Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác với miền Nam

Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng Người (12/1957)

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà/ Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu), cứ mỗi dịp kỷ niệm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong lòng mỗi người dân Việt Nam lại trào lên niềm tự hào muốn dâng lên Bác Hồ kính yêu những thành quả kiến thiết đất nước sau ngày giải phóng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho miền Nam ruột thịt những tình cảm sâu nặng. Tấm lòng thương nhớ miềnNam của Người thể hiện từ việc chǎm sóc các cháu thiếu nhi miền Nam tập kết, đến việc vun trồng cây vú sữa của đồng bào kính tặng Người… Những năm tháng miền Nam chìm trong máu lửa, tấm lòng của Người luôn đau đáu hướng về miền Nam thân yêu bởi“Miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh). Trong thời điểm vận nước nguy nan, kẻ thù dùng đủ mọi âm mưu và với nhiều vũ khí tối tân để chia cắt đất nước ta, âm mưu tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam nhưng Hồ Chủ tịch khẳng khái tuyên bố: “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy cam go, quyết liệt, miền Nam là tiền tuyến “Thành đồng Tổ quốc”, miền Bắc là hậu phương vững chắc, tập trung sức người sức của “Tất cả, tất cả vì miền Nam ruột thịt!”. Miền Nam chiến đấu ngoan cường, hy sinh gian khổ, Bác nhiều lần nghẹn ngào, quặn đau khi được báo cáo về sự hy sinh mất mát của đồng bào miền Nam. Nhưng lòng quyết tâm của Người đã truyền lửa mạnh mẽ cho cả nước: “Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào/ Tiến lên! chiến sỹ đồng bào/ Bắc – Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”.

Nỗi trăn trở về miền Nam, về ngày nước nhà hoàn toàn giải phóng luôn canh cánh bên Bác. Miền Nam chưa giải phóng, Bác coi là chưa làm tròn nhiệm vụ. Bởi vậy, khi được tin kỳ họp VI, Quốc hội khoá II (5-1963) quyết định tặng Bác Huân chương Sao Vàng – Huân chương cao quý nhất của nước ta, Bác nói: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ra sẽ sung sướng, vui mừng”. Đến khi nhân dịp kỷ niệm 50 nǎm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, Đảng, Chính phủ Liên Xô quyết định trao tặng Bác Huân chương Lê-nin – Huân chương cao quý nhất của Liên Xô, Bác cũng đề nghị : Đảng, Chính phủ Liên Xô hoãn việc trao Huân chương đó, chờ đến ngày đất nước ta hoàn toàn độc lập, Bác thay mặt đồng bào cả nước nhận Huân chương cao quý đó.

Sức khoẻ Bác ngày một giảm nhưng Bác không muốn đồng chí, đồng bào phải lo lắng. Vì thế, Bác không bao giờ nói về bệnh tật của mình. Cứ sau cơn mệt nặng, lúc tỉnh dậy, câu hỏi đầu tiên của Bác là: “Hôm nay, đồng bào miền Nam đã thắng đến đâu?” Và Người vẫn yêu cầu cho nghe tin tức đặc biệt là tin miền Nam và những tin tức quan trọng trên thế giới. Những ngày Bác nằm trên giường bệnh, Bác vẫn mở đài lắng nghe từng bước trên tiền tuyến. Trước đó, Người vẫn nhắc tới việc thu xếp để vào Nam. Bác có hỏi 2 đồng chí cán bộ: “Các chú có thể chuẩn bị cho Bác sớm vào thăm đồng bào miền Nam được không?”. Tiếc rằng nguyện vọng đó chưa một lần thực hiện được thì Bác đã đi xa. Cho đến khi từ giã thế giới này, trái tim Người vẫn đau đáu nỗi nhớ miền Nam, chỉ một lòng mong mỏi đến ngày Bắc – Nam sum họp, đất nước hoàn toàn thống nhất.

Không phụ công mong mỏi của Người, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử quân và dân ta đã “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 30/4/1975, chỉ vài giờ sau khi quân ta cắm là cờ đỏ sao vàng trên nóc Dinh Độc Lập, trên sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam đã vang lên lời ca vui hạnh phúc: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng. Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông. Ba mươi năm dân chủ cộng hòa kháng chiến đã thành công. Việt Nam Hồ Chí Minh, Việt Nam Hồ Chí Minh, Việt Nam Hồ Chí Minh, Việt Nam Hồ Chí Minh”… Lời bài hát đã thể hiện được mong muốn của muôn triệu trái tim người dân Việt Nam, được có Bác trong ngày hội của non sông, được kính dâng lên Người chiến thắng vẻ vang của dân tộc, để Bác có thể yên lòng vì miền Nam ruột thịt đã được sống trong hòa bình, đã sạch bóng quân thù.

bac-voi-mien-nam-b
Hình ảnh Bác Hồ trong ngày vui đại thắng

Cho đến những ngày cuối tháng Tư năm 2013 – lần thứ 38 đất nước ta  kỷ niệm ngày Đại thắng mùa Xuân 1975, vui niềm vui thống nhất, non sông thu về một mối và chúng ta càng nhớ tới Bác Hồ muôn vàn kính yêu với tấm lòng bao la biển trời của Người vì nước vì dân… Mỗi lần kỷ niệm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước lòng dân ta càng thêm nhớ Bác, như được thấy Bác đang chung vui cùng niềm vui của cả dân tộc, của non sông đất nước đã hoàn toàn thống nhất đang ngày càng phát đi lên cùng các cường quốc năm châu.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Màu xanh dịu mát trên Con đường xoài tại Khu di tích lịch sử Hồ Chí Minh

Khu di tích lịch sử Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch là một nơi rất đỗi thiêng liêng đối với mỗi con người Việt Nam. Trong đó, Đường xoài với màu xanh dịu mát là một địa điểm tạo sự thích thú cũng như thu hút sự chú ý của người dân cũng như du khách khi đến với Khu di tích.

duong-xoai1
Khi Bác còn sống tại đây, con đường  là nơi mà Bác  thường đi bách bộ sau giờ làm việc và tập thể dục buổi sáng. Màu xanh của từng tán lá khiến cho mỗi người khi có dịp đi qua đều cảm thấy rất thoải mái, dễ chịu

duong-xoai2Bảng chỉ dẫn được viết rõ ràng, tạo điều kiện cho việc tham quan của người dân cũng như du khách nước ngoài khi đến với Khu di tích lịch sử Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

duong-xoai3
Cây xoài tại đây được treo tên cẩn thận

duong-xoai4
Mùa xuân đến, những chiếc lá non nảy lá non. Màu xanh non làm trào lên sức sống tươi mới của mùa xuân tại Khu di tích lịch sử

duong-xoai5Màu xanh mát của từng tán lá dưới ánh nắng vàng tươi của mùa xuân khiến ai đi qua cũng phải dừng chân ngắm nhìn

duong-xoai6
Từng chiếc lá non khoe sắc trong tiết trời ấm áp của mùa xuân

duong-xoai7
Bên dưới những tán lá là hàng cây xanh nhỏ. Chúng càng làm tôn lên vẻ xanh mát dịu nhẹ của cả con đường xoài lịch sử

duong-xoai8Để bảo vệ những cây xoài mang giá trị lịch sử này, các công nhân ở đây đều rất chú ý chăm sóc cẩn thận. Việc quét vôi vào từng gốc cây là một việc làm mang ý nghĩa bảo vệ cây như thế

duong-xoai9
Rất nhiều du khách thích thú dừng chân tại Đường xoài để cảm nhận được vẻ đẹp xanh mát của nó

duong-xoai10
Các gia đình đến từ mọi miền trên Tổ quốc cũng rất hào hứng chụp hình lưu niệm bên dưới những tán lá xoài 

duong-xoai11
Con đường rộng thênh thang là địa điềm lý tưởng thu hút nhiều đoàn khách ghé qua

duong-xoai13
Trong tiết trời của mùa xuân, những em nhỏ cũng rất thích thú khi được vui chơi thỏa thích trên con đường rộng và mát như vậy

duong-xoai14
Các bạn trẻ vô cùng thích thú khi có cơ hội cảm nhận không khí dễ  chịu cũng như có địa điểm để chụp ảnh lưu niệm

duong-xoai15
Ngay trước nhà sàn của Bác Hồ cũng có hai cây xoài tỏa bóng mát cho con đường nhỏ phía dưới

duong-xoai16Con đường xoài nhìn từ phía xa… Mùa xuân đến, từng cây xoài cựa mình thay màu lá. Màu xanh non của từng chiếc lá mang đến cho mọi người cảm giác yên bình, dễ chịu khi đến với Khu di tích. Cảm giác ấy không phải nơi nào cũng có thể có được…

Thanh Huyền
bqllang.gov.vn

Học và làm theo lời Bác từ những việc cụ thể

(ĐCSVN) – Thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo gương tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thời gian qua, Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Kạn đã tích cực thực hiện các phong trào thi đua cụ thể bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cán bộ, giáo viên cũng như học sinh trên địa bàn.

Để triển khai có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, ngành Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn đã chỉ đạo 100% các đơn vị trường học thực hiện nghiêm túc việc lồng ghép nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong một số môn học chính khóa theo quy định và tài liệu hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Ngoài các giờ học chính khóa, các em học sinh còn được tham gia vào các buổi sinh hoạt ngoại khóa nói chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (Ảnh: Tường Vy)

Đối với Giáo dục mầm non, 100 các cơ sở giáo dục chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc lồng ghép nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vào chuyên đề giáo dục lễ giáo, giáo dục thẩm mỹ và nhận thức cho trẻ em vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ em phù hợp với từng độ tuổi nhằm hình thành nhân cách ban đầu cho trẻ. Đối với giáo dục cấp Tiểu học, các cơ sở thực hiện bằng hình thức lồng ghép vào các môn học Đạo đức, Tiếng Việt, Lịch sử. Cấp THCS, THPT lồng ghép vào giảng dạy ở các môn Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân, Âm nhạc, Mỹ thuật và hoạt động ngoài giờ lên lớp…

Để xây dựng một nền tảng giáo dục vững chắc, bên cạnh việc nâng cao chất lượng dạy và học tại các trường học, thời gian qua, ngành Giáo dục Bắc Kạn cũng thường xuyên chú trọng công tác duy trì phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, xây dựng xã hội học tập – những nhiệm vụ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của địa phương.

Đặc biệt, từ việc nghiên cứu, học tập tư tưởng, tấm gương của Bác, đội ngũ