Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Tiếng sáo Bác Hồ

Chuyện kể về NgườiNghệ sĩ  Đinh Thìn, diễn viên độc tấu sáo của Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam là người từng nhiều lần được gặp Bác Hồ. Ông kể trong niềm bồi hồi xúc động: “Tôi không bao giờ quên buổi đầu tiên được Bác tiếp. Hôm đó, Bác chỉ muốn gặp bốn người, ở bốn Đoàn: Một hát, một múa, một xiếc và một sáo. Tôi đã thấy Bác nhiều lần nhưng chỉ thấy từ xa, hôm ấy bên Bác tôi không sao kìm nén được xúc động. Ôi, Bác giản dị quá! Râu tóc Bác bạc phơ, da dẻ hồng hào trong bộ quần áo lụa Hà Đông đẹp như ông Bụt trong cổ tích. Thấy chúng tôi lúng túng vì xúc động, Bác liền kéo cả nhóm ngồi xuống quanh Bác. Bác hỏi chuyện từng người rồi bảo tôi có mang sáo thì thổi cho Bác nghe. Bác ngồi dựa hẳn vào thành ghế, chăm chú nghe tôi thổi sáo. Hôm đó, tôi thổi một làn điệu đuổi trong chèo. Nghe xong, Bác gật gù rồi hỏi:

– Cháu học ai ?

– Dạ thưa Bác, cháu học ông cụ trong Đoàn ạ. Cụ là một nghệ nhân, đã từng đi biểu diễn khắp nơi trong nước. Cụ là người thổi sáo hay nhất hiện nay ạ.

Bác cười rồi bảo :

– Thế thì tốt, cháu đã gặp thầy rồi đó. Âm nhạc dân tộc của ta rất hay. Thanh niên phải là người thừa kế vốn cổ, học tập các bác nghệ nhân già và phát huy nó lên. Cháu là thanh niên, cháu phải làm nòng cốt, tiếp thu và phát triển âm nhạc dân tộc.

Hôm khác nữa, tôi có may mắn được tới chỗ Bác. Bác đang tiếp khách riêng, trong phòng người nghe không đông lắm. Tôi thổi bài “Nhớ về Nam”, Bác nghe rất chăm chú, thổi xong tôi cúi đầu chào định quay về chỗ ngồi thì Bác đứng dậy. Cầm chiếc sáo của tôi, Bác hỏi :

– Chiếc sáo này cháu tự làm hay mua ?

– Thưa Bác, cháu tự làm đấy ạ.

–  Tự lực cánh sinh như thế là giỏi. Làm sáo cũng không khó lắm phải không cháu ? Trong kháng chiến chống Pháp, Bác thấy bộ đội làm sáo nhanh lắm, đi hành quân hay đi tập đều mang theo, thổi rất vui. Nói rồi Bác cầm ống sáo để đưa lên miệng thổi. Thấy Bác cầm chưa đúng tư thế, tôi thưa với Bác :

– Bác để môi vào sát miệng lỗ sáo ạ.

Bác để môi lại và nhẹ nhàng thổi, lòng ống sáo có gió liền phát ra thành tiếng. Bác hỏi :

– Ngón tay để thế này đúng chưa ?

Tay tôi run hẳn lên. Tôi khẽ cầm vào tay Bác sửa từng ngón bịt vào từng miệng lỗ sáo. Bác để sáo lên miệng thổi, tư thế thoải mái hẳn. Không khí trong phòng bấy giờ như ngưng đọng, mọi người nín thở chờ đợi tiếng sáo của Bác. Bác lấy hơi thổi nhẹ, hơi chạy vào trong ống sáo, thoát ra các ngón tay của Bác thành một làn điệu dân ca đồng quê uyển chuyển điệu cò lả. Bác thổi vừa dứt, tiếng vỗ tay trong phòng rộn lên, vừa ngạc nhiên vừa sung sướng. Bác bỏ ống sáo xuống, lấy dáng điệu cúi chào như một diễn viên thực thụ, tiếng vỗ tay, tiếng cười vui vẻ lại vang lên.

Bác nói to :

– Thật là không thầy đố mày làm nên!

Lần gặp Bác đó đã để lại trong tôi những ấn tượng không thể phai mờ. Bác đi tìm con đường cứu dân cứu nước từ lúc còn trẻ. Bước chân của Người đã trải khắp năm châu bốn biển nhưng câu hát đồng quê vẫn lắng đọng trong lòng.

Sau những lần được gặp Bác, thổi sáo cho Bác nghe, tôi lại lao vào học tập, khổ luyện, biểu diễn phục vụ đồng bào. Tôi thấy mình cố gắng làm việc bao nhiêu cũng không xứng đáng với công ơn của Bác. Tôi càng yêu chiếc sáo – chiếc sáo may mắn đã được Bác thổi, tôi càng say mê âm nhạc. Điệu cò lả Bác thổi cứ vang vọng, quấn quýt bên tôi, nâng dắt cổ vũ tôi trên bước đường nghệ thuật

Theo hppt://phuly.edu.vn
Huyền Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Xem những kỷ vật quý về Bác Hồ tại Đền thờ ở Bạc Liêu

Đền thờ Bác Hồ tại xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu được xây dựng khang trang trong khuôn viên cỏ cây hoa lá đẹp mắt. Trong đó, Nhà Lưu niệm lưu giữ và trưng bày nhiều kỷ vật quý báu về Bác.

DT. 1
Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Đền thờ Bác Hồ tại xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi (cách trung tâm TP Bạc Liêu khoảng 10km) là một trong những Đền thờ được tôn tạo xây dựng khá khang trang tại khu vực miền Tây Nam Bộ. Đây là nơi để người dân Bạc Liêu nói riêng, cả nước nói chung cùng đến để tưởng nhớ về Bác qua những kỷ vật quý báu của Người để lại.

Có những kỷ vật đơn sơ mà Bác đã dùng như đôi dép, chiếc mũ, valy mây… và nhiều hình ảnh khác đã giúp người dân khi đến đền thờ có thể được xem và hiểu thêm về nhân cách giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đền thờ đã được công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1998.

DT. 2Tượng Bác Hồ được đặt trang trọng ngay giữa Nhà Lưu niệm.

DT. 3
Chân dung của Bác qua từng thời gian.

 DT. 4

DT. 5

DT.6

DT. 7Bộ quần áo Kaki Bác mặc…

DT. 8
…và micrô Bác đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội vào ngày 2/9/1945.

DT. 9
Bộ dụng cụ thể thao Bác dùng để tập luyện sức khỏe.

DT. 10
Thớt (trái) Bác dùng để chế biến thức ăn và đá Bác dùng để kê bếp đun trong thời gian Người sống ở Cao Bằng những năm 1941- 1942.

DT. 11
Bình ôdoa: Bác đã dùng để tưới cây vú sữa của đồng bào miền Nam tặng Người năm 1957.

DT. 12
Chiếc khăn rằn của bà Nguyễn Thị Định kính tặng Bác nhân sinh nhật của Người.

DT. 13
Một số bức ảnh Bác với đồng bào.

DT.14
Hình tượng Bác đang tưới cây vú sữa được dựng lên trong nhà lưu niệm.

DT. 15
Đồng hồ dừng lại lúc 9h45′ thời khắc Bác qua đời ngày 2/9/1969 và băng tang của người dân xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu sử dụng đeo trong lễ truy điệu Bác ở xã Châu Thới vào tháng 9/1969.

DT. 16
Một số hình ảnh xúc động trong lễ truy điệu Bác được ghi nhận ở mọi miền đất nước.

DT. 17
Khuôn viên đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu khang trang, đẹp mắt. Tại đây cũng có rất nhiều cây xanh do các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, lãnh đạo tỉnh Bạc Liêu trồng khi đến viếng Người.

Huỳnh Hải
Theo http://dantri.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức với việc nâng cao y đức thầy thuốc hiện nay

Trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường, mọi quan hệ xã hội, luân thường đạo lý và đạo đức nghề nghiệp cũng có phần đảo lộn. Một bộ phận không nhỏ thầy thuốc đã vô cảm trước nỗi đau của người bệnh, đi ngượi lại y đức, trái với lương tâm, đạo lý, làm “hoen ố” hình ảnh nghề thầy thuốc cao quý có truyền thống bao đời nay. Thực hiện việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Bộ Y tế phát động, nhằm góp phần nâng cao tinh thần học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Ðạo đức nghề y, hay còn gọi là y đức đối với người làm nghề y. Đó không phải là một quy chuẩn của luật pháp, hay nghĩa vụ pháp lý, mà là những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người nói chung và người làm nghề y nói riêng. Mặt khác, đó cũng là quy tắc, là chuẩn mực của ngành y, là kim chỉ nam trong hoạt động nghề nghiệp, để thầy thuốc tự giác điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với lợi ích, tiến bộ ngành y để đem lại sức khỏe và sự an lành cho con người.

Y đức hình thành và phát triển cùng với lịch sử y học và xã hội. Ngay từ những năm đầu xây dựng đất nước, trên cương vị người lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm đặc biệt tới sự phát triển của nền y tế nước nhà, nhất là trong vấn đề y đức của người thầy thuốc. Quan điểm y đức của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ tư tưởng nhân văn cao cả và đạo đức cách mạng, biểu hiện trước hết ở tình thương yêu con người sâu sắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát thành một triết lý sống đối với đạo đức nói chung và đạo đức ngành y nói riêng. Vấn đề “Con Người” trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tố căn bản và xuyên suốt hệ thống tư tưởng của Người. Người nói “phải thương yêu chăm sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình; coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn, “Lương y phải như từ mẫu…”

2.1. quan diem 1
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bệnh xá Vân Đình, tỉnh Hà Tây cũ (20-4-1963)

Người căn dặn cán bộ bệnh xá thực hiện “Lương y như từ mẫu” ( Ảnh tư liệu).

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề sức khỏe của nhân dân và y đức của người thầy thuốc. Người luôn căn dặn thầy thuốc “lương y như từ mẫu”. Người cũng đã để lại cho chúng ta những tư tưởng, quan điểm vô cùng sâu sắc, phong phú và có ý nghĩa định hướng cho việc phát triển một nền y học Việt Nam hiện đại trong tương lai. Người nói: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây dựng đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công…”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng tới một chân lý nhân văn cao cả, đó là mục tiêu, là động lực, là lý tưởng của Người và cả dân tộc Việt Nam. Lý tưởng nhân văn của Người là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người, vấn đề con người được đặt trong sự phát triển đó với mục tiêu phát triển trở thành một xã hội thành xã hội chủ nghĩa và phát triển con người thành con người toàn diện vừa hồng vừa chuyên. Người coi con người là một nhân tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ, tức là cả nước mạnh khoẻ… Dân cường thì quốc thịnh”.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về y đức đối với người thầy thuốc được thể hiện rất rõ trong các bức thư của Người gửi Hội nghị cán bộ y tế vào các năm 1953. Và tại Hội nghị Y tế ngày 27/2/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư “góp vài ý kiến” để các đại biểu thảo luận. Bức thư thể hiện một cách toàn diện hệ thống tư tưởng của Người về y đức. Người nhấn mạnh: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn như mình đau đớn. Lương y phải như từ mẫu, câu ấy nói rất đúng”, và từ đó, chính ngày này đã trở thành“Ngày truyền thống Thầy thuốc Việt Nam”.

Kế thừa truyền thống đạo đức y học của dân tộc và giá trị đạo đức của nền y học thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm cụ thể về y đức đối với mỗi người thầy thuốc và trở thành phương châm sống, chỉ đạo đối với người thầy thuốc và đối với sự phát triển nền y tế nước nhà. Tư tưởng về y đức được thể hiện qua một số quan điểm như sau:

Thứ nhất: Y đức, một trong những quy chuẩn của đạo đức xã hội. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội, có vai trò to lớn đối với đời sống con người. Một trong những nét cơ bản nhất của hình thái ý thức đạo đức là sự tự nguyện, tự giác quan tâm đến người khác, chứ không phải cho mình, mà trong đó có vấn đề y đức là một bộ phận cấu thành của đạo đức xã hội. Trong sự phát triển của y học thế giới, đạo đức người thầy thuốc (y đức), luôn được coi là một phần quan trọng của y học, có ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả trong hoạt động nghề thầy thuốc. Ở Việt Nam, y đức người thầy thuốc mang đậm dấu ấn của đạo đức truyền thống phương Đông. Đạo đức xã hội tốt đẹp lên, thì y đức cũng từ đó mà tốt đẹp lên. Ngược lại, đạo đức xã hội đi xuống, thì không thể có được y đức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng bàn nhiều nhất về đạo đức. Trong di sản của Người, những quan điểm, tư tưởng đạo đức và đạo đức cách mạng phù hợp với mọi đối tượng, mọi lứa tuổi, ngành nghề, trong đó có ngành y. Có thể nói, sau đạo đức của người cán bộ cách mạng nói chung, thì đạo đức ngành Y được Người bàn đến nhiều nhất. Người là tấm gương sáng, là hiện thân của một con người nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực vì con người. Người dành tình yêu thương và chia sẻ với những nỗi đau của con người. Người từng chỉ đạo: “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Để thực hiện được những nhiệm vụ mà lương tâm, trách nhiệm của người đứng đầu đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ân cần căn dặn cán bộ ngành y tế: “Trước hết là phải thật thà đoàn kết… Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân” .

Trước thực trạng hiện nay, dưới ánh sáng của nghị quyết Đại hội Đảng và vận dụng tư tưởng đạo đức, y đức của Hồ Chí Minh, ngành y tế đã tích cực nhạy bén, chủ động đề ra Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đến năm 2010 và 2020 và đề ra các quy định về y đức, tiêu chuẩn nâng cao y đức đối với mỗi người làm nghề, thực hiện tốt 12 điều y đức, để mỗi người thầy thuốc phải luôn lấy y đức làm mục đích, lý tưởng cho hành động của mình, lấy lao động chính đáng, tài năng và trí tuệ của mình làm lẽ sống, để rèn luyện phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phù hợp với tiến bộ xã hội.

Thứ hai: Y đức, một trong những quy chuẩn của đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp là những quy tắc để hướng dẫn cho các thành viên ứng xử và hoạt động một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích của nghề nghiệp. Hiểu cách khác, trong mọi hoạt động nghề nghiệp, người hành nghề có thể thực hiện công việc với chất lượng cao, tuân thủ pháp luật và phục vụ tốt nhất có thể. Y đức thực hiện nhiệm vụ là tòa án lương tâm, trách nhiệm xã hội và từ đó thực hiện chức năng tự đánh giá hành vi đạo đức của con người.

Nghề y là một nghề cao quý, được xã hội tôn vinh, những người thầy thuốc phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện y đức mới thực hiện được lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Y đức không chỉ là những hành động như thái độ niềm nở với người bệnh, mà còn đòi hỏi người thầy thuốc phải khiêm tốn, đối xử tốt với đồng nghiệp, giỏi về chuyên môn, không lợi dụng nghề nghiệp để kiếm lời… Lương tâm nghề nghiệp trong sáng là cơ sở để hình thành những đức tính cần có của người thầy thuốc. Lương tâm người thầy thuốc còn là cơ sở để hình thành sự cảm thông sâu sắc với nỗi đau của người bệnh, từ đó hình thành quy chuẩn của đạo đức trong nghiệp vụ.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy thuốc phải có lương tâm và trách nhiệm cao đối với người bệnh. Hành vi đạo đức là những hành vi có động cơ bên trong phù hợp những yêu cầu và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Tình cảm đạo đức của người thầy thuốc là động lực, những đức tính đã trở thành thói quen, thúc đẩy người thầy thuốc hành động sao cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Trong thư gửi Hội nghị Quân y, tháng 3 năm 1948, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật, mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu… Khi gặp những ca anh em thương binh thiếu trấn tĩnh, người thầy thuốc nên lấy lòng nhân đạo và tình thân ái mà cảm hóa họ…”.

Đối với ngành y tế, thì y đức luôn là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, bởi vì nghề y là một nghề đặc biệt liên quan đến sức khỏe, thậm chí đến tính mạng của con người, do vậy người làm nghề y không chỉ giỏi về chuyên môn mà cần phải có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm cao, mới có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Chính vì thế, cần phải đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương của Đảng: “Nâng cao y đức, đấu tranh đẩy lùi tiêu cực trong hoạt động khám, chữa bệnh” . Để làm tốt được nhiệm vụ và đúng với tôn chỉ mục đích nghề nghiệp. Y đức phải thực hiện tốt 4 nhiệm vụ cơ bản sau: 1- Thầy thuốc phải chăm chỉ, nhiệt tình lao động, luôn sẵn sàng, chủ động trong công việc của mình; 2- Thầy thuốc phải thận trọng, cảnh giác trước các trường hợp coi là bệnh nhẹ, bình thường, giản đơn; 3- Thầy thuốc phải luôn giữ gìn phẩm giá, danh dự nghề nghiệp của mình; 4- Thầy thuốc phải là người có tính sáng tạo trong nghề nghiệp…

2.2. quan diem 2
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân
của ngành y tế (Ảnh tư liệu)

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời kỳ hội nhập, những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về y đức đang soi đường và chắp cánh cho đội ngũ cán bộ ngành y tế nước ta vượt qua mọi khó khăn và thử thách, góp phần đưa ngành y nước ta tiến kịp thế giới… Trước xu thế hội nhập hiện nay, ngành y tế nước ta có nhiều điều kiện phát triển, đội ngũ cán bộ y tế có nhiều tiến bộ, trình độ. Để thực hiện tốt và giữ đúng với y đức của mình, cần có sự tham gia của toàn xã hội, bắt đầu bằng việc giáo dục tuyên truyền và bồi dưỡng… 1- Cần xây dựng đội ngũ cán bộ y tế, bác sỹ, y tá có đức có tài; 2- Cần phải xây dựng một nền y học cách mạng tiên tiến hiện đại; 3- Phải phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh; 4- Cần chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy y tế hoàn thiện và làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân; 5- Cán bộ, nhân viên ngành y phải thật thà đoàn kết…

2.3. quan diem 3
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  dự Hội nghị Tổng kết

công tác Y tế 2012 và triển khai kế hoạch 2013 (Ảnh tư liệu)

Có thể nói rằng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác y tế và sức khoẻ là kim chỉ nam giúp Đảng ta xây dựng những quan điểm cơ bản có ý nghĩa định hướng cho sự phát triển một nền y học Việt Nam tiên tiến hiện đại. Tư tưởng về y đức của Người vẫn còn sống mãi và trở thành là bài học quý báu, là ngọn đèn, soi đường chỉ lối cho những người làm công tác y tế nước ta. Vì vậy, để những hình ảnh của người thầy thuốc đẹp mãi trong lòng nhân dân, và để cho y đức luôn là niềm tự hào của ngành y, mỗi thầy thuốc cần phải nêu cao lòng nhân ái, cần phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với bệnh nhân, có như thế mới xứng đáng với những lời dạy của Bác Hồ về y đức, với truyền thống vẻ vang của ngành y, xứng đáng với vẻ đẹp trong sáng và nhân văn của những chiến sỹ khoác áo blouse trắng trên mặt trận chống bệnh tật và cứu người./.

 ThS. Hoàng Anh Tuấn
Theo Joyfm.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành Y tế Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của Đảng ta, dân tộc ta là người có ảnh hưởng sâu đậm nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam kể từ thế kỷ XX cho đến nay. Tác phong, đạo đức đầy nhân văn của Người đã có sức cảm hóa, lan tỏa đến mọi tầng lớp nhân dân ta. Trí tuệ thiên tài, tầm nhìn chiến lược của Người đã trở thành tài sản vô giá, là kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó phải kể đến ngành Y tế – một trong những ngành giữ vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước.

Những định hướng chiến lược

Cách đây đúng 58 năm, vào ngày 27/2/1955, nhân dịp Hội nghị Cán bộ y tế được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội nghị. Bức thư với những nội dung sâu sắc, khoa học, mang tính định hướng chiến lược đã trở thành tài sản vô giá của ngành Y tế nước ta. Do ý nghĩa sâu sắc của bức thư này, ngày 06/02/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27/2 hàng năm làm “Ngày Thầy thuốc Việt Nam” và cũng kể đó, ngày 27/2 đã trở thành ngày truyền thống của ngành Y tế.

Trong bức thư, Người nêu rõ: “Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang”. Bác cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được học hành, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục, tập quán không tốt thì dần dần xóa bỏ”. Ngành Y tế cần xác định được vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của mình trong tiến trình phát triển bền vững của đất nước, để có những bước đi, những đóng góp phù hợp, thỏa đáng. Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác Hồ đã nhiều lần làm việc với cán bộ lãnh đạo ngành Y tế, quan tâm, động viên, thăm hỏi đội ngũ thầy thuốc, khẳng định tầm quan trọng của nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Vâng lời Bác dạy, những thành tựu mà ngành Y tế đã đạt được trong suốt chiều dài cuộc kháng chiến cam go, khổ cực chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và cả trong thời bình, dựng xây quê hương, đã khẳng định vai trò quan trọng của ngành trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước, đáp ứng niềm tin, sự kỳ vọng và mong mỏi của Bác kính yêu. Lịch sử ghi danh những chiến sỹ áo trắng không quản ngại nguy hiểm, khó khăn, thiếu thốn luôn có mặt tại các chiến hào để cứu chữa thương bệnh binh, phục vụ đắc lực cho tiền tuyến. Trong số họ, có biết bao người đã để lại một phần máu xương của mình hay vĩnh viễn ra đi vì sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc. Đất nước hòa bình, các chiến sĩ áo trắng lại tiếp tục học hỏi, rèn luyện không ngừng, tận tụy chăm lo, bảo vệ sức khỏe nhân dân, kể cả đồng bào ở những miền núi cao hay nơi hải đảo xa xôi.

Nghề Y là một nghề rất đặc biệt và cao quí trong xã hội. Đất nước càng phát triển, cuộc sống ngày càng được nâng cao về chất lượng, cùng với những ảnh hưởng, tác động của xu thế phát triển toàn cầu hóa, người ta càng nói nhiều đến vấn đề y đức. Y đức là phẩm chất tốt đẹp, là giá trị cốt lõi của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh như chăm lo cho những người thân yêu trong gia đình của mình. Đây là nghề liên quan trực tiếp đến sinh mệnh con người, nên người thầy thuốc không chỉ phải giỏi về chuyên môn mà còn phải có tâm, có đức. Bác Hồ luôn nhấn mạnh, “Lương y phải như từ mẫu” nghĩa là người thầy thuốc đồng thời phải như một người mẹ hiền. “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu” (Thư gửi Hội nghị Quân y, Tháng 3/1948).

Trong thư gửi cán bộ y tế toàn quốc năm 1955, Bác viết: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe của đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ phải thương yêu, phải săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói đó rất đúng”. “Lương y phải như từ mẫu” – lời dạy của Bác là yếu tố cốt lõi của đạo đức ngành y. Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác cũng đã từng dạy: “Không có nghề nào nhân đạo bằng nghề cứu người. Không có nghề nào vô nhân đạo bằng nghề y thiếu đạo đức”. Thời gian qua, bên cạnh rất nhiều những y bác sĩ đang ngày ngày tận tâm, tận lực với bệnh nhân, thì qua phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta cũng biết được có những y, bác sĩ đang trở thành “con sâu làm rầu nồi canh”, gây phiền hà, nhũng nhiễu, khó khăn cho bệnh nhân, thậm chí gây ra những tổn thất nặng nề về tinh thần, thể lực, nghiêm trọng nhất là khiến bệnh nhân thiệt mạng chỉ vì trình độ kém, y đức kém. Một phút lơ đễnh, thờ ơ, tắc trách đến vô cảm của đội ngũ cán bộ nghề y cũng có thể gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng, dẫn đến mất mát đớn đau và to lớn mà không gì có thể bù đắp nổi cho gia đình bệnh nhân – những con người đã đặt tất cả niềm tin, hy vọng vào họ. Trong lúc cả nước đang đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, một lần nữa tiêu chuẩn đạo đức “Lương y như từ mẫu” lại được toàn thể cán bộ ngành y nói riêng và nhân dân ta nói chung quan tâm đặc biệt. Trước những cám dỗ của đồng tiền, người thầy thuốc phải giữ vững bản lĩnh của mình, nhìn thẳng vào căn bệnh, vào thể trạng bệnh nhân mà điều trị, không phân biệt giàu nghèo để có sự quan tâm như nhau, phải lấy tư tưởng y đức của Bác làm kim chỉ nam để không bị lầm đường lạc lối gây ra những buồn phiền cho người bệnh.BH voi nghe y 1Thăm Bệnh xá Vân Đình (1963), Người căn dặn cán bộ bệnh xá thực hiện “Lương y như từ mẫu”. Ảnh Internet.

Đối với con đường phát triển nền y tế nước nhà, Bác nói rằng: “Y học phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng. Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Ðể mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc Ðông và thuốc Tây” (Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, ngày 27/2/1955). Theo Bác, “Thuốc tây chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc ta chữa được; thuốc ta chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc tây chữa được… Bên nào cũng có cái ưu điểm, hai cái ưu điểm cộng lại thì chữa được bệnh tốt cho đồng bào, cho nhân dân, phục vụ cho xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thầy thuốc tây phải học Đông y, thầy thuốc ta cũng phải học Tây y… Thầy thuốc ta và thầy thuốc tây đều phục vụ nhân dân, như người có hai cái tay, hai bàn tay cùng làm việc thì làm việc được tốt, cho nên phải đoàn kết từ trên xuống dưới, từ dưới lên, đoàn kết thuốc ta và thuốc tây thành một khối để chữa bệnh cho đồng bào”. Đó chính là sự kết hợp giữa y học hiện đại và y học dân tộc. Định hướng đúng đắn này của Bác kính yêu đã được Đảng và Nhà nước ta thực hiện đạt kết quả tốt. Những năm qua, ngành y tế nước nhà đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, kết hợp chặt chẽ giữa Y học cổ truyền và Tây y, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những vốn quý của y học cổ truyền đã được lưu giữ và phát triển. Hiện nay, ở tất cả các cấp y tế, các cấp đào tạo từ thấp đến cao đều có giảng dạy Y học cổ truyền, điều này làm cho các cán bộ y tế nước ngoài đến chúng ta rất ngạc nhiên bởi sự có mặt của Khoa (Bộ môn) Y học cổ truyền trong  trường đào tạo và Khoa Đông Y trong các Bệnh viện hoặc Viện nghiên cứu chuyên ngành Y học cổ truyền.

Sức lôi cuốn diệu kỳ

Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng trái tim nhân hậu, khối óc thiên tài, tác phong giản dị, chân thành, gần gũi đã có sức lôi cuốn và cảm hóa hầu hết những người đã từng sống, tiếp xúc, làm việc với Người. Đối với nền y học nước nhà, Bác đã có những đóng góp rất to lớn khi lôi cuốn, thu hút được rất nhiều trí thức nghề y ở cả trong và ngoài nước phục vụ cách mạng, tham gia kháng chiến cứu quốc một cách tự nguyện, tận tâm, tận lực với niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và thành công của cách mạng nước nhà.

Trong số những trí thức nghề y quyết tâm đi theo tiếng gọi của Đảng, của Bác phải kể đến Giáo sư, Bác sĩ Trần Hữu Tước– người sáng lập và xây dựng ngành Tai – Mũi – Họng Việt Nam, một trong những vị giáo sư đầu ngành của nền y học Việt Nam hiện đại. Năm 1946, khi Hồ Chủ tịch dẫn đầu Phái đoàn hữu nghị đầu tiên của nước Việt Nam độc lập đi thăm nước Pháp, Giáo sư Trần Hữu Tước được Hội Việt kiều cử làm bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho Hồ Chủ tịch và đoàn  ngoại giao Việt Nam. Ông có cơ hội gần Bác và đồng chí Phạm Văn Đồng nên được học hỏi nhiều điều. Ông hiểu cách mạng đã thành công nhưng đất nước và đồng bào cũng còn nhiều việc phải làm! Ông  nghĩ rằng “Phải về phục vụ trong khi nước nhà còn nhiều khó khăn mới đúng”! Theo lời kêu gọi của Bác Hồ, cùng với một số trí thức Việt kiều nổi tiếng khác như Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa), Võ Quý Huân, v.v. Giáo sư Trần Hữu Tước đã tình nguyện từ bỏ cuộc sống hơn 13 năm đang ổn định và sinh hoạt sung túc ở Pháp, trở về phục vụ Tổ quốc. Từ đó cuộc đời người thầy thuốc nổi tiếng ấy gắn liền với đất nước, quê hương.

Trở về nước sau bao năm xa cách, Giáo sư Trần Hữu Tước đã có điều kiện dốc toàn bộ sức lực góp phần xây dựng một ngành Tai – Mũi – Họng Việt Nam hoàn chỉnh, có nhiều chuyên khoa sâu, có những đóng góp to lớn cho nền y học và y tế nước nhà, có tiếng vang trên trường quốc tế. Với những công trình và cống hiến xuất sắc của ông trong ngành y tế, Giáo sư Trần Hữu Tước được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (1966), Huân chương Độc lập hạng Nhất (1983), truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và kĩ thuật đợt I (1996), được tặng Kỷ niệm chương của Trung đoàn Thủ đô.

Trong những dòng hồi kí của mình, Giáo sư Trần Hữu Tước đã viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh – một con người vĩ đại, có ý nghĩa đặc biệt đối với tình cảm và cuộc đời ông, một con người mà Giáo sư vô cùng yêu quý, khâm phục và một lòng một dạ tin tưởng đi theo Người, cho đến trọn cuộc đời mình, vì nhân cách cao cả cùng sự uyên thâm của Người. Đối với Giáo sư Trần Hữu Tước, Hồ Chủ tịch là hiện thân đầy đủ của sự kiên trì lí tưởng giải phóng và cách mạng cho dân tộc Việt Nam.

Cũng như Giáo sư Trần Hữu Tước, đáp lại tình yêu thương vĩ đại Bác dành cho, Giáo sư Hồ Đắc Di – một bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam, Hiệu trưởng đầu tiên Trường Đại học Y khoa của nước Việt Nam độc lập đã cố gắng sống và làm việc, đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp cách mạng của nước nhà. Giáo sư là người hiểu thấu tư tưởng và thấm nhuần đạo đức, lối sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này thể hiện ở chính cuộc đời ông: Giáo sư là một trí thức, có địa vị cao trong xã hội, song cuộc sống hàng ngày rất giản dị, cởi mở, nhân hậu vị tha, trọng đạo lý hơn lợi lộc, hưởng thụ. Giáo sư đã được Nhà nước tặng thưởng 8 huân chương cao quý, năm 1996 được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và kỹ thuật. Ông từng nói: “Càng sống lâu, càng suy ngẫm, càng hiểu sâu biết rộng, càng nhìn thấu kim cổ Đông Tây, ta càng thấy rõ Bác Hồ của chúng ta quả là bậc vĩ nhân của các vĩ nhân. Theo tôi, Người là một Einstein về mặt đạo đức. Lời nói nào của chúng ta có sâu xa đẹp đẽ đến đâu chăng nữa, cũng không thể nào nói lên đầy đủ tầm vóc của Người. Có lẽ chính lịch sử mới đủ sức nói lên tầm vóc đó. Điều kỳ diệu của Bác Hồ là Người là bậc thánh nhân xuất chúng nhưng lại không xa rời nhân dân đại chúng, là nhân vật thần thoại truyền kỳ nhưng lại gần gũi biết bao đối với những con người bình thường, nhỏ bé và bất hạnh. Người có ảnh hưởng sâu xa đến tâm tư, tình cảm của mỗi chúng ta, trẻ cũng như già”.

BH voi nghe y 2Bác Hồ nói chuyện thân mật với trí thức ngành y. Ảnh Internet.

Giáo sư, Bác sĩ Tôn Thất Tùng – vị bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực gan và giải phẫu gan sau cuộc gặp gỡ đầu tiên với Bác, “dưới ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”, tâm hồn ông đã đi theo cách mạng. Trong suốt cuộc đời mình, Giáo sư đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, tin cậy với niềm tin yêu đặc biệt và tình cảm gần gũi. Không phụ lòng tin yêu của Bác, Giáo sư đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp với mong muốn đưa nền y học Việt Nam sánh ngang với các nước trên thế giới. Giáo sư Tôn Thất Tùng đã để lại cho nền y học nước nhà 123 công trình khoa học, đặc biệt Ông là một trong những nhà khoa học đầu tiên xây dựng phương pháp mổ gan mang tên ông: “Phương pháp Tôn Thất Tùng” (hay “phương pháp mổ gan khô”). Giáo sư từng viết: “Bác ơi, công ơn Bác với con thật như trời, như bể. Con nhắc lại mấy kỷ niệm đánh dấu từng chặng đời con, để ghi vào lòng, tạc vào dạ rằng, chính Bác là người đã thay đổi đời con, quyết định cả sự nghiệp khoa học của con. Bác là người cha, người thầy đã tái sinh và dạy dỗ con”. Ông nói: “Nếu quả tôi đóng góp chút gì về khoa học, chính là nhờ tôi biết học và hành bài học đoàn kết của Bác Hồ. Tôi hiểu rằng sự nghiệp khoa học bao giờ cũng là sự nghiệp tập thể. Người làm công tác khoa học phải học cách phối hợp, phối hợp rất tài tình các binh chủng khác nhau như Bác Hồ đã tập hợp trí dũng của dân ta, đưa dân ta từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.

Đây chỉ là ba trong số rất nhiều những trí thức ngành y đã được trí tuệ minh mẫn, trái tim bao la của Bác kính yêu lôi cuốn, cảm hóa và chỉ đường dẫn lối để cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nước nhà. Bác luôn dành một sự trân trọng thật sự dành cho các trí thức. Đã giao việc là giao quyền. Đã giao quyền là hoàn toàn tin tưởng. Trong sử dụng trí thức, Người không bao giờ áp đặt, không bao giờ tỏ ý lên mặt dạy đời. Bác là người uyên bác, có thể còn ở trên tầm tư duy của bản thân trí thức, nhưng có lẽ chính vì vậy nên bao giờ cũng giản dị, khiêm tốn. Đó cũng là một phong cách rất trí thức, được trí thức ghi tạc, truyền tụng. Do đó, Hồ Chí Minh có một sức hút phi thường đối với các tầng lớp nhân dân, kể cả những trí thức kiêu sang nhất, khó tính nhất. Hầu hết các trí thức Việt Nam đều suy nghĩ: Nếu không phải Hồ Chí Minh thì có lẽ khó có ai tập hợp được bấy nhiêu nhân tài của đất nước. Quả đúng như vậy. Bằng tất cả niềm tin yêu tuyệt đối dành cho Đảng, cho Bác Hồ kính yêu, rất nhiều các trí thức Việt Nam trong đó có trí thức ngành y đã bỏ lại vinh hoa phú quý, cuộc sống ổn định, cơ hội công danh xán lạn để theo kháng chiến, theo con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

Năm 2013 đánh dấu kỷ niệm 58 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27-2-1955 – 27-2-2013). Đây là dịp để một lần nữa chúng ta nhận thức sâu sắc hơn lời dạy thiết thực, những tình cảm quý báu, những đóng góp to lớn của Bác đối với ngành Y tế Việt Nam. Mỗi cán bộ, nhân viên ngành y tế cần phát huy nhiều hơn nữa về đạo đức, y đức, phẩm chất của người thầy thuốc theo đúng quan điểm mà sinh thời Bác Hồ kính yêu từng nói đó là “Lương y phải như từ mẫu”, nghĩa là “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”. Tất cả cùng đoàn kết, chung tay xây dựng một nền y tế Việt Nam tiên tiến, dân tộc, khoa học, đại chúng gắn với nhu cầu thực tế của nhân dân.

Thu Hiền
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nghề thầy thuốc

Vào ngày 27 tháng 2 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư gửi Hội nghị cán bộ Y tế. Đảng và Nhà nước ta đã lấy ngày 27 tháng 2 là Ngày Thầy thuốc Việt Nam.

9. tu tuong
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Bệnh xá ở Tp.Nam Định

1. Công tác y tế và sức khỏe cho con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều hướng tình thương yêu và sự quan tâm đặc biệt đến sức khỏe của người dân. Người mong muốn và căn dặn: “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H,1996, t7, tr.572). Trong thư gửi Hội nghị cán bộ Y tế năm 1955, Người định hướng xây dựng một nền y học nước nhà thích hợp với nhu cầu của nhân dân và dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng. Công tác y tế dự phòng cũng được Hồ Chí Minh quan tâm, Người nói: “Phòng bệnh cũng cần thiết như chữa bệnh”, “phòng bệnh hơn trị bệnh”, “mọi người từ già trẻ, trai gái đã là người dân yêu nước đều phải quan tâm đến vấn đề vệ sinh, giữ gìn sức khoẻ”. Trong tác phẩm “Đời sống mới”, Người viết: “Sạch sẽ là một phần của đời sống mới, sạch sẽ thì dân ít ốm, khoẻ mạnh thì làm được việc, làm được việc thì có ăn” (Một số vấn đề xây dựng ngành Y tế phát triển ở Việt Nam. Nxb Y học, H.1998, tr.167). Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là nhân tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Người chỉ rõ: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công”, “sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hǎng hái; tinh thần và sức khoẻ đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công”. Đối với mỗi người dân, chưa đầy một năm sau ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác đã khuyên nhủ mọi người rằng: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt. Mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe. Vậy nên, luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người yêu nước. Việc đó không tốn kém, khó khăn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được… Dân cường thì nước thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t4, tr.212). Cho nên, đối với mọi tầng lớp, lứa tuổi, ngành nghề đều phải giữ gìn và nâng cao sức khỏe. Người khuyên các cháu thiếu nhi “Phải siêng tập thể thao cho mình mẩy được nở nang”, không những phải “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt” mà còn phải “Giữ gìn vệ sinh thật tốt”.

Trong nhà máy, xí nghiệp, vấn đề sức khỏe cho công nhân cũng quan trọng: “Nếu công nhân đủ ăn, đủ mặc thì họ mới đủ sức; đủ sức thì làm được việc. Một con ngựa ăn no mới chạy nhanh. Một cái máy đủ dầu mỡ mới quay đều. Người ta cũng thế”. Với Người, vấn đề vệ sinh, sức khỏe, bất luận là giàu hay nghèo đều phải thực hiện thật tốt. Nếu “người giàu không giúp cho dân nghèo ăn ở đúng vệ sinh, đến khi có bệnh dịch thì người giàu cũng khó sống”. Đối với vấn đề vệ sinh, để bảo vệ sức khỏe chung cho cộng đồng, cũng có những trường hợp phải cưỡng bách người vi phạm phải tuân theo lợi ích sức khỏe chung như “trong làng nhiều ao, nhiều muỗi, thường có đau ốm, người làng biết vậy, ai cũng bằng lòng lấp ao của mình. Chỉ một hai người không chịu theo, để người làng vì muỗi mà đau ốm liên miên. Vì vệ sinh chung làng có quyền buộc một hai người kia phải lấp ao”. Vì thế, những gì liên quan có lợi cho sức khỏe con người, Bác đều biểu dương khen ngợi: “Chúng ta tự hào có nhiều cụ ông, cụ bà ngoài 70, 80 tuổi vẫn hăng hái học tập và lao động, lập ra những đội “bạch đầu quân” trồng cây, gây rừng, đôn đốc phong trào bình dân học vụ và vận động vệ sinh phòng bệnh”. (Sđd, t11, tr.224).

Hồ Chí Minh cũng đã đánh giá rất cao những thành quả đạt được của ngành y nước nhà “Công tác y tế đã có nhiều thành tích, đã ngăn chặn được nhiều dịch bệnh và bệnh xã hội cũ, sức khỏe của nhân dân được nâng cao. Trẻ em ngày càng được săn sóc chu đáo hơn”. (Sđd, t11, tr.224). Ngày 2-1-1947, Người đã có thư khen ngợi sự tận tâm của các y, bác sĩ, khán hộ cứu thương, trong đó có đoạn: “Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khán hộ đều hết lòng săn sóc thương binh một cách chu đáo. Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc”.

2. “Lương y phải như từ mẫu” – yếu tố cốt lõi của đạo đức ngành y.  

Dân tộc ta có truyền thống tôn sư trọng đạo, rất quý trọng người thầy: Thầy giáo và thầy thuốc. Nhân dân ta đặt địa vị người thầy dạy chữ ngang hàng với cha, người thầy thuốc như mẹ, bởi nghề thầy thuốc là nghề chữa bệnh cứu người, là người mẹ thứ hai của những người bệnh. Để chǎm sóc sức khoẻ con người, cần có đội ngũ những người thầy thuốc giỏi về chuyên môn, có lương tâm nghề nghiệp. Sau ngày thành lập nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945), Đảng và Chính phủ đã đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ y tá, y sĩ, bác sĩ, lương y chữa bệnh bằng thuốc tây, thuốc nam, thuốc bắc và các phương tiện y học tiên tiến, có y đức và y thuật cao. Giáo sư Hồ Đắc Di, Giáo sư, bác sĩ Tôn Thất Tùng, bác sĩ Đặng Văn Ngữ, bác sĩ Vũ Đình Tụng, Giáo sư Đặng Văn Chung… là những giáo sư, bác sĩ đầu ngành của nền y học Việt Nam thời hiện đại, có công rất lớn trong sự nghiệp cách mạng nước nhà.

Hồ Chí Minh là người rất quan tâm đến vấn đề y đức, một người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là một người mẹ hiền hết lòng vì bệnh nhân. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ Y tế toàn quốc năm 1953, Người viết: “Cán bộ y tế (bác sĩ, y tá, những người giúp việc) cần phải: Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. Lương y phải kiêm từ mẫu” (Sđd, t7, tr.88). Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức là gốc rễ của con người, của tài năng. Với các thầy thuốc, Bác càng đặc biệt chú ý hơn về đạo đức. Bác dặn: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. Lương y phải như từ mẫu, câu nói ấy rất đúng” (Sđd, t7, tr.476). Điều này thể hiện tinh thần nhân văn cao cả, tấm lòng nhân hậu hết mực vì nhân dân, vì con người của Hồ Chí Minh.

Người thầy thuốc không những cứu chữa cho người bệnh về thể xác mà còn phải động viên, khích lệ và cảm thông về mặt tinh thần. Trong thư gửi Hội nghị Quân y (3-1948), Người viết: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”. Thầy thuốc như mẹ hiền còn phải được thể hiện ở sự hết lòng với người bệnh, vì mục đích cứu người nên không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, thân sơ, không được cầu lợi, kể công mà cǎn cứ vào bệnh nặng, nhẹ, nguy, lành mà sắp xếp việc cứu chữa.

Hồ Chí Minh không chỉ coi lương y phải như từ mẫu mà còn vạch rõ phương hướng đào tạo đội ngũ thầy thuốc Việt Nam thành những “lương y kiêm từ mẫu”. Đó là “về chuyên môn: Cần luôn học tập, nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ, nhưng phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến của ta”. “Về chính trị: Cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: Yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác …” (Sđd, t7, tr.88). Để thực hiện được những nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao phó, Bác ân cần căn dặn cán bộ ngành y tế: “Trước hết là phải thật thà đoàn kết… Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành Y tế, từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành Y tế, trong việc phục vụ nhân dân” (Sđd, t7, tr.476).

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác y tế và sức khoẻ là kim chỉ nam giúp Đảng ta xây dựng những quan điểm cơ bản có ý nghĩa định hướng cho sự phát triển một nền y học Việt Nam hiện đại và một ngành Y tế xã hội chủ nghĩa có tính ưu việt trong thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với Quân đội nhân dân Việt Nam qua những bức ảnh

(Dân trí) – Từ đội tuyên truyền giải phóng quân đến những cuộc trường chinh vĩ đại giải phóng dân tộc đều mang đậm dấu ấn của vị Cha già dân tộc – người luôn dõi theo từng bước phát triển của lực lượng vũ trang chính quy – Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình, tinh Cao Bằng) với 34 chiến sĩ. Đây được coi là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam – lực lượng vũ trang “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ”.

Trong 68 năm hình thành và phát triển, Quân đội nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sinh thời, Bác Hồ đã dành những tình cảm yêu mến đối với những người “đầu sóng ngọn gió”, ngày đêm chịu đựng gian khổ và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Dù bận nhiều công việc, Người vẫn dành thời gian chăm sóc và giáo dục, rèn luyện các lực lượng vũ trang nhân dân. Trong các chiến dịch lớn, Bác luôn dành thời gian đi thăm, động viên các đơn vị bộ đội. Và sau mỗi chiến dịch, mỗi thắng – bại của cuộc trường chinh vĩ đại, Người luôn kịp thời động viên, biểu dương các cá nhân, đơn vị lập công xuất sắc và phê bình những việc của tốt của cán bộ, chiến sĩ.

Ngay cả khi trước lúc đi xa, người để lại di chúc căn dặn Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân ta phải làm tốt chính sách đền ơn, đáp nghĩa đối với những người đã hi sinh một phần xương máu cho sự nghiệp cứu nước.

Sự quan tâm của Bác đối với lực lượng vũ trang nhân dân thể hiện bằng những việc làm cụ thể, bình dị nhưng chứa chan tình cảm của vị Cha già dân tộc. Và cũng vinh dự và tự hào thay, lực lượng chính quy, tinh nhuệ này đã được gọi với cái tên hết sức thân mật – Bộ đội cụ Hồ.

Bác Hồ với Quân đội nhân dân Việt Nam qua những bức ảnhChủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước họp bàn quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ

Gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc
Gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc

Gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc
Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 16 tại Đền Hùng (Phú Thọ): “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ đơn vị 600 tại Na Đỏong, Trung Sơn, Yên Sơn năm 1953
Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ đơn vị 600 tại Na Đỏong, Trung Sơn, Yên Sơn năm 1953

với cán bộ chiến sĩ quân đoàn 1146
với cán bộ chiến sĩ quân đoàn 1146

Bác Hồ quan sát trận địa ở chiến dịch Biên giới 1950
Bác Hồ quan sát trận địa ở chiến dịch Biên giới 1950

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ chiến sĩ pháo phòng không năm 1950Bác Hồ nói chuyện với cán bộ chiến sĩ pháo phòng không năm 1950

Với cán bộ, chiến sĩ quân khu 4 năm 1957Với cán bộ, chiến sĩ quân khu 4 năm 1957

Với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 938
Với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 938

Bác Hồ thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ bộ đội tỉnh Cao Bằng
Bác Hồ thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ bộ đội tỉnh Cao Bằng

Thăm một đơn vị Hải quân năm 1954
Thăm một đơn vị Hải quân năm 1954

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ đội diễn tập năm 1957
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ đội diễn tập năm 1957

Thăm bộ đội Hải quân bảo vệ bờ biển tỉnh Quảng Ninh năm 1957
Thăm bộ đội Hải quân bảo vệ bờ biển tỉnh Quảng Ninh năm 1957

Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm cùng bộ đội giải phóng miền Nam ngày 20/12/1962
Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm cùng bộ đội giải phóng miền Nam ngày 20/12/1962

Tặng Huy hiệu cho các chiến sĩ lập công xuất sắc
Tặng Huy hiệu cho các chiến sĩ lập công xuất sắc

Giản dị đến tham dự triển lãm công binh
Giản dị đến tham dự triển lãm công binh

Bác Hồ thăm một đơn vị miền Nam tập kết năm 1957Bác Hồ thăm một đơn vị miền Nam tập kết năm 1957

Thăm đơn vị đảm bảo kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không - Không quân vào Tết Đinh MùiThăm đơn vị đảm bảo kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không – Không quân vào Tết Đinh Mùi

Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 768 - lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô năm 1966
Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 768 – lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô năm 1966

Bác đến thăm một cán bộ phòng không tại xã Phú Cường, Sóc Sơn, Hà Nội tháng 12/1967
Bác đến thăm một cán bộ phòng không tại xã Phú Cường, Sóc Sơn, Hà Nội tháng 12/1967

Tặng quà Tết và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đoàn không quân Sao Vàng năm 1967
Tặng quà Tết và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đoàn không quân Sao Vàng năm 1967

Nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ kỹ thuật xưởng máy bay A3 ngày 25/9/1966
Nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ kỹ thuật xưởng máy bay A3 ngày 25/9/1966

Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 209
Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 209

Bác Hồ ăn cơm cùng bộ đội Hải quân
Bác Hồ ăn cơm cùng bộ đội Hải quân

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Hoàng Lam
Ảnh : Tư liệu
dantri.com.vn

Bác Hồ với miền Nam

Tình cảm của Bác Hồ với đồng bào miền Nam là ý chí độc lập dân tộc, là khát vọng thống nhất nước nhà.

Miền Nam được Bác Hồ coi như quê hương thứ hai của mình. Vì ở đó in dấu những kỷ niệm của thầy giáo Nguyễn Tất Thành tại ngôi trường Dục Thanh, là nơi Bác đã ra đi tìm đường cứu nước khởi đầu cho sự nghiệp cách mạng. Mảnh đất Nam bộ còn có một ý nghĩa thiêng liêng khác là nơi người cha thân yêu của Người, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc sống những năm tháng cuối đời và an nghỉ.

Xuyên suốt tư tưởng chỉ đạo cách mạng miền Nam của Người là độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, để Bắc Nam xum họp một nhà, giang sơn thu về một mối. Khi một ngày miền Nam còn chìm trong khói lửa là một ngày Bác ăn không ngon, ngủ không yên. “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một… “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Có những thời điểm, thế nước ngàn cân treo sợi tóc. Người vẫn theo dõi sát sao tình hình diễn biến chiến sự tại miền Nam và đưa ra những chỉ đạo sâu sát kịp thời. Người quan tâm tới từng chi tiết nhỏ trong mỗi trận đánh, qua các bản báo cáo, bản tin trên báo, trên đài phát thanh. Biết tin có đoàn miền Nam ra, Người đều gặp hỏi han tỉ mỉ, ai có thành tích Bác động viên, khen ngợi kịp thời, và gửi quà tặng. Khi có người bị thương nặng, Bác đến tận giường bệnh thăm hỏi và trực tiếp căn dặn y bác sỹ hết lòng cứu chữa…

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, một lần nữa vấn đề thống nhất nước nhà được khẳng định: “Dân tộc ta là một, nước Việt Nam là một. Nhân dân ta nhất định vượt qua tất cả mọi khó khăn thực hiện kỳ được thống nhất đất nước, Nam Bắc một nhà”. Chân lý đó thực tế đã được chứng minh sự đúng đắn sáng suốt của Bác cùng Trung ương Đảng. Ở chiến trường miền Nam quân và dân ta đã đập tan “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Trước sự lớn mạnh của quân ta, hòng cứu vãn tình thế, Mỹ ào ạt đổ quân vào chiến trường miền Nam thực hiện “chiến tranh cục bộ”. Tàn ác hơn, đế quốc Mỹ và chư hầu cho máy bay bắn phá miền Bắc và ý đồ thâm hiểm của chúng là đưa miền Bắc “trở về thời kỳ đồ đá”. Mục đích làm cho miền Bắc không chi viện được cho miền Nam hòng bóp chết cách mạng miền Nam. Đúng lúc đó, một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển nổi: “Kiên quyết bảo vệ nền độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹån lãnh thổ của nước Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai được xâm phạm đến quyền thiêng liêng ấy của nhân dân ta. Đế quốc Mỹ phải tôn trọng Hiệp định Geneve, phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, phải chấm dứt ngay cuộc tiến công vào miền Bắc. Đó là biện pháp duy nhất, không có giải pháp nào khác. Đó là câu trả lời của nhân dân ta và Chính phủ ta cho đế quốc Mỹ”.

Đáp lại tình cảm thiêng liêng của Người, mỗi chiến sỹ trước khi ra trận đều khắc sâu hình bóng của Bác nơi trái tim mình. Đại tá Đỗ Tấn Phong, anh hùng quân đội kể: Mỗi lần nhận nhiệm vụ hay trước một trận đánh lớn, nhớ tới Bác Hồ là tôi lại thấy như được tiếp thêm sức mạnh. Khi đấu tranh với kẻ thù, người chiến sỹ có trái tim, trái tim mang hình Bác thiêng liêng rực rỡ. Có chiến sỹ bị địch bắt, tên gác ngục đưa ảnh Bác ra và hỏi có biết là người trong ảnh ai không, chiến sỹ ấy đã rất tự hào nói với kẻ thù đó là Bác Hồì kính yêu. Đó là anh hùng Nguyễn Văn Thương, 6 lần bị địch cưa sống chân, nhưng nhất quyết không khai với kẻ thù dù chỉ một lời. Đó là tấm gương của cựu tù Phú Quốc Nguyễn Thế Nghĩa, trong tù thiếu thốn trăm bề và bị địch tra tấn dã man, được tin Bác mất đã tự tay mình cắt máu vẽ chân dung của Bác và cờ Đảng để đồng đội trong tù làm lễ truy điệu Bác và mang lá cờ Đảng bằng máu trước ngực mình trong những buổi lễ kết nạp đảng viên mới…

Trong toàn bộ di sản tư tưởng mà Người để lại, những ý kiến chỉ đạo, những bài nói bài viết gửi đồng bào, chiến sỹ miền Nam luôn chiếm một vị trí đặc biệt, là tình nhân ái bao la, mối quan tâm sâu sắc và niềm tin mãnh liệt của Bác dành cho đồng bào miền Nam. Đối với Người, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc luôn là mong ước cháy bỏng. Khi được tin Quốc hội tặng thưởng huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Người đã cảm ơn Quốc hội và nói: “Trong khi miền Bắc ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội để ủng hộ đồng bào miền Nam, thì đồng bào miền Nam đã anh dũng chiến đấu để bảo vệ công cuộc xây dựng hoà bình ở miền Bắc. Cho nên nhân dân miền Bắc từng giờ từng phút nhớ đến đồng bào miền Nam. Gần 20 năm trường, hết đấu tranh chống thực dân Pháp, lại đấu tranh chóng Mỹ – Diệm, đồng bào miền Nam thật là xứng đáng với danh hiệu thành đồng Tổ quốc và xứng được tặng thưởng Huân chương cao quý này. Vì lẽ đó tôi xin Quốc hội đồng ý thế này: Chờ đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc- Nam xum họp một nhà, Quốc hội cho phép đồng bào miền Nam trao tặng cho tôi Huân chương cao quý này. Như vậy toàn dân ta sẽ sung sướng vui mừng”.

Trước lúc đi xa, trong Bản Di chúc, Bác đã dành những tình cảm, niềm tin mãnh liệt cho đồng bào miền Nam, cho sự nghiệp giải phóng đất nước thống nhất Tổ quốc. Đó chính là những lời cổ vũ cho quân và dân Nam bộ đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược như ước nguyện của Người: “Còn non còn nước còn người, thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Ước nguyện của Người đã được quân và dân miền Nam thực hiện một cách trọn vẹn. Ngày 30.4.1975 lịch sử, lá cờ quyết chiến quyết thắng của quân giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc lập, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Non sông đã liền một giải. Đồng bào Nam Bắc xum họp một nhà.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

Đến Noỏng Ổn thăm khu di tích Bác Hồ

Trong chuyến công tác tại thủ đô Vientiane, Lào cuối năm 2009, qua giới thiệu của cô Lan, một Việt Kiều sống tại trung tâm TP Udonthani, chúng tôi bắt ôtô sang tỉnh biên giới Thái Lan giáp Lào để thăm Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh – nơi ghi dấu thời gian Bác từ châu Âu về hoạt động tại Đông Dương theo Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản.

Từ con đường chính dẫn vào khu di tích Bác Hồ chỉ khoảng 500m nhưng ngay khi rẽ vào, mọi ồn ã biến mất, thay vào đó là một không gian bình yên, giống như bất kỳ vùng quê nào của Việt Nam. Hai bên đường tre xanh trồng um tùm như muốn che cái nắng trưa oi ả của vùng quê Noỏng Ổn.

Theo lời giới thiệu của cô Lan, cách đây gần một thế kỷ, ông cô sang Thái Lan định cư, đến đời con cô đã trải qua bốn đời nhưng gia đình cô vẫn giữ truyền thống là ai cũng học và nói tiếng Việt. Cô Lan tâm sự, tiếng Việt nó như hồn phách, ngấm vào máu thịt, không thể nào quên được. “Hàng năm người Việt sinh sống ở Udonthani còn có truyền thống đến dâng hương và thăm di tích Bác tại Noỏng Ổn. Đó là cách để chúng tôi dạy dỗ con cháu luôn biết và nhớ về cội nguồn”.

Không chỉ những người ở lâu năm như gia đình cô Lan mà những người mới sang lập nghiệp, sinh sống bên đất Thái vài chục năm nay cũng có nếp chung như vậy. Chị Lâm Thị Bích, tiểu thương bán hàng tại khu chợ người Việt ở thành phố Udonthani có thói quen mỗi khi có người Việt Nam sang chơi dù bận bịu đến mấy cũng cho cậu con trai lái ôtô chở mọi người đến thăm khu di tích Noỏng Ổn. “Nó như một cách để cho con cháu tôi luôn nhớ về quê hương, và tự hào về đất nước Việt Nam có một lãnh tụ vĩ đại, cũng là có dịp để gia đình chúng tôi có cơ hội để nghe những người Việt kể về đất nước mình phát triển thế nào…”.

Hai gian nhà tranh đơn sơ, những dụng cụ nhà nông, đặc biệt, tấm ảnh Bác đang vẫy chào và cười hiền từ ở giữa gian chính khiến mọi người xúc động trước vị cha già dân tộc vĩ đại nhưng cốt cách bình dị. Phía sau ngôi nhà, khu vườn tăng gia, chuồng chăn nuôi và gốc xoài, cây bàng vẫn hiển hiện như trước đây Bác đã chăm sóc, vun trồng cách đây gần một thế kỷ.

Theo tư liệu lịch sử và qua lời kể của Việt kiều ở Udonthani, giữa năm 1928, nhận được Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản điều động về nhận công tác ở Đông Dương, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã từ giã nước Đức vào tháng 6 và đến Thái Lan vào tháng 7 với thẻ nhập cảnh mang tên Nguyễn Lai. Ở Thái Lan, Bác mang các tên Thầu Chín, ông Thọ, Nam Sơn. Sau một thời gian ngắn ở Phi Chịt, miền Trung Thái Lan, Bác đã chọn Udonthani, cách Bangkok khoảng 600km, làm nơi hoạt động, bởi lúc đó thị xã Udonthani rất nhỏ, dân cư thưa thớt, rừng rậm chiếm phần lớn với bạt ngàn gỗ quý vây bọc. Tại đây, Bác liên lạc với Việt kiều ở các tỉnh Nongkhai, Sakol, Nakhon-phanoom…, tập hợp họ lại để trò chuyện, kể cho họ nghe về tình hình phong trào cách mạng đang diễn ra trong nước và trên thế giới, phác họa tương lai cách mạng Việt Nam. Bác còn chủ trương viết tờ báo Thân ái cho anh em đọc. Rồi Bác chọn một số người có khả năng tiếp thu, dạy họ học tiếng Anh, sau đó điều đi xây dựng phong trào nơi khác, nhân rộng cách làm việc, nền nếp mà Bác đặt ra.

Cũng chính thời gian hoạt động tại Udonthani, với tấm lòng của một nhà cách mạng vô sản quốc tế, Bác còn tham gia gánh gạch xây chùa Vắt Phô, một ngôi chùa to đẹp và có danh tiếng nhất của tỉnh Udonthani. Theo các nhà nghiên cứu Thái Lan, “cụ trụ trì chùa còn mời ông Nguyễn tham gia chỉ đạo xây dựng chính điện ngôi chùa”…

Mặc dù thời gian hoạt động của Bác ở Udonthani không dài, nhưng hình ảnh của Người mãi khắc sâu trong tâm khảm các thế hệ người Việt ở Thái Lan. Với tình cảm yêu kính vị Cha già dân tộc, năm 2003, bà con Việt kiều đã đóng góp tiền của, dựng lại Khu di tích Bác Hồ tại Noỏng Ổn. Trên nền nhà cũ của Trại Cưa, ngôi nhà chính, nhà chứa thóc, cùng những đồ dùng mộc mạc (giường ngủ, bàn ghế, chum vại đựng nước…), chuồng trại chăn nuôi gia cầm… được dựng lại bằng gỗ, tre, nứa giống như thời gian Bác hoạt động tại đây.

Quần thể khu di tích Bác Hồ giờ đây ngoài sự bình dị của những căn nhà tranh, trang nghiêm hơn vì bên cạnh đó có hẳn một khu trưng bày tưởng niệm về Bác. Điều đó thể hiện sự thành kính của Việt kiều tại Thái Lan, sự ngưỡng mộ sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh của chính quyền và người dân Thái Lan ở Noỏng Ổn.

Kỳ Duyên
daibieunhandan.vn

Cựu Bí thư Trung ương Đoàn kể chuyện gặp Bác Hồ

Ông Nguyễn Văn Đệ sinh năm 1927 tại Nghệ An, tham gia cách mạng từ năm 1947, hoạt động trong nhiều tổ chức đoàn thể, trong đó có 15 năm ở cương vị Bí thư Trung ương Đoàn. Kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời ông là lần được gặp Bác Hồ và nghe những lời chỉ bảo ân cần của Người.

Đúng 6h45 phút ngày 12.7.1965, Văn phòng Trung ương Đoàn nhận được điện thoại từ văn phòng của Bác do đồng chí Vũ Kỳ (thư ký của Bác) gọi và báo cho biết đúng 7h, đồng chí Bí thư Trung ương Đoàn, phụ trách Thanh niên xung phong lên gặp Bác.

Ông Đệ được đồng chí Vũ Quang (là Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn) cử lên gặp Bác. Thực ra ông đã được gặp Bác nhiều lần, được nghe Bác nói chuyện. Nhưng đây là lần đầu tiên ông được trực tiếp báo cáo với Bác cho nên tâm trạng của ông lúc đó rất hồi hộp.

7h kém 5 phút, ông được vào phòng làm việc của Bác. Đúng 7h, Bác từ phía cửa sau đi vào, tay cầm một chiếc quạt lá cọ. Thấy Bác tới, ông liền đứng dậy chào, Bác bắt tay ông và nói: Chú ngồi xuống đi, chú tên gì?
Ông vừa trả lời những câu hỏi của Bác và báo cáo tình hình công việc. Nghe xong Bác bảo: “Tốt! Chú uống nước đi rồi kể cho Bác nghe, các chú đã tổ chức thanh niên xung phong như thế nào? Các cháu gái, trai đi Thanh niên xung phong ra sao? Có hăng hái tự nguyện không?”. Nghe Bác hỏi xong, ông liền báo cáo với Bác, đại ý từ sau khi được Bác, Đảng và Chính phủ giao nhiệm vụ, Ban chấp hành Trung ương Đoàn đã họp, ra nghị quyết  giao cho các tỉnh thành phố tuyển Thanh niên xung phong, độ tuổi từ 18 – 30, thành phần thì 50% nữ, 50% nam. Số thanh niên hăng hái đi tuyển rất đông nên vượt chỉ tiêu, nhất là nữ thanh niên ai cũng đòi đi cho nên việc giải thích cho người ở lại còn khó hơn là giải thích với người ra đi…

Nghe báo cáo xong thấy Bác rất vui và hỏi: “Thế các chế độ chính sách đối với thanh niên xung phong, các bộ, ngành các chú đã báo cáo cụ thể chưa? Đối với các cháu gái có chính sách gì cụ thể không?” Nghe Bác hỏi đến đây, ông đỏ mặt lúng túng, vì khi bàn đến chế độ chính sách không đề cập vấn đề này. Nhưng ông trấn tĩnh và nói liều: Dạ thưa Bác, chúng cháu có bàn riêng vấn đề này, về vệ sinh cho chị em phụ nữ… Bác nói tiếp: “Các chú cùng các ngành lao động phải hết sức chú ý tới các đặc điểm riêng của các cháu gái. Trong công việc cũng không nên phân công cho các cháu gái làm việc quá nặng làm ảnh hưởng đến sức khỏe các cháu sau này”.

Bác đứng dậy cười tươi đưa 2 tay lên trước bụng hỏi: “Còn cái này nữa, to ra thì các chú làm sao?”. Người nói: “Các chú phải giáo dục căn dặn các cháu gái phải biết tự trọng giữ mình, đấu tranh chống lại hành động không đúng đắn của các cháu trai. Các chú tổ chức cho thanh niên xung phong là việc hệ trọng, để đánh thắng giặc Mỹ cần có thanh niên dũng cảm, chịu đựng được gian khổ ở những nơi địch đánh phá ác liệt để sửa đường, sửa cầu vận chuyển hàng hóa súng đạn. Thanh niên hăng hái đi là tốt, nhưng các cháu phải hết sức chú ý tới việc chăm lo giáo dục sức khỏe, học tập văn hóa và đời sống vật chất và tinh thần của thanh niên… Các chú giáo dục động viên các cháu gái, trai làm việc tốt, học tập tốt, báo cáo thành tích cho Bác để Bác khen thưởng”.

Ngày 26.9.1966, sau hơn một năm, Bác đã gửi thư khen lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, thực hiện đúng lời hứa với thanh niên xung phong. Ngày 27.1.1969 Bác lại gửi thư khen đại đội Thanh niên xung phong 333, toàn là các nữ thanh niên đã lập thành tích xuất sắc…

Bác Hồ ngày đêm quan tâm tới những việc lớn lao của cách mạng, nhưng Người không quên những việc nhỏ, cụ thể liên quan tới đời sống thường ngày của nữ thanh niên xung phong. Lần gặp Bác tuy ngắn ngủi nhưng để lại trong ông Đệ biết bao kỷ niệm. Những lời dạy của Bác đã theo ông trong suốt cuộc đời.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

Ai chữa bệnh cho Bác Hồ ở Tân Trào?

Ngoài cụ lang người Tày còn có một y tá giải phóng quân được Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đến tiêm thuốc chữa bệnh cho Bác những ngày Người bị sốt nặng tại Tân Trào trước Tổng khởi nghĩa. Đó là ông Nguyễn Việt Cường, ở làng Khau Chủ, xã Đông Viên, Chợ Đồn, Bắc Kạn.

06-Ai-chua benh-20909-180.jpg

Những ngày trước Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tại lán Nà Lừa, Tân Trào, nơi đặt cơ quan đầu não của Mặt trận Việt Minh, Bác Hồ đã có những quyết định hệ trọng liên quan tới vận mệnh của dân tộc. Nhưng vào những ngày khẩn trương công việc bộn bề ấy, Người bị sốt nặng, có lúc rất nguy kịch tưởng chừng không qua khỏi.Đồng chí Võ Nguyên Giáp thời kỳ này luôn ở bên Bác, lo lắng tìm thầy thuốc chữa bệnh cho Người. Trong hồi ký của mình, Đại tướng ghi lại: “Ông cụ lang già người Tày xem mạch, sờ trán Bác rồi đốt cháy một thứ củ vừa đào trong rừng về, hòa vào cháo loãng. Sau đó Bác tỉnh. Hôm sau, Bác ăn thêm vài lần với cháo loãng nữa, cơn sốt nhẹ dần….” Ngoài việc đưa cụ lang người Tày còn có y tá giải phóng quân được Đại tướng dẫn đến tiêm thuốc chữa bệnh cho Bác. Đó là ông Nguyễn Việt Cường, tên thật là Nguyễn Đức Kính, sinh năm 1925, ở làng Khau Chủ, xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn.

Ông Cường nhớ lại, năm 1943 ông vào học tại trường Y tá Thực hành Bắc Kỳ ở Hải Dương. Khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945) trường đóng cửa ông về quê. Cũng trong thời gian đó Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân từ Cao Bằng về đến quê hương ông. Ông được vị đại diện Việt Minh là đồng chí Khang (tức Đại tướng Hoàng Văn Thái) vận động vào tổ chức Việt Minh. Trước ngày gia nhập giải phóng quân, ông được người quen tại Nhà thương tỉnh và Sở cẩm cho một ít thuốc sốt rét, thuốc cảm, thuốc kháng sinh, một ít bông băng, hai ống bơm tiêm và một chiếc máy chữ mang đi kháng chiến. Ông được học tại Trường Quân chính kháng Nhật, và sau đó được cử về Ban chỉ đạo Khu giải phóng làm thư ký đánh máy kiêm y tá và được tổ chức phân công ở cùng nhà với đồng chí Văn (tức Đại tướng Võ Nguyên Giáp) và đồng chí Lý (tức Hoàng Hữu Kháng) và một đồng chí nữa ở nhà cụ Hoàng Trung Dân.

Vào một buổi trưa, lúc đó khoảng 12h30 đồng chí Văn bảo: đồng chí Việt Cường đi theo tôi, mang theo túi thuốc vào thăm người ốm. Ông được dẫn lên một chiếc lán, lên đến nơi thấy một Cụ mặc bộ quần áo chàm nằm thoi thóp thở ở trạng thái hôn mê. Ông sờ tay lên trán Cụ bắt mạch và thấy mạch của Cụ đập loạn, ông quyết định báo cáo được tiêm thuốc cho Cụ, đồng chí Văn đồng ý. Ông chuẩn bị dụng cụ tiêm thuốc, lấy 1 ống ether, 2 ống dầu long não tiêm cho Cụ (vì ông biết rằng khi tiêm hai thứ thuốc này cho người bị cảm sốt, thuốc sẽ làm cho người bệnh bị nóng lên, kích thích bộ máy tuần hoàn làm việc). Ông tiêm vào đùi cho Cụ, khi rút kim ra thấy Cụ bị mất cảm giác. Một lúc sau đã thấy mùi dầu long não tỏa ra theo hơi thở của Cụ, sau 2 phút thấy Cụ động đậy chân tay, 10 phút sau thấy Cụ bắt đầu tựa mình, ông sờ vào người thấy bắt đầu ấm lên. Sau đó Cụ lại thiếp đi và nói mê bằng tiếng Anh và tiếng Trung…

Sau đó, ông Việt Cường xin phép đồng chí Văn cho xuống làng, lúc đó khoảng 3h chiều. Đến 5h chiều, đồng chí Văn xuống, ông chưa kịp hỏi thăm tình hình sức khỏe của Cụ thì đồng chí bảo sáng mai ông lên tiêm cho Cụ. Tâm trạng của ông lúc đó nửa mừng nửa lo. Mừng vì ông tiêm cho Cụ và Cụ đã đỡ phần nào. Lo là vì nội quy y tế của Pháp quy định y tá không có quyền chữa bệnh khi chưa có chỉ định của bác sỹ. Khi trấn tĩnh lại ông cũng yên tâm vì bệnh của Cụ có chiều hướng tốt lên, vả lại trước khi tiêm ông đã được sự đồng ý của đồng chí Văn.

Sáng hôm sau ông lên lán ngay, đến nơi đã thấy Cụ ngồi trước máy chữ đánh máy. Ông chào Cụ. Cụ nhìn ông một lượt rồi hỏi:

– Hôm qua chú tiêm thuốc gì cho tôi? Tiêm vào đâu?

Ông báo cáo với Cụ là đã tiêm những thứ thuốc đó và tiêm vào đùi bên trái. Cụ bảo:

– Tiêm vào đùi bên trái sao lại đau sang bên phải, đau cả bả vai và trên đầu.

Ông đoán chắc là Cụ thấy ông còn trẻ quá nên Cụ hỏi thử mình xem có biết thuốc men gì không mà tiêm cho Cụ, và ông báo cáo là cả hai thứ thuốc đó đều dễ tan nên không thể gây đau chỗ khác được, Cụ đau là do sốt rét. Nghe xong Cụ bảo: “Ừ, thế thì tiêm đi”.

Ông xuống nhóm lửa luộc ống tiêm, khi đang nhóm lửa, Cụ xuống ngồi bên cạnh hai tay hơ vào bếp lửa. Cụ hỏi:

– Chú là con nhà ai mà biết tiêm thuốc.

Ông báo cáo với Cụ về gia đình và bản thân, quá trình học y tá, nghe xong Cụ bảo:

– Các chú là thanh niên phải học nhiều vì làm cách mạng thì gian khổ lắm.

Sau đó, ông tiếp tục tiêm cho Cụ bằng thuốc ký ninh, với liều lượng  2 ống bằng 1 gam ký ninh. Sáng hôm sau, ông lại tiếp tục lên tiêm gặp Cụ, Cụ bảo:

– Thôi tôi khỏi ốm rồi, chú không phải tiêm nữa.

Ông xuống làng nhưng lòng vô cùng áy náy (vì nguyên tắc khi tiêm thuốc sốt rét thì phải tiêm đủ 3 mũi mới cắt sốt). Rất may khi xuống gặp đồng chí Văn, ông báo cáo lại sự việc, đồng chí im lặng một lúc rồi bảo ông cùng lên lán. Lên đến nơi vào gặp Cụ, đồng chí Văn nói:

– Thưa Bác, tình hình bây giờ rất khẩn trương thế này mà tổ chức lại không có thuốc chữa trị cho Bác, đề nghị Bác cho chú thanh niên này tiêm cắt sốt để Bác làm việc. Sau này đoàn thể tiếp tục chữa chạy cho Bác.

Nghe đồng chí Văn báo cáo xong, Cụ đồng ý cho ông tiêm, thế là ông tiêm cho Cụ mũi cuối cùng. Sáng hôm sau, ông lên lán đem theo 8 viên ký ninh được gói cẩn thận đưa và dặn Cụ mỗi ngày uống đủ hai viên cho khỏi hẳn…

Tháng 5.2003, ông Việt Cường viết những dòng tâm huyết gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông nhắc lại những việc đã được Đại tướng giao và những điều ông được nghe khi trở lại Tân Trào. Nhận được thư của ông Việt Cường, ngày 10.10.2003, Đại tướng đã viết vào mặt sau tờ giấy ông Việt Cường gửi cho Đại tướng. Chữ ký và bút tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là sự hồi tưởng bổ sung sự kiện chữa bệnh cho Bác Hồ tại lán Nà Lừa năm 1945.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

Một lần vẽ Bác Hồ

Trong cuộc đời mỗi người, được một lần gặp Bác là kỷ niệm đẹp nhất, khó phai nhạt. Đối với họa sỹ Phan Kế An, ông có một vinh dự đặc biệt: được trực tiếp vẽ chân dung Bác Hồ.

Họa sỹ Phan Kế An sinh năm 1923 trong một gia đình danh giá. Cha ông, cụ Phan Kế Toại, từng làm đến chức Khâm sai Đại thần của Triều Nguyễn, sau tham gia cách mạng, giữ chức Bộ trưởng Nội vụ và Phó thủ tướng trong Chính phủ Hồ Chí Minh. Năm 1942, ông theo học tại trường Mỹ thuật Đông Dương, tham gia nhiều hoạt động cách mạng trong các phong trào của sinh viên, học sinh. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ông cùng nhiều văn nghệ sỹ, trí thức đi kháng chiến. Ông được công tác ở báo Sự Thật (tiền thân báo Nhân Dân) và được Tổng bí thư Trường Chinh (lúc bấy giờ đang phụ trách báo Sự Thật) giao vẽ về Bác, ở mọi tư thế, bằng mọi chất liệu để có một bức in vào số báo sau đó…

Nhận nhiệm vụ, họa sỹ Phan Kế An vô cùng sung sướng, vì niềm ao ước bấy lâu của ông là được gặp Bác Hồ và được vẽ Người. Nhưng xen lẫn sự vui sướng là tâm trạng lo âu. Ngay ngày hôm sau, ông chuẩn bị những vật dụng cần thiết đến gặp Bác. Khi đến nơi, ấn tượng đầu tiên của ông là cuộc sống vô cùng giản dị của Bác. Trong căn phòng nhỏ có rất ít đồ đạc, gồm một chiếc bàn gỗ trên đặt chiếc máy chữ, một phích đựng nước và một hộp đựng thuốc lá. Gặp Bác, Người ôm chầm lấy ông và hỏi thăm sức khỏe, tình hình công việc và gia đình của ông… Khi ông kể về cách giáo dục của bố ông đối với các con, dạy các con biết yêu lao động, họa sỹ Phan Kế An rất ngạc nhiên vì Bác đã biết về cách giáo dục của gia đình ông và Người nói đó là cách giáo dục tốt, đem lại lợi ích cho Tổ quốc…

Sau đó, Bác đưa họa sỹ Phan Kế An đến chỗ nghỉ ngơi và giới thiệu họa sỹ với mọi người. Cách xưng hô “mình – An” của Bác đã xóa tan mọi âu lo trong ông. Lời nói của Bác ân cần, tình cảm như của người cha dành cho người con vừa đi xa về. Người nói: “An ở đây với mình, ở bao lâu tùy An, An cứ làm việc theo ngẫu hứng của An. Mình làm việc khi chỗ này, khi chỗ nọ quanh đây, An cứ tự nhiên theo mình mà vẽ. Bây giờ An có thể tự do xuống chỗ anh Kỳ và các anh em khác nghỉ ngơi, muốn tắm thì xuống suối gần đây, chiều ăn cơm với mình”.

Khi thực hiện vẽ Bác, ông quan sát tỉ mỉ từng cử chỉ, động tác của Người để lựa chọn vị trí thích hợp. Vẽ Bác không dễ vì bản thân họa sỹ không muốn Bác phải ngồi như một người mẫu, ảnh hưởng đến công việc của Người, nhưng vẫn phải làm toát lên được cốt cách, nội tâm của Bác. Tuy nhiên, sau nửa tháng làm việc, họa sỹ Phan Kế An cũng đã cho ra đời được hơn 20 bức tranh về Bác. Khi ông báo cáo với Bác để xin ý kiến chọn lựa bức tranh cho số báo tiếp theo. Bác đề nghị treo tất cả các bức tranh ông đã vẽ lên vách và mời toàn bộ anh chị em trong cơ quan đến xem. Sau khi xem kỹ từng bức, Bác chỉ tay vào một bức được ông ký họa bằng nét bút sắt mực đen và nói: “Nếu lấy in báo thì lấy bức này, giản dị và có thần”.

Khi họa sỹ Phan Kế An trở về cơ quan, Tổng bí thư Trường Chinh chỉ thị cho in ngay bức tranh mà Bác đã chọn. Bức ký họa được in vào số báo tháng 12.1948, phát hành với số lượng lớn phục vụ đồng bào và chiến sỹ ta trên khắp các mặt trận.

Hình ảnh của Bác qua bức ký họa chân dung của họa sỹ Phan Kế An đã góp phần động viên đồng bào, chiến sỹ quyết tâm kháng chiến kiến quốc thắng lợi. Bức ký họa chính là một trong những bức tranh đẹp nhất mà họa sỹ vẽ về Bác thời kỳ ở chiến khu Việt Bắc.

Do chiến tranh nên các bức ký họa về Bác của họa sỹ Phan Kế An không còn nhiều. Những bức còn giữ được ông đã tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Hiện nay tuy tuổi đã cao, nhưng họa sỹ Phan Kế An vẫn ấp ủ những dự  định sáng tác về Bác Hồ, vì những ngày bên Bác là khoảng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời ông.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

40 năm – sức sống bất diệt của bản di chúc Bác Hồ

19/05/2009

NĐBO- Đã 40 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Ðảng và của dân tộc để lại cho chúng ta bản Di chúc lịch sử thiêng liêng, bất hủ. 40 năm qua là sự phấn đấu bền bỉ, là sự đồng sức, đồng lòng của dân tộc Việt Nam để thực hiện những ước nguyện thiêng liêng của Người. Nhân dịp kỷ niệm 119 năm ngày sinh nhật Bác, Phóng viên Báo điện tử Người đại biểu nhân dân đã có cuộc trò chuyện với TS Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh về bản Di chúc của Bác Hồ.

Di chúc của Hồ Chủ Tịch là cẩm nang tinh thần vô giá

PV: Thưa Tiến sĩ, ông có cho rằng, trong sâu thẳm của mỗi ngưòi dân Việt Nam, Di chúc của Hồ Chủ Tịch là một tài sản tinh thần vô giá?

TS Chu Đức Tính: Tháng 5.1965, bác Hồ đã viết xong bản di chúc. Từ đó trong suốt các năm: 1966, 1967, 1968, 1969 Bác đã dành thời gian lúc mình khoẻ mạnh, minh mẫn nhất và vào đúng dịp sinh nhật mình hàng năm xem lại bản di chúc mình đã viết lần đầu để sửa chữa, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới trong nước và thế giới.

Tính từ ngày Bác viết di chúc lần đầu tiên đến nay là 44 năm, còn tính từ ngày bác đi vào cõi vĩnh hằng đến nay là 40 năm Đảng ta công bố di chúc của Bác. Lịch sử càng lùi xa thì chúng ta càng thấy sự vĩ đại đã được Bác viết đến trong những lời căn dặn cuối cùng của mình.

Bản di chúc là sự kết tinh tình cảm của Bác Hồ đối với toàn thể nhân dân Việt Nam, đặc biệt là đối với các cháu thiếu niên nhi đồng, với bạn bè thế giới; kết tinh mối quan tâm đặc biệt của Người với nhân dân lao động Việt Nam, những người như Bác nói là có hy sinh nhiều nhất cho cách mạng và bây giờ khi kháng chiến thành công, Đảng, Nhà nước cũng phải quan tâm nhiều nhất.

Di chúc kết tinh phẩm chất đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người cộng sản, một người công dân số 1 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Một người mà phẩm chất đạo đức của Người được thể hiện một cách nhất quán: trung với nước, hiếu với dân; là cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư; là yêu thương con người, là tinh thần quốc tế trong sáng.. Và Di chúc của Người cũng là những định hướng về xây dựng đất nước Việt Nam trong một thời kỳ dài.

PV: Xin TS cho biết, ý nghĩa của bản Di chúc của Hồ Chủ Tịch trong thời điểm được công bố?

TS Chu Đức Tính: Lứa tuổi tôi hồi ấy cũng như lứa tuổi cha, anh nghe tin Bác mất như một sự hẫng hụt rất lớn. Ai cũng có chung một niềm lo là cuộc chiến tranh đang ác liệt thế này, Bác là người xây dựng Đảng, là người thành lập nước mà Bác mất đi thì liệu chúng ta sẽ đi đâu, về đâu… Bác mất, sự nghiệp dang dở, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc chưa hoàn thành…

Nhưng sau đó, được học tập di chúc Bác Hồ, được học tập lời điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn trình bày thì tất cả mọi công dân Việt Nam bấy giờ hoàn toàn tin tưởng. Bác mất nhưng Di chúc của Bác để lại là cẩm nang của cả dân tộc. Từ Di chúc của Bác Hồ, mỗi người dân Việt Nam yêu nước lấy lại được niềm tin, tin tưởng vào định hướng mà Bác Hồ đã gửi gắm. Chính vì niềm tin đó mà chúng ta thắng lợi, chứng tỏ chúng ta đặt niềm tin chính xác.

Đoàn kết là chiến lược để phát triển

PV: Thưa Tiến sĩ, phải chăng vấn đề đoàn kết, đại đoàn kết luôn được đề cao và là vấn đề then chốt của tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh?

TS Chu Đức Tính: Trong Di chúc Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết. Đoàn kết trước hết là đoàn kết trong Đảng và đoàn kết toàn dân tộc. Đặc biệt, đoàn kết trong Đảng là tư tưởng xuyên suốt của Người bởi sức mạnh của Đảng chính là sức mạnh đoàn kết.

Bác đã dặn đi dặn lại trong di chúc là Đảng ta phải thực sự đoàn kết như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Trong Di chúc Bác chưa dùng từ đổi mới nhưng Bác nói là muốn hoàn thành những công việc nặng nề của đất nước thì phải động viên toàn dân, tổ chức toàn dân và huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn thể nhân dân. Đoàn kết là chiến lược chứ không phải là sách lược, bởi đoàn kết tạo thành sức mạnh của cả dân tộc.

PV: Quan điểm vì con người và giải phóng con người được Hồ Chủ Tịch thể hiện trong bản di chúc như thế nào, thưa Tiến sỹ?

TS Chu Đức Tính: Trong di chúc, quan điểm vì con người và giải phóng con người được Bác thể hiện rất rõ. Nhất là các bản Bác viết thêm vào tháng 5.1968 và năm 1969. Bác viết 6 trang vào năm 1968, 6 trang này thể hiện rất rõ quan điểm vì con người và giải phóng con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bên cạnh Bác dặn chúng ta phải chỉnh đốn lại Đảng thì Bác dặn công việc hàn gắn vết thương chiến tranh là công việc đầu tiên là đối với con người. Bác dặn phải chăm lo thương binh, chăm lo gia đình liệt sỹ, thân nhân liệt sỹ, quyết không để họ đói nghèo, thiếu thốn. Đồng thời, chăm lo cho cả phần hương hồn những liệt sỹ đã khuất bằng cách nơi nơi có thể làm những nghĩa trang liệt sỹ để làm nơi đi về cho các liệt sỹ đã hy sinh vì nước.

Với bà con nông dân thì Bác có chủ trưng là sau ngày hoà bình thì nên đề nghị nhà nước miễn thuế nông nghiệp cho nông dân để bà con được hỉ hả, mát dạ, mát lòng.

Đối với thanh niên, Bác luôn luôn đặt niềm tin vào thanh niên. Bác nói nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên. Đặc biệt trong di chúc, Bác dặn phải quan tâm đến thanh niên xung phong, quan tâm đến những người chiến sỹ lực lượng vũ trang trẻ tuổi, có điều kiện, có năng lực thì cho họ đi đào tạo. Đấy là nòng cốt để xây dựng chủ nghĩa xã hội tương lai.

Và một điều thấm đẫm nhân văn Hồ Chí Minh đó là Bác dặn bên cạnh việc quan tâm đến những người đã tham gia kháng chiến cứu nước dưới đủ các hình thức: bộ đội, thanh niên xung phong, thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công… thì ngay cả nạn nhân của chế độ cũ như đối tượng cờ bạc, đĩ điếm, hút sách… vừa dùng pháp luật để cải tạo vừa giáo dục họ để trở nên con người lương thiện. Đấy là một điều rất nhân văn của Hồ Chí Minh trong di chúc, thể hiện tầm nhìn xa và sự hoà hợp dân tộc trong Di chúc của Người. Đấy là tầm mà Di chúc của Bác đã nêu lên và Đảng ta đã thực hiện suốt 40 năm qua.

PV: TS có cho rằng, ngày nay, quan điểm của Người về con người và vấn đề đoàn kết vẫn ý nghĩa ?

TS Chu Đức Tính: 40 năm nhìn lại, quan điểm của Bác thể hiện trong Di chúc về con người và về đoàn kết vẫn có ý nghĩa rất lớn. Bởi vì, không phải bỗng dưng trong những năm gần đây, trong những văn kiện của đại hội Đảng, chúng ta đã đề ra: Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Đây là quan điểm nhất quán và là quan điểm có tính chất chiến lược của Hồ Chí Minh. Và cũng chính vì theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta thắng lợi.

PV: Trong xu thế hội nhập kinh tế  quốc tế hiện nay, quan điểm của Bác về con người và vấn đề đoàn kết vẫn là kim chỉ nam cho Việt Nam khẳng định vị thế của mình ?

TS Chu Đức Tính: Hội nhập là một bước đi tất yếu. Nhưng trong thế giới hội nhập, vấn đề đoàn kết, tạo thành sức mạnh nội lực của dân tộc vẫn không có gì thay đổi. Năm 1945, khi nói về công tác ngoại giao, Bác đã nói: thực lực là cái chiêng mà ngoại giao như cái tiếng. Chiêng có tốt thì tiếng mới to được. Thực lực Bác nói chính là nội lực. Chúng ta trong xu hướng tất yếu của toàn cầu hóa thì phải hội  nhập. Nhưng điều chúng ta muốn hội nhập mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt Nam không có gì khác là phát huy được nội lực Việt Nam. Mà một trong những điều tạo nên nội lực Việt Nam, tạo thành một cấu kết cộng đồng chặt chẽ chính là tinh thần đoàn kết Hồ Chí Minh. Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong dân, đoàn kết quốc tế. Có nội lực là vì đoàn kết, mà đoàn kết thì có nội lực.

PV: Xin cảm ơn Tiến sĩ!

Lệ Thủy thực hiện
daibieunhandan.vn