Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Người bạn linh mục chí cốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong bài điếu văn đọc tại lễ an táng linh mục Phạm Bá Trực, Bác viết: “Tôi xin thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Cụ”.

– Viết xong điếu văn, không thể đến nổi nơi hành tang cụ linh mục Phạm Bá Trực, Hồ Chủ tịch dặn ông Vũ Đình Huỳnh: “Chú vốn là đạo hữu của cụ linh mục. Chú thay mặt tôi đặt vòng hoa lên mộ phần cụ…”

“Đứng trước Chúa, không có sự phân biệt màu da”

Những sải chân bước rảo trên con đường dẫn sang núi Hồng, người có tên gọi Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng) giục bạn đồng hành: “Bệnh tình của Ông Cụ đã thuyên giảm, sốt cao đã hạ xuống bình thường. Ông Cụ hỏi tôi về tình hình nhân sĩ trí thức của Hà Nội và Bắc Hà đấy, tôi nói cái này không rành, sẽ có đồng chí khác báo cáo. Giờ anh lên, anh tới gặp Ông Cụ đi. Tôi đã trao đổi trước với đồng chí Hưng (Võ Nguyên Giáp) rồi.

Lội qua con suối, hai người tới một cái lán. Khi bước vào, khách trông thấy có Ông Cụ đang ngồi chăm chú đọc một cuốn sổ tay nhỏ. Gầy còm nhưng rắn rỏi, đôi mắt sáng và linh lợi, với chòm râu thưa, mới tiếp xúc lần đầu tiên khách đã nhận ra Ông Cụ cởi mở và giản dị. Với giọng trầm và ấm, từ trong ngực phát ra, Ông Cụ đề nghị khách nói cho nghe tình hình trí thức trong nước.

Giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951).Giáo sư, bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951).

Vị  khách đó là Vũ Đình Huỳnh, một nhà hoạt động lâu năm có uy tín lớn trong giới trí thức, công chức, công thương gia, tôn giáo của Hà Nội và Bắc Kỳ nói chung. Khi mặt trận Việt Minh phát hành tờ tín phiếu để quyên góp tài chính của các nhà “hằng tâm hằng sản” có tên và chữ ký của Triệu Hải, Triệu Vân. Triệu Hải là biệt danh của Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng) và Triệu Vân là Vũ Đình Huỳnh. Trước ngày khai mạc Quốc dân Đại hội tại Tân Trào, Triệu Hải – Triệu Vân bí mật sắm sửa lễ vật chuẩn bị.

Sau khi nghe Ông Cụ hỏi, ông Vũ Đình Huỳnh đã báo cáo với Ông Cụ những gì ông biết, từ phong trào Cần Vương trở đi, ai còn, ai mất trong Đông Kinh nghĩa thục; Phục Việt là gì, nhóm Thanh Nghị, Tự Lực văn đoàn… và thái độ của từng người đối với Việt Minh và cách mạng dân tộc thế nào…

Ông Cụ nghe chăm chú, thỉnh thoảng mới ngắt lời để hỏi kỹ thêm về một người nào đó như cụ Huỳnh Thúc Kháng; hay cụ Nguyễn Văn Tố tại sao lại gọi là ông Phán Men, có phải vì cụ nghiện rượu. Khi biết cụ Nguyễn Văn Tố hàng ngày đi làm, không đi xe kéo mà chỉ đi bộ, lúc nào cũng cầm ô đi sát đường, đi men tường nên mới thành biệt hiệu ông Phán Men. Ông Cụ cười thành tiếng, giọng cười ấm áp, thư thái và truyền cảm.

Thế còn linh mục Phạm Bá Trực?

Ông Vũ Đình Huỳnh báo cáo để Ông Cụ rõ: Linh mục Phạm Bá Trực sinh năm 1898 tại Bách Nguyên, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Linh mục là một trong những khuôn mặt nổi bật nhất, nổi tiếng là một người yêu nước chống Pháp kiên quyết nhất.

Những năm đầu 1930, sau khi học xong tại Roma – đã đậu bằng Tiến sĩ triết học và Thần học – trở về nước, Linh mục càng thấy rõ hơn ai hết, những cảnh bất công đồng bào mình phải chịu cũng như cả Giáo hội Việt Nam phải chịu. Ai cũng nghĩ Phạm Bá Trực sẽ được phong giám mục, vậy mà giáo chức người Pháp lại đưa về thị xã Hà Đông giữ một xứ đạo nhỏ, chỉ vì Phạm Bá Trực bướng bỉnh chống lại những lề thói phân biệt đối xử giữa các linh mục Tây và Việt Nam. Thấy cố đạo Tây lộng hành, cha mắng. Thấy linh mục người Việt không được phép ăn chung với linh mục Tây, cha chống. Linh mục Phạm Bá Trực chống cả việc linh mục tây vào gặp giám mục thì bắt tay mà linh mục ta thì phải tụt giày, vái lễ. Linh mục Phạm Bá trực có câu nói nổi tiếng: “Đứng trước Chúa, không có sự phân biệt màu da”.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, bốn giám mục Việt Nam lúc đó (hơn 80 năm kể từ khi chính thức xác lập năm 1862, Va-ti-căng chỉ phong phẩm và bổ nhiệm bốn giám mục người Việt Nam) đã gửi hai điện văn cho Toà thánh và tín hữu toàn cầu, đề nghị ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh.

Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 bầu cử đại biểu Quốc hội lập hiến đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những nhà tu hành như: Thượng toạ Thích Mật Thể, Chưởng quản Cao Đài Cao Triều Phát, linh mục Phạm Bá Trực…đều trúng cử. Linh mục Phạm Bá Trực, đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Nam, được cử vào Uỷ ban Thường trực rồi Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội.

“Vua Hùng kén rể”

Được sự uỷ nhiệm của Quốc hội, trong “Lời tuyên bố sau khi thành lập Chính phủ mới” – Chính phủ Liên hiệp tháng 11 năm 1946 – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chính phủ mới phải tỏ rõ tinh thần đại đoàn kết, không phân đảng phái… Kết quả là, có những vị có tài năng nhận lời tham gia Chính phủ:  như Cụ Huỳnh, vì tuổi già sức yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy đại nghĩa mà lưu Cụ, Cụ cũng gắng ở lại. Lại có nhiều vị đứng ngoài sẵn sàng ra sức giúp đỡ: như Cụ Bùi Bằng Đoàn, linh mục Phạm Bá Trực… Dầu ở trong hay ngoài Chính phủ, ai nấy đều hứa sẽ cố gắng làm việc, một lòng vì nước,vì dân…

Chính phủ này là Chính phủ toàn quốc, có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia”.

Nhờ chính sách đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đa số người Công giáo Việt Nam đã tin tưởng đi theo cách mạng. Những ngày đầu kháng chiến gian khổ, giám mục Hồ Ngọc Cẩn (Bùi Chu) đã ủng hộ cả dây chuyền vàng cho chính phủ Việt Minh.

Trong nhiều chức vụ quan trọng của Chính phủ, Quốc hội, người ta thấy có mặt người Công giáo như linh mục Phạm Bá Trực, cụ Ngô Tử Hạ – Thứ trưởng Bộ Cứu tế, luật sư Nguyễn Mạnh Hà – Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế đầu tiên, bác sĩ Vũ Đình Tụng – Thứ trưởng Bộ Y Tế.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10 năm 1949) Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10/1949)

Tại miền Nam có nhà cả 3 linh mục, 2 nữ tu đều theo kháng chiến như gia đình linh mục liệt sĩ Nguyễn Bá Luật. Liên đoàn công giáo kháng chiến Nam bộ đã ra đời sau đó là Uỷ ban liên lạc Công giáo kháng chiến đã tập hợp nhiều tên tuổi như các linh mục Võ Thành Trinh, Hồ Thành Biên, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh…

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các Uỷ viên trong Ban thường trực được phân đi các địa phương ở Liên Khu III, Liên khu Việt Bắc động viên nhân dân kháng chiến. Sau đó các uỷ viên tuỳ theo khả năng và yêu cầu mà tham gia hoạt động kháng chiến ở địa phương, như Uỷ ban kháng chiến hành chính, làm phái viên của Chính phủ ở các khu… Cụ Bùi Bằng Đoàn được phân công sát bên cạnh Chính phủ để tiếp tục nhiệm vụ của Ban Thường trực. Cụ Tôn Đức Thắng và linh mục Phạm Bá Trực được mời về cùng Trưởng ban điều hành công việc của Ban.

Sau khi đập tan cuộc tập kích của thực dân Pháp lên chiến khu Việt Bắc với mưu đồ bắt sống toàn bộ Trung ương Đảng và Chính phủ ta, Hồ Chủ tịch quyết định họp Hội đồng Chính phủ để mừng chiến thắng đồng thời vui Tết, đón Xuân Mậu Tý (1948). Phiên họp “tất niên” của Hội đồng Chính phủ diễn ra giữa núi rừng Việt Bắc khi rét đậm tràn về, nhưng các thành viên đều có mặt đông đủ. Trừ ông Đặng Phúc Thông vì ốm, còn các cụ Bùi Bằng Đoàn – Trưởng ban, Linh mục Phạm Bá Trực – Phó Trưởng ban thường trực Quốc hội… là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết của dân tộc, dù tuổi già sức yếu đều tới dự. Có chiến sĩ, có quan thượng thư, có đức linh mục, có trí thức, có Việt minh, những người tóc đã bạc bên những người mái đầu xanh tuổi mới ba mươi… Tất cả cùng chung một ý chí “Tổ quốc trên hết, Kháng chiến trước hết”.

Cuối buổi, anh em phục vụ bưng lên mấy đĩa cam sành Bố Hạ vàng mọng của đặc uỷ đoàn do Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hoè mua về đãi quà Tết. Hội đồng Chính phủ vừa ăn cam vừa nghĩ, đóng góp một trò vui để cùng ăn Tết thật vui vẻ. Cụ Hồ giới thiệu cụ Bùi Bằng Đoàn sẽ mở đầu cuộc vui Xuân mừng chiến thắng…. Sau đó là màn diễn “Vua Hùng kén rể”.

Diễn viên đầu tiên Vở kịch “Vua Hùng kén rể” bước lên sân khấu trong tiếng hò la và vỗ tay rầm rộ của khán giả. Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội, linh mục Phạm Bá Trực, vai vua Hùng lụng thụng trong chiếc áo dạ to xù của lính Pháp mà Quân nhu mới cấp, và chiếc mũ dạ to tướng thường ngày để thay mũ bình thiên. Tiếp đó là Sơn Tinh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp luật sư Vũ Đình Hoè – nhảy ra múa mấy vòng, rồi khuỳnh khuỳnh tay tâu với Vua Hùng về chiến công đuổi được Thuỷ Tinh ra tận ngoài biển.

“Vua Hùng“ vểnh râu lên, khoái trá vuốt, rồi gọi to: “Bớ Mỵ Nương ! Con gái ta, mau mau ra mắt…”. Lời vừa dứt, công chúa choàng chiếc áo ca-pốt cũ của lính lê dương yểu điệu, da trắng nõn, đôi bờ vai hơi rộng, ra trình Vua cha. Khán giả cười lăn, cười bò vì công chúa có râu lún phún đó là luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Kinh tế. Vua cha, chàng rể, công chúa cùng nhau ôm bụng cười… Cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban ôm chặt lấy cụ linh mục Phó ban của mình, đấm thùm thụp vào lưng và nói: “Giỏi quá! Giỏi quá! Thật là vui như Tết, vui hơn Tết!”.

Linh mục Phạm Bá Trực là một người yêu nước, kính Chúa. Được gặp Cụ Hồ, do sức cảm hóa đặc biệt của Người, Cụ Trực đã kiên quyết một lòng đi theo cách mạng và kháng chiến.

Là  Phó trưởng Ban Thường trực Quốc hội khóa I, Cụ Trực được mời tham dự các phiên họp của Hội đồng Chính Phủ do Cụ Hồ chủ trì. Nhiều buổi họp khuya, Cụ thường được ở lại cùng Cụ Hồ.

Có  lần, dưới ngọn đèn khuya Cụ Trực ngồi yên lặng, ngắm Cụ Hồ làm việc, cảm thấy Cụ Hồ như là hiện thân của Chúa, mang đức độ nhân từ, bác ái, vị tha của một bậc thánh, Cụ Trực bỗng thốc lên: “Vous – êtes surnaturel!” (Người đúng là siêu nhiên!). Cụ Hồ mỉm cười, phủ nhận: “Non, nous sommes contre – naturel!”.

Bài điếu văn do Bác Hồ viết

Kháng chiến chín năm, Hồ Chủ tịch nhiều lần rơi lệ  khóc những bậc tài đức đã ra đi mà chưa  được nhìn thấy nước nhà độc lập. Đầu năm 1947, Người gửi điện văn vào Trung Bộ khóc cụ  Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nôi vụ, Đặc phái viên của Chính phủ kinh lý miền Trung đã từ trần ngày 21/4/1947. Buổi khai mạc phiên họp tất niên 1947 của Hội đồng chính phủ giữa núi rừng Việt Bắc, Hồ Chủ tịch đã bật khóc nhắc tới cụ Nguyễn Văn Tố – vị Bộ trưởng cứu tế xã hội trong Chính phủ lâm thời, Trưởng ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng không bộ trong Chính phủ, hy sinh khi Pháp tấn công lên Việt Bắc ngày 7/10/1947. Năm 1951, cụ Hồ Tùng Mậu, một người bạn thân thiết nữa của Hồ Chủ tịch ngã xuống. Lần này…

Chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, Hiệp định Giơnevơ đã ký kết, miền Bắc được giải phóng, Chính phủ sắp trở về Thủ đô. Nhưng cuộc sống vất vả trong chiến khu vắt kiệt sức và cụ linh mục Phạm Bá Trực, Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội đã tạ thế hồi 12 giờ 55 phút ngày 5 tháng 10 năm 1954 hưởng thọ 56 tuổi. Lại thêm một đêm Người thức trắng, từng dòng lệ rơi trên trang giấy đọng lại trong lời ai điếu. Viết xong điếu văn, không thể đến nổi nơi hành tang cụ linh mục Phạm Bá Trực, Hồ Chủ tịch dặn ông Vũ Đình Huỳnh: “Chú vốn là đạo hữu của cụ linh mục. Chú thay mặt tôi đặt vòng hoa lên mộ phần cụ…”

Hồi 9 giờ 30 ngày 7 tháng 10 năm 1954 lễ an táng linh mục Phạm Bá Trực được tổ chức tại nhà thờ An Huy, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Theo Thông cáo của Uỷ ban Thường trực Quốc hội – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi vòng hoa viếng kèm lời điếu. Người phải cậy nhờ Bộ trưởng Phan Anh thay mặt Người đọc lời điếu:

“Tôi xin thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Cụ.

Từ  ngày nhân dân tin cậy cử  Cụ làm đại biểu Quốc hội và Quốc hội cử Cụ vào Ban thường trực, Cụ đã đưa hết tinh thần và lực lượng giúp Chính phủ trong mọi vấn đề quan trọng. Trong mọi việc, Cụ đã kết hợp đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy, với tinh thần nồng nàn yêu nước của người đại biểu chân chính cho nhân dân Việt nam.

Nay Cụ mất đi, Chính phủ và nhân dân vô cùng thương xót.

Trong lúc ốm nặng Cụ thường nói với tôi: Mong trông thấy kháng chiến thắng lợi thì dù chết Cụ cũng thoả lòng.

Nay hoà bình đã trở lại Cụ đã thoả lòng.

Nhưng tiếc rằng Cụ không còn nữa để giúp nước, giúp dân.Với lòng vô cùng thương tiếc một nhà tận tuỵ ái quốc và một người bạn thân mến, trước linh hồn Cụ, chúng tôi nguyện kiên quyết một lòng, đoàn kết toàn dân để làm tròn sự nghiệp mà suốt đời Cụ mong muốn là: củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn nước Việt Nam yêu quí của chúng ta.

Hồ  Chí Minh”.

Ngày 28/11/2009 tại Thái Nguyên, UBND tỉnh Thái Nguyên, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên và Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã tổ chức Hội thảo Khoa học “Linh mục Phạm Bá Trực và đường hướng Công giáo đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ Kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954)”.Trong tham luận “Một số tư liệu về linh mục Phạm Bá Trực (1946-1954): Giới thiệu, đính chính, những vấn đề cần làm rõ”, Thạc sĩ Ngô Quốc Đông công tác tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) có nhắc đến một thực tế hiện nay là hình ảnh về linh mục Phạm Bá Trực rất hiếm thấy. Anh có dẫn ra 5 tấm ảnh từ năm 1946 đến khi linh mục qua đời (1954).

Để kết thúc bài viết này, tôi xin đăng kèm hai tấm ảnh về linh mục Phạm Bá Trực tại Chiến khu Việt Bắc. Tấm thứ nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10 năm 1949); tấm thứ hai là giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951). Còn một số ảnh khác, trong đó có ảnh chân dung kèm bút tích của linh mục Phạm Bá Trực xin hẹn vào một dịp khác.

Kiều Mai Sơn
Vkyno (st)

Trung Quốc xuất bản sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nội dung cuốn sách được sắp xếp theo mạch thời gian từ thời thơ ấu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến khi Người để lại bản di chúc thiêng liêng.

Nhà xuất bản Tri thức thế giới của Trung Quốc đã xuất bản cuốn sách “Hồ Chí Minh, một cuộc đời huyền thoại” của tác giả Lý Gia Trung, nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam.

Cuốn sách dày 296 trang. Toàn bộ trang bìa in trang trọng ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nội dung cuốn sách được sắp xếp theo mạch thời gian từ thời thơ ấu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến khi Người để lại bản di chúc thiêng liêng.

Sách được chia theo bốn mục lớn: Bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước; Trở về lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám; Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; Những câu chuyện về Hồ Chí Minh và phần Phụ lục. Hầu hết mỗi mục đều có ảnh minh họa sinh động.

Trong lời tựa giới thiệu cuốn sách, Hội trưởng Hội Văn bút ngoại giao Trung Quốc, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, nguyên Đại sứ Trung Quốc tại CHLB Đức Vương Thù đã viết:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ kính mến của nhân dân Việt Nam, cũng là người bạn thân thiết của nhân dân Trung Quốc. Hồ Chí Minh đã cống hiến vô tư cả cuộc đời mình cho công cuộc giải phóng dân tộc và giành độc lập cho đất nước. Trong những năm tháng cách mạng gian khổ nhất của nhân dân Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã từng kề vai sát cánh chiến đấu với nhân dân Trung Quốc.

Đặc biệt trong hoàn cảnh nhân dân cả nước ta đang phấn đấu ngoan cường vì sự nghiệp trỗi dậy của tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tinh thần cách mạng, một đời liêm khiết của Người mãi mãi là tấm gương sáng cho chúng ta nghiêm túc học tập và noi theo. Trong quá trình chỉnh đốn đảng, tăng cường công tác chính trị tư tưởng hiện nay, việc xuất bản giới thiệu cuốn sách về cuộc đời Hồ Chí Minh sẽ rất bổ ích đối với chúng ta….”.

Ông Vương Thù cũng cho rằng cuốn sách sẽ góp phần tăng cường tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa hai Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước “núi sông liền một dải”.

Tác giả Lý Gia Trung sinh năm 1936 tại Thiên Tân. Từ năm 1956, ông theo học tại Khoa Pháp ngữ thuộc Học viện Ngoại ngữ Bắc Kinh, Khoa Ngôn ngữ phương Đông tại trường Đại học Bắc Kinh và là lưu học sinh trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Ông đã bốn lần công tác tại Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, nhiều lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã từng biên dịch và giới thiệu những câu chuyện về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hiện nay, ông Lý Gia Trung là hội viên Hội nghiên cứu các vấn đề quốc tế Trung Quốc, Ủy viên Hội nghiên cứu lịch sử ngoại giao Trung Quốc.

(Theo TTXVN)
Vkyno (st)

Tự phê bình và phê bình – vũ khí sắc bén ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânTrong bốn nhóm giải pháp về xây dựng Đảng do Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đề ra, thì “Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cấp trên” được Trung ương xác định là nhóm giải pháp số một. Điều đó cho thấy vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng của nhóm giải pháp này đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau (1). Người khẳng định: tự phê bình và phê bình có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải xem tự phê bình và phê bình như mỗi ngày soi gương, rửa mặt, để làm cho sạch sẽ cơ thể; mỗi cán bộ, đảng viên “Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình. Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình”(2). Theo Người, tự phê bình và phê bình là công cụ quan trọng nhất để xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đoàn kết trong Đảng là đoàn kết thống nhất từ trong tư duy, nhận thức, lý tưởng đến hành động cách mạng hàng ngày.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhận định: “Trong bao nhiêu năm hoạt động bí mật, dù bị bọn thực dân khủng bố gắt gao và Đảng ta gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm, nhưng Đảng ta ngày càng phát triển, càng mạnh mẽ và đã lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi. Đó là vì Đảng ta khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê bình”(3) . Nên, trong Di chúc, Người căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Quán triệt và thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ Đại hội IV đến Đại hội XI của Đảng, trong nghị quyết của mỗi nhiệm kỳ đều nhấn mạnh đến việc thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả tự phê bình và phê bình để không ngừng xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu trong tình hình mới. Cùng với những thành tựu đạt được hết sức quan trọng, Đảng ta cũng thừa nhận vẫn còn không ít những hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X trình Đại hội XI thừa nhận: “Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội… Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức cơ sở đảng còn thấp; công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nền nếp, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, tự phê bình và phê bình yếu… Nhiều khuyết điểm, sai lầm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được phát hiện. Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên”(4).

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI tiếp tục chỉ rõ những vấn đề cấp bách, cần giải quyết ngay bởi nếu không giải quyết sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Một trong những vấn đề “nóng”, cấp bách là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa dân,… của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chẳng những chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn diễn biến phức tạp hơn. Biểu hiện cụ thể của vấn đề trên là cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao, không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng; không trung thực, không thẳng thắn trong tự phê bình và phê bình, thiếu dân chủ hoặc dân chủ hình thức; sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, quan điểm lệch lạc, sai trái. “Tình hình trên đây có nguyên nhân khách quan… Nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan: Cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ. Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát…”(5). Nghị quyết một lần nữa khẳng định giải pháp đầu tiên là nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên, mà trước hết là các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng là khâu mấu chốt nhất, nhưng cũng có nhiều khó khăn nhất. Bởi vì, nó đòi hỏi mỗi người phải tự phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác. Nếu không thật tự giác, chân thành, công tâm thì rất dễ chủ quan, thường chỉ thấy ưu điểm, mặt mạnh của mình nhiều hơn người khác; trong khi chỉ thấy khuyết điểm, mặt yếu của người khác nhiều hơn mình. Nếu không hết lòng vì sự nghiệp chung, không có dũng khí, không thật sự cầu thị thì không dám nói hết khuyết điểm của mình và không dám phê bình người khác, nhất là phê bình cấp trên. Thái độ nể nang, hữu khuynh “im lặng là vàng”, hoặc thái độ cực đoan, muốn lợi dụng phê bình để đả kích người khác, gây rối nội bộ, đều là không đúng. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi mỗi người phải có tinh thần tự giác rất cao, có tình thương yêu đồng chí thật sự và phải có dũng khí đấu tranh thẳng thắn, chân tình”. Và, Tổng Bí thư yêu cầu: quá trình kiểm điểm phải thực sự nghiêm túc, không làm lướt, làm qua loa, chiếu lệ, cần đưa tự phê bình và phê bình thành nền nếp trong sinh hoạt của Đảng.

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng từ việc thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình

Đảng ta luôn khẳng định: Tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén, là công cụ cho sự phát triển của Đảng. Mỗi đảng viên cần quyết tâm làm cho tự phê bình và phê bình trở thành tính tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên, thành nền nếp trong sinh hoạt của Đảng. Do vậy, để thực hiện hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, chúng ta cần:

Trước hết, phải nhận thức đúng mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở đảng và toàn bộ hệ thống chính trị thấy và sửa chữa những khuyết điểm, làm cho tốt hơn, đúng hơn; để mọi người học ưu điểm của nhau, cùng giúp nhau tiến bộ. Tự phê bình và phê bình có vai trò hết sức quan trọng là xây dựng mối đoàn kết, tăng sức mạnh trong Ðảng.

Hai là, thực hiện tự phê bình và phê bình phải gắn với các nội dung liên quan đến tư cách của người đảng viên, gắn với trách nhiệm, quyền hạn của cá nhân, đơn vị, địa phương mình phụ trách; chỉ rõ những vấn đề làm được, chưa làm được, nguyên nhân và phương hướng khắc phục.

Thứ ba, phương pháp tự phê bình và phê bình là nêu ưu điểm, vạch khuyết điểm của mình trước và nêu ưu điểm, vạch khuyết điểm của đồng chí mình sau; kiểm điểm, phê bình phải trên tinh thần xây dựng, yêu thương, giúp đỡ đồng chí mình tiến bộ. Việc tự phê bình và phê bình phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, kiên trì, bởi nếu không làm thường xuyên thì khuyết điểm ngày càng tăng, tích tụ ngày càng nhiều, ưu điểm cũng không được phát huy.

