bảo vệ sự trong sáng của y đức. Trước những cám dỗ của đồng tiền, trước một đối tượng phục vụ đủ mọi thành phần giai cấp, đủ mọi tầng lớp của xã hội, với mạng lưới y tế Nhà nước và mạng lưới y tế tư nhân song song tồn tại, y đức thực sự đứng trước những thách thức.

Ngành Y tế và người cán bộ y tế phải làm gì để không phân biệt đối xử trước đối tượng bệnh nhân cả giàu lẫn nghèo, người có quyền lực và người dân thường? Tâm lý xã hội cũng có sự thay đổi. Đó là tâm lý những người bỏ tiền đi chữa bệnh, thích thuốc mới, thuốc khó kiếm, tin vào thầy cho đơn thuốc đắt tiền và lấy tiền công đắt và tâm lý muốn giải quyết mọi vấn đề thật nhanh mà không phải chờ đợi thông qua đồng tiền. Tâm lý này đã ảnh hưởng cả đến lớp cán bộ nghèo, người dân nghèo. Nhiều bệnh nhân và gia đình hoàn cảnh khó khăn, do chịu ảnh hưởng của những suy nghĩ trên nên xoay xở, chạy tiền chữa bệnh, lâm vào cảnh khó khăn. Chính vì vậy, đối với mọi người bệnh, y đức đòi hỏi người thầy thuốc phải giữ bản lĩnh của mình, nhìn thẳng vào căn bệnh, vào thể trạng bệnh nhân mà điều trị, không phân biệt giàu, nghèo để có sự quan tâm hơn, kém. Nói chung, không có loại thuốc, loại xét nghiệm nào dùng riêng cho người giàu sang, loại thuốc và xét nghiệm nào dành riêng cho người nghèo khó.  Tuy nhiên, cũng không buộc phải bình quân. Tùy theo hoàn cảnh và điều kiện về ngân sách và thuốc men, người thầy thuốc sẽ dùng sao cho hợp lý với khả năng và đối tượng. Người cán bộ và nhân viên ở cơ sở điều trị còn phải đấu tranh với hiện tượng thu “phí ngầm” với mọi khâu phục vụ (từ tiêm chích đến thay áo, quần…), thiếu nhiệt tình trong khám, chữa bệnh vì không có tiền bồi dưỡng thêm hoặc làm việc qua quýt trong giờ để kéo người bệnh về phòng mạch ngoài giờ, hay thiếu trung thực trong kê đơn, kê nhiều thuốc đắt tiền rồi móc ngoặc với của hàng thuốc để nhận tiền hoa hồng…

Với y tế tư nhân, y đức cũng phải được coi trọng. Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân. Do đó, hiện nay y tế tư nhân hành nghề song song với y tế nhà nước. Điều này tạo thêm thuận lợi cho người dân được khám chữa bệnh, đỡ phải chờ đợi và đi xa, cũng là để góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng điều trị. Lương tâm thầy thuốc và nền kinh tế thị trường, đã thúc đẩy người thầy thuốc tư chăm sóc tốt người bệnh, không ngừng nâng cao trình độ khám, chữa bệnh, có được nhiều tín nhiệm và giữ được mối quan hệ gắn bó với người bệnh. Thực tế đã có không ít thầy thuốc tư trở nên gần gũi với bệnh nhân như người thân, hết lòng chăm sóc họ, thông cảm với những người bệnh nghèo. Nhưng bên cạnh mặt được vừa nêu, y tế tư nhân cũng có những mặt trái, mặt tiêu cực, vi phạm tiêu chuẩn nghề nghiệp và y đức như kê đơn quá mức cần thiết, bán thuốc với giá cao, kéo dài thời gian điều trị (mà dân gian hay mỉa mai là bác sĩ … “nuôi bệnh”) gây khó khăn và tốn kém cho người bệnh. Vì vậy, thầy thuốc tư cần luôn cảnh giác để giữ cho y đức của mình được trong sáng. Cần nhận rõ là giữa họ với người bệnh không chỉ là quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh nhân mà còn là quan hệ giữa người bỏ công lao động và người trả công lao động. Người thầy thuốc tư nhân nhận tiền công khám, chữa bệnh từ người bệnh là đúng, hợp pháp, không vi phạm đạo đức. Vấn đề là ở chỗ đánh giá công lao bỏ ra như thế nào để giữ được y đức và tính giá trị lao động bỏ ra đối với người nghèo, người thuộc diện chính sách như thế nào?

Y tế trên đường hiện đại hóa, ngày càng được ứng dụng nhiều thành tựu khoa học, công nghệ mới vào phục vụ nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị. Cố gắng dùng máy móc để cứu chữa người bệnh, đó cũng là y đức. Nhưng người thầy thuốc có y đức không bao giờ ỷ lại hoàn toàn vào máy móc mà coi nhẹ việc trực tiếp khám bệnh và thăm hỏi bệnh nhân. Vì máy móc dù tinh vi đến đâu cũng không thay thế được người thầy thuốc. Kể cả khi có đủ phương tiện theo dõi người bệnh từ xa, nhưng nếu họ nằm trơ trọi một mình thì cũng là thiếu y đức. Người bệnh có nhu cầu được tiếp xúc, không những lợi cho việc theo dõi bệnh mà còn lợi cho cả tinh thần bệnh nhân. Người y tá lặng lẽ vào buồng bệnh tiêm cho bệnh nhân, rút kim ra rồi đi thẳng, chẳng một lời hỏi han, như vậy chưa thể nói là “Thầy thuốc như mẹ hiền” được.

Trong khám, chữa bệnh, y đức đang đòi hỏi những người cán bộ quản lý ngành phải đi sâu vào thực tiễn khá phức tạp hiện nay để làm tốt hơn việc tổ chức mạng lưới điều trị từ trung ương đến cơ sở, với cán bộ nhân viên và những trang bị cần thiết, hợp lý, thuận tiện, đạt hiệu quả đối với người bệnh và nhân dân. Cần thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách bảo hiểm y tế, miễn giảm viện phí đối với các đối tượng chính sách và người nghèo cũng như các chế độ chính sách đối với cán bộ, nhân viên y tế. Trong lúc chính sách lương của cán bộ y tế chưa được giải quyết thỏa đáng, việc tổ chức dịch vụ và tạo điều kiện cho thầy thuốc làm thêm để tăng thu nhập, cải thiện đời sống là hết sức cần thiết,  nhưng cũng cần phải quan tâm đến vấn đề y đức và lĩnh vực hành nghề y dược tư nhân cũng cần được quản lý chặt chẽ.

Trong sản xuất và phân phối thuốc, y đức cũng có những đòi hỏi bức thiết không thể xem nhẹ. Vấn đề đặt ra là cần có đủ thuốc sản xuất ở trong nước, kể cả biệt dược, giá rẻ hơn so với thuốc nhập khẩu, với mạng lưới phân phối tận xã, phường và những cán bộ, nhân viên tận tình, chân thật quan tâm đến chất lượng, hiệu quả của thuốc, đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu phòng bệnh và chữa bệnh của nhân dân. Đáp ứng yêu cầu này đòi hỏi phải đề cao y đức. Đồng thời phải đấu tranh khắc phục mọi hiện tượng tiêu cực, chỉ biết đến lợi nhuận mà coi thường chất lượng, coi thường hiệu quả, coi thường nguyện vọng và lợi ích của người bệnh. Việc cho nhập khẩu tràn lan một số thuốc, nhất là biệt dược giá cao gấp một, hai chục lần những thứ thuốc mà trong nước đã sản xuất được có đủ khả năng phân phối là một việc làm vi phạm y đức.

Tư tưởng “Thầy thuốc như mẹ hiền” được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên và khẳng định nhiều lần ngay trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ đó đến nay, ngành Y tế nước nhà, những chiến sĩ áo trắng nhất quán trong việc học tập, vận dụng lời căn dặn của Người. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về y đức đang soi đường và chắp cánh cho đội ngũ cán bộ y tế nước ta vượt qua mọi khó khăn và thử thách, nắm vững vận hội, vượt qua thách thức, góp phần đưa nước ta tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh…

Nghề Y là một nghề cao quý, được xã hội tôn vinh, những người thầy thuốc phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện y đức mới thực hiện được lời dạy của Bác. Đối với cán bộ y tế cả nước nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng, tư tưởng của Bác về y đức vừa là hệ thống lý luận gắn liền với thực tiễn dễ đi vào lòng người, rất dễ nhớ, dễ làm đồng thời còn là những lời dạy bảo thân thương, chân tình mà mỗi người đều thấm nhuần. Vì vậy, trong thời kỳ kinh tế thị trường như hiện nay, mỗi cán bộ y tế cần phải nghiên cứu vận dụng y đức vào từng vị trí công tác của mình để tạo điều kiện hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, đó chính là thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với nghề nghiệp, thực hiện lời dạy bảo đồng thời cũng là mệnh lệnh thiêng liêng xuất phát từ trái tim, từ tấm lòng tôn kính đối với Bác Hồ, vị Cha già muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam./.

Trần Thanh Thảo

tiengiang.gov.vn