Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác Hồ gặp tướng Leclerc

Nhận xét về tướng Leclerc, Bác nói: “Ông ta là một con người thẳng thắn, trung thực, thật thà, một con người tử tế (un chic type).

 – Ngày 18/3/1946, đúng vào ngày các đơn vị quân Pháp kéo vào Hà Nội thay thế quân đội Trung Hoa-Tưởng Giới Thạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ để cập nhập tình hình và tìm những giải pháp để ứng phó.

5 giờ chiều, sau khi 1.200 quân cùng 200 chiến xa của  Pháp từ Hải Phòng về tới Hà Nội, Leclerc, người đứng đầu lực lượng quân sự của Pháp ở Đông Dương và Uỷ viên Cộng hoà Pháp J.Sainteny cùng nhiều tướng lĩnh khác như Salan, Valuy, Pignon… đến chào Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người đại diện cho nước Pháp lên tiếng chào: “Thưa Chủ tịch, người Việt Nam và người Pháp chúng ta bây giờ trở thành những người bạn”.

Trong tiệc rượu, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm: “Trong cuộc bang giao giữa chúng ta, nếu Anh, Mỹ đã đi trước chúng ta vì đã hứa cho Ấn Độ và Phi Luật Tân (Philipines) được độc lập, thì chúng tôi cũng có thể tự hào  rằng Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 đã cùng ký kết theo tinh thần đó… Tôi hết lòng hy vọng rằng toàn thể nước Pháp mới và nước Việt Nam mới sẽ nêu ra trước hoàn cầu một cái gương sáng: cái gương hai nước biết cùng nhau giải quyết được hết các vấn đề khó khăn gai góc ngay sau cuộc tổng đảo lộn của hoàn cầu, bằng cách liên hiệp với nhau và hiểu biết lẫn nhau… để mưu hạnh phúc cho cả hai dân tộc và để mưu cho hoà bình thế giới”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và những cộng sự của mình (từ trái qua): Phạm Văn Đồng, Chu Xương, Trường Chinh, Võ Nguyên GiápChủ tịch Hồ Chí Minh và những cộng sự của mình (từ trái qua): Phạm Văn Đồng, Chu Xương, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp

Có thể nói rằng biết khại thác những nhân tố tích cực trong chính giới Pháp như Leclerc, Sainteny… Bác đã đưa đất nước ta thoát hiểm trong gang tấc trước những âm mưu của cá thế lực “diều hâu” của cả Pháp và Trung Hoa Dân quốc. Trên thực tế, Pháp và Trung Hoa từ lâu đã có những mặc cả về Đông Dương cho nên việc ký kết được Hiệp ước 6/3/1946 đã biến việc quân đội Trung Hoa rời khỏi Việt Nam để Pháp thay thế thành một sự “nhượng bộ” của phía ta buộc Pháp cũng phải đáp lại bằng một thái độ hoà hoãn, tránh cho cuộc chiến tranh bùng nổ sớm, bất lợi cho lực lượng cách mạng Việt Nam còn  “trứng nước”.

Ít lâu sau, nhận xét về tướng Leclerc, Bác có nói với nhà báo Dessingé, của tờ “Paris-Saigon” rằng “Ông ta (Leclerc) là một con người thẳng thắn, trung thực, thật thà, một con người tử tế (un chic type)… Chính với những con người như thế mà người ta mong muốn bàn bạc”.

Ngày hôm sau, cả hai bên Việt-Pháp, đều đưa những đơn vị quân đội của mình tổ chức một cuộc duyệt binh chung, và Tướng Leclerc, con người đã dẫn đầu Đoàn quân Pháp trong lực lượng Đồng Minh vào giải phóng Thủ đô Paris, có lần đã nói với Võ Nguyên Giáp: “Ngài hãy nói với người Việt Nam rằng, họ có thể tin tưởng ở tôi. Nhưng tôi là người Pháp và trong sự tôn trọng nguyện vọng của nhân dân các ngài, tôi sẽ hành động với tư cách là người Pháp, trước tiên là người Pháp”.

Thế nhưng, sau đó không lâu, những người Pháp thiện chí như Leclerc cũng bị phái “diều hâu” tìm cách gạt bỏ. Ông đã được lệnh rời khỏi Việt Nam thực hiện một sứ mạng ở châu Phi rồi chết trong một vụ tai nạn đầy ẩn khuất.

X&N
kienthuc.net.vn

Ngày Bác Hồ bắt tay viết sách

Bác đã gửi “thư cho các đồng chí Liên Xô” nói về ý định sẽ viết một cuốn sách bằng tiếng Việt, giới thiệu về đất nước Xô Viết.

 – Ngày 28/2/1930, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Anh tại Quốc tế Cộng sản đề nghị gửi cho mình các tờ báo cánh tả như các tờ “La Vie Ouvrière” (Đời sống công nhân) và tạp chí “Quốc tế Công hội Đỏ”, đồng thời đề nghị gửi cả mấy tờ báo cánh hữu, báo “tư sản”: để che mắt và ứng phó “nếu cảnh sát thấy rằng tôi đã nhận những  tờ báo chí “lật đổ”.

Cùng ngày hôm đó, nhà cách mạng Việt Nam lúc này vẫn đang ở Hồng Kông sau khi đã thông báo với Quốc tế Cộng sản về sự kiện “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập”, đã gửi “thư cho các đồng chí Liên Xô” nói về ý định sẽ viết một cuốn sách bằng tiếng Việt để giới thiệu về đất nước Xô Viết:

Ngày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền BắcNgày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc

“Các đồng chí thân mến,

Người An Nam, nhất là những người lao động, muốn biết nước Nga. Nhưng các sạp báo cách mạng đều bị pháp luật hà khắc của đế quốc Pháp nghiêm cấm. Hơn nữa, công nhân và nông dân An Nam, phần lớn không biết chữ. Những người có học chút ít không biết thứ tiếng nào khác ngoài tiếng An Nam.

Nhiệm vụ của cúng tôi là phải nói với họ về Tổ quốc của giai cấp vô sản như thế nào. Để làm viêc này tôi có ý đinh viết một quyển sách, bằng tiếng An Nam, đương nhiên, dưới hình thức “Những kỷ niệm về cuộc du lịch của tôi”. Tôi  mong rằng nó sẽ sinh động, hấp dẫn, dễ đọc và có nhiều mẩu chuyện…”

Bức thư kèm theo một đề cương chi tiết về  nước Nga trước và trong cách mạng và nước Nga ngày nay. Nội dung của nó đề cập tới những thay đổi lịch sử, vai trò của các tầng lớp đối với cách mạng và các tổ chức cách mạng. Về nước Nga sau cách mạng, quyển sách sẽ giới thiệu về tổ chức nhà nước và xã hội của nước Nga mới, đời sống của các tầng lớp xã hội, vấn đề ruộng đất, chính sách “Kinh tế mới”,  các thành tựu về kinh tế giáo dục, văn hoá và y tế cùng  Quốc tế Cộng sản và các tổ chức quốc tế …

Để viết quyển sách này, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Quốc tế Cộng sản cung cấp thêm tư liệu gửi qua Đảng Cộng sản Trung Quốc đồng thời cũng nêu khó khăn về in ấn, nhất là thiếu các con chữ la tinh đặc thù của tiếng Việt là có nhiều dấu…

X&N
kienthuc.net.vn

Những bức thư Bác Hồ gửi Tổng thống Mỹ

Chúng tôi yêu cầu Hoa Kỳ với tư cách là người bảo vệ và bênh vực công lý TG, thực hiện bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi.

 – Ngày 16/2/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi thư tới Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thông báo về sự ra đời của nước Việt Nam độc lập và lên án thực dân Pháp đã tiến hành một cuộc chiến tranh “trái với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và trái với những cam kết của các nước Đồng minh trong chiến tranh thế giới”.

Văn kiện này đưa ra thông điệp: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi sau quá nhiều năm chịu sự cướp bóc và tàn phá, mới chỉ đang bắt đầu công cuộc xây dựng. Cần phải có an ninh và quyền tự do, trước hết là để đạt được sự phồn vinh và phúc lợi trong nước, và sau đó là góp phần nhỏ của mình vào việc xây dựng lại thế giới. An ninh và tự do chỉ có thể được đảm bảo bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác. Chính với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp Chủng quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi”.

Đây là văn kiện mang tính nhà nước thể hiện rõ quan điểm đối ngoại của Việt Nam và quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ.

Ngày từ tháng 5/1945 sau khi tiếp xúc với cơ quan tình báo chiến lược OSS của Mỹ tại Côn Minh, Hồ Chí Minh đã nhờ người đứng đầu tổ chức này là A. Patti chuyển văn bản tới Phái đoàn Mỹ tại Liên Hiệp Quốc kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Việt Nam sau khi tiêu diệt được chủ nghĩa phát xít.

Giữa tháng đó, Bác còn đề nghị chuyển một tài liệu về nạn đói ở Bắc Kỳ tới Sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh.

16/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫy tay chào cán bộ và đồng bào Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây khi Người về thăm, chúc tết 16/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫy tay chào cán bộ và đồng bào Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây khi Người về thăm, chúc Tết

Ngay sau khi Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào (16/8/1945) với tư cách người đứng đầu Uỷ ban Dân tộc Giải phóng, Bác đề nghị “nhà cầm quyền Hoa Kỳ thông báo với Liên Hiệp Quốc rằng: chúng tôi đã đứng về phía Liên Hiệp Quốc chống lại bọn Nhật” và “yêu cầu Liên Hiệp Quốc thực hiện lời hứa long trọng của mình là tất cả các dân tộc đều được hưởng dân chủ và độc lập…”.

Ngày 29/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Mỹ chia buồn về việc Đại tá Piter Dewey chỉ huy OSS tại Sài Gòn bị tử nạn.

Ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Tổng thống Mỹ đề nghị để Việt Nam tham gia Hội đồng Tư vấn về Viễn Đông.

Ngày 22/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đề nghị Liên Hiệp Quốc quan tâm đến việc Pháp gây hấn và cử phái đoàn điều tra đến Đông Dương.

Ngày 1/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến Quốc vụ khanh Mỹ thay mặt Hội Văn hoá Việt Nam gửi 50 thanh niên sang học tập các lĩnh vực kỹ thuật và thành lập mối quan hệ văn hoá hữu nghị với thanh niên Mỹ….

Ngày 8/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Mỹ và Thống chế Tưởng Giới Thạch trình bày tình hình quân Pháp đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Ngày 23/11/1945, Chủ tịch nước Việt Nam gửi thư tới Tổng thống Mỹ và Tổng giám đốc Cơ quan Cứu tế Mỹ (UNRRA) kêu gọi giúp Việt Nam chống nạn đói.

Đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới các ngoại trưởng Liên Xô, Mỹ và Trung Hoa Dân quốc tha thiết yêu cầu đưa vấn đề Việt Nam ra Liên Hiệp Quốc và “yêu cầu nhận Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc”.

Ngày 18/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thư cho Tổng thống Mỹ và chỉ huy quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tướng Marshall yêu cầu có giải pháp hoà bình ở Việt Nam.

Và tiếp sau lá thư ngày 17/2/1946, ngày 18/2, với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao, Bác lại viết thư gửi các Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, Mỹ, Liên Xô và Anh đề nghị “hãy làm tất cả để ngăn chặn cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam” và tuyên bố : “đặt vấn đề Đông Dương trước Liên Hiệp Quốc, chúng tôi chỉ đòi hỏi độc lập hoàn toàn. Nền độc lập ấy thực tế không còn xa nữa và có thể giúp đỡ chúng tôi hợp tác với các dân tộc khác trong việc xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn và một nền hoà bình lâu dài – những nguyện vọng chính đáng cần phải được bảo vệ”.

X&N
kienthuc.net.vn

Bác Hồ và nhóm “Con Nai”

Quan điểm của Bác luôn tin tưởng vào một bộ phận tiến bộ trong nhân dân Mỹ sẽ đứng về nhân dân Việt Nam.

Ngày 15/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời bức điện của Đại uý Charles Fenn, một sĩ quan tình báo trong đơn vị OSS đã từng tiếp xúc với Bác Hồ trong thời gian ở Côn Minh.

15-2-1965 HCM đọc văn bia tại chùa Côn Sơn,Hải Dương.jpg

Ngày 15/2/1965, Bác Hồ đọc văn bia tại chùa Côn Sơn, Hải Dương.

Bức thư trả lời bằng tiếng Anh bày tỏ: “Chúng tôi cảm kích vì thiện chí của Ngài muốn giúp Việt Nam. Nếu như Ngài tới đây với tư cách là một nhà báo Mỹ của một tờ báo lớn thì Ngài có thể làm được rất nhiều việc”.

Charles Fenn, trong Đại chiến Thế giới lần thứ II là một trung uý hải quân Hoa Kỳ được phái đến công tác tại AGAS (cơ quan hỗ trợ cho không quân tại mặt đất) lúc này đóng tại Côn Minh (Trung Quốc). Đó cũng là thời điểm Hồ Chí Minh đưa viên trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương, sang Côn Minh để tìm cách trao trả cho Đồng Minh nhằm xác lâp mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít.

Thực thi chức trách của mình, Ch. Fenn đã bố trí cuộc tiếp xúc đầu tiên vào ngày 17/3/1945. Sau này , trong hồi ức của mình Ch.Fenn đã thuật lại: Hồ Chí Minh cùng đi với một người trẻ tuổi tên là  Phạm. Trước đó ông Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ nhằm vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát xít.

Ba ngày sau, hai người gặp lại nhau để nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó, Hồ Chí Minh yêu cầu Ch. Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp Tướng Claire Chennault, tư lệnh một Tập đoàn không quân của Mỹ mang biệt hiệu “Hổ bay” đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam Trung Quốc, cũng là người dại diện cao nhất của Đồng Minh tại khu vực.

Cuộc gặp đã diễn ra ngày 29/3/1945 và sau cuộc gặp này mối quan hệ giữa Việt Minh và Đồng Minh được xác lập. Phía Mỹ đã cung cấp thiết bị liên lạc, một số vũ khí nhẹ và ngày 17/7 năm đó, một đơn vị đặc biệt mang biệt danh “Con Nai – The Deer” của OSS (Cơ quan tình báo chiến lược) của Mỹ đã nhảy dù xuống Tân Trào, tham gia huấn luyện, xây dựng sân bay dã chiến và thành lập Đại đội Việt – Mỹ… Phía Việt Minh sẽ cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường đánh Nhật ở miền Bắc Đông Dương…

Đơn vị này đã tham gia bao vây quân Nhật ở Thái Nguyên và về Hà Nội sau khi Việt Minh giành được chính quyền. Nhưng ngay sau đó, chính phủ Mỹ yêu cầu các quân nhân Mỹ phải rời khởi Việt Nam…

Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ những liên hệ với Ch. Fenn với nhiều tình cảm tốt đẹp. Trong thư đề tháng 8/1945 gửi Ch. Fenn, Bác viết: “Chiến tranh đã kết thúc. Đây là điều tốt cho mọi người. Tôi cảm thấy áy náy khi những người bạn Mỹ rời chúng tôi quá nhanh…

Tôi tin rằng ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn luôn ủng hộ chúng tôi…Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi sẽ đat đựơc mục đích của mình, bởi vì mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng tôi ở Đông Dương hay trên đất Mỹ”.

Bức thư đề ngày 15/2/1947 giữa lúc nhân dân Việt Nam đang kháng chiến chống thực dân Pháp và vào lúc chính sách của Mỹ ngày càng đồng loã với cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Đông Dương, cho thấy quan điểm của Bác luôn tin tưởng vào một bộ phận tiến bộ trong nhân dân Mỹ sẽ đứng về nhân dân Việt Nam.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch.Fenn đã là người viết cuốn tiểu sử chính trị đầu tiên về Hồ Chí Minh bằng Anh ngữ xuất bản ở phương Tây (1973: “Hồ Chí Minh một tiểu sư chính trị”) và vì thế mà bị chính quyền Mỹ trục xuất khỏi đất nước của mình.

Tháng 8/1995, ngày sau khi quan hệ Việt – Mỹ được bình thường hoá, Ch.Fenn cùng các cựu chiến binh của đơn vị “Con Nai” đã trở lại thăm Việt Nam. Khi đã ngoài 100 tuổi (năm 2004) Charles Fenn còn viết: “Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chồng chất đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
kienthuc.net.vn

Bức điện cuối cùng của Bác Hồ gửi Quốc trưởng Campuchia

Chuyến đi thăm đầu tiên của tôi tới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại là để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 – Ngày 7/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Quốc trưởng Vương quốc Campuchia Norodom Sihanouk để cảm ơn sự ủng hộ đối với lập trường của Việt Nam tại cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris. Đây cũng là văn kiện cuối cùng trong mối giao tiếp hữu nghị với người đứng đầu Vương quốc láng giềng.

Chỉ hơn nửa năm sau, ngày 2/9/1969 nhà lãnh đạo Việt Nam qua đời. Ngày 9/9/1969, Quốc trưởng Sihanouk đã có mặt tại Hà Nội để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và sau rất nhiều biến cố lịch sử, trong hồi ký “Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù của Khơ me Đỏ” viết sau này, Cựu vương Sihanouk đã bày tỏ:

“Từ buổi dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tôi được vinh dự đứng túc trực bên cạnh linh cữu. Tôi sực nhớ đến câu nói của Người mà tôi cho rằng không gì đúng hơn . Đó là câu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh(2/1965)Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh (2/1965)

Cụ Hồ là một bậc cách mạng lão thành, xuất thân từ tầng lớp bình dân. Tôi là một nhà quý tộc thuộc dòng dõi quân chủ lâu đời nhất ở Campuchia. Cụ với tôi không chung thế hệ, bởi vì Cụ hơn tôi tới ba chục tuổi. Nhưng Cụ và tôi đều cùng chung nguyện vọng muốn cho nước nhà độc lập. Để đạt mục đích này, Cụ đã chọn con đuờng cách mạng gay go ác liệt. Còn tôi, một con người trẻ tuổi lại rất sợ đổ máu. Nhưng cuối cùng chính Cụ đã dạy cho chúng tôi bài học là tất cả các thế lực đế quốc chỉ cho các dân tộc bị chúng áp bức một con đường duy nhất để giành lại tự do. Đó là con đưòng đấu tranh vũ trang mà Hồ Chí Minh đã xác định”.

Cũng trong tập hồi ký này, Norodom Sihanouk còn viết : “Từ lâu tôi đã rất ngưỡng mộ Bác Hồ. Người không chỉ thuộc về nhân dân Việt Nam mà là cả Đông Dương, cả châu Á và có thể là cả thế giới, bởi vì Người luôn luôn bảo vệ những quyền lợi của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa cũng như quyền lợi của những người da đen ở Mỹ.

Đối với riêng tôi, Người cũng là “đồng chí”. Người đã gửi cho tôi những bức thư trìu mến và tôi cũng luôn mong được gặp Người, nhất là trong những năm gần đây tôi thường đề nghị có cơ hội đi thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Nhưng các bạn Việt Nam nói Mỹ đang ném bom miền Bắc Việt Nam, một chuyến đi thăm như vậy là rất nguy hiểm đối với tôi.

Tôi đáp lại: “Thì đây chính là dịp để tôi biểu thị tình đoàn kết với Việt Nam”. Các bạn Việt Nam vẫn khẳng định: ”Ngài là Quốc trưởng Campuchia và cũng là người bạn lớn của Việt Nam. Chúng tôi phải chịu trách nhiệm trước nhân dân nước Ngài vì những trận ném bom của Mỹ”.

Và thế là mãi mãi tôi không bao giờ được gặp Chủ tịch Hồ nữa… Chuyến đi thăm đầu tiên của tôi tới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại là để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

X&N
kienthuc.net.vn

Bác Hồ làm thơ phân tích tình hình thế giới

Bài thơ “Mừng năm mới năm 1943 là một bản phân tích tình hình thế giới và đón chờ cơ hội.

– Ngày 5/2/1943 ứng với ngày 1 Tết Quý Mùi (1943), bài thơ “Mừng năm mới” vốn được đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” số đầu năm dương lịch, đã đến với nhân dân trong không khí đang sục sôi cách mạng.

Bài thơ là một bản phân tích tình hình thế giới và đón chờ cơ hội: “Một nghìn chín trăm bốn mươi ba/ Năm mới tình hình hẳn mới/ Đông Á chắc rồi Tàu thắng Nhật/ Tây Âu nhất định Đức thua Nga/ Nhân dân các nước đều bùng dậy/ Cách mệnh nhiều nơi sẽ nổ ra/ Đức, Nhật chết, rồi Tây cũng chết/ Ấy là cơ hội tốt cho ta/ Ấy là cơ hội tốt cho ta/ Cơ hội này ta chớ bỏ qua/ Phấn đấu hy sinh đừng quản ngại/ Tuyên truyền tổ chức phải xông pha/ Đồng tâm một triệu người như một/ Khởi nghĩa ba kỳ giậy cả ba/ Năm mới quyết làm cho nước mới/ Non sông Hồng Lạc gấm thêm hoa”.

5-2-1966 HCM và Thủ tướng PVĐồng thăm đơn vị bộ đội công binh đang diễn tập bắc cầu phao vượt sNgày 5/2/1966 Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm đơn vị bộ đội công binh đang diễn tập bắc cầu phao vượt sông.

Chỉ 3 năm sau, lời thơ Chúc Tết năm Quý Mùi đã trở thành hiện thực và Tết Bính Tuất 1946 đã trở thành Tết Độc lập đầu tiên dân tộc Việt Nam.

Ngay trong ngày mùng một Tết Bác đã viết thư gửi Hội nghị Nông vận và Dân vận toàn quốc, một lần nữa xác định “Nông dân lao động là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân”

Ngày 5/2/1962, lại ứng với mồng 1 Tết Nhâm Dần giữa lúc đất nước Việt Nam đang thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, bài “thơ mừng năm mới” của Bác là một lời chúc: “Năm Dần, mừng Xuân thế giới/ Cả năm châu phấp phới cờ hồng/ Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi/ Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong/ Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới/ Sức triệu người hơn sóng Biển Đông/ Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi/ Hoà bình thống nhất quyết thành công”.

Trong ngày, Bác thăm và chúc Tết tại công trường xây dựng Nhà máy bê tông đúc sẵn Chèm và buổi chiều đến dự buổi sinh hoạt ngâm thơ mừng Xuân của phụ lão Hà Nội. Bác góp một vần thơ: “Tuổi già nhưng chí không già/ Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh”.

X&N
kienthuc.net.vn

Chuyện về một ông cụ người Hoa giống Bác Hồ

Có mấy tấm ảnh Bác Hồ ngày ở Chiến khu Việt Bắc. Hỏi ra thì được giải thích “đó không phải là Bác mà là ông cụ rất giống Bác”.

– Ông cụ tên là Lam Sơn, người Quảng Tây (Trung Quốc). Quê cụ nằm ngay sát biên giới Trung – Việt. Gia đình cụ là cơ sở cách mạng của cả ta và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Theo lời mời của ông Trần Đăng Ninh, cụ đã sang hoạt động tại chiến khu Việt Bắc.

Xuất xứ câu chuyện lạ

Mô tả ảnh.Mô tả ảnh.

Cụ Lam Sơn chụp cùng các cán bộ ở chiến khu Việt Bắc.

Những năm 1960-70, bạn tôi – anh Hồ Bá Đạt – sống trong Khu tập thể quân đội số 16A Lý Nam Đế, Hà Nội. Trong hàng chục gia đình cán bộ trung, cao cấp ngày đó có gia đình một sĩ quan người Hoa. Đó là ông bà Bích Liên và Hoàng Hoa.

Nhà Đạt ở tầng trên, gia đình sĩ quan người Hoa ở ngay tầng dưới. Chẳng rõ họ về ở trong khu từ khi nào, nhưng khi gia đình Đạt tới thì đã thấy. Họ quan hệ thân thiết với bà con xóm giềng. Bọn trẻ con gọi ông bà là “cô Liên, chú Hoa”. Tới tháng 6/1975, gia đình họ chuyển về Trung Quốc, sống tại thành phố Quảng Châu.

Năm 2006, nhân dịp sang Trung Quốc, bạn tôi ghé thăm gia đình ông bà. Ông bà vẫn vui vẻ như xưa mặc dù đã nghỉ hưu và sức khỏe đã kém đi. Trong khi trò chuyện được ông bà cho xem cuốn album gia đình. Thú vị là có nhiều ảnh chụp chung với các lãnh đạo ta trong và ngoài quân đội thời chống Pháp và chống Mỹ.

Lúc này mới biết, ông Hoàng Hoa tham gia cách mạng ở Việt Nam từ năm 1948, trên Chiến khu Việt Bắc. Đến năm 1950 thì nhập ngũ. Trước khi trở về nước, ông mang quân hàm đại úy và là Phó chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn 338. Còn bà Bích Liên vào bộ đội năm 1951, mang hàm thiếu úy, phụ trách thư viện.

Thời kì chống Mỹ, ông Hoàng Hoa từng tham gia phiên dịch trong những buổi đàm phán giữa các vị lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc về viện trợ vũ khí, trao đổi tin tức tình báo… Khi về nước, ông bà tiếp tục giảng dạy tiếng Việt tại trường Đại học Ngoại ngữ, ngoại thương Quảng Châu.

Trong số ảnh được xem, bạn tôi thấy có mấy tấm ảnh Bác Hồ ngày ở Chiến khu Việt Bắc. Hỏi ra thì được giải thích “đó không phải là Bác mà là ông cụ rất giống Bác”. Chợt nghĩ đây là câu chuyện thú vị có liên quan đến Bác Hồ không phải ai cũng biết; thậm chí chưa thấy báo chí hoặc ai nói tới; bạn tôi đề nghị ông bà cho xin bản sao.

Về ông cụ giống Bác

Ông cụ tên là Lam Sơn, người Quảng Tây (Trung Quốc). Quê cụ nằm ngay sát biên giới Trung – Việt. Gia đình cụ là cơ sở cách mạng của cả ta và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Trong một chuyến công tác sang Quảng Tây, ông Trần Đăng Ninh tình cờ gặp ông cụ. Thấy cụ chân chất, hiền lành; hỏi tổ chức thì biết nhân thân của cụ rất tốt, lại thấy cụ có nhiều nét giống Bác Hồ, ông nảy ra ý định mời cụ sang sinh sống ở Việt Nam.

Cụ đồng ý và đề nghị “nếu có thể xin phép được đưa gia đình sang sống cùng”. Nguyện vọng này được chấp nhận và cụ theo ông Trần Đăng Ninh sang Việt Nam ngay chuyến ấy.

Biết ở Chiến khu Việt Bắc có cụ Lam Sơn từ Quảng Tây sang, ông Hoàng Hoa (lúc đó là tổ trưởng tổ phiên dịch gồm các đồng chí người Trung Quốc) có lời mời cụ đến chơi. Tình đồng hương, tình cảm của những người xa quê chiến đấu trên đất bạn làm họ thêm thân thiết. Tổ phiên dịch đã chụp chung với cụ vài kiểu ảnh; trong đó ông Hoàng Hoa còn giữ được 2 tấm nhỏ chỉ bằng 2 đầu ngón tay.

– Thời gian đó là năm 1952, – ông Hoa nhớ lại – ngày đó cụ đã ngoài 50 nhưng rất nhanh nhẹn… Chúng tôi trẻ măng, mới ngoài 20. Trong tấm hình thứ nhất, tôi là người đứng thứ 2 từ trái qua ; còn trong tấm thứ 2, tôi là người thứ 2 từ phải qua.

– Thế chú có biết lí do ông Trần Đăng Ninh mời cụ sang Việt Nam? – Đạt hỏi.

– Nói về việc này phải thận trọng, dù sự việc đã qua cả nửa thế kỷ. Anh về tìm hiểu thêm!

Sau này tin tức về ông cụ như thế nào thì ông Hoàng Hoa cũng không rõ. Nếu cụ còn sống thì nay đã trên trăm tuổi.

Trần Kiến Quốc
kienthuc.net.vn

Bác Hồ – Những kỷ niệm không quên

Mặc dầu mới đi về, đang đói ngủ, nhưng sau khi gặp Bác nghe những lời dạy của Bác, suốt đêm đó, tôi cứ thao thức không sao nhắm mắt được. Tôi đi đi lại lại trong phòng, trong đầu cứ vang lên lời nói của Bác:

“Sớm muộn đế quốc Mĩ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nói mới chịu thua”, “Ở Việt Nam, Mĩ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua ở đây (Hà Nội)”.

C

Tôi trải rộng tấm bản đồ Hà Nội trước mặt, chong mắt nhìn vào đường bay của B.52 mà Quân chủng Phòng không – Không quân sơ bộ dự kiến sẽ đột nhập vào Hà Nội. Bỗng nhiên, tôi đưa bàn tay lên tấm bản đồ như muốn bóp chết nhưng chiếc B.52 tưởng tượng kia. Bọn Mĩ thật là một lũ hung ác cực độ. Cả một thủ đô dân cư đông đúc, nhà cửa san sát như thế này mà chúng dám nhẫn tâm định đưa B.52 vào hủy diệt. Chỉ mới có ý định thôi thì cũng đã là một tội lỗi không thể tha thứ. Nhưg Bác đã nói rồi: Thằng Mĩ chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Thế thì nhất định nó sẽ dùng B.52 đánh Hà Nội rồi… Không chịu được với ý nghĩ đó, mặc dầu đã quá nửa đêm, tôi vẫn quay điện thoại cho đồng chí Đặng Tính. Vừa mới nghe tôi kể sơ qua vè buổi gặp Bác hồi tối, giọng anh tính đã tỉnh như sáo:

– Bác nói thế nào? Cậu nhắc lại cho tớ nghe xem nào?

Tôi nhắc lại trong máy. Nhắc đến đâu, anh Tính nhắc lại đến đấy, và hình như anh còn mở sổ ra ghi chép. Tôi nghĩ thầm: “Đúng là cung cách làm ăn của một ông chính ủy”.

Anh Tính căn dặn tôi:

– Từ nay mỗi lần gặp Bác, Bác nói câu gì cậu phải ghi chép lại ngay đấy nhé. Cứ giữ mãi cái tác phong không sổ tay, không ghi chép như cậu là không được đâu”.

Tôi không nói gì. Suốt mấy chục năm nay, tôi có sổ tay, có ghi chép gì đâu. Nếu ai nói, tôi tự bảo: “Mỗi người có một cách làm việc riêng”.

Lần này không để anh Tính mời xuống, phải hứa hẹn “RTC”, tôi nói với anh Tính là ngày mai tôi sẽ xuống Quân chủng làm việc, tập trung vào phương án đánh B.52 bảo vệ Hà Nội. Tôi nói với anh Tính là động viên cơ quan hoàn thành sớm cái này, vì đây là vấn đề mà Bác đang quan tâm.

Đầu năm 1968, bản phương án đầu tiên về đánh trả cuộc tập kích bằng B.52 của đế quốc Mĩ vào Hà Nội, Hải Phòng được ra đời trong bối cảnh như thế.

Tôi còn nhớ bản phương án mở đầu bằng câu: “Trước thất bại nặng nề của địch trên cả hai miền, với bản chất ngoan cố, chúng sẽ không từ một thủ đoạn dã man tàn bạo nào để uy hiếp đánh phá ta, hòng cứu vãn thế thua của chúng. Địch sẽ có bước leo thang mới, tiếp tục đánh mạnh vào Hà Nội, Hải Phòng. Trong thế bị động này địch sẽ dùng B.52 để tạo thế bất ngờ về chiến lược”.

Tiếp đó, bản phương án viết: “Ta đã bắn rơi B.52 của địch. Với lực lượng sẵn có của ta, với khả năng của các binh chủng, ta hoàn toàn có đầy đủ điều kiện thực tế để tiêu diệt B.52 của địch, bắn rơi chúng tại chỗ, đánh bại bước leo thang liều lĩnh bằng B.52 của chúng”.

Về dự kiến, đường đột nhập của B.52 đánh vào Hà Nội, bản phương án đã vạch ra 5 đường, trong đó có đường bay cơ bản, gọi là đường bay A, được dự kiến là đường bay từ Tây Bắc xuống. Thực tế, trong cuộc tập kích chiến lược cuối năm 1972, 70% số B.52 của địch đã từ hướng nay đột nhập vào. Còn 30% số B.52 còn lại cũng đều đi vào hướng những đường bay dự kiến trong bản phương án đầu tiên cách đó 4 năm.

Còn đối với Hải Phòng thì độ chính xác như một trăm phần trăm. Bản phương án đầu tiên dự kiến 2 đường bay cơ bản. Từ đông bắc xuống theo cửa Nam Triệu và từ đông nam lên theo cửa Văn Úc thì năm sau, B.52 vào đúng như thế.

Sở dĩ tôi muốn nhấn mạnh điều này là để bạn đọc thấy một điều hết sức rõ ràng là chúng ta đã chuẩn bị cho trận “Điện Biên Phủ trên không” từ rất lâu như thế đó.

Tính từ năm 1966, khi những đơn vị đầu tiên của trung đoàn tên lửa 238 đặt chân đến chiến trường Vĩnh Linh, tìm cách “vào hang để bắt cọp” cho đến những ngày đầu 1968, bản phương án đánh B.52 tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng ra đời… là cả một quá trình vượt qua muôn vàn gian khổ, hi sinh, là một sự tập trung trí tuệ sáng tạo của cán bộ chiến sĩ từ đơn vị đến cơ quan, từ người lính ở chiến trường đến vị tư lệnh.

Có thể nói, đó là những viên gạch đầu tiên, cùng với những viên gạch khác, góp phần quan trọng xây nên đài chiến thắng vinh quang cho trận “Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy của dân tộc ta sau này.

Và bao trùm lên tất cả là sự quan tâm, là những lời dạy quý báu thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh, vị tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang nhân dân ta.


THAY LỜI KẾT

Thế là sau suốt 5 năm trời suy nghĩ và nhớ lại, tôi đã hoàn thành cuốn hồi ức “Bác Hồ – Những kỷ niệm không quên”.

Đúng là không thể nào quên, vì một lẽ rất đơn giản là kể từ những ngày dầu tiên được gặp Bác, tháng 2 năm 1940 cho đến khi Bác đi xa, cả cuộc đời tôi luôn luôn gắn liền với sự thương yêu chăm sóc của Bác.

Bác đã từng bước dẫn dắt tôi, từ một đứa trẻ lang thang, thất học, tính tình ngổ ngáo, trở thành một sĩ quan cấp tướng của cách mạng, có đóng góp ít nhiều vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đây thực sự là một điều kì diệu mà đôi khi tôi cứ nghĩ có nằm mơ cũng không thể tưởng tượng nổi.

Những điều kì diệu này sẽ rất dễ hiểu nếu chúng ta đặt nó trong sự kì diệu Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người đem chủ nghĩa Mác – Lê-nin về làm đổi thay cả một dân tộc, đổi thay cuộc đời trong đó có cuộc đời tôi.

Chỉ trong vòng 5 năm trời, từ thằng Thụ nhóc con, đêm đêm với cái bụng lép kẹp nằm còng queo trên chiếc ghế đá công viên Hạ Lầu, ở Côn Minh, trở thành một trong những trung đoàn trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam vào cuối năm 1946, lúc đó tôi vừa tròn 25 tuổi.

Có lẽ hơn ai hết, Bác Hồ là người hiểu tôi sâu sắc nhất, hiểu cả những thiếu sót, khuyết điểm (thói hư tật xấu) và hiểu cả những ưu điểm của tôi. Chính vì vậy mà Bác cũng rất tin tôi.

Trong cuộc hành trình gian nan, vất vả chứa đầy hiểm nguy trên con đường thiên lí từ Pác Bó đi Côn Minh đầu năm 1945, Bác đã chọn tôi làm người cận vệ. Bây giờ nghĩ lại đôi khi vẫn cảm thấy rùng mình. Vận mệnh của cả một dân tộc, của cách mạng trong thời điểm quan trọng của lịch sử được phó thác cho vị lãnh tụ kiệt xuất: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh… và chính tôi là người được giao trọng trách bảo vệ vị lãnh tụ đó, người mà mấy tháng sau trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Cha già của dân tộc.

Dọc đường đi Bác bị sốt cao, có lúc mê man, tôi đã đánh liều tiêm kí ninh vào ven cho Bác. Khi đưa mũi kim vào ven Bác tôi chỉ nghĩ một điều: Bác phải sống để kịp trở vè nước lãnh đạo cách mạng… và lòng tin của tôi đã thắng.

Khi giao cho tôi chức vụ trung đoàn trưởng, Bác chỉ phân vân: “Tính chú nóng và liều quá. Người làm tướng mà nóng và liều thường hỏng việc”. Nhưng Bác vẫn tin và giao nhiệm vụ cho tôi. Và tôi đã không phụ lòng tin của Bác.

Cứ như thế, Bác từng bước dạy bảo, dìu dắt tôi trưởng thành đi lên trên con đường cách mạng.

Cuốn hồi ức này được hoàn thành trước nhằm bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tôi đối với Đảng, đối với Bác. Có thể khẳng định rằng nếu không có Đảng, không có Bác, sẽ không có cuộc đời tôi hôm nay: Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Cuốn sách ra đời đúng vào dịp sinh nhật thứ 106 của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhằm ý nghĩa đó. Riêng tôi, năm nay bước vào tuổi 75, tôi xin kính dâng toàn bộ cuộc đời tôi lên Đảng và Bác kính yêu.

Điều cuối cùng tôi muối gửi gắm đến bạn đọc xa gần là trong lúc các lực lượng thù địch đang tìm cách xóa bỏ những thành của cách mạng ở Việt Nam với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, thậm chí phủ nhận cả Hồ Chí Minh, chúng ta hãy kiên định, vững vàng giữ vững lòng tin theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Đó là con đường sẽ đưa dân tộc ta đế hạnh phúc ấm no và giàu mạnh, xã hội công bằng và văn minh.

Thượng tướng Phùng Thế Tài
Vknyo (st)

Lời dạy của Bác Hồ với sinh viên

Chân dung BácTrong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng con người. Bác coi con người là nhân tố hàng đầu, nhân tố quyết định mọi thành công.

Nghĩ về lời dạy của Bác Hồ với sinh viên

Mấy ngày qua, được xem những thước phim, được đọc nhiều bài viết, được nghe nhiều ca khúc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” và cũng chợt nghĩ về sinh viên, về quãng thời gian đã qua và sắp tới. Viết đôi điều suy nghĩ chia sẻ với mọi người.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng con người. Bác coi con người là nhân tố hàng đầu, nhân tố quyết định mọi thành công. Khái niệm và tiêu chí về con người mới, con người xã hội chủ nghĩa được Bác đặt ra và ngày một được bổ sung, hoàn thiện trong xã hội. Tại buổi nói chuyện với cán bộ, sinh viên đang công tác và học tập ở Matxcơva ngày 1 tháng 2 năm 1959, nhân Bác sang dự Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô, Bác khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, phải xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, con người cộng sản chủ nghĩa”.

Trong xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bác quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên, trong đó có lớp thanh niên trí thức – những thanh niên sinh viên đang được đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng. Bác đã nhiều lần nói chuyện trực tiếp với sinh viên đang học tập trong nước, ở nước ngoài và sinh viên các nước đến dự hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Việt Nam.

Những bài nói, những huấn thị, liệt kê theo thời gian, chúng ta có được:

1, Bài nói tại buổi lễ khai mạc trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19.1.1955.

2. Bài nói chuyện với anh chị em học viên, cán bộ, công nhân viên trường Đại học Nhân dân Việt Nam (khoá III), ngày 18.1.1958.

3. Bài nói tại Đại hội Sinh viên lần thứ hai, ngày 7.5.1958.

4. Bài nói tại lớp nghiên cứu chính trị trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 10.1.1959.

5. Bài nói chuyện với cán bộ, sinh viên Việt Nam tại Matxcơva, ngày 1.2.1959.

6. Thư gửi cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường, các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31.8.1960.

7. Bài nói tại Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Hà Nội, ngày 1.9.1961; và một số bài nói với thanh niên, học sinh, sinh viên…

Từ những bài nói, những huấn thị, thư gửi… chúng ta tìm hiểu Bác đã dạy thanh niên sinh viên những gì và thanh niên sinh viên thấm nhuần và phấn đấu thực hiện lời Bác dạy. Đó là:

1. Học và Hành: Đối với học sinh, sinh viên nhiệm vụ đầu tiên là học, học tốt và học giỏi, học để thành người hữu ích xây dựng xã hội, kiến thiết đất nước. Bác nói: “Nhiệm vụ chính của thanh niên là học”, đồng thời Bác đặt vấn đề rõ ràng để giúp thầy giáo và sinh viên nghiên cứu: “Phải hiểu rõ học thế nào” Học cái gì? Học để làm gì?”. Tại Đại hội sinh viên lần thứ hai, ngày 7.5.1958, một lần nữa Bác nhắc lại và nhấn mạnh: “Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt hai câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng”. Bác chỉ rõ: “Dưới chế độ thực dân, phong kiến, mục đích đi học là cốt được mảnh bằng để làm ông thông, ông phán, lĩnh lương nhiều, ăn ngon, mặc đẹp. Thế thôi. Số phận dân tộc thế nào, tình hình thế giới biến đổi thế nào, không hay, không biết gì hết. Mục đích giáo dục nô lệ hầu hạ chúng. Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò là người chủ thì phải học tập. Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân, phong kiến khác nhau”, “Học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự” và “Học để phụng dự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà”. Bác còn nói: “Làm nghề gì cũng phải học” và mục đích của việc học là để “nâng cao năng lực làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân càng no ấm, vui tươi”. Làm theo lời Bác dạy, đại bộ phận thanh niên sinh viên đang ra sức học tập, tích luỹ, nắm vững kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên môn để thực sự có trình độ chuẩn bị, tự tin vào đời, lập nghiệp nhanh chóng đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của xã hội. Bác cũng căn dặn, nhắc nhở thanh niên, nhất là những đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh cần ghi nhớ lời di huấn của Lênin: “Không học thì không thể trở thành người cộng sản”, “người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ thanh niên sinh viên chưa chăm chỉ học tập, còn hiện tượng chạy điểm, chạy bằng; một số thanh niên sinh viên mắc vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật. Thực trạng ấy đòi hỏi Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên Việt Nam cần tăng cường định hướng giá trị, giáo dục và đồng hành với thanh niên trên con đường học tập và luyện rèn.

Bác dạy học phải đi đôi với hành. Bác chỉ rõ tầm quan trọng của thực hành. Hành cũng chính là một nửa của học. Bác nói: “Chỉ biết lý luận (lý thuyết) mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy cho nên các cháu trong lúc học về lý luận thì cũng phải kết hợp với thực hành”, “lý luận phải gắn liền với thực tế”. Bác cũng đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại…”. Bác nhắc nhở các nhà trường “không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu…”. Chúng ta rất vui mừng trước những thành công của các đội Robocon của các trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách Khoa Đà Nẵng, Đại học Kỹ thuật Quân sự, Đại học Công nghiệp Hà Nội… đã đạt được các giải thưởng trong nước và khu vực, chứng tỏ những sinh viên này đã đạt được trình độ cả lý thuyết và thực hành, lý thuyết và lao động sản xuất… Nhưng hiện tại, nhiều trường, trong đào tạo và nhiều sinh viên chưa kết hợp nhuần nhuyễn được giữa học và hành, lý thuyết và lao động sản xuất.

2. Đức và Tài: Tại Đại hội Sinh viên lần thứ hai, ngày 7.5.1958, Bác nhấn mạnh hai phẩm chất hàng đầu của học sinh, sinh viên phải rèn luyện trong nhà trường là đức và tài. Sau này Bác còn dùng khái niệm hồng và chuyênĐức và tài, hồng và chuyên phải đi đôi với nhau, song hành tồn tại cùng nhau trong một con người.

Về đức, ở đây như Bác nói là đạo đức, đạo lý làm người mà với thời đại chúng ta, Bác yêu cầu rèn luyện để có đạo đức cách mạng. Bác giải thích đạo đức cách mạng rất giản dị, cụ thể:“Đạo đức cách mạng không phải là những điều cao siêu, xa lạ mà đối với mỗi người bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm một việc gì đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội”, “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bác coi “đạo đức là cái gốc của người cách mạng” và Bác chỉ rõ cách thức phấn đấu, rèn luyện đạo đức cách mạng: “Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, tức là học tập, lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa”, “Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo tự mãn”. Sở dĩ Bác chỉ rõ cụ thể để mọi người hiểu thấu đáo nước ta xây dựng xã hội chủ nghĩa từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nền sản xuất chủ yếu là thủ công phân tán cùng với chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi là một lực cản lớn, hạn chế năng lực sáng tạo của tuổi trẻ. Bác coi trọng việc giáo dục thanh niên nói chung và thanh niên sinh viên nói riêng phải xoá bỏ chủ nghĩa cá nhân, xây dựng tinh thần làm chủ. Đương nhiên xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là xóa bỏ lợi ích cá nhân chính đáng mà là sự hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Phấn đấu làm việc ích nước lợi nhà. Bác nói: “Muốn sửa chữa chủ nghĩa cá nhân thì phải làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã. Ta có câu nói: “khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau. Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng sửa chữa khuyết điểm của mình”.

Về Tài, tức là năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ được tích luỹ và phát huy tác dụng, đóng góp thiết thực, làm lợi ích cho xã hội, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Bác mong muốn thanh niên sinh viên học tập, rèn luyện để thực sự có tài. Bác mong muốn xã hội có nhiều người tài và người tài đem hết tài năng, tâm huyết phục vụ xã hội.

Bác yêu cầu thanh niên sinh viên phải có đức, có tài nhưng Bác đặt đức trước tàihồng trước chuyên. Bởi vì theo Bác, đạo đức cách mạng là cái gốc, cái nền. Bác nói: “có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người.

3. Lý tưởng và Tình yêu:Giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Namnói chung và cho thanh niên sinh viên nói riêng là một trong những vấn đề được Bác Hồ đặc biệt quan tâm. Bác ân cần khuyên nhủ: “Chúng ta không một chút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta”. Lý tưởng cách mạng đối với tuổi trẻ như ánh sáng mặt trời với sự sống, là sự gắn bó hữu cơ, là sự tự nguyện, tự giác, là sự đòi hỏi tự thân, nó thường trực, hướng tới: “Không một chút nào được quên”. Theo Bác, để thanh niên sinh viên có lý tưởng cách mạng, trước nhất phải giáo dục nhận thức để giác ngộ lý tưởng. Thanh niên sinh viên là nhân vật trung tâm của nhà trường, hoạt động chính của thanh niên sinh viên là học tập. Vì thế giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên sinh viên trước hết là thông qua hoạt động học tập nhằm giúp cho họ tự trả lời câu hỏi: Học để làm gì? Học để phụng sự ai? Đương nhiên lý tưởng sống của thanh niên sinh viên không chỉ dừng lại ở nhận thức, ý thức và quan niệm, mà phải được tôi rèn trong thực tiễn học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tế, phải thành hành động, thông qua hành động, và hiệu quả của hành động. Bác dạy: “Điều gì phải thì cố làm cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ”. Học để làm người cách mạng, học để phụng sự nhân dân là như thế. Giác ngộ lý tưởng vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội và thực hiện lý tưởng cao đẹp đó bằng tình cảm, trí tuệ, tài năng, ý chí và nhiệt tình của tuổi trẻ lấy phục vụ sự nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân là lẽ sống cao quý của mình, đó chính là giá trị nhân cách của tuổi trẻ, là mục tiêu phấn đấu trở thành người trí thức cách mạng của thanh niên sinh viên hiện nay.

Về tình yêu: Khái niệm tình yêu mà Bác dạy hàm nghĩa rộng, nhưng rất thiết thực và Bác giải thích rất kỹ càng, cụ thể khi Bác nói tại Đại hội sinh viên toàn quốc lần thứ hai: 1- Yêu Tổ quốc;  2-Yêu nhân dân;  3- Yêu chủ nghĩa xã hội; 4– Yêu lao động; 5– Yêu khoa học;  6- Yêu kỷ luật. Tại buổi lễ khai mạc trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác huấn thị các học viên 7 điều phải và 6 điều chống: 1- Phải yêu Tổ quốc yêu nhân dân; 2- Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn; 3- Phải yêu và trọng lao động; 4- Phải giữ gìn kỷ luật; 5- Phải bảo vệ của công; 6- Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân; 7- Phải chủ ý đến tình hình thế giới.  6 điều chống là: 1- Chống tâm lý tự ti tư lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình; 2-Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc; 3- Chống thói xem khinh lao động; 4- Chống lười biếng, xa xỉ; 5- Chống sinh hoạt uỷ mị; 6- Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang. Bác nói rõ, xây đi liền với chống, yêu đi liền với ghét: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”.

Di huấn của Bác Hồ cho thanh niên sinh viên Việt Nam cũng là di huấn cho thế hệ trẻ Việt Nam, đó là tình cảm, là tư tưởng, là lời dạy, là định hướng cho lớp người sẽ làm chủ tương lai của đất nước. Vậy điều đơn giản nhất có thể làm được của các bạn sinh viên hiện nay là gì? 5 tốt: đạo đức tốt – học tập tốt – thể lực tốt – kỹ năng tốt – hội nhập tốt sinh viên Việt Nam cần đạt được. Và đây chính là hành động cụ thể thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguyễn Thị Vân NgaTrường đại học thủy lợi
Vknyo (st)

Chiều ba mươi Tết bên cạnh Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc

Bác Hồ chúc TếtNăm đó, 1951, như thường lệ, vào mùa đông cơ quan Phủ Chủ tịch và Phủ Thủ tướng đóng ở Bản Vèn, thuộc tỉnh Bắc Cạn, từ Đầm Hồng đi vào khoảng vài chục cây số. Rồi đến màu hè, hai cơ quan lại dọn về ở Châu Tự do, hoặc huyện Định Hóa, ở bên núi Hồng, từ Quảng Nạp đi vào cũng hơn 10 cây số. Hôm ấy chiều cuối năm âm lịch, trời tạnh ráo, nhưng gió buốt, lại các lán của cơ quan ở dưới bóng những cây to nên cái rét càng thấm vào da thịt.

Chúng tôi, anh em ở phủ Thủ tướng đốt củi ngồi sưởi ấm, nướng mấy củ sắn ngồi nói chuyện, kể những kỷ niệm về Tết ở quê nhà cho đỡ buồn, cho đỡ nhớ gia đình. Bếp của chúng tôi là những khúc gỗ to chụm lại, lúc lửa đã bén, thì các đầu gỗ cứ thế mà cháy âm ỉ, có khi suốt đêm suốt ngày không tắt, mường tượng như những đầu than âm và dương trong một bóng điện khổng lồ phát ra sức nóng và ánh sáng. Khoảng nửa tiếng đồng hồ một, mới cần đẩy các cây đầu gỗ lại gần với nhua. Bên bếp lửa hồng cháy đượm như vậy anh em đỡ rét, và đỡ lạnh lẽo trong lòng. Mọi người thi nhau nói những kỷ niệm lý thú nhất về cái Tết ở quê nhà, về những cái Tết lúc còn nhỏ, về cái thú đốt pháo, về cái thú theo mẹ theo cha, theo bà đi chợ Tết…

Câu chuyện đang đượm như lửa ấm thì Bác Hồ đi tới. Chúng tôi đứng dậy để chào thì Bác giơ tay ra hiểu bảo ngồi xuống và Bác cũng ngồi xen vào giữa chúng tôi bên cạnh bếp lửa trại. Ghế của Bác ngồi là một khúc gỗ được cưa bằng. Bác hỏi chúng tôi đã nấu bánh chưng chưa, và chương trình Tết của chúng tôi như thế nào. Chúng tôi báo cáo với Bác những trò vui mà chúng tôi định tổ chức với nhau ba ngày Tết. Bác dặn ngay là phải đi thăm đồng bào trong bản, cùng đồng bào tổ chức vui chơi ngày Tết đánh còn, thi bán chim, thi bắt cá trong hang suối…

Bỗng nhiên có một anh đứng dậy mạnh dạn thưa với Bác: “Thưa Bác tha cho, cho con được hỏi Bác một câu?”. “Chú cứ hỏi, và chú cứ ngồi xuống nói chuyện”. “Thưa Bác, tại sao Bác không lập gia đình?”. Tất cả chúng tôi lặng im đi một phút, một phần vì sợ Bác mắng do câu hỏi đường đột của đồng chí chúng tôi, một phần vì thấy nét mặt của Bác cũng dường như trầm ngâm trước câu hỏi đó. “Người ta ai cũng muốn có gia đình (giọng Bác nói thong thả và dường như có hạ cung bậc). Bác cũng là người như các chú, Bác cũng muón có đời sống gia đình đầm ấm. Nhưng các chú xem, hoàn cảnh của đời Bác không cho phép Bác lập được gia đình, đó là điều thiệt thòi cho Bác, mà Bác đâu có muốn thế!”. Rồi Bác cười: “Bây giờ thì muộn quá rồi! Bây giờ, gia đình Bác là tất cả các cô các chú, là tất cả bà con, đồng bào. Không có gia đình riêng, thì Bác lấy gia đình chung làm cái vui của Bác, làm cái ấm áp của Bác!”.

Giọng Bác nói khẽ trầm ngâm, chúng tôi nghe có người ứa nước mắt. Thấy vậy, Bác lại khuấy động không khí vào bảo chúng tôi hát lên cho vui, và bảo bới củ sắn ra cho Bác ăn với. Chúng tôi hát những bài kháng chiến quen thuộc, còn sắn thì mải câu chuyện không ai lật trở cho đều, cho nên đã cháy thui gần hết. Tuy vật Bác cũng cầm một mẩu nhỏ cùng ăn và khen sắn cháy càng thơm.

Trong đời chúng tôi đã ăn bao nhiêu cái Tết vui, ấm, lúc trong gia đình khi xa quê hương, nhưng chưa bao giờ lại có được một buổi chiều cuối năm ấm lòng như chiều Tết ở bản Vèn bên cạnh Bác. Rồi chiều mùng 1 Tết chúng tôi đi đánh còn với đồng bào ở ngoài đám ruộng khô, trong một thung lũng khá rộng, đi chúc Tết đồng bào, đi lội suối bắt cá… Sống cái Tết gần như cổ sơ, mà ngày tháng, giờ gấc tính theo độ lên xuống của mặt trời trên núi, mà sớm hay khuya không cần nhìn đồng hồ, chỉ nghe độ gió buốt lọt vào chăn cũng biết. ai có ngờ lúc đó, chúng tôi là một cơ quan đầu não kháng chiến là phủ Thủ tướng của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Theo vanhien.vn
Vknyo (st)

Tình cảm của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu

“Bác Hồ là vị cha chung
Là sao Bắc Đẩu là vầng Thái Dương”

Vâng! Bác Hồ của chúng ta yêu thương dân bằng tấm lòng của người cha, yêu đất nước bao la như lòng mẹ. Sinh thời Bác Hồ đã từng tâm sự: “Mình sinh ra ở xứ Nghệ An, ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Nhà Rồng. Qua Pháp, qua Anh, qua Mỹ, các nước châu Phi, đến Liên Xô rồi về Trung Quốc, thế mà đến nay mới vào đến Đồng Hới, chưa được vào tới miền Nam. Đáp lại tình cảm thiêng liêng của Bác, mỗi chiến sỹ trước khi ra trận đều khắc sâu hình bóng của Bác nơi trái tim mình. Nhiều chiến sĩ nói: Mỗi lần nhận nhiệm vụ hay trước một trận đánh lớn, nhớ tới Bác Hồ là chúng tôi lại thấy như được tiếp thêm sức mạnh. Khi đấu tranh với kẻ thù, người chiến sỹ có trái tim, trái tim mang hình Bác thiêng liêng rực rỡ.

Bác Hồ với các cháu thiếu niên dũng sĩ miền Nam (1969).

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam. Người nói: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Người luôn mong muốn được vào thăm nhân dân miền Nam. Và khi phải nằm trên giường bệnh, Người vẫn thường hỏi “Hôm nay miền Nam thắng đâu?”.

Mặc dù cho đến lúc đi xa, Bác Hồ chưa kịp vào thăm đồng bào miền Nam, nhưng tình cảm của Bác dành cho đồng bào miền Nam còn mãi như câu nói của Người: “Miền Nam trong trái tim tôi”…

Vào năm 1954, gia đình bà Lê Thị Sảnh (thường gọi là mẹ Tư) ngụ tại Cà Mau- đại diện nhân dân miền Nam gửi tặng Bác Hồ” cây vú sữa, Bác đã xúc động đến ngấn lệ khi biết đây là cây vú sữa của đồng bào vùng tận cùng của Tổ quốc. Cũng từ đó, cây vú sữa đã trở thành biểu tượng tấm lòng Bác Hồ đối với miền Nam và của miền Nam đối với Bác…và hình ảnh hàng ngày Bác tưới cây vú sữa do chính những người con miền Nam gởi tặng đã làm xúc động hàng triệu trái tim đồng bào miền Nam. Cây vú sữa bên nhà sàn, vẫn xanh tươi, minh chứng cho tấm lòng thủy chung của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu…

Được tin Bác qua đời, cả nước vô cùng tiếc thương. Dân Cà Mau ai ai cũng treo ảnh Bác Hồ ở nơi trang trọng nhất trong nhà. Có người còn lập bàn thờ ngay tại gia đình để tưởng nhớ Bác. Nhiều gia đình đã ba đời thờ cúng Bác, như gia đình ông Nguyễn Văn Tân ở ấp Phủ Thờ, xã Trí Lực…Bà con nơi đây luôn tâm niệm, đó niềm vinh dự lớn lao của họ khi được thờ một vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc. Vào các ngày lễ, ngày Tết, ngày sinh, ngày mất của Bác, bà con đều nấu mâm cơm, hoa, quả làm giỗ Bác theo tục thờ cúng tổ tiên. Bà Lê Thị Thanh Hải – nguyên PGĐ Bảo tàng HCM– Chi nhánh TPHCM, người đã từng nghiên cứu chuyên đề “ Bác Hồ với Miền Nam- Miền Nam với Bác Hồ”, kể lại:

Chưa từng được gặp Bác, chỉ nghe về Bác qua báo, đài, nhưng những người con của xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ luôn dành cho Bác sự yêu quý và lòng tôn kính sâu sắc nhất. Sau khi hay tin Bác qua đời, những người con vùng đất Lương Tâm đã họa chân dung của Bác và lập Đền thờ Người. Trải qua bao năm tháng khó khăn và chiến tranh khốc liệt, nhưng Đền thờ Bác vẫn tồn tại, vững chãi. Khi mới lập, ngôi đền chỉ là cây lá tạm bợ. Với tấm lòng của mình đối với vị Cha già kính yêu, người dân Lương Tâm đã không ngừng góp sức tôn tạo, mở rộng khu đền. Bên cạnh đó, được sự đầu tư của chính quyền địa phương, đến nay, Đền thờ Bác Hồ đã được tôn tạo, hoàn chỉnh để người dân đến viếng Bác. Không chỉ vậy, nhiều hộ dân ở xã Lương Tâm còn rước ảnh Bác về nhà thờ. Tại ấp 3, xã Lương Tâm, nhà nào cũng thờ ảnh Bác rất trang nghiêm. Họ xem thờ Bác chính là thờ ông bà mình, thờ Bác để nhắc nhở, giáo dục các thành viên trong gia đình về truyền thống cách mạng của dân tộc ta và thờ Bác để học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Ông Trần Thanh Triều, Phó Chủ tịch UBND xã Lương Tâm cho biết: “Tấm lòng của người dân nơi đây dành cho Bác là vô cùng lớn lao, ai cũng xem Bác như người cha của mình. Họ chưa từng được gặp Bác, nhưng lại rất yêu quý và tôn kính Bác, luôn có ý thức gìn giữ Đền thờ Bác và anh cho biết kế hoạch tổ chức lễ Giỗ của Bác:

Đã từ nhiều năm nay, cứ đúng vào dịp kỷ niệm Quốc khánh 2-9, nhân dân tỉnh Trà Vinh và đông đảo du khách từ mọi miền Tổ quốc lại về tham dự lễ tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền thờ Bác Hồ ở xã Long Đức, Thành phố Trà Vinh. Khi nghe tin Bác mất, người dân Long Đức đã bàng hoàng và nguyện chung một lòng xây dựng đền thờ Bác Hồ ngay trên mảnh đất quê hương của mình để ngày đêm hương khói cho Người. Trong suốt những năm tháng chiến tranh, mặc dù rất tức tối nhưng kẻ địch vẫn phải bất lực và khiếp sợ trước sự tồn tại của ngôi đền ra đời từ ý nguyện và lòng dân. Còn các chiến sĩ ta, trước mỗi trận đánh đều đến Đền dâng hương, hạ quyết tâm xung trận “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trước bàn thờ Tổ quốc và bàn thờ Bác. Hoà bình lập lại, Đền thờ đã trở thành “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống cách mạng và tinh thần học tập tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh của tỉnh…Trung bình mỗi năm, Đền Thờ Bác Hồ tiếp đón khoảng 100 đoàn đại biểu, với trên 50 ngàn lượt người trong và ngoài tỉnh đến tham quan, thắp hương viếng Bác. Nhất là vào 2 dịp lễ chính, đó là sinh nhật Bác 19/5 và Quốc Khánh 2/9 thì các đoàn khách và người dân đến đền thờ rất đông. Do đó, công tác tổ chức quản lý đền thờ cũng có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt để sẵn sàng phục vụ tốt cho ngày lễ. Tại đền, lễ giỗ, tưởng niệm Bác Hồ được chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức long trọng hằng năm vào đúng dịp 2/9 để báo công lên Bác. Chị Trần Thị Tươi, người dân xã Long Đức bày tỏ tình cảm của mình:

“Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong Cha…”

Câu thơ ấy đã hàm chứa tình cảm sâu sắc của Bác đối với miền Nam và của đồng bào miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu. Là con cháu Bác Hồ, mỗi người chúng ta nguyện ra sức học tập và làm theo tư tưởng của Người, xem đó là kim chỉ nam trên con đường phát triển của dân tộc, của đất nước trong thời đại mới. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một việc làm lâu dài và phải xuất phát từ tư tưởng, nhận thức, tình cảm thiêng liêng đối với Bác. Có như vậy, chúng ta mới thấy hết được giá trị to lớn mà Người đã để lại cho con cháu đời sau, để từ đó noi theo gương Bác, học tập và hoàn thiện bản thân, đóng góp công sức của mình cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước./.

Thành Sang
Vknyo (st)

Trọng dân, một tư tưởng lớn của Bác Hồ

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng ngày 11-2-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng”. Người chỉ rõ sự cần thiết phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng: Không có quần chúng thì không có lực lượng. Không có Đảng thì không có người lãnh đạo, hướng dẫn, chỉ đường. Người nhấn mạnh: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng”. “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn”.

Nói về trách nhiệm của Đảng đối với Tổ quốc và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa phải lo tính công việc lớn như đổi mới nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành nền văn hóa tiên tiến, đồng thời luôn luôn quan tâm đến những công việc nhỏ như tương, cà mắm, muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Người khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch”. “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt”. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức, thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai… phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo. Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn “những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân. Người nói: “Hiện nay chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình là cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.
Theo Bác Hồ, Đảng phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng nhân dân và hướng dẫn nhân dân, tổ chức thành lực lượng, thành phong trào hành động cách mạng trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Còn các tầng lớp của nhân dân phải tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức. Nhân dân là nguồn bổ sung vô tận cho Đảng và luôn luôn tràn trề sức xuân. Trọng dân là thương dân, vì nhân dân mà phục vụ và biết coi trọng sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Biết bao những phần tử ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đã trở thành đảng viên của Đảng. Quần chúng còn tham gia góp ý, phê bình sự lãnh đạo của Đảng với mong muốn Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng.

Khi Quốc hội tín nhiệm bầu Người làm Chủ tịch nước – Người trả lời các nhà báo: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận” (1). Người căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, tham ô, lãng phí, quan liêu, móc ngoặc, tham nhũng… vì nó “là kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, nó nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta. Người dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”(2). Trước lúc đi xa Bác Hồ đã căn dặn toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên rằng: Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng coi việc “làm đầy tớ” của nhân dân, phục vụ nhân dân, chăm lo cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là trách nhiệm, là vinh dự và niềm hạnh phúc.

Bác Hồ từng nói: Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người được sánh với Trời, Đất theo triết học phương Đông như Bác Hồ khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”.

Những lời dạy của Bác Hồ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng…”, “Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân…” là một tư tưởng lớn của Bác Hồ về trọng dân xuyên suốt từ ngày thành lập Đảng đến nay. Tư tưởng yêu nước, thương dân, trọng dân, suốt đời vì cách mạng, vì nhân dân mà hy sinh phấn đấu, không ham danh lợi, với một lối sống chân thực, giản dị, khiêm nhường của Bác Hồ là tấm gương đạo đức vô cùng trong sáng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chúng ta học tập và noi theo.

Tô Phương
Vknyo (st)