Đối với tổ chức đảng, thực hiện tốt chế độ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Khi tự phê bình và phê bình trong tập thể tổ chức đảng thì phải làm rõ kết quả thực hiện những công việc mà theo quy định phải do cả tập thể tổ chức đảng đó xem xét, quyết định. Tuy nhiên, cần tránh tình trạng, hễ có khuyết điểm thì trách nhiệm thuộc về tập thể, còn khi có thành tích thì cá nhân các đồng chí lãnh đạo được hưởng. Kiểm điểm tổ chức thì phải căn cứ vào kết quả thực hiện nghị quyết đã ban hành, vì sao còn tồn tại, khuyết điểm. Để tránh tình trạng khuyết điểm là của chung tập thể, khi kiểm điểm đối với tập thể ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy trong việc thực hiện quy chế làm việc, thì phải kiểm điểm đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn trước hết của ban thường vụ cấp ủy, rồi sau đó mới đến cá nhân từng đồng chí ủy viên ban thường vụ cấp ủy, của tập thể thường trực cấp ủy trước rồi mới đến từng đồng chí thường trực cấp ủy.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI yêu cầu: Trong kiểm điểm phải có góp ý vào bản tự kiểm điểm của cấp mình, cấp dưới, của cấp trên, nếu làm chưa đạt thì phải làm lại; trong quá trình kiểm điểm, nếu các đoàn thể, quần chúng phát hiện những vấn đề còn chưa đúng, thiếu sót thì cá nhân, tổ chức phải nghiêm túc tiếp thu, bổ sung vào phần tự kiểm điểm, tự phê bình của mình. Kết hợp chặt chẽ tự phê bình và phê bình trong Đảng với phê bình của quần chúng là biện pháp khắc phục triệt để những khuyết điểm của tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc phê bình của quần chúng đối với Đảng là cung cấp thông tin quan trọng và cần thiết cho tổ chức đảng nghiên cứu, xem xét, đánh giá hoạt động của mình, đánh giá phẩm chất, năng lực của cán bộ, đảng viên.

Thứ tư, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, người đứng đầu phải gương mẫu tự phê bình và khuyến khích người khác phê bình mình. Do vậy, khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải tuyệt đối tránh thái độ quy chụp, trù dập, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền. Đối với các đảng viên khi phê bình người đứng đầu thì cần phải thẳng thắn, trung thực, không bao che, không phê bình theo kiểu cơ bản là ưu điểm. Người đứng đầu phải luôn lắng nghe ý kiến góp ý cho mình một cách chân thành, cởi mở và nếu có khuyết điểm thì phải nghiêm túc tiếp thu và sửa chữa. Người đứng đầu phải kiểm điểm nội dung về mối quan hệ với quần chúng, lắng nghe ý kiến góp ý, phê bình của nhân dân.

Thứ năm, đảng viên khi thực hiện tự phê bình và phê bình phải có động cơ trong sáng; phải đặt tự phê bình và phê bình với vấn đề đạo đức cách mạng trong một mối quan hệ biện chứng. Tự phê bình và phê bình không phải là đặc quyền của riêng một cá nhân nào, mà là quyền lợi, nghĩa vụ, là đặc trưng phẩm chất cao quý của tất cả những người cách mạng chân chính.

Thay lời kết

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” được xem như một luồng sinh khí mới, được dư luận xã hội hưởng ứng và đặc biệt quan tâm. Bởi, thực hiện tốt Nghị quyết sẽ giúp cho Đảng có thêm năng lực, uy tín và sức mạnh, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Chính vì lẽ đó, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Tự phê bình và phê bình có vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng và củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng, qua đó góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh. Do vậy, mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên cần tự giác, trung thực, đánh giá cho thật khách quan. Tập trung kiểm điểm trách nhiệm đối với công việc, đối với đơn vị; phẩm chất cá nhân của mình về các mặt nhận thức, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, quan hệ với quần chúng… để thấy rõ ưu điểm mà phát huy, nhận ra khuyết điểm mà sửa chữa, coi trọng sự giáo dục, sự giúp đỡ chân thành của đồng chí, đồng nghiệp, học tập lẫn nhau. Những trường hợp sai phạm nghiêm trọng mà không thành khẩn, không tự giác, tập thể giúp đỡ mà không tiếp thu thì phải xử lý thích đáng.

Tự phê bình và phê bình không những là nghệ thuật, văn hóa trong Đảng, là quy luật phát triển của Đảng mà còn là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng, là sợi dây liên kết, ràng buộc khăng khít giữa đảng viên với nhau, giữa đảng viên với tổ chức đảng, và giữa Đảng với nhân dân. Thực hiện tự phê bình và phê bình chính là để giải quyết những mặt đối lập, những khuyết điểm trong nội bộ Đảng, để tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng của đảng chân chính. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý nghiêm, kịp thời những tổ chức đảng, đảng viên không thực hiện tốt nghị quyết, chỉ thị của Đảng về tự phê bình và phê bình, nhất là những người thành kiến, trù dập người phê bình; phải có biện pháp bảo vệ người phê bình dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, đồng thời buộc người có khuyết điểm, bị phê bình phải sửa chữa khuyết điểm.

Tình hình trong nước và quốc tế còn nhiều diễn biến phức tạp, thuận lợi – thách thức, thời cơ – nguy cơ đan xen nhau… đang đặt ra cho Đảng ta và toàn bộ hệ thống chính trị nhiệm vụ ngày càng nặng nề. Chính vì vậy, đẩy mạnh thực hiện tự phê bình và phê bình vừa là vấn đề cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên, bởi lẽ nguyên tắc này là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén để xây dựng Đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, nhằm củng cố khối đại đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Vũ khí sắc bén này phải thường xuyên được sử dụng và mài dũa để có đủ khả năng ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng hiện nay, góp phần quan trọng cho công cuộc xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 267, 644

(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 9, tr. 289 – 290

(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr. 172, 174, 175

(5) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 23 – 24

 Theo Tạp chí Cộng sản
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồi ức nữ cảnh vệ đầu tiên của Bác Hồ

Đại tá Thuận, nữ cảnh vệ đầu tiên của Việt Nam kể lại những kỷ niệm đáng nhớ về những năm tháng bảo vệ các lãnh đạo cấp cao.

Ở căn nhà nằm sâu trong một ngõ nhỏ tại Hà Nội, đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận, nguyên là Phó Cục trưởng thuộc Bộ Tư lệnh cảnh vệ (Bộ Công an) vẫn minh mẫn, khỏe mạnh dù năm nay đã ngoài 90 tuổi. Trong số những cán bộ được vinh dự bảo vệ Bác, bà là nữ cảnh vệ được đào tạo chuyên nghiệp đầu tiên.

Lần đầu gặp Bác Hồ

Bà Thuận kể, lần đầu được thấy Bác là trong ngày Bác đọc Tuyên ngôn độc lập. “Tôi nhìn Bác chăm chú, nhớ ra đã thấy ảnh Bác in trong sách do mật thám Pháp in để nghiên cứu, tìm hiểu Đảng cộng sản Đông Dương. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp có một người bạn đưa cho tôi xem, nhưng lúc ấy tôi đâu biết đó là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận.

Lần thứ hai bà Thuận được gặp Bác là lần chúc tết Bác dịp tết Bính Tuất năm 1946, Tết đầu tiên của đất nước Việt Nam độc lập.

“Lúc đó tôi và một chị nữa tranh nhau đứng cạnh Bác. Lúc ấy, Bác rất tinh tế khi đứng giữa hai chị em chúng tôi rồi chụp ảnh. Một cử chỉ tuy nhỏ nhưng khiến chúng tôi tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Người”, bà Thuận nói.

Khép kín, tuyệt mật

Theo bà Thuận, rất nhiều nguyên tắc và phương pháp bảo vệ của ngành công an sau này đều thừa hưởng từ điều mà Bác dạy: “Không ngừng học hỏi và luôn dựa vào nhân dân, vào đồng chí, cơ quan. Học những phương pháp của nước ngoài là tốt, nhưng phải ứng biến, vận dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam”.

Năm 1961, bà Thuận là một trong những sinh viên tốt nghiệp khóa đầu tiên ở Đại học Y Dược với tấm bằng đỏ.

Nhận nhiệm vụ từ ông Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng bộ Công an khi đó, nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thuận được chuyển sang làm công tác Cảnh vệ.

Trong lần đầu được điều động làm công tác bảo vệ an ninh cho Đại hội Đảng lần thứ 3, bà Thuận làm việc cùng một nữ cảnh vệ chuyên trách an ninh cho Chủ tịch Mao Trạch Đông của Trung Quốc.

Nữ chuyên gia Trung Quốc tỏ ra vô cùng ngạc nhiên trước những phương pháp kiểm định thực phẩm cực nhanh và chuẩn của bà Thuận.

Nếu dùng phương pháp kiểm định chính quy, thường phải 1 tuần mới cho kết quả, trong khi bà Thuận chỉ mất vài giờ đồng hồ để cho kết quả tuyệt đối khớp với chuyên gia Trung Quốc.

“Lúc đó tôi làm bằng phương pháp nghiệp vụ kết hợp kiến thức khoa học, vẫn đảm bảo tính an toàn nhưng quan trọng là phải nhanh, chuẩn trong điều kiện Việt Nam chưa có nhiều tiềm lực tài chính để mua sắm trang thiết bị đắt tiền”, bà Thuận nói.

Bảo đảm an toàn tuyệt đối về thực phẩm là nhiệm vụ quan trọng nhất của lực lượng kỹ thuật bảo vệ trong ngành công an.

Ít ai biết rằng, bà Thuận là một trong những chiến sĩ có công đầu trong việc vận chuyển những bó hoa lay ơn tươi rói sang cho Đại hội Đảng cộng sản Liên Xô (cũ) lần thứ 22, được tổ chức năm 1962.

 Đại tá Thuận là nữ cảnh vệ đầu tiên của Bác Hồ.

Lần đó, bà Thuận đứng đầu đội cán bộ đưa những củ hoa lay ơn đã qua chọn lọc xuống trồng tại Hải Dương. Đến ngày thu hoạch, bà Thuận lại xuống tận nơi, kiểm tra từng bông hoa một để đảm bảo tuyệt đối an toàn rồi sau đó “áp tải” hoa sang tận Matxcơva.

Các đại biểu dự Đại hội Đảng cộng sản Liên Xô đã vô cùng bất ngờ và thích thú khi thấy những bông hoa lay ơn rực rỡ khoe sắc trong phòng họp giữa mùa đông giá lạnh ở Matxcơva.

Bà Thuận cũng từng trực tiếp làm việc với nhiều chuyên gia Trung Quốc, Liên Xô trong đội ngũ bảo vệ Mao Trạch Đông, Stalin. Năm 1962, bà được cử sang Liên Xô làm việc cùng các chuyên gia cao cấp trong đội bảo vệ Stalin. Tại đây, bà Thuận có dịp tiếp xúc những kỹ thuật tối tân của thế giới thời đó.

Cảm phục sự thông minh, chăm chỉ của nữ chiến sĩ cảnh vệ Việt Nam, các chuyên gia Liên Xô tặng bà quyển sổ tay ghi chép những biện pháp tuyệt mật về những khâu kiểm định an toàn. Kinh nghiệm quý báu của các chuyên gia Liên Xô sau này được bà vận dụng rất thành công và truyền dạy lại cho những thế hệ cán bộ tiếp theo.

“Cho đến nay, lực lượng cảnh vệ nói chung và lực lượng kỹ thuật bảo vệ nói riêng chưa từng để xảy ra sai sót nào đáng kể, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho các lãnh đạo trong những chuyến công tác trong và ngoài nước”, bà Thuận nói với giọng tự hào.

Nhân chứng lịch sử

Đầu tháng 1/1947, trước Tết Nguyên đán Tân Hợi, bà Thuận được giao nhiệm vụ “mã” bức thư đánh qua điện đài mật của Trung ương vào mặt trận Liên khu I.

Đó là bức thư của Bác Hồ: “… Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em.

 Nguyên Phó cục trưởng Cục Cảnh vệ – bà Nguyễn Thị Bích Thuận

Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau…”.

Trong kháng chiến chống Pháp, bà được mã hóa bức điện Bác gửi vào cho cán bộ chiến sỹ mặt trận Liên khu I. Bức điện lịch sử được gửi đi từ cơ sở bí mật tại Mễ Trì, Hà Nội.

Nội dung là lời Bác căn dặn chiến sỹ quyết tâm bảo vệ nền độc lập nước nhà: “Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

Câu nói ấy sau này qua nhiều lần hội thảo, qua nhiều lần xác nhận, đã được UBND TP Hà Nội xây dựng đài tưởng niệm tại Vườn hoa Hàng Đậu xưa, nay là Vườn hoa Vạn Xuân…

Theo nguyên tắc giữ bí mật, bà Thuận không được lưu giữ bức điện và các công văn, giấy tờ khác.

Sau đó, bà Thuận lại “dịch” bức điện của Liên khu I hứa với Trung ương Đảng và Bác Hồ, thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, thể hiện quyết tâm hy sinh xương máu để bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.

Ít người biết rằng, bà Thuận là người sau này đã kiên trì 8 năm liên tục kiến nghị để sửa lại câu khẩu hiệu cho đúng như lời của Bác Hồ là: “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

“Bác viết là “để”, chứ không phải là “cho”, hoặc “để cho”, vì Bác Hồ của chúng ta là người làm việc vì dân, vì Đảng, phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng.

Bác không bao giờ lấy cương vị Chủ tịch nước, lãnh tụ Đảng để đặt mình cao trên Tổ quốc, trên nhân dân.

Vì vậy, Bác không dùng từ “cho”, hoặc “để cho” – từ thường dùng của người bề trên với kẻ dưới. Bác dùng từ chuẩn xác, trọn nghĩa, dễ thấm, dễ hiểu, hợp với đức “vì mọi người” của Bác”, bà Thuận kể lại với giọng xúc động.

Theo VTC
Vkyno (st)

Khám phá chuyên cơ Mi-4 “tháp tùng” Bác Hồ công tác

Mi-4 là chiếc trực thăng đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam và là chiếc chuyên cơ vinh dự được nhiều lần đưa Bác Hồ đi công tác.

(Kienthuc.net.vn) – Mi-4 là chiếc trực thăng đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam và là chiếc chuyên cơ vinh dự được nhiều lần đưa Bác Hồ đi công tác.

Mil Mi-4 hay gọi tắt Mi-4 là máy bay trực thăng vận tải hạng nặng quân sự và dân sự của Liên Xô. Mi-4 được cơ quan tình báo Mỹ biết đến lần đầu tiên với cái tên Type-36 (NATO định danh là Hound).

Trực thăng Mi-4 được nhà máy chế tạo trực thăng Mil Moscow sản xuất. Trong ảnh là chiếc trực thăng Mi-4 số hiệu 151D được lưu giữ tại Bảo tàng Phòng không - Không quân.Trực thăng Mi-4 được nhà máy chế tạo trực thăng Mil Moscow sản xuất. Trong ảnh là chiếc trực thăng Mi-4 số hiệu 151D được lưu giữ tại Bảo tàng Phòng không – Không quân.

Mi-4 được thiết kế để đáp lại loại trực thăng H-19 Chickasaw của Mỹ mà Mỹ đưa vào sử dụng trong chiến tranh Triều Tiên. Mi-4 có hình dáng bên ngoài khá tương đồng với H-19.

Mi-4 xuất hiện lần đầu vào năm 1952,  thay thế trực thăng Mi-1 lỗi thời. Cuối những năm 1960, nó dần bị thay thế bởi các máy bay Mi-8. Đến nay, còn rất ít nước sử dụng Mi-4.

Mi-4 bay lần đầu tiên vào năm ngày 3/6/1952.Mi-4 bay lần đầu tiên vào năm ngày 3/6/1952.

Trực thăng vận tải Mi-4 có chiều dài 16,8m, cao 4,40m, trọng lượng cất cánh tối đa 7,55 tấn. Mi-4 có khả năng chở 16 lính hoặc 1,6 tấn hàng hóa trong thân.

Mi-4 trang bị một động cơ Shvetsov Ash-82V cho phép đạt tốc độ tối đa 185km/h, trần bay 5.500m, tầm bay 500km.

Mi-4 được giới thiệu chính thức vào năm 1953.(Ảnh: P.Thủy)Mi-4 được giới thiệu chính thức vào năm 1953.(Ảnh: P.Thủy)

Tuy được thiết kế chủ yếu cho vai trò vận tải nhưng một số biến thể cải tiến có khả năng mang được súng máy, rocket để yểm trợ hỏa lực cho đơn vị mặt đất hoặc mang được ngư lôi săn tàu ngầm. Thậm chí, Mi-4 còn được cải tiến thành biến thể không người lái dùng cho mục đích trinh sát.

Trong lịch sử, Mi-4 đã có vai trò rất quan trọng trong chiến tranh giải phóng Bangladesh năm 1971. Khi đó, Mi-4 được ví như những chú ngựa thồ của Quân đội Ấn Độ. Dùng Mi-4, lần đầu tiên quân đội Ấn Độ tiến hành đổ bộ bằng trực thăng.

Một chiếc trực thăng vận tải Mi-4. (Ảnh tư liệu) Một chiếc trực thăng vận tải Mi-4. (Ảnh tư liệu)

Khi bị loại dần khỏi quân sự, Mi-4 vẫn còn được sử dụng tiếp cho các mục đích dân sự như tìm kiếm cứu hộ, cứu hỏa, xây dựng, bay thương mại…

Ở Việt Nam, Bộ đội trực thăng đã được thành lập từ năm 1959 với 4 chiếc MI-4 ban đầu, nay đã phát triển lớn mạnh hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự, chính trị, kinh tế. Từ năm 1960 đến nay luôn bám sát chiến trường để phục vụ và trực tiếp tham gia chiến đấu góp phần cùng các đơn vị bạn tiêu diệt nhiều sinh lực địch.

Trực thăng Mi-4 số hiệu 151D do phi công Trần Ngọc Bích và tổ bay phụ trách từ tháng 2/1959 – 3/1969 đã nhiều lần vinh dự được đưa Bác Hồ đi công tác ở biên giới hải đảo và nhiều địa phương khác.

Phạm Thủy – Lê Nam
Vkyno (st)

Khám phá “pho sử quý” về Bác Hồ

Trong triển lãm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, có nhiều cuốn sách viết về Bác Hồ với cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Phạm Thủy

   Tư tưởng Hồ Chí Minh ngọn cờ dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.Tư tưởng Hồ Chí Minh ngọn cờ dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Cuốn sách “Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội” dày 100 trang với gần 200 bức ảnh được sưu tập và chú thích cẩn thận. Đây thực sự là một pho sử quý, giúp độc giả hôm nay có thêm những tư liệu về Người.Cuốn sách “Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội” dày 100 trang với gần 200 bức ảnh được sưu tập và chú thích cẩn thận. Đây thực sự là một pho sử quý, giúp độc giả hôm nay có thêm những tư liệu về Người.

Bác Hồ với lực lượng vũ trang nhân dân.Bác Hồ với lực lượng vũ trang nhân dân.

Bác Hồ với cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Nguồn sức mạnh (Bác Hồ với bộ đội Phòng không).Nguồn sức mạnh (Bác Hồ với bộ đội Phòng không).

Tư tưởng Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập tự do” - Ngọn cờ dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.Tư tưởng Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập tự do” – Ngọn cờ dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Hồ Chí Minh với các chiến dịch trong 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh với các chiến dịch trong 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hai con người làm nên huyền thoại. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hai con người làm nên huyền thoại.

Triển lãm sách báo “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tổ chức tại tại Thư viện Quân đội nhằm kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Triển lãm sách báo “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tổ chức tại tại Thư viện Quân đội nhằm kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Triển lãm mở cửa từ ngày 21/11-31/12/2012 phục vụ rộng rãi mọi đối tượng có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, giúp đông đảo bạn đọc trong và ngoài quân đội có thêm tư liệu để hiểu sâu sắc và toàn diện hơn về chiến công vĩ đại này của dân tộc ta, về ý nghĩa to lớn của thắng lợi mà nhân dân ta và quân đội ta đã phải trải qua bao gian khổ, hy sinh mới giành được.Triển lãm mở cửa từ ngày 21/11-31/12/2012 phục vụ rộng rãi mọi đối tượng có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, giúp đông đảo bạn đọc trong và ngoài quân đội có thêm tư liệu để hiểu sâu sắc và toàn diện hơn về chiến công vĩ đại này của dân tộc ta, về ý nghĩa to lớn của thắng lợi mà nhân dân ta và quân đội ta đã phải trải qua bao gian khổ, hy sinh mới giành được.

Theo báo
Vkyno (st)

TP.HCM sắp xây tượng đài Bác Hồ mới

UBND TP.HCM vừa chấp thuận đề án xây dựng mới tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Theo trang web của TP.HCM thông tin ngày 7/11, vị trí xây dựng tượng đài là công viên trước trụ sở UBND TP.HCM trên đường Nguyễn Huệ (quận 1). Vị trí này hợp lý về mặt quy hoạch, gắn kết được với trung tâm hành chính hiện hữu của TP.

Đám cưới tập thể của công nhân được tổ cúức tại tượng đài Bác năm 2010Đám cưới tập thể của công nhân được tổ chức tại tượng đài Bác năm 2010

Theo thiết kế, tượng đài là tượng đứng toàn thân cao 6,3 m (thân tượng cao 4,5 m và đế cao 1,8 m), chất liệu đúc đồng. Dự kiến, tượng đài “Bác Hồ với thiếu nhi” hiện nay sẽ được chuyển về Cung Thiếu nhi (thuộc Nhà thiếu nhi cơ sở 2) ở khu đô thị mới Thủ Thiêm (quận 2).

Hội đồng Kiến trúc TP được giao nhiệm vụ phối hợp với các sở-ngành có liên quan nghiên cứu về cảnh quan khu vực công viên, quy hoạch cây xanh, chiếu sáng công viên, tượng đài và toàn tuyến (từ trụ sở UBND TP đến cuối đường Nguyễn Huệ).

Trong tháng 11/2012, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần hoàn tất mọi thủ tục, tham mưu UBND TP lập hội đồng giám khảo để chấm giải cuộc thi kiến trúc tượng đài, cảnh quan toàn tuyến đường Nguyễn Huệ.

Theo Người lao động
Vkyno (st)

Sách lịch siêu đại về Bác Hồ lập kỷ lục Việt Nam

Toàn bộ nội dung sách lịch dành chuyển tải những tinh hoa tư tưởng, triết lý của Hồ Chủ tịch.

Bộ sách lịch có kích thước bìa 25,5cm x 66cm, được phát hành vào Tết 2013. Toàn bộ nội dung sách lịch dành chuyển tải những tinh hoa tư tưởng, triết lý của Hồ Chủ tịch.

Điểm nhấn đặc biệt của bộ sách lịch cỡ lớn này là hơn 200 bức ảnh của Người được một nhóm họa sĩ dồn tâm sức vẽ lại bằng bút sắt trong suốt một năm ròng. Tác giả ý tưởng – Thạc sĩ Vũ Đức Loan cho biết, việc vẽ tranh mất rất nhiều thời gian do có nhiều hình ảnh tư liệu không rõ nét nên việc phục dựng, chuyển thể bằng bút sắt phải được chăm chút rất dày công.

Xuyên suốt bộ sách lịch là 365 di ngôn được chọn lọc và dẫn nguyên văn từ bộ sách “Hồ Chí Minh toàn tập” và 365 tác phẩm thơ được lược trích từ di sản thơ Hồ Chí Minh.

Bộ sách lịch có thiết kế độc đáo: được lật qua mỗi ngày, hoàn toàn không xé sau khi sử dụng. Điều này thể hiện tinh thần tôn kính lãnh tụ và cũng là cách lưu trữ bộ sách lịch thành một tài liệu tham khảo hữu ích sau khi sử dụng.

Với ý tưởng độc đáo và ý nghĩa giáo dục cao, bộ sách lịch đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục dành cho “Sách lịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên được xuất bản tại Việt Nam”.

Kỷ lục được trao cho 3 đơn vị đồng sở hữu gồm NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Thạc sĩ Vũ Đức Loan (tác giả ý tưởng) và Công ty TNHH An Hảo (đơn vị hoàn thiện thiết kế và sản xuất).

Theo Dân Trí
Vkyno (st)

Lần đầu xuất bản sách lịch về Bác Hồ

Xuyên suốt bộ lịch là 365 di ngôn của Bác Hồ được chọn lọc và dẫn nguyên văn từ Bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập).

Bộ sách lịch “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chính thức được xác lập kỷ lục là “Sách lịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên được xuất bản tại Việt Nam.”

Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam vừa chính thức xác lập kỷ lục này cho ba đơn vị đồng sở hữu là Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự Thật, ông Vũ Đức Loan và Công ty TNHH An Hảo.

Đây là bộ lịch đặc biệt cả về hình thức và nội dung được biên soạn công phu trong hơn ba năm. Bộ lịch khổ 24×41 cm được thiết kế mang dáng dấp cổ điển, nhưng lại hiện đại với 200 bức ảnh của Bác Hồ được một tập thể họa sỹ dày công họa từng chi tiết.

Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Bộ sách lịch “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.”

Xuyên suốt bộ lịch là 365 di ngôn của Bác Hồ được chọn lọc và dẫn nguyên văn từ Bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập). Đây là những lời kêu gọi, khuyên dạy, lời căn dặn, động viên của Bác Hồ gửi đến toàn Đảng, toàn dân, đến anh em bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới dựa theo hình ảnh của Bác.

Cùng với nội dung đó là 365 trích đoạn thơ lược dẫn từ kho di sản thơ Hồ Chí Minh, giúp ta hiểu thêm về Bác Hồ như một “Danh nhân văn hóa kiệt xuất” do Tổ chức UNESCO trao tặng.

Bộ lịch có thiết kế độc đáo, được lật qua mỗi ngày, mà hoàn toàn không phải xé sau khi sử dụng. Và sau khi sử dụng xong bộ lịch sẽ được lưu như một cuốn sách lịch hữu ích về Bác Hồ.

(Theo Vietnamplus)
Vkyno (st)

Sư cô học Bác Hồ “quan tâm đến mọi người hơn”

Sư cô Thích Ðàm Ngọc kể rằng, ấn tượng nhất là câu chuyện: “Phải biết quan tâm đến mọi người hơn”.

Sư cô Thích Ðàm Ngọc kể rằng, đã đọc rất nhiều mẩu chuyện về cuộc đời và thân thế sự nghiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhưng ấn tượng nhất vẫn là câu chuyện: “Phải biết quan tâm đến mọi người hơn”.

Sư cô Thích Ðàm Ngọc

Ðạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là tấm gương tu dưỡng các đức tính tốt, mà còn là gương ứng xử theo truyền thống văn hóa Việt Nam. Ðây là chuẩn mực đạo đức, mà những người con Phật giáo luôn noi theo và lấy đó làm kim chỉ nam cho mình trong cuộc sống – đó là tâm sự của sư cô Thích Ðàm Ngọc, ở chùa Ninh Xá Hạ (xã Yên Minh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Ðịnh).

Chúng tôi đến chùa Ninh Xá Hạ khi chiều tắt nắng. Tiếng chuông chùa thánh thót ngân nga, gợi khung cảnh yên bình của miền quê Yên Minh, Ý Yên nổi tiếng với nghề đúc đồng. Mảnh mai và hiền dịu, sư cô Thích Ðàm Ngọc tỉ mỉ pha trà mời khách.

Nghe chúng tôi hỏi về giải ba toàn quốc và giải nhì cấp tỉnh trong cuộc thi kể chuyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sư cô khiêm tốn trả lời: Ðây là giải “áo nâu”, có gì đáng nói đâu!

Sư cô Thích Ðàm Ngọc kể rằng, đã đọc rất nhiều mẩu chuyện về cuộc đời và thân thế sự nghiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhưng ấn tượng nhất vẫn là câu chuyện: “Phải biết quan tâm đến mọi người hơn”.

Chuyện kể rằng, hồi Trường Ðảng Nguyễn Ái Quốc còn ở căn cứ kháng chiến Việt Bắc, một lần Bác Hồ đến dự lễ bế giảng của trường. Khi xuống thăm nhà bếp, thấy làm cỗ có vẻ linh đình, Bác nói với đồng chí phụ trách trường: “Này, bế giảng chứ không phải “bế bụng” đâu nhé! Kháng chiến còn khó khăn lắm đấy, các chú ạ”.

Ðến bữa ăn, thấy mâm cơm chỉ có một cái bát, một đôi đũa, Bác hỏi: “Thế Bác ăn với ai?”. Ðồng chí phụ trách  trường gãi đầu, gãi tai: “Dạ , xin để Bác ăn riêng cho tiện…”. Bác ngắt lời: “Không tiện gì cả. Thế các chú muốn Bác ăn trên ngồi trốc à?”.

Rồi Bác bảo kê thêm bàn ghế cho mọi người cùng ăn với Bác và gọi: “Ngồi cả vào đây, ăn chung với Bác, ăn một mình Bác ăn sao được?”.

Buổi tối, Bác ở lại trường làm việc. Các đồng chí mang đến một chiếc đèn tọa đăng rất sáng. Bác cầm cây đèn đó xuống văn phòng nhà trường bảo: Ðèn này to tốn dầu lắm! Bác còn làm việc khuya, một chiếc đèn con thôi cũng đủ. Các đồng chí đổi cho Bác cây đèn khác”.

Hôm sau, trước lúc chia tay trường, đồng chí phụ trách lễ phép hỏi Bác, có điều gì căn dặn thêm về công việc của trường. Người ân cần nói: “Tôi chỉ mong các đồng chí đừng quan tâm đến tôi quá, mà phải quan tâm đến mọi người hơn”.

Kể đến đây, sư cô Thích Ðàm Ngọc chậm rãi nói tiếp: Câu chuyện ngắn gọn, nhưng hàm súc ý nghĩa to lớn về hình ảnh một vị Chủ tịch nước giản dị, tiết kiệm. Người không bao giờ cho phép mình lãng phí dù chỉ một bữa ăn, hay một cây đèn dầu, tự hạn chế mình không ham mê vật chất, nhưng lại luôn quan tâm lo lắng cho dân, cho nước từ những điều nhỏ nhất như bát cơm, manh áo… suốt đời tâm niệm là công bộc của dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, luôn hòa mình vào cuộc sống chung của đồng bào, đồng chí, mà không nhận bất cứ một sự ưu tiên nào người khác dành cho mình.

Hình ảnh Người vui vẻ cùng cán bộ, nhân viên nhà trường bên bàn ăn, cho ta thấy một nhân cách hòa đồng, gần gũi, một trái tim nhân hậu, một tình thương vô bờ bến chỉ có ở người lãnh tụ cách mạng, một vĩ nhân. Sự bao dung bình dị, tình cảm yêu thương chân thành của Bác đã xóa đi khoảng cách giữa người lãnh tụ và quần chúng nhân dân.

Bác không đặt mình vào địa vị Chủ tịch nước hay một vị lãnh tụ cấp cao, không “quan liêu, hách dịch” như chúng ta thường gặp đâu đó trong xã hội, mà với mọi người, Bác thật gần gũi, thân thương nhường nào.

Ðúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Người là Cha, là Bác, là Anh; Quả tim lớn, lọc trăm dòng máu đỏ”. Câu chuyện kết thúc bằng một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thật thấm thía, xúc động: “Tôi chỉ mong các đồng chí đừng quan tâm đến tôi quá, mà phải quan tâm đến mọi người hơn”.

Chúng tôi ngồi nghe, lặng đi vì xúc động và bị cuốn hút vào câu chuyện của sư cô Thích Ðàm Ngọc kể về Bác Hồ kính yêu. Những cảm xúc về vị cha già của toàn dân tộc Việt Nam bỗng ùa về thật sâu lắng qua giọng kể truyền cảm của sư cô.

Lặng đi hồi lâu, tôi mới hỏi: Vậy câu chuyện này có tác động gì đến đời sống của một người đi theo và phụng sự phật pháp như sư cô ?- Có chứ!- Sư cô trả lời và khẳng định: Câu chuyện luôn theo tôi hằng ngày trong cuộc sống.

Bởi những triết lý này không phải là điều gì lớn lao, khó làm trong cuộc sống hằng ngày. Những lời dạy của Bác không cao xa mà vô cùng giản dị – giản dị như chính cuộc đời của Người vậy.

Và chính nhân cách của Người, đạo đức của Người, cuộc đời của Người đã khắc sâu vào tiềm thức người dân Việt Nam nói chung, người con Phật giáo chúng tôi nói riêng những tình cảm không thể phai mờ.

Ðạo Phật có một câu kinh: “Hương của các loài hoa không bay ngược chiều gió. Hương của người đức hạnh bay ngược khắp muôn phương”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người như vậy. Với tôi, học Bác cũng là học Phật và học Phật cũng là học Bác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói về Phật giáo: Tôn chỉ mục đích của Ðức phật, nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm. Nếu cốt lõi của Ðạo phật là:  Từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha, cứu khổ, cứu nạn; thì nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cũng là cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, cứu nước, cứu dân.

Ðó chính là hai điểm tương đồng của hai nền đạo đức, hai tư tưởng lớn hội tụ soi đường cho nhân loại hướng tới chân, thiện, mỹ. Dân tộc Việt Nam thật may mắn khi có một vị lãnh tụ như Người, đạo đức như Người. Người đã đi xa, nhưng tư tưởng và tấm gương đạo đức ngời sáng của Người vẫn sống mãi với thời gian.

Học theo Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, hằng ngày, sư cô Thích Ðàm Ngọc luôn phấn đấu là công dân mẫu mực, không ngừng tu dưỡng đạo đức, nêu cao tinh thần hòa hợp của Phật giáo, giữ gìn khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo, đem đạo vào đời, dìu dắt tín đồ phật tử xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, xây dựng chùa tinh tiến.

Theo Lê Phương Hiên
Nhân dân

Vkyno (st)

Chuyên cơ chở Bác Hồ đón khách tham quan

Chiếc chuyên cơ IL14-C482 từng chở Bác Hồ nhiều lần đi công tác được đặt tại bảo tàng quân sự Việt Nam

Sau khi được phục hồi, chiếc chuyên cơ IL14-C482 từng chở Bác Hồ nhiều lần đi công tác được đặt tại bảo tàng quân sự Việt Nam nhằm phục vụ khách tham quan trong và ngoài nước.

Chiếc máy bay IL 14 số hiệu VN-C482 là quà của Chính phủ Liên Xô tặng Bác Hồ vào năm 1958, nay được trưng bày trong khuôn viên bảo tàng quân sự Việt Nam.Chiếc máy bay IL 14 số hiệu VN-C482 là quà của Chính phủ Liên Xô tặng Bác Hồ vào năm 1958, nay được trưng bày trong khuôn viên bảo tàng quân sự Việt Nam.

Chiếc IL 14 VN-C482 đã trải qua hai lần phục chế, lần đầu tiên vào năm 2001, khi đó đang nằm tại trung đoàn 918.Chiếc IL 14 VN-C482 đã trải qua hai lần phục chế, lần đầu tiên vào năm 2001, khi đó đang nằm tại trung đoàn 918.

Trên chiếc IL 14 này có thiết kế một phòng riêng dành cho Bác làm việc và nghỉ ngơi.
Trên chiếc IL 14 này có thiết kế một phòng riêng dành cho Bác làm việc và nghỉ ngơi.

Khi phục hồi nguyên trạng, vỏ máy bay được làm lại bằng một loại nhôm đặc biệt được đặt hàng từ nước ngoài.
Khi phục hồi nguyên trạng, vỏ máy bay được làm lại bằng một loại nhôm đặc biệt được đặt hàng từ nước ngoài.

Chuyên cơ nằm giữa không gian oai hùng của bảo tàng quân sự Việt Nam.
Chuyên cơ nằm giữa không gian oai hùng của bảo tàng quân sự Việt Nam.

Sải cánh máy bay khá rộng, có in hình lá cờ Việt Nam.
Sải cánh máy bay khá rộng, có in hình lá cờ Việt Nam.

Cánh quạt được sơn lại màu.
Cánh quạt được sơn lại màu.

Sau khi được phục hồi, chiếc máy bay được đặt tại đây để phục vụ khách tham quan.
Sau khi được phục hồi, chiếc máy bay được đặt tại đây để phục vụ khách tham quan.

Được đặt cùng những chiếc máy bay, khí tài quân sự khác.
Được đặt cùng những chiếc máy bay, khí tài quân sự khác.

 Khá nhiều khách nước ngoài đến tìm hiểu về chuyên cơ này.
Khá nhiều khách nước ngoài đến tìm hiểu về chuyên cơ này.

(Theo Infonet)
Vkyno (st)

Gặp người phi công lái máy bay chở Bác Hồ

“Bác cháu ta đi công tác với nhau nhiều lần, hôm nay Bác định chụp chung với các cháu một bức ảnh để làm kỷ niệm”.

“Trước Bác chủ yếu đi bộ, sau đi ngựa, ôtô, giờ đi công tác xa bằng máy bay lại có các cháu phục vụ thì còn gì bằng. Các cháu cần luôn tu dưỡng, rèn luyện về học tập để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao”.

Chiếc máy bay IL14 từng chở Bác đi công tác nước ngoài, vừa được đưa về Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Đây là chiếc máy bay phục vụ Bác thời kỳ 1960 – 1963.

Những người lính đã gắn bó với chiếc máy bay giai đoạn này, giờ đã cao tuổi. Được sự chỉ dẫn của một cán bộ Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, chúng tôi có dịp gặp đại tá Trần Văn Đông, phi công phục vụ Bác Hồ trên những chuyến bay IL14 này.

Dù đã 80 tuổi, nhưng ông Trần Văn Đông vẫn nhớ như in những chuyến công tác phục vụ Bác. Ông Đông kể: “Chiếc IL14 này là do Liên Xô tặng và bay phục vụ Bác chặng Hà Nội – Bắc Kinh giai đoạn 1960 – 1963.

e

Ông Nguyễn Văn Đông giới thiệu bức ảnh tổ bay IL14 vinh dự được chụp với Bác.

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (sau năm 1954), tôi được cử đi học bổ túc văn hóa rồi chọn đi học bay ở Trường Xuân (đông bắc Trung Quốc) đến tận năm 1959. Khi về nước, tôi được cử vào đoàn không quân vận tải đầu tiên (đoàn bay 919) và được chọn vào tổ bay chuyên cơ phục vụ Bác Hồ và lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi công tác trong nước và quốc tế.

Những lần được phục vụ Bác trong các chuyến công tác trên chiếc IL14, được sống bên Bác, chúng tôi hiểu thêm rất nhiều điều về Bác, một lãnh tụ, một người cha vĩ đại có tấm lòng bao dung nhân ái, lối sống giản dị, gần gũi, phong cách nhanh nhẹn, ý chí kiên quyết. Người suốt đời chỉ lo cho dân, vì dân phục vụ”.

Ông Đông kể lại: “Chuyến bay đầu tiên được phục vụ Bác là khoảng tháng 3/1960, trong tổ phục vụ lúc đó có tôi duy nhất là người Việt Nam. Sau khi hỏi tên tuổi, quê quán, biết tôi quê Nghệ An, Bác bảo: “Vậy là đồng hương với Bác rồi đó”.

Sau đó Bác tâm sự, trước Bác chủ yếu đi bộ, sau đi ngựa, ôtô, giờ đi công tác xa bằng máy bay lại có các cháu phục vụ thì còn gì bằng. Các cháu cần luôn tu dưỡng, rèn luyện về học tập để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao”.

Ông Đông kể, vào tháng 8/1961, ông được phục vụ trong chuyến đưa Bác đi Bắc Kinh (Trung Quốc). Khi từ Bắc Kinh về tới sân bay Gia Lâm, khi xuống hết cầu thang, Bác thấy các đồng chí Trung ương ra đón, Bác nói: “Lần này, các chú ra đón Bác không có hoa à?”.

Các đồng chí nói: “Thưa Bác, chúng tôi sợ Bác phê bình”. Thế là Bác và đồng chí đều cười”. Ông Đông giải thích, có câu chuyện này là vì chuyến trước đó, Bác thấy các đồng chí Trung ương ra đón với một bó hoa, Bác hỏi: “Hoa để làm gì thế này?”.

Các đồng chí trả lời: “Thưa Bác, chúng tôi thấy Bác đi công tác về mừng quá nên mua hoa ra đón”. Bác bảo: “Các chú tiểu tư sản lắm đấy, người nhà đi công tác về mà cũng mua hoa ra đón”.

Một câu chuyện khác cho thấy Bác rất am hiểu về an toàn bay. Tháng 8/1962, tổ bay IL14 đưa Bác từ Bắc Kinh (Trung Quốc) về sân bay Gia Lâm, trong chuyến bay đó có đồng chí Văn, đồng chí Bảo, đồng chí Kỳ và đồng chí bí thư của đồng chí Trần Tứ Bình – Đại sứ của ta ở Bắc Kinh cùng về.

Khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm đang lăn vào vị trí đậu, nhưng chưa vào tới nơi và máy bay cũng chưa tắt máy, đồng chí bí thư của đồng chí Bình chạy ra mở cửa máy bay. Bác bảo: “Chú mở cửa mà xảy ra không an toàn thì ai chịu trách nhiệm?

Việc đó là của các cháu phi công”. Đồng chí bí thư vội về vị trí ngồi. Sau khi máy bay vào vị trí đậu, tắt máy, ông Đông mời Bác xuống, Bác bảo: “Bây giờ Bác cháu ta đàng hoàng xuống”.

Chuyến bay cuối cùng ông Đông phục vụ Bác là tháng 3/1963, khi tổ bay sang Bắc Kinh đón Bác sau khi Bác từ Mátxcơva về. Về đến sân bay Gia Lâm, Bác bảo: “Bác cháu ta đi công tác với nhau nhiều lần, hôm nay Bác định chụp chung với các cháu một bức ảnh để làm kỷ niệm. Các cháu có đồng ý không?”.

Ông Đông thay mặt tổ lái trả lời: “Chúng cháu muốn lắm nhưng không dám thưa với Bác”. Bác nói: “Muốn mà không nói thì làm sao Bác biết được”. Khi chuẩn bị đứng vào chụp, ông Đông thấy một cháu bé chạy qua nên kéo vào. Bác hỏi “Cháu bé con của ai?” Ông Đông trả lời: “Thưa Bác, con của một đồng chí ở sân bay Gia Lâm”.

Thế là Bác đặt tay lên vai cháu bé cùng chụp ảnh. Đồng chí phóng viên nhiếp ảnh chụp xong thưa: “Thưa Bác, xong rồi ạ”. Bác bảo: “Phải nháy lại lần nữa cho chắc. Sau khi xong phải làm cho mỗi cháu một tấm thật đẹp, gửi tới tận tay cho các cháu”.

Đồng chí phóng viên trả lời: “Dạ thưa Bác, cháu rõ”. Lần đó Bác còn tặng cho mỗi người trong tổ bay một huy hiệu của Bác.

“Đó là tấm ảnh về chuyến bay cuối cùng của tôi phục vụ Bác trên chiếc IL14”, ông Đông tâm sự. Đã rất nhiều năm trôi qua, nhưng những kỷ niệm về Bác theo đại tá Trần Văn Đông đến tận ngày nay, nhất là mỗi dịp kỷ niệm Ngày sinh của Người.

Theo Báo Tin tức
Vkyno (st)