Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác Hồ với mùa xuân

Mùa xuân giữ vị trí quan trọng và đã trở thành một hình tượng xuyên suốt trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã góp phần tạo nên ở vị lãnh tụ kính yêu- nhà thi sĩ lớn của dân tộc Việt Nam một nét phong cách nghệ thuật hết sức độc đáo: Rất cổ điển mà vô cùng hiện đại.

Bác Hồ chúc Tết

Sự gặp gỡ giữa hai đối cực này đã làm cho thơ của Người, đặc biệt là những bài thơ xuân, thấm đẫm hồn dân tộc, đậm đà cốt cách Á Đông, phảng phất bóng dáng ung dung tự tại của những bậc tao nhân mặc khách, nhưng lại tràn trề sức thanh xuân và luôn toát ra một tinh thần lạc quan vô hạn, thể hiện bản lĩnh vô song của một nhà cách mạng vô sản lỗi lạc. Vì thế, mùa xuân trong thơ Bác thường lộng lẫy mà tĩnh lặng, thanh cao sang trọng, lịch lãm nhưng không hề xa cách với cuộc đời:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn mầu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

                                                              (Rằm tháng Giêng)

Có thể coi Rằm tháng Giêng là một kiệt tác về mùa xuân với cảnh xuân thật đẹp, tình xuân lai láng, hương xuân nồng nàn, sắc xuân rạng rỡ! Ở đó, tiểu vũ trụ-thi nhân và đại vũ trụ đất trời bao la tưởng như tan chẩy hòa nhập vào nhau, cộng cảm giao hòa cùng nhau, theo đúng thuyết Tam tài. Thi phẩm dường như đã đạt đến mức độ cổ điển.

Nhưng khác với cổ nhân, cũng không giống những nhà thơ mới, thơ xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng hề vương vấn nỗi yếm thế buồn sầu mà ngược lại, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào từ thơ Người, ta vẫn nghe vần thắng vút lên cao (Vô đề),vẫn thấy ngập tràn một niềm vui thắng lợi, thơ Bác sâu lắng mang vẻ đẹp tỏa sáng của một vị đại Nho thông thái đang ung dung.

Thơ của nhà hiền triết Hồ Chí Minh luôn là sự tích hợp giữa những giá trị tinh hoa của văn hóa bác học Đông Tây với sự minh triết và thông tuệ của dân gian nên mùa xuân thường mang ý nghĩa kép: đâu chỉ là mùa xuân của đất trời mà còn mang biểu tượng của hào khí dân tộc, của sự sống bất diệt, mang vẻ đẹp của tuổi trẻ và biểu tượng cho tương lai tươi sáng của cách mạng:

Với một trí tuệ vô cùng mẫn tiệp và khả năng nhìn xa trông rộng, nhà chiến lược Hồ Chí Minh đã trở thành người đi trước thời đại, nên ngay từ cách đây hơn nửa thế kỷ, vào mùa xuân 1960, Người đã trịnh trọng phát động phong trào toàn dân trồng cây gây rừng tạo nên ngày hội trồng cây mỗi khi tết đến xuân về – một mỹ tục mới nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ sự sống của nhân loại và góp phần làm cho đất nước bốn mùa là cả một mùa xuân:

Mùa xuân là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

Không những thế, vị lãnh tụ tài hoa Hồ Chí Minh còn sáng tạo được một phong tục đẹp khác là làm thơ mừng xuân để gửi tặng đồng bào, chiến sĩ. Từ năm 1942 đến năm 1969, Người đã để lại cho cháu con một di sản quý báu gồm 22 bài thơ chúc Tết với mong ước thiêng liêng: Năm mới thắng lợi mới, năm mới tiến bộ mới để đất nước luôn hưng thịnh, vững bền. Đó là chưa kể những bài thơ xuân Người viết cho bè bạn như thơ Tặng Bùi Công, Cảnh rừng Việt Bắc… hay viết cho chính mình với một niềm lạc quan vô hạn:

Sáu mươi tuổi vẫn còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên

Chúng đã thỏa nguyện được tâm lý yêu thơ, thích thưởng thức thơ vào dịp đầu năm mới và khát vọng về một cuộc sống bình yên của toàn thể con dân đất Việt. Hai mươi hai bài thơ chúc tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh mỗi bài một vẻ, trong đó có không ít bài được coi là tuyệt bút:

Xuân về xin có một bài ca
Gửi chúc đồng bào cả nước ta
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin Mừng thắng trận nở như hoa

                                                             (Mừng xuân 1967)

Những bài thơ chúc tết thấm đẫm hồn non nước của Người ngày đó đã được thiêng hóa và trở thành lời tiên đoán sáng suốt về vận mệnh của toàn dân tộc:

Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua
Thắng trận tin vui khắp mọi nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta.

                                                             (Mừng xuân 1968)

Mùa xuân chứa đựng bao nhiêu phong tục thiêng liêng: Nào tục khai bút đầu xuân của một đất nước trọng văn, nào những lời chúc tốt lành nhân dịp năm mới, nào tục lệ tổng kết thành tích vào dịp cuối năm để năm mới làm ăn tấn tới , nào thể thơ lục bát thuần Việt có nguồn gốc ngàn đời từ ca dao… Mùa xuân được Người phô diễn bằng cách cảm, cách nghĩ của dân gian, mang rất nhiều màu sắc dân gian và rất đậm chất xuân, ngập tràn không khí tết: Có hoa nở, cờ hồng, có cách gọi tên theo lối Âm lịch: Nhâm ngọ, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ sửu, Canh Dần, Tân Mão, Quý Tỵ, Nhâm Thìn….Nhờ thế mà những nội dung tư tưởng lớn lao, mang tính thời sự cao trong thời khắc trọng đại, đã dễ dàng đến với trái tim của mỗi người dân, làm cho vị lãnh tụ càng trở nên gần gũi và những vần thơ tuôn chảy từ trái tim nhà cách mạng của giai cấp vô sản bỗng trở thành những bức thông điệp mang tầm vóc của một lời sấm truyền với tính chất dự báo rất lớn. Rồi suốt mấy chục năm liền, việc Bác đọc thơ mỗi dịp xuân về đã trở thành một nét văn hóa đặc sắc, thiêng liêng như lời non nước.

Những vần thơ xuân đầy hào khí của vị lãnh tụ kính yêu đã trở thành phương châm hành động thôi thúc toàn thể nhân dân tin tưởng, cùng nhau đoàn kết, xốc tới giành thắng lợi:

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Và chúng vẫn mãi mãi như những cánh hồng đào chỉ lối mùa xuân đến, góp phần khai thông con đường dân tộc Việt Nam đi lên hạnh phúc rộng thênh thênh.

T.S Trần Thị Trâm
baobacninh.com.vn

Nhớ lời Bác, thực hiện tốt Tết trồng cây

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cứ mỗi độ Tết đến xuân về, nhân dân cả nước lại nô nức ra quân thực hiện “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác”.

Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

63 năm qua kể từ khi Bác chính thức phát động “Tết trồng cây” (năm 1960) trong toàn dân cùng với lời dạy “việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều” và “trong mười năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ hiền hòa hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”, Tết trồng cây đã trở thành một phong tục tập quán mới, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

Ở Bắc Ninh nhiều năm qua, thực hiện lời dạy của Bác, Tết trồng cây đã luôn được duy trì và phát triển rộng khắp, không chỉ mở đầu cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch trồng cây gây rừng cả năm, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái mà còn mở đầu cho một năm mới với khí thế thi đua sôi nổi rộng khắp của các cấp, ngành, các địa phương, đơn vị phấn đấu cho việc hoàn thành thắng lợi kế hoạch cả năm ngay từ những ngày đầu xuân. Phát huy truyền thống đó, xuân Quý Tỵ này Bắc Ninh sẽ phát động Tết trồng cây ngay từ ngày làm việc đầu tiên (Mùng 9 Tết) với sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các ngành, các địa phương và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Đây là tiền đề, động lực quan trọng để tỉnh thực hiện thắng lợi mục tiêu trồng cây, trồng rừng cả năm 2013.

Tuy nhiên, do Tết Quý Tỵ năm nay được nghỉ dài ngày, lại trùng mùa lễ hội, các địa phương đang tập trung gieo cấy lúa xuân nên các ngành, các địa phương cần quán triệt nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của tỉnh, chủ động, tích cực xây dựng và triển khai kế hoạch Tết trồng cây thật cụ thể, sát sao và có sự chỉ đạo quyết liệt nhằm tổ chức Tết trồng cây thực sự thiết thực, sâu rộng, hiệu quả và chất lượng. Trước hết, các ngành, các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền ý nghĩa của Tết trồng cây, cũng như ý nghĩa, hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái của việc trồng cây, trồng rừng. Từ đó, tích cực vận động nhân dân tham gia trồng cây theo lời kêu gọi của Bác “người người trồng cây, nhà nhà trồng cây”.

Cần xây dựng những kế hoạch cụ thể, những công việc phù hợp, tận dụng triệt để quỹ đất để trồng cây xanh, bố trí những loài cây trồng bảo đảm hiệu quả lâu dài về kinh tế, bảo vệ môi trường và xây dựng cảnh quan… để mọi người dân, từ các cụ già đến các em học sinh, từ các cơ quan, đơn vị đến các tổ chức đoàn thể đều có thể tham gia trồng và chăm sóc cây hiệu quả. Khẩn trương thực hiện các bước chuẩn bị cho Tết trồng cây, từ việc khảo sát, thiết kế, chuẩn bị đầy đủ về vật tư phân bón, nhân lực… đến việc chuẩn bị tổ chức lễ phát động sao cho trang trọng, thiết thực, tiết kiệm và hiệu quả, tránh phô trương, hình thức hoặc qua loa, chiếu lệ, lãng phí. Đặc biệt cần có những cơ chế, chính sách và biện pháp mạnh để chăm sóc và bảo vệ cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, tránh mọi hiện tượng xâm lấn, phá hoại rừng và cây xanh trên địa bàn…

Trong bối cảnh hiện nay, việc thực hiện tốt Tết trồng cây và phong trào trồng cây gây rừng như lời Bác dạy, không chỉ có ý nghĩa tạo cảnh quan, mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu, tạo tiền đề cho tỉnh thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH một cách bền vững. Đó cũng chính là những hành động, việc làm thiết thực để mỗi chúng ta “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Lê Thanh
baobacninh.com.vn

Cảm tưởng về hình ảnh Bác Hồ về nước vào mùa xuân năm 1941

Vào năm 1941, sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước cho dân tộc, vượt qua biết bao khó khăn, trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua nổi, mong ước được trở về nước cùng đồng bào đấu tranh của Bác Hồ đã trở thành hiện thực. Và khi vừa đặt chân lên mảnh đất quê hương, Người đã lặng đi bên cột mốc 108 biên giới Việt – Trung, mặt hướng về Tổ quốc, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, rồi Người cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt rưng rưng.

Bác Hồ về nước xuân Tân Tỵ

Tổ quốc – tiếng gọi thiêng liêng, luôn trong trái tim mỗi người dân. Đối với một con người không có tình cảm nào cao hơn, lớn hơn, thiêng liêng hơn tình yêu Tổ quốc. Lòng yêu nước, yêu Tổ quốc là cốt lõi trong tính cách và bản chất của dân tộc ta, nó là cội nguồn tạo nên sức mạnh, là máu chảy trong huyết quản mỗi người Việt Nam. Lòng yêu nước, yêu Tổ quốc càng sáng ngời qua tấm gương cuộc đời của Bác – một con người với tầm tư tưởng lớn, quyết ra đi tìm đường cứu nước, cả cuộc đời Người dành cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bác đã từng nói “Tôi luôn luôn là một người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thật sự của Tổ quốc tôi ”“Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi ”. Giữa lúc kế sách cứu nước của những nhà cách mạng tiền bối còn mờ mịt chưa có đường ra thì Bác đã làm ra điều kỳ diệu. Chỉ với hai bàn tay lao động và ý chí cứu nước mãnh liệt, giấu trong lòng nỗi đau xót, sự quyến luyến, Bác quyết ra đi cho một ngày trở lại. Chính từ nỗi đau dân nước, tình thương nhân loại là động lực bên trong thôi thúc Bác tìm đến lý tưởng cách mạng nhân đạo và khoa học của Mác – Lênin. Có thể thấy trong hành trình đi tìm một con đường mới cho dân tộc, Người đã chèo lái con thuyền sức mạnh của mình bằng tình yêu đất nước tha thiết. Trong cuộc hành trình đó, Người đã phải trải qua biết bao nhiêucông việc cực nhọc như làm bồi bàn, lao công quét tuyết, phụ bếp cho khách sạn… vất vả là vậy nhưng Người chưa bao giờ thôi nghĩ đến vận mệnh của đất nước. Trong tâm trí Người luôn luôn cháy bỏng tình yêu Tổ quốc đến tha thiết, hình bóng quê hương chẳng lúc nào phai mờ. Càng xa quê hương Người càng thấm thía nỗi khổ đau mà đồng bào đang phải gánh chịu.Người ăn không ngon, ngủ không yên mỗi khi nghĩ về Tổ quốc đang chịu nhiều thương đau. Trái tim giàu lòng yêu nước của Người cùng đau với nỗi đau của dân tộc trong cảnh nước mất, nhà tan. Có thấu hiểu tình yêu lớn lao mà Bác dành cho đồng bào, cho Tổ quốc, có đặt mình vào trong hoàn cảnh của Bác lúc bấy giờ mới thật sự hiểu hết tâm trạng bồi hồi, niềm xúc động của Người sau 30 năm xa sứ sở, chịu biết bao gian truân, khổ ải mới được đặt chân về với đất mẹ. Niềm vui ấy không thể nói hết bằng lời. Khi đặt bước chân đầu tiên lên dải đất quê hương, lòng bồi hồi, xúc động Người lặng đi trong phút giây thiêng liêng được về với Tổ quốc, với đồng bào. Phút giây đó, sau này được Người kể lại rằng“Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động”. Có niềm xúc động nào hơn niềm xúc động của một người con xa quê, xa đất nước mình hàng chục năm trời lại được trở về trong không khí của ngày Tết cổ truyền của dân tộc, khi tất cả những kỷ niệm, những thương nhớ và những giá trị truyền thống của dân tộc dường như đang sống lại, đang ùa về trong lòng.

Không quan cách, xa hoa, rộn rã, ồn ào, Bác trở về trong hình ảnh rất đời thường, bình dị, vĩ đại mà gần gũi thân thương, toả sáng mà ấm áp hiền hoà. Lúc ấy Bác mặc trang phục của người Nùng (một dân tộc sinh sống ở Cao Bằng), quần áo chàm, đầu thì đội mũ may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn vừa che kín râu. Hành lý mà Bác mang theo chỉ vẻn vẹn có một chiếc vali bằng mây nhỏ cũ kỹ đựng quần áo và chiếc máy đánh chữ xách tay. Hình ảnh đơn sơ, giản dị ấy cùng với với tấm lòng, trái tim giàu lòng yêu nước của Bác đã làm cho ta, mỗi người con đất Việt càng thêm mến phục và kính yêu Bác nhiều hơn, cảm nhận được sự hy sinh cao cả của Bác, sự bình dị, gần gũi của Bác. Và cũng thật xúc động khi Bác cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn. Đó quả là hình ảnh cảm động, Bác đã trân trọng, đã yêu quý từng tất đất của Tổ quốc đến nhường nào. Bước chân đầu tiên về đất mẹ cũng là giây phút Người lắng nghe sự sống của sinh thể đất nước đang phôi thai trong lòng mình. Nhà thơ Chế Lan Viên đã diễn tả lại hình ảnh ấy bằng những câu thơ đầy xúc động “Kìa! bóng Bác đang hôn lên hòn đất/ Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai”. Bác về nước đúng vào mùa xuân, mùa tươi đẹp nhất của đất trời, mùa của trăm hoa đua nở, mùa của lộc biếc chồi xanh, vạn vật như khoác lên mình sắc áo mới hứa hẹn một tương lai tươi sáng ở phía trước.Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cả thiên nhiên đất trời như reo vui Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt/Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/Bác về… im lặng. Con chim hót/Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ (Thơ: Theo chân Bác của Tố Hữu). Sự kiện Bác Hồ về nước mùa Xuân năm 1941 là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân của Người, vì đó là mùa xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Tổ quốc, kết thúc chặng đường dài sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động ở nước ngoài, để rồi từ đó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và cùng Đảng ta đem lại những mùa xuân cho dân tộc, chấm dứt trăm năm nô lệ tăm tối.

Đã bảy mươi hai mùa xuân trôi qua nhưng hình ảnh khi lần đầu tiên Bác trở về với Tổ quốc sau 30 năm xa cách ấy vẫn mãi không phai nhòa trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Mỗi chúng ta đều không khỏi bồi hồi xúc động và thành kính tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu đã hy sinh trọn đời mình cho dân tộc, đã dành cả cuộc đời chăm lo cho hạnh phúc nhân dân mà không gợn chút riêng tư để đất nước hôm nay trọn niềm vui độc lập tự do và đổi mới phát triển. Công lao to lớn đó của Bác không có gì có thể so sánh được. Càng nhớ Bác Hồ, mỗi người chúng ta hôm nay càng phải thực hiện tốt hơn Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, tạo thành nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ toàn dân cùng thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, xứng đáng với lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu “Xây dựng một mước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”./.

Thu Hiền
sgtvt.gialai.gov.vn

Bác Hồ với tết cổ truyền của dân tộc

         Đầu năm 1946, trong thư gửi Tuổi trẻ Việt Nam Bác viết “Một năm mới khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Mùa xuân là mùa khởi đầu của một năm và người Việt Nam có quan niệm trong những ngày đầu năm mới, mùa mà vạn vật khoe sắc hương, thiên nhiên tươi đẹp, những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với mọi người. Từ ngày đất nước được độc lập, vào những ngày tết cổ truyền của dân tộc Bác luôn dành trọn những ngày nghỉ của mình đến thăm từng nhà, coi nhân dân ta chuẩn bị tết cổ truyền như thế nào, qua đó sẽ biết nhân dân ta có được hưởng cuộc sống ấm no, vui tươi chưa? Dù bận trăm công nghìn việc nhưng không bao giờ Bác quên đi thăm đồng bào, chiến sĩ.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

          Xuân Bính Tuất năm 1946, trong cuộc vi hành đêm 30 tết của mùa xuân độc lập đầu tiên, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình của một người đạp xích lô “Tết mà không có tết”, ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn còn chủ nhà đang nằm đắp chiếu mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ đi ra và dặn đồng chí thư ký hôm sau mang thuốc, quà của Người đến thăm hỏi và nhắc đồng chí thư kí ghi lại để báo cho đồng chí Chủ tịch ủy ban hành chính Hà Nội biết.

          Kể từ mùa xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm chủ tịch nước, mỗi khi tết đến xuân về Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc. Thường thì trước tết ba tháng Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc: Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới; nhắc Văn phòng chuẩn bị thiệp “Chúc mừng năm mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở những vùng rừng núi, hải đảo và cán bộ công tác ở nước ngoài; và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác do Văn phòng chuẩn bị cũng có khi là một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

          Tết năm 1962 nếu chỉ đi thăm các gia đình theo chương trình của Văn phòng bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Nguyễn Thị Tín – một người gánh nước thuê ở ngõ 16 Lý Thái Tổ, Hà Nội vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai, mùng một tết có cơm cho bốn đứa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động làm rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay Bác:

          – Cháu không ngờ Bác lại đến thăm…

          Chỉ nói được như vậy chị đã òa lên khóc nức nở.

          Vị chủ tịch nước đã an ủi chị:

          – Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

          Và Bác đã vào thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một nén hương. Bốn đứa nhỏ, đứa lớn nhất đang ngồi trên chiếc giường chia nhau một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi tết mà không có tết”. Cách đây hơn 15 năm, tết độc lập đầu tiên Bác đã chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ, đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ kháng chiến đã thắng lợi, hòa bình đã gần chục năm mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ngay thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng no ấm, vui tươi…

          Bác đã từng tâm sự với đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”.

          Ngày nay, nền kinh tế của nước ta đã phát triển hơn, đời sống của đại bộ phận nhân dân đã phần nào được nâng cao nhưng không có nghĩa là đã hết những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và rất cần sự chung tay giúp đỡ, chia sẻ của cả cộng đồng. Phát huy truyền thống “Tương thân tương ái”, “lá lành dùm lá rách” của dân tộc và cụ thể hơn là học tấm gương sáng ngời của Bác về lòng nhân ái, tình thương yêu con người, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc chăm lo đời sống của nhân dân. Trong những ngày lễ, tết Đảng, Nhà nước đã chỉ đạo các ban ngành hỗ trợ các gia đình chính sách, hộ nghèo đảm bảo kịp thời để tất cả mọi người đều được vui tết, đón xuân đầm ấm.

          Là một tỉnh vùng cao như Đăk Lăk với hơn bốn mươi dân tộc anh em cùng sinh sống. Mỗi dân tộc có một nét văn hóa riêng, phong tục tập quán riêng nhưng sự đoàn kết, thương yêu, chia sẻ luôn là mục tiêu chung của các dân tộc. Học tập tấm gương của Bác, hàng năm chuẩn bị cho tết cổ truyền của dân tộc các sở ban ngành cũng luôn quan tâm, tạo điều kiện để mọi người cùng được vui xuân, đón tết. Điển hình như Sở Y tế Đăk Lăk trong những ngày rộn rã đón sắc xuân, ban lãnh đạo, Công đoàn ngành cũng như các đơn vị trực thuộc không bao giờ quên việc đến thăm hỏi, chúc tết và tặng quà cho các gia đình chính sách, chiến sĩ đồn biên phòng, buôn làng kết nghĩa và các bệnh nhân phải nằm lại bệnh viện trong những ngày tết… Tết cổ truyền năm Qúy Tỵ 2013, riêng Văn phòng Sở Y tế và Công đoàn ngành Y tế tổ chức thăm hỏi, chúc tết tại buôn kết nghĩa, đồn biên phòng với gần 300 suất quà trị giá gần 70 triệu đồng. Giá trị của những món quà tuy nhỏ nhưng đã thể hiện tấm lòng chân thành của cán bộ, công nhân viên chức ngành y tế, góp phần động viên, an ủi, chia sẻ niềm vui với bà con, chiến sĩ cũng như người bệnh. Đây là một trong những hoạt động thiết thực nhằm thắt chặt hơn tình cảm của các dân tộc anh em, góp phần xây dựng Đăk Lăk ngày càng phát triển giàu mạnh./.

Bài & ảnh: Hồng Vân
(Trung tâm Truyền thông GDSK)
soytedaklak.gov.vn

Cây đào mùa Xuân

Ảnh minh họa: Internet

Chuyện được ghi lại rằng: Buổi sáng trời đẹp cuối tháng Chạp năm Bính Thân – 1956, một đoàn đại biểu chính quyền và nhân dân xã Nhật Tân (Hà Nội), trong đó có nhiều cụ phụ lão tuổi 70, 80 dẫn đầu đã đem một cây đào được đánh cả gốc đưa lên ô tô, chở lên Phủ Chủ tịch. Cây đào này đã được một cụ ở xã Nhật Tân chăm sóc trong thời gian hai năm, được các cụ bình chọn là ưng ý nhất. Cây đào có chốt thẳng, tán tròn hình mâm xôi, sai nụ, hoa to rất đẹp mắt, tràn đầy không khí mùa xuân sắp đến.

Đến nơi, đoàn đại biểu nhân dân xã Nhật Tân được mời vào phòng khách Phủ Chủ tịch. Được tin, Bác Hồ đã đến ngay phòng khách, tươi cười nói chuyện với Đoàn và các cụ phụ lão. Bác hỏi chuyện ăn Tết của người dân ở địa phương. Mọi người hồ hởi

– Dạ, kính thưa Bác, năm ngoái nhân dân trong xã ăn Tết vui lắm vì Thủ đô mới được giải phóng. Trong xã tính ra đã thịt 12 con bò và lợn, gói nhiều bánh chưng để ăn Tết.

Nghe vậy Bác Hồ liền nói:

– Thịt nhiều trâu bò, thế lấy gì mà cày bừa làm ruộng.

Ngừng một lát, Bác Hồ nói tiếp:

– Ăn Tết là rất phấn khởi vui mừng nhưng mọi nhà cần chú ý tiết kiệm, vì đất nước ta còn nghèo vì vừa phải trải qua nhiều năm chiến tranh và từ nay đất nước sẽ còn phải tiết kiệm để làm được nhiều việc lớn. Chính quyền cần thường xuyên vận động nhân dân hăng hái thi đua tăng gia sản xuất để nhân dân ngày càng no ấm hơn.

Đoàn đại biểu xã Nhật Tân ngỏ ý, từ nay mỗi độ Xuân về sẽ mang cây đào kính tặng Bác để Bác vui Xuân, đón Tết, góp phần to đẹp thêm cảnh sắc Phủ Chủ tịch.

Ngắm nhìn khá lâu cây đào rất đẹp, được chăm sóc 2-3 năm, Bác nói:

– Bác xin cảm ơn các cụ và các đồng chí đã đem tặng Bác cây đào đẹp thế này. Nhưng sang năm, các cụ và các cháu thôi không phải đem cây đào lên tặng Bác nữa. Các đồng chí trong cơ quan và Bác sẽ trồng cây đào này và nhân nó ra để năm nào cũng có hoa đào Nhật Tân đón Xuân vui Tết. Cây đào này sẽ làm cho Bác vui hơn và khoẻ hơn năm cũ.

Trên đường trở về nhà, đoàn đại biểu nhân dân xã Nhật Tân rất vui và cũng thấm sâu những lời căn dặn ân tình của Bác Hồ – một vị Chủ tịch nước nhất nhất nói gì, làm gì cũng ân cần nhắc nhở mọi người luôn luôn cần cù, tiết kiệm để xây dựng xóm thôn, xây dựng đất nước

Theo Phuly.edu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Xuân Tân Tỵ 72 năm trước Bác Hồ về nước

Được Quốc tế Cộng sản đồng ý, mùa Thu năm Mậu Dần (1938), Nguyễn Ái Quốc từ Viện Nghiên cứu các vấn đề Dân tộc và thuộc địa (Liên Xô) lên đường trở về Tổ quốc.

Nhưng đến năm Kỷ Mão (1939) chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nên cuối năm ấy Người mới đến Côn Minh. Tháng 6/1940 Bác tới Quế Lâm, rồi về Tĩnh Tây và chọn Cao Bằng, nơi có phong trào cách mạng phát triển, liên lạc quốc tế thuận lợi để làm căn cứ địa cách mạng.

Bác Hồ về nước xuân Tân Tỵ

Trong thời gian lưu lại ở bản Nậm Quang (giáp huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), Người mở lớp huấn luyện cho 43 cán bộ, có các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Phùng Chí Kiên phụ giảng.

Đầu Xuân, mùng Một Tết Tân Tỵ (27/1/1941), Người và anh em cán bộ đi chúc Tết bà con hai thôn Nậm Quang và Nậm Tẩy. Người tặng mỗi nhà một tờ giấy hồng điều, có ghi bốn chữ Hán “Cung chúc tân Xuân”, tặng mỗi cháu nhỏ phong bao tiền mừng tuổi. Ai nấy phấn khởi, nhà nhà hân hoan.

Sáng mùng Hai Tết (28/1/1941) trời rét căm căm, sương mù dày đặc, Người và các đồng chí cùng đi tạm biệt Nậm Quang lên đường về nước sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước. Người xiết bao xúc động bởi hơn 10 nghìn ngày thương nhớ, đợi chờ nay đã thành sự thật.

Sau khi vượt cột mốc 108, đồng chí Lê Quảng Ba đưa Bác và anh em vào nhà ông Máy Lì, dân tộc Nùng, một cơ sở tin cậy của cán bộ ta ở làng Pác Bó. Được nghe cán bộ giới thiệu ông Ké (ông già) cũng là cán bộ ở dưới xuôi lên, ông Máy Lì mừng vui lắm, gọi con gái mang ra thau nước nóng mời ông Ké rửa mặt. Nghỉ ngơi một lát, chủ nhà bưng ra mâm cỗ mời ông Ké và Đoàn cán bộ vui Xuân “con Rắn”. Từ đáy lòng mình, ông Máy Lì chậm rãi nói: “Biết thế nào ông Ké và các cháu cũng đến nên già cố chờ, để hái lộc năm Tỵ này to hơn”. Bên mâm cỗ tết, mọi người trò chuyện râm ran. Riêng Bác vẫn lặng yên, vẻ mặt ưu tư vì sau 30 cái Tết vắng nhà nhưng không bao giờ có Tết, hôm nay lần đầu tiên trở về đất mẹ, sống lại ngày Tết cổ truyền.

Nghe ông Máy Lì mời rất thịnh tình, Bác nhìn mọi người và cầm đũa chỉ vào từng món ăn trên mâm, hỏi tên các món ăn bằng tiếng dân tộc. Thấy Bác nói và nghe tiếng dân tộc rất chuẩn làm cho ông chủ nhà xúc động, mến phục. Bữa cơm ngày Tết kết thúc lúc xế chiều. Trời tối dần, mọi người đi ngủ, bên ngoài sương xuống nhiều, Bác và ông Máy Lì vẫn rì rầm nói chuyện. Đêm ấy, Bác cứ thổn thức, gần sáng mới ngủ thiếp đi.

Sáng mùng 03 Tết, vừa ngủ dậy, Bác nói với đồng chí Lê Quảng Ba: “Đồng bào ở đây nghèo, nhà chật chội, ta đông người, ở đây mãi không tiện, ra rừng thôi”. Theo hướng dẫn của ông Máy Lì, Bác và anh em chuyển lên ở trong một hang đá bí mật, đó là hang Cốc Pó, phía sau hang núi đá là đất Trung Quốc, khi lâm sự có thể rút sang bên đó an toàn. Trong hang tuy âm u, tối tăm, ẩm thấp song địa hình xung quanh hùng vĩ nên thơ, có con suối trong xanh, có quả núi cao. Sau này Bác gọi là suối Lê-nin và núi Các Mác. Đồ tư trang của Bác lúc ấy chỉ có vài bộ quần áo, một va-li tài liệu, một máy chữ. Chỗ nằm của Bác là các cành cây ghép lại, trên trải liếp tre đan, vô cùng thiếu thốn gian khổ.

Hàng ngày, Bác ngồi làm việc trên tảng đá bên suối, dưới vòm cây xanh, có nhiều hoa rừng, bướm bay, chim hót. Từ địa điểm lịch sử này, Bác đã làm hai bài thơ bất hủ: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang/ Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng/ Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng/ Cuộc đời cách mạng thật là sang” và: “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lê-nin, kia núi Mác/ Hai tay gây dựng một sơn hà”.

Về Pác Bó ít ngày, Bác đã phát động tổ chức các hội quần chúng, thành lập các Đội Tự vệ, hình thành Mặt trận Thống nhất. Tháng 4/1941, Bác chủ trì hội nghị tiến tới thành lập Việt Nam độc lập Đồng Minh. Đến ngày 10/5/1941 với danh nghĩa là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Bác triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương bên con suối Khuổi Nặm, gần làng Pác Bó. Sau Hội nghị lịch sử này, Bác viết thư “Kính báo đồng bào” gửi đồng bào cả nước, kêu gọi toàn dân đoàn kết đánh đuổi giặc Pháp, phát xít Nhật.

Trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Bác và Đảng đã đưa phong trào cách mạng nước ta có những chuyển biến vô cùng to lớn. Chỉ sau 4 năm từ khi Bác về nước (28/1/1941 đến 19/8/1945), chính quyền cách mạng đã được thành lập trong phạm vi cả nước bằng một cuộc tổng khởi nghĩa giành thắng lợi từ Bắc vào Nam. Nước Việt Nam đã là một nước độc lập – đúng như dự đoán thiên tài của Bác Hồ năm 1942, một năm sau khi Người về nước ở Cao Bằng.

Qua 72 mùa Xuân từ Tân Tỵ đến Quý Tỵ dù phải trải qua 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ta từng vượt qua bao hi sinh gian khổ, song cách mạng Việt Nam đã toàn thắng, hoàn thành mục tiêu “Độc lập dân tộc”, đang tiến hành công cuộc đổi mới, tiếp tục công cuộc xây dựng vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Ngày Bác Hồ về nước năm ấy đã trở thành dấu ấn kì diệu của lịch sử cách mạng Việt Nam, tạo nên bước ngoặt mới cho cách mạng nước ta.

Theo Quốc Sĩ/ Báo Người cao tuổi
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những bài thơ Xuân của Bác Hồ

Thơ Xuân là một phần “đặc biệt” trong thơ của Bác Hồ. Hơn thế, đó không chỉ vì Thơ, vì Tết, vì Xuân, mà là truyền thống của dân tộc, là tình cảm, là tấm lòng, là món quà đầu năm mới Bác Hồ gửi tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước, là những định hướng chiến lược, những lời đúc kết, đánh giá những thắng lợi trong năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ của năm tới, là những lời động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để xây dựng quê hương, đất nước…

12.

Tháng 12-1967, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III họp dưới sự chủ tọa của Bác, trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và thế giới, đã quyết định mở đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968). Tinh thần và quyết tâm của Bộ Chính trị chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền tới đồng bào và chiến sĩ cả nước qua thư Chúc mừng năm mới, ngày 1 tháng 1 năm 1968. Cuối thư, Người chúc đồng bào và chiến sĩ cả nước bằng những vần thơ Xuân quen thuộc:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

Bác đã theo dõi sát và động viên kịp thời từng chiến công của quân và dân ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy giữa mùa Xuân ấy. Đặc biệt ở Huế, ngay từ đêm 31-1-1968, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, đồng loạt tiến công vào 40 mục tiêu địch trong nội và ngoại thành phố Huế, thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi… Ngay trong những ngày sôi động ấy, Người đã gửi thư khen thành tích chiến đấu của quân và dân Huế đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi. Khi được tin tiểu đội nữ du kích thôn Vân Thê, xã Thanh Thuỷ, huyện Hương Thuỷ – trong Tổng tiến công Xuân Mậu Thân được giao nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy cánh Nam, tham gia chuyển thương binh và tiếp đạn – khi địch chuyển sang phản kích giải vây Huế, đã xin được trang bị vũ khí, tiếp tục chiến đấu và đã chiến đấu vô cùng anh dũng, đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, Bác Hồ đã gửi thư khen và tặng 11cô gái sông Hương bài thơ:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường. 
Bác khen các cháu dân quân gái, 
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”.

Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là những bông hoa thơm dâng Bác, làm xúc động lòng Người. Và, giữa mùa Xuân chiến thắng ấy, Người đã mượn cái cớ lâu rồi không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” với vần “thắng” bất ngờ và thú vị, gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

“Đã lâu chưa làm bài thơ nào, 
Đến nay thử làm xem ra sao. 
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy, 
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.

Bài thơ đã nhanh chóng lan xa và làm xúc động lòng người. Nhà thơ Chế Lan Viên đã kể về niềm sung sướng, hạnh phúc khi được nghe bài thơ Xuân “độc đáo” này: “Tôi nhớ lại một cuộc họp ở Pari năm 1968, khi bộ trưởng Hoàng Minh Giám trong diễn văn của mình đã đọc một bài thơ tứ tuyệt của Bác thì cả hội trường trí thức Pháp đã vỗ tay và đứng dậy. Hàng trăm Việt kiều và chúng tôi lúc ấy đã giàn giụa nước mắt. Tự hào và sung sướng cho dân tộc ta biết nhường nào…”.

Tin thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường miền Nam càng khẳng định sức mạnh lớn của quân dân ta trong những thử thách vô cùng quyết liệt của cuộc chiến đấu có một không hai này. Còn có công việc nào trọng đại hơn công việc đánh giặc giữ nước và niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa Xuân này, Bác viết bài thơ bằng chữ Hán “Mậu Thân Xuân tiết” (Tết Mậu Thân):

“Tháng tư hoa nở một vườn đây, 
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời. 
Trên trời mây đến rồi đi, 
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

Xuân này, đọc lại những vần thơ Xuân của Bác Hồ từ 41 Xuân trước càng thấy rõ hơn những lời tâm tình trong thơ Bác vừa tràn ngập sắc Xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: Ý chí cách mạng tiến công. Tinh thần ấy, ý chí ấy đã giúp Bác vượt lên những hạn chế của tuổi tác, giữ được sự hài hoà giữa vật chất và tinh thần, chan hoà và gắn bó làm một với phong trào cách mạng, với cuộc sống mới đang dựng xây và phát triển của non sông đất nước.

Theo TS. Chu Đức Tính (Bảo tàng Hồ Chí Minh)
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tết Mậu Thân 1968: Nỗi bàng hoàng nước Mỹ

Trong ký ức của nhiều người Mỹ, Tết Mậu Thân là một sự ám ảnh, là sự mở đầu cho việc đẩy nhanh tới thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tại Việt Nam.

Tết Mậu Thân 1968: Nỗi bàng hoàng nước MỹQuân giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968. Ảnh khai thác

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược Việt Nam của Mỹ. Sự kiện này đã góp phần thực hiện được phương hướng chiến lược “vì độc lập, vì tự do đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” sớm hơn so với dự định ban đầu.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, quán phở Bình đến nay vẫn giữ tên gọi cũ như cách đây 45 năm. Ông chủ quán đã mất cách đây vài năm, nhưng người con gái và con rể thì biết rất rõ những gì đã diễn ra ở đây trong Tết Mậu Thân.

Sau 9 giờ ngày 29 Tết Mậu Thân, phở Bình đóng cửa. Những vị chỉ huy các đơn vị đánh chiếm dinh Độc Lập, toà đại sứ Mỹ, Đài phát thanh, Bộ tư lệnh Hải quân đã họp bí mật ở quán phở Bình để nghe phổ biến mệnh lệnh chiến đấu của Trung ương Cục và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ông Nguyễn Kim Bạch, con rể chủ quán phở Bình kể: “Trước đó chừng ba ngày, nhận được lệnh chuẩn bị đồ ăn cho khoảng 100 người trong 2 tuần. Bí mật nên chỉ biết vậy, không biết nhà mình là Sở chỉ huy, đúng lúc giao thừa thì mới biết”.

Quán phở Bình từng là Sở chỉ huy tiền phương của phân khu 6 trong chiến dịch Mậu Thân, nơi đây đã được gắn biển Di tích lịch sử cấp quốc gia. Chính nhờ những cơ sở như thế mà hàng trăm chiến sĩ biệt động thành, lực lượng đặc công cùng nhiều đạn dược, vũ khí đã được vận chuyển an toàn vào nội thành trước giờ khai hỏa chiến dịch. Cũng có thể khẳng định rằng, những trận địa lòng dân ngay giữa lòng địch là minh chứng cụ thể của tư tưởng lấy dân làm gốc trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Tham gia vào Dinh Độc Lập, một trong những nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhất, đơn vị của bà Chính Nghĩa khi đó chỉ có 15 người. Tuy không thực hiện được như kế hoạch, cả đội chỉ còn lại 7 người và sau đó đều bị giặc bắt, nhưng đơn vị của bà Nghĩa và rộng hơn nữa là lực lượng biệt động Sài Gòn – Gia Định ở Huế và trên tòa miền Nam đã làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, là một “phép thử” buộc Mỹ phải thay đổi quan điểm về cuộc chiến ở Việt Nam.

Bà Vũ Minh Nghĩa (Chính Nghĩa), Biệt động Sài Gòn – Gia Định tham gia chiến dịch Mậu Thân nhớ lại: “Theo kế hoạch chúng tôi dùng một xe chở khối chất nổ, khi tới cổng chúng tôi sẽ xuống hết để xe tự nổ máy và cài số để tông vào cánh cửa sau Dinh Độc Lập. Nhưng khối chất nổ đó để lâu ngày bị ẩm nên không nổ, chúng tôi đành phải nhảy xuống, chiến đấu với phòng vệ ở cổng Dinh. Dù có thiệt hại, dù mấy anh đã hy sinh nhưng đó là một tiếng vang cho Mỹ thấy rằng, không phải ở thành phố này mà không có lực lượng của mình đánh những trận táo bạo như vậy”.

Ông Nguyễn Văn Tàu, khi đó là cụm trưởng cụm tình báo H.63 cho biết, sau Mậu Thân đã có một báo cáo bi quan về chiến dịch này vì ta tổn thất quá lớn, nhưng khi tiếp xúc với sĩ quan phía bên kia thì chính họ đã thừa nhận, trận đánh cảm tử của Việt cộng làm xáo trộn nước Mỹ và người Mỹ không còn tin vào Tổng thống của họ.

Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), Cụm trưởng cụm tình báo H.63, Phó Chính uỷ phòng Tình báo, Bộ Tham mưu Miền nói: “Báo cáo ban đầu của tôi bi quan nhưng được biết, đòn này sẽ thấm dần dần khi Mỹ ngã quỵ. Jonhson có diễn văn không ra ứng cử và hạn chế ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và cử người qua bên Lào để bắt liên lạc với Việt Nam Dân chủ cộng hoà”.

Tuy không diễn ra Tổng khởi nghĩa như kế hoạch và sau Tết Mậu Thân, cuộc chiến vẫn rất quyết liệt làm hàng chục ngàn chiến sĩ ngã xuống, nhiều cơ sở bí mật bị bóc gỡ. Và phải mất tới 5 năm sau đó Mỹ mới rút hết quân ra khỏi miền Nam, rồi 7 năm sau chính quyền Sài gòn mới sụp đổ. Nhưng về mặt chiến lược, Mỹ đã thua từ mùa xuân 1968. Và Tết Mậu Thân là một bước ngoặt lịch sử rất quan trọng trong chặng đường 21 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, xoay chuyển cục diện trên chiến trường mà ta chưa bao giờ tạo được.

Sau Mậu Thân, Mỹ đã phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc, giảm dần quân Mỹ trên chiến trường và ngồi vào bàn đàm phán ở Hội nghị Paris về việc lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngọc Hà – Nguyễn Hoàng –
vtv.vn

Mậu Thân 1968 – 45 năm nhìn lại – Bài cuối: Mỹ phải rút khỏi Việt Nam!

Dù còn có nhiều điều tranh luận, song không thể phủ nhận một sự thật lịch sử hiển nhiên:

Nếu không có Mậu Thân 1968 thì sẽ không có đàm phán Paris 1973 và đi đến kết thúc thắng lợi vào trưa ngày 30-4-1975 lịch sử.

Nhiều học giả, nhà sử học trong và ngoài nước cho rằng tác động lớn nhất của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được cảm nhận rất rõ ở ngay chính nước Mỹ. Với sự tham gia của truyền thông quốc tế, đặc biệt là báo chí Mỹ, đã khiến công chúng Mỹ sống trong bầu không khí của chiến tranh từng ngày một.

Tác động dữ dội tới nước Mỹ

Trò chuyện với người viết, cựu phóng viên tờ Washington Post Don Luce nhớ lại: “Cuộc tấn công Mậu Thân cho người dân Mỹ thấy một sự thật rằng cuộc chiến này thực sự không hề có chiều hướng dịu đi, không hề có chút ánh sáng nào ở cuối đường hầm và người ta bắt đầu chú ý nhiều đến nó. Thêm vào đó, những người Mỹ tình nguyện (đi lính) bắt đầu phản đối chiến tranh. Kể cả với những người đang ở Việt Nam. Họ viết thư về nhà, họ thật sự công khai phản đối chiến tranh. Và thế là đã có sự dịch chuyển, thay đổi thái độ sang việc phản đối chiến tranh. Nó cứ lớn dần, lớn dần lên…”.

Thời điểm sau tết Mậu Thân 1968, Dick Hughes, diễn viên Mỹ, là một trong số 16 triệu thanh niên Mỹ đã đốt thẻ và chống lệnh đi quân dịch. Ông phải đối mặt với án tù năm năm cho quyết định này. Vài tháng sau đó, Dick Hughes quyết định một mình đến Sài Gòn và tự tìm hiểu xem chuyện gì đang diễn ra ở đây. “Cuộc chiến tranh này đã luôn ám ảnh trong tâm trí tôi. Trên tivi, chúng tôi luôn nhìn thấy những trận đánh, những xác người chết và những gì đang diễn ra thật khủng khiếp tại Việt Nam. Tôi quyết định mình phải làm một điều gì đó cho Việt Nam. Thế là tôi tự đến Việt Nam và làm công tác xã hội” – Dick Hughes kể.

Cuộc đời của Dick Hughes và rất nhiều người Mỹ khác đã thay đổi từ sau sự kiện Mậu Thân 1968. Trong “cơn ác mộng” hậu Mậu Thân, tình hình nước Mỹ trở nên hỗn loạn chưa từng có trong lịch sử. Đỉnh điểm là cuộc biểu tình của sinh viên Trường ĐH Kent State diễn ra vào ngày 4-5-1970 tại bang Ohio. Trong sự căng thẳng tột độ, lực lượng vệ binh quốc gia đã xả súng vào hàng ngàn sinh viên trong khuôn viên trường đại học, khiến bốn sinh viên thiệt mạng và chín người khác bị thương. Ngọn lửa phản chiến bùng lên dữ dội hơn bao giờ hết, trở thành một cuộc chiến thật sự, một cuộc đối đầu giữa chính quyền và nhân dân Mỹ ở ngay trong lòng nước Mỹ, đẩy quốc gia này vào một sự chia rẽ sâu sắc chưa từng có.


Nếu không có Mậu Thân 1968 thì sẽ không có đàm phán Paris 1973 và đi đến kết thúc chiến tranh năm 1975, lập lại hòa bình, thống nhất đất nước. Ảnh tư liệu

Máu của người Mỹ đã đổ, không chỉ trên chiến trường Việt Nam mà còn ở ngay tại quê nhà trong phong trào phản chiến lịch sử, sau sự kiện Mậu Thân 1968.

Trước áp lực của dư luận trong nước và thế giới, Tổng thống Lyndon Johnson buộc phải xuống thang chiến tranh, “phi Mỹ hóa” cuộc chiến này và tìm kiếm con đường đàm phán, thương lượng hòa bình để rút quân về nước. Khi Tổng thống Nixon vào Nhà Trắng, tiếp nối di sản chiến tranh mà Lyndon Johnson để lại, ông phải đứng trước hai lựa chọn: Một, tiếp tục tăng quân và ném bom hủy diệt miền Bắc Việt Nam; hai, ngừng ném bom miền Bắc và rút quân về nước, thương lượng với Hà Nội để kết thúc cuộc chiến. Nhưng dường như Tổng thống Nixon không có quyền lựa chọn trước con đường đã được vạch sẵn, nếu không muốn đẩy nước Mỹ đến hố sâu của sự chia rẽ nội bộ trầm trọng hơn.

“Hãy ra khỏi Việt Nam đi!”

Dù còn nhiều ý kiến, đánh giá khác nhau về đợt 2 và đợt 3 của sự kiện Mậu Thân 1968 nhưng một sự thật phải được nhìn nhận: Mậu Thân 1968 là thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Một sự kiện được xem là bước tập dợt trên quy mô lớn của quân và dân ta để chuẩn bị cho những trận đánh lớn sau này, đặc biệt là trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Giáo sư sử học người Mỹ Larry Berman cho rằng: “Chính sách tăng quân chiến đấu của Mỹ vào Việt Nam đã kết thúc cùng với cuộc tấn công Mậu Thân. Giờ đây, thách thức đặt ra với người Mỹ là làm thế nào để rút khỏi cuộc chiến này trong danh dự. Mậu Thân là một bước chuyển mang tính quyết định, dẫn đến việc chấm dứt leo thang chiến tranh Việt Nam. Bom vẫn tiếp tục rơi nhưng lính Mỹ thì dần được về nhà”.


Người dân Mỹ biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam sau Mậu Thân 1968 tại TP San Francisco (bang California, Mỹ). Ảnh tư liệu

Còn với nhà báo, sử gia Stanley Karnow thì: “Theo quan niệm căn bản của tôi về cuộc chiến tranh này, đúng là không thể nào có một chiến thắng dành cho chúng tôi, vì một lý do cực kỳ đơn giản. Kẻ thù của chúng tôi đã có một khoảng thời gian dài để bắt đầu tập làm quen với những mất mát tột cùng, không giới hạn. Chính sách của Mỹ khi bắt đầu đặt chân vào Việt Nam là giết thật nhiều người lính đối phương để làm tiêu tan hết lực lượng của họ. Và lính Mỹ đã làm y như vậy, giết chết hàng triệu người, không thể nhớ rõ được. Nhưng họ chẳng bao giờ tìm thấy được điểm dừng của sự giết chóc này. Cuối cùng, họ vẫn cứ tiếp tục đánh nhau và nhận lấy thất bại. Và rồi, Đảng Cộng hòa bắt đầu lên tiếng, rằng nếu chúng ta không thể thắng cuộc chiến này thì hãy ra khỏi nơi đó đi”.

* * *

Cùng với độ lùi của thời gian và lịch sử, tầm vóc to lớn về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, công bằng hơn. Và dù còn có nhiều điều tranh luận, song không thể phủ nhận một sự thật lịch sử hiển nhiên của dân tộc: Nếu không có Mậu Thân 1968 thì sẽ không có đàm phán Paris 1973 và đi đến kết thúc thắng lợi vào trưa ngày 30-4-1975 lịch sử.

“Ngày đồng đội”

Mất một bàn tay trong cuộc đọ sức dữ dội với kẻ thù ở Mậu Thân đợt 2, bà Nguyễn Thị Huyền Nga (Lê Thị Hồng Quân) – Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng – vẫn cho mình là người may mắn. Ký ức Mậu Thân với bà thật dữ dội và bi tráng, khi bà tận mắt chứng kiến sự hy sinh can trường của đồng đội, từ anh Hà Văn Tiết đến chị Sáu Xuân. “Đặc biệt là em Quang – người đồng đội vô danh, nhỏ tuổi nhất đơn vị mà can đảm lạ thường trước đòn roi tra tấn của kẻ thù. Và em đã hy sinh trong tiếng hát trong trẻo, khẳng khái và hào hùng…” – bà Nga nói.

Trong dòng hồi tưởng rưng rưng, người tiểu đoàn phó nghẹn ngào đọc những vần thơ gan ruột tặng những người đồng đội, đồng chí của mình:“Trong khói hương lòng thêm đớn đau/ Sáng từng khuôn mặt sát vai nhau/ Trên đường phố Sài Gòn xưa ấy/ Tiếp bước chân lên những chiến hào/ Bốn mươi năm rồi có phải xa/ Trong tôi vang dội mới hôm qua/ Những nòng thép đỏ trên đường tiến/ Trao lại lời vĩnh biệt thiết tha/ Gọi 5 tháng 5 ngày đồng đội/ Rõ từng khuôn mặt sát vai nhau/ Xin chớ hỏi ai còn ai mất/ Tất cả còn đây đau xót tự hào…”.

Đau thương và mất mát

Để làm nên chiến thắng vô giá của sự kiện Mậu Thân 1968, quân dân ta đã phải gánh chịu những hy sinh, mất mát to lớn. Theo thống kê của Cục Tác chiến, mặt trận đường 9 có gần 4.000 liệt sĩ, mặt trận Trị Thiên có gần 5.000 liệt sĩ. Con số tương ứng ở đồng bằng Khu 5 là gần 11.000 liệt sĩ, Tây Nguyên gần 3.500 liệt sĩ, Khu 6 gần 1.300 liệt sĩ, Khu 10 gần 500 liệt sĩ, Đông Nam Bộ gần 14.200 liệt sĩ, Khu 8 khoảng 2.500 liệt sĩ, Khu 9 hơn 3.500 liệt sĩ.

Tổ quốc và dân tộc Việt Nam đời đời ghi nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ, trong đó có gần 45.000 người đã ngã xuống trong Mậu Thân 1968 để Tổ quốc mãi trường sinh.

Đạo diễn LÊ PHONG LAN
phapluattp.vn

Mậu Thân 1968 – 45 năm nhìn lại – Bài 5: Tấn công, tấn công liên tục

Sau đợt 1, dù lực lượng chiến đấu và cơ sở trong nội đô bị nhiều tổn thất nhưng vì mục tiêu chính trị cần đạt được.

Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã đề nghị Trung ương mở đợt 2 Tổng tấn công và nổi dậy trong mùa hè năm 1968, nối tiếp đà thắng lợi từ đợt 1.

Năm nay đã 84 tuổi nhưng Đại tá Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) vẫn nhớ như in những cung bậc cảm xúc mà ông đã trải qua trong mùa xuân lịch sử 1968. Khi đó, ở cương vị cụm trưởng cụm tình báo chiến lược H63, ông có nhiệm vụ phải theo dõi sát sao tình hình chiến trận tại Sài Gòn.

“Việt cộng đánh cú này đau quá!”

Ông kể trong thời gian đầu của cuộc Tổng tấn công, các báo cáo ông gửi về căn cứ đều thấm đượm một màu bi quan trước những tổn thất của quân dân ta. Ông như đứt từng khúc ruột khi chứng kiến hình ảnh người nữ bí thư chi bộ Bình Mỹ vừa chôn cất đồng đội vừa nức nở khóc. Nhưng liền sau đó, ông đã có những thay đổi quan trọng trong nhận định, đánh giá về kết quả của trận đánh.

Những ngày cùng điệp viên huyền thoại Phạm Xuân Ẩn đi thăm dò dư luận, thái độ của đối phương ở cơ quan tình báo chiến lược Mỹ, Bộ Tổng tham mưu Việt Nam Cộng hòa (VNCH)…, ông nhận thấy đối phương có một sự hoang mang, chán chường tột độ. Họ bàn luận với nhau: “Việt cộng đánh cú này đau quá, rất là thối động. Mà cái đòn này nó sẽ thấm dần cho tới khi mình bị ngã quỵ”. Kết quả của những thăm dò này đều được ông Tư Cang viết báo cáo, gửi về căn cứ.

Cuối tháng 3-1968, trên cơ sở báo cáo từ các chiến trường và tin tức tình báo, sau khi sơ bộ tổng kết, đánh giá tình hình đợt 1, Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã đề nghị với trung ương cho mở đợt 2 tổng tấn công và nổi dậy ở chiến trường miền Đông, nối tiếp đà thắng lợi từ đợt 1. Đề nghị này được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua một tháng sau. Trọng điểm của đợt 2 vẫn là chiến trường Sài Gòn-Gia Định. Các hướng phối hợp là Đường 9, Trị-Thiên, Tây Nguyên, Khu V, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Riêng Huế không tổ chức đợt 2 do tình hình khó khăn ở mặt trận này sau đợt 1, dù đã được tăng viện thêm ba sư đoàn chủ lực miền Bắc.

Quân ta pháo kích và tấn công vào Sài Gòn trong đợt 2 Mậu Thân 1968. (Ảnh tư liệu)

Vượt lên khó khăn

Sau đợt 1 của Mậu Thân, tháng 3-1968, Mỹ triệu tập cuộc họp Hội đồng An ninh quốc gia nhằm điều chỉnh chiến lược chiến tranh ở Việt Nam. Để tăng cường bảo vệ khu vực thành thị khỏi nguy cơ của những đợt tấn công mới, quân đội Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “quét và giữ”. Tháng 4-1968, Bộ trưởng Quốc phòng mới nhậm chức Clark Clifford chỉ thị cho Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ tại Nam Việt Nam tiến hành ba biện pháp cấp bách để ngăn chặn nguy cơ từ những cuộc tấn công mới của quân giải phóng. Tình hình chiến trường miền Nam trở nên khốc liệt, căng thẳng hơn bao giờ hết, đặc biệt là tại chiến trường trọng điểm Sài Gòn.

Với Đại tá Nguyễn Văn Triết, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 Sư đoàn 9, các trận đánh của tiểu đoàn trong đợt 2 Mậu Thân là một nỗ lực phi thường. Bởi theo ông, sau đợt 1, địch đã tăng cường phòng ngự dự phòng rất mạnh từ nội thành ra tới bên ngoài. “53 tiểu đoàn của địch quanh Sài Gòn, chưa nói tới phi pháo của nó. Yếu tố bất ngờ không còn, ta vì yêu cầu chính trị phải tấn công vào” – ông Triết nói.

Đại tá Lâm Văn Chắn, nguyên Chính ủy Tiểu đoàn 3 của ông Triết, kể: “Đợt 2, ngay khi tới vùng lốp rồi, suốt ngày bị bom đạn đánh phá, thương vong cả mấy trăm nhưng tất cả anh em vẫn quyết đi theo đơn vị để chiến đấu. Cái khí thế của anh em trong Mậu Thân là chưa từng có!”.

Công tác chuẩn bị cho đợt 2 dẫu khó khăn gấp bội lần nhưng đã được quân dân ta nỗ lực hoàn thành để chuẩn bị cho trận đánh lớn tiếp theo. “Mọi việc đang tiến triển tốt đẹp thì lại xảy ra một vụ việc nghiêm trọng. Ngày 19-4, Tám Hà, phó chủ nhiệm chính trị ra đầu hàng địch. Nó khai hết ráo cái ý định mình đánh sao, kỳ này những cái mũi đi như thế nào. Thành ra, Mỹ thả bom B52 sát Sài Gòn, làm cho những khẩu pháo mình chuẩn bị bị dìm trong bùn hết, không còn sử dụng được” – Đại tá Tư Cang nhớ lại.

Nhưng, sau khi cầm trên tay bản khẩu cung của Tám Hà do cụm H63 gửi về cứ, đắn đo, cân nhắc kỹ càng về mọi khả năng, cuối cùng Trung ương Cục và Quân ủy Miền vẫn hạ quyết tâm mở đợt 2 của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy trên toàn miền Nam.

Tiến công liên tục

Đúng 0 giờ 30 phút ngày 5-5-1968, cả miền Nam lại rung chuyển bởi cuộc Tổng tấn công và nổi dậy lần thứ hai của quân giải phóng. Trong tuần lễ đầu, 89 thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ, căn cứ địch suốt từ Trị Thiên đến Cà Mau, các tỉnh đồng bằng ven biển đến Tây Nguyên đồng loạt tấn công và nổi dậy.

Tại chiến trường trọng điểm Sài Gòn, khác với đợt 1, các đơn vị bộ đội chủ lực trực tiếp tham gia chiến đấu, phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương trên năm hướng đồng loạt thọc sâu, tấn công vào các mục tiêu trong nội thành như sân bay Tân Sơn Nhất, khu vực cầu chữ Y, cụm ra đa Phú Lâm, ngã ba Hàng Xanh, khu vực Bàn Cờ, Vườn Chuối…

Đến ngày 24-5-1968, quân giải phóng tiếp tục cao điểm 2 của cuộc tổng tấn công, pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, bến cảng Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Hải quân, Tòa đô chính, Sứ quán Mỹ, tập kích các khu vực Bình Hòa, Hàng Xanh, cầu Phú Định…

Do các đơn vị chủ lực quân giải phóng không thông thuộc địa hình trong thành phố và vũ khí chỉ được trang bị nhẹ nên khi đương đầu với một lực lượng hùng hậu, vũ khí tối tân của Mỹ thì quân số thương vong rất lớn. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Miền đã ra lệnh rút quân. Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy đợt 2 chính thức kết thúc từ ngày 13-6-1968. Đến tháng 8 và tháng 9-1968, ta tiếp tục mở cuộc tiến công đợt 3…

Huế: 45 năm – một cuộc “chiến tranh tâm lý”

Trong Mậu Thân 1968, quân và dân Thừa Thiên-Huế đã làm nên chiến công trong 26 ngày đêm giữ thành, được tặng thưởng tám chữ vàng “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”, góp phần tạo “cơn địa chấn” của sự kiện Mậu Thân đối với chính quyền Mỹ và chế độ Sài Gòn. Nhưng sự khốc liệt của mặt trận này cũng kéo theo đòn “chiến tranh tâm lý” hết sức cay nghiệt suốt mấy mươi năm sau Mậu Thân 1968.

Trong trận này, lính Mỹ đã phải trả một cái giá rất đắt về nhân mạng. Và, cũng chính khối lượng bom đạn khổng lồ mà họ trút xuống để tái chiếm lại thành phố này là nguyên nhân dẫn đến những tổn thất ghê gớm của quân và dân ta. “Tổn thất của xuân 1968 rất lớn, ác liệt một cách khủng khiếp. Xung quanh thành đỏ hết. Bom đạn hai bên đánh nhau đỏ chói, khói ngùn ngụt, nhà cửa bom pháo san bằng hết” – ông Nguyễn Văn Quang, nguyên Bí thư Thành ủy TP Huế, nguyên Đội trưởng Đội Công tác chính trị vũ trang quận 1 năm 1968, nhớ lại.

Để khỏa lấp thất bại nặng nề tại mặt trận Huế, đồng thời tìm lý do biện minh cho những thiệt hại khủng khiếp về thường dân do những trận bom pháo Mỹ gây ra, Mỹ và chính quyền Sài Gòn dựng lên cái gọi là cuộc thảm sát tại Huế để đổ vấy cho quân giải phóng và từ đó đánh lừa dư luận.

 GS Noam Chomsky, người có nhiều hoạt động chống lại chiến tranh của Mỹ ở VN và sau này ở Iraq, khẳng định vấn đề thảm sát tại Huế là một sự bịp bợm. “Đó là những thường dân bị chết do những trận bom pháo Mỹ san bằng TP Huế. Rồi sau đó khi Mỹ và VNCH phản kích trả thù lại thời kỳ hậu Mậu Thân cũng giết chóc rất nhiều. Thứ nữa là lực lượng quân giải phóng đã hy sinh trong lúc chiến đấu. Tất cả đều là người Việt với nhau và họ gộp vô hết. Tất cả cái đó họ dựng thành một vụ thảm sát tưởng tượng” – GS Noam Chomsky khẳng định.

Đạo diễn LÊ PHONG LAN
phapluattp.vn

Kỳ tới: Mỹ không còn đường lựa chọn

Dù còn có nhiều điều tranh luận, song không thể phủ nhận một sự thật lịch sử hiển nhiên: Nếu không có Mậu Thân 1968 thì sẽ không có Hiệp định Paris 1973, từ đó, đi đến kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình và thống nhất đất nước năm 1975.

Mậu Thân 1968 – 45 năm nhìn lại – Bài 4: Đòn tấn công bất ngờ, táo bạo (*)

“Điều đầu tiên cần nói về cuộc tổng tiến công là tình báo của đồng minh đã thất bại ngang với trận Trân Châu Cảng năm 1941 và trận tiến công Ardennes năm 1944. Việt Nam đã giành được sự bất ngờ hoàn toàn”.

Sách giáo khoa của Học viện Quân sự West Point (Mỹ) đã viết như thế.

Đêm 29 rạng ngày 30-1, thời khắc lịch sử của giao thừa tết Mậu Thân 1968, trên các đô thị ở bờ nam vĩ tuyến 17, suốt từ Quảng Trị đến Cà Mau rung chuyển vì cuộc tổng công kích đồng loạt của quân giải phóng. Các lực lượng vũ trang đã bất ngờ tấn công vào 5/6 thành phố lớn, 37 thị xã, 64 thị trấn, quận lỵ trên toàn miền Nam.

Đồng loạt nổ súng

Theo kế hoạch, giờ nổ súng (giờ G) trên toàn miền Nam là 2 giờ đêm giao thừa nhưng miền Bắc thay đổi lịch (trong đó tháng Chạp âm lịch chỉ có 29 ngày), đón tết Mậu Thân sớm một ngày so với lịch ở miền Nam. Do đó mới có sự chuệch choạc trong việc chấp hành ngày, giờ diễn ra cuộc tổng tấn công đồng loạt. Kết quả là các lực lượng vũ trang khu V và Tây Nguyên nổ súng sớm theo lịch mới, mở đầu từ Khánh Hòa, thị xã Tuy Hòa (Phú Yên), tiếp đến là thị trấn Tân Cảnh – Kon Tum, thị xã Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk)…

Một ngày sau, đêm giao thừa theo lịch miền Nam, khi hiệu lệnh tổng tấn công được mở đầu bằng lời thơ chúc tết của chủ tịch Hồ Chí Minh, các đô thị còn lại đồng loạt tấn công và nổi dậy, từ Sài Gòn-Gia Định, Huế, Kiến Tường, Định Tường đến Bình Dương, Kiên Giang… Riêng TP Đà Nẵng, một trong ba trọng điểm, không nổ súng vì kế hoạch bị lộ ngay trước giờ G.

Quân Mỹ đang tải thương sau khi ta tấn công vào tòa đại sứ vào đêm giao thừa Mậu Thân 1968. Ảnh: TƯ LIỆU

Vì là đòn tấn công chiến lược rộng lớn và đồng loạt, sử dụng yếu tố bất ngờ nên kế hoạch được giữ tuyệt mật, ngay sát giờ nổ súng mới được phổ biến. Khi được hỏi về sự kiện Mậu Thân 1968, ông Nguyễn Trung Chính, nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế, nguyên Thành ủy viên năm 1968, chia sẻ: “Cảm nhận khái quát nhất đối với Mậu Thân thì thằng địch bất ngờ. Nhưng mà ta là những người trong cuộc cũng bất ngờ”. Đại tá Nguyễn Văn Tòng (Sáu Tòng), nguyên Chính ủy Sư đoàn 9 chủ lực Miền, bồi hồi nhớ lại: “Thư động viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tôi bỏ trong cặp, tới vùng ven mới đánh máy gửi cho đơn vị trước giờ G độ chừng 1 tiếng để anh em đọc”.

Cuộc tổng tấn công đồng loạt và táo bạo của quân giải phóng đã khiến phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) bất ngờ hoàn toàn và không kịp phản ứng. Ông Nguyễn Văn Binh, Quận trưởng quận Gò Vấp – chế độ VNCH, không thể nào quên tiếng điện thoại reo liên hồi trong ngày đầu năm mới. “Tôi có bảy xã, cùng một lúc các tiểu đoàn của tôi báo về đồng loạt bị tấn công hết, mà bị nặng nhất là khu vực Thị Nghè” – ông Binh nói.

Một cuốn sách giáo khoa về lịch sử quân sự in năm 1969 và được các học viên Học viện Quân sự West Point (Mỹ) sử dụng trong việc nghiên cứu chiến tranh Việt Nam, đã viết: “Điều đầu tiên cần nói về cuộc tổng tiến công là tình báo của đồng minh đã thất bại ngang với trận Trân Châu cảng năm 1941 và trận tiến công Ardennes năm 1944. Bắc Việt Nam đã giành được sự bất ngờ hoàn toàn”.

Lực lượng xung kích

Trong Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, Sài Gòn-Gia Định được xác định là chiến trường trọng điểm của trọng điểm, nơi có các mục tiêu quan trọng mà bằng bất cứ giá nào ta cũng phải đánh, để đánh thẳng vào ý chí xâm lược của kẻ thù. Nhiệm vụ xung kích, tiên phong được giao cho các chiến sĩ lực lượng biệt động Sài Gòn-Gia Định.

Cố Đại tá Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) từng nói: “Đầu tiên là dùng lực lượng xung kích (biệt động) chiếm lĩnh các mục tiêu. Sau biệt động tới thanh niên, sinh viên để hỗ trợ, trang bị súng cho biệt động giữ mục tiêu. Mục tiêu đây là cửa mở, chiếm cửa mở để đại quân (bấy giờ dùng đại quân nhưng sau này không đúng), các tiểu đoàn mũi nhọn tiếp ứng, vào chiếm hẳn mục tiêu”.

Đúng giờ G, các chiến sĩ biệt động đồng loạt tấn công vào năm mục tiêu chiến lược quan trọng. Đội 3 đánh Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn. Đội 4 đánh chiếm đài phát thanh. Đội 5 đánh Dinh Độc Lập. Đội 6 và 9 đánh Bộ Tổng tham mưu. Đội 11 đánh chiếm Tòa Đại sứ Mỹ. Nhiệm vụ chiếm và giữ cửa mở được lực lượng biệt động Sài Gòn hoàn thành, thậm chí hoàn thành vượt mức thời gian được giao. Thế nhưng vào phút chót, đại quân – các tiểu đoàn mũi nhọn đã không thể xuất hiện để tiếp ứng. Khi buộc phải đơn thương độc mã chiến đấu giữa vòng vây kẻ thù đông hơn gấp bội lần thì sự hy sinh của họ dường như là một tất yếu. 88 chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến đấu thì có đến 56 người đã hy sinh, số ít còn lại hầu hết đều rơi vào tay giặc và bị đày ra Côn Đảo.

Chiến công của lực lượng biệt động Sài Gòn-Gia Định đã làm rúng động cả nước Mỹ và lan rộng khắp thế giới. Đặc biệt, với trận đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ, nơi được mệnh danh là trung tâm chỉ đạo chiến tranh chống cộng lại bị chính Việt cộng chiếm đóng. Một hình ảnh vượt xa trí tưởng tượng của thế giới và của công chúng Mỹ.

Năm mũi tấn công Sài Gòn

Ngoài các mục tiêu trọng điểm trong thành phố do lực lượng biệt động Sài Gòn đảm nhiệm, lực lượng do năm phân khu phụ trách, phối hợp tấn công các mục tiêu ở các quận vùng ven, thực hiện kế hoạch bao vây, cô lập Sài Gòn. Lực lượng quân giải phóng ở năm mũi tấn công tương đương với 14 tiểu đoàn. Vòng ngoài là các đơn vị thuộc các Sư đoàn 5, 7, 9 – chủ lực Miền, làm nhiệm vụ chặn đường các lực lượng Mỹ và VNCH về Sài Gòn tiếp ứng.

Do thời gian hành quân gấp rút, địa hình trắc trở, nhiều đơn vị vừa hành quân vừa đánh địch nên phần lớn không kịp thời gian theo đúng kế hoạch. Thêm vào đó, tuyến phòng thủ của địch ở vùng ven khá mạnh nên dù chiến đấu rất anh dũng nhưng hầu hết các tiểu đoàn mũi nhọn và các đơn vị bộ đội địa phương trên năm mũi tấn công vào Sài Gòn đã không thể thực hiện nhiệm vụ tiếp ứng cho lực lượng biệt động đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu trong nội thành. Quân số các tiểu đoàn cũng bị thương vong nặng sau mỗi trận đánh, có tiểu đoàn chỉ còn lại 1/5 đến 1/10 quân số.

Đại tá Nguyễn Văn Triết, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 Sư đoàn 9, rưng rưng khi nhớ lại ký ức của trận đánh năm xưa. Vào thời điểm đó, đơn vị ông là tiểu đoàn mũi nhọn duy nhất của Sư đoàn 9 được giao đánh chiếm Trung tâm huấn luyện Quang Trung vào đúng giờ G. Ông kể: “Khi đánh mục tiêu này, tiểu đoàn gặp rất nhiều khó khăn vì đây là một mục tiêu lớn, quân số địch rất đông. Trong khi tiểu đoàn lại chỉ có hai đại đội, thiếu một đại đội do phương tiện vận chuyển không đáp ứng được. Dù vậy, khi giờ G đến, toàn đơn vị nhanh chóng tấn công và chiếm lĩnh được mục tiêu. Khi ta đột vào, cùng với trong nội thành cũng đã tấn công thì nó hoảng loạn lên và kéo ra hàng nhưng ta không đủ lực lượng để giải quyết hàng quân này. Nó thấy vậy nên né dần, rút dần rồi tổ chức phản kích lại ta ngay trong đêm…”.

Đại tá Vũ Ba, nguyên cán bộ tham mưu Miền, kể ngày mùng 5 tết Mậu Thân, tại sở chỉ huy cơ bản đóng ở phía sau, Tư lệnh Hoàng Văn Thái không nhận được báo cáo từ chiến trường gửi về. Biết tình hình chiến trường rất căng thẳng và gây cấn, vị tư lệnh liền phái ông xuống chiến trường gặp tướng Trần Văn Trà để báo cáo nguyên văn rằng: “Dựa vào tin tức của các đài phát thanh phương Tây, như anh đã biết, ta có thể đánh giá là bước đầu cơ bản ta đã giành được thắng lợi. Thắng lợi chiến lược quan trọng. Ý nghĩa thắng lợi to lớn đến đâu, hiện giờ ta chưa có thể hình dung được”.

Tháng 1-1968, có 515.000 lính Mỹ, 1 triệu lính VNCH mà Sài Gòn vẫn không được bảo vệ. Tất cả người dân Mỹ đều nhìn thấy hình ảnh tòa đại sứ nằm dưới tầm lửa đạn trên tivi tại phòng khách mọi gia đình. Họ tự hỏi tại sao điều này lại có thể xảy ra. Tổng thống của chúng ta đã tuyên bố chúng ta đang đi đến khúc ngoặt của cuộc chiến và đang chuẩn bị giành thắng lợi đến nơi rồi. Cuộc tấn công tết bộc lộ ra cho người dân Mỹ thấy rằng toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá.

Giáo sư sử học Mỹ LARRY BERMAN

Nhiệm vụ của họ là xông vào sứ quán Mỹ. Làm được gì ở bên trong sứ quán không quan trọng, mà mục đích là phải xông vào được nơi đó đánh một đòn tượng trưng cho toàn bộ cuộc tiến công… Họ đã thành công hết sức to lớn.

DAVE RICHARD PALMER (Tiếng kèn gọi quân)

Tuy là một trận đánh nhỏ về số người tham gia nhưng đã kích động mạnh công chúng Mỹ về chính trị và tâm lý: Sứ quán Mỹ, nơi ngọn cờ sao và vạch (chỉ cờ Mỹ – TS) chính thức cắm trên lãnh thổ Việt Nam là điểm tượng trưng cho mọi cố gắng và quyền lực Mỹ làm cho người ta nghĩ rằng các lực lượng cộng sản mạnh hơn nhiều so với mức mà Chính phủ Mỹ mô tả…

DON OBERDORFER (Tet, NXB Doubleday & Company, Inc, Garden City, New York, 1971)

Đạo diễn LÊ PHONG LAN
phapluattp.vn

Ký tới: Tấn công, tấn công liên tục

(*) Tiếp theo trên báo Pháp Luật TP.HCM ngày 2-2 và đón đọc kỳ tới trên số báo Thứ Hai, 4-2-2013.

Mậu Thân 1968 – 45 năm nhìn lại – Bài 3: Nghi binh Khe Sanh

Mặt trận Khe Sanh năm 1968 là nơi diễn ra cuộc đấu trí, đấu sức vô cùng ngoạn mục và gay cấn mà mục đích thật sự của trận đánh này đến 45 năm sau vẫn còn là điều bí ẩn với giới nghiên cứu và học giả Mỹ…

Thung lũng Khe Sanh nằm ở vùng rừng núi heo hút phía tây Quảng Trị, được xác định là một trong những địa bàn chiến lược ở khu vực giáp ranh giới tuyến. Năm 1966, tại khu vực nam vĩ tuyến 17 đến đường 9-Khe Sanh, Mỹ đã cho xây dựng tuyến phòng thủ vô hình, lấy tên là hàng rào điện tử McNamara. Ở vị trí “mỏ neo” khu vực ngã ba biên giới, Khe Sanh được định vị là một trong ba mắt thần của hàng rào điện tử McNamara, nơi Mỹ tập trung xây dựng một tập đoàn cứ điểm mạnh gồm Chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm Làng Vây và sân bay Tà Cơn. Với tham vọng ngăn chặn quân ta xâm nhập từ miền Bắc vào hoặc từ Lào sang, Mỹ coi đây là bàn đạp để cắt đứt tuyến đường mòn Hồ Chí Minh của ta.

Tương kế tựu kế

Vào thời điểm đầu năm 1968, có nhiều nguyên nhân khiến người Mỹ tin rằng quân giải phóng sẽ thực hiện trận quyết chiến chiến lược như “một Điện Biên Phủ khác” ở Khe Sanh. Đầu tiên, từ sự tương đồng về yếu tố địa hình và vai trò chiến lược giữa lòng chảo Điện Biên Phủ và Khe Sanh. Tiếp đến, Mỹ tin rằng với sự từ bỏ địa bàn truyền thống nông thôn của ta thì rừng núi sẽ là bàn đạp để ta đánh vào đồng bằng và đô thị. Và trên hết, kế hoạch nghi binh hoàn hảo và sự chuyển hướng chiến lược đầy bất ngờ, táo bạo của quân giải phóng đã khiến Mỹ không thể ngờ.

Cố Trung tướng Nguyễn Đình Ước đã từng hỏi Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng rằng: “Ta có đánh Khe Sanh như Điện Biên Phủ không?”.Và ông nhận được câu trả lời: “Trận này rất khác với Điện Biên Phủ. Nếu chúng ta đánh Khe Sanh thì tất sẽ bị thương vong rất lớn vì quân Mỹ cơ động, lại có bom đạn nhiều. Nếu thất bại, họ có thể dùng đến cả bom nguyên tử chiến thuật”.

Về phía Mỹ, với hệ thống phòng ngự dày đặc và hỏa lực cực mạnh, Khe Sanh được kỳ vọng là thỏi nam châm hút quân giải phóng vào một thế trận “Điện Biên Phủ đảo ngược”, theo đúng kịch bản chiến tranh quy ước kiểu Mỹ. “Cái từ Điện Biên Phủ xuất hiện trong tư duy của phía Mỹ mà Cục II (tình báo) báo cáo lại chính là một gợi ý để chúng ta tương kế tựu kế thực hiện một “Điện Biên Phủ giả vờ” để lừa đối phương, ghìm chặt Mỹ ở chiến trường rừng núi, tạo điều kiện cho đòn tấn công vào các đô thị. Vì vậy sau này phía Mỹ và phương Tây cho rằng Việt Nam là bậc thầy trong việc nghi binh” – PGS-TS-Đại tá Hồ Khang chia sẻ.


Với suy nghĩ Khe Sanh là danh dự nên Hoa Kỳ đã đổ xô quân vào đây đúng như kế hoạch nghi binh của ta. Trong ảnh: Quân ta pháo kích vào hầm chứa đạn tại căn cứ Mỹ ở Khe Sanh năm 1968. Ảnh: kingsacademy.com

Theo Đại tá Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), trong các báo cáo do điệp viên Phạm Xuân Ẩn chuyển về, từ cấp chỉ huy cho đến viên đại sứ Mỹ, tất cả đều tin rằng quân giải phóng không đủ sức tấn công vào các thành phố, đô thị mà đó chỉ là “đòn nghi binh”. Theo Mỹ, chiến trường chính nhất định sẽ diễn ra ở Khe Sanh. “Trung ương Cục miền Nam còn làm bộ để rơi những tài liệu vào tay Mỹ để họ tin rằng mình sẽ đánh mạnh trên vùng giới tuyến, nhất là Khe Sanh” – ông Tư Cang nói.

Tâm điểm chú ý của nước Mỹ

Ngày 20-1-1968, 10 ngày trước giờ G của cuộc tổng tấn công và nổi dậy, chiến dịch nghi binh Khe Sanh chính thức mở màn bằng trận đánh quyết liệt trên đồi 881-Nam. Đến 5 giờ 30 sáng 21-1, pháo của quân đội ta đồng loạt pháo kích vào căn cứ Khe Sanh. Ngày thứ hai, kho đạn chính của quân đội Mỹ với sức chứa 1.500 tấn đạn pháo đã bị phá hủy hoàn toàn.

Nhớ lại khoảng thời gian 170 ngày đêm bị vây hãm tại Khe Sanh, trò chuyện với chúng tôi mới đây, cựu binh John Scott Jones vẫn không thôi bị ám ảnh: “Chúng tôi đã ở dưới những căn hầm trú ẩn nhỏ, có rất nhiều bom đạn thả xuống, rất nhiều người chết và bị thương. Đó là khoảng thời gian rất khó khăn. Chúng tôi không có nước uống và thiếu lương thực trầm trọng, chỉ cố gắng cầm cự để mong sống sót”.

Bằng những nguồn sử liệu xác thực, nhà báo, sử gia Mỹ Stanley Karnow kể: “Tổng thống Lyndon Johnson và Washington đã nghĩ rằng Khe Sanh là một Điện Biên Phủ nữa. Và họ đã làm cả sa bàn Khe Sanh ở Washington. Thậm chí, họ còn yêu cầu tướng Westmoreland – Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn Quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam – phải ký giấy cam đoan không được để mất Khe Sanh vì đó là danh dự của nước Mỹ”.

Và rồi trong nỗ lực bảo vệ Khe Sanh bằng mọi giá, Mỹ đã thực hiện chiến dịch Niagara II ném bom rải thảm với hơn 100.000 tấn bom, cày nát 32 kmchiến trường với mức độ ác liệt và tàn khốc chưa từng có.

Khi cuộc pháo kích lên đến đỉnh điểm, lính Mỹ hồi hộp chờ đợi một cuộc tấn công ồ ạt của quân giải phóng vào căn cứ Khe Sanh. Cựu binh Mỹ John Scott Jones nhớ lại: “Chúng tôi nhận ra rằng họ – quân giải phóng – có kế hoạch tràn qua. Vì vậy, từng đêm từng ngày trôi qua, chúng tôi chờ đợi để chứng kiến điều đó, để chiến đấu một trận sinh tử…”.

Thế nhưng cuộc tấn công mà phía Mỹ hồi hộp chờ đợi đã không xảy ra.

Thay vào đó, quân ta lại tổ chức tấn công và tiêu diệt ở quận lỵ Hướng Hóa, cụm cứ điểm Huội San, Làng Vây và gia tăng sức ép khu vực sân bay Tà Cơn, từ đó siết chặt vòng vây lại. Giữa lúc Khe Sanh trở thành tâm điểm chú ý của nước Mỹ thì các đô thị trên toàn miền Nam đồng loạt nổ súng. Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 bắt đầu…

Phải giam chân Mỹ ở Khe Sanh

Với Thiếu tướng Lê Mã Lương, nguyên chiến sĩ Sư đoàn 304, người đã mất con mắt bên trái tại chiến trường Khe Sanh và phải trải qua cuộc phẫu thuật nhớ đời vì không có thuốc gây mê khi mới bước qua tuổi 18 thì ký ức của những ngày đầu xuân 1968 không thể nào quên. Ông kể: “Với một khối lượng bom đạn ác liệt và dữ dội như thế, việc sống sót của những người lính quân giải phóng như ông là một điều kỳ lạ, phi thường. Bằng mọi giá phải giam chân lực lượng cơ động Mỹ, tiêu hao sinh lực địch ở Khe Sanh. Cái đấy nó thấm nhuần đến từng người chiến sĩ. Một đại đội 120-150 người, chỉ trong vài tuần mà còn lại có 30, thậm chí 10-15 người. Nói như thế để thấy cuộc chiến ác liệt đến nhường nào, cái quyết tâm của ta cao đến chừng nào”.

Sai lầm chiến lược của Mỹ

Trong khi các đô thị trên toàn miền Nam đồng loạt nổ súng vào Xuân Mậu Thân 1968, mặt trận Khe Sanh tiếp tục đánh lớn để phối hợp với các hướng chiến trường chính.

Ngày 1-4-1968, phía Mỹ và quân đội Sài Gòn tổ chức cuộc hành quân Pegasus – Lam Sơn 207 để giải vây cho Khe Sanh. Cuộc hành quân này đã bị ta đánh chặn, làm tiêu hao sinh lực nặng. Đến ngày 6-4, lực lượng này mới mở đường máu đến từ hướng đông sân bay Tà Cơn. Tháng 5-1968, Mỹ mở tiếp cuộc hành quân giải vây đợt hai mang tên Scotland II hòng kéo giãn đội hình vây lấn của quân ta. Nhưng rồi họ phải chịu thất bại. Ngày 26-6, quân Mỹ được lệnh rút khỏi Khe Sanh và phá hủy căn cứ này. Đến ngày 25-7-1968, Mỹ hoàn tất việc rút lui khỏi mặt trận đường 9-Khe Sanh.

Sai lầm về chiến lược của tướng Westmoreland ở Khe Sanh đã khiến quân đội Mỹ phải trả giá đắt. Không kể những tổn thất về con người, đó còn là danh dự của nước Mỹ và niềm tin của công chúng Mỹ đối với chính quyền Johnson. Cố Trung tướng Nguyễn Đình Ước từng nhận định: “Người ta (công chúng Mỹ – NV) xôn xao lên. Rõ ràng chuyện nói Khe Sanh là một Điện Biên Phủ rồi đổ xô vào đó là một sai lầm về chỉ đạo chiến lược, không thể nào che đậy được công chúng Mỹ”.

Đạo diễn LÊ PHONG LAN
phapluattp.vn

Kỳ tớiĐòn tấn công bất ngờ, táo bạo

“Cuộc chiến Việt Nam có quá nhiều bất ngờ nhưng không có bất ngờ nào làm người ta phải sửng sốt bằng trận tấn công Mậu Thân”. Trong cuốn Việt Nam – Cuộc chiến mười ngàn ngày, Michael Maclear đã thốt lên như thế. Mậu Thân 1968 được xem là một thất bại tình báo Mỹ sánh ngang với thất bại của trận Trân Châu Cảng và trận Ardennes trong thế chiến thứ hai.