Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Quyền bình đẳng của phụ nữ – một vấn đề quan trọng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thạc sĩ, Phó chủ tịch Hội LHPN Hoàng Thị Ái Nhiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới là người sớm quan tâm đến vai trò, vị thế của phụ nữ, là một trong những người đi đầu, giương cao tư tưởng chống áp bức và nô dịch phụ nữ.

Trong một bài phát biểu của mình, nhà sử học người Mỹ, bà Giô-xơ-phin Sten-sen đã khẳng định: Trong số những lãnh tụ là nam giới như Tô-mát Giéc-phéc-sơn, Mahatma Găng-đi, Các Mác, Lê-nin, Mao Trạch Đông, Lu-thơ-kinh và Nen-sơn Men-đê-la… Tất cả những lãnh tụ nói trên đều quan tâm sâu sắc đến công lý cho toàn thể xã hội. Song, chỉ có Hồ Chí Minh là đã luôn luôn nói về quyền bình đẳng của phụ nữ…

Còn với chúng ta – những người dân Việt Nam, những người phụ nữ Việt Nam – hơn ai hết, chúng ta hiểu sâu sắc rằng trong suốt quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh cho độc lập tự do, xây dựng chế độ mới, có một tư tưởng xuyên suốt, có một điều luôn thường trực trong tâm khảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu là làm thế nào, làm gì để giải phóng phụ nữ nước ta, để thực hiện nam nữ bình quyền, để quyền lợi của phụ nữ thật sự được tôn trọng, thật sự được bảo đảm.

Vì lẽ đó, cho đến trước lúc đi xa, Người vẫn luôn tâm niệm, dành một phần trong bản Di chúc thiêng liêng để nói về một vấn đề quan trọng là quyền bình đẳng của phụ nữ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phụ nữ có vai trò rất to lớn trong sự nghiệp cách mạng; giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ là một nội dung quan trọng của quyền con người, một nhiệm vụ của cách mạng. Ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong Bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”

Với lực lượng một nửa nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao những đóng góp to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp Cách mạng, Người khẳng định: “Trong lịch sử phát triển của đất nước, ở bất cứ thời kỳ nào, phụ nữ Việt Nam cũng giữ một vai trò rất quan trọng”; “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ!”.

Như vậy, cả về hai mặt pháp lý và đạo đức, quyền bình đẳng của phụ nữ là một nội dung quan trọng của quyền con người. Trong suốt cuộc đời làm cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn canh cánh một nỗi niềm, một nhiệm vụ: Giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ. Người ý thức sâu sắc rằng giải phóng phụ nữ thuộc địa phải gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Là một vị lãnh tụ nói và làm luôn đi đôi với nhau, tư tưởng thống nhất với hành động, Chủ tịch Hồ chí Minh thấu hiểu nổi thống khổ và sự ràng buộc xã hội đối với người phụ nữ; qua đó thức tỉnh họ đứng lên tranh đấu để giành lấy sự bình đẳng; trong công tác phụ nữ Người luôn đòi hỏi ở cả hai phía: Tổ chức Đảng và bản thân người phụ nữ.

Thấu hiểu và thông cảm với phụ nữ, Người luôn quan tâm thức tỉnh, xây dựng cho họ lòng tự tin, niềm tự hào. Người chỉ rõ: “Dưới CNXH, CNCS, người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ đó đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực”. Là một lãnh tụ nói đi đôi với làm, Người đã biến sức mạnh tiềm tàng to lớn của phụ nữ thành động lực mạnh mẽ, thành mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Theo Người, một vấn đề cực kỳ quan trọng là phụ nữ phải được tham gia bình đẳng vào quá trình xây nền kinh tế mới của xã hội; sự tiến bộ của nền kinh tế, văn hóa, xã hội là tiền đề để đi tới giải phóng phụ nữ triệt để.

Không chỉ quan tâm đến quyền bình đẳng của nữ giới trong mọi quan hệ xã hội mà Bác Hồ còn lo cho hạnh phúc của nữ giới trong quan hệ vợ chồng,Bác khuyên chị em ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình để tự đấu tranh giải phóng mình khỏi những ràng buộc phi lý kiểu “chồng chúa vợ tôi”. Bác phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật: “Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong cuộc sống đời thường, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm động viên phụ nữ.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, suốt 40 năm qua, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển một cách toàn diện tư tưởng của Người trong công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; các tầng lớp phụ nữ đã có nhiều cố gắng nỗ lực để hướng tới sự bình đẳng thực chất cho phụ nữ.

Xuyên suốt từ Cương lĩnh chính trị năm 1930 đến Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, vấn đề quyền bình đẳng của phụ nữ tiếp tục được thể chế hoá trong nhiều văn bản Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quan trọng về bình đẳng nam nữ và công tác phụ nữ.

Năm 1981, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Ngày 12/7/1993, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 04/NQ – TW về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Tiếp tục phát triển các quan điểm của Đảng và Bác Hồ, Nghị quyết xác định phụ nữ là “người thầy đầu tiên” của mỗi đời người; phụ nữ có “những đặc điểm riêng…”; để phát huy vai trò của phụ nữ, Đảng ta đã xác định những nhiệm vụ cơ bản: “phát huy trí tuệ phụ nữ”, “tránh khắt khe, hẹp hòi”, cần “thông cảm, giúp đỡ phụ nữ”, “nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ là thật sự thực hiện quyền bình đẳng và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ”… Về phần mình: “phụ nữ cần kết hợp hài hoà công việc gia đình với công tác xã hội”…

Quan điểmấy tiếp tục được thể hiện trong Chỉ thị 37/CT-TW của Ban Bí thư ngày 16/5/1994 về công tác cán bộ nữ; được cụ thể hoá trong “ Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010” do Chính phủ công bố ngày 4/10/1997.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ cụ thể: “Đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳnggiới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng X, tiếp tục cụ thể hóa quan điểm của Đảng đối với việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời kỳ mới, Ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 11/NQ-TW “Về công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Ngày 29/11/2006 Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Bình đẳng giới; ngày 21 tháng 11 năm 2007 Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua Luật Phòng chống bạo lực gia đình. Đây là những văn bản pháp lý có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội, góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về bình đẳng giới, là công cụ pháp lý thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình phấn đấu thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở nước ta.

Bên cạnh những thành tựu về chủ trương, đường lối và luật pháp; về tổ chức bộ máy, lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta có một cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới, có văn bản chính thức giao cho Uỷ Ban các vấn đề xã hội của Quốc Hội phụ trách về Bình đẳng giới; hằng năm Chính phủ có báo cáo với Quốc Hội về thực hiện các mục tiêu quốc gia về Bình đẳng giới. Những thành tựu đó đã ngày càng tạo điều kiện cho phụ nữ bình đẳng về quyền và cơ hội phát triển; phát huy vai trò, khả năng của lực lượng phụ nữ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới của đất nước. Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật của đất nước, sự nghiệp “giải phóng phụ nữ”, “nam, nữ bình quyền”, vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam ngày càng thu được nhiều thành tựu.

Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, thực hiện lời giáo huấn trong Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu, với lòng biết ơn vô hạn, các tầng lớp phụ nữ trên khắp mọi miền của đất nước đã đoàn kết phấn đấu, năng động, sáng tạo phát huy sức mạnh nội lực, giá trị truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam, chủ động, tự tin, đóng góp quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phầnthực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Trong vai trò người vợ, người mẹ, với tấm lòng thuỷ chung, nhân hậu, phụ nữ đã cùng nam giới xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Phụ nữ Việt Nam ngày càng trưởng thành về mọi mặt. Trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, địa vị của phụ nữ trong gia đình và xã hội được nâng lên. Quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng được thực hiện đầy đủ hơn. Đời sống vật chất, tinh thần và sức khoẻ của đại bộ phận chị em được cải thiện.

Là tổ chức đại diện, chăm lo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ Việt Nam, Hội LHPN Việt Nam đã giữ vững vai trò nòng cốt trong phong trào phụ nữ. Bám sát chức năng của Hội, nhiệm vụ chính trị của đất nước, các cấp Hội đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt hơn vai trò đại diện quyền làm chủ của phụ nữ; chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành một số chính sách, luật pháp có ý nghĩa chiến lược về công tác phụ nữ, cán bộ nữ và bình đẳng giới. Các cấp Hội đã tích cực vận động phụ nữ và các tầng lớp phụ nữ sôi nổi hưởng ứng thực hiệnphong trào thi đua yêu nước “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc’’. Đặc biệt, đối vớiCuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh”, hơn 2 năm qua cán bộ, hội viên phụ nữ cả nước đã nỗ lực thực hiện không chỉ bằng trách nhiệm mà bằng cả tấm lòng yêu thương và biết ơn vô hạn đối với Bác. Cuộc vận động đã trở thành một đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa, bước đầu đã tạo được những chuyển biến tích cực trong việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức trong cán bộ, hội viên, xây dựng được phong trào “làm theo” tấm gương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí củaBác bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát, quan niệm bất bình đẳng, tư tưởng trọng nam hơn nữ vẫn tồn tại trong xã hội ta dưới nhiều hình thức, ở nhiều nhóm xã hội khác nhau, kể cả đội ngũ cán bộ, công chức, thậm chí cả trong nữ giới. Giữa chủ trương, chính sách và pháp luật với thực tiễn còn khoảng cách lớn, để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ còn nhiều khó khăn, thách thức. Trong thực tế, phụ nữ đang phải đối mặt với đói nghèo, lạc hậu, thiếu việc làm, sự bất cập về trình độ học vấn, chuyên môn chính là những bước cản trở đến sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ. Ngay tại các bộ, ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp những khó khăn nhất định. Việc bồi dưỡng, phát triển cán bộ nữ còn hạn chế. Tỷ lệ thất nghiệp trong nữ giới có xu hướng cao dần lên trong cả khu vực công và tư; tình trạng bạo lực gia đình mà nạn nhân chủ yếu là phụ nữ vẫn còn cao; tình trạng thất học, bỏ học của các cháu gái ở vùng sâu, vùng xa còn khá phổ biến; khoảng cách giàu nghèo giữa đô thị với nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn khá lớn…

Để tiếp tục thực hiện nội dung quan trọng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ, đồng thời thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, trong thời gian tới, cần tiếp tục có sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động trên lĩnh vực xã hội và bình đẳng giới; sự nỗ lực của toàn dân và của phụ nữ.

Từ diễn đàn hội thảo này, chúng tôi mong muốn Đảng và Nhà nước, tiếp tục lãnh đạo, thể chế hoá những quan điểm về bình đẳng giới thông qua các chính sách, pháp luật; tiếp tục hoàn thiện các chính sách có liên quan đến vấn đề bình đẳng giới. Đề ra các giải pháp hữu hiệu để đưa Nghị quyết, chính sách, pháp luật vào cuộc sống; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao hơn nữa nhận thức của toàn xã hội về bình đẳng giới; tăng cường sự tham gia của cán bộ nữ vào bộ máy các cơ quan lãnh đạo các cấp; định kỳ hàng năm kiểm tra việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

Về phần mình, Hội LHPN Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, tổ chức các hoạt động thiết thực phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của phụ nữ và nhiệm vụ chính trị được giao. Chú trọng nâng cao năng lực của đội ngữ cán bộ các cấp để thực hiện tốt hơn vai trò đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ. Tăng cường tham mưu cho Đảng có những chính sách cụ thể, kịp thời động viên khuyến khích chị em vươn lên đảm nhận trách nhiệm trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhân kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cấp Hội tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người trong cán bộ, hội viên phụ nữ cả nước; đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh” trong cán bộ, hội viên phụ nữ bằng những việc làm cụ thể thiết thực.

Với tất cả lòng thương yêu và biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu, tưởng nhớ Bác, cán bộ, hội viên phụ nữ cả nước quyết tâm đoàn kết, phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đóng góp tài năng, sức lực trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu bình đẳng, phát triển của phụ nữ, xứng đáng với niềm tin yêu và lòng mong muốn của Bác Hồ.

phunu.hochiminhcity.gov.vn

Những mẩu chuyện về Bác Hồ với phụ nữ

Cẩm Chương
(Ghi theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ)

Bình sinh, Bác Hồ là người luôn quan tâm đến phụ nữ và phong trào phụ nữ. Nhân kỷ niệm 110 nǎm ngày sinh của Người, phóng viên báo Phụ nữ Việt Nam đã tới gặp bác Vũ Kỳ – thư ký riêng của Bác Hồ nǎm nay đã trên 80 tuổi. Để ghi lại những mẩu chuyện về Bác Hồ với phụ nữ, Bác Hồ với vấn đề phê bình và tự phê bình, vấn đề xây dựng chỉnh đốn Đảng.

Phụ nữ muốn được bình đẳng không phải bảo Đảng và Chính phủ hay nam giới giải quyết mà phải tự đấu tranh phấn đấu giành lấy“.

Thường hay được đi với Bác, đến đâu tôi cũng thấy Bác quan tâm hỏi về phụ nữ. Một lần, tới một hội nghị, nhìn suốt dọc hội trường Bác hỏi: “Này các chú, phụ nữ đâu mà không thấy phụ nữ ngồi hàng đầu?” Rồi Bác lại hỏi tiếp “Các cô gái có đấy không? Có ạ. “Vậy mời lên đây ngồi. Ngay việc ngồi cũng không bình đẳng. Phụ nữ muốn được bình đẳng không phải bảo Đảng và Chính phủ hay nam giới mời lên ngồi mới ngồi mà phải tự đấu tranh phấn đấu giành lấy”. Đó chính là lời cǎn dặn cũng như mong muốn của Bác Hồ đối với phụ nữ bởi đối với phụ nữ bao giờ Bác Hồ cũng dành sự quan tâm nhiều nhất. Thường khi đi tới đâu hoặc làm việc gì Bác Hồ cũng nói đến phụ nữ và phong trào phụ nữ. Bác thường nhắc: lực lượng phụ nữ không nhỏ, có khi số lượng còn đông hơn nam giới vì thế khi giải quyết việc gì trong dân, điều quan trọng là phải làm như thế nào đối với phụ nữ. ở Việt Nam, châu á, châu Phi, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ rất rõ rệt. Phụ nữ Việt Nam có hoàn cảnh đặc biệt hai lần bị bóc lột: Đế quốc và ý thức hệ phong kiến với “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” đã đè nặng lên người phụ nữ.

Bác Hồ luôn nhấn mạnh như vậy. Vì thế mọi đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ bao giờ cũng chú ý đến phụ nữ. Trong di chúc của Bác Hồ cũng có những đoạn riêng viết về phụ nữ: “Tháng 5-1968, khi tôi xem lại thư này, tôi thấy cần viết thêm mấy điểm. Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước; phụ nữ đảm đang đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là một cuộc cách mạng”.

Thẳng thắn phê bình nhưng vẫn giữ tình đồng chí thương yêu

Bác nhắc đến phụ nữ thường nhắc đền quyền bình đẳng vì vậy hiện nay nếu Bác còn, ngay trong cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng, chắc Bác cũng sẽ đặt ra: Giới phụ nữ sẽ phải làm gì? Trách nhiệm ra sao? Bác chú ý đến quyền lợi song cũng chú ý đến trách nhiệm của phụ nữ vì vậy phụ nữ cũng nên tìm lấy cái gì trong cuộc vận động này và nên làm thế nào cho tốt. Khi đi thǎm các nước, Bác thường nói với phụ nữ các nước đó: Phụ nữ Việt Nam làm được nhiều việc cho đất nước, phụ nữ Việt Nam thay thế nam giới thực hiện phục vụ cho chiến đấu, sản xuất. Đặc biệt, khi làm chủ nhiệm hợp tác xã (HTX), phụ nữ làm tốt hơn nam giới, cần cù hơn, không lãng phí, không đánh chén. Có lần tại một hội nghị cấp huyện Bác hỏi: ở đây có Hải Phòng không? Có ạ. Hợp tác xã các chú làm thế nào mà phải sang HTX khác mượn lợn để lừa dối cấp trên? Có không? Có ạ. Vậy không nên làm như thế nữa. Lúc đó, gần tết, Bác hô hào kêu gọi tiết kiệm. Bác nói: “Các chú phải có vǎn hóa không được đánh vần chữ “tiết kiệm” thành “tiết canh”. Phụ nữ người ta làm chủ nhiệm đâu có đánh chén. Chủ nhiệm phụ nữ thật thà, phải đưa nhiều phụ nữ tham gia làm chủ nhiệm. Lúc nào, ở đâu, Bác cũng nhắc, liên hệ đến phụ nữ. Vì vậy trong cuộc vận động này, phụ nữ phải tham gia thúc đẩy làm tốt. Trong di chúc Bác Hồ đã viết: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là phải chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi Đảng viên, mỗi Đoàn viên; mỗi Chi bộ…”. Hiện nay, Đảng ta thực hiện xây dựng chỉnh đốn Đảng là thực hiện di chúc của Bác. Tôi tin phụ nữ cũng sẽ là lực lượng tiên phong thực hiện. Muốn chỉnh đốn Đảng tốt là phải phê bình và tự phê bình. Một lần được ǎn cơm với Bác, tôi có hỏi: Thưa Bác không hiểu tại sao cháu ở với Bác lâu, Bác chưa hề cáu gắt mà cháu lại hay cáu gắt với anh em. Bác trả lời luôn: “Chú ở với Bác lâu, Bác cũng ở với chú lâu nhưng có bao giờ thấy chú gắt với Bác đâu. Sở dĩ chú cáu gắt là vì chú chưa tôn trọng đầy đủ với anh em”.

Đúng là tôi chưa dám cáu gắt với cấp trên bao giờ. Sau đó Bác còn nói thêm: Chú thấy bánh ga tô có ngon không. Dạ rất ngon: Thế mà Bác thấy chú ǎn no, Bác mới mang ra, chú có thấy ngon không? Dạ bớt ngon. Nếu Bác nhét vào mồm chú, chú còn thấy ngon không? Dạ hết ngon. Phê bình cũng vậy, phải đúng lúc, đúng chỗ, đúng cách thì mới giải quyết được. Bản thân Bác trong lúc làm việc cũng rất lắng nghe, chấp nhận sự góp ý của mọi cộng sự. Cụ thể có lần (nǎm 1968), Ban Tuyên huấn chuẩn bị cho Bác bài báo viết về việc nâng cao đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân để đǎng trong dịp kỷ niệm. Sau nhiều lần Bác sửa, đến khi chuẩn bị in có ý kiến đề nghị Bác đảo lại tít bài “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” vì Đảng viên nói chung là tốt, Bác chấp nhận đảo lại tiêu đề mặc dù Bác vẫn hỏi: ở nhà vợ con các chú mua tủ mới, trước khi kê vào phải quét dọn phòng vậy phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân thì đạo đức cách mạng mới đến được chứ. Điều này nếu mang áp dụng vào cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng thật là đúng bởi mỗi Đảng viên phải gạt bỏ được cá nhân của mình thì mới có thể tiến bộ được. Bác nói phải phê và tự phê bình song vẫn khẳng định “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta” và nǎm 1966 Bác còn viết thêm trong di chúc: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” – về việc này phụ nữ thực hiện tốt hơn. Tuy nhiên, Bác cũng nói: phụ nữ ta thường tự ti, có thói quen rụt rè không dám đấu tranh. Phụ nữ là đảng viên cũng mang thói quen đó vào. Bởi thế, trong cuộc vận động này, phụ nữ phải cố gắng để xứng đáng với sự quan tâm, tin yêu mà Bác đã dành cho.

Chúng ta biết Bác là người sáng lập Đảng, rèn luyện Đảng nên vững mạnh. Bác nhắc: “Toàn tâm toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ Tổ quốc thì Đảng mới lãnh đạo được, dân mới noi theo. Người dân có câu: “Đảng viên đi trước làng nước theo sau” là như vậy. Nǎm nay là nǎm 2000, là nǎm chúng ta kỷ niệm lần thứ 110 ngày sinh của Người càng nhớ về Người càng phải cố gắng làm theo lời Người dặn, cố gắng làm theo cách Người làm.

Báo Phụ nữ Việt Nam, ngày 15/5/2000

govap.hochiminhcity.gov.vn

Bác Hồ với phong trào phụ nữ “ba đảm đang”

Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao tinh thần yêu nước và sự đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Từ thân phận người nô lệ, phụ nữ đã vùng lên làm cách mạng, tham gia vào cuộc đấu tranh chung, trở thành người chủ thực sự, có quyền lợi, có trình độ văn hóa và địa vị xã hội. Hòa trong công cuộc cách mạng lớn của dân tộc, phong trào thi đua của phụ nữ việt Nam đã phát triển sâu rộng chưa từng thấy trong công cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ.

Đặc biệt khi đế quốc Mỹ dùng mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ, tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, mở rộng chiến tranh, dùng máy bay đánh phá miền Bắc. Người người đều căm giận tội ác tày trời của đế quốc Mỹ đối với nhân dân việt Nam. Phong trào chống Mỹ sục sôi trong cả nước.

Tháng 3 năm 1965 (nhân dịp kỷ niệm lần thứ 15 Ngày toàn quốc chống Mỹ: 3/1950 -3/1965) Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam kêu gọi phụ nữ toàn quốc khắc sâu lòng căm thù đế quốc Mỹ, biến căm thù thành quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, Trung ương Hội đã phát động phong trào “Ba đảm nhiệm” trong phụ nữ toàn miền Bắc với nội dung:

1. Phụ nữ đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho chồng con đi chiến đấu.

2. Phụ nữ đảm nhiệm việc gia đình cho chồng, con, anh em tòng quân và phục vụ lâu dài trong quân đội.

3. Phụ nữ đảm nhiệm phục vụ chiến đấu, tham gia dân quân tự vệ, tập luyện quân sự để sẵn sàng chiến đấu; phục vụ bộ đội, công an, dân quân tự vệ khi chiến đấu.

Quan tâm tới phong trào thi đua yêu nước của các tầng lớp nhân dân, Bác Hồ rất chú ý phong trào của chị em phụ nữ, Người đã chỉ thị sửa từ “Ba đảm nhiệm” thành “Ba đảm đang” đúng với bản chất của người phụ nữ trong gian khó. Lần đầu tiên phong trào “Ba đảm đang” được Bác viết trong văn bản “Lời kêu gọi nhân ngày 20-7-1965”, khuyến khích chị em thực hiện thật tốt phong trào này, để làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng “Chống Mỹ cứu nước”.

Phong trào “Ba đảm đang” từ ngày ấy được phát triển, thực sự là một phong trào cách mạng sâu rộng, đi đến mọi nhà lôi cuốn mọi tầng lớp phụ nữ tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Những giá trị tinh thần, những đóng góp to lớn của phụ nữ trong phong trào “Ba đảm đang” của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ được thể hiện trong chiến đấu, trong lao động và cuộc sống hàng ngày. Một cuộc chiến hết sức gay go quyết liệt với tên đế quốc có tiềm lực kinh tế mạnh nhất thế giới. Trong lịch sử Việt Nam chưa có thời kỳ nào lực lượng phụ nữ lại có cả bà già, phụ nữ có con nhỏ tham gia phong trào chiến đấu, phục vụ chiến đấu đông đảo như cuộc kháng chiến này. Ý thức được nghĩa vụ chống Mỹ cứu nước, ở hậu phương, chị em đều đảm đang việc gia đình, thay thế chồng con sản xuất và trực tiếp chiến đấu. Ban ngày các chị tay cày, tay súng, tối về lo việc nhà, dạy dỗ con thơ. Nhiều tấm gương của chị em đã được cả nước biết đến như các trung đội nữ dân quân bắn rơi máy bay Mỹ ở huyện Hậu Lộc, huyện Tĩnh Gia, huyện Hoằng Hóa, huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa; huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình…và đã được Bác Hồ gửi thư khen.

Đó là gương chị La Thị Tám – người con gái sông La, tỉnh Hà Tĩnh tham gia bảo vệ an toàn cho những con đường huyết mạch trong tỉnh, trực tiếp quan sát, dũng cảm cắm tiêu hàng trăm quả bom nổ chậm. Chị Nguyễn Thị Thứ, nữ dân quân ở Hậu Lộc, Thanh Hóa cùng chị em bắn rơi ba máy bay Mỹ… Biết bao tấm gương không thể kể hết của các chị từng một mình nuôi mẹ già, chăm sóc con nhỏ để chồng đi chiến đấu xa mà vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Các chị xứng đáng là những Anh hùng trong thời đại anh hùng, thể hiện nét đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam đoàn kết, yêu nước, thương nhà.

Trong kháng chiến chống pháp, ngày 8-3-1952 tại chiến khu Việt bắc, Bác Hồ đã kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ Quốc. Tỏ lòng biết ơn các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ, Người nói: “Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng”. Trong kháng chiến chống Mỹ, phát biểu tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (19-10-1966), Người đánh giá :“phong trào “Năm tốt” của phụ nữ miền Nam, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ miền Bắc là phong trào yêu nước nồng nàn và rộng khắp, lôi cuốn đông đảo phụ nữ hai miền thi đua sản xuất, phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu, góp phần to lớn vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của toàn dân… Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật anh hùng”.

Tin tưởng vào khả năng và lòng hy sinh dũng cảm của phụ nữ Việt Nam, Bác luôn động viên chị em phát huy truyền thống yêu nước của Hai Bà Trưng, Bà Triệu để tự hào, noi gương, phấn đấu. Bác gửi thư khen, tặng huy hiệu, tổ chức gặp gỡ các mẹ, các chị, các nữ dân quân, du kích bắn rơi máy bay Mỹ. Có khi Bác trực tiếp, tự tay trao huy hiệu của Người cho phụ nữ có nhiều thành tích trong phong trào “Ba đảm đang” của Thủ đô (2-12-1965). Bác đã trao tặng cho phụ nữ Việt Nam danh hiệu vinh dự “Phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang, chống Mỹ cứu nước”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác kính yêu, phát huy sức mạnh tổng hợp, cùng với các phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai” trong công nhân, nông dân; phong trào “Ba sẵn sang” trong thanh niên, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ… một thời đã góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

45 năm đã trôi qua, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ đã được ghi nhận là một mốc son trong lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam, một phong trào đã có tác dụng vận động to lớn trong một giai đoạn lịch sử dân tộc. Ngày nay phát huy phong trào của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước, chị em luôn ghi nhớ lời dạy và sự quan tâm của Bác, chú ý nâng cao trình độ, tham gia công tác xã hội, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích cực tham gia các phong trào do Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam phát động.

Nguyễn Thị Nhi

hoilhpn.org.vn

Di chúc Hồ Chí Minh – Vấn đề giải phóng phụ nữ và phát triển bền vững

Vượt lên các nhà cách mạng cùng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ ở nước ta. Người đã thức tỉnh phụ nữ giải phóng chính mình, tham gia giải phóng dân tộc. Ngay từ rất sớm Bác luôn cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai.

Người xác định rõ, bất bình đẳng nam nữ không đơn thuần là bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng lạc hậu mà chủ yếu là do chế độ kinh tế xã hội. Cả cuộc đời hoạt động của Người, đi đôi với “nói và làm” Bác kêu gọi và “Thực hiện nam nữ bình quyền”, coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Trước lúc đi xa, di chúc để lại Bác còn căn dặn toàn Đảng, toàn dân: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.”(1)

Mỗi lời trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, cho các Đảng anh em và cả nhân dân thế giới là những lời căn dặn, những tình cảm, niềm tin của Bác đối với mỗi chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau. Di chúc Bác thể hiện toàn diện, nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh; đoạn trích trên chỉ 86 chữ, Bác vừa ghi nhận công lao của phụ nữ trong suốt chặng đường đấu tranh giành độc lập; vừa căn dặn “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực và bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên” đồng thời chỉ rõ “Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.

Lịch sử của dân tộc, tuy phải trải qua hơn nghìn năm bị các triều đại phong kiến phương Bắc xâm chiếm, dân tộc ta đã không ngừng đấu tranh: Trước là giành độc lập chủ quyền, sau là bảo vệ truyền thống, không để bị đồng hóa với Hán tộc. Dù ra sức giữ gìn, song sự tiếp cận và giao thoa nền văn hóa chúng ta vẫn khó tránh ảnh hưởng tư tưởng phong kiến của Trung quốc, đặc biệt tư tưởng của Khổng giáo với thuyết Chính danh một học thuyết chủ trương xây dựng chế độ xã hội theo một tôn ti trật tự nghiêm ngặt, với nhiều luật lệ hà khắc, nô dịch, khống chế mọi quyền tự do và bình đẳng của phụ nữ. Người phụ nữ bị ràng buộc suốt đời bởi lễ giáo: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (tại gia đình nghe lời cha, đi lấy chồng theo và nghe chồng, nếu chồng chết thì theo và nghe con); rồi quan niệm nối dõi tông đường, duy trì dòng giống là con trai, “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một con trai xem như có, mười con gái cũng như không). Coi con gái là “nữ sinh ngoại tộc”; Thuyền theo lái, gái theo chồng; sinh con gái, mất cả con và sau này là mất cả họ (con cái mang họ cha). Đạo Khổng coi phụ nữ là “tiểu nhân”, “nan hóa”, khó thể cải đổi, không học chữ được, cho nên nhiều người không cho con gái đi học, họa hoằn có cho thì cũng hạn chế chỉ nhằm mục đích “trang trí” …

Hơn 80 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, chế độ thuộc địa đưa việc học văn minh phương Tây vào cũng chỉ nhằm đào tạo một lớp tay sai phục vụ thực dân, nhãn hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” không mang lại cho phụ nữ sự tiến bộ nào hơn ngoài đẩy một bộ phận phụ nữ Việt Nam phải rời khỏi gia đình gia nhập đội quân lao động ở các xưởng máy hay những đồn điền cao su tăm tối, bị bóc lột, chà đạp nhân phẩm, thậm chí số ít bị tha hóa với sự gia tăng các tệ nạn xã hội.

Được sinh ra trong gia đình Nho học, lớn lên trong hoàn cảnh Tổ quốc bị xâm lược, đồng bào bị đày đọa dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, lòng nhân ái của Người đã sớm trỗi dậy mãnh liệt, khi chứng kiến cảnh nhân danh những người đi “khai hóa văn minh cho An Nam” bạo tàn đến mức Bác phải thốt lên “Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác trắng trợn đến thế, Không phải chỉ có những cuộc khám nhà hàng loạt, liên tục, mà còn có những cuộc khám xét thân thể người bản xứ bất kể ở chỗ nào, bất kể là nam hay nữ. Nhân viên nhà đoan (Sở thuế vụ – NV), vào nhà người bản xứ, bắt đàn bà, con gái cởi hết áo quần trước mặt chúng, và khi họ đã trần truồng như nhộng thì chúng giở trò dâm đãng kỳ quặc đến mức đem cả con dấu nhà đoan đóng lên người họ.” (2)

Với Bác trong cảnh tình “Thưở đất nước đắm chìm trong tăm tối”(3). Cứu nước là tiếng gọi thống thiết của non sông, và từ rất sớm Bác thấy rõ “Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi.” (4)

Khi hoạt động ở hải ngoại, để chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức và phương pháp đấu tranh cách mạng cho đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam là các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (1925-1927), Đường kách mệnh tác phẩm tập hợp các bài giảng của Người đặt cơ sở cho việc hình thành đường lối và phương pháp của cách mạng Việt Nam theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, dẫn lời C.Mác, Bác viết rằng: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào?”. Dẫn lời Lê-nin, Bác viết: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”; Người không chỉ thấy cần thiết phải giải phóng phụ nữ khỏi bất công mà còn nhìn ra sức mạnh tiềm tàng ở chính trong phụ nữ “Những lời ấy không phải câu nói lông bông. Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia”(5).

Cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân; trong tuyên ngôn độc lập đọc tại Quảng trường Ba đình lịch sử ngày 02/9/1945 Bác đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới, quốc dân và đồng bào “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(6). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Bác đã dẫn câu nói đó từ Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ.

Nói như vậy đúng nhưng chưa đủ, bởi vì nếu đọc lại Tuyên ngôn độc lập Mỹ 1776(7) và Hiến pháp Mỹ năm 1787 cho thấy “all men” trong tuyên ngôn độc lập Mỹ chỉ là những người đàn ông da trắng, theo đạo Tin Lành có tài sản mới được bầu cử;tiêu chuẩn sở hữu này chấm dứt vào đầu thế kỷ 19 và tới năm 1920 phụ nữ mới giành được quyền bầu cử, tức là sau 144 năm giành độc lập phụ nữ Mỹ mới được quyền đi bầu bởi tu chính hiến pháp lần thứ 19: “Quyền bầu cử của các công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế bởi Liên bang hoặc bất cứ bang nào với lý do giới tính”. Đối với người Mỹ da đen thì tới phong trào đòi quyền dân chủ diễn ra vào những năm 1960 mới giành được quyền bầu cử đầy đủ và đến 1971 các công dân trẻ tuổi mới được trao quyền bầu cử khi Hoa Kỳ hạ tuổi bầu cử từ 21 xuống 18 tuổi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với phụ nữ các dân tộc.

Trong khi “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam Dân chủ cộng hoà bao gồm tất cả các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự phát triển sáng tạo khi tiếp thu Tuyên ngôn độc lập Mỹ, và điều đó không chỉ là lời nói mà là bằng chỉ đạo, lãnh đạo và thực tiễn, ngày 06/01/1946 mọi công dân Việt nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc đều đã “phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín” để bầu ra quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, và chính quốc hội này đã soạn thảo, thông qua hiến pháp năm 1946, Bản “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”.(8)

Không chỉ bình đẳng về chính trị, mà còn từ thực tiễn sinh hoạt của cuộc sống xã hội, trong tài liệu tuyên truyền thực hành đời sống mới Bác nói “Việc đời không gì khó, chỉ sợ chí không bền”. Bác đã chỉ ra “Chồng đánh chửi vợ, cha mẹ đánh chửi con, là điều rất dã man”(9). Bằng sự trân trọng, thương yêu, Bác xác định “Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi.”(10); Người còn nói “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ. Hiến pháp và pháp luật của nước ta đã quy định rõ điều đó – Người ví dụ:
Hiến pháp điều 24 nói: Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình…v.v. .”

Bác lên án những hành vi bạo hành trong gia đình như:

“Ở Lương Yên (Hà Nội) trong 196 gia đình, thì có 26 người chồng thường đánh mắng vợ, có người đánh vợ bị thương. Ở khu Hai Bà Trưng, có người chỉ vì thức ăn không vừa ý, đã hất cả mâm cơm vào mặt vợ. Có người vợ ốm, chồng để mặc, không săn sóc trông nom. Ở xã Quảng Lưu (Thanh Hoá), có người nhét tro vào miệng vợ và đánh vợ què tay. Có người cạo trọc đầu và lột hết áo quần vợ, rồi giong vợ đi bêu khắp thôn xóm…
Những cử chỉ tàn nhẫn dã man như vậy vừa là phạm pháp luật Nhà nước, vừa trái với tình nghĩa vợ chồng..

Để chống bạo hành, ngược đãi, thật sự bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Bác vừa bày vẽ vừa hướng dẫn cho các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội:

“- Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên phải phụ trách tuyên truyền và giáo dục một cách rộng khắp và bền bỉ cho mỗi gia đình hiểu rõ pháp luật Nhà nước và thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa về vấn đề ấy.

– Bà con trong làng xóm và trong hàng phố cần phải có trách nhiệm ngăn ngừa, không để những việc phạm pháp như vậy xảy ra.

– Bản thân chị em phụ nữ phải có chí tự cường tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình”.

Song song tuyên truyền giáo dục, thuyết phục với thái độ kiên quyết, Bác còn chỉ ra: “Đối với những người đã được giáo dục khuyên răn mà vẫn không sửa đổi, thì chính quyền cần phải thi hành kỷ luật một cách nghiêm chỉnh. … “Những hành vi trái với luật này sẽ bị xử lý theo pháp luật”. Nói tóm lại, giáo dục phải đi đôi với kỷ luật.”

Về thăm nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Bình là một tỉnh sản xuất khá giỏi năm 1966, sau khi phân tích tình hình, chỉ rõ nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu Bác nhấn mạnh: “Một điều nữa Bác cần nói là: Phải kính trọng phụ nữ. Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lê-nin dạy chúng ta: Phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ. Nhưng Bác nghe nói vẫn có người đánh chửi vợ! Đó là một điều đáng xấu hổ. Như thế thì còn gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là cực kỳ dã man. Chi bộ đảng phải giáo dục đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng giữa vợ chồng. Đoàn thể phụ nữ và thanh niên phải bảo ban nhau cách cư xử hoà thuận trong gia đình. Bác mong rằng: Từ nay về sau sẽ không còn thói xấu đánh chửi vợ nữa”.(11)

Nói về sự thủy chung, phê phán hành vi “được cá quên tôm, được trăng quên đèn”, về sự bội bạc thay đen, đổi trắng “Bác nghe nói có cháu trước khi vào đại học đã có người yêu hoặc đã có vợ, nhưng khi “thành tài” rồi lại chê người cũ. Như thế là không có đạo đức, làm sao trở thành cán bộ tốt được!”(12)

Từ lời dạy và Di chúc của Bác, trong suốt chặng đường đồng hành cùng dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã phát huy cao độ truyền thống vẻ vang dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong quá trình đấu tranh giành chính quyền cũng như trong chiến tranh cách mạng. Hàng triệu những tấm gương kiên trung tô thắm thêm truyền thống phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Đó là những gương trung liệt của Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Chiên, Mạc Thị Bưởi, Trần Thị Lý, Kan Lịch, Nguyễn Thị Út, Hồ Thị Kỷ, Dương Thị Cẩm Vân… và triệu triệu những cô gái, đã cùng các chàng trai cống hiến cả máu của mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Đấu tranh quyết liệt với quân thù, phản ánh phong trào phụ nữ vùng tạm chiếm, nhà thơ Viễn Phương còn ghi lại trên văn bia “Đôi tay yếu mẹ đẩy lùi máy chém/ Tấm thân gầy mẹ cản xích xe tăng/ Nước mắt chảy vào tim mẹ tiễn con ra trận/ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” lớp lớp lên đường”(16); trước đó cũng như Bác đã khẳng định trong thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ 8/3/1952: “Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng….Nhiều bà cụ ngoài bảy tám mươi tuổi, chẳng những đã xung phong đi dân công, mà còn thách thi đua với các cụ ông và con cháu…

Nói chung là phụ nữ ở vùng tạm bị chiếm, nói riêng là các nữ du kích, không quản khó nhọc nguy hiểm, ra sức giúp đỡ chiến sĩ và cán bộ, hăng hái đấu tranh chống quân thù…”(13)

Qua 35 năm thực hiện lời căn dặn của Bác, năm 2004 trong định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam thế kỷ 21, vẫn còn ghi: “Mặc dù đạt nhiều thành tựu trong việc thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ, Việt Nam còn phải tiếp tục thực hiện nhiều công việc nhằm đạt được sự bình đẳng về giới, cải thiện điều kiện sống và lao động, nâng cao địa vị chính trị và xã hội của phụ nữ, xóa bỏ triệt để mọi hành động xâm phạm những quyền cơ bản của phụ nữ. Phụ nữ hiện vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi hơn nam giới trong việc có cơ hội học tập, đào tạo nghề nghiệp và nâng cao trình độ, tìm kiếm việc làm, gánh váccác công việc gia đình”(14).

Để tiếp tục tâm huyết của Bác Hồ “Một nửa thế giới” cần được giải phóng bình đẳng về mọi mặt và thực hiện tốt mục tiêu thiên niên kỷ quốc gia, toàn Đảng, toàn dân cần ưu tiên mọi nguồn lực để giúp phụ nữ có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển bền vững như: Tăng cường giáo dục, đào tạo, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về mọi mặt, trình độ nghề nghiệp và năng lực quản lý kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường cho phụ nữ; Hỗ trợ phụ nữ làm kinh tế, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo; đẩy mạnh các chương trình chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em, cải thiện môi trường sinh hoạt tại từng địa phương; tạo điều kiện để chị em tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bình đẳng giới…

Từ thực tiễn hoạt động và căn dặn trong di chúc, Bác Hồ đã khẳng định rằng sự tiến bộ của nền kinh tế, văn hóa, xã hội là tiền đề bức thiết để đi tới giải phóng triệt để phụ nữ, điều đó cũng có nghĩa sự nghiệp giải phóng phụ nữ không thể tách rời mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”; đó cũng là thực chất cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đi tới giải phóng xã hội, giải phóng con người dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực hiện di chúc của Bác về sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới, mỗi chúng ta chắc chắn sẽ hết sức đau lòng khi biết rằng “Theo báo cáo của Ủy ban Dân số – Gia đình và Trẻ em, 30% số phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng cưỡng bức bằng nhiều hình thức do người chồng gây ra,… Và Một cuộc khảo sát ở Hà Nội, Phú Thọ và Thái Bình vào năm 2007 chỉ ra rằng có đến 40% những người phụ nữ được hỏi thừa nhận có bạo lực trong gia đình mình…”(15). Cho nên tiếp tục thực hiện di chúc của Bác, để Luật bình đẳng giới năm 2006, Luật Chống bạo hành gia đình năm 2007 (có hiệu lực từ 01/7/2008) thực sự đi vào cuộc sống, ngoài việc quan tâm của các cấp ủy Đảng, của chính quyền, sự nỗ lực tự thân của chị em Phụ nữ, còn phải rất cần có sự giúp đỡ, sẻ chia của nam giới từ trong từng gia đình rộng ra đến cả cộng đồng để “hai nửa xã hội” cùng phát triển bền vững, để phụ nữ Việt nam luôn luôn và mãi mãi là một hình mẫu mới thật sự “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, làm gương sáng về bình đẳng giới cho cả thế giới tiến bộ noi theo./.

——————-

(1) Trích dẫn và tham khảo: Di chúc Hồ Chí Minh Trang 509, 510 tập 12, Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG Hà Nội 2000.
(2) Bản án chế độ thực dân Pháp Trang 112, HCMTT, tập 2, NXB CTQG Hà Nội 2000.
(3)Văn bia điển Bến Dược Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh – Viễn Phương.
(4) Trả lời bạn nữ sinh viên X của chúng ta, tr 443, tập 2 – HCMTT, NXB CTQG Hà Nội 2000.
(5)Đường cách mệnh, Trang 288 Tập 2, HCM TT – NXBCTQG Hà Nội 2000.
(6) Tuyên ngôn độc lập Trang 9, Tập 4 – HCM TT- NXB CTQG Hà Nội 2000.
(7) http://vietsciences2.free.fr/lichsu/lichsu_ngaydoclap_hoaky.htm.
(8) Phát biểu ngày 9-11-1946. Báo Cứu quốc, số 401, ngày 10-11-1946 , Tập 2, tr 974 NXB CTQG Hà Nội 2000.
(9) Đời sống mới, trang 343, 344 Tập 5, Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG – Hà Nội -2000.
(10) Trang 408 tập 5, Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG – Hà Nội -2000.
(11) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG – Hanoi-2000; Tập 12, Trang 197,
(12) Sách Hồ Chí Minh: Về công tác văn hoá văn nghệ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.78-93.
(13)Văn bia đền Bến Dược Củ Chi, TP Hồ Chí Minh – Viễn Phương.
(14)Trang 431, tập 6, Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG – Hà nội 2000.
(15) Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) ban hành theo quyết định 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/08/2004 của Thủ tướng Chính phủ.

Theo Báo điện tử Đảng Cộng sản
Phương Thúy (st)

nhoNguoicha

Học và làm theo Bác, phải chống bằng được bệnh hình thức

Sau 5 năm, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã được cấp ủy cơ sở triển khai rộng khắp và thực hiện khá nghiêm túc, góp phần làm chuyển biến nhiều mặt công tác của các tổ chức, cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên vẫn có những nơi, những lúc, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ còn mang tính hình thức, chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Từ hình thức thể hiện

Khẩu hiệu “bắt mắt” nhưng sai chính tả. Hưởng ứng việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị đã đầu tư xây dựng các bảng tin, pa-nô, áp-phích, khẩu hiệu tuyên truyền cổ động rất đẹp, rất bắt mắt. Tuy nhiên trích dẫn những lời huấn thị của Bác, những câu khẩu hiểu học tập Bác lại mắc lỗi chính tả, văn phong. Có nơi ghi “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. (Từ đúng phải là thật sự). Nơi khác thì ghi” “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí cũng làm nên” (Câu đúng là “Quyết chí ắt làm nên”); hay “Đạo đức cách mạng không phải trên trời xa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. (Từ đúng là sa)…

Pa-nô, áp-phích, khẩu hiệu để tuyên truyền cổ động, ngày ngày xuất hiện trước mắt mọi người thì không thể để những lỗi sai như vậy. Mặt khác, nếu chỉ đơn thuần làm đẹp một cách hào nhoáng bên ngoài là không thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: phải kiên quyết tẩy sạch khuyết điểm ham chuộng hình thức, như Người đã nhắc nhở trong “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ” ngày 1-3-1947.

Nghị quyết, văn bản dài dòng, thiếu thuyết phục. Học và làm theo Bác, nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng đã đổi mới lề lối, phong cách làm việc sao cho khoa học, sát thực tế, chú ý duy trì nền nếp, chế độ sinh hoạt đảng phù hợp với điều kiện thực tế đơn vị. Tuy nhiên, việc soạn thảo nghị quyết ở chi bộ có khi còn chưa rõ nét, thiếu thiết thực. Xem xét sổ nghị quyết ở một số chi bộ, chúng tôi thấy việc soạn thảo nghị quyết còn dàn trải, dài dòng. Có chi bộ tháng nào cũng viết nghị quyết dài 5-6 trang, nhiều nội dung trùng lắp, tháng sau sao chép lại tháng trước, chưa xác định nhiệm vụ lãnh đạo trọng tâm, trọng điểm. Việc làm đó vừa mất thời gian, tốn công sức, không mang lại hiệu quả cụ thể nào cho chi bộ, đơn vị.

Viết báo cáo,nhiều văn bản sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết (trong đó có cả việc tổng kết 4 năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”) ở các chi bộ cơ sở thường có mô-típ như nhau, lý luận thì nhiều, biện pháp cụ thể, kết quả thực tế thì lại ít.

Có thể thấy, một hai năm đầu thực hiện Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phần lớn các tổ chức, cơ quan, đơn vị đã làm rất sôi nổi và thu được những kết quả đáng khích lệ. Nhưng càng về sau, việc học tập và làm theo Bác ở không ít nơi có biểu hiện chững lại, không khí trầm lắng hơn, thậm chí có nơi “đuối dần”. Nguyên nhân là do chưa thường xuyên, liên tục “hâm nóng” bầu không khí học và làm theo Bác một cách thiết thực, vẫn nặng về hô hào hình thức, chưa tìm ra những biện pháp khả thi để hiện thực hóa việc học và làm theo Bác như mục đích, yêu cầu đặt ra.

Đến việc thực hiện của mỗi cán bộ, đảng viên

Để việc học và làm theo Bác có hiệu quả, mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên trì học và làm theo Bác trong mỗi việc làm thiết thực, cụ thể. Đội ngũ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu cần căn cứ vào điều kiện, đặc điểm đơn vị mình xác định rõ nội dung trọng tâm, trọng điểm để giáo dục, động viên, tổ chức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng thực hiện học và làm theo Bác một cách phù hợp, sát thực tế. Đồng thời cần tích cực đổi mới cách nghĩ, cách làm để không dẫm phải “lối mòn” trong công tác lãnh đạo, quản lý. Phải coi trọng hơn nữa tính thiết thực, hiệu quả trong việc học và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, không để nói hay, báo cáo tốt mà thực tế chất lượng công việc đơn vị, phẩm chất đạo đức cá nhân lại không chuyển biến là mấy.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một việc làm đầy ý nghĩa nhân văn, giàu tính giáo dục. Thành công của việc làm này phụ thuộc vào cái tâm, cái đức của người cán bộ. Thực tế từ trước đến nay, chưa có cuộc vận động nào trong Đảng và toàn xã hội mà nhân dân lại quan tâm và đòi hỏi sự tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên như Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Nếu chỉ hô hào, yêu cầu cấp dưới, quần chúng làm mà bản thân và gia đình lại không noi gương, không thực hiện là chưa làm tròn bổn phận của người cán bộ, đảng viên chân chính.

Theo Chỉ thị số 03-CT/TƯ ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Phát biểu khai mạc tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nêu rõ, cần “cải tiến, nâng cao chất lượng việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Vì vậy, để tránh mọi sự hô hào, có “phát” mà không “động”, hay việc duy trì khi lên, khi xuống, thiết nghĩ các tổ chức, cơ quan, đơn vị mà trước hết đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp phải luôn luôn “nói đi đôi với làm”, thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ một cách kiên trì, bền bỉ, sáng tạo để mang lại hiệu quả thiết thực nhất.

Theo Báo Quân đội Nhân dân
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cách thức tiếp thu tư tưởng nhân loại ở Hồ Chí Minh

Luận giải nội dung trong những tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu từ di sản tư tưởng nhân loại (Nho giáo, Cơ Đốc giáo, Phật giáo, Tôn Dật Tiên, Mác – Lênin…), trong bài viết này, tác giả đã khẳng định: Mặc dù tiếp thu nhiều dòng tư tưởng khác nhau, song tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống nhất quán, không lẫn lộn với bất cứ nhà tư tưởng nào của dân tộc và nhân loại. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện trình độ phát triển cao về trí tuệ, nhân cách đạo đức và tầm thước của một vĩ nhân. Nguyên lý triết học chi phối cách tiếp biến các giá trị tư tưởng này không chỉ là quan điểm toàn diện, chỉnh thể, mà còn là tinh thần khoan dung và gắn kết với thực tiễn Việt Nam.

Sinh thời, trong một lời tự bạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Jêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của các vị ấy”(1).

Đọc những lời viết trên, khi tiếp cận với tư tưởng Hồ Chí Minh, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phát triển một cách sáng tạo tư tưởng của C.Mác và V.I.Lênin. Không ít người lại khẳng định tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh mang nội dung Nho giáo rõ rệt và chính sách phát triển đất nước Việt Nam của Người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, nhất là khi Người viết: “Tôi kính cẩn cầu Đức Thượng đế phù hộ dân tộc Việt Nam và giúp cho Việt Nam đi đến cuộc thắng lợi cuối cùng. Thượng đế và Tổ quốc muôn năm”(2) thì nhiều người tin rằng lòng nhân ái, khoan dung của Jêsu là một mẫu mực đối với “người học trò nhỏ” Hồ Chí Minh.

Sự thật thì tư tưởng Hồ Chí Minh đã từng tiếp cận và tiếp thu nhiều dòng tư tưởng khác nhau, đã từng “mưu cầu hạnh phúc cho loài người”. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu Nho giáo, Cơ Đốc giáo, Mác – Lênin, Tôn Dật Tiên, mà còn tiếp thu cả Phật giáo, hệ tư tuởng tư sản; ca ngợi cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ; tiếp cận với tư tưởng về nhà nước của A.Lincôn; cổ vũ tinh thần yêu nước của đạo Cao Đài, Hoà Hảo. Hồ Chí Minh đã từng viết: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ, cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma… Chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca…”(3).

Tiếp thu nhiều dòng tư tưởng khác nhau, song tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống nhất quán, không lẫn lộn với bất cứ nhà tư tưởng nào của dân tộc và của nhân loại, mặc dù Người tiếp nhận các giá trị từ truyền thống văn hoá của dân tộc và loài người tiến bộ. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã vận động trong lịch sử dân tộc và loài người, xác lập thành nền tảng tư tưởng của thời đại Hồ Chí Minh. Đó là thời đại mà nhân dân Việt Nam đã nâng các giá trị truyền thống lên một tầm cao mới và hiện diện trước loài người như một dân tộc anh hùng, văn minh, lịch thiệp, hiện đại.

Hồ Chí Minh – Biểu tượng của nền văn hóa tương lai

Mỗi nhà tư tưởng lớn trong văn hoá nhân loại đều có sắc thái riêng của mình. Hồ Chí Minh nói mình là “một người học trò nhỏ” của Khổng Tử! Thật ra, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ khác về cơ bản, mà còn vượt rất xa tư tưởng của Khổng Tử trên mọi phương diện. Hồ Chí Minh ca ngợi ưu điểm của học thuyết Khổng Tử là tu dưỡng cá nhân, song ngay từ năm 1927, Người đã viết: “Khổng giáo dựa trên 3 sự phục tùng: Quân – thần; phụ – tử; phu – phụ và năm đức chủ yếu: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Khổng Tử đã viết Kinh Xuân thu để chỉ trích “những thần dân nổi loạn” và “những đứa con hư hỏng”, nhưng ông không viết gì để lên án những tội ác của “những người cha tai ác” và “những hoàng tử thiển cận”… Ông rõ ràng là người phát ngôn bênh vực những người bóc lột chống lại những người bị áp bức… Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta và nếu ông khăng khăng giữ những quan điểm ấy thì ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng”(4).

Theo Hồ Chí Minh, về mặt học thuyết thì tư tưởng của Khổng Tử là hệ tư tưởng chỉ phù hợp với “một xã hội bình yên không bao giờ thay đổi” và do vậy, trên phương diện hệ thống, nó không thể phù hợp với xã hội mới. Song, về yếu tố, nó thiên về triết lý nhập thế, hành đạo giúp đời, mong muốn thế giới đại đồng có những kỹ năng giáo dục đạo đức tỉ mỉ; mặc dù không phải nội dung của mọi yếu tố này đều mang ý nghĩa tiến bộ. Khi nghiên cứu nội dung của những yếu tố trong học thuyết của Khổng Tử, Hồ Chí Minh đã tách chúng ra khỏi ý thức hệ của giai cấp phong kiến thống trị, giai cấp từng tạo sự bất bình đẳng về giới tính, thế hệ, giai cấp và dân tộc. Người cũng sử dụng những khái niệm nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư của Nho giáo, nhưng đó là Nho giáo đã Việt Nam hoá, mang rất nhiều yếu tố dân tộc và tam giáo đồng hành. Những yếu tố này đã được Người xây dựng nội hàm cách mạng và hiện tại trong hệ thống tư tưởng của mình. Nội hàm của những khái niệm này khác hoàn toàn với nội hàm thuộc hệ tư tưởng Nho giáo.

Cũng như vậy, Hồ Chí Minh đã ca ngợi lòng nhân ái cao cả của Thiên Chúa giáo. Chúa Jêsu đã kêu gọi con chiên của Chúa “Hãy yêu kẻ thù của mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, cho phước cho kẻ rủa mình và cầu nguyện cho kẻ sĩ phục mình”. Chúa Jêsu dạy con người không tham lam, trộm cắp, hãy sống trong sạch, hãy cho khi người ta xin. Hồ Chí Minh đã đọc rất kỹ Tân ước và Cựu ước, hiểu thấu đáo sách Mathiơ và Luca. Người thấy nhân tố thương yêu con người thì Thiên Chúa giáo với Khổng giáo cũng cùng chung một ưu điểm. Trong một bức thư phúc đáp ngài G.Bidon, Thủ tướng của Chính phủ Pháp – nước đang xâm lăng Việt Nam lúc đó, Người đã viết: “Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”(5). Nhấn mạnh lòng thương người của một số học thuyết tôn giáo, một lần khác, Người lại viết: “Chúa Jêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”(6). Tiếp thu tư tưởng nhân ái bao la của Đức Chúa Jêsu, song Hồ Chí Minh cũng thấy rằng, “cách đây 2000 năm, Đức Chúa Jêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được”(7).

Vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thương người, mà còn phải hành động như thế nào để giải thoát cảnh cực khổ của những người bất hạnh. Khi tiếp thu triết lý thương người của mọi tôn giáo, Hồ Chí Minh đã tìm cách giải thoát những con người đang bị áp bức, bóc lột ra khỏi lầm than, cơ cực. Khi đồng cảm với triết lý thương người của Đức Chúa Jêsu, Người không dừng lại ở triết lý ấy trong suy nghĩ mà luôn hành động, luôn thực hiện cái triết lý ấy trong hoạt động thực tiễn. Giáo sư Trần Văn Giàu, khi nghiên cứu tình thương yêu bao la của Hồ Chí Minh, đã viết rằng: “Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn giải thoát của những lớp người hèn yếu, lao khổ, của các dân tộc bị chà đạp, giải thoát chính bằng ý thức, lực lượng của mình”(8).

Khi tiếp thu các tư tưởng nhân ái bao la của các bậc đại nhân tiền bối, Hồ Chí Minh không chỉ gắn tình yêu của mình vào con người, vào đồng loại, rộng lượng đối với kẻ thù, chấp nhận độc thoại giữa các chính kiến, mà còn quan tâm sâu sắc hơn đến việc thực hiện, việc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người. Yêu con người, Hồ Chí Minh đã tìm mọi phương thức mang lại tự do cho con người. Triết lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người chính là hệ quả của cách tiếp thu lòng nhân ái bao la của các bậc đại trí, đại nhân tiền bối.

Ai cũng biết Hồ Chí Minh là một người mácxít. Trong lời tự bạch dẫn ở trên, Người đã ca ngợi phương pháp làm việc biện chứng của chủ nghĩa Mác. Chính chủ nghĩa Mác – Lênin đã thức tỉnh và làm hoàn thiện chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh gắn với thời đại mới. Khẳng định chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã cung cấp cách nhìn mới về thế giới cho mình, Người viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(9).

Hoàn toàn tin theo phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX. Theo phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác, Người đã xuất bản báo LeParia, viết báo L’humanité và La vie Ouvriere, công bố Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Kách Mệnh và nhiều tác phẩm lớn khác. Trong ý tưởng triết học của Người, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác là một thế giới khoa học, là một vũ khí cách mạng mang lại hạnh phúc cho nhân loại. Nhiều người thấy Hồ Chí Minh vận dụng nhuần nhuyễn phương pháp luận mácxít đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh chính là tư tưởng của chủ nghĩa Mác được vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Chính Người đã chỉ ra rằng: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn nhân loại”(10).

Phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác đã chỉ dẫn cho Hồ Chí Minh mối quan hệ tương hỗ giữa cái riêng và cái chung, giữa dân tộc và nhân loại, truyền thống và hiện đại, dân tộc và tộc người, cá nhân và xã hội, lý luận và thực tiễn trong quá trình phát triển. Người thấy rõ nguyên tắc căn bản của phương pháp biện chứng mácxít là thống nhất giữa lý luận với thực tiễn. Người viết: “Trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần đồng chí Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động… Phải cụ thể hoá chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”(11). Do vậy, theo Người, “học tập chủ nghĩa Mác – Lê-nin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình… Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”, chứ không phải “học thuộc lòng”, “học để trang sức”(12).

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh tuy hội tụ những giá trị nhân văn cao cả trong các học thuyết Khổng Tử, Jêsu, C.Mác và V.I.Lênin, nhưng tư tưởng đó là tư tưởng Hồ Chí Minh chứ nhất định không thể là tư tưởng Nho giáo, Thiên Chúa giáo, Mác – Lênin hay Tôn Văn. Một số người đã dựa vào lời tự bạch của Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta” để cho rằng, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa Tôn Văn biểu hiện khá rõ nét trên nhiều lĩnh vực chính trị quan trọng.

Chủ nghĩa tam dân (dân tộc, dân quyền, dân sinh) của Tôn Trung Sơn là một học thuyết nằm trong phạm trù cách mạng tư sản khi phong trào duy tân nổi lên ở Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Ở Việt Nam, do ảnh hưởng chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn, học thuyết dân quyền với những nội dung dân sinh, dân trí, dân khí đã được các nhà ái quốc trong phong trào Duy Tân đề xướng. Hồ Chí Minh ngưỡng mộ Tôn Dật Tiên không chỉ ở chủ thuyết dân tộc, dân quyền, dân sinh, mà còn tìm hiểu chủ trương “Liên Nga, liên cộng, phù trợ công” này của ông. Tôn Dật Tiên đã phê phán đạo đức học của Hán và Tống Nho, đồng thời xây dựng lý tưởng đạo đức thiên hạ vị công.

Sự gặp gỡ giữa tư tưởng của Tôn Trung Sơn với Hồ Chí Minh là gặp ở quan điểm về chủ nghĩa dân tộc. Trong chủ nghĩa tam dân, Tôn Trung Sơn quan tâm sâu sắc đến quyền lợi dân tộc. Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh cũng đã nhận định: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”. Cùng với chủ nghĩa dân tộc, Người cũng rất quan tâm tới xây dựng một nền đạo đức mới vượt qua học thuyết đạo đức của Khổng Tử. Song, trong tư tưởng của Người, chủ nghĩa dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế. Người viết: “Khi chủ nghĩa dân tộc… thắng lợi, thì… nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(13).

Hồ Chí Minh đã nói tới độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào, hạnh phúc cho nhân dân. Ở Người, đặc điểm nổi bật là tin tưởng sắt đá vào sức mạnh của nhân dân. Phạm trù nhân dân đã tạo nên sức sống và sự sáng tạo to lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(14). Tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân với ý nghĩa nhân dân là người có thể cách mạng tới cùng thì không thể giống với tư tưởng dân sinh của Tôn Văn.

Rõ ràng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có sự tiếp thu nhiều di sản tư tưởng trong văn hoá nhân loại, nhưng đây là một sự tiếp biến đặc biệt, sự tiếp biến vượt gộp để tạo ra một giá trị tư tưởng độc đáo, mới mẻ, cách mạng. Trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rất rõ nền tảng tinh thần sâu sắc nhất là những giá trị truyền thống của dân tộc. Đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, ý chí tự lực tự cường và ý thức đoàn kết. Song, tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, ý chí tự lực tự cường, ý thức đoàn kết dân tộc truyền thống. Nếu Hồ Chí Minh chỉ là hiện thân của những giá trị văn hoá truyền thống thì tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không vượt qua chủ nghĩa dân tộc chật hẹp của nhiều nhà tư tưởng trong nền văn hoá truyền thống Việt Nam. Cũng thế, nếu Hồ Chí Minh chỉ tiếp thu sự tu dưỡng trong học thuyết đạo đức của Khổng Tử, lòng nhân ái của Jêsu, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác và chính sách Tam dân của Tôn Dật Tiên thì tư tưởng của Người cũng không vượt qua được những hạn chế của thời đại phản ánh trong hệ tư tưởng của những nhà tiền bối. Chính nhờ đã cởi bỏ được chiếc dây ràng buộc học thuyết của các vị tiền bối trong khuôn khổ tính thời đại của họ mà tư tưởng Hồ Chí Minh đã mang giá trị của thời đại mới, vượt hẳn những tư tưởng của thời đại đã qua. Hồ Chí Minh đã tiếp biến nhiều tư tưởng của các vị tiền bối và các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc ta trong thời đại cách mạng khoa học – kỹ thuật và những phong trào cách mạng lớn đang dâng lên cuồn cuộn ở thế kỷ XX: Phong trào dân chủ, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào xã hội chủ nghĩa.

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh đã vượt qua chiếc áo chật trong tư tưởng tu thân của Khổng Tử. Chủ nghĩa nhân văn hành động của Hồ Chí Minh đã vượt xa lòng thương người của tôn giáo Jêsu. Sự vận dụng sáng tạo phép biện chứng của chủ nghĩa Mác vào việc giải quyết những vấn đề dân tộc ở Việt Nam đã làm phong phú phép biện chứng duy vật và mang một sức mạnh mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa yêu nước quốc tế ở Hồ Chí Minh khác hẳn với chủ nghĩa vị quốc chật hẹp. Quan điểm về tính nhân dân với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh khác rất xa với chủ nghĩa Tam dân Tôn Trung Sơn. Phong cách tư duy của Hồ Chí Minh là phong cách tư duy tổng hợp, khái quát, độc lập, tự chủ, sáng tạo gắn với thực tiễn đang vận động.

Tiếp biến nhiều dòng tư tưởng trong di sản tinh thần của nhân loại, song tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống tư tưởng được hình thành trong ba phong trào lớn của thế kỷ XX, nhằm đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập, đất nước thống nhất tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân được sống tự do, ấm no, hạnh phúc, góp phần ổn định tình hình thế giới, phát triển hữu nghị giữa các dân tộc, vì tiến bộ xã hội và sự phát triển tốt đẹp các giá trị cá nhân và cộng đồng con người và tự nhiên.

Cách tiếp thu các di sản tư tưởng nhân loại của Hồ Chí Minh đã xác lập hệ tư tưởng Hồ Chí Minh sáng tạo, thống nhất bởi bốn tiểu hệ thống:

Thứ nhất là, chủ nghĩa yêu nước và tình yêu con người. Đó là tình yêu những con người bị áp bức, bị bóc lột; là chủ nghĩa yêu nước quốc tế kết hợp với sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh cá nhân với sức mạnh cộng đồng trên cơ sở tư tưởng nền tảng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Thứ hai là, tư tưởng xây dựng nhà nước kiểu mới. Đó là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở một nền dân chủ của dân, do dân, vì dân và sức mạnh thuộc về nhân dân.

Thứ ba, là tư tưởng về tương lai của con người, của xã hội loài người, của đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một chủ nghĩa xã hội Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là “xã hội văn hoá cao”.

Thứ tư là, tư tưởng về mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, con người và tự nhiên. Đó là những tư tưởng lớn về một thế giới hoà bình, đầy tình hữu nghị, về một môi trường tự nhiên thân thiện, tươi đẹp và trong lành.
Bốn tiểu hệ thống này liên kết với nhau bởi quan điểm toàn diện nhằm gắn sự phát triển đời sống vật chất với đời sống tinh thần của con người, truyền thống với hiện đại, cá nhân với xã hội, dân tộc với quốc tế, con người với tự nhiên.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ trình độ phát triển cao về trí tuệ, nhân cách đạo đức và tầm thước của một vĩ nhân, khi tiếp biến các giá trị tư tưởng của truyền thống và nhân loại. Nguyên lý triết học chi phối cách thức tiếp biến các giá trị tư tưởng truyền thống và nhân loại không chỉ là quan điểm chỉnh thể, toàn diện mà còn là tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh. Có lần Người đã tự bạch rằng: “Phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể… chí công vô tư”, “sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ”(15).

Yêu con người, yêu đồng loại, yêu người cùng khổ, tin tưởng và yêu thương nhân dân, yêu thiên nhiên từ mầm lá đến nhành hoa, rộng lượng đối với kẻ thù, chấp nhận đối thoại giữa các chính kiến là nhân cách Hồ Chí Minh, khi tiếp biến các di sản tư tưởng trong văn hoá nhân loại. Nhờ cách tiếp thu sáng tạo những di sản này để mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc và loài người và với nhiều cống hiến khác trong giáo dục nghệ thuật, giao lưu quốc tế và giữ gìn bản sắc dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được UNESCO tôn vinh là một Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất./.

GS.TS Đỗ Huy
Theo Tạp chí Triết học
Thu Hiền (st)

————–

(1) Hồ Chí Minh Truyện (Bản dịch Trung văn của Trương Niêm Thức. Bát Nguyệt xuất bản xã Thượng Hải xuất bản, 1949). Dẫn theo: Phan Văn Các. Nho giáo xưa và nay. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991.
(2) Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.490.
(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr.197.
(4) Hồ Chí Minh. Sđd., t.2, tr.453 – 454.
(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.267.
(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t.6, tr.225.
(7) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.272.
(8) Trần Văn Giàu. Vĩ đại một con người. Nxb Long An, 1990, tr.92.
(9) Hồ Chí Minh. Sđd., t.10, tr.127.
(10) Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr.464 – 465.
(11) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.496.
(12) Hồ Chí Minh. Sđd., t.9, tr.292.
(13) Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr.467.
(14) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.279.
(15) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr.279, 644.

bqllang.gov.vn

Nhớ lời Bác Hồ dạy: “Nói thì phải làm”

Bác Hồ nói chuyện với đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II năm 1956, tại Nhà hát Lớn Hà Nội - Ảnh tư liệu do Bảo tàng Tuổi trẻ cung cấp

Trong cuộc sống hàng ngày, có nhiều việc nói thì dễ nhưng làm thì khó. Vì vậy nếu nói được, phải làm được. Sinh thời, Bác Hồ đã từng dạy “nói thì phải làm”. Ban Biên tập xin giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Xuyến đăng trên Bản tin Y tế Thừa Thiên Huế đề cập đến vấn đề này.

Tác phẩm “Đường kách mệnh”, di sản lý luận Bác Hồ để lại cho cách mạng Việt Nam. Đây là tập tài liệu gồm những bài viết của Người dùng để giảng dạy cho thanh niên yêu nước Việt Nam tham gia lớp huấn luyện chính trị từ những năm 1925 đến 1927 ở Quảng Châu (Trung Quốc) và được xuất bản lần đầu tiên năm 1927.

Trên trang 2 cuốn “Đường kách mệnh” có mục: Tư cách một người cách mệnh. Trong 23 điều của tư cách người cách mạng thì điều thứ 10 ghi rõ” “Nói thì phải làm”.

“Nói đi đôi với làm” là một nội dung đạo đức truyền thống của dân tộc. Kế thừa truyền thống đạo đức của dân tộc, Bác Hồ đã nêu thành một nội dung của tư cách người cách mạng.

“Nói đi đôi với làm” đối lập với nói mà không làm của những ngưới hứa suông, hoặc “nói một đàng làm một nẻo” của những kẻ cơ hội.

Trong bài Dân vận, ngày 15-10-1949, Bác viết: “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”.

“Nói đi đôi với làm” là một trong những nội dung của phong trào Hồ Chí Minh, là sự thể hiện của đạo đức cách mạng.

Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đi trước ở đây được hiểu là sự tiên phong, gương mẫu trong cả lời nói và việc làm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên bằng lới nói mà còn bằng chính tấm gương sống của bản thân mình. Người suốt đời tự rèn luyện, tu dưỡng và lúc nào cũng nghiêm cẩn khép mình vào đạo đức. Tấm gương đạo dức của Người là tuyệt vời trong sáng và toàn vẹn.

Ở Bác, lời nói đi đôi với việc làm.

Năm 1945, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nạn đói đang đe dọa đồng bào miền Bắc nước ta. Cùng với các biện pháp khuyến khích tăng gia sản xuất lương thực, thực phẩm, Bác Hồ kêu gọi nhân dân cả nước” “Mười ngày, nhịn ăn một bữa, một bữa một bơ” và dùng số gạo tiết kiệm đó cứu giúp những người thiếu đói. Chính Bác cũng thực hiện như vậy. Một hôm, Bác phải đi dự tiệc của tướng Tiêu Văn (Trung Quốc), thế là suất gạo bữa đó đã được bỏ vào quỹ cứu đói. Tuy vậy, Bác vẫn đề nghị “nhịn bù” vào bữa tới. Bác nói: “Mình khuyên dân mười ngày, nhịn ăn một bữa, mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén thì nghe sao được?”.

Bác kêu gọi đồng bào tham gia đóng góp quỹ “Mùa đông binh sĩ” và chính Bác cũng góp quỹ một chiếc áo ấm của mình.

Bác khuyên mọi người sống giản dị và khiêm tốn. Đôi dép cao su, chiếc áo ka-ki sờn vai cùng những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày đơn sơ, ít ỏi đã trở thành huyền thoại về đức tính giản dị của Người.

Tại chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp, Bác kêu gọi các cơ quan tận dụng đất hoang quanh nơi làm việc và thời gian nhàn rỗi để tăng gia sản xuất. Cứ sáng sớm và cuối giờ chiều, Bác cuốc đất trồng rau, nuôi gà để góp phần cùng cơ quan tự cải thiện đời sống.

Bác kêu gọi nhân dân thực hiện “Tết trồng cây” để lấy gỗ làm nhà và cải thiện môi trường. Hàng năm, cho đến Tết cuối cùng trước khi vĩnh biệt chúng ta, Người đã tham gia đều đặn 10 Tết trồng cây.

Bác vận động nhân dân chống hạn, úng, thì chính Bác trực tiếp tham gia cùng nhân dân tát nước chống hạn.

Bác khuyên cán bộ Đảng và Nhà nước phải gần gũi với nhân dân. Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, tuy Bác bộn bề công việc, nhưng Bác luôn tìm cách đến với nhân dân, hỏi dân những chuyện Bác muốn biết và lắng nghe những chuyện dân muốn nói.

Đã có lần Bác dạy: Hô hào người ta tiết kiệm thì trước hết mình phải tiết kiệm trước đã. Một chiếc phong bì, Bác sử dụng được hai lần. Việc đáng tiêu thì hàng nghìn, hàng vạn cũng tiêu, việc không đáng tiêu thì một xu, một cắc cũng không tiêu, bởi vì, đồng tiền ấy ở đâu ra, đều do nhân dân đóng góp mà có. Cho nên, tiết kiệm trong chi tiêu, trong sử dụng công quỹ chính là sự góp phần làm cho mọi người đều có cơm no, áo ấm và được học hành.

Bác luôn căn dặn cán bộ các cấp: Làm cán bộ để phục vụ cho dân cho nước, chứ không phải để làm quan. Phải gương mẫu chấp hành luật lệ của Nhà nước, quy định của tổ chức để làm gương cho mọi người. Không được thu vén cá nhân, tự tạo ra những đặc quyền, đặc lợi cho riêng mình.

Lời nói đi đôi với việc làm, tư tưởng gắn liền với hành động, đường lối, chủ trương, chính sách gắn liền với thực hiện là điều rất quan trọng đối với nhà chính trị để tạo lập được niềm tin trong nhân dân.

Một trong những phẩm chất lớn về nhân cách của Bác Hồ là Bác nói như thế nào thì Bác làm đúng như vậy.

Tấm gương nói đi đôi với làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cho lời khuyên bảo, dặn dò của Người có sức mạnh to lớn trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên. Đó cũng là một đặc điểm nổi bậc trong đạo đức Hồ Chí Minh.

“Nói đi đôi với làm”, nhưng là làm có hiệu quả, vì lợi ích của nhân dân. Đó là một nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chính vì lẽ đó, Bác khuyên cán bộ, đảng viên ra sức học tập chính trị, văn hóa, kỹ thuật, nghề nghiệp và học ở mọi nơi, mọi lúc, học ở mọi người, học suốt đời, “học để làm việc, làm người, làm cán bộ…”,

Có lần, Bác Hồ nói: “Trước mặt quần chúng không phải ta viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” (Hồ Chí Minh Toàn tập-NXBCTQG-HN-1995-T 5-Tr 552).

Hiện nay, vẫn có những người nói nhiều làm ít. Có người nói một đàng, làm một nẻo, làm ngược lại điều mình nói. Có người nói cho người khác làm, còn bản thân mình thì “đánh trống, bỏ dùi”, hứa hươu, hứa vượn, vô cảm trước những bức xúc của người khác.

Trong Lễ kỷ niệm 113 năm ngày sinh Bác Hồ và phát động đợt nghiên cứu, học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhắc nhở: “Là những người tiên phong, những người giữ vai trò lãnh đạo, cho nên lời nói, đặc biệt là việc làm của cán bộ, đảng viên và gia đình phải thật sự là tấm gương mọi mặt cho quần chúng noi theo. Nếu cán bộ, đảng viên, công chức kêu gọi nhân dân cần, kiệm mà mình lười biếng, sống xa xỉ, lãng phí thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích”.

Ngày 29/09/2010
Nguyễn Võ Hinh (st)

impe-qn.org.vn

Hồ Chí Minh với quan điểm về sức khỏe, y tế và đạo đức của người thầy thuốc

Cố Giáo sư-Tiến sĩ Đỗ Nguyên Phương, Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế.

Nhân dịp kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27 tháng 2, xin trích giới thiệu tài liệu viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan điểm sức khỏe, y tế và đạo đức của người thầy thuốc trong cuốn sách “Một số vấn đề xây dựng ngành y tế phát triển ở Việt Nam” của Cố Giáo sư-Tiến sĩ Đỗ Nguyên Phương, Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của đảng ta, dân tộc ta. Đảng ta khẳng định cùng với Chủ nghĩa Mác Lênin, những di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của đảng và cách mạng nước ta. Những tư tưởng của Người mãi mãi là ngọn cờ dẫn dắt cách mạng Việt Nam từng bước đi lên giành hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thắng lợi ngày càng to lớn hơn.

Vì vậy việc nghiên cứu, khai thác những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để vận dụng vào những hoạt động thực tiễn của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là việc làm quan trọng và cần thiết.

Chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khỏe” đã đặt ra cho ngành y tế một niềm hy vọng rất lớn, có một ý nghĩa rất quan trọng góp phần phát triển sự nghiệp y tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

Trên cương vị lãnh tụ tối cao của đảng, của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều cống hiến vĩ đại trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đảng, của nhà nước và nhân dân ta để giải phóng đất nước, đưa đất nước tiến lên Chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội… Trên lĩnh vực y tế và sức khỏe, Người cũng đã để lại cho chúng ta những tư tưởng, quan điểm vô cùng sâu sắc, phong phú, có ý nghĩa định hướng cho việc phát triển một nền y học Việt Nam hiện đại.

Quan điểm về sức khỏe

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề sức khỏe con người. Người coi đây là một nhân tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Người chỉ rõ: “giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần sức khỏe mới thành công”. Người nói: “mỗi một người dân yếu ớt là cả nước yếu ớt, dân cường thì nước mạnh”. Trong thời kỳ lãnh đạo dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “sức khỏe của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng gần thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công”. Điều này nói lên rằng Bác Hồ của chúng ta đã đánh giá rất cao vai trò của sức khỏe.

Quan niệm về sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm sự lành mạnh cả về thể xác lẫn tinh thần. Người định nghĩa: “ngày nào cũng tập thể dục thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe”. Nội dung của định nghĩa này hoàn toàn thống nhất với định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới trong Tuyên ngôn Alma Ata năm 1978 “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về tâm hồn, về thể xác, về xã hội”. Như vậy trước Tuyên ngôn Alma Ata gần nửa thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một quan niệm rất chính xác về sức khỏe. Khi đưa ra khái niệm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp cận đến tinh thần mác xít về con người, bản chất của con người vùa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội; vì vậy việc chăm lo sức khỏe cho con người phải bằng cả biện pháp vật chất và biện pháp tinh thần. Người nói: “Làm thế nào cho đời sống của dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn”. Trong thư gửi Hội nghị Quân y, Bác Hồ đã nói: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”.

Trong 5 quan điểm của đảng ta về công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, quan điểm thứ nhất đã khẳng định sức khỏe là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là sự quán triệt, sự tiếp tục những tư tưởng của Người trong giai đoạn mới của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Vì vậy, phải chăm lo sức khỏe cho mọi người, chăm lo sức khỏe cho toàn dân. Quan điểm chăm lo sức khỏe cho mọi người thực sự là thể hiện một quan điểm công bằng trong chăm sóc sức khỏe như tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội. Công bằng xã hội không có nghĩa là không thực hiện sự ưu tiên trong xã hội. Lúc sinh thời, Bác Hồ vẫn thường xuyên nhắc nhở các cán bộ của đảng, nhà nước, các đồng chí chỉ huy quân đội, các cán bộ y tế phải quan tâm chăm sóc sức khỏe cho cụ già, cho trẻ em, cho người nghèo ở vùng xa xôi, hẻo lánh, cho bộ đội và thương binh.

Ngày nay, trong điều kiện của một nền kinh tế thị trường, có sự phân tầng xã hội, tức là trong xã hội có người giàu, có người trung bình, có người nghèo, người đói, có người trong diện chính sách thì rõ ràng nhà nước ta không thể duy trì một nền y tế bao cấp vì như vậy không những nguồn kinh phí không cho phép và hơn thế nữa là không đảm bảo sự công bằng trong xã hội. Chúng ta quan niệm rằng khi nói đến công bằng xã hội là phải nói đến sự ưu tiên đối với những người có công, vùng có công với cách mạng, đối với người nghèo, vùng nghèo, vùng miền núi xa xôi. Nền y tế của chúng ta phải thực hiện yêu cầu không để các bệnh nhân vì không có tiền mà không được khám chữa bệnh đầy đủ.

Quan điểm về y tế và y học

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền y tế của nước ta là một nền y tế nhân dân. Bác Hồ nói “xây dựng một nền y học của ta”, đây là một quan điểm rất sâu sắc. Bác Hồ còn nói với cán bộ y tế phải “giúp đồng bào, giúp chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta”. Cả cuộc đời của Bác Hố đều vì dân, lấy dân làm gốc. Tư tưởng đó của Người cũng được thể hiện ở việc xây dựng một nền y học xuất phát từ nhân dân, của dân, vì dân. Tư tưởng này còn thể hiện ở một nền y học mang bản sắc Việt Nam, xuất phát từ những điều kiện Việt Nam. Theo Bác Hồ, nhân tố nhân dân và nhân tố Việt Nam là cơ sở cho việc xây dựng một nền y học Việt Nam. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra nguyên tắc phải xây dựng một nền y học dân tộc, đại chúng. Tính dân tộc và tính đại chúng chính là một nền y học mang nhân tố dân tộc và nhân tố nhân dân. Nhưng Bác Hồ cũng không dừng lại ở đó, Bác còn nêu ra nguyên tắc nền y học của ta phải là một nền y học mang tính khoa học. Theo Bác Hồ, bản thân y học là khoa học, hơn nữa là một khoa học về con người. Như vậy khi Bác Hồ nêu ra nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng tức là nền y học đó phải mang truyền thống của dân tộc kết hợp với tinh hoa của thời đại. Ở đây nhân tố dân tộc và nhân tố thời đại hòa quyện với nhau, bổ sung cho nhau thành một chỉnh thể thống nhất.

Nền y tế của chúng ta phải hướng về cơ sở, phải đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho toàn dân. Ở các vùng miền xuôi, chăm lo xây dựng các trạm y tế, nhanh chóng xóa bỏ tình trạng xã trắng về y tế, phấn đấu tuyến xã có bác sĩ. Ở các tỉnh miền núi, chăm lo đến y tế thôn bản, chăm lo đến sức khỏe gia đình. Mặt khác, nền y tế của chúng ta phải vươn tới xây dựng một nền y tế hiện đại, đào tạo được ngày càng nhiều các chuyên gia đầu đàn, nhanh chóng tiếp cận với trang thiết bị hiện đại, tập trung xây dựng những trung tâm y tế chuyên sâu. Như vậy là tính dân tộc, tính đại chúng và tính khoa học gắn bó chặt chẽ với nhau và là những phương hướng cơ bản, lâu dài của nền y tế nước ta.

Trong tư tưởng của Bác Hồ thể hiện rất rõ quan điểm xây dựng một nền y học trên cơ sở kết hợp đông y và tây y. Quan điểm này của Bác Hồ là xuất phát từ thực tiễn lịch sử Việt Nam. Bác nói: “Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý hóa về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc” và Bác còn nói “Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc đông và thuốc tây”. Sở dĩ như vậy vì Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Thuốc tây chữa được nhiều bệnh, nhưng có bệnh chữa không được mà thuốc ta chữa được. Thuốc ta cũng chữa được nhiều bệnh nhưng có bệnh cũng không chữa được. Bên nào cũng có cái ưu điểm, hai cái ưu điểm cộng lại thì chữa bệnh tốt cho đồng bào, cho nhân dân, phục vụ cho xây dựng xã hội chủ nghĩa. Thầy thuốc tây phải học đông y, thầy thuốc ta cũng phải học thuốc tây… Thầy thuốc ta và thầy thuốc tây đều phục vụ nhân dân, như có hai tay cùng làm việc thì làm việc được tốt. Cho nên phải đoàn kết từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, đoàn kết thuốc ta và thuốc tây thành một khối để chữa bệnh cho đồng bào”.

Với cách nhìn nhận của Bác Hồ thì đông y và tây y không phải là hai mặt mâu thuẫn với nhau mà có sự thống nhất chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau. Chúng ta quan niệm đầy đủ rằng phải kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại, phải hiện đại hóa y dược học cổ truyền nhưng không làm mất bản sắc y dược học dân tộc. Chúng ta luôn luôn ý thức y dược học cổ truyền là một thế mạnh của nước ta. Để xây dựng một nền y học hiện đại tiến kịp với nền y học nhân loại, chúng ta phải khai thác, phát huy sức mạnh của y dược học cổ truyền; khai thác, phát huy cái phong phú, cái tài tình, cái còn đang tiềm ẩn của y học cổ truyền.

Quan điểm về y tế dự phòng

Trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề y học dự phòng. Bác Hồ nói “Phòng bệnh cũng cần thiết như chữa bệnh”. Có lúc Người còn nói “Phòng bệnh hơn trị bệnh”. Quan điểm về y học dự phòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất toàn diện. Để chống lại bệnh tật, ốm đau, Người đặc biệt quan tâm từ những vấn đề rất nhỏ về vệ sinh môi trường như nước sạch, hố xí vệ sinh, diệt ruồi, muỗi. Người nhấn mạnh “Vệ sinh là yêu nước”. Ở đây khái niệm “vệ sinh” của Người bao hàm rất rộng, rất đầy đủ. Người thường xuyên nhắc nhở toàn dân phải giữ gìn vệ sinh. Người nói: “Mọi người từ già trẻ, trai gái đã là người dân yêu nước đều phải quan tâm đến vấn đề vệ sinh, giữ gìn sức khỏe”. Trong 5 lời dạy của Bác Hồ với thiếu niên, nhi đồng. Bác cũng nói: “Yêu tổ quốc và yêu đồng bào, Học tập tốt và lao động tốt. Đoàn kết tốt và kỷ luật tốt. Giữ gìn vệ sinh thật tốt. Khiêm tốn, thật thà và dũng cảm”.

Ngay trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trước những công việc cấp bách, bộn bề; Người vẫn nghĩ đến xây dựng “Đời sống mới” cho toàn dân. Trong nội dung của “Đời sống mới”, Người viết “Sạch sẽ là một phần của đời sống mới, sạch sẽ thì dân ít ốm, khỏe mạnh thì làm được việc, làm được việc thì có ăn, xem đó thì biết rằng ai cũng nên làm đời sống mới”.

Trong quan điểm y học dự phòng của Chủ thịch Hồ Chí Minh, Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề nâng cao thể lực của con người. Đây chính là phương châm y học dự phòng tích cực và chủ động nhất. Bác Hồ vận động toàn dân phải thường xuyên vận động cơ thể, tập thể dục để nâng cao sức khỏe. Khi khuyên đồng bào tập thể dục, Bác Hồ nói, vị Chủ tịch nước cũng xin hứa “Tự tôi ngày nào tôi cũng tập”. Không những tập thể dục mà Người còn tập tắm nước lạnh, trèo núi, đánh bóng chuyền, tập võ… Có thể nói Bác Hồ cũng chính là một mẫu mực của ý chí rèn luyện về mọi mặt.

Ngày nay, khi đất nước ta chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nhiều thách thức lớn đang đặt ra cho công tác chăm sóc sức khỏe và bảo vệ sức khỏe nhân dân thì vai trò của y học dự phòng càng trở nên đặc biệt quan trọng. Không những chúng ta vẫn phải ngăn chặn, đề phòng những bệnh tật của mô hình một nước kém phát triển như các bệnh nhiễm khuẩn, tả, lỵ, thương hàn, sốt rét… mà còn phải đặt ra vấn đề phòng chống các bệnh ung thư, tim mạch, AIDS, bệnh nghề nghiệp, bệnh do tệ nạn xã hội… là mô hình bệnh tật của các nước phát triển.

Quan điểm về đạo đức của của người thầy thuốc

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức của người thầy thuốc là “lương y phải như từ mẫu” nghĩa là “thầy thuốc phải như mẹ hiền”. Đây là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng của Người về y đức. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghề thầy thuốc là một nghề đặc biệt, nó trực tiếp quan hệ đến sức khỏe, đến tính mệnh của con người. “Thầy thuốc phải như mẹ hiền” là một đòi hỏi khách quan trong việc thực hành y nghiệp. Vì tính chất của nghề nghiệp mà người thầy thuốc phải giàu lòng nhân ái, chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần người bệnh, yêu thương người bệnh và săn sóc họ như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn như mình đau đớn. Người thầy thuốc phải lấy người bệnh là trung tâm, coi cứu người bệnh là mục đích hành đạo.

Hải Thượng Lãn ông cũng quan niệm người thầy thuốc phải nhiệt tình, không kể sang hèn, không kể giàu nghèo, phải tôn trọng người bệnh, không được cầu lợi, kể công, không được “đem nhân thuật để làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng mua bán”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm vấn đề quyết định y đức của người thầy thuốc là lương tâm đạo đức, là trách nhiệm bổn phận của người thầy thuốc “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang”. Người còn dặn dò các y tá “y tá chẳng những là một nghề nghiệp, mà là một nghĩa vụ. Người y tá chẳng những chữa bệnh mà còn phổ biến vệ sinh. Việc giữ gìn, bồi dưỡng sức khỏe của dân tộc, người y tá phải gánh một phần quan trọng. Vì vậy, y tá là những chiến sĩ đành giặc ốm, bảo vệ sự khang kiện của giống nòi. Những chiến sĩ y tá phải có chí chịu khổ, chịu khó, phải giàu lòng bác ái, hy sinh”. Theo Người nhân ái hay bác ái là nét nổi bậc trong nhân cách của người thầy thuốc, một nền y học tiến bộ phải tồn tại trên cái nền của lòng nhân ái.

Ngày nay, trong bối cảnh mới của đất nước, vấn đề y đức cũng đang được đặt ra như một vấn đề bức xúc. Sự chuyển đổi từ một nền y tế bao cấp sang một nền y tế trong cơ chế thị trường, những tác động tiêu cực của nó ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề giữ gìn đạo đức, phẩm chất của người thầy thuốc. Khi đồng tiền được đặt ra giữa người thầy thuốc và bệnh nhân. Khi người bệnh đến bệnh viện có nhiều phương thức trả tiền trong những điều kiện đời sống của những người thầy thuốc còn nhiều khó khăn, đồng lương còn chưa đủ ăn thì những tác động tiêu cực cũng đã làm không ít thầy thuốc bị xói mòn lương tâm đạo đức; đồng tiền, quà cáp đang làm thay đổi tiêu chí đối xử đối với bệnh nhân.

Nhận rõ tính bức xúc trên đây, trong thời gian qua ngành y tế bằng nhiều biện pháp đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng y đức, với quyết tâm càng ngày càng nâng cao hơn nữa lòng tin của nhân dân đối với ngành y tế. Bộ Y tế đã có chỉ thị về vấn đề y đức và chỉ thị đó dần dần đi vào thực tiễn và trở thành hành động của các nhân viên y tế. Bộ Y tế cũng đã ban hành 12 điều quy định về y đức. Có thể nói rằng 12 điều quy định này đã được dư luận rộng rãi nhân dân trong cả nước đồng tình và ủng hộ. Ở trong ngành y tế đã và đang có những đợt sinh hoạt chính trị rộng rãi để quán triệt, tổ chức thực hiện 12 điều quy định về y đức.

Những nội dung trọng tâm của 12 điều y đức là những quy định về tinh thần trách nhiệm, thái độ của người thầy thuốc đối với bệnh nhân, thái độ niềm nở, tận tình, khẩn trương tổ chức khám chữa, tôn trọng bệnh nhân không phân biệt giàu nghèo. Trong điều trị phải tận tình, chu đáo, luôn luôn có mặt ở vị trí công tác, theo dõi chặt chẽ, xử lý kịp thời các tình huống, phải thực hiện được điều như Cố Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch đã nói: “Đến, niềm nở tiếp đón. Ở, tận tình chăm sóc. Đi, ân cần dặn dò”.

Đối với đồngnghiệp phải tôn trọng, cộng tác, thân ái giúp đỡ lẫn nhau. Khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm nghề nghiệp của nhau, sẵn sàng chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm cho người khác.

Đối với nghề nghiệp, phải ra sức phấn đấu cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, có lòng yêu nghề sâu sắc, có lương tâm nghề nghiệp cao, không ngừng học tập và nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, xứng đáng là người thầy thuốc của nhân dân, vì nhân dân.

Ngoài lời dạy phải thương yêu người bệnh “Lương y phải như từ mẫu”, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc là “trước hết phải thật thà đoàn kết…” Bác Hồ nói “Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới, đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, Bác sĩ, Dược sĩ cho đến các chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân”

Toàn đảng, toàn quân, toàn dân ta đã và đang triển khai thực hiện cuộc vận động học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đối với vấn đề y đức, những người làm công tác y tế cần phải tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người từ những quan điểm về sức khỏe, y tế, y học và đạo đức của người thầy thuốc đã nêu trên.

Ngày 24/02/2011
TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh

nhoNguoicha

Bác Hồ với các nhà báo nước ngoài

Trên con đường đi tìm độc lập, tự do cho Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu một cách sâu sắc báo chí là một vũ khí sắc bén của cách mạng. Báo chí như V.I.Lênin khẳng định, là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể. Ngay từ những ngày đầu hoạt động, Bác Hồ đã viết báo để phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng của mình.

Đầu tiên Bác viết báo bằng tiếng Pháp cho những tờ “Đời sống thợ thuyền”, “Nhân loại” và những tờ báo cánh tả khác ở Pháp. Trong khi cộng tác với các báo cánh tả, Bác nhận thấy là người Pháp biết quá ít, cũng có thể nói là nhiều người chẳng biết gì về Việt Nam. Bác muốn viết nhiều những bài báo nói về tình hình của xứ Đông Dương thuộc địa, về bọn thực dân tàn ác đã mang đến cho người dân Đông Dương nhiều đau khổ. Mỗi bài báo của Bác như mũi tên, hòn đạn làm náo động dư luận Pháp và có ảnh hưởng lớn trong các nước thuộc địa.

Đối với các nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn là một người bạn lớn. Những nhà báo quốc tế khi đến Việt Nam đều mong muốn được gặp Người.

Trong Chiến khu Việt Bắc, trước ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, nhà báo Ô-xtrây-li-a Uyn-phrết Bớc-sét đã gặp Bác Hồ. Ông viết: “Dường như không thể tin được, nhưng thực sự chẳng có gì đáng nghi ngờ. Con người mảnh khảnh với chòm râu dài từ trong cánh rừng bước ra, gậy cầm tay, áo vắt vai, không phải ai khác mà chính là Cụ Hồ Chí Minh truyền thuyết. Được người Pháp đưa tin đã chết đến vài chục lần. Cụ vẫn ở đó tay dang rộng, mảnh dẻ, nhưng không thể nào nhầm được. Không thể nào quên được buổi gặp gỡ đầu tiên đó, với vẻ ấm cúng và thông minh trong đôi mắt nâu thẫm của Người. Đầu tiên, Cụ Hồ Chí Minh ân cần hỏi thăm về sức khoẻ của tôi.

Trên đường đến Việt Nam, tôi nghe đài sóng ngắn và thấy rằng phần nhiều tin từ Hà Nội bị Pháp chiếm đóng, đều nói về một địa điểm gọi là Điện Biên Phủ. Người Pháp đã chiếm được địa điểm này, làm một căn cứ để tấn công Việt Minh từ phía sau và để quét sạch các sở chỉ huy của họ. Câu hỏi đầu tiên của tôi là điều gì đang xảy ra ở Điện Biên Phủ?

Cụ Hồ lật ngửa chiếc mũ lưỡi trai che nắng của Người xuống bàn, đưa mấy ngón tay mảnh khảnh vòng quanh vành mũ và nói: “Đây là rừng núi, nơi có các lực lượng của chúng tôi. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ, ở đó là người Pháp với những đội quân tinh nhuệ nhất. Họ sẽ không bao giờ ra được – tuy có thể mất một ít thời gian”.

– Một Xta-lin-grát ở Đông Dương?

– Trên một phạm vi khiêm tốn, vâng, hơi giống Xta-lin-grát!”(1).

Và sau vài lần gặp gỡ, Bớc-sét viết: “Như tôi đã phát hiện trong nhiều cuộc gặp về sau, nét điển hình ở Cụ Hồ Chí Minh là chỉ với một vài từ, hoặc một vài hình ảnh, Cụ có thể trình bày được những vấn đề rất phức tạp! Hình ảnh những quân tinh nhuệ nhất của đội quân viễn chinh Pháp bị nhốt vào đáy mũ lưỡi trai của Cụ, sẽ là một cuộc chiến đấu lịch sử Điện Biên Phủ khi lên đến đỉnh cao”(2).

Chúng ta biết, Uyn-phrết Bớc-sét là một nhà báo nổi tiếng. Ông đã đem hết nhiệt tình của một nhà báo để ủng hộ những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Bớc-sét là nhà báo nước ngoài đã có mặt ở Hà Nội trong những ngày giải phóng Thủ đô 1954. Ông cũng là tác giả của cuốn sách “Phía bắc vĩ tuyến 17” được xuất bản ở nhiều nước. Trên bìa cuốn sách được in bằng tiếng Anh này, Bớc-sét đã ghi: “Tác giả bày tỏ niềm tin rằng không có sức mạnh nào có thể ngăn cản được nhân dân Việt Nam bắt tay với nhau qua hàng rào giả tạo đó để quét sạch nó!”.

Trong cuốn Hồi ký của mình, Bớc-sét viết: “Tôi đến Hải Phòng để theo dõi việc lá cờ Pháp bị hạ xuống lần đầu tiên ở phía Bắc vĩ tuyến 17 và việc các quan chức quân sự và hành chính cuối cùng xuống tầu chiến đi Sài Gòn. Vét-xa đánh dấu sự kiện lịch sử này, bằng việc cho Gioóc-giơ chào đời ở một bệnh viện Hà Nội”(3) (Vét-xa là vợ của Bớc-sét, cùng đến Việt Nam trong thời gian đó và sinh con trai ở Hà Nội).

Năm 1957, Bác Hồ sang thăm Mát-xcơ-va. Lúc đó Bớc-sét và Vét-xa cũng có mặt ở đó và cả hai cùng ra đón Bác. Sau này Bớc-sét đã kể lại một kỷ niệm lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho vợ chồng ông: “Một phần thưởng mà chúng tôi sớm nhận được để bù lại nỗi nhớ nhung Việt Nam là chỉ sau vài tuần chúng tôi đến Mát-xcơ-va, Cụ Hồ Chí Minh đã đến thăm chính thức Liên Xô. Nghi lễ đón tiếp có 21 phát súng đại bác, quốc ca hai nước, diễu hành của đội danh dự, giới thiệu với đoàn ngoại giao, rồi đến đoàn báo chí. Cụ Hồ đã trông thấy chúng tôi đứng ở hàng thứ ba trong giới báo chí. Trước sự lo sợ của nhân viên an ninh, lễ tân và trước cả sự ngạc nhiên của đoàn ngoại giao, Cụ Hồ đã rời hàng danh dự của những người đứng đón chào Cụ và bước đến chỗ chúng tôi, đặt bó hoa lớn mà Cụ vừa nhận được khi bước xuống máy bay vào tay của Vét-xa. Những thành viên khác của phái đoàn cũng làm giống như vậy, chuyển các bó hoa của họ cho chúng tôi và ôm hôn chúng tôi trước sự ngạc nhiên của các nhân viên an ninh và lễ tân.

Tính giản dị và quan hệ trước sau như một với bạn cũ của Cụ Hồ Chí Minh luôn luôn đứng trên mọi thứ nghi lễ ngoại giao. Một vài ngày sau, sau vài lần gọi giây nói, một xe hòm đen lớn chở chúng tôi đến một biệt thự đã từng là nơi ở của Xtalin trong khu rừng ngoại ô Mát-xcơ-va. Và ở đó, chúng tôi ăn cơm sáng với Cụ Hồ Chí Minh. Đó là một toà nhà gạch khá đơn giản, một số tường của nó có thể dễ dàng ngã xuống khi người ta bấm vào một cái nút để cho những người bảo vệ có thể chạy ra ngoài, đối phó với những kẻ xâm nhập. Bác Hồ kể cho chúng tôi nghe về những phát triển ở Việt Nam kể từ lúc chúng tôi ra đi. Bữa cơm sáng chỉ là sự nối lại của một tình bạn thân thiết và nói lên tình cảm thân ái của Cụ Hồ Chí Minh”. Và Bớc-sét đã ghi lại một sự kiện nữa: “Những biểu hiện chú ý đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu như chắc chắn đã giúp chúng tôi giải quyết được một trong những khó khăn lớn. Việc cung cấp nhà ở cho những nhà ngoại giao và nhà báo là do cơ quan phục vụ ngoại giao đoàn phụ trách và cho đến trước khi có cuộc đi thăm của Bác Hồ, mỗi lần tôi hỏi về nhà cửa thì chỉ được đáp bằng những cái nhìn lạnh lẽo. Nhưng sau đó, thình lình tôi được cấp chỗ ở tại khu Vi-xốt-ni Đôm, một khu nhà đẹp nhìn xuống sông Mát-xcơ-va, cách nửa dặm về phía Crem-li. Cùng ở với chúng tôi trong ngôi nhà đó là những nhân vật nổi tiếng như nữ diễn viên ba-lê Ga-li-na U-la-nô-va và nhà viết xã luận A-lếch-xăng-đrơ Tva-đốp-xki. Người ta nói rằng trước kia chính Xtalin trực tiếp duyệt danh sách những người được ở ngôi nhà này”(4).

Một nhà báo Chi-lê viết: Trong cách đối xử với chúng tôi, Người thân ái một cách đặc biệt, nhất là khi Người nói với chúng tôi bằng tiếng Tây-ban-nha. Người đã từng đến châu Mỹ La-tinh, làm phụ bếp trên những chiếc tàu buôn. Con người từng bôn ba ở nước ngoài, từng kiếm sống bằng nghề nấu bếp bình thường ấy đứng trước chúng tôi giản dị thế, mặc dù Người có sức hút khổng lồ trên thế giới. Hình như nhà báo nào đã có vinh dự gặp Bác, đều ghi lại những ấn tượng đặc biệt!

Một trong những niềm yêu thích của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đọc sách báo. Trong phòng làm việc của Người luôn có các tờ báo xuất bản ở trong nước và cả báo chí nước ngoài nữa. Người đọc kỹ, ghi những nhận xét vào bên cạnh những bài báo mà Người quan tâm. Nhiều đêm khuya, công việc xong. Người ngả lưng trên giường, mở chiếc đài nhỏ nghe những buổi phát thanh trong và ngoài nước và Người nói: Tôi muốn nghe tiếng nói của nhân loại!
Trong Phủ Chủ tịch, phía sau có một khoảng đất rộng chừng 100 mét vuông, trải sỏi. Bao quanh phía ngoài là một giàn hoa hình bán nguyệt. Giàn hoa rực rỡ màu đỏ tím của hoa, màu xanh của lá, hoà nhập với cảnh quan của khu vườn nổi tiếng. Chính ở nơi đây, với bộ bàn ghế giản dị, Bác Hồ đã tiếp và trả lời phỏng vấn của nhiều nhà báo nước ngoài. Sau này, nhiều người trở lại Việt Nam đứng dưới giàn hoa này đã xúc động nói: Chúng tôi rất nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người rất hiểu chúng tôi. Người là người anh, người bạn và cũng là Bác Hồ của chúng tôi! Năm 1946, trong dịp Bác Hồ sang thăm Pháp, bà Ăng-đrê Vi-ô-lit, tác giả cuốn Đông Dương kêu cứu đã giới thiệu với Người, một cô gái trẻ 18 tuổi, một nhà báo mới vào nghề, đang tập sự ở toà soạn báo Se Soir (Chiều nay). Hồ Chủ tịch vui vẻ đến gần, Người nói một cách trìu mến bằng tiếng Pháp: Con gái của tôi! Đó chính là Ma-đơ-len Ri-phô! Tuy còn trẻ nhưng cô gái xinh đẹp và dũng cảm này đã từng là một chiến sĩ chống phát-xít. Bác Hồ ân cần nói với cô: Làm báo là một nghề chân chính!

Sau này, Ri-phô đã nhiều lần sang Việt Nam. Nhiều bài báo của chị nói về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã được in trên báo Nhân đạo, giúp nhân dân Pháp hiểu rõ cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trong một cuộc tiếp xúc với các nhà báo ở Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, Bác Hồ đã chủ động đến bên cạnh Ma-đơ-len Ri-phô, Người nói một cách vui vẻ:

– Ô kìa các vị hãy nhìn cô gái nhỏ nhắn này! Cô ấy không còn nhận ra tôi nữa chắc?

– Ma-đơ-len Ri-phô xúc động, nói:

– Thưa Bác, không, con gái của Người vẫn nhận ra Người đấy chứ! Nhưng con thật không ngờ Người vẫn nhớ đến con!

Khi nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Ma-đơ-len Ri-phô lại sang Việt Nam. Chị đã cùng nhà báo Bớc-sét vượt Trường Sơn vào vùng giải phóng miền Nam Việt Nam. Ri-phô cũng mặc quần áo bà ba đen, đội mũ tai bèo, đi dép lốp cao su và khăn rằn trên vai như những cô gái du kích miền Nam.

Chị đã viết những cuốn phóng sự nổi tiếng: Trong căn cứ Việt Cộng và ở miền Bắc Việt Nam viết dưới bom đạn và chị đã gửi tặng Bác Hồ cả hai cuốn sách đó, với lời đề tặng:

Kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự biết ơn sâu sắc và tất cả tấm lòng yêu mến của con đối với Người, với Đảng, với Nhân dân của Người, đang chiến đấu và chiến thắng những tên phát-xít mới!

___

(1,2,3,4) Hồi ký Bớc-sét, NXB Thông tin lý luận, H.1985, các trang 254, 255, 276, 286, 287, 288.

Bùi Công Bính
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Về chiếc khay nhỏ bằng đồng ở di tích H67

Trên chiếc bàn to Bác Hồ thường làm việc và chủ trì các cuộc họp với Bộ Chính trị được kê trong Nhà Di tích H67 ở Khu Di tích Phủ Chủ tịch có trưng bày một chiếc khay nhỏ làm bằng đồng. Chiếc khay được đặt cạnh những cuốn sách, những tờ báo Bác Hồ đang xem trước lúc đi xa…

Chiếc khay có số kiểm kê BT HCM 1043/KL-37 và đã được nghiên cứu, xác định, xây dựng hồ sơ khoa học.

Theo hồ sơ khoa học, chiếc khay nhỏ làm bằng đồng ấy là quà tặng của chị Mácta Rôhát Rôđrigết – phóng viên, Chủ nhiệm báo Granma – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cu Ba biếu Bác Hồ nhân dịp chị sang thăm Việt Nam, được Bác Hồ tiếp và trả lời phỏng vấn ngày 14-7-1969.

Sau ngày Bác Hồ qua đời, cùng với các di vật của Bác trong Khu Phủ Chủ tịch, chiếc khay đã được ghi chép vào Sổ kiểm kê bước đầu ngày 23 tháng 12 năm 1970 và có Bản ghi chép về chiếc khay này (xem bản ghi chép của ông Phạm Hồng Thăng).

Chiếc khay có hình tam giác cân, góc đỉnh hơi uốn cong, ở giữa lõm có hình con cá, xung quanh hình con cá là những chấm nổi nhỏ. Chiếc khay có cạnh đáy 8,7cm, cạnh bên 17cm.

Qua nghiên cứu các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Phu Chủ tịch, đã có nhiều đoàn đại biểu và các nhà báo Cu Ba được Bác Hồ tiếp tại nơi ở và làm việc của Người. Người còn gửi nhiều điện mừng tới các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Cu Ba nhân dịp các ngày lễ lớn như:

– Ngày 30-12-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chúc mừng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cu Ba nhân kỷ niệm 5 năm cách mạng Cu Ba thành công.

– Ngày 28-1-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo Cu Ba “Niticias dehoy” (Tin tức hôm nay) nhân kỷ niệm lần thứ 34 Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Ngày 30-9-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đồng chí Ramôngxôlô Mayô, cán bộ Viện Hữu nghị các dân tộc của nước Cộng hoà nhân dân Cu Ba làm trưởng đoàn sang thăm Cu Ba. Đoàn có thư và quà của Chủ tịch Phiđen Cátxtơrô gửi tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Ngày 19-7-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và trả lời phỏng vấn nhà báo Cu Ba: Gabơrien (báo Hôm nay), Luitxơ và Baetxơ (báo Cách mạng) đang ở thăm và làm việc tại Việt Nam.

– Chiều 29-10-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đón Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản và Chính phủ Cu Ba do Tổng thống ÔĐoócticốt dẫn đầu.

– Ngày 31-10-1966, Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Cu Ba vào thăm nhà sàn gỗ và được Chủ tịch Hồ Chí Minh mở tiệc chiêu đãi trước khi về nước.
– Ngày 22-1-1967, Đoàn quay phim Cu Ba quay phim tại nơi ở và làm việc của Người.

– Ngày 13-2-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp bà Menba Hécmanđê, Chủ tịch Uỷ ban Cu Ba đoàn kết với Việt Nam và đoàn đại biểu Viện Hữu nghị các dân tộc của nước Cộng hoà nhân dân Cu Ba sang thăm Việt Nam.

Theo lời kể của ông Cù Văn Chước – nguyên Trưởng phòng Hành chính – Tổng hợp, Văn phòng Phủ Chủ tịch, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, trong thời gian đến thăm Việt Nam, ngày 14-7-1969 chị M.Rôhát được Bác Hồ tiếp ở phòng giải lao Bộ Chính trị sau này làm buồng hội đồng bác sĩ chữa bệnh cho Bác. Trong buổi tiếp chị hỏi Người: “Nhân dân Việt Nam lấy sức mạnh thần kỳ của mình ở đâu để chống những kẻ thù cực mạnh như bọn Mỹ? Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: Trước hết đó là sự đoàn kết. Nhưng sự đoàn kết nhất chí đó dựa trên niềm tin sắt đá rằng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Chính vì nhân dân Việt Nam từ Nam chí Bắc đều tin tưởng sâu sắc họ có thể đoàn kết với cố gắng to lớn nhất và vượt qua mọi trở ngại (như các vấn đề phức tạp nhất, sự đàn áp tàn bạo nhất) mà kẻ thù hiện nay là đế quốc Mỹ dựng lên trước mặt họ. Cũng chính vì thế, trong từng giây phút chiến đấu họ vẫn giữ được tinh thần hết sức trong sáng và niềm lạc quan đôi khi làm ngạc nhiên những ai từng giá trị của tư tưởng nói trên mà Bác Hồ đã khắc sâu vào trái tim, khối óc của mỗi người Việt Nam”. Cuối buổi nói chuyện chị tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh chiếc khay này và Người tặng lại chị một bông hoa hồng được hái trong vườn Phủ Chủ tịch.

Cũng theo các nhân chứng lịch sử, chiếc khay được Bác Hồ trân trọng đặt luôn trên chiếc bàn làm việc của mình ở nhà H67 (trên khay, Bác đặt những chiếc ghim sắt để ghim giấy và ghim các bài báo cắt dán), vì ngôi nhà được xây xong khoảng cuối tháng 6-1967 nên có tên gọi là nhà H67. Thời gian từ 7-1969 sức khỏe của Bác yếu nhiều. Theo yêu cầu của các bác sỹ chăm sóc sức khỏe cho Người, Bác Hồ đã không còn lên xuống cầu thang Nhà sàn được nữa mà ở hẳn Nhà H67 từ ngày 17-8-1969.

Nội dung cuộc trò chuyện giữa chị và Bác Hồ hôm ấy đã đề cập đến nhiều vấn đề. Khi chị M.Rôhát hỏi Bác về khả năng vượt qua khó khăn, thử thách của cuộc chiến chống kẻ thù hung bạo, Bác đã trả lời: “Sức mạnh của nhân dân Việt Nam là ở chỗ nào? Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và ở sự ủng hộ của nhân dân thế giới”; Sau khi trả lời những câu hỏi về ý nghĩa của sự đoàn kết quốc tế, đặc biệt là của nhân dân Cu Ba, về những tiến bộ của nhân dân Việt Nam trên các lĩnh vực trong điều kiện chiến tranh ác liệt…”. Sau đó, Người nói: “Tôi muốn đồng chí chuyển về Cu Ba những lời sau đây: Tôi vô cùng yêu mến nhân dân Cu Ba. Tôi xin gửi lời chào đến toàn thể nhân dân Cu Ba, từ các đồng chí lãnh đạo đến các cháu thiếu nhi. Chúc các bạn thu được nhiều thành tựu trong mùa mía mười triệu tấn. Cho tôi gửi những cái hôn nồng nhiệt đến các cháu thiếu nhi và thanh niên. Đồng thời, tôi cũng chúc nhân dân các nước khác ở Châu Mỹ La tinh tự giải phóng khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc Yăngki. Về phần mình, chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh và sẽ chiến thắng. Chúng tôi đã nói như vậy và chúng tôi khẳng định lại như vậy”. Trả lời chị về tình cảm của mình đối với nhân dân hai miền Nam – Bắc Việt Nam, Bác nói: “Đồng chí muốn biết tình cảm của tôi đối với miền Bắc và đối với miền Nam phải không? Tôi yêu đồng bào ở miền Bắc cũng như yêu đồng bào ở miền Nam. Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi. Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng, gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Những câu chuyện trả lời phỏng vấn của Bác Hồ ngày 14-7-1969 được chị viết thành bài với tiêu đề: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi” bằng tiếng Tây Ban Nha đăng ngày 29-7-1969, tiếng Phápđăng ngày 3-8-1969, trên báo Granmatrước lúc Bác mất một tháng. Ngày 27-9-1969 Báo Nhân dân đã đăng bản dịch bài trả lời phỏng vấn ấy. Những ai lúc đó được đọc bài trả lời phỏng vấn này đều không cầm nổi nước mắt trước tấm lòng yêu nước thương dân, tin tưởng vào nhân dân của Bác Hồ.

Cuộc trò chuyện thân tình, cởi mở ngày 14-7-1969 ấy đã để lại trong lòng nữ nhà báo Cu Ba những cảm xúc mãnh liệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chị viết: “Người rất khiêm tốn, Người là một nhà Lêninnit trong thái độ đối với cuộc sống, đối với chính mình và trong đời sống riêng tư. Người nghĩ về cuộc đời riêng mình ít nhất. Tất cả cuộc đời của Người và tất cả những ý nghĩ của Người đều cống hiến cho cuộc đấu tranh vì tự do và hạnh phúc của nhân dân. Cùng với nhân dân, Người đã tham gia chống thực dân Pháp và được nhân dân giao phó cho Người, vị Chủ tịch đầu tiên của mình, đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc đấu tranh anh hùng, bất khuất chống bọn xâm lược Mỹ”. Chị tâm sự, bông hồng tự tay Người hái trong vườn tặng chị ngày ấy, được chị trân trọng và gìn giữ như vật báu của đời mình. Mỗi khi gặp khó khăn trong cuộc sống, chị lại mở cuốn sổ tay có ép bông hoa đó để động viên mình cố gắng vượt qua.

Có những thông tin cho rằng, sinh thời Bác đã sử dụng chiếc khay này làm gạt tàn thuốc lá là hoàn toàn không đúng. Bởi vì Người đã bỏ thuốc lá từ năm 1967 (về vấn đề này xin xem hồ sơ khoa học chiếc gạt tàn thuốc lá và tư liệu của phòng Sưu tầm – Kiểm kê – Tư liệu của Khu Di tích Phủ Chủ tịch).

Qua Hồ sơ khoa học và qua những tư liệu chúng tôi thu thập được, có thể nói chiếc khay này là món quà quốc tế tặng Bác cuối cùng và Chị M.Rôhát là một trong hai nhà báo nước ngoài cuối cùng được gặp Bác Hồ để phỏng vấn (ngày 14-7-1969 Bác Hồ tiếp chị M.Rôhát, ngày 15-7-1969 Bác Hồ tiếp và trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Nhân đạo của ĐCS Pháp Sáclơ Phuốcniô, chỉ sau đó 17 ngày Bác Hồ đã vĩnh biệt chúng ta để đi vào cõi vĩnh hằng, để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân niềm tiếc thương vô hạn). Cho đến nay chiếc khay vẫn được đặt ở vị trí vốn có của nó (Di tích H67). Cùng với sự tồn tại của di tích, chiếc khay là một vật chứng, minh chứng cho những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày tháng cuối đời của mình tại khu Phủ Chủ tịch. Qua đó thể hiện được tình cảm tốt đẹp của Người đối với nhân dân Cu Ba và của nhân dân Cu Ba đối với Người.

Hồ sơ khoa học của chiếc khay hiện đang lưu giữ trong kho tư liệu của Khu di tích Phủ Chủ tịch./

Trần Thị Thuấn
Theo ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những cuốn sách hay về Bác Hồ (2)

Tên Người là Hồ Chí Minh. Trẻ em Việt Nam gọi Người với cái tên thân thương là Bác Hồ. Nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác, chuyên mục Sách hay báo Ngoisao tiếp tục giới thiệu với độc giả yêu sách những tác phẩm đáng chú ý viết về người lãnh tụ vĩ đại của đất nước.

>> Những cuốn sách hay về Bác Hồ (1)

9. Theo chân Bác
– Tác giả: Tố Hữu – Văn Thơ
– Số trang: 40
– Giá bán: 25.000 đồng

Đây là tập thơ viết để tưởng nhớ Bác.

Tháng năm ơi, có thể nào quên
Hàng bóng cờ tang thắt dải đen
Rủ nhau giữa lòng đau. Ta nhớ mãi
Cuộc đời như ngọn lửa đầu tiên

Tôi viết bài thơ mừng thọ Bác
Năm nay vừa tuổi tám mươi tròn
Chắc như thường lệ, Người đi vắng
Để mọi lời ca tặng nước non.

Tôi viết bài thơ cho các con
Mai sau được thấy Bác như còn
Phơ phơ tóc bạc, chòm râu mát
Đôi dép mòn đi, in dấu son.

10. Cháu Bác Hồ
– Tác giả: Lâm Quang Ngọc
– Số trang: 68
– Giá bán: 8.000 đồng

Cháu Bác Hồ là câu chuyện cảm động mà nhà văn Lâm Quang Ngọc viết cách đây đã trên 40 năm. Trải qua mấy chục năm như vậy nhưng tình cảm trong trẻo, hồn nhiên của cháu bé làng quê ngày chống Pháp cùng với đám bạn bè đối với Bác kính yêu thì vẫn tươi mới và đầy xúc động.

“Ngọc theo mẹ tản cư, đến ở nhờ nhà mẹ con Duẫn. Nhà Duẫn rất nghèo, Duẫn phải đi chăn trâu mướn cho địa chủ. Một hôm, có bộ đội hành quân qua làng. Duẫn và Ngọc được một anh bộ đội kể cho nghe chuyện Bác Hồ, chuyện Kim Đồng… Từ đó hình ảnh Bác Hồ và Kim Đồng cứ khắc sâu vào tâm trí các em.

Duẫn muốn viết được thư cho Bác Hồ nên đã cố học chữ. Lần khác, anh bộ đội quen biết lại trở về làng, đem cho các em một tấm ảnh Bác. Cả đám trẻ chăn trâu em nào cũng muốn viết được thư cho Bác nên đã tổ chức học chữ trong những lúc đi chăn trâu. Nhưng rồi một hôm địch đến đốt phá làng. Duẫn theo người lớn chạy giặc, chợt nhớ đến bức ảnh Bác, em rủ Ngọc chạy về lấy. Lúc trở ra Duẫn bị trúng đạn của địch những vừa lúc ấy bộ đội ta kéo về làng chống càn…

11. Thư ký Bác Hồ kể chuyện – Từ Hà Nội đến chiến khu Việt Bắc
– Tác giả: Vũ Kỳ
– Số trang: 120
– Giá bán: 12.000 đồng

Bàn luận về tác phẩm của Vũ Kỳ – nguyên thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn Dương Trung Quốc viết: Chúng ta nói nhiều đến việc bảo tồn các di tích lịch sử, cái mà ngày nay người ta hay dùng thuật ngữ “di sản vật thể”, nhưng không mấy ai quan tâm đến một di sản vô cùng quý giá khác, thuộc phạm trù “phi vật thể”, đó là ký ức của con người. Một phế tích dù có to lớn đến mấy, một khi có tiền, có kỹ thuật và có thời gian thì đều phục dựng lại được. Nhưng mỗi con người một khi đã nằm xuống thì mãi mãi mọi cái ở trong đầu con người ấy sẽ tan biến và không bao giờ có thể lấy lại được nữa. Chẳng có người từng ví, mỗi người gia nằm xuống là mất đi một pho sách quý. Mà với Vũ Kỳ, hẳn đó phải là một pho sách rất quý. Bởi lẽ như một định mệnh, cuộc đời ông gắn bó với tên tuổi của một còn người gắn với cả cả một thời đại lịch sử của dân tộc, một người đã được thế giới đánh giá là góp phần làm thay đổi diện mạo hành tinh của chúng ta trong thế kỷ XX. Đó là chủ tịch Hồ Chí Minh.

12. Người ném bóng một mình
– Tác giả: Phạm Đức
– Số trang: 68
– Giá bán: 5.000 đồng

Tập sách là những câu chuyện nhỏ hết sức cảm động về Bác Hồ được nhà thơ Phạm Đức ghi lại chân thực, đằm thắm qua lời kể của đồng chí Vũ Kỳ.

13. Nhật ký trong tù

– Tác giả: Hồ Chí Minh
– Số trang: 360
– Giá: 35.000

Nhà văn Vũ Quần Phương từng nhận định: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng. Thơ đối với Người chỉ là một thú chơi, hay một phương tiện cổ động cách mạng. Tập thơ nổi tiếng nhất của Người Nhật ký trong tù cũng ra đời như một sự bất đắc dĩ. Trong tù, không làm gì được thì làm thơ:

Ngâm thơ ta vốn không ham
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây?
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do

Thơ ghi nhật ký, mà nhật ký thì không bỏ những việc thường ngày. Hồ Chí Minh trung thực với chính mình. Người ghi đủ, từ việc thanh nhã ngắm trăng, thổi sáo đến việc gãi ghẻ, việc ngồi trên hố xí… rất chi là khó nói. Ấy thế mà thành thơ, mà nên thơ. Cách hành xử của con người, ngay trong những việc tầm thường nhất, cũng bộc lộ phẩm cách. Phẩm cách lớn Hồ Chí Minh đã tạo chất thơ mới lạ, đầy bất ngờ cho những việc tầm thường ấy. Bài thơ Mới đến nhà lao Thiên Bảo có bốn câu thì ba câu rưỡi chưa thấy thơ, chỉ toàn lượng thông tin: đi bộ 53 cây số một ngày, rách tan một đôi giày, quần áo đẫm nước mưa, đến nơi, phòng giam chật, không chỗ ngủ, đành phải leo tạm lên ngồi trên hố xí, nhưng đến ba chữ cuối đợi ngày mai, thì chúng ta gặp thơ: Xí khanh tượng tọa đãi triêu lai. Đợi ngày mai nghĩa đen là đợi cho qua cái đêm cụ thể đó, nghĩa bóng gần là đợi lúc được ra tù, nghĩa xa là đợi vận hội mới của cách mạng, là tính đường đi nước bước cho ngày mai của đất nước. Chất thơ mới và cao là ở đó… Đấy cũng là một phương châm sống trong tù Thân thể ở trong lao/Tinh thần ở ngoài lao đã được đề trên bìa tập nhật ký.

Bài thơ mộc mạc này còn mang một ý nghĩa cách tân cho thơ hiện đại. Ấy là sự mở rộng phạm vi cái nên thơ. Đâu cứ phải mây gió trăng hoa tuyết núi sông… mới có thể vào thơ, thành thơ, mà bất cứ nơi nào có vui buồn của con người thì đều có thể thành thơ. Những người quen đọc thứ thơ mỹ tự chắc không khỏi giật mình khi đọc:

Đau khổ chi bằng mất tự do
Đến buồn đi ỉa cũng không cho
Cửa tù khi mở, không đau bụng
Đau bụng thì không mở cửa tù.

Nhưng thử hỏi có ví dụ nào nói đến đáy nỗi nhục nhã khi bị mất tự do như câu thơ này không? Dòng chữ nối tiếng chạy trên đá hoa cương trong lăng Người “Không có gì quý hơn độc lập tự do” chính là đã kết tinh từ những cảnh ngộ mà đời người đã trải, thơ Người đã tả…

14. Hồi ký về Bác Hồ
– Tác giả: Nhiều tác giả
– Số trang: 140
– Giá bán: 16.000 đồng

Nhớ lại thời trên chiến khu, có những buổi hoàng hôn se lạnh, cánh rừng chiều u tịch, Bác vun lá cây khô thành một đống nhỏ, châm lửa đốt, rồi một mình trầm ngâm suy tưởng trước những lưỡi lửa chập chờn ngày càng hồng lên trong bóng đêm dần buông xuống.

Nhớ lại Hà Nội thời chống Mỹ, cuối buổi làm việc thứ ba trong ngày, gần 23 giờ, mọi người ra về cùng vợ con, gia đình, nhà sàn của Bác vẫn chiếu ra ánh đèn, nơi ấy có lần Bác bảo đồng chí giúp việc dẫu đã khuya cũng đừng tắt đài đi, cứ để đấy có tiếng người cho đỡ vắng.

Bác đã nghĩ gì trước những lưỡi lửa chiến khu và trong ánh đèn Hà Nội, về những công việc hàng ngày, về những con người quanh mình, về dân tộc, về thế giới, về cái mênh mông sâu thẳm của đời người?

Và còn nữa muôn vàn những điều về Bác Hồ mà có lẽ chúng ta còn chưa biết đến. Tất cả đã được ghi lại trong những trang hồi ký của nhiều tác giả Hồi ký về Bác Hồ.

15. Hồ Chí Minh – Tên Người là cả một niềm thơ
– Tác giả: Nhiều tác giả
– Số trang: 152
– Giá: 20.000 đồng

Từ con người vốn thật đẹp trong cuộc đời, Bác Hồ đã đi vào thơ ca và trở thành một hình tượng nghệ thuật có sức rung động và toả sáng mạnh mẽ. Đó là con đường đi của quy luật điển hình hoá trong thơ. Và thơ ca đã đem đến cho chúng ta một hình tượng Bác Hồ đẹp đẽ sinh động, đạt đến mức điển hình, bởi vì ở hình tượng Bác, vừa có những phẩm chất chung ưu tú của người lãnh tụ, đồng thời lại mang nét riêng của Bác, mang phong thái Hồ Chí Minh. Và ở những tác phẩm thành công, thì hai yếu tố riêng – chung đó đã hoà làm một trong con người tuyệt đẹp ấy, con người mà sự hài hoà đã trở thành nét bản chất tự nhiên trong cuộc sống.

Đề tài Bác Hồ là một sự hấp dẫn lớn đối với các thi sĩ, là nguồn cảm hứng sáng tạo không bao giờ cạn, là dòng sông thơ tuôn chảy mãi không ngừng và hoà tan trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam và bạn bè khắp năm châu.

Hồ Chí Minh – tên Người là cả một niềm thơ gồm 50 bài thơ hay viết về Bác Hồ, được sắp xếp theo thứ tự thời gian hy vọng sẽ mang lại cho độc giả một món quà tinh thần quý giá.

ngoisao.net

Những cuốn sách hay về Bác Hồ (1)

Tên Người là Hồ Chí Minh. Trẻ em Việt Nam gọi Người với cái tên thân thương là Bác Hồ. Nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác, chuyên mục Sách hay báo Ngoisao xin giới thiệu với độc giả yêu sách những tác phẩm đáng chú ý viết về người lãnh tụ vĩ đại của đất nước.

1. Búp sen xanh
– Tác giả: Sơn Tùng
– Số trang: 356
– Giá: 45.000 đồng

Nói về cuốn sách này, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết:

Chúng ta có một khẩu hiệu rất đúng, rất hay: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Đúng như vậy, Hồ Chủ tịch sống mãi trong tư tưởng và tình cảm lớn, trong toàn bộ hoạt động cách mạng của nhân dân Việt Nam, của mọi người chúng ta. Đồng thời Hồ Chủ tịch cũng sống mãi trong những tác phẩm văn học và nghệ thuật có giá trị diễn tả một cuộc đời đã trở thành lịch sử, những trang sử đẹp nhất và vẻ vang nhất của dân tộc.

Tôi muốn nói đôi điều về cuốn tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng, mà nhiều độc giả, nhất là trong giới thanh, thiếu niên ưa thích; và báo chí nước ta đã đăng những bài bình luận và đánh giá mà theo tôi biết, tác giả rất chú trọng. Cuốn sách “Búp sen xanh” nêu lên một vấn đề: ở đây tiểu thuyết và lịch sử có thể gặp nhau không? Vấn đề này các đồng chí hoạt động trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật và nói chung tất cả chúng ta cần suy nghĩ để có thái độ. Song ở đây cũng vậy, lời nói có trọng lượng rất lớn thuộc về người đọc, nghĩa là nhân dân.

2. Cha và con
– Tác giả: Hồ Phương
– Số trang: 380
– Giá: 60.000 đồng

Với hơn 300 trang sách, Cha và con khắc họa chân dung Bác Hồ từ khi là cậu bé 10 tuổi đến khi quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Không gian mở rộng từ làng Sen, làng Chùa (Nam Đàn, Nghệ An), kinh đô Huế, Bình Khê, Phan Thiết – nơi cụ thân sinh của Bác dạy học đến Sài Gòn – nơi chàng trai Nguyễn Tất Thành nhận thức được rằng “muốn đánh Pháp phải hiểu được Pháp” và lên đường xuất dương.

Viết về một thời kỳ lịch sử còn đậm đặc chất phong kiến, nhưng nhà văn Hồ Phương chọn cách thể hiện nhanh, khá hiện đại, mang màu sắc điện ảnh.

Tự bạch về tác phẩm này, Hồ Phương viết: “Đã từ lâu tôi rất muốn được viết một cái gì đó về Bác Hồ. Nhưng phải tới gần đây mới có đủ điều kiện để đặt bút. Tôi đã viết về Bác với tất cả tấm lòng kính trọng và yêu quý. Tôi cố gắng tìm cho mình một cái nhìn mới với những tìm tòi mới, khám phá mới dù còn nhỏ bé của mình để viết về Bác thông qua thể loại tiểu thuyết. Đây hoàn toàn không phải “truyện ký danh nhân” hoặc “tiểu sử danh nhân”. Tôi hy vọng rằng tiểu thuyết sẽ mang được những rung cảm, những suy nghĩ, những tìm tòi và sáng tạo văn học của mình…”.

3. Từ làng Sen
– Tác giả: Lê Lam – Sơn Tùng
– Số trang: 36
– Giá bán: 20 000 đồng

Tên Người là Hồ Chí Minh. Trẻ em Việt Nam gọi Người là Bác Hồ.

Nói cho đúng, Người có nhiều tên gọi. Hồ Chí Minh là một trong vô số những tên do Người tự đặt cho mình để thoát khỏi sự theo dõi ráo riết của cảnh sát nhiều nước.
Chính là Người đã làm nên Điện Biên Phủ, chiến thắng đã giành lại nền độc lập cho nước Việt Nam. Người đã theo đuổi cho đến hơi thở cuối cùng cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới.

Không nhân nhượng về nguyên tắc, mềm dẻo và thực tế trong thực hiện, là nhà thơ tùy hứng, bạn thân của trẻ con và những con người bình thường, Người được nhân dân cả nước tôn sùng và có uy tín quốc tế thực sự. Tổ chức LHQ về khoa học, giáo dục, văn hóa (UNESCO) đã kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người vào năm 1990 trên toàn thế giới.

Cuốn sách tranh Từ Làng Sen có quan hệ khăng khít với Búp Sen Xanh, gồm 25 bức tranh mà mỗi bức là một cảm thụ, một thi hứng với một ý tứ đã đúc kết nên hình ảnh trọn vẹn. Những hình ảnh đó chính là gia đình, quê hương, trường học và các sự kiện nóng bỏng trên khắp đất nước đã tạo nên cốt cách, tâm hồn, tư tưởng và chí hướng tìm đường cứu nước của Bác.

Hai tác giả của Từ Làng Sen rất tâm huyết khắc họa dăm ba “giọt nước nhỏ” trong Biển-Cả-Bác-Hồ để cùng các em nhỏ tưởng nhớ và biết ơn Người.

4. Bác Hồ – Người cho em tất cả
– Tác giả: Anh Chi và Ban biên tập Kỹ – Mỹ thuật
– Số trang: 56
– Giá bán: 30.000 đồng

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng. Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu nhi Việt Nam…” Các vị lãnh tụ nào gần gũi với thiếu nhi hơn Bác của chúng em? Bao năm qua, những lời hát luôn ngân vang trong hàng triệu trái tim nhiều thế hệ tuổi thơ cả nước.

Bác Hồ – Người cho em tất cả là tuyển chọn một số ca khúc nổi tiếng của các nhạc sĩ Phạm Tuyên, Phong Nhã, Hà Hải, Hoàng Long, Hoàng Lân, Phan Huỳnh Điểu… Mỗi giai điệu, lời ca được các nhạc sĩ thể hiện theo màu sắc riêng nhưng tất cả đều dạt dào tấm lòng kính yêu Bác.

5. Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người
– 
Tác giả: Anh Chi và Ban biên tập Kỹ – Mỹ thuật
– Số trang: 64
– Giá bán: 30.000 đồng

“Cả cuộc đời vĩ đại của Hồ Chủ tịch là tấm gương mãi mãi sáng ngời chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị…”

Với con mắt nghệ thuật, tài hoa, ẩn chứa tràn đầy cảm xúc về Bác, các nhà nhiếp ảnh đã ghi lại những sự kiện đấy ý nghĩa mang dấu ấn lịch sử về cuộc đời và sự nghiệp Cách mạng của Bác. Hy vọng cuốn sách sẽ là món quà ấm áp gửi đến bạn đọc trong những ngày cả nước đang hướng về Hồ Chủ tịch.

6. Bác Hồ viết di chúc và di chúc của Bác Hồ
– Tác giả: Vũ Kỳ
– Số trang: 164
– Giá: 25.000

Cuốn hồi ký của Vũ Kỳ viết kể lại những tháng ngày sống và làm việc cùng Bác.

7. Bác Hồ kính yêu
– Tác giả: Nhiều tác giả
– Số trang: 140
– Giá: 24.000

Tình cảm của Bác với đồng bào, đồng chí, với nhân loại thật bao la, mênh mông. Nhưng riêng với thiếu nhi chúng ta, Bác còn thương yêu thắm thiết hơn ai hết. Trong cuộc đời cách mạng, Bác hết lòng chăm sóc và dạy dỗ lớp mầm non của Tổ quốc, và cho đến khi sắp qua đời, Bác còn để lại cho các cháu “muôn vàn tình thương yêu”.

Càng nhớ ơn và kính yêu Bác bao nhiêu, chúng ta càng muốn biết những chuyện về đời hoạt động cách mạng của Bác, để học tập noi gương Bác, rèn luyện trở thành những chiến sĩ trung thành và xuất sắc, kế tục sự nghiệp vĩ đại của Bác. Bác Hồ kính yêu là một tuyển tập các mẩu chuyện về Bác và cuộc đời hoạt động cách mạng của vị lãnh tụ.

8. Lăng Bác Hồ
– Tác giả: Tô Hoài
– Số trang: 116
– Giá: 16.000

Nhà văn Tô Hoài với tầm hiểu biết sâu sắc về quá trình xây dựng Lăng Bác Hồ đã thể hiện một cuốn sách đặc biệt cho thiếu nhi.

Còn tiếp…

***

ngoisao.net