Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Kỷ niệm đi chợ Tết cùng Bác Hồ của người cận vệ già

Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”.

Ông là Lê Minh Thưởng (SN 1940), ở xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Với ông, 10 năm được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ là quãng thời gian hạnh phúcvà thấy mình sống có ích nhất. Ông nói mình đã học được rất nhiều điều hay tốt đẹp từ vị cha già của dân tộc. Ông vẫn luôn tự hào khi kể cho con cháu nghe về công việc một thời gắn bó.

Hạnh phúc cả đời vì được bảo vệ Bác

Ấn tượng đầu tiên khi gặp ông là sự nhanh nhẹn, giọng nói to rõ ràng, phong thái khoẻ khoắn, dù đã vào tuổi “xưa nay hiếm”.

Ông Lê Minh Thưởng, người có quãng thời gian 10 năm làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có bố là đảng viên, anh trai là liệt sĩ từ thờikháng chiến chống Pháp, học xong cấp 2, năm 1958, chàng thanh niên Lê Minh Thưởng xin đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự nhưng không trúng. Năm 1959 ông được tuyển vào đội công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Tháng 4/1959 ông được triệu tập về học ở trường C500.

Tháng 4/1960 ra trường, ông nhận được quyết định về công tác ở Cục cảnh vệ (Cục cảnh vệ lúc đó có mật danh là K10) với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và công tác ở đó cho đến ngày Bác qua đời.

Khi được hỏi về thời gian tham gia bảo vệ Bác Hồ, ông Thưởng xua tay bảo: “Công lao gì đâu, tôi là người may mắn và hạnh phúc khi được Đảng và Nhà nước giao cho nhiệm vụ đó. Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước. Được làm công việc đó là hạnh phúc cả đời đối với tôi mà không có gì so sánh được”.

Bức hình ông Thưởng chụp lưu niệm với Bác và các các cán bộ lãnh đạo trung ương nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ mà ông xem là kỷ vật vô giá.

Vừa nói ông vừa dẫn chúng tôi vào gian phòng lưu niệm để giới thiệu về những kỷ vật vô giá mà ông còn cất giữ được. Trên gian tường là tấm hình ông chụp lưu niệm với Bác và các các cán bộ lãnh đạo trung ương nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ.

Ông chỉ tay giới thiệu tên từng người trong bức hình, Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa, ông Thưởng bế một cháu bé trong lòng ngồi bên phải Bác Hồ, rồi lần lượt xung quanh là các ông Nguyễn Chí Thanh, Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng, Tố Hữu, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Xuân Thuỷ, Vũ Kỳ, Trần Quốc Hoàn…

Vừa giới thiệu ông Thưởng vừa lấy tấm khăn bông lau tấm hình và nói: “Với tôi tấm hình này là vô giá. Dù có nghèo đói nhưng giả sử có người trả mua cả chục cây vàng tôi cũng không bán đâu”. Rồi ông rưng rưng hai hàng nước mắt như đang được sống lại giây phút được ngồi cạnh Bác để chụp hình.

Miền ký ức ùa về, ông Thưởng nhớ lại quãng thời gian 10 năm làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Năm 1960 ông được đưa về cục cảnh vệ, bảo vệ Đại hội Đảng lần thứ 3. Đến tháng 9/1960 ông được điều về bảo vệ Bác Hồ, ban đầu mới chỉ bảo vệ vòng ngoài, dần dần mới được tiếp xúc với Bác nhiều hơn.

Ông Thưởng đang chỉ vị trí mình ngồi trong tấm hình chụp cùng Bác và các vị lãnh đạo Trung ương thời ông còn làm nhiệm vụ bảo vệ Bác.

Ông nói: “Vào làm công việc ở đây không dễ, phải cần cù khiêm tốn, chịu khó và kỷ luật tốt. Bác đã từng nói với tôi rằng biết thì nói, không biết thì hỏi, đừng im lặng giấu dốt. Im lặng có thể là giấu dốt hoặc tự cao tự đại”.

Quãng thời gian 10 năm bảo vệ Bác, ông Thưởng đã có hàng trăm nghìn kỷ niệmvà câu chuyện về Bác. Ông nhớ lại, Tết năm 1964 đưa Bác đi chợ  Đồng Xuân, Bác gọi ông Hoàng Quốc Thịnh, Bộ trưởng Bộ nội thương đến báo cáo tình hình chuẩn bị nhân dân ăn tết và tình hình kinh tế-lương thực-thực phẩm của cả nước. Sau đó Bác gọi ông Trần Duy Hưng lúc đó là Chủ tịch UBND TP Hà Nội và hỏi “Các chú chuẩn bị ăn tết cho nhân dân thủ đô như thế nào?”.

Công việc xong xuôi, Bác nói mọi người cùng đi chợ Đồng Xuân sắm tết. Để không bị phát hiện, mọi người phải hóa trang cho Bác, và một người nữa giống như Bác, phòng trường hợp xấu có thể xảy ra. Ông Thưởng có nhiệm vụ đi xem đường trước. Hôm đó trời mưa, lúc vào chợ, Bác đi xem quầy lương thực, thực phẩm.

“Lại hàng thực phẩm tự do, Bác hỏi cô bán thịt 1 cân bao nhiêu tiền nhưng lại nói giọng Nghệ An. Cô bán thịt cứ nhìn chằm chằm vào mặt Bác vì nghe giọng nói trầm ấm quen quen. Nếu không có sự nhanh trí của đồng chí Phạm Lệ Ninh (Trưởng phòng bảo vệ Bác) thì chắc chắn Bác sẽ bị lộ, mà nếu biết Bác có mặt ở chợ thì khu chợ sẽ xôn xao lên mất. Lúc đó nhanh như chớp, đồng chí Ninh nhảy vào đứng che mặt Bác, đẩy Bác ra và vào hỏi lại bằng giọng Bắc. Thế là cô bán thịt không để ý nữa, thật là may”.

Đặc biệt là lần về Thanh Hoá. Lúc đầu Bác ngồi xe có kính đàng hoàng, nhưng sau Bác lại sang xe CTAL 69 (không có kính) ngồi. Lúc đó dân có mặt rất đông, người dân ùa vào mong được gặp Bác. Các chiến sĩ cảnh vệ có nhiệm vụ bảo vệBác phải nỗ lực giải quyết mãi mới được.

Đến khi Bác vào thăm xưởng sản xuất nông cụ Thanh Hoá, những công nhân làm việc tại đây khi biết Bác vào thăm, mặc dù quần áo đang bụi bẩn nhưng vì muốn được tận mắt thấy Bác, được nắm tay Bác nên đã bỏ dụng cụ làm việc chạy ào về phía Bác.

Những người đi theo bảo vệ Bác như ông Thưởng phải vô cùng vất vả mới đưa được Bác ra khỏi nơi ấy. Ông Thưởng còn vinh dự hàng chục lần được đi cùng Bác về các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An … công tác, rồi đi về các vùng nông thôn, cùng bà con tuốt lúa, cấy cày.

Niềm vui cuối đời của ông Thưởng là đọc báo…

Học tập tấm gương của Bác suốt đời

Trong thời gian 10 năm được gần gũi, bảo vệ Bác, những chuyện “quốc gia đại sự” ông không được biết. Nhưng trong đời thường ông đã được Bác dạy nhiều điều hay lẽ phải. Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Việc gì biết thì nói, không biết thì phải hỏi, đừng giấu, im lặng làm thinh. Hiểu cái gì nói cho mọi người nghe. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”.

Sau khi Bác Hồ mất, ông Thưởng còn ở lại sửa sang mọi thứ ở phủ Chủ Tịch một năm. Sau đó ông được điều về công tác ở Cục Cảnh sát hình sự. Năm 1980, ông chuyển về phòng cảnh sát hình sự Nghệ Tĩnh với chức vụ Đội trưởng đội săn bắt cướp (SBC).

Công tác tại đơn vị này, ông Thưởng đã cùng đồng đội lập rất nhiều chiến công hiển hách, phá nhiều vụ án lớn, bắt những tên cướp nổi tiếng cả trong Nam ngoài Bắc như Phương trọc; Toọng (Trương Hiền), một tội phạm nổi tiếng ở thành Vinh nhiều lần qua mặt được các cơ quan công an; Nguyễn Đức Lợi, Đậu Kim Sơn, hai tên giang hồ khét tiếng; Sáu côi (tên thật là Thành), tên ăn cướp trên tàu hoả; Công Minh (trú tại Nghi Phú), chuyên ăn cướp đường dài, hoạt động rộng khắp cả nước… .

… và chăm sóc cây cảnh trong vườn nhà.

Năm 1990, ông Thưởng về nghỉ hưu với hàm Trung tá. Suốt cuộc đời hoạt động ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân huy chương cao quý như Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến công hạng nhất. Đặc biệt quý giá hơn cả là tấm Huy hiệu Bác Hồ ông được chính tay Bác tặng năm 1968.

Nhưng phần thưởng cao quý nhất đối với ông chính là những bài học mà ông học được ở Bác trong 10 năm được gần Bác. Ông Thưởng cũng nhận ra nhiều thói quen của Bác, ví như trong tiệc tùng Bác không bao giờ uống bia rượu, những lúc tiếp khách Bác cũng nâng ly nhưng không uống. Những lúc đi công tác làm việc ở đâu, Bác không bao giờ cho phép tổ chức tiệc tùng đình đám, tránh lãng phí tiền của nhân dân.

Ông tâm sự: “Người là lãnh tụ, là kho tàng vĩ đại của dân tộc ta. Dù có học suốt đời cũng không thể thấm nhuần hết đạo đức của người”. Chính vì vậy mà dù trong lúc đang công tác hay lúc đã về hưu ông luôn định hướng cho thế hệ trẻ phải luônhọc tập và làm theo tấm gương của Bác.

Ngay ở trong gia đình mình, ông cũng luôn định hướng cho các con, cháu học tậpnhững công việc của Bác từ nhỏ. Thời gian rảnh rỗi, ông Thưởng lại gọi con cháu tụ họp lại để kể những câu chuyện những việc làm bình dị của Bác để các con các cháu học tập.

Ông Thưởng bên người vợ yêu quý của mình.

Giờ đây, khi đã tuổi cao sức yếu nhưng ông Thưởng vẫn chăm chỉ làm việc. Thú vui tuổi già của ông là chăm sóc những cây cảnh, đọc báo xem tin tức hàng ngày. Nhìn vườn nhà ông, nhiều người không khỏi trầm trồ khen ngợi, dưới bàn tay của ông, cây cảnh đâm chồi nảy lộc mơn mởn. Đặc biệt là gia đình ông đang sở hữu 5 cây thị di sản được xem là đồ gia bảo của dòng họ.

Tính đến tết Quý Tỵ này, ông Lê Minh Thưởng đã bước qua 73 mùa xuân. Trong quãng thời gian đó, ông có quyền tự hào về mình vì đã cống hiến rất nhiều cho xã hội, đất nước.

PHẠM HÒA
Theo Infonet

news.zing.vn

Nơi Bác Hồ đến chúc Tết Độc lập đầu tiên

Năm 1946, Hà Nội, Tết Độc lập đầu tiên, vừa qua 80 năm nô lệ, tủi nhục, đói nghèo….Lại cùng mới thoát khỏi nạn đói, lụt năm rồi. Lại còn nạn “Tàu Vàng” quân Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch, xác xơ rách nát, ăn vạ, ăn cắp định chây lỳ…Và tiếng súng “Nam bộ kháng chiến” đã nổ, báo cho một tình huấn khó có thể tránh được, cả nước phải đi vào cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ.

noi

Là người cầm lái con thuyền cách mạng,  là Chủ tịch nước, Bác muốn thông qua Hà Nội, tiếp xúc với những người dân chân thật nhất – không phải ai đó bố trí, giới thiệu – để hiểu dân “ăn Tết” thế nào? Đối với Chính phủ ra sao? Bác mời Chủ tịch thành phố Hà Nội là bác sĩ Trần Duy Hưng, mà không yêu cầu cán bộ Thành ủy cùng đi. Bác sĩ Trần Duy Hưng, một thầy thuốc, huynh trưởng hướng đạo sinh, người đã kề cận bên Bác nhiều năm, đã được Bác gọi đùa là “Bác gái HỒ CHÍ MINH”…

Đêm 30 ấy, Hà Nội mưa lất phất và rét, cái rét cuối Đông, đầu Xuân rất Hà Nội… đồng chí lái xe và bảo vệ đưa “Bác gái” và Chủ tịch nước đến phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến),  một phố “ văn hóa ca trù”,  nôm na dân gọi là phố “cô đào hát”, “cô đầu”, với tên gọi thời Pháp thuộc là phố Khâm Thiên ….Bác xuống xe bảo tắt đèn đi rồi tìm đường đi vào ngõ Hàng Đũa. Ngõ này, nay vẫn còn. Năm ấy, mặt đường nhấp nhô, không được sạch, đèn đường công cộng không tới, đồng chí bảo vệ phải bật đèn pin….

Đến một ngôi nhà lụp xụp sâu trong ngõ, Bác Hồ bảo Chủ tịch thành phố Hà Nội “ta vào đây”…

Người nhà chẳng biết khách là ai. Hỏi thăm ông chủ nhà đang ốm nằm trên chõng tre, đắp chiếu rách, Bác được biết ông làm nghề kéo xe tay…Khi biết khách là Chủ tịch nước, một phụ nữ lay lay người ốm: “Cụ Hồ đến thăm gia đình đấy…” Chủ nhà lật chiếc chiếu, ho sù sụ, định ngồi dậy. Bác ra hiệu cho đồng chí bảo vệ kéo chiếc chiếu lên, che kín cho ông chủ. Nhìn quanh ngôi nhà một lát, Bác kéo tay Chủ tịch Trần Duy Hưng đi ra ngoài. Hai người yên lặng cho đến khi lên xe…

Trước khi xe nổ máy, Bác nói với mọi người mà như nói với riêng mình “ba mươi Tết mà chẳng có Tết”….Chủ tịch Trần Duy Hưng ngồi im lặng, bỏ cặp kính xuống, lau mấy giọt nước mắt….Hối hận không kịp mang theo quà gì, dù biết “món quà quí” Bác Hồ đã tặng gia đình rồi.

Tiện đường xe, Bác đến số nhà 51 phố Găm BetTa, nay là Trần Hưng Đạo. Bấm chuông, người nhà ra thưa: “Dạ, Cố vấn Thụy đang ốm”. Bác bảo đồng chí bảo vệ đưa một bọc giấy hồng,  trong đó có một lọ mắm quí gửi biếu cố vấn. “Để Cố vấn nghỉ ta đi thôi”.

Xe chạy từ từ qua các phố, chỗ sáng, chỗ tối, phố nhỏ, phố lớn. Bác “chỉ huy” rẽ vào đâu, dừng lại đâu là theo ý Bác. Loanh quanh một lúc, xe đến phố Hàng Vải, dừng lại trước một ngôi nhà lớn. Nghe tiếng có người đến, vào giữa đêm 30, chủ nhà bật đèn cổng, thấy có xe ô tô, lố nhố, lo sợ. Khách vào nhà, đèn trong nhà được bật sáng chiếu rõ bàn thờ khói hương nghi ngút, chậu quất, chậu cúc, lọ cắm cành đào, bộ sa lông, tủ, bàn ghé gỗ quí…..Chủ nhà nhận ra khách, quá bất ngờ, hốt hoảng xen lẫn mừng vui, chắp tay, quì xuống đất “lạy Cụ! Thưa Cụ Hồ! Con có tội gì xin Cụ thương cho, Cụ dạy bảo cho …” Chủ tịch Thành phố Trần Duy Hưng đỡ chủ nhà đứng dậy. Bác nói “nghe nói ông là viên chức nhà băng, nhưng thanh liêm, lại có lòng tốt, tôi và bác sĩ Trần Duy Hưng đến chúc Tết gia đình. Bây giờ, nước nhà được độc lập rồi, làm việc cho Chính phủ là làm việc cho dân, cho nước, đã thanh liêm, phải thanh liêm hơn…..”. “Dạ, dạ, con xin nghe lời Cụ”. Bác đứng lên, nhìn căn phòng sang trọng, gật gật đầu với các thành viên trong đình, nắm chặt hai bàn tay mình giơ lên, tạm biệt…Và tiếp tục cuộc “vi hành”, “xuất hành” đầu năm….

Cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ có thể đã “đưa” số phận những con người được gặp Bác, được Bác đến chúc Tết, tặng quà năm ấy đi những con đường khác nhau, chìm trong dĩ vãng….Nhưng câu chuyện về Bác năm ấy được bác sĩ Trần Duy Hưng kể lại, chúng ta thật “ thấm thía”, học được một gì đó ở Bác….

Ngày nay, thực hiện di chúc thiêng liêng của Bác. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân, đặc biệt một bộ phận dân nghèo. Tuy điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng với mong muốn “đêm 30 có Tết cho người nghèo”, Chính phủ đã chi ra hàng ngàn tỷ đồng . Thế nhưng…..Một bộ phận “công bộc” của dân, đã cắt, xén  hoặc chìa tay ra để chia phần với người nghèo…

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhưng một bộ phận “công bộc” lại đi ngược với chủ trương lớn này. Thật đáng xấu hổ… cần phải được xử lý một cách nghiêm minh.

(Theo tư liệu của Ban lịch sử Hà Nội và Viện HỒ CHÍ MINH)

http://thanhtra.quangnam.gov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và những ngày Tết đáng nhớ tại Hà Nội

Sinh thời, Bác Hồ kính yêu đã nhiều lần đón Xuân cùng nhân dân Hà Nội. Trong những ngày Tết cổ truyền, hòa trong dòng người đi hái lộc, du Xuân, Bác đến xông nhà, chúc phúc đầu Xuân, mang may mắn đến cho các gia đình, nhất là những gia đình nghèo còn gặp nhiều khó khăn.

4. BH va những
Bác Hồ đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sỹ cảnh vệ Xuân Quý Mão 1963

Tết Bính Tuất năm 1946

Trong cái Tết độc lập đầu tiên, vào đêm giao thừa, Bác đến thăm một số gia đình lao động nghèo và một số nhân sỹ trí thức ở Hà Nội. Sau đó, Bác cải trang như người dân thường đến thăm đền Ngọc Sơn, hòa trong niềm hân hoan của nhân dân đón khoảnh khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới.

Tết Bính Thân năm 1956

Ngày mồng 1 Tết, Bác đến thăm anh em miền Nam tập kết xa nhà và thăm Trường Cán bộ dân tộc thiểu số. Sau đó, Bác đi chúc Tết đại biểu nhân dân của Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội.

Tết Đinh Dậu năm 1957

Sáng mồng 1 Tết, Bác về thăm và chúc Tết một số gia đình cơ sở cách mạng cũ ở thôn Phù Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm (nay là quận Tây Hồ, Hà Nội) như gia đình cụ Công Ngọc Phan, các gia đình ông Môn, bà Kinh, bà Phó Ái.

Nói chuyện với nhân dân trong thôn, Bác chúc đồng bào đoàn kết, đoàn kết quân và dân, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Sau đó Bác đến thăm và chúc Tết một đơn vị bộ đội bảo vệ Thủ đô, căn dặn cán bộ, chiến sỹ phải thực hiện đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân, luôn cảnh giác giữ gìn ý chí chiến đấu, tác phong và kỷ luật quân đội, tiết kiệm, giúp đỡ nhân dân, cố gắng học tập và rèn luyện.

Tết Mậu Tuất năm 1958

Những ngày đầu Xuân năm 1958, Bác đến thăm và chúc Tết một số cơ quan, đơn vị bộ đội tại Hà Nội. Tại Nhà máy cơ khí Hà Nội (nay là Nhà máy chế tạo công cụ số 1), sau khi đi thăm khu tập thể công nhân, Người yêu cầu các chi bộ Đảng, công đoàn và đoàn thanh niên cần phải quan tâm cải thiện nhiều hơn nữa đời sống người lao động, phối hợp chặt chẽ vận động công nhân thi đua thực hiện tốt kế hoạch nhà nước năm 1958.

Đến thăm Khu Việt Nam học xá (nay là Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), Bác nói với các sinh viên “Học để mà hành, học để phục vụ nhân dân, không phải để làm quan, mà phải trau dồi cả đức, cả tài, không có đức thì vô dụng, không có tài thì làm gì cũng khó.”

Tết Canh Tý năm 1960

Bác thăm công viên Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất) và trồng cây đa tại công viên mở đầu phong trào “Tết trồng cây” do Bác phát động.

Từ đó “Tết trồng cây” đã trở thành truyền thống tốt đẹp của nhân dân Hà Nội và cả nước trong những ngày đón Xuân.

Tết Tân Sửu năm 1961

Đêm giao thừa, Bác đi thăm và chúc Tết gia đình một công nhân Nhà máy gỗ Cầu Đuống; gia đình một cán bộ công đoàn Nhà máy cơ khí Hà Nội; gia đình một Việt kiều mới về nước; gia đình một xã viên hợp tác xã thủ công nghiệp người Hoa; gia đình bác sỹ Hồ Đắc Di và gia đình giáo sư Tôn Thất Tùng.

Ngày mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ ở một đơn vị công an vũ trang và một đơn vị bảo vệ Thủ đô; cán bộ công nhân Nhà máy dệt kim Đông Xuân, Nhà máy rượu Hà Nội, Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà…

Tết Nhâm Dần năm 1962

Tối 30 Tết, Bác cùng đồng chí Nguyễn Lam – Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, Nguyễn Khai – Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Trần Duy Hưng-  Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội, đến thăm Câu lạc bộ thiếu nhi và vui Tết với các cháu.

Sau đó, Bác cùng đoàn đi chúc Tết gia đình công nhân Nguyễn Văn Mộc – Chiến sỹ thi đua 5 năm liền của Nhà máy cao su Sao Vàng; cụ Đỗ Văn Điện – Ủy viên Ban đại diện phụ lão khu phố Hai Bà Trưng; giáo sư, thạc sỹ Đặng Văn Chung – Phó Giám đốc Trường đại học y dược; gia đình ông Dương Kỳ Nghiệp – cán bộ miền Nam tập kết; ông Vương Tước Cường – công nhân; Hoa kiều, nhà tư sản Nguyễn Chương Hồng – Giám đốc Xưởng cơ khí Công ty hợp doanh Đồng Tháp và một số gia đình lao động ở phố Lý Thái Tổ.

Tiếp đó, Bác đến thăm cán bộ, công nhân Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đang chuẩn bị cho buổi phát thanh đặc biệt đón giao thừa.

Tết Quý Mão năm 1963

Sáng 29 Tết, Bác thăm chợ Tết Đồng Xuân. Bác đi theo đường Nguyễn Thiệp vào cổng sau của chợ. Người chăm chú quan sát cảnh mua bán tấp nập, dừng chân xem ông đồ viết câu đối Tết, có lúc hỏi giá hàng…

Khi đến thăm chợ hoa, Bác định mua một bó hoa huệ nhưng đồng chí cảnh vệ sợ lộ bí mật nên trả giá rất rẻ để rút lui. Bác nói vui: “Trả giá như chú, cả ngày đi chợ cũng chả mua được gì.”

Tối giao thừa, Bác đi thăm và chúc Tết một số gia đình, đơn vị bộ đội ở Hà Nội; thăm gia đình Anh hùng Lao động ngành công nghiệp Mai Đình Cường; gia đình cụ Võ Thị Xuân, 72 tuổi; ông Phạm Công – Việt kiều mới về nước; nhà tư sản dân tộc Nguyễn Văn Thức và gia đình ông Hồ Đắc Điềm – nhân sỹ trí thức.

Mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân Nhà máy ôtô Hòa Bình; bà con xã viên hợp tác xã Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp (huyện Thanh Trì), một đơn vị bảo vệ Thủ đô, một đơn vị Cảnh sát Nhân dân quận Hoàn Kiếm và Cục cảnh vệ-Bộ Công an.

Tết Giáp Thìn năm 1964

Tối 30 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết cán bộ công nhân tại Khu tập thể Nhà máy cao su, Nhà máy xà phòng, Nhà máy thuốc lá; Khu tập thể cán bộ miền Nam tập kết ở phố Phan Đình Phùng và một số gia đình ở Hà Nội; gia đình công nhân Nhà máy nước Phan Huy Nhật; Trưởng ban bảo vệ khu phố Nguyễn Văn Tố; nhà khoa học Nguyễn Xiển; giáo sư bác sỹ Trần Hữu Tước; Việt kiều Phan Văn Chúc.

Sáng mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết Huyện ủy, Ủy ban hành chính huyện Đông Anh; thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân trạm biến thế điện và hợp tác xã nông nghiệp Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, là đơn vị có nhiều thành tích trong phong trào sản xuất và tiết kiệm.

Nói chuyện với bà con nông dân hợp tác xã Lỗ Khê, Bác căn dặn phải chú ý phát triển hoa màu, chăn nuôi, trồng nhiều cây và chăm sóc cây tốt, đẩy mạnh vệ sinh phòng bệnh.

Bác khen câu khẩu hiện bằng thơ ở trên đình làng: “Đón Xuân mở hội làm giàu/ Mừng Xuân cần kiệm lúa màu tốt tươi.”

Sau đó, Bác thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Sở Công an Hà Nội.

Tết Ất Tỵ năm 1965

Bác tham gia Tết trồng cây với nhân dân hợp tác xã Phú Diễn, xã Trần Phú, huyện Từ Liêm. Bác chúc Tết bà con xã viên, nghe đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã báo cáo tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương.

Bác nhắc nhở hợp tác xã cần phải đẩy mạnh sản xuất hơn nữa và chỉ dẫn tỷ mỉ cách đào giếng nước, xây dựng công trình vệ sinh cho bà con nông dân.

Tết Bính Ngọ năm 1966

Mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Đại đội 27, bộ đội công binh Quân khu 3. Bác khen ngợi đơn vị năm qua đã đạt được nhiều thành tích trong phục vụ chiến đấu, xây dựng các công trình quốc phòng, bắn rơi máy bay Mỹ, góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân và toàn quân ta, và căn dặn bộ đội phải dũng cảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn để giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, đoàn kết tốt, giữ gìn vũ khí trang bị tốt, thực hành tiết kiệm.

Tết Đinh Mùi năm 1967

Sáng mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết một số đơn vị bộ đội phòng không và không quân bảo vệ Thủ đô. Sau khi nói chuyện với cán bộ chiến sĩ, Bác đến thăm Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Đoàn Sao Đỏ). Bác khen ngợi thành tích của cán bộ chiến sỹ và căn dặn: “Các chú phải học tập rèn luyện hơn nữa. Càng học tập, càng tiến bộ thì đánh địch càng giành thắng lợi.”

Bác tặng quà Tết cho cán bộ chiến sỹ và chúc Không quân nhân dân “Đoàn kết, học tập tiến bộ, đánh giỏi, đạt nhiều thắng lợi mới.”

Tết Kỷ Dậu năm 1969

Đây là cái Tết cuối cùng nhân dân Hà Nội được đón Tết với Bác Hồ kính yêu. Ngày 30 Tết, Bác gửi tặng lẵng hoa cho một số cơ quan, đơn vị ở Hà Nội như khối 30 khu phố Đống Đa, Phân đội 5 Đoàn công an vũ trang bảo vệ Thủ đô.

Sáng mồng 1 Tết, Bác đến sân bay Bạch Mai thăm Quân chủng Phòng không- Không quân. Buổi trưa, Bác đến xã Vật Lại (huyện Ba Vì) khai Xuân, trồng cây trên đồi của xã, để lại màu xanh tươi và mùa xuân xanh mãi bất diệt./.

Theo TTXVN/Vietnam+
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ người cha thân yêu

Nho nguoi cha

Tiếp quản Thủ đô ngày 10 tháng 10 năm 1954, ngày 11-10-1954 anh em chúng tôi trong trang phục gọn gàng, súng đạn sẵn sàng tiến quân vào Hà Nội nhận nhiệm vụ cao quí mới. Những ngày đầu, cơ quan Trung ương đóng tại nhà thương Đồn Thủy (nay là Quân y viện 108), về sau chuyển về khu Ba Đình.

Năm đó Bác rất khỏe và đi đứng nhanh nhẹn, ánh mắt Bác thật ấm áp trìu mến. Thường ngày Bác hay mặc bộ bà ba màu nâu và đi dép cao su. Lúc rảnh rỗi, Bác tập trung anh em cảnh vệ lại, bằng giọng nói rõ ràng và ấm áp, Bác chỉ bảo cho chúng tôi biết phong tục tập quán riêng của đồng bào Hà Nội, cách đi đứng và những việc thông thường rất cần thiết như vào nhà tắm, nhà vệ sinh, uốn nắn chúng tôi từng lời ăn tiếng nói…Với tấm lòng yêu mến lãnh tụ, nhân dân trong nước và kiều bào nước ngoài thường hay tặng Bác những món quà đặc biệt quí hiếm. Một lần, có người dân chài lặn lội từ miền biển lên, biếu Bác mấy cân bong bóng cá. Bác giao cho đồng chí Cẩn mang đến tặng đơn vị chúng tôi. Bác còn cẩn thận nhờ đồng chí Cẩn, là người lo cơm nước cho Bác chế biến để anh em chúng tôi được thưởng thức đặc sản. Một lần khác, có tiền nhuận bút từ Liên Xô (cũ) gởi về, Bác đem đến tặng đại đội chúng tôi trước lễ Quốc Khánh 2-9 khoảng hai, ba tháng. Bác dặn: “Nhiều no ít đủ, Bác không có nhiều tiền cho các chú. Số tiền này, các chú mua con giống tăng gia thêm để đến ngày Quốc Khánh các chú có đủ thịt, cá, rau mà liên hoan cùng nhau”.

Ngày lễ lớn những năm đầu tiếp quản Thủ đô, nhân dân Hà Nội và các cơ quan đoàn thể tham dự mit tinh thả bồ câu trắng tung bay rợp trời, tượng trưng cho khát vọng hòa bình. Hàng đàn bồ câu trắng ở lại quanh lễ đài, quanh nhà khách Chủ tịch và quanh nhà Bác ở. Đất lành chim đậu, Bác rất vui. Những lúc rảnh rỗi, Bác thường cho bồ câu ăn. Vậy mà có một vài đồng chí bộ đội vô ý thức bắt bồ câu làm thịt. Bác không vui, phê bình thật nhẹ nhàng, thấm thía: “Nhân dân thả bồ câu để cầu nguyện hòa bình, sao các chú nỡ giết thịt?”.

Nhớ một ngày hè, Bác dạo quanh vườn bắt gặp tổ 3 người chúng tôi là anh Hạnh, anh Thái và tôi đang trèo cây hái nhãn. Sợ quá, tưởng Bác sẽ quở trách, ai ngờ Bác vui vẻ dặn dò: “Hái nhãn ăn cũng được nhưng phải hết sức cẩn thận, kẻo ngã thì khốn”. Những việc làm của Bác, những lời của Bác dạy bảo chúng tôi chỉ là những chuyện thông thường, rất giản dị nhưng đã làm chúng tôi nhớ mãi như những điều thiêng liêng, bởi những điều đó xuất phát từ tình thương bao la của Bác, thắm đượm tình cảm của Bác – như tình cảm một người cha dành cho những đứa con thân yêu của mình.

Những lần đại tiệc, tiếp khách nước ngoài, Bác đều dặn dò bộ phân giao tế nhớ để phần cho bộ đội bảo vệ. Những hôm có đoàn ca kịch hoặc chiếu phim, ngoài những người đang làm nhiệm vụ còn tất cả chúng tôi đều được quây quần quanh Bác cùng xem. Một lần đoàn kinh kịch của Trung Quốc biểu diễn tích xưa có vai các tướng đấu kiếm với nhau, buổi biểu diễn kết thúc, các đại sứ nước ngoài đua nhau tặng hoa cho vị tướng đóng vai thắng trận. Riêng Bác, Bác tặng hoa cho viên tướng đóng vai thua trận. Bác cười vui: “Ăn cho đều, kêu cho khắp, phải động viên họ để lần sau đánh thắng chứ”. Có lần Đoàn tuồng Ái Liên biểu diễn phục vụ cơ quan Chính phủ vở Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, diễn viên trình diễn xuất sắc làm rung động lòng người, khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Xong buổi diễn Bác có vẻ không được vui, Người bước lên sân khấu và đọc mấy vần thơ:

“Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài
Chữ tình nên trọng, chữ tài nên thương
Lão già dở dở ương ương.
Làm đôi anh chị dở duyên không thành
Đánh cho phong kiến tan tành,
Cho trăm ngàn Sơn Bá – Anh Đài thành đôi”.

Bác dạy chúng tôi những bài học thật tế nhị, trong lúc chờ phim, chúng tôi quây quần bên Bác vui văn nghệ, một cô gái xung phong hát bằng tiếng nước ngoài, Bác đề nghị: “Người mình nên hát tiếng mình thì Bác và các chú ở đây mới hiểu, mới hay chứ”. Lại một đồng chí bộ đội xung phong: “Tôi ra đây hát mừng Cụ Hồ sống lâu muôn tuổi”, Bác bảo: “Chú hát bài khác, bài này cũ lắm rồi!”. Có một đêm chiếu phim ở Liên Xô (cũ) không có người thuyết minh chính, một cán bộ học ở Nga về có lẽ chưa quen nên dịch nghe không được rõ. Bác cười bảo để Bác thuyết minh cho. Chúng tôi lắng nghe từng đoạn, từng ý, Bác dịch thật mạch lạc, gãy gọn, dễ hiểu… Ở Bác, điều gì cũng thật giản dị, và hình như điều gì Bác cũng có thể làm được!…

Theo Hoàng Văn Hiển/ Báo Tuổi trẻ online
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Câu chuyện: Người Pháp, Người Mỹ nói về Bác

Việt Nam - Hồ Chí MinhTuần báo Đây Paris ra ngày 18-6-1946 là một trong những bài viết sớm nhất, tương đối đầy đủ nhất về phong cách của Bác Hồ.

“Chủ tịch nước Việt Nam là một người giản dị quá đỗi. Quanh năm ông chỉ mặc một bộ áo kaki xoàng xĩnh và khi những người cộng tác quanh ông để ý, nói với ông rằng với địa vị ông ngày nay, nhiều khi cần phải mặc cho được trang trọng, thì ông chỉ mỉm cười trả lời:

“Chúng ta tưởng rằng chúng ta được quí trọng vì có áo đẹp mặc, trong khi bao nhiêu đồng bào mình trần đang rét run trong thành phố và các vùng quê”?

Sự ăn ở giản dị đến cực độ, như một nhà ẩn sĩ, đó là một đức tính rõ rệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tuần lễ ông nhịn ăn một bữa, không phải là để hành hạ mình cho khổ sở mà là để nêu một tấm gương dè xẻn gạo cho đồng bào đặng làm giảm bớt nạn đói trong nước. Hết thảy mọi người xung quanh đều bắt chước hành động đó của ông.

Trong những ngày thường, ông dùng cơm ở Bắc Bộ phủ, ngồi chung với hết thảy mọi người. Người ta thấy quây quần xung quanh bàn ăn: các bộ trưởng, những thư ký và cả những cậu thiếu niên phục vụ bàn giấy. Nhờ có đức tính giản dị của ông mà khi ngồi ăn với mọi người ông không làm ai phải giữ kẽ nhiều quá, mà trái lại, không khí chung lộ ra, lúc nào cũng thân mật, cũng vui vẻ, gây cho bữa ăn một vẻ gia đình.

Tính giản dị và thân mật của ông còn biểu lộ ra trong những bài diễn văn. Không bao giờ ông tỏ vẻ thông thái, vốn rất rộng của ông. Ông thông thạo nhiều thứ tiếng khác nhau và nói được rất nhiều tiếng thổ âm, trái lại ông chỉ dùng những câu nôm na, khiến cho một người dù quê mùa, chất phác nghe cũng hiểu ngay được. Ngày ông viết xã luận cho báo Cứu Quốc, trước khi đem bài cho nhà in, bao giờ ông cũng đem đọc cho một số người không biết chữ, ông già, bà già cùng nghe. Nếu ông thấy thính giả tỏ vẻ không hiểu mấy những ý tưởng trong bài viết lập tức ông viết lại ngay bài khác. Tất cả đức tính Hồ Chí Minh bao gồm trong một cử chỉ bé nhỏ đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất ghét lối nói khoa trương, văn vẻ. Mỗi bài diễn văn của ông là một bài học nhỏ kết luận bằng một ý kiến đạo đức. Bởi những ý tưởng hết sức giản đơn ấy mà bài diễn văn của ông có một tiếng vang lớn trong giới trí thức và dân chúng”.

Hai mươi lăm năm sau bài viết trên, năm 1971 – sau khi Bác Hồ đã mất, một người Mỹ – nhà báo, nhà văn Đâyvít Hanbơcstơn trong cuốn sách Hồ của mình, do Nhà xuất bản Răngđôm Haosơ ở New York ấn hành đã viết:

“… Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này – hơi giống Găngđi, hơi giống Lênin, hoàn toàn Việt Nam. Có lẽ hơn bất kỳ một người nào khác của thế kỷ này, đối với dân tộc của ông, và đối với cả thế giới ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Thế nhưng đối với hầu hết nông dân Việt Nam, ông là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi của họ. Ông là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hòa nhã, không màng địa vị, luôn luôn mặc quần áo đơn giản nhất – cách ăn mặc của ông không khác mấy người nông dân nghèo nhất – một phong cách mà Phương Tây đã chế giễu ông trong nhiều năm, cười ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không theo thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và nhận thấy chính cái tính giản dị ấy, cái sùng bái sự giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông.

Trong một nước khi mà dân chúng đã thấy những người cầm đầu đạt tới một địa vị nào đó rồi trở thành “Tây” hơn là “Việt Nam”, bị quyền lực, tiền bạc và lối sống phương Tây làm thối nát; trong một nước khi những người đó đã ngoi lên khá cao thì không làm gì cho dân chúng cả, lập tức bị bán mình cho người nước ngoài, tính giản dị của ông Hồ là một sức mạnh. Địa vị càng cao sang, ông càng giản dị và trong sạch. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh cửu của người Việt Nam: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của. Ông Hồ không cố tìm kiếm cho mình những cái trang sức quyền lực vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với nhân dân, với lịch sử, đến nỗi không cần những pho tượng, những cái cầu, những pho sách, những tấm ảnh để chứng tỏ điều đó cho mình và cho thiên hạ biết. Việc ông từ chối sự sùng bái cá nhân là đặc biệt đáng chú ý trong cái xã hội kém phát triển…”.

Theo cuốn: Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh  do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương phát hành năm 2007
Thu Hiền (st)/ http://tuyengiao.haiduong.org.vn

bqllang.gov.vn

Hiệu lệnh mang tầm lịch sử

Cách đây 45 năm, thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị: Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, giáng cho địch một đòn thật mạnh, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, tạo ra sự thay đổi cơ bản cục diện chiến trường, chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới – thời kỳ giành thắng lợi quyết định, quân và dân ta ở miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đồng loạt tiến công địch ở 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn, đánh vào hầu hết các cơ quan đầu não trung ương và địa phương của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa, đặc biệt trong đó có Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn… trong bối cảnh đế quốc Mỹ đã leo đến nấc thang tột cùng: Quân Mỹ và đồng minh lên tới hơn 50 vạn, quân đội Sài Gòn hơn 70 vạn. Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này, chúng ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực cấp cao của địch, phá hủy một số lượng quan trọng vũ khí, phương tiện chiến tranh, cơ sở hậu cần, kỹ thuật của chúng.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã gây một cú “sốc đột ngột”, làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến của Mỹ trên toàn bộ chiến trường miền Nam; gây chấn động mạnh tới Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và toàn nước Mỹ; đưa hình ảnh chiến tranh Việt Nam vào từng gia đình, đến tận phòng họp của Thượng viện và Hạ viện chính phủ Hoa Kỳ. Những thủ đoạn dối trá, xảo quyệt của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đưa ra để đánh lừa nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới lâu nay nhanh chóng bị bóc trần. Làn sóng chống chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, liên tục trên toàn nước Mỹ và khắp các châu lục.

Với thắng lợi mang ý nghĩa chiến lược to lớn của cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân, quân và dân ta đã làm lay chuyển tận gốc rễ ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Tổng thống Giôn-xơn phải cách chức Mắc Na-ma-ra – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ và Đại tướng Oét-mo-len – Tổng chỉ huy quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam, đồng thời xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Pa-ri. Về cá nhân, Giôn-xơn tuyên bố không tham gia ứng cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ 2. Vậy là, chúng ta đã thực hiện thắng lợi mục đích đề ra của cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân là đánh đòn quyết định làm thay đổi cục diện chiến tranh theo chiều hướng có lợi cho ta.Hieu lenhQuân giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968 (Ảnh tư liệu)

Thắng lợi Xuân Mậu Thân (1968) là minh chứng cho tài trí trong nghệ thuật điều hành chiến tranh đặc biệt độc đáo Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Một trong số đó là vấn đề chọn thời điểm, hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Về thời điểm Tổng tiến công, chúng ta chọn Tết Nguyên đán năm Mậu Thân – đúng thời khắc đêm Giao thừa(*). Theo phong tục truyền thống ngàn đời của người Việt Nam, Tết Nguyên đán (Tết Âm lịch) là thời điểm hội ngộ của những người thân trong gia đình, dòng tộc; thời điểm mà hầu như tất cả mọi người con xa gia đình, quê hương bản quán đều mong ước trở về. Và, thông lệ từ xa xưa, các thành phần xã hội dù làm việc gì, ở đâu cũng đều được nghỉ Tết, đón Xuân. Kể cả với những người lính trong quân ngũ (thậm chí ngay khi đang có chiến tranh), dù dưới chế độ nào cũng hầu như rất ít khi nằm ngoại lệ. Đó là chưa kể, ngày Tết thường gắn chặt với việc tổ chức tiệc ăn uống (rượu chè) và những hoạt động đón Tết, mừng Xuân khác nữa – kể cả đối với những bộ phận được phân công ứng trực theo phiên. Vì thế, dù cho có “cấm trại” bảo toàn quân số đi chăng nữa thì yếu tố cảnh giác, sức ứng phó với những tình huống bất thường xảy ra cũng ít nhiều hạn chế. Điều tra, nghiên cứu và tính toán rất cụ thể từng chi tiết phong tục tập quán ăn Tết – vui Xuân cổ truyền ở các vùng miền đất phương Nam, đặc biệt là việc “điều binh khiển tướng” của Quân lực Việt Nam cộng hòa từ nhiều năm trước đó, chúng ta mới đi đến quyết định chọn thời điểm Giao thừa để khai mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Với sự tính toán mưu lược chu tất như vậy, nên khi ta phát hỏa tiến công, địch hoàn toàn bất ngờ, không thể trở tay kịp. Chính phóng viên chiến trường nhiều tờ báo lớn của Mỹ cũng phản ánh rằng: Vào những ngày Tết Mậu Thân, các đơn vị của quân đội Sài Gòn chỉ có một nửa quân số, khiến cho Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ vô cùng lúng túng trong việc ứng phó… Như vậy, việc chọn thời khắc Giao thừa để mở cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân thực sự là một quyết sách đầy mưu lược của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo nên bất ngờ rất lớn đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, góp phần làm nên thắng lợi lớn của quân và dân ta.

Mặt khác, để bảo đảm cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) diễn ra đồng loạt trên khắp các thành phố, thị xã, thị trấn toàn miền Nam trong điều kiện địch đang tạm thời nắm quyền kiểm soát thực sự là vô cùng khó khăn. Làm thế nào để “giờ G” được thống nhất trên toàn miền mà vẫn giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ tuyệt đối với địch trong điều kiện lịch miền Bắc và lịch miền Nam chênh lệch nhau một ngày là một bài toán khó. Sau nhiều phiên thảo luận, Bộ chỉ huy tối cao quyết định chọn phương án lấy thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc Tết đồng bào cả nước đêm Giao thừa theo lịch miền Bắc – thời khắc chuyển giao năm Đinh Mùi sang năm Mậu Thân làm hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công. Đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ trên Đài Tiếng nói Việt Nam là việc làm thường niên, đều đặn mỗi năm khi mùa Xuân đến. Mặt khác, chỉ có làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam mới có thể phủ khắp được các vùng miền trên toàn miền Nam, mà không có một phương tiện nào lúc bấy giờ có thể thực hiện được. Tính quy luật của lời chúc Tết của Bác và làn sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam đã gây sự bất ngờ lớn đối với quân địch. Tuy trên thực tế diễn biến cụ thể cũng còn có những hiện tượng chưa đồng nhất về thời điểm nổ súng tiến công ở một số đơn vị và địa phương, nhưng sau đó đã được khắc phục kịp thời, bởi trong nghệ thuật quân sự Việt Nam thời chống Mỹ, có một nguyên tắc rất độc đáo là “lấy tiếng súng làm tín hiệu hiệp đồng”. Theo đó, tiếng súng tiến công của các đơn vị, địa phương này trở thành hiệu lệnh cho đơn vị, địa phương liền kề tiến công địch như một lẽ đương nhiên. Có thể khẳng định rằng, hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) cũng thực sự là một hiện tượng đặc sắc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của quân và dân ta ở miền Nam.

Tóm lại, vấn đề chọn thời điểm và hiệu lệnh khởi phát cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) thực sự là những nét độc đáo thuộc về nghệ thuật chỉ đạo và điều hành chiến tranh của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là một trong những chiến công thể hiện tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Từ thực tế lịch sử, thành tựu và bài học kinh nghiệm về nghệ thuật quân sự đúc rút từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) nói riêng và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung vẫn sẽ còn nguyên vẹn giá trị để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc hôm nay và tương lai.

Theo TS. Nguyễn Huy Thục/ Báo quân đội nhân dân
 Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânSuốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh phấn đấu không mệt mỏi cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.

Sớm nhận thức sâu sắc được vai trò của quần chúng, sau khi tìm thấy con đường cứu nước trong thời đại mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở về nước, đi vào quần chúng, vận động, tập hợp, tổ chức quần chúng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng giành lại độc lập, tự do. Đến khi trở thành lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, cũng vẫn là một Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì thực hiện mối liên hệ với quần chúng, gắn bó máu thịt với quần chúng.

Vai trò của quần chúng nhân dân

Là người hiểu rất rõ: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”, và “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của học thuyết Mác-Lênin về công tác vận động quần chúng kiểu mới, trang bị cho lớp cán bộ cốt cán đầu tiên của cách mạng Việt Nam một phương pháp vận động quần chúng khoa học. Sau đó, đội ngũ cán bộ ấy đã trở về nước, hoạt động cách mạng trong lòng nhân dân, tổ chức quần chúng, “nếm mật nằm gai” cùng quần chúng đấu tranh, tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng một đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thấm nhuần lời của cổ nhân “chở thuyền cũng là dân”, “lật thuyền cũng là dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng sự nghiệp cách mạng là của dân, do dân và “không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thành công”. Cũng theo lời Người, giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền, xây dựng một đất nước Việt Nam mới còn khó khăn, phức tạp hơn gấp nhiều lần: “Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn”, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai tầng trong nước. Hơn nữa, Người đã nói: “Chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều”, nên để “thuyết phục quần chúng một cách có lý, có tình, làm cho họ hiểu để… việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”, thì không thể không làm tốt công tác dân vận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra vị trí “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân chính là người cán bộ, đảng viên, bởi chính họ là người đem đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ đến với nhân dân, đồng thời cũng là người lãnh đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nên nhấn mạnh: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công và thất bại của chính sách đó là do cách tổ chức công việc, do nơi lựa chọn cán bộ, do nơi kiểm tra. Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Vì vậy, muốn tổ chức công việc tốt, người cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối trung thành với Đảng, phải có năng lực lãnh đạo, khả năng tổ chức thục hiện và nhất định phải quán triệt những nguyên tắc của công tác dân vận – liên hệ mật thiết với nhân dân, luôn gần dân, hiểu tâm tư nguyện vọng của dân… Tuy nhiên, dường như cùng với thời gian, những điều Người cảnh báo về những hiện tượng chưa thực sự “vì dân”, “ngày càng xa dân”, “coi khinh công tác dân vận” của cán bộ, đảng viên từng được nêu trong các tác phẩm: Thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (năm 1945), Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (năm 1947),  Thư gửi các đồng chí Trung Bộ, Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Cần kiệm liêm chính (năm 1949)… đã không được khắc phục kịp thời, mà những vấn nạn đó ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Thực tế là, khi Đảng cầm quyền, dù đa số cán bộ, đảng viên tại các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể vẫn thực sự là những “công bộc”, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân, thì cũng đã có không ít người “lên mặt làm quan cách mạng, miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối quan chủ, miệng nói phụng sự quần chúng, khi làm thì trái ngược với lợi ích của quần chúng”. Họ đã không lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đã tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh, không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu khó học tập để tiến bộ, và thường thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, dần càng rời xa nhân dân… Họ đã làm trái ngược nguyên tắc “phải gắn bó máu thịt với nhân dân”, làm cho nhân dân hoang mang, oán Chính phủ và Đảng.

Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nói rằng: “Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc, dân là chủ” nên mọi công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mọi người. Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải lấy dân làm gốc, coi dân là chủ, đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy: Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh, mà còn yêu cầu cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân trên tinh thần: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”…

Phong cách quần chúng

Trước những thiếu sót, sai lầm “rất to, rất có hại” của các địa phương, của đội ngũ cán bộ, đảng viên về công tác dân vận, để “đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”, nhằm chỉnh đốn lại nội bộ Đảng và thông qua chỉnh đốn Đảng để tăng cường xây dựng Đảng, ngày 15-10-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh (bút danh X.Y.Z) đã kịp thời cảnh báo và nêu rõ những nội dung cốt lõi về tư tưởng dân vận qua tác phẩm Dân vận đăng trên Báo Sự thật  ngày 15-10-1949. Trong đó

Người khẳng định:

“Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Vì “lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” nên người cán bộ, đảng viên phải luôn gần dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, để cổ vũ, động viên nhân dân và phát huy được nguồn sức mạnh nội lực của lực lượng “dời non, lấp bể” này trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Muốn vậy, phải làm tốt công tác dân vận, phải “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”.

Người đã từng nhiều lần nhấn mạnh rằng: Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước dù đúng đắn, nhưng nếu không được sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân thì rất khó đi vào hiện thực cuộc sống. Nhưng muốn được nhân dân ủng hộ, thì không chỉ dùng cách tuyên truyền bằng sách, báo, mít tinh, nghị quyết hay khẩu hiệu, mà “phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Nghĩa là:

Thứ nhất: Phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi người dân hiểu được rõ ràng những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chính là đem lại “lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”.

Thứ hai: Bất cứ công việc gì cũng phải bàn bạc và hỏi ý kiến, kinh nghiệm của quần chúng; giáo dục, động viên quần chúng, “khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hoá nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng”.

Thứ ba: Trong lúc thi hành, phải theo dõi, đôn đốc, khuyến khích quần chúng thực hiện tốt chủ trương, đường lối đó.

Thứ tư: Cùng quần chúng bàn bạc, rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, để có phê bình và khen thưởng kịp thời.

Cho nên, để khắc phục suy nghĩ: Việc gì cũng từ “trên dội xuống”, dùng mệnh lệnh, chỉ thị để lãnh đạo, “thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều. Ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác… Những chỉ thị, nghị quyết cấp trên gửi xuống các địa phương có thực hiện được hay không, các đồng chí cũng không biết đến” – “Cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ được tình hình bên dưới cho nên phần nhiều chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi, đến chốn”, thì bất cứ việc to, việc nhỏ gì cũng đều phải thực hiện theo nguyên tắc “từ trong quần chúng ra. Về sâu nơi quần chúng” và “phải thật thà nhúng tay vào việc”. Điều đó nghĩa là: Trong bất cứ hoàn cảnh nào, cán bộ, đảng viên cũng phải chú trọng xem: người dân đang nghĩ gì? cần gì?… để đưa mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tế cuộc sống; để người dân được thụ hưởng những kết quả của các chủ trương, nghị quyết ấy. Muốn vậy, phải thực hiện lời Người: rất cần và nhất thiết phải khắc phục “khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử những cán bộ kém rồi bỏ mặc họ. Vận được thì tốt, vận không được cũng mặc. Những cán bộ khác không trông nom, giúp đỡ, tự cho mình không có trách nhiệm dân vận. Đó là sai lầm rất to, rất có hại”.

Để làm dân vận tốt, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”. Đó phải là những người luôn “tự mình phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm chính, để nhân dân noi theo”, vì quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức, những người luôn lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ… Đồng thời, cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Dân vận không phải là việc riêng của một hai người, một hai ban, ngành, đó phải là công việc của cả hệ thống chính trị, là “tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh…) đều phải phụ trách dân vận”.

Tấm gương của Bác về phong cách quần chúng

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ luôn hết lòng yêu thương nhân dân, vì nhân dân phục vụ: “Người luôn luôn ở giữa quần chúng nhân dân, mang lại muôn vàn tình thân yêu cho con người”. Bởi vậy, từ cách mạng thành công Người đã nói: “Trong nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân” và “nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Nhất quán nguyên tắc đó, trong 24 năm ở vị thế một nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh là “một vị lãnh tụ thực sự liên hệ sâu sắc với quần chúng, mà nói như vậy cũng không đủ, phải nói là một vị lãnh tụ kiệt xuất đã hòa sâu trong nhân dân Việt Nam, thực sự trở thành một thể thống nhất với nhân dân Việt Nam”. Khó mà kể hết được những dòng ký ức của mỗi người về hình ảnh một Chủ tịch Hồ Chí Minh – mẫu mực về công tác dân vận… và thật sinh động, cụ thể, ngày 18-1-1967, khi nói chuyện với Lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện, Người đã căn dặn: “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong”.

Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận, từ tấm gương làm dân vận mẫu mực của Người và bài học quý giá Người căn dặn: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”, trong hơn 26 năm đổi mới, đã có nhiều nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước… về tăng cường công tác dân vận được ban hành. Và trên thực tế, các cấp chính quyền đã chú trọng, tăng cường công tác quần chúng; có những chính sách kịp thời khuyến khích, vận động người dân tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước, tham gia phát triển kinh tế, xã hội… Đồng thời, việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, việc chính quyền phối hợp ngày càng chặt chẽ, thường xuyên với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên cùng làm công tác dân vận, đã góp phần làm cho quyền làm chủ của người dân ngày càng được phát huy, tôn trọng./.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ nói chuyện “Tết” và “Xuân”

 Tet va xuân

Trong một bài báo viết cho Tạp chí “Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân” vào đầu năm 1952 (Xuân Nhâm Thìn), Bác Hồ kể với bạn bè quốc tế mùa Xuân ở Việt Nam:

“May mắn hơn nhiều dân tộc khác, người Việt Nam chúng tôi cũng như các bạn Trung Quốc và Triều Tiên, mỗi năm chúng tôi có hai ngày Tết. Một lần Tết theo dương lịch. Còn một Tết thứ hai tính theo âm lịch. Đó là ngày Tết theo tục lệ cổ truyền của nhân dân. Mùa Xuân ở nước chúng tôi bắt đầu từ ngày đầu tháng Giêng Âm lịch. Khắp nơi nơi là cả một bầu không khí tuyệt vời của mùa Xuân. Mặt trời tỏa sáng, ánh sáng dịu dàng đem lại sức sống tươi vui và lành mạnh. Lúa non phủ lên các cánh đồng, khác nào những tấm thảm xanh rộng mênh mông hứa hẹn năm tới sẽ no ấm được mùa. Chim chóc hót véo von, ríu rít trong những bụi cây bốn mùa xanh tốt sum suê. Từ các lâu đài cho đến những nhà tranh bé nhỏ đều có tranh vẽ, những lời chúc mừng dán ở cửa cổng ra vào. Ngày nay những lời chúc mừng và những tranh vẽ ấy đã trở thành những khẩu hiệu đấu tranh và lao động như:

– Mở rộng phong trào thi đua yêu nước trên mặt trận đấu tranh chống quân thù, trong sản xuất, trong công việc phát triển kinh tế!

– Đấu tranh chống bệnh quan liêu, tham ô và lãng phí!

– Công việc kiến quốc nhất định sẽ thu được thắng lợi!

Trong những ngày Tết này, mọi người đều mặc những quần áo đẹp nhất mà họ có. Gia đình nào cũng nấu nướng, sửa soạn những thức ăn ngon nhất. Người ta làm lễ trước bàn thờ tổ tiên. Bạn hữu đi chúc mừng thăm hỏi lẫn nhau. Người lớn tặng quà cho trẻ con. Nhân dân gửi tặng phẩm ủng hộ bộ đội… Nói tóm lại đây thật là ngày Tết của mùa Xuân .”

Với bè bạn quốc tế, Bác Hồ kể về những ngày Tết đầm ấm, vui tươi của dân tộc ta.

Với nhân dân mình, Bác có những lời khuyên nhủ để mùa Xuân  và ngày Tết càng thêm có nhiều ý nghĩa.

Trước hết Bác nói đến sự gắn bó sâu sắc trong những ngày Xuân  giữa làng và nước, giữa địa phương và quốc gia – đất nước, giữa Việt Nam và thế giới.

Trong bài “Mừng Xuân vĩ đại” đăng trên Báo Nhân Dân số 2141 ngày 27-1-1960, Bác viết:

“Xưa kia, người ta chỉ mừng Xuân hẹp hòi trong khuôn khổ gia đình. Ngày nay chúng ta mừng Xuân rộng rãi, từ gia đình đến cả nước, đến khắp thế giới”.

Hồ Chủ tịch thường căn dặn là phải hết sức tiết kiệm trong những ngày đón Xuân. Cũng trong bài “Mừng Xuân vĩ đại” Bác nhắc nhở “Chúng ta mừng Xuân một cách vui vẻ, tưng bừng, nhưng tuyệt đối không lãng phí”.

Trên Báo Nhân Dân số 2132, ngày 28/1/1960, trong bài “Mừng Tết Nguyên đán thế nào?” Bác viết:

“Suốt năm chúng ta thi đua lao động sản xuất. Nhân ngày Nguyên Đán, chúng ta vui chơi một hôm để chào Xuân. Việc đó cũng đúng thôi.

Nhưng chúng ta nên mừng Xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng Xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không Xuân. Nên nhớ rằng chúng ta phải cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, không nên vì một cớ gì mà quên nhiệm vụ ấy.

Các đồng chí cán bộ ta cần phải hướng dẫn đồng bào làm cho ngày Tết vui vẻ và tưng bừng, tiết kiệm và thắng lợi”.

Trong sách “Thanh Hóa khắc sâu lời Bác” (1975), Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Thanh Hóa có ghi lại lời dặn dò của Bác Hồ với cán bộ và nhân dân tỉnh nhà nhân dịp Bác về thăm Thanh Hóa (1957): “Chúng ta làm việc suốt năm, vui ngày Tết là xứng đáng, nhưng vui một cách lành mạnh thì nên vui. Tôi mong các cụ các bà chống lãng phí, vì lãng phí chỉ có hại cho dân, cho nước, cho nhà, vì nó đưa đến phong tục hủ bại, rượu chè, hút xách…”.

Bác khuyên trong những ngày Tết, “Không nên chơi bời quá độ mà phải có chừng độ. Chơi quá độ, bừa bãi không nên. Nếu chơi nhiều thì không tăng gia sản xuất, học tập được. Ta có câu “Lạc bất khả cực, lạc cực sinh ai”. Nghĩa là vui không nên quá mức, vui quá mức đi đến cái buồn”.

Trên Báo Nhân dân ngày 18/1/1960, nhắc nhở đồng bào cố gắng tiết kiệm, đừng lãng phí trong ngày Tết, Hồ Chủ tịch có mấy câu thơ vừa giản dị, vừa sâu sắc:

Trăm năm trong cõi người ta,

Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan,

Mừng Xuân, Xuân cả thế gian

Phải đâu lãng phí, cỗ bàn mới Xuân.

Bác Hồ cũng thường nhắc nhở rằng đón Tết, vui Xuân trong ngày đầu năm phải nghĩ đến công việc của cả năm. Bác viết trong bài “Mùa Xuân quyết thắng” trên Báo Nhân Dân số 2147 ngày 3/2/1960.

Tục ngữ có câu: “Suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân” (Nhất niên chi kế, thi ư Xuân). Thật đúng như vậy. Mùa Xuân thì trời vui, đất vui, người càng vui. Cho nên ngay từ đầu mùa Xuân mọi công việc làm được tốt, thì cả năm sẽ phát triển tốt và kết quả tốt”. Từ ngày Tết đầu năm phải lo nghĩ” để hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, để Xuân sau thắng lợi hơn Xuân này”.

Bác Hồ tuy đã đi xa, nhưng người Việt Nam cảm thấy như Bác vẫn ở bên cạnh mình. Và cứ mỗi dịp Xuân về, nhân dân ta vẫn cảm thấy như có Bác trong ngày Tết ấm áp, vẫn nghe rõ những lời Bác căn dặn:

“Hãy mừng Xuân rộng rãi từ gia đình đến cả nước”, “Hãy mừng Xuân vui vẻ tưng bừng nhưng tuyệt đối không lãng phí” và hãy nhớ câu tục ngữ: “Suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân”.

Phạm Hồng Việt
(Theo Tập san Sở GD&ĐT Thừa Thiên Huế, số 1, 2011)
Thu Hiền (st) / http://bachovoihue.violet.vn

bqllang.gov.vn

Một số bài viết, bài nói và hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Tết trồng cây”

1. Ngày 30/5/1959, trên Báo Nhân Dân số 1901 đăng bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở” với bút danh Trần Lực. 1

1Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng Người (12/1957)

2. Với bút danh Trần Lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân, số 2082, ngày 28/11/1959; 2

3. Ngày 19/1/1960, với bút danh T.L, Bác đã viết “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu” đăng trên Báo Nhân Dân số 2133;3

4. Bác viết bài “Thêm vài ý kiến về Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 2198 ngày 25/3/1960, bút danh Trần Lực; 4

5. “Tết trồng cây” với bút danh Trần Lực, đăng trên Báo Nhân Dân số 2506 ngày 28/1/1961; 5

2Chủ tịch Hồ Chí Minh trồng cây đa tại Công viên Thống Nhất mở đầu Tết Trồng cây do Người phát động (11/1/1960). Ảnh internet

3Ngày 25 tháng 1 năm 1961, Người đã về thăm HTX nông nghiệp Lạc Trung, nay là thôn Lạc Trung, xã Bình Dương, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Đây là nơi có nhiều thành tích trong phong trào “Tết trồng cây” và trở thành điển hình tiên tiến của tỉnh
và toàn miền Bắc. 
Ảnh internet

6. Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài nói chuyện với thanh niên trong buổi trồng cây tại vườn hoa thanh niên ngày 5/2/1961 – Theo tường thuật của Báo Nhân Dân số 515 ngày 6/2/1961; 6

7. Ngày 30/12/1961, Bác viết bài “Tết trồng cây” với bút danh T.L đăng trên Báo Nhân Dân số 2839 ngày 30/12/1961; 6

4Về thăm HTX Yên Trường (Yên Định) năm 1961, Bác Hồ khen việc trồng cây gây rừng cũng có tiến bộ, đã trồng được 1 vạn cây lấy gỗ và cây ăn quả. Ảnh: Internet

            8. Với bút danh T.L, Bác viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 3228 ngày 27/1/1963; 8

9. Ngày 5/2/1964, với bút danh T.L Bác viết bài “Ngày Xuân vui Tết trồng cây nơi nơi phấn khởi, người người thi đua” đăng trên Báo Nhân Dân số 3600; 9

10. Ngày 1/1/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh T.L đã viết bài “Năm mới hãy nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây”. 9

11. Với bút danh T.L, Bác viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 5411 ngày 5/2/1969. 1

5Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng bà con xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây (nay là Hà Nội) trồng cây vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu, 16/2/1969. Ảnh internet

6Bác Hồ cùng cán bộ, nhân viên trồng cây trong Phủ Chủ tịch . Ảnh Internet

7Hình ảnh giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đang tưới nước, chăm sóc cây trong Phủ Chủ tịch. Ảnh internet

—————————————-

1, 2, 3, 4: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 12, trang 227; 337; 442; 535;
5, 6, 7: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 13, trang 22; 541; 302;
8, 9, 10: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 14, trang 19, 248, 445;
11: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 15, 549.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Mùa Xuân Cụ Hồ… Mùa Xuân Cụ Hồ…

Bác Hồ chúc TếtTrong cuộc đời 79 mùa Xuân của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, có 30 mùa Xuân “Tha hương”, cộng thêm hai mùa Xuân vừa tha hương vừa nằm trong ngục Tưởng Giới Thạch. Trong 30 mùa Xuân cách xa Tổ quốc ấy cũng có hai lần đón Xuân tại nhà tù Víctoria ở Hồng Kông và 5 cái Tết ở trên đất Liên Xô, chỉ có đọc sách mà không được hoạt động nhiều (từ năm 1934 đến năm 1938).

Nếu tính từ tuổi 17 đã biết tự lập thì trừ đi những năm thơ ấu, những năm “ly hương” và tù ngục, Bác Hồ thân yêu thực sự chỉ “ăn” được 30 cái Tết trong nước. Chưa được một nửa cuộc đời – 17 mùa Xuân lênh đênh biển cả, 4 Xuân trong xà lim, 5 Xuân ít được hoạt động… Những mùa Xuân đắng cay ấy cũng không dồn đủ ngọt ngào cho những Xuân còn lại của Người. Bác Hồ đã một lần nói với đồng chí Hoàng Đạo Thuý rằng: “Người ta ai cũng là người, ai cũng có vui, có buồn… Với anh em, đồng chí, đồng bào, tôi cố giữ cho mình được vui…”

Bác không nói tới vế sau, nhưng ai cũng hiểu. Với niềm tin tưởng và tinh thần lạc quan cách mạng. Người đã có những mùa Xuân tươi đẹp nhất. Phải chăng đó là mùa Xuân năm 1923 trên đất Pháp, khi Người viết truyền đơn cổ động mua báo Le Paria. Mùa Xuân ấy, lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm kiểm nghiệm cuộc sống, Nguyễn Ái Quốc viết: “Cho đến nay chủ nghĩa tư bản chỉ là những vách tường dày ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Mùa Xuân năm 1924, Người đã đến Mátxcơva quê hương của một mùa Xuân mới. Mùa Xuân năm 1930 là một mùa Xuân tươi đẹp, sung sướng nhất của Bác Hồ, vì “từ nay đã có Đảng lãnh đạo, cách mạng sẽ thành công”. Mùa Xuân năm 1941, sau 30 năm cách xa Tổ quốc, sau khi mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ ở biên giới Việt – Trung, theo nội dung sách sau này được in lưới tên gọi Con đường giải phóng.Con đường mới đi được chặng đầu trong khí trời trong lành của một buổi sớm xuân, trong hương thơm của hoa rừng biên cương, Người trở về Tổ quốc.

Những mùa Xuân phấn khởi như vậy rất ít với Người, vì rằng Người đã nghĩ mình trong bước gian truân, tai ương rèn luyện tinh thần thêm cao, như Nguyễn Trãi đã tự nói “vì trời giao ta làm việc lớn nên thử thách ta”.

Mùa Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mùa Xuân của nghĩa tình, chan chứa lòng yêu thương đồng cảm với nhau. Xuân năm 1959, trên đất Liên Xô, Bác nói với các cháu thiếu nhi: “Tết bây giờ khác trước rồi. Mùa Xuân của chúng ta không phải là ba tháng mà là dài hơn, gia đình, họ hàng của ta là cả gia đình quốc tế vô sản”. Người mong muốn mùa Xuân cho mọi người, xuân ở trong mọi ngày. Trong ngày xuân, gặp được đồng bào, đồng chí, bạn bè, người lại thấy Xuân này, xuân lại thêm xuân, nước non xa, anh em gần, vui thật là vui.

Khi Tết đến, Xuân về, dù không có tiền bạc, bánh quà để tặng những người nghèo khổ, Bác vẫn đến với họ, sẻ chia một tấm lòng, một sắc xuân của trái tim Người. Cô công nhân vệ sinh bất ngờ “không bao giờ nghĩ là Bác đến”. Hiền lành như một ông Tiên, ông Bụt, Bác xót xa mà nói “Bác không đến thăm cháu, còn thăm ai?”. Mùa Xuân ấy đối với căn nhà rách nát nghèo nàn, trong một hẻm phố nhỏ của chị công nhân thật là “một mùa Xuân cả thế gian, phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân” như lời Bác dạy.

Nếu như “Chủ nghĩa cộng sản là mùa Xuân của nhân loại” còn quá cao trên đỉnh núi, mà ta chỉ chiêm ngưỡng được trong những ngày trời đẹp, hoặc còn quá xa như một viễn cảnh, thì trong những ngày này, thế giới này, quả đất này, có thể đã có một mùa Xuân “không gì ngăn cản được những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Đó là lời tuyên bố của Nguyễn Ái Quốc trong mùa Xuân năm 1923. Đó là mong mỏi của Bác suốt cả cuộc đời mình mong muốn “Mùa Xuân dài hơn”, mùa Xuân với áo ấm, cơm no, với tự do, hạnh phúc, với cái “tâm”, cái “thiện” cho mỗi con người./.

Theo cuốn: Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh  do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương phát hành năm 2007

Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Gặp “cô bé Trung Quốc” được chụp ảnh với Bác Hồ

1
Bà Vương Phong và bức ảnh quý chụp với Bác Hồ khi xưa.
Ảnh: Xuân Vịnh/Vietnam

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Báo Tiền Phong số 190, ra từ ngày 1-4/6/1957 đã trang trọng in trên trang nhất bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” chụp Bác Hồ kính yêu cùng một bé gái khoảng 5 tuổi, mặc váy màu trắng có đôi mắt to, đen láy đang cầm cành hoa hồng.

Bức ảnh của tác giả Mai Nam, minh họa cho bài viết “Một bức thư của các bạn nhỏ ở Mátxcơva nhân ngày 1/6.”

Do bức ảnh in trên báo khi đó không chú thích cụ thể nên nhiều người không biết nhân vật đặc biệt đã vinh dự được chụp ảnh với Bác Hồ chính là cô bé Tiểu Hồng, con gái của nhà báo Vương Duy Chân, nguyên Trưởng Phân xã Tân Hoa xã tại Hà Nội từ năm 1955-1960.

Tìm lại người trong ảnh

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, kỷ niệm về những người bạn Việt Nam cùng Thủ đô Hà Nội thơ mộng vẫn mãi mãi khắc sâu trong trái tim cô bé Tiểu Hồng khi xưa và bà Vương Phong đang sống tại Bắc Kinh (Trung Quốc) hiện nay.

Đầu năm 2013, chúng tôi có dịp đến thăm gia đình cố nhà báo Vương Duy Chân tại Bắc Kinh và bất ngờ được nghe bà Vương Phong, con gái của nhà báo xúc động kể lại giây phút vinh dự được gặp Bác Hồ tại Thủ đô Hà Nội gần 60 năm về trước. Đặc biệt hơn, bà Vương Phong còn cho biết mình chính là cô bé Tiểu Hồng, nhân vật đặc biệt trong bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” in trên báo Tiền phong năm 1957.

Năm tháng đã dần lùi xa, nhưng bà Vương Phong vẫn nhớ như in giây phút vô cùng xúc động mà mình vinh dự được gặp Bác Hồ tại sân bay Gia Lâm ngày 20/5/1957. Bà Vương Phong cho biết, vào năm 1956, khi đó bà hơn 5 tuổi, được theo phụ thân là nhà báo Vương Duy Chân sang công tác tại Phân xã Tân Hoa Xã ở Thủ đô Hà Nội.

Cô bé Tiểu Hồng khi đó mặc dù còn rất nhỏ nhưng qua sự giới thiệu cũng như những câu chuyện kể của cha mình hàng ngày đã cảm thấy vô cùng khâm phục các nhân vật anh hùng của dân tộc Việt Nam, trong đó đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hình ảnh Bác Hồ giản dị mà vô cùng kính yêu cũng theo đó dần khắc sâu trong tâm trí của Tiểu Hồng. Cô bé thầm nghĩ mình nhất định sẽ phải gặp bằng được con người vĩ đại đó. Cuối cùng, cơ hội đã đến khi Nguyên soái Liên Xô Kliment Yefremovich Voroshilov (1881-1969) sang thăm Việt Nam vào tháng 5 năm 1957. Sau khi nghe phụ thân nói Bác Hồ hôm nay sẽ ra sân bay Gia Lâm đón khách, Tiểu Hồng muốn gặp Người thì hãy nhanh chóng chuẩn bị, cô bé lập tức thay chiếc váy màu trắng mà mình yêu thích nhất, ra vườn hái một cành hoa hồng mang theo rồi cùng cha ra sân bay.

Tại sân bay Gia Lâm, do phải tác nghiệp để đưa tin phản ánh về chuyến thăm tới Việt Nam của Nguyên soái Voroshilov nên nhà báo Vương Duy Chân đã để cô con gái Tiểu Hồng của mình đứng cùng với gia đình Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam – La Quý Ba. Trong lúc chờ máy bay đến, bé Tiểu Hồng bỗng nghe thấy mọi người hô to “Hồ Chủ tịch đến rồi! Bác Hồ đến rồi!” và đồng loạt vỗ tay hoan hô. Lúc đó, cô đã nhìn thấy Bác Hồ – một ông cụ râu tóc bạc phơ – đang ung dung đi đến nên vui mừng nhảy lên gọi to :” Bác Hồ! Bác Hồ!” và cầm cành hoa vẫy liên tục.

Cho đến tận bây giờ, bà Vương Phong vẫn nhớ như in hình ảnh ngộ nghĩnh của mình và những gì diễn ra sau đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến nói chuyện với Đại sứ La Quý Ba và phát hiện ra bé Tiểu Hồng đáng yêu đang đứng bên cạnh liên tục gọi “Bác Hồ! Bác Hồ” bằng tiếng Trung. Bác cúi xuống, dẫn Tiểu Hồng ra khỏi đội hình đang xếp hàng chuẩn bị đón khách và hỏi: “Cháu mấy tuổi rồi? Cháu có thích Việt Nam không?”

Ngay lập tức bé Tiểu Hồng trả lời: “Cháu thích Việt Nam! Cháu yêu Bác Hồ.”

Lúc này rất nhiều phóng viên đang có mặt tại sân bay chạy đến và đèn flas của các máy ảnh chớp sáng liên tục. Bác Hồ lại âu yếm hỏi: “Cháu có biết tiếng Việt Nam không?” Tiểu Hồng đáp “Cháu có!” và nói liền một mạch cả ba câu mà mình đã học thuộc mặc dù chưa biết nghĩa của chúng là gì: “Ăn cơm chưa? Ăn cơm rồi! Chào đồng chí!” Nghe vậy, Bác Hồ và mọi người xung quanh đều bật cười vui vẻ.

Sau này, mỗi khi nhớ lại giây phút đó bà Vương Phong đều cảm thấy vô cùng xúc động, hình ảnh kính yêu của Bác Hồ cùng những câu nói nghộ nghĩnh “tự hỏi, tự trả lời” của một cô bé 5 tuổi mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm.

Giây phút cô bé Tiểu Hồng được gặp Bác Hồ tại sân bay Gia Lâm khi đó đã được rất nhiều phóng viên đang có mặt tại đây ghi vào ống kính máy ảnh và sau đó tặng lại cho nhà báo Vương Duy Chân.

Bà Vương Phong cho biết bức ảnh “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” đăng trên báo Tiền Phong nhân ngày 1/6/1957 kể trên chính là khoảnh khắc Bác Hồ bật cười vui vẻ khi nghe Tiểu Hồng nói “Ăn cơm chưa? Ăn cơm rồi! Chào đồng chí!”

Tờ báo này đã được nhà báo Vương Duy Chân sưu tầm và tự tay ghi vào bên cạnh dòng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tiểu Hồng.”

Hiện nay, tờ báo vẫn đang được bà Vương Phong trân trọng lưu giữ và coi như bảo vật vô cùng quý giá của bản thân cũng như cả gia đình.

Ngoài ra, bà Vương Phong hiện cũng đang lưu giữ một số tấm hình khác cùng chụp khoảnh khắc được gặp Bác Hồ ở các góc độ khác nhau, trong đó có hai bức ảnh do Phóng viên ảnh Tạ Sỹ Phong thuộc Tân Hoa Việt báo chụp sau đó tặng lại cho nhà báo Vương Duy Chân.

“Bác Hồ kính yêu mãi mãi trong trái tim tôi”

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, bà Vương Phong hiện đang sống cùng mẹ và con trai tại một khu phố yên tĩnh nằm ở khu vực phía Tây của Thủ đô Bắc Kinh. Trong căn nhà tập thể giản dị này, chúng tôi thấy rất nhiều hình ảnh cũng như các bức tranh về phong cảnh Việt Nam và Thủ đô Hà Nội được chủ nhân nâng niu đặt tại những vị trí trang trọng.

Nhắc lại kỷ niệm được gặp Bác Hồ khi xưa, bà Vương Phong cho biết trong suốt những năm tháng sau này và cho đến tận bây giờ hình ảnh cùng nhân cách của Người vẫn mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm, mỗi ngày một thêm rực rỡ và vĩ đại hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng giống như các lãnh đạo cách mạng tiền bối của Trung Quốc đều hy sinh tất cả cho nhân dân, cho tổ quốc, cho độc lập tự do và bình đẳng. Một sự hy sinh cao cả mà mọi lời nói, mọi lời ca đều khó có thể diễn đạt hoặc ngợi ca hết, mãi mãi được khắc ghi trong lòng mọi người.

Bà Vương Phong cho biết mình luôn cảm thấy tự hào khi kể lại cho bạn bè nghe về kỷ niệm quý báu của đời mình và thường nói với mọi người “Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam mãi mãi trong trái tim tôi.”

Trong khi trò chuyện, chúng tôi lại vô cùng bất ngờ và trân trọng khi được biết bà Vương Phong không những yêu thích mà còn học thuộc và hát rất hay nhiều ca khúc Việt Nam. Bà cho biết khoảng năm 2000, bà đã có dịp quay lại thăm Việt Nam sau đó tự sưu tập, nhờ người dịch sang tiếng Trung một số bài hát nổi tiếng của Việt Nam như “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người,” “Hà Nội mùa Thu” và “Em ơi Hà Nội phố”… để về Trung Quốc giới thiệu và hát lại cho mọi người nghe./.

Xuân Vịnh/Bắc Kinh (Vietnam+)
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn

Con đường không rải hoa

Đúng 11h ngày 27/1/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết tại phòng khánh tiết Trung tâm Hội nghị Quốc tế Kléber (Paris, Thủ đô Cộng hòa Pháp) với bốn vị Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Nguyễn Duy Trinh), Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (Nguyễn Thị Bình), Hoa Kỳ (William P. Rogers) và Việt Nam Cộng hòa (Trần Văn Lắm). Quân đội Mỹ đã bắt buộc phải chấp nhận rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Mục tiêu “Đánh cho Mỹ cút” đã được thực hiện…

Hành trình tất yếu

Mặc dù có ưu thế nhân lực, vật lực hơn hẳn so với chúng ta nhưng Washington đã không thể nào đè bẹp được những nỗ lực vô bờ bến của nhân dân ta chống lại quân xâm lược. Sau sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, Nhà Trắng càng hiểu rõ thêm rằng, lực lượng viễn chinh Mỹ ở Việt Nam cùng quân đội Sài Gòn sẽ không thể bao giờ giành được chiến thắng quân sự ở dải đất hình tia chớp này.

Trong tập hồi ký “Gia đình, bè bạn và đất nước” do Nhà Xuất bản Tri Thức vừa ấn hành vào nửa cuối năm 2012, bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của chúng ta trên khắp chiến trường miền Nam khiến Mỹ phải bắt đầu nhận ra rằng, họ không còn khả năng thắng một nhân dân đã quyết chiến đấu đến cùng cho độc lập tự do và thống nhất đất nước; họ đã phải tính đến việc xuống thang chiến tranh, buộc phải nghĩ đến một giải pháp chính trị để rút khỏi cuộc chiến vô vọng này, tất nhiên vẫn muốn có được một giải pháp trên thế mạnh. Còn về phía chúng ta, chúng ta cũng đã thấy đến lúc có thể triển khai tiếp cuộc chiến đấu dưới hai hình thức, vừa đánh vừa đàm”.

Sự dính líu trực tiếp của Washington vào cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm cho đại đa số những người dân Mỹ cảm thấy thất vọng. Đầu năm 1969, một cuộc thăm dò dư luận được tiến hành cho thấy, chỉ có khoảng 29% số người Mỹ được hỏi ý kiến ủng hộ chiến tranh ở Việt Nam. Chính vì thế nên ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ lúc đó là Lyndon Johnson, người từng tăng số binh lính Mỹ tham chiến tại Việt Nam lên tới gần 540 nghìn tên và vì thế, khiến cho lực lượng này phải chịu những thương vong rất đáng kể, đã phải xuống thang và tuyên bố đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra sau khi tiết lộ rằng ông ta sẽ không ra tái tranh cử Tổng thống thêm một lần nữa. Đồng thời, ông này đã cử người đi đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà tại Paris. Đáp lại, ngày 3/4/1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà cũng đã tuyên bố sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ.

Địa điểm được chọn để tiến hành các cuộc đàm phán tương lai là Paris. Bộ Chính trị Đảng ta đã cử hai nhà lãnh đạo cao cấp là đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thủy trực tiếp tiến hành đàm phán ở Paris (đồng chí Lê Đức Thọ làm Cố vấn Đặc biệt, còn đồng chí Xuân Thủy, với cương vị Bộ trưởng Ngoại giao, là Trưởng phái đoàn).

Hội nghị Paris về Việt Nam đã là một cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử ngoại giao quốc tế thời hiện đại. Cuộc đàm phán đầu tiên đã được tổ chức ngày 13/5/1968, thoạt tiên chỉ có sự tham gia của hai phái đoàn từ Washington và Hà Nội sang. Do lập trường kiên quyết của chúng ta, phía Mỹ đã bắt buộc phải mở rộng thành phần tham gia đàm phán. Tới tháng 11/1968 đã diễn ra một cuộc họp trù bị khá đơn giản để thống nhất một số thủ tục kỹ thuật cho quá trình đàm phán bốn bên. Phiên họp chính thức đầu tiên với sự tham gia của bốn phái đoàn diễn ra ngày 25/1/1969 tại phòng họp của trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber nằm cách Khải Hoàn môn khoảng 100m, tức là ở chính giữa Paris…

Cũng theo hồi ức của bà Nguyễn Thị Bình, trên bàn đàm phán, các “cuộc đấu lý diễn ra rất dai dẳng. Hai đoàn chúng ta nhằm vào Mỹ phê phán, lên án. Còn Mỹ thì tránh né, đẩy cho đoàn Sài Gòn đối đáp dài dòng…”.

Ở thời điểm này, nước Mỹ đang nằm trong bàn tay chèo lái của vị Tổng thống mới là Richard Nixon. Ông này vừa ngồi chưa ấm chỗ trong Nhà Trắng đã đưa ra học thuyết “đổi màu da trên xác chết” trong chiến tranh Việt Nam. Để dằn mặt đối phương và tìm thêm thế mạnh cho các cuộc đàm phán, ngày 17/3/1969, ông ta đã mở rộng chiến trường bằng một lệnh ném bom xuống lãnh thổ Campuchia, nơi mà Washington cho là xuất phát điểm của các tuyến tiếp tế cho bộ đội chúng ta. Tuy nhiên, vũ lực đã không mang lại cho Nhà Trắng những ưu thế trên chiến trường mà chỉ làm dư luận nhân dân Mỹ thêm phần phẫn nộ. Vì thế nên tới ngày 8/6/1969, Nixon đã phải tuyên bố cho rút bớt quân Mỹ về nước từ tháng 7 năm 1969. Và ông ta đã gửi một lá thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh để bày tỏ cái gọi là thiện chí hòa bình. Và ngày 25/8/1969, Bác Hồ trong thư trả lời Tổng thống Mỹ đã nêu rõ, nếu mong muốn hành động cho một nền hòa bình công bằng, thì  “Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và của dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài… Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự”.

con duong khong rai hoa
Quang cảnh Hội nghị Paris.

Bước ngoặt quan trọng

Các hoạt động thương lượng ngoại giao bao giờ cũng là sự đồng vọng với những diễn biến trên chiến trường. Hội nghị Paris về Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Đó là một diễn đàn đấu tranh chính trị theo nhịp điệu tiếng súng vang lên trên chiến trường. Và trong giai đoạn đầu, khi giữa ta và địch còn ở thế giằng co, thì các cuộc đàm phán tại Paris, nói theo cách của bà Nguyễn Thị Bình, tiếp tục vẫn là “cuộc nói chuyện giữa những người điếc”. Ngay cả những cuộc gặp riêng, bắt đầu từ ngày 21/2/1970, giữa Cố vấn Đặc biệt Lê Đức Thọ với Cố vấn An ninh Mỹ Kissinger trong suốt một thời gian cũng không dễ dàng dẫn tới được các thỏa hiệp mong muốn. Các cuộc gặp riêng bí mật này cũng vẫn mang tính chất đấu trí và đấu khẩu gay gắt như trong quá trình diễn ra đàm phán công khai.

Đến giữa năm 1972, Washington mới thực sự ngấm đòn từ những thiệt hại trên chiến trường vì những thử nghiệm “thay đổi màu da trên xác chết” đã bị thất bại thảm hại trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 sang đất Lào của quân đội Sài Gòn cũng như ở nhiều nơi khác. Tuy nhiên, chính quyền Nixon vẫn ngoan cố không chịu nhận ra ngay con đường sáng mà vẫn tiếp tục tìm mọi cách để vừa đánh lừa dư luận trong nước về một thiện chí hòa bình nào đó ở phía họ, vừa muốn dùng vũ khí để đánh gục ý chí của dân tộc ta. Chính vì thế nên ngày 24/3/1972, Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố hoãn vô thời hạn các phiên họp công khai Hội nghị Paris về Việt Nam. Tiếp đó, ngày 8/5/1972, chưa đầy một tuần sau phiên gặp riêng giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy với ông Kissinger, Nixon tuyên bố tiến hành một bước leo thang mới mở rộng quy mô đánh phá miền Bắc kể cả bằng lực lượng không quân chiến lược, thả mìn cảng Hải Phòng cùng các cửa sông, lạch, trên vùng biển phong toả miền Bắc Việt Nam…

Tuy nhiên, Mỹ đã không thể đè bẹp được ý chí của nhân dân Việt Nam bằng bom đạn và chết chóc. Chính vì thế nên ngày 13/7/1972, Washington đã buộc phải chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể bốn bên tại Paris. Về phía Việt Nam, chúng ta cũng xác định đây là thời điểm để có thể tỏ ra mềm dẻo dẫn tới những thỏa thuận có thể chấp nhận được. Ngày 11/9/1972, lần đầu tiên kể từ khi Kissinger bắt đầu hội đàm bí mật với Hà Nội vào tháng 8 năm 1969, phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã thôi đưa ra “giải pháp cả gói” (Mỹ phải rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam và xóa bỏ chính quyền do họ dựng lên tại đây) và gợi ý rằng có thể sẽ chấp nhận một cuộc ngừng bắn tại miền Nam Việt Nam mà không cần loại bỏ chính quyền Sài Gòn. Đó đã là sự khai thông cho những bế tắc trên bàn hội nghị…

Tới ngày 12/10/1972, sau những tranh cãi được đánh giá là nảy lửa, Cố vấn Đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn An ninh Mỹ Kissinger đã cùng đi đến một bản nháp hiệp định gồm 9 điểm. Nội dung đó chưa đầy đủ nhưng nó đã tạo được một bước đột phá lớn. Dự thảo đã tách các vấn đề thuần túy quân sự ra khỏi các vấn đề chính trị, cho phép một cuộc ngừng bắn tại chỗ, sự rút quân đội Mỹ và đồng minh nước ngoài về nước, sự trao trả tù binh Mỹ trong vòng 60 ngày, và thiết lập một qui trình mà qua đó người Việt Nam sau đó sẽ tự quyết định tương lai của mình…

Đã có dự định là tới ngày 30/10/1972 sẽ chính thức ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, mọi sự đã không diễn ra như thế vì thái độ lật lọng của chính quyền Mỹ sau khi Nixon biết được kết quả bỏ phiếu đã mang lại cho ông ta thêm một nhiệm kỳ nữa trong Nhà Trắng. Và con người nhẫn tâm và tráo trở này đã cho tiến hành một đợt không kích dữ dội và đẫm máu  bằng cả pháo đài bay B52 kéo dài suốt 12 ngày ở Hà Nội, nhằm buộc chúng ta phải quỳ gối chấp thuận những điều kiện ngặt nghèo hơn của Mỹ trên bàn hội nghị. Thế nhưng, Nhà Trắng đã hoàn toàn thất bại trong trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội những ngày tháng Chạp năm 1972.  Huyền thoại B52 bị phá bỏ, 30 chiếc bị bắn hạ. Dư luận quốc tế đồng thanh lên án hành động tàn bạo này của Mỹ… Và thế là tới ngày cuối cùng của tháng 12 năm đó, Washington đã phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, quay lại đàm phán và đồng ý ký kết Hiệp định Paris theo phương án đã ký tắt hồi tháng 10 với một vài sửa đổi nhỏ có tính kỹ thuật…

Kết thúc một hành trình gian khó, không rải hoa. Và lễ ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã diễn ra ngày 27/1/1973 tại Paris. Bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại: “Tất cả các báo trên thế giới đều đưa lên trang nhất sự kiện trọng đại này. Mọi người yêu hòa bình và công lý trên thế giới đều hồ hởi như chính mình đã chiến thắng…”

Theo http://antgct.cand.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn