Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Tượng sáp Bác Hồ tại Thái Lan

Tượng làm từ sáp cùng các tư liệu giới thiệu về Bác Hồ được trưng bày trang trọng bên cạnh các nhân vật nổi tiếng của Thái Lan và thế giới trong công viên tượng sáp Siam ở Thái Lan.

Công viên tượng sáp tọa lạc trên một khu đất rộng huyện Bangphae, tỉnh Ratcha Buri, cách thủ đô Bangkok 110km về phía tây. Công viên được xây dựng từ năm 1997, chia làm nhiều khu giới thiệu các nét văn hóa đặc sắc các vùng miền của người Thái, đặc biệt là gắn liền với đạo Phật. Trong đó có các khu như khu tượng Phật ba thời đại, nhà ở của người Thái 4 miền, khu trưng bày cách sống của người Thái cổ cũng như hiện đại, động cổ tích…

Phòng trưng bày tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm bằng gỗ gần giống như nguyên bản căn phòng
làm việc của Người. Ảnh: thetrippacker

Nhưng có một tòa nhà thu hút khách du lịch nhiều nhất đó là tòa nhà tượng người sáp. Bên trong tòa nhà là những câu chuyện về các nhân vật nổi tiếng của Thái Lan và thế giới, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh, được tái hiện bằng hình ảnh, hiện vật và các đoạn băng giới thiệu tiểu sử, đóng góp của họ với đất nước và thế giới.

Phòng trưng bày tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm bằng gỗ gần giống như nguyên bản, trong đó có bàn làm việc bằng gỗ đơn sơ, tủ đựng quần áo, tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tóc bạc trắng mặc bộ quần áo kaki màu trắng đang ngồi viết bên cửa sổ, trên bàn là chiếc đèn dầu, tờ báo Nhân Dân thời kỳ kháng chiến cứu nước và bông lúa vàng óng.

Tiểu sử của Bác được giới thiệu bằng hai thứ tiếng Anh và Thái với những câu từ ca ngợi vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam.

Anh Andy, hướng dẫn viên du lịch, cho biết khu công viên tượng sáp Siam là một trong những điểm đến thu hút khách du lịch Thái Lan và nước ngoài. Khoảng 80% khách du lịch khi đến tỉnh Ratcha Buri đến thăm khu công viên này.

Theo VOV
Vknyo (st)

Câu chuyện đối nhân xử thế tài tình của Bác Hồ

Chuyện kể về NgườiCách đây hơn 50 năm về trước, một buổi sáng tháng 5 năm 1960, tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, diễn ra buổi lễ đón tiếp Tổng thống nước Cộng hoà Ghi Nê (*) là Xê – Cu Tu – Rê (Sekou Toure) theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc Mít-tin trọng thể đã diễn ra từ 7 giờ sáng. Đồng bào Thủ đô, cán bộ công nhân viên chức, các giáo viên, học sinh, sinh viên các trường Đại học có mặt rất đông đúc và trên tay đều cầm cờ hoa vẫy chào Hồ Chủ tịch và Tổng thống Tu- Rê đi ra lễ đài.

Lớp chúng tôi đứng trong hàng ngũ sinh viên dự lễ phía trước lễ đài gần đó nên nhìn rất rõ Bác Hồ và Tổng Thống Xê Cu Tu- Rê.

Sau phần nghi thức ban đầu của buổi lễ rồi đến phần phát biểu của Tổng thống. Trong bài diễn văn thống thiết của Tổng thống, sau đó ông ta dừng lại, nhìn sang Bác Hồ và nói một giọng rất tôn kính:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ là vị lãnh tụ rất quý mến của nhân dân Việt Nam mà còn của cả nhân dân Ghi- Nê chúng tôi”.

Tiếng pháo tay hoan hô vang dội cả quảng trường Ba Đình.

Ông nói tiếp:

“Đối với tôi, cái tên Hồ Chí Minh đã khắc sâu trong trái tim tôi, tôi rất yêu quý Người. Cho nên hôm nay khi tôi sang thăm Việt Nam thì được tin vợ tôi mới sinh được một đứa con trai rất khôi ngô tuấn tú, tôi liền điện về nói vợ tôi đặt tên cho nó là Hồ Chí Minh”.

Nói xong câu đó, ông Tổng thống nhìn sang Bác Hồ chúng ta và nói nhỏ gì đấy… chắc là ông ta xin phép Bác được đặt tên con ông như thế.

Khi nghe như vậy mọi người cứ xì xào râm ran lên mà không vỗ tay. Có người nói to: “Ông Tổng thống này trịch thượng thật, khinh người thật! dám cả gan đem tên vị lãnh tụ của chúng ta đặt cho con mình à!?”.

Nhiều người cũng nói như vậy và tỏ ra khó chịu, bực tức lắm. Nghe tiếng xì xào trong biển người dự lễ tại quảng trường Ba Đình hôm đó, Bác Hồ chúng ta đã hiểu ý của nhân dân Thủ đô không hài lòng về chuyện này và tiếp đó Bác Hồ liền đứng ra trước micrô nói ngay với tất cả đồng bào, cán bộ một cách nhẹ nhàng vui vẻ:

“Kính thưa đồng bào! Tổng thống Xê-Cu Tu-Rê rất quý mến Bác nên mới muốn đặt tên cho con trai yêu quý của mình là Hồ Chí Minh. Phong tục của nước họ là như vậy, chúng ta hãy thông cảm. Còn Bác thì không có vợ, không có con, đồng bào biết rồi đấy. Cho nên Bác có ý kiến đề nghị với đồng bào thế này nhé: Trong ngày hôm nay, nếu chị em phụ nữ nào ở nước Việt Nam ta mà sinh con thì ta đặt tên cho con là Xê- Cu Tu-Rê có được không ?”.

Bác tươi cười nói năng một cách hoà nhã, chân thành và hợp lý như vậy. Tiếng vỗ tay và hô vang: “Đồng ý, đồng ý !”.

Người thông dịch liền dịch ngay cho Tổng thống Tu- Rê biết điều đó và ông bày tỏ lời cám ơn nhân dân Việt Nam đã quý mến ông.

Thế là đồng bào ta không thắc mắc gì nữa mà lại thỏa mãn vô cùng cách giải thích ứng xử kịp thời của Bác Hồ.

Được chứng kiến sự kiện này, tôi cảm thấy Bác Hồ quá nhạy cảm, thông minh trong việc đối nhân xử thế tình huống tâm lý thật tài tình. Nhiều người bàn tán rằng: “Bác Hồ chúng ta đối đáp vấn đề tâm lý này thật hay quá! sâu sắc quá! Tổng thống Xê-cu Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi Nê chỉ sinh được một Hồ Chí Minh, còn nhân dân Việt Nam ngày hôm nay sẽ sản sinh ra được nhiều người con Tu- Rê. Như vậy không nói ra cũng đủ hiểu rằng chỉ một Chủ tịch Hồ Chí Minh là bằng bao nhiêu Tổng thống Tu- Rê…”.

Tôi cũng thầm nghĩ như vậy và vô cùng thích thú với một chuyện thực tế mà tôi đã mắt thấy, tai nghe như vậy. Có thể trong thâm tâm của Bác Hồ không bao giờ có tính so sánh đề cao mình như vậy đâu. Đó là một sự ngẫu nhiên đối nhân xử thế của Người một cách kịp thời cho thoả ý, thoả lòng mong muốn của đồng bào ta và của cả đôi bên. Đó cũng là xuất phát từ tấm lòng nhân ái của Bác “Trọng người như thể trọng ta”.

Từ thời tôi còn là học trò các trường phổ thông, tôi đã từng đọc sách báo và đã nghe nhiều chuyện về cách ứng xử rất thông minh tài tình của Hồ Chủ tịch, nhưng tôi vẫn chưa tin 100%. Tôi nghĩ rằng, chắc người ta đã thêu dệt thêm, tô điểm thêm câu chuyện cho hấp dẫn nhằm đề cao vị Chủ tịch của đất nước Việt Nam mà thôi. Đến khi tôi được trực tiếp chứng kiến sự kiện này vào giữa năm Canh Tý (1960), trong buổi lễ đón tiếp Tổng thổng Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi- Nê thì tôi mới cảm thấy thực sự Bác Hồ có cách đối nhân xử thế với khách Quốc tế thật nhạy cảm, thông minh tuyệt vời !…

——————–

Chú thích: * Nước Cộng hoà Ghi Nê (Guinea) nằm ở Tây Phi, trên bờ Đại Tây Dương.Diện tích: 245.857 Km2. – Dân số: 9.467.800 người. – Quốc khánh: 2/10/1958. Ghi-nê là nước dân tộc chủ nghĩa đầu tiên ở châu Phi có quan hệ ngoại giao với ta – 9/10/1958,

Trao đổi đoàn: Phía Ghi-nê: Cố Tổng thống Xê-cu Tu-rê (Sekou Toure) thăm Việt Nam năm 1960.

Phía Việt Nam: Phó Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ thăm Ghi-nê năm 1978, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thăm Ghi-nê tháng 3/1994. Hai bên đã ra thông cáo chung, ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế, Văn hoá, Khoa học kỹ thuật và Thương mại, hai bên thỏa thuận thành lập Uỷ ban về hợp tác giữa hai nước.

Theo p5media.vn
Vkyno (st)

Xuân về càng thấm thía lời Bác dạy

Những khó khăn trong cuộc sống, những tác động tiêu cực ngoài xã hội những tưởng sẽ làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân (CAND) dao động và sa ngã. Nhưng những gì đang diễn ra theo chiều tích cực trong toàn lực lượng CAND, chúng ta có thể hoàn toàn đặt niềm tin và hy vọng. Bởi, những cán bộ, chiến sĩ CAND luôn khắc ghi những lời Bác dạy, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, thử thách để không ngừng trưởng thành.

xuan

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành nhiều tâm trí và tình cảm đối với lực lượng CAND. Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập và trên cương vị Chủ tịch nước, ngoài việc ký ban hành các văn bản pháp lý làm cơ sở để xây dựng, phát triển lực lượng CAND, Người còn có nhiều bài nói, bài viết chỉ dẫn về công tác xây dựng lực lượng, về xây dựng đạo đức, tác phong của người cán bộ, chiến sĩ CAND. Tháng 3 năm 1948, trong thư gửi đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an khu XII, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị phải xây dựng cho được đội ngũ cán bộ, chiến sĩ công an vững mạnh đáp ứng yêu cầu của công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Người chỉ rõ phương pháp rèn luyện “Tư cách người công an cách mệnh:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành

Đối với nhân dân, phải kính trọng lễ phép

Đối với công việc, phải tận tụy

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”.

Lời dạy của Bác ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, đã chỉ rõ nội dung xây dựng đạo đức, tác phong người cán bộ, chiến sĩ CAND. Tư tưởng xuyên suốt trong lời dạy của Người tập trung vào xây dựng con người. Khắc ghi lời dạy của Bác, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ CAND không ngừng trưởng thành, vượt qua mọi khó khăn thách thức, trung thành tuyệt đối, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Trong những năm tháng đầu tiên của một đất nước mới giành được độc lập và trong suốt chặng đường dài của các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, trước những gian khổ hy sinh, khó khăn về đời sống vật chất, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ CAND luôn rèn luyện và giữ vững bản chất của người công an cách mệnh. Thực hiện lời dạy của Bác “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, “cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời sống mới, nền tảng của thi đua ái quốc…”(1), trong 65 năm qua, hình ảnh những người công an tận tuỵ với nhiệm vụ, nhiều tấm gương của những cán bộ, chiến sĩ CAND đã hy sinh vì cuộc sống bình yên của nhân dân, vì an ninh, ổn định chính trị – xã hội đất nước đã minh chứng cho phẩm chất cách mạng trong sáng của lực lượng CAND.

Lời dạy của Người luôn là mục tiêu, là đích vươn tới của mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND. Trong cuộc đấu tranh hằng ngày, hằng giờ chống lại các loại tội phạm, loại bỏ cái ác, cái xấu, thường xuyên phải tiếp xúc với những tiêu cực, mặt trái của đời sống xã hội, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND hôm nay phải luôn vững vàng trong nhận thức và hành động. Trước những biến động của đời sống xã hội, những âm mưu, thủ đoạn của bọn tội phạm và của các thế lực thù địch, ngày hôm nay với bản lĩnh chính trị vững vàng, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ CAND tiếp tục vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và hoàn thành tốt nhiệm vụ, nỗ lực học tập, rèn luyện và thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy. Trong toàn lực lượng CAND đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều những tấm gương cán bộ, chiến sĩ không quản ngại gian khổ, hy sinh, tận tụy công tác, liêm khiết, dũng cảm chiến đấu, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực. Đó là những bông hoa đang nở rực rỡ trong sự tin cậy và yêu mến của nhân dân. Năm 2012, toàn lực lượng CAND có trên 4.000 lượt cán bộ, chiến sĩ được biểu dương, khen ngợi. Họ là những người lính dũng cảm đương đầu với hiểm nguy, kiên quyết truy bắt tội phạm buôn bán ma tuý, buôn người; đấu tranh với các tệ nạn xã hội; ngăn chặn các hoạt động vi phạm an ninh quốc gia, bạo loạn lật đổ do các thế lực thù địch kích động. Lực lượng Cảnh sát giao thông có 1.478 lượt cán bộ, chiến sĩ được biểu dương khen thưởng vì thành tích công tác, được tập thể và quần chúng ghi nhận: Liêm khiết, không nhận hối lộ, thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ được giao(2). Những tấm gương đó là một phần của những kết quả đã đạt được từ phong trào “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”, là kết quả tự rèn luyện phấn đấu của những cán bộ, chiến sĩ CAND với phương châm “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, giữ vững bản chất của người công an cách mạng.

Nhưng bên cạnh những tấm gương tốt vẫn còn những biểu hiện tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ CAND. Do thiếu tự giác rèn luyện, không vững vàng về tư tưởng chính trị, một số cán bộ, chiến sĩ đã bị cám dỗ, bị kẻ địch và tội phạm lôi kéo, đánh gục, làm xấu đi hình ảnh của người công an cách mạng trong lòng dân. Để làm trong sạch đội ngũ, xây dựng lực lượng CAND ngày càng vững mạnh theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hơn lúc nào hết cần phải tiếp tục quán triệt và đẩy mạnh phong trào học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy CAND trong toàn lực lượng, tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm chỉnh 4 nhóm giải pháp trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND phải coi việc học tập và thực hiện lời dạy của Bác Hồ đối là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt; phải tích cực, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện bản thân; thẳng thắn và trung thực trong kiểm điểm, tự phê bình và phê bình.

Xuân về, trong thời khắc giao hoà của đất trời, chúng ta càng thấy thấm thía về ý nghĩa và giá trị những lời dạy của Bác đối với CAND. Mỗi lần đọc lại là một lần hiểu sâu thêm về 6 lời dạy của Người, để tự soi mình, tự giác phấn đấu học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, để xứng đáng là người “Công an cách mệnh”.

——–

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.1996, tập 9, tr.631.

(2) Nguồn: Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, Bộ Công an.

ThS. Lê Văn HạnhVăn phòng Bộ Công an
Tạp chí Xây dựng Đảng

Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với học sinh, sinh viên Việt Nam

Với bất kì quốc gia nào trên thế giới, thanh niên, học sinh, sinh viên chính là tương lai của đất nước, là lực lượng nòng cốt để xây dựng đất nước giàu mạnh, phát triển. Chính vì thế mà lúc sinh thời, Bác Hồ hết sức quan tâm tới lực lượng “rường cột” này của nước nhà.

Khoảng tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Bác đã khẳng định: “Nước nhà trông mong, chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có thể trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Trong suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Người luôn quan tâm sâu sắc tới công tác giáo dục thế hệ trẻ, tư tưởng, lý luận và tình cảm của Người đã để lại những bài học thực tiễn còn nguyên giá trị cho tới tận ngày nay và mãi về sau. Người không chỉ nêu lên vai trò hết sức quan trọng của học sinh, sinh viên mà còn nhấn mạnh trọng trách khó khăn nhưng vinh quang của các em, đó là bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Để làm được điều đó, các thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam cần cố gắng, ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức sống; học để biết, học để làm, học để trở thành những chiến sĩ tiên phong trên còn đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

HS SV 1Bác Hồ thăm lớp học vỡ lòng phố Hàng Than, Hà Nội (1958). Ảnh internet

Có thể nói, công tác giáo dục thế hệ trẻ ngay từ bậc mầm non, tiểu học có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, rèn luyện đạo đức và nhân cách con người đồng thời cung cấp kiến thức, kỹ năng để trẻ có nền tảng phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Giáo dục nhi đồng là một khoa học”, dạy dỗ trẻ nhỏ không thể theo cảm tính của người lớn, càng không phải là “cách thức giáo dục” giống như những hiện tượng xã hội mà báo đài, dư luận rầm rộ đưa tin: Thầy cô đánh chửi học trò, giáo viên ngược đãi trẻ mầm non, học sinh tiểu học còng lưng vì vác cặp sách quá nặng, rồi nạn dạy thêm, học thêm tràn lan dẫn tới quá tải, vô tình đánh mất đi tuổi thơ của các em…Không phải tất cả những gì mà người lớn chúng ta cho là đúng, là tốt thì đều đúng và tốt cho trẻ em. Chính vì thế, cần có những nghiên cứu khoa học nghiêm túc và kĩ lưỡng trong công tác giáo dục lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng cả về tâm sinh lý cũng như ảnh hưởng của môi trường sống xung quanh tác động đến trẻ nhỏ để tìm ra phương pháp dạy dỗ khoa học, hợp lý. Về vấn đề này, Bác đã nêu lên một luận điểm mang tính cốt lõi, đó là cách dạy trẻ phải “giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra những người già sớm”. Bác thường nhắc nhở: “chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn”. Tư tưởng tiến bộ đó của Người đã cho chúng ta nhận thấy giá trị quan trọng của công tác giáo dục nhi đồng nói riêng và sự nghiệp giáo dục nói chung – sự nghiệp đó phải thực sự khoa học và nghiêm cách. Đây chính là kim chỉ nam hành động để các nhà giáo dục làm tốt hơn công tác giáo dục nhi đồng hiện tại và tương lai.

Đối với việc chăm lo đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên, trong đó có lớp thanh niên trí thức – những thanh niên, sinh viên đang được đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng được Bác dành sự quan tâm đặc biệt. Ở lứa tuổi thanh niên, sinh viên, việc giáo dục đào tạo không phải là “cầm tay chỉ việc”, uốn nắn từng chút một, mà quan trọng là phải truyền được cho các em tinh thần tự học, tự khám phá, chủ động, sáng tạo, giúp các em định hướng được mục đích của việc tự học tập, tự xác định được con đường phấn đấu cho tương lai. Chỉ như vậy các em mới có thể kiên trì trên con đường học tập theo phương châm “học, học nữa, học mãi” của lãnh tụ Lê-nin vĩ đại.

HS SV 2
Bác Hồ nói chuyện với cán bộ và sinh viên Bách khoa 

tại nhà ở sinh viên sáng mùng Một Tết Mậu Tuất (1958). Ảnh internet

Bác yêu cầu sinh viên: “Phải hiểu rõ học thế nào? Học cái gì? Học để làm gì?”. Tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II, ngày 7.5.1958, Bác nhấn mạnh: “Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt hai câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng”. Bác chỉ rõ: “Dưới chế độ thực dân, phong kiến, mục đích đi học là cốt được mảnh bằng để làm ông thông, ông phán, lĩnh lương nhiều, ăn ngon, mặc đẹp. Thế thôi. Số phận dân tộc thế nào, tình hình thế giới biến đổi thế nào, không hay, không biết gì hết. Mục đích giáo dục nô lệ hầu hạ chúng. Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò là người chủ thì phải học tập. Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân, phong kiến khác nhau”, “Học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự” và “Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà”. Từ đó có thể thấy, nhiệm vụ của thanh niên trí thức thời đại mới không chỉ là ra sức học tập để làm chủ được tri thức, công nghệ mới, mà còn phải xác lập được cho mình lý tưởng cộng sản đúng đắn. Lý tưởng đúng đắn chính là cứu cánh, là vũ khí sắc bén trong đấu tranh chống lại cái xấu, chống lại những cám dỗ bên ngoài, giúp thanh niên vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn để hoàn thành mục tiêu.

Đặc biệt trong xã hội hiện tại, khi mà các giá trị tinh thần cũ và mới đan xen, một bộ phận không nhỏ thanh niên, sinh viên có lối sống buông thả, vị kỉ, cá nhân, thờ ơ, vô cảm với thời cuộc, chìm đắm trong các trò chơi điện tử, trong cuộc sống ảo trên mạng, vùi mình trong các cuộc ăn chơi, đua đòi… thì những lời dạy của Bác càng có giá trị lớn lao hơn bao giờ hết. Nhưng làm thế nào để những lời dạy quý báu đó của Người thấm nhuần tới được với học sinh, sinh viên, giúp các em hình thành được lý tưởng và nếp sống đúng đắn? Trách nhiệm đó không chỉ của riêng ai, mà là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của các bậc làm cha làm mẹ, của các nhà giáo dục, các nhà quản lý trong lĩnh vực có liên quan tới thanh thiếu niên.

Trong vấn đề học tập, Bác không chỉ nhắc nhở học sinh, sinh viên mà là thanh niên Việt Nam nói chung, Bác đã chỉ ra:“Làm nghề gì cũng phải học” và mục đích của việc học là để “nâng cao năng lực làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân càng no ấm, vui tươi”. Điều đó có nghĩa rằng ngay cả đối với một bộ phận thanh niên không theo học đại học, cao đẳng, thì việc học cũng luôn là việc hết sức quan trọng. Học từ các lớp dạy nghề, học từ kinh nghiệm cuộc sống, từ người đi trước, tự học… để nâng cao lối sống tích cực, trau dồi kĩ năng nghề nghiệp để ứng dụng được kiến thức vào lao động sản xuất và làm ăn kinh tế nhằm làm giàu cho bản thân cũng như xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn lưu ý học sinh, sinh viên rằng, để việc học tập thành công và trở nên hữu ích thì học phải đi đôi với hành, lý thuyết phải đi cùng thực tiễn. Bác nói: “Chỉ biết lý luận (lý thuyết) mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy cho nên các cháu trong lúc học về lý luận thì cũng phải kết hợp với thực hành”, “lý luận phải gắn liền với thực tế”. Đồng thời Bác nhắc nhở các nhà trường “không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu…”….Bác nhấn mạnh thêm:“Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại…”. Điều đó có nghĩa rằng học sinh, sinh viên không chỉ học kiến thức sách vở, mà còn phải được thường xuyên nâng cao năng lực thực hành, biết dùng đôi bàn tay để trực tiếp ứng dụng được những kiến thức tiếp thu được. Để đạt được mục tiêu này, vai trò rất lớn thuộc về nhà trường và các cấp quản lý giáo dục, cần phải tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên được làm thực hành, thí nghiệm nhiều hơn, thường xuyên tổ chức cho các em tham quan, thực tập trong các nhà máy, xí nghiệp sản xuất; kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp nhằm tạo ra nguồn cung lao động có số lượng và chất lượng phù hợp với nguồn cầu của thực tế sản xuất. Với những phân tích trên, chúng ta có thể thấy, tư tưởng và những lời căn dặn của Bác vẫn còn nguyên tính thời sự, giá trị lý luận và bài học thực tiễn sâu sắc, đó là bài học về việc phương pháp đào tạo dạy và học thực chất, sáng tạo, nói không với bệnh thành tích, học phải đi đôi với thực hành, kiến thức phải đi đôi với kỹ năng.

Ngoài việc học tập, trau dồi kiến thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn thế hệ trẻ phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống. Bác nhấn mạnh: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”. “Đức, ở đây như Bác nói là đạo đức, đạo lý làm người mà với thời đại chúng ta, Bác yêu cầu rèn luyện để có đạo đức cách mạng. Bác giải thích đạo đức cách mạng rất giản dị, cụ thể: “Đạo đức cách mạng không phải là những điều cao siêu, xa lạ mà đối với mỗi người bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm một việc gì đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội”, “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bác coi “đạo đức là cái gốc của người cách mạng” và Bác nêu lên cách thức phấn đấu, rèn luyện đạo đức cách mạng: “Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, tức là học tập, lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa”, “Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo tự mãn”.

Để loại bỏ chủ nghĩa các nhân, Bác chỉ rõ: “Muốn sửa chữa chủ nghĩa cá nhân thì phải làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã. Ta có câu nói: “khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau. Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng sửa chữa khuyết điểm của mình”.

Từ lúc sinh thời và cho đến khi Bác về với “thế giới người hiền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho các thế hệ trẻ Việt Nam tình yêu thương bao la, sâu sắc nhất. Người đã khẳng định: Thanh niên là chủ nhân tương lai của nước nhà…Chính vì thế, việc chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của toàn xã hội, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa, tức là phải có những người có đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Nhớ lời dạy của Bác kính yêu, mỗi thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam “cần phải có chí tự động, tự cường, tự lậpPhải có khí khái ham làm việc, chứ không ham địa vịPhải có quyết tâm, đã làm việc gì thì làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ đượcPhải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, học luôn, học mãi. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp..”; những nhà quản lý giáo dục, những thầy cô giáo – là những người có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp trồng người, hãy luôn khắc ghi những lời Bác căn dặn, coi đó là kim chỉ nam định hướng cho triết lý giáo dục hiện đại nhằm tìm ra giải pháp đưa nền giáo dục nước nhà phát triển tích cực và bền vững, góp sức vào công cuộc CNH-HĐH đất nước, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Ý nghĩa Ngày truyền thống học sinh – sinh viên Việt Nam và những lời dạy của Bác Hồ dành cho học sinh – sinh viên

Bác Hồ với dũng sĩ miền Nam

Bác Hồ với dũng sĩ miền Nam

Hơn nửa thế kỷ qua, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, phong trào học sinh, sinh viên và tổ chức Hội sinh viên Việt Nam đã có những cống hiến xuất sắc và trưởng thành vượt bậc qua các thời kỳ lịch sử cách mạng, là niềm tự hào của thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường sau Cách mạng Tháng Tám 1945: “… Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em…” và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo đã cổ vũ học sinh, sinh viên nước ta thi đua học tập tốt, rèn luyện tốt và tình nguyện chung sức cùng cộng đồng.

Trong giai đoạn 1925-1945, được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giác ngộ, các tổ chức học sinh, sinh viên yêu nước lần lượt ra đời, như: Tổ chức Học sinh Đoàn, Đội Ngô Quyền, Tổng Hội Sinh viên đã lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên dưới ngọn cờ của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Tự hào đối với các thế hệ học sinh, sinh viên là việc thành lập chi bộ Đảng đầu tiên, thành lập và hợp nhất các tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng Sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn và các chi bộ Đoàn, tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản mà hầu hết đảng viên, đoàn viên đều là những đồng chí xuất thân từ học sinh, sinh viên, như: Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng…

Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bí mật về nước để cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, cuộc vận động hình thành Tổng Hội Sinh viên hoạt động công khai nhằm liên kết lực lượng sinh viên yêu nước, có cảm tình với cách mạng. Cùng với sự phát triển của phong trào sinh viên, phong trào học sinh các trường trung học ngoài Bắc, trong Nam cũng phát triển ngày càng mạnh bởi được ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chung do Mặt trận Việt Minh và các Đoàn thể cứu quốc hướng dẫn.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã giành thắng lợi hoàn toàn. Đó là thành quả to lớn của cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh, trong đó các tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên có nhiều đóng góp xứng đáng, với biết bao tấm gương anh dũng, kiên cường đã được khắc ghi vào lịch sử dân tộc.

Sau cách mạng Tháng Tám, học sinh, sinh viên hăng hái học tập, rèn luyện và tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, xung kích thực hiện 3 nhiệm vụ lớn: Diệt giặc dốt, diệt giặc đói, diệt giặc ngoại xâm do Bác Hồ và Chính phủ đề ra.

Từ năm 1947 đến 1949, ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội đã thành lập Hội Học sinh kháng chiến, Đoàn sinh viên kháng chiến sau đó phát triển ra nhiều trường ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam; số lượng học sinh, sinh viên được kết nạp vào Đoàn và Đảng khá đông. Các hoạt động của học sinh, sinh viên kháng chiến ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Với khẩu hiệu: “Tích cực cầm cự chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” đã tiếp thêm sinh lực mới cho phong trào học sinh, sinh viên. Cuộc đấu tranh của học sinh đã lan ra cả Đông Dương.

Ngày 9/11/1949, học sinh Huế bãi khoá. Phan Văn Giáo, Tổng trấn bù nhìn Trung bộ đã thẳng tay khủng bố. Học sinh, sinh viên quyết định bãi khoá để phản đối.

Ngày 22/11/1949, trong lúc tại Huế đang tranh đấu, học sinh Sài Gòn bí mật vận động kỷ niệm ngày Nam Kỳ khởi nghĩa và đề xướng hưởng ứng phản đối việc các nữ sinh Huế bị bắt, đồng thời yêu sách cải tổ chính sách giáo dục.

Các cuộc bãi khoá của học sinh, sinh viên Sài Gòn liên tiếp nổ ra, đưa ra các yêu sách: Chấm dứt khủng bố, đàn áp bắt bớ học sinh; trả tự do cho các học sinh bị bắt sau ngày chống bù nhìn Bảo Đại; bảo đảm an ninh và quyền lợi học tập của học sinh.

Giữa lúc ở Huế, Sài Gòn không khí tranh đấu đang sôi nổi, tại Hà Nội, học sinh cũng đang căm tức vì Pháp và bù nhìn bắt bớ một số anh chị em sau kỳ nghỉ học kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám. Học sinh Chu Văn An quyết định bãi khoá ngày 25/11/1949, trong các lớp trên tường la liệt khẩu hiệu. Toàn trường vang dậy những khẩu hiệu “học sinh bãi khoá”, “trả lại tự do cho bạn chúng ta”, “đả đảo bù nhìn”.

Ngày 9/1/1950, Đoàn Thanh niên cứu quốc và Đoàn học sinh Sài Gòn – Chợ Lớn đã vận động và tổ chức cho hơn 2.000 học sinh, sinh viên các trường cùng nhiều giáo viên và 7.000 nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn biểu tình đòi đảm bảo an ninh cho học sinh, sinh viên học tập và trả tự do cho những học sinh, sinh viên bị bắt và mở lại trường học. Đoàn biểu tình đã bị đàn áp dã man. Cuộc đàn áp đẫm máu ngày 9/1/1950 và tinh thần chiến đấu hy sinh oanh liệt của anh Trần Văn Ơn làm dấy lên trong học sinh, sinh viên và nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn lòng căm thù giặc và ý chí đấu tranh kiên quyết chống thực dân Pháp xâm lược và bè lũ tay sai.

Với sự kiện lịch sử đó, noi gương và ghi nhận tinh thần đấu tranh bất khuất của anh Trần Văn Ơn và học sinh, sinh viên trong những ngày đầu kháng chiến, Đại hội toàn quốc Liên đoàn thanh niên Việt Nam lần thứ nhất tháng 2 năm 1950 tại Việt Bắc đã quyết định lấy ngày 9 tháng 1 hàng năm làm Ngày truyền thống học sinh – sinh viên. Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ V (22-23/11/1993) tại Thủ đô Hà Nội đã quyết định đồng thời lấy ngày 9 tháng 1 làm Ngày truyền thống của Hội Sinh viên Việt Nam.

Trong cuộc đời mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến thế hệ thanh niên như Người đã từng nói: “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”, Người luôn quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên, trong đó có lớp thanh niên trí thức (những sinh viên đang được đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng…) Bác đã nhiều lần nói chuyện trực tiếp với sinh viên đang học tập trong nước, ở nước ngoài và sinh viên các nước đến dự hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Việt Nam.

Trân trọng xin giới thiệu một số nội dung của các bài nói chuyện, những huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, liệt kê theo thời gian như:

Bài nói chuyện tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam
ngày 19 tháng 1 năm 1955

           Hôm nay Bác thay mặt Chính phủ đến hỏi thăm các cháu và chúc các cháu vui vẻ, mạnh khoẻ, thi đua học tập, cố gắng tiến bộ.

Sau đây Bác nêu vài ý kiến về việc giáo dục thanh niên để giúp các thầy giáo và các cháu nghiên cứu.

Trước hết chúng ta phải hiểu rõ học thế nào? Học cái gì? Học để làm gì?

Trong mấy mươi năm nô lệ, đế quốc và phong kiến đã dùng giáo dục nô lệ để nhồi sọ thanh niên ta, làm cho thanh niên ta hư hỏng. Ngày nay dân tộc ta đã được giải phóng, thì thanh niên ta cũng cần phải mạnh dạn chuyển hướng trong việc học tập. Nay Bác chỉ tóm tắt nêu mấy điểm:

Những điều nên làm : Phải vạch rõ ranh giới, chia rõ phải trái.

Vạch rõ ranh giới là phải nhận rõ ai là bạn, ai là thù? Đối với người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta tức là kẻ thù. Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù. Thế là chẳng những ở ngoài, mà chính ở trong mình ta cũng có bạn và thù. Vì vậy chúng ta cần phải ra sức tăng cường bạn ở trong và ở ngoài, kiên quyết chống lại kẻ thù ở ngoài và ở trong mình ta.

Điều gì phải, thì cố làm cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ.

Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn. Phải yêu và trọng lao động. Phải giữ gìn kỷ luật. Phải bảo vệ của công. Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải chú ý đến tình hình thế giới, vì nước ta là một bộ phận của thế giới, mọi việc trong thế giới đều có quan hệ với nước ta, việc gì trong nước ta cũng quan hệ với thế giới. Thí dụ: Đế quốc Mỹ ép Quốc hội Pháp thông qua hiệp định để Tây Đức vũ trang lại, tức là để gây chiến tranh, nếu có chiến tranh thì sẽ ảnh hưởng không ít đến nước ta. Nhân dân ta ra sức giữ gìn hoà bình, khôi phục lại kinh tế, chống đế quốc Mỹ, như thế là góp phần thiết thực vào việc bảo vệ hoà bình thế giới.

Phải quan tâm đến việc khôi phục và xây dựng lại nước nhà. Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?

Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng.

Cần phải trung thành, thật thà, chính trực.

Những điều nên chống: Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt uỷ mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang.

Thanh niên và xã hội:

– Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội. Trong xã hội cũ có nhiều nọc độc nó làm hại thanh niên. Nhất là văn hoá độc ác của Mỹ, nó dùng mọi cách như sách báo, phim ảnh, v.v… để làm cho thanh niên hư hỏng, truỵ lạc. Thậm chí một số thanh niên hoá ra lưu manh, trộm cắp, cờ bạc, v.v… Vì vậy, sự giáo dục thanh niên phải liên hệ vào dư luận của xã hội, lực lượng của Chính phủ để ngăn ngừa những cái gì có thể ảnh hưởng xấu đến thanh niên, để nâng cao tính cảnh giác của thanh niên.

Trong trường, cần có dân chủ. Đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu. Điều gì chưa thông suốt, thì hỏi, bàn cho thông suốt. Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trò, chứ không phải là “cá đối bằng đầu”. Đồng thời thầy và trò cần giúp đỡ những anh chị em phục vụ cho nhà trường. Các anh chị em nhân viên thì nên thi đua sao cho cơm lành canh ngon để cho học sinh ăn no, học tốt.

Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục thanh niên.

Thanh niên phải chuyên tâm học hành và công tác, nhưng cũng cần có vui chơi.

Vui chơi lành mạnh là một bộ phận trong sự sinh hoạt của thanh niên. Ở trường này, các cháu học tập, ăn ở tập thể đông đảo, trai có, gái có. Các cháu phải thương yêu giúp đỡ nhau như anh em, chị em; đồng thời phải kính trọng nhau như đồng học, đồng chí. Quyết chớ phóng túng, lôi thôi. Phải làm cho cha mẹ các nữ học sinh yên tâm và tin cậy, phải giữ vững danh dự của trường và danh dự của tất cả học sinh. Trong vui chơi cũng có giáo dục. Cần có những thứ vui chơi văn hoá, thể dục có tính chất tập thể và quần chúng.

Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên cần phải chú ý đến giáo dục tư tưởng, thái độ, hoạt động và sinh hoạt hằng ngày của thanh niên để kịp thời khuyến khích, uốn nắn, sửa chữa.

Trường này là Trường Đại học nhân dân, các cháu học với các thầy giáo, đồng thời phải học nhân dân. Trong bộ đội ta, trong dân công và những ngành hoạt động khác, có nhiều thanh niên gương mẫu. Điều đó chứng tỏ rằng thanh niên ta nói chung rất hăng hái, rất tốt. Vài thí dụ: Trong bộ đội có những thanh niên anh hùng như La Văn Cầu, Giáp Văn Khương, Nguyễn Thị Chiên…; ở công trường đường xe lửa có những chiến sĩ gương mẫu như Lê Văn Quy, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Trọng Tuỳ, Lê Văn Phát và nhiều thanh niên khác. Trong thời kỳ kháng chiến, họ là những chiến sĩ du kích anh dũng. Ngày nay trong công cuộc khôi phục kinh tế nước nhà, họ là những chiến sĩ lao động anh dũng. Thanh niên ở các công trường, các nhà máy khác cũng vậy. Như Đoàn Thanh niên xung phong, gặp việc gì khó, việc gì cần, họ cũng đều xung phong. Mong các cháu noi theo những gương thanh niên kiểu mẫu ấy, các cháu cùng thi đua học tập, thi đua tiến bộ, xung phong công tác xã hội, để góp phần vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước, để xứng đáng là lớp đầu tàu của Trường Đại học Nhân dân, để rèn luyện thành chủ nhân xứng đáng tương lai của nước nhà.
Báo Nhân dân, số 326, ngày 21-1-1955

Bài nói chuyện tại Đại hội sinh viên Việt Nam
lần thứ hai (ngày 7-5-1958)

Hồi Bác còn đồng tuổi với các cháu ở đây thì Bác phải đi rửa bát hoặc làm nhiều công việc khác để lấy tiền mà đi học. Vì lúc đó chưa có Đảng, chưa có Hội thanh niên hoặc sinh viên, mà lúc đó nói đến yêu nước là thực dân Pháp nó chặt đầu. Còn bây giờ các cháu có thể phát triển hết khả năng của mình.

Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người.

Các cháu ít hay nhiều cũng có mang cái dấu vết của xã hội cũ, cái tư tưởng tiểu tư sản. Tư tưởng tiểu tư sản là cái gì? Nó là cá nhân chủ nghĩa. Cá nhân chủ nghĩa nó đẻ ra cái tư tưởng danh lợi, chỉ muốn làm ông này ông khác, bà này bà khác. Rồi tư tưởng danh lợi lại đẻ ra con nó, rồi con nó lại đẻ ra cháu nó… tức là hai cái khinh là: khinh lao động chân tay và khinh người lao động chân tay và hai cái sợ là: sợ khó nhọc và sợ khổ.

Muốn sửa chữa cá nhân chủ nghĩa thì khi làm bất kỳ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã. Ta có câu nói: “Có khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau. Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi:

Học để làm gì?

Học để phục vụ ai?

Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình.

Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì cần phải có cái gì?

Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và ta cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại.

Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy, cho nên các cháu trong lúc học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành và tất cả các ngành khác đều phải: lý luận kết hợp với thực hành, học tập kết hợp với lao động.

Lao động trí óc phải kết hợp với lao động chân tay. Học lao động phải có quyết tâm; muốn có quyết tâm thì phải có tinh thần, phải có sáu cái yêu:

Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Yêu nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, biết chia sẻ những lo lắng, những vui buồn, những công tác nặng nhọc với nhân dân.

Yêu chủ nghĩa xã hội: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.

Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.

Yêu khoa học và kỷ luật: Bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỷ luật.

Thời đại chúng ta bây giờ là thời đại vệ tinh nhân tạo, nghĩa là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại xã hội chủ nghĩa, thời đại anh hùng; mỗi người lao động tốt đều có thể trở nên anh hùng (không phải là anh hùng cá nhân). Vậy mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng.


Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, trang 399-trang401

Thư gửi cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường
và các lớp bổ túc văn hóa

Nhân dịp bắt đầu năm học 1960-1961, tôi thân ái gửi lời hỏi thăm các đồng chí cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường.

Mười lăm năm qua, các trường học và nghành giáo dục đã thu được những thành tích tốt. Trong những năm gần đây, các trường học đã tiến bộ trong việc xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa.

Năm học này là năm kết thúc kế hoạch 3 năm và bắt đầu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhằm xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Văn hóa giáo dục phải phát triển mạnh để phục vụ yêu cầu của cách mạng. Văn hóa giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Các đồng chí cán bộ và các cháu phải thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ trên mặt trận ấy.

Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế.

Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất.

Từ trước đến nay, đồng bào ta đã hết lòng giúp đỡ công việc giáo dục. Tôi mong rằng từ nay về sau, đồng bào sẽ cố gắng giúp đỡ nhiều hơn nữa cho trường học và ai cũng tự mình cố gắng học tập.

Thân ái chúc các đồng chí cán bộ giáo dục và các cháu mạnh khỏe, cố gắng nhiều và tiến bộ nhiều.

Ngày 31 tháng 8 năm 1960
HỒ CHÍ MINH
Báo Nhân dân, số 2360, ngày 4 tháng 9 năm 1960

y nghia 2
Bác hồ ký lưu niệm cho sinh viên quốc tế (tháng 9 năm 1961)

Bài nói chuyện tại Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam
ngày 1-9-1961

Tôi thay mặt Đảng và Chính phủ chúng tôi thân ái hoan nghênh các đại biểu.

Nhân dịp này, tôi muốn nói chuyện tóm tắt với các đồng chí tình hình của thế hệ thanh niên già ở Việt Nam cách đây 16 năm về trước. Hãy lấy tôi làm ví dụ:

Về văn hoá: Tôi chỉ học hết lớp tiểu học. Vì chế độ thực dân và phong kiến đã kìm hãm việc giáo dục. Chỉ có một số con em những nhà quyền thế và giàu có mới được học đến trung học và rất ít đến đại học. Dưới thời nô lệ Pháp, năm 1939 là năm nhiều học trò nhất ở xứ Đông Dương. Nhưng tổng số học trò của Việt Nam, Campuchia và Lào cộng lại cũng chỉ có 4 vạn học sinh tiểu học và trung học, 580 học sinh đại học. Còn 95% người dân Đông Dương là mù chữ.

Ngày nay, dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chỉ ở miền Bắc đã có hơn 2 triệu 72 vạn học trò vỡ lòng, tiểu học và trung học, 13.600 học trò đại học và hơn 4.000 học tại các trường cao đẳng ở các nước anh em.

Về hiểu biết phổ thông: Năm 17 tuổi, tôi mới thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 29 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên …

Về chính trị: Hồi đó, thanh niên nào nói đến những chữ bình đẳng, tự do, cách mạng, yêu nước đều bị bọn thực dân và phong kiến coi là phạm tội và bị chúng xử tội, nhẹ là bắt bớ, giam cầm, nặng là tù đày, bắn giết.

Tuy vậy, Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã soi đường cho chúng tôi. Chúng tôi đã không sợ thực dân và phong kiến, mà hăng hái hoạt động cách mạng và cuối cùng cách mạng đã thắng lợi.

Từ sau Thế giới chiến tranh lần thứ hai, nhiều dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đã thoát khỏi ách nô lệ của bọn thực dân đế quốc và thanh niên của các nước ấy đã được bình đẳng, tự do. Tuy vậy, trên thế giới hãy còn nhiều thanh niên vẫn bị áp bức. Ví dụ: một nước tự xưng là giàu có nhất và ”dân chủ” nhất thế giới như nước Hoa Kỳ, mà 10% thanh niên là thanh niên Mỹ da đen vẫn bị ngược đãi như nô lệ đời xưa.

Vì vậy cho nên thanh niên toàn thế giới cần phải đoàn kết nhau lại, tin tưởng vào khả năng đấu tranh của mình và hoà mình với công nhân và nông dân để đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, trước hết là đế quốc Mỹ – một đế quốc hung ác nhất, đấu tranh để giữ gìn hòa bình thế giới, để thực hiện hợp tác anh em giữa tất cả các dân tộc để xây dựng đời sống hạnh phúc, vui tươi.

Một nhiệm vụ quan trọng nữa của thanh niên trí thức là phát triển giáo dục, trước hết là xoá nạn mù chữ. Theo con số của Liên hợp quốc thì cuối năm ngoái số người mù chữ ở châu Phi là 80%, ở Haiti, châu Mỹ là 89%, ở Ấn Độ là 81%, v.v…, đó là gia tài đen tối do thực dân, đế quốc để lại. Trong cuộc đấu tranh diệt giặc dốt, quân chủ lực phải là thanh niên trí thức, dựa vào lực lượng to lớn của nhân dân.

Các đồng chí và các bạn thân mến,

Thời đại này là thời đại vẻ vang của thanh niên. Mà thanh niên phải là những đội xung phong trên các mặt trận chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Thanh niên đã thực hiện những điều mơ ước của loài người từ bao thế kỷ. Lần đầu tiên trong lịch sử, hai thanh niên Liên Xô là đồng chí Gagarin và Titốp đã thành công rực rỡ trong việc đưa hai con tàu vũ trụ chọc thủng bầu trời, bay quanh quả đất.

Thanh niên ngày nay cũng là thế hệ sung sướng nhất. Như trong bản dự án Cương lĩnh của Đại hội lần thứ XXII của Đảng Cộng sản Liên Xô đã nói: ở Liên Xô thế hệ này sẽ sống dưới thế hệ cộng sản.

Đời sống hạnh phúc vui tươi của nhân dân và thanh niên Liên Xô chắc chắn sẽ là đời sống hạnh phúc vui tươi của nhân dân và thanh niên khắp thế giới, nếu nhân dân và thanh niên thế giới đều ra sức đoàn kết đấu tranh.

Tôi nói như vậy không phải vì tôi muốn tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản đâu. Mà đó là những lời tâm sự của một người thanh niên già đã có một ít kinh nghiệm, thật thà bày tỏ với các bạn thanh niên yêu quý của tôi.

Cuối cùng tôi chúc Hội nghị thành công tốt đẹp và nhờ các bạn đại biểu chuyển đến thanh niên khắp thế giới lời chào thân ái nhất của Bác Hồ.

_______________

(*) Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế về “Vai trò các tổ chức sinh viên trong việc phát triển nền giáo dục dân tộc”, họp từ ngày 29-8 đến ngày 2-9-1961, tại Hà Nội.

Báo Nhân dân, số 2721, ngày 2-9-1961.

            Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho học sinh – sinh viên Việt Nam vẫn mãi còn nguyên giá trị như thủa nào. Những di huấn này là tình cảm, là tư tưởng, là lời dạy, là định hướng cho lớp người sẽ làm chủ tương lai của đất nước và đó cũng luôn là kim chỉ nam cho các thế hệ thanh niên sinh viên Việt Nam hiện nay luôn cố gắng phấn đấu học tập và rèn luyện đạo đức theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh một tấm gương bình dị mà cao quý

Bác HồAi được tiếp xúc với Hồ Chí Minh hầu như đều có ấn tượng mạnh mẽ về sức hút mãnh liệt, sự lôi cuốn và sức thuyết phục lớn lao toát ra từ nhân cách của Người. Tại sao lại như vậy?

Theo Thủ tướng Phạm Văn Đồng quan sát và nhận định:

“Bình sinh Hồ Chủ tịch rất giản dị, lão thực. Vĩ nhân, thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị, lão thực. Đã cầu kỳ là thiếu bản lĩnh, cố làm trò để đánh lừa thiên hạ và hậu thế”.

“Vĩ nhân” hay”Thiên tài”, hoặc “Lãnh tụ vĩ đại” đều là sự tôn vinh của dân ta và nhân loại đối với Người, bởi những cống hiến vĩ đại của Người cho dân tộc và nhân loại. Theo lẽ phải thông thường, những phẩm chất tốt đẹp, chất lượng cao của con người vẫn được hàm chứa thể hiện trong những hình thức nổi bật, phong cách khác thường, xuất chúng. Nhưng, vượt lên trên sự thông thường đó, trong đời sống hiện thực, Hồ Chí Minh sống và làm việc với các cán bộ, đảng viên, đồng bào và chiến sỹ với một phong cách bình dị nhất. Sự khác thường ở Người chính là những phẩm chất cao đẹp đến mức vĩ đại thì lại trở nên bình thường, giản dị và gần gũi nhất đối với con người. Cái vĩ đại đi liền với sự giản dị, trở thành bình dị mà cao quý. Bởi trong phong cách khiêm nhường, giản dị Hồ Chí Minh chứa đựng cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp, cái trí mẫn tiệp, cái hành mực thư­ớc – Phong cách của một lãnh tụ đồng thời là Nhà văn hoá kiệt xuất  Một nhân tố có tính quyết định làm nên uy tín  lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, tạo nên niềm tin của nhân dân với Người.

Sau gần 30 năm sống, hoạt động ở nước ngoài, trong đó từng có thời gian sống hoạt động khá lâu tại 5 cường quốc thế giới là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh và Pháp, song khi trở về nước, Người vẫn giữ phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một người Việt Nam với ham muốn cháy bỏng là mở đường cho dân tộc có thể tiến lên sánh vai cùng với các cường cuốc năm châu. Sống nhiều ở nước ngoài, biết nhiều ngoại ngữ, khiến Người không chỉ kế thừa cái ý nhị trong ngôn ngữ của dân quê và kẻ sĩ Việt Nam, mà còn làm cho nó trong sáng, phong phú hơn lên với những nội dung tư tưởng, văn hoá hết sức mới mẻ, tiên tiến và hiện đại. Lời kêu gọi, văn thơ của Người không chỉ là tiếng nói hào hùng của núi sông Việt Nam, phảng phất hương vị ca dao, tục ngữ người Việt mà còn có những chân lý lớn của thời đại dưới dạng những châm ngôn và minh triết như: Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Còn trong giao tiếp thường ngày với nhân dân, thái độ, lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh thân thiết như đối với người trong gia đình. Trong một dịp Tết Người đến thăm nhà chị Chín làm công nhân khuân vác ở Văn Điển. Chị Chín vô cùng ngạc nhiên khi thấy Chủ tịch nước đến thăm nhà một người dân nghèo túng như mình. Song, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:

“Bác không tới thăm những người như mẹ con thím, thì còn thăm ai!”.

Đây thực sự là một bài học về sự quan tâm của Lãnh tụ Đảng, Nhà nước với người dân nghèo.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể rằng lối ăn, ở của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất giản dị. Lúc ở chiến khu, Người sống chung với anh em trong một cơ quan, làm việc, học tập, ăn ở, sinh hoạt đều như anh em. Người thích đi bộ, tắm sông, hút thuốc lá và thỉnh thoảng uống một ly rượu thuốc trong bữa cơm. Lúc ở rừng, Hồ Chí Minh chủ trương tránh ăn no, không ngủ trưa và vận động nhiều. Buổi sáng thể dục, buổi chiều làm vườn, lúc cần thì đi vác củi cho đồng bào. Trong suốt thời gian ở thượng du Bắc Bộ trước Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, nhiều ngày Người luôn tay nắn một hòn đá tròn bầu dục, cốt để luyện gân tay và hoạt động cơ thể. Người ít thích dùng thuốc, chỉ lúc nào sức cơ thể chống không nổi bệnh thì mới dừng. Khi về Hà Nội, Chủ tịch nước có phòng làm việc, phòng tiếp khách, nhiều khi chủ tọa những bữa tiệc long trọng, nhưng bình thường ngày hai bữa, Chủ tịch nước cùng nhân viên đều ăn chung. Nhiều lần, vì đến quá trễ, thức ăn không còn gì,  Hồ Chí Minh vẫn vui cười ăn đủ mấy bát cơm như thường lệ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người giản dị, đồng thời cũng là người lịch sự một cách thanh tao cao quý. Những người ngoại quốc có dịp tiếp chuyện Hồ Chí Minh đều ca ngợi cái phong độ thanh tao cao quý của Người. Trong phong cách đó, vừa có nét đặc sắc của văn hoá Phương Đông mà cũng không hề xa lạ với văn hoá Phương Tây, là sự kết hợp hài hoà cái tinh tuý của Phương Đông với cái tinh hoa của Phương Tây.

Từ năm 1923, khi nhà thơ, nhà báo Nga Ô-xíp Man-đen-xtam gặp Nguyễn Ái Quốc lúc đó 33 tuổi, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, từ Pháp sang Nga hoạt động, đã có nhận xét rằng:

“Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang toả ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị…Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai…Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”1.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Anh Giôn Gô-lan có nhận xét sau khi làm việc với Chủ tịch Đảng Hồ Chí Minh rằng:

“Được gặp gỡ và nói chuyện với đồng chí Hồ Chí Minh là một ấn tượng không thể nào quên được. Đây là một con người vĩ đại nhưng không bao giờ tỏ ra mình là một con người vĩ đại. Mặc dầu có những trọng trách phải gánh vác, Người vẫn thân ái, nhiệt tình và sôi nổi làm cho bạn cảm thấy thoải mái”2.

Tìm hiểu cả cuộc đời Hồ Chí Minh, Nhà nghiên cứu Ê-len Tuốc-me-rơ, trong tác phẩmTrở thành người Bác như thế nào? xuất bản ở Béc-lin, Đức, đã viết:

“Ở con người Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy biểu hiện của nhân vật cao quý nhất, bình dị nhất và được kính yêu nhất trong gia đình mình… Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lê-nin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”.

Là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh có quyền hưởng thụ vật chất theo vị thế tối cao của mình, nhưng Người đã thắng bản năng hưởng thụ thường có của con người nhất là khi có chức lớn, quyền to lâu dài, tự tránh xa đặc quyền, đặc lợi, sống một đời hết sức bình dị. Một đời sống cần kiệm liêm chính, chí công vô tư thực sự như Người cho đến nay hiếm có ai thực hiện được, Người trở thành công bộc số 1 tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân. Người từng tâm sự Chủ tịch của một nước nghèo nên không thể có một cuộc sống khác. Người vượt qua những ham muốn thông thường ở con người, kiên cường tranh đấu để mưu cầu độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, dân chủ, tự do, hạnh phúc cho toàn dân ta.

Năm 1954, từ Chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, Người không lên ở trên ngôi nhà lớn hoành tráng, sang trọng vốn là Phủ toàn quyền Đông Dương trước đây, mà chỉ chọn ở trong ngôi nhà nhỏ cấp 4 tầm thường của người thợ điện suốt 4 năm trời. Đến năm 1958, khi hầu hết cán bộ của ta đã có nhà ở theo tiêu chuẩn cấp bậc, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh vẫn sống trong ngôi nhà của người thợ điện. Bộ Chính trị quyết định xây nhà cho Người. Khi đồng chí Trưởng đoàn của Công ty 590 của Quân đội được Trung ương giao nhiệm vụ xây nhà cho Chủ tịch nước, trình Người bản thiết kế. Xem Bản thiết kế, Người hỏi;

Các chú xây nhà cho ai ở? Đồng chí Trưởng đoàn thưa:

Xây nhà cho Bác ở ạ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

Các chú làm nhà to các chú ở. Làm nhà cho Bác làm nhỏ thôi.

Thế là phương án xây biệt thự cho Người không thành. Khi Người đi công tác, một ngôi nhà sàn bằng gỗ mộc bình thường đã được dựng lên. Tầng trên chỉ có 2 phòng, mỗi phòng hơn 9m2. Một phòng ngủ, một phòng làm việc. Tầng dưới kê một bộ bàn nhiều ghế để thỉnh thoảng Chủ tịch Đảng họp Bộ Chính trị, hoặc tiếp các cháu thiếu nhi. Ngôi nhà sàn nhỏ đó không nổi tiếng nguy nga tráng lệ như nhiều dinh thự của các vua chúa hoặc nguyên thủ quốc gia, nhưng nó lại sống mãi trong lòng mỗi người tới thăm. Vì chính ngôi nhà người ở là hiện thân của cuộc sống bình dị, của đức tính bình dị mà cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Xan-va-đo Xa-phích Ho-rê-hơ Ha-den nhận xét rằng:

“Vào thăm ngôi nhà sàn của Người, tôi càng cảm thấy đồng chí Hồ Chí Minh như vẫn sống. Từng chi tiết nhỏ cũng như toàn bộ ngôi nhà đều ánh lên sự thông thái của Người và còn nguyên dấu vết cuộc đời của một con người đầy tình yêu nhân dân, đầy yêu thương con trẻ, dào dạt tình yêu Tổ quốc, yêu thương người lao động, yêu Đảng, yêu chủ nghĩa xã hội và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Ngôi nhà nhỏ bé giản dị của Bác Hồ chứa đựng một bài học hùng hồn và rõ ràng về đức tính khiêm tốn cách mạng, trí thông minh, bình tĩnh, phục vụ nhân dân và sự nghiệp giải phóng, kiên quyết lên án mọi biểu hiện sùng bái cá nhân”3.

Thực ra việc học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là không thể làm được. Người Việt Nam nào cũng hiểu Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người bình dị và cao quý. Người bình dân mộc mạc lại còn hiểu  Chủ tịch Hồ Chí Minh dễ hơn người khác để có thể học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Song, nhân dân kỳ vọng đội ngũ cán bộ, Đảng viên, mà trước hết là những người lãnh đạo, quản lý từ cao cấp nhất trở xuống đi đầu học tập và làm theo  phong cách bình dị mà cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân noi theo./.

  PGS,TS Nguyễn Thế Thắng
Theo 
http://tutuonghochiminh.vn
Thu Hiền (st)


1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 478-479.

2 Báo Quân đội nhân dân, 15-11-1969.

3 Hồ Chí Minh một nhân cách hoàn hảo, NXB Công an nhân dân, 2005, tr111-112.

bqllang.gov.vn

Trường học của Bác

Chuyện kể về NgườiCó lần, nhân câu chuyện kể với các bạn trẻ trong Khu Phủ Chủ tịch, Bác Hồ nói: “Các cô, các chú bây giờ đi học có trường, có bàn ghế, có thầy cô, bạn bè, sách vở, giấy bút, có giờ giấc đoàng hoàng. Tối đến có đèn điện, thế mà học một năm không lên được một lớp là không đúng. Ngày xưa, lúc Bác đang tuổi các cô, các chú thì tất cả bàn ghế, thầy, bạn, sách vở, giấy bút chỉ có trong bàn tay này thôi”. Bác giơ bàn tay trái lên nói tiếp: “Hồi ấy Bác làm bồi tàu, làm người quét tuyết ở Anh rồi đi làm phụ bếp. Làm việc từ sáng đến tối, suốt ngày không được cầm đến tờ báo mà xem. Đến đêm mới hết việc, mới được đọc sách, đọc báo. Ban ngày muốn học chỉ có một cách là viết chữ lên mảnh da tay này. Cứ mỗi buổi sáng viết mấy chữ rồi đi cọ sàn tàu, cọ thùng, đánh nồi, rửa bát, thái thịt, băm rau, vừa làm vừa nhìn vào da bàn tay mà học. Hết ngày, người thì mồ hôi đầm đìa, chữ cũng mờ đi, cuối buổi đi tắm mới xoá được chữ ấy đi. Coi như đã thuộc. Sáng mai lại ghi chữ mới”.

Sách “Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta” gồm nhiều hồi ký của các bạn Pháp viết, Nhà xuất bản Xã hội Pari in năm 1970 có trích một đoạn Bác trả lời phóng viên A.Kan (Báo Nhân Đạo của Đảng Cộng sản Pháp) như sau: “Tôi không có hạnh phúc được theo học ở trường đại học. Nhưng cuộc sống đã cho tôi cơ hội học lịch sử, khoa học xã hội và ngay cả khoa học quân sự. Phải yêu cái gì? Phải ghét cái gì? Cũng như tôi, tất cả người Việt Nam cần phải yêu độc lập, lao động, Tổ quốc”.

“Tất nhiên không phải riêng tôi mà toàn thế giới đều kính trọng những nhà báo chân chính. Tôi cũng có thời gian học làm báo, cũng có thời gian tôi bỏ ngòi bút, cầm súng để chống lại kẻ thù, chống lại chủ nghĩa thực dân. Khi tôi còn ở Pháp, khi còn biết ít tiếng Pháp tôi đã là Tổng Biên tập, Biên tập và phát hành cả một tờ báo”.

Bác thường nói với cán bộ: “Học thêm được một thứ tiếng nước ngoài coi như có thêm một chìa khoá để mở thêm một kho tàng tri thức. Việc học là việc suốt đời”.

Theo Ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Việc nhỏ, ý nghĩa to

Đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịchSinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến phong trào “Người tốt, việc tốt”

Ngày 24-11-1954, trên Báo Nhân Dân số 271, với bút danh C.B, Người viết bài “Việc nhỏ, ý nghĩa to”, nêu ý kiến nhận xét nhân việc các báo ở Thủ đô Hà Nội đăng tin nêu gương người tốt, việc tốt. Người yêu cầu “cần khen thưởng đúng mức để động viên mọi người hăng hái làm việc ích nước lợi nhà”.

Năm 1954, khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Bác yêu cầu báo Đảng và của các đoàn thể mở ra mục: “Người tốt, việc tốt”. Bác nói: Đối với anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua được Đảng và Nhà nước khen thưởng thì phải qua nhiều cấp, nhiều ngành cân nhắc, xét duyệt. Còn với người tốt làm những việc tốt thì được khen thưởng có thể đơn giản hơn. Nếu Trung ương cho phép Bác làm, thì Bác nghe báo cáo, đọc báo và chỉ cần điều tra lại một chút cho đúng sự thật là Bác có thể thưởng Huy hiệu.

Theo Bác Hồ, “người tốt, việc tốt”, là những bông hoa đẹp trong vườn hoa đẹp của dân tộc. Người cho rằng, người tốt, việc tốt ở đâu cũng có, ngành giới nào, địa phương nào, lứa tuổi nào cũng có. Những việc làm của họ, dù nhỏ, nhưng giống như những giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng thành suối, thành sông và hợp thành biển cả… có một ý nghĩa lớn lao, thể hiện tinh thần trách nhiệm cũng như lòng nhân ái “thương người như thể thương thân”, “mình vì mọi người” của nhân dân ta.

Người minh họa, có cháu gái tên là Xuân ở Quảng Bình đã chiến đấu dũng cảm, góp phần bắn rơi máy bay Mỹ. Có những cụ ông, cụ bà chuyên nhận những con trâu ghẻ, trâu gầy của hợp tác xã chăn nuôi thành những con trâu béo khỏe có thể kéo cày, kéo gỗ được. Hay, hai cô con gái đi đường thấy cái hố nhỏ ở vỉa hè đã rủ nhau đi lấy đất lấp lại cho đồng bào khỏi vấp ngã. Một người nông dân đi giữa đường trời mưa thấy bao gạo của Nhà nước không có gì che phủ, đã cởi tấm ni-lông của mình ra đậy gạo cho Nhà nước. Tất cả những việc làm như vậy đều nói lên tinh thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục của nhân dân ta.

Theo Bác, một người phải biết học nhiều người. Lấy gương tốt trong quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên để giáo dục lẫn nhau, lấy quần chúng giáo dục quần chúng rất sinh động và có sức thuyết phục rất lớn. Đó cũng là một cách thực hành đường lối quần chúng trong công tác giáo dục. Chính những tấm gương người tốt việc tốt là động lực để mọi người cùng nhau phấn đấu, để cùng nhau trở thành những bông hoa trong vườn hoa người tốt việc tốt, cùng nhau trở thành những anh hùng đấu tranh dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Một cách giải thích khéo

Việt Nam - Hồ Chí MinhBác Hồ đã viết bài “Một cách giải thích khéo”, nêu tấm gương của một nữ cán bộ tuyên truyền, do có cách giải thích khéo nên ai nghe cũng hiểu.

Ngày 27-11-1951, trên Báo Cứu quốc số 1958, với bút danh Đ.X, Bác Hồ đã viết bài “Một cách giải thích khéo”, nêu tấm gương của một nữ cán bộ tuyên truyền, do có cách giải thích khéo nên ai nghe cũng hiểu, cũng vui và khuyên cán bộ tuyên truyền nên học tập.

Theo Bác Hồ, tuyên truyền cách mạng là một hoạt động thống nhất trên ba mặt: Thứ nhất là nhận thức về mục đích và vai trò của tuyên truyền. Thứ hai là phương pháp tuyên truyền. Thứ ba là yêu cầu đối với người làm công tác tuyên truyền. Cả ba mặt luôn luôn thống nhất, liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, nhận thức mục đích đóng vai trò chủ đạo, chi phối trực tiếp đến mọi phương pháp hoạt động tuyên truyền. Quá trình từ nhận thức đến phương pháp tuyên truyền đều thông qua con người cụ thể. Do đó, người tuyên truyền đóng vai trò có ý nghĩa quyết định.

Trong công tác tuyên truyền, Bác Hồ thường nói: Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại. Muốn thành công phải biết cách tuyên truyền; phải biết cách nói. Nói thì phải đơn giản, rõ ràng, thiết thực. Phải có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được. Chớ dùng những danh từ lạ, ít người hiểu. Chớ nói ra ngoài đề, chớ lắp đi lắp lại. Chớ nói qua một tiếng đồng hồ, vì nói dài thì người ta chán tai, không thích nghe nữa.

Nhiều lần nói chuyện với anh em cán bộ tuyên truyền, Bác căn dặn: “Anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe”. Trong công tác tuyên truyền liên quan đến chính sách đối ngoại, Bác nhắc: “Các báo và các ban tuyên truyền nên hướng dẫn lòng yêu nước và chí cương quyết cố giành độc lập hoàn toàn của đồng bào một cách ôn hoà, bình tĩnh có lợi cho ngoại giao…”.

Bác cho rằng, khi tuyên truyền phải nắm vững đối tượng tuyên truyền. Nếu “người tuyên truyền không điều tra, không phân tích, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại”. Người cũng lưu ý rằng: “Dân chúng không nhất luận như nhau, trong dân chúng cũng có nhiều tầng lớp khác nhau, ý kiến khác nhau, có lớp tiên tiến, có lớp lưng chừng, có lớp lạc hậu”. Đối với mỗi tầng lớp đối tượng, Người yêu cầu phải có phương thức tuyên truyền thích hợp và phải chú trọng ưu tiên cho lớp đối tượng có trình độ nhận thức, trình độ văn hóa thấp. Vì đối tượng này hiểu được thì các đối tượng khác cũng nắm bắt dễ dàng.

Những lời nói, bài viết của Bác Hồ về công tác tuyên truyền là rất gần gũi và phù hợp. Học và làm theo những lời Bác dạy sẽ giúp cho công tác tư tưởng, tuyên truyền ngày càng hiệu quả.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tích cực và nóng nảy

Lời của Bác - Lời của non sôngCách đây 60 năm, trên Báo Nhân Dân, số 150, từ ngày 26 đến 30-11-1953, trong bài báo “Tích cực và nóng nảy” (bút danh C.B), Bác phân tích:

“Tích cực là gắn liền khí khái cách mạng với tinh thần thực tế. Tích cực thì mọi việc đều thành công. Nóng nảy là một thứ bệnh tiểu tư sản, làm việc mà nóng nảy thì nhất định thất bại” và kết bằng câu thơ: “Tích cực, thì sẽ thành công/ Nóng nảy, kết quả sẽ không ra gì”.

Bác cho rằng: “Tính cực là bất kỳ việc gì cũng vui vẻ hăng hái, có tinh thần phụ trách, vượt mọi khó khăn, quyết làm tròn nhiệm vụ. Đối với mọi việc đều điều tra cẩn thận, nghiên cứu rõ ràng, dựa theo hoàn cảnh thiết thực, có kế hoạch, có từng bước, tỉnh táo, bền bỉ, không chủ quan. Thế là tích cực. Mà như thế thì mọi việc đều thành công”.

Còn “nóng nảy là việc gì cũng chủ quan, không điều tra nghiên cứu kỹ lưỡng, vội vàng, muốn làm cho mau, làm ẩu. Thiếu kiên nhẫn, thiếu tinh thần chịu khó”. Do vậy, “chúng ta phải tránh tính nóng nảy, phải nâng cao tinh thần tích cực”.

Trong giao tiếp, ứng xử, Bác cũng để lại rất nhiều bài học quý giá. Tự bản thân Bác đã nêu gương. Có một sĩ quan của ta tuy có tài mưu lược, dũng cảm, nhưng mắc khuyết điểm nóng nảy, thô bạo với chiến sĩ. Khi biết, Bác không hài lòng. Bác muốn dạy cho người chỉ huy này bài học để trở nên tốt hơn. Bác cho gọi người chỉ huy này đến gặp vào một ngày trưa hè nắng như đổ lửa. Bác không cho vào ngay mà dặn đồng chí ở trạm gác: Nếu đồng chí đó đến thì đừng cho vào vội, đúng giờ Ngọ hãy cho vào gặp, Bác đợi. Đi rất xa, đường nắng, nhễ nhại mồ hôi, 12 giờ, Bác mới cho vào gặp, vào đến nơi đã thấy Bác ngồi đợi, Bác rót sẵn cốc nước sôi và nói: “Chú uống nước đi”. Khi người chỉ huy bày tỏ sự không thể uống ngay nước nóng được, Bác mới nhẹ nhàng nói: “Bác rất buồn khi được báo cáo rằng chú hay đánh đập chiến sĩ lắm, xúc phạm họ. Nước nóng chú không uống được, Bác cũng không uống được. Tại sao chú lại nóng với chiến sĩ như vậy?” Người chỉ huy đó nhận ra lỗi lầm và không bao giờ tái phạm nữa.

Với Bác Hồ, làm tốt những điều nhỏ nhất, là để hoàn thiện cái lớn nhất. Do vậy, chúng ta phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, đúng như lời Người căn dặn: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày Xuân thấm thía lời Bác: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

Cách mạng Tháng TámNgày nay, đất nước đã im tiếng súng song chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”  vẫn còn nguyên giá trị, vẫn tiếp tục được phát huy. Độc lập, tự do hiện nay là phải làm sao để đất nước vừa mở rộng hợp tác quốc tế nhưng vừa giữ vững được quyền tự chủ về kinh tế, về chính trị, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia và tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mỗi người dân.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”! Đó là mục tiêu, là lẽ sống của dân tộc ta được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết từ chính thực tiễn Việt Nam. Điều đó đã trở thành chân lý. Năm 1966, khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” Lời của Bác đã trở thành quyết tâm sắt đá của mỗi người dân đất Việt.

Trải qua những năm dài chìm trong đêm trường nô lệ, người dân nào cũng thấu hiểu nỗi nhục mất nước. Nước mất độc lập thì dân đâu còn có tự do? Đất nước bị mất tên trên bản đồ thế giới, mọi quyền hành rơi vào tay kẻ cai trị bạo tàn, nhân dân sống đời nô lệ, tăm tối, bị áp bức, bóc lột đến tận xương tuỷ, đói khổ lầm than! Từ thực tế ấy không chỉ riêng Bác Hồ mà là cả dân tộc Việt Nam đều nhận thấy “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là một chân lý vĩnh hằng. Độc lập, tự do trong tư tưởng Hồ Chí Minh phải là độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn chứ không phải là thứ độc lập giả hiệu, độc lập nửa vời. Độc lập đó phải gắn với quyền tự quyết dân tộc, gắn liền với thống nhất đất nước, đảm bảo chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại mọi sự chia cắt. Độc lập đó cũng phải gắn với tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, gắn với chủ nghĩa xã hội. Độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân là tiền đề để đi đến CNXH; còn CNXH sẽ là cơ sở, là điều kiện để giữ vững sự độc lập, tự do ấy. Nếu nước được độc lập mà dân không được ăn no mặc ấm, không được hạnh phúc thì cũng chẳng có nghĩa lý gì. “Không có gì  quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành chân lý, mục tiêu, lý tưởng của cả dân tộc Việt Nam và chính Hồ Chí Minh – người khái quát nên chân lý ấy, hơn ai hết đã hy sinh cả cuộc đời mình cho lý tưởng cao đẹp này. Suốt ba mươi năm bôn ba tìm đường giải phóng cho dân tộc, mang lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân, biết bao hiểm nguy, gian khó, Người vẫn luôn khẳng định mà không hề nao núng rằng “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn”. Người luôn tâm niệm một điều duy nhất là “làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.  Rồi đến khi về nước, lúc thì phải ẩn mình nơi hang đá, lúc phải đối mặt với những nguy cơ thách thức khốc liệt, Người luôn luôn chỉ nghĩ đến đất nước, đến nhân dân mà quên chính bản thân mình.

Khi Tổ quốc chưa được giải phóng hoàn toàn, Bác không lo cho hạnh phúc của riêng mình. Cả đến giấc ngủ cũng trằn trọc không yên vì “thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, trải lá cây làm chiếu, manh áo phủ làm chăn, trời thì mưa lâm thâm, làm sao cho khỏi ướt”. Lòng Bác cứ nặng trĩu vì nhân dân, vì Tổ quốc mà quên nghĩ đến bản thân. Cuộc đời của Người là một tấm gương hy sinh quên mình vì lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Ngay cả lúc ốm thập tử nhất sinh Người vẫn dặn dò: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”! Một tấm gương, một con người mà cả thế giới nghiêng mình cảm phục!

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, câu nói tuy ngắn gọn nhưng ý nghĩa thật bao trùm, trong mọi trường hợp đều có thể tóm được “mẫu số chung” trong câu nói nổi tiếng ấy. Với một cá nhân, một đơn vị, một ngành, một địa phương hay trong phạm vi một quốc gia nào cũng đều đúng cả. Trong cuộc sống, trong công tác và nhất là trong các mối quan hệ, một khi ai đó phải lệ thuộc vào người khác về tình cảm, về vật chất hay về ơn huệ, nói chung ít nhiều đều tự mình làm mất đi một phần độc lập, tự do của mình. Một người nhận hối lộ, tất không thể độc lập, tự do giải quyết vấn đề một cách vô tư…

Với câu nói của Bác, độc lập, tự do mang ý nghĩa thật lớn lao và đó là sinh mệnh của cả đất nước, dân tộc. Để có được độc lập, tự do, điều tất yếu là phải hiến dâng xương máu cho cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do; phải chiến đấu và chiến thắng để bảo vệ nền độc lập, tự do ấy. Trên bước đường tranh đấu với lý tưởng độc lập, tự do, thời gian và công việc là liều thuốc thử để nhận rõ phẩm chất, ý chí và lòng trung thành của mỗi người dân cũng như với cả dân tộc. Lịch sử từng hơn một lần chứng minh rằng, cái giá mà dân tộc ta phải trả để giành được độc lập, tự do là không hề nhỏ. Chính vì thế mà chúng ta càng phải nâng niu, quý trọng và đồng tâm dốc sức vì nền độc lập, tự do vẹn toàn và mãi mãi của đất nước; triệu người như một, quyết không khuất phục trước bất kỳ một thế lực phản động nào. Trong suốt cuộc đời cao đẹp của mình, dù ở hoàn cảnh nào Bác Hồ cũng nêu cao tinh thần độc lập, tự do. Chính lý tưởng đó tạo nên nghị lực phi thường, niềm tin sắt đá của Bác trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước. Sau này, với cương vị Chủ tịch nước, một lần nữa Bác tiếp tục khẳng định giá trị của độc lập, tự do bằng câu nói bất hủ: Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập, tự do…

Ngày nay, đất nước đã im tiếng súng song chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”  vẫn còn nguyên giá trị, vẫn tiếp tục được phát huy. Độc lập, tự do hiện nay là phải làm sao để đất nước vừa mở rộng hợp tác quốc tế nhưng vừa giữ vững được quyền tự chủ về kinh tế, về chính trị, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia và tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mỗi người dân. Để phát huy tinh thần này chúng ta cần phải ra sức hành động, xây dựng đất nước giàu mạnh. Phải đẩy mạnh CNH, HĐH để đưa nền kinh tế đất nước phát triển nhanh, tiến kịp với các nước trên thế giới. Phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu, đồng thời phải thường xuyên chăm lo củng cố quốc phòng an ninh, sẵn sàng đánh bại mọi hoạt động, âm mưu bạo loạn, lật đổ, xâm lược; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ công cuộc lao động hoà bình của nhân dân ta. Cần phải phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong mỗi người để nhân dân có thể tự ý thức được trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng chính trị về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau trong ” Di chúc ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa Xuân”Bác Hồ – Người là tình yêu tha thiết trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác hy sinh cho dân tộc Việt Nam.” Bác Hồ – vị cha già dân tộc  muôn vàn kính yêu đã rời xa chúng ta đến nay đã hơn 40 năm.Trước lúc đi xa, Người để lại bản ”Di chúc’‘ với muôn vàn tình thương yêu cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và căn dặn những công việc phải làm.

Bác Hồ viết Di chúc nhân kỷ niệm 75 tuổi, trong điều kiện tinh thần minh mẫn và sáng suốt. Trong vòng 4 năm, Bác Hồ đã 5 lần sửa chữa bản thảo và lần cuối vào ngày 10 tháng 5 năm 1969, khi ấy Bác ở tuổi 79. Di chúc được công bố sau khi Bác mất (9/1969), sau này được công bố toàn văn.

Người viết Di chúc có 3 phần. Phần mở đầu như một tuyên ngôn về lý do Người viết Di chúc: đó là lời khẳng định sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả nước và nhiệm vụ của Người sau khi đất nước thống nhất. Phần nội dung là toàn bộ những lời căn dặn lại đối với Đảng, Nhà nước và đồng bào chiến sĩ về những việc cần phải làm để đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược. Phần kết luận: Đó là lời vĩnh biệt và mong muốn cuối cùng của Người trước lúc đi gặp các cụ CácMác – Lênin.

Toàn bộ tác phẩm ”Di chúc” mà Người để lại có rất nhiều nội dung quan trọng, trong đó có nội dung về vấn đề chăm lo thế hệ cách mạng cho đời sau. Ngay từ những ngày cách mạng còn trong trứng nước, cùng với việc tổ chức ”Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng”, gửi người học vào trường Quân sự Hoàng Phố, cử đi đào tạo tại Matxcơva, Bác đã trực tiếp nuôi dạy nhóm thanh niên Việt Nam từ Thái Lan sang, tất cả đều mang họ Lý của Lý Thụy (tên hoạt động của Bác Hồ), trong đó Lý Tự Trọng đã trở thành người đoàn viên thanh niên cộng sản đầu tiên, được Đảng cử về nước để chuẩn bị tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản sau này. Cho đến những năm tháng cuối đời trong ”Di chúc”, phần viết về ”Đoàn viên và thanh niên ta”, Bác Hồ tha thiết căn dặn ”Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa ”hồng” vừa ”chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết’‘. Tư tưởng này của Người là sự kế thừa quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin. Mác viết: ”Bộ phận giác ngộ nhất trong giai cấp công nhân nhận thức rõ ràng tương lai của giai cấp họ và do đó, tương lai của cả loài người, hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên”. Lênin viết:”Theo một nghĩa nào đó, có thể nói rằng nhiệm vụ thật sự xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa chính là của thanh niên”…” Chỉ có cải tổ triệt để việc tổ chức và giáo dục thanh niên thì chúng ta mới có thể, bằng những cố gắng của thế hệ trẻ, đạt được kết quả là xây dựng nên một xã hội không giống xã hội cũ, tức là xã hội cộng sản”Chúng ta phải đào tạo ra  những công dân tốt, cán bộ tốt cho nước nhà. Đó là trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang. Nói một cách khác, trong tư tưởng Hồ Chí Minh,  sự nghiệp ”trồng người” là một chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng, một quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. ”Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.  Người không nói những điều to tát, nhưng thật thấm thía ”Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. ”Non sông Việt Nam có thể trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do thanh niên. Thanh niên là người tiếp sức cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai, là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là lực lượng cơ bản trong quân đội, công an, dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự an ninh, tổ quốc. Thanh niên là cầu nối giữa các thế hệ: Kế tục sự nghiệp của lớp người đi trước đồng thời bồi dưỡng, dìu dắt thế hệ đàn em…Do đó, một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Bởi không một quốc gia nào có thể tiến hành xây dựng một chế độ xã hội mới và bảo vệ Tổ quốc thành công trong điều kiện văn hóa, dân trí, đạo đức, tinh thần xã hội lại thấp kém.

Sự nghiệp cách mạng, sứ mệnh của Đảng thì lâu dài mà cuộc đời của mỗi thế hệ thì ngắn ngủi. Bác nói ”Theo quy luật tự nhiên, già thì phải yếu, yếu thì phải chết. Nếu không có cán bộ mới thì ai gánh vác công việc của Đảng?”. Bởi vậy, chăm lo ”bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” là một việc làm kiên trì suốt đời của Bác Hồ.

”Muốn có chủ nghĩa xã hội thì trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Thực hiện theo lời căn dặn của Hồ Chủ tịch trước lúc đi xa, ngày nay chúng ta phải làm tốt hơn nữa việc chăm lo ”bồi dưỡng cách mạng cho đời sau”, nhất là ở thời điểm chủ nghĩa xã hội đang thoái trào, hệ chủ nghĩa xã hội đang bị hạ thấp, xuyên tạc, mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự suy thoái về đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền…đang làm suy giảm niềm tin của thế hệ trẻ vào tương lai của chủ nghĩa xã  hội. Vì vậy, để đào tạo các thế hệ chiến sĩ cách mạng cho đời sau cũng không chỉ nhấn mạnh một mặt riêng lẻ nào, nghĩa là phải đủ cả ”hồng” và ”chuyên” mà phẩm chất hàng đầu cần có ở họ là sự trung thành với lý tưởng, ý chí kiên định đấu tranh cho thắng lợi của lý tưởng và phải có đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư bằng những công việc cụ thể và thiết thực hết sức có ý nghĩa như: phong trào thanh niên tình nguyện, tham gia xóa đói giảm nghèo, cứu trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt, đền ơn đáp nghĩa, đưa ánh sáng văn hóa đến các vùng sâu, vùng xa… để làm gương, lôi cuốn quần chúng. Bồi dưỡng cách mạng cho đời sau là làm cho họ kế thừa được chí lớn của các thế hệ cha anh, biến lý tưởng cách mạng thành ý chí cách mạng, thành động lực tinh thần mạnh mẽ, đánh bại âm mưu phá hoại của kẻ thù, chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến thành công, nhanh chóng đưa Việt Nam lên hàng các quốc gia phát triển của khu vực và trên thế giới. Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, hướng tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Ngày hôm nay thanh niên chúng ta cần noi theo tấm gương và những lời căn dặn của Người, không ngừng vươn lên chiếm lĩnh những giá trị mới nhất của thời đại văn minh trí tuệ – thời đại công nghệ thông tin phát triển và những điều kiện thuận lợi khác đem lại, phấn đấu trở thành những nhân tài thuộc nhiều lĩnh vực, đưa nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới như sinh thời Bác Hồ đã từng mong mỏi.

Mặc dù Người đã đi xa hơn 40 năm, nhưng Người đã để lại cho chúng ta muôn vàn tình thương yêu và lòng kính phục. Có thể khẳng định rằng ”Di chúc” của Người trở thành một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh những tinh hoa đạo đức và tâm hồn cao đẹp của Người. Hơn 40 năm – sức sống của bản ”Di chúc” mãi mãi vẫn là tấm gương cho con đường cách mạng của Việt Nam hôm nay và mai sau./.

Bùi Thị Mỹ Lệ
Trường Chính trị tỉnh Hậu Giang
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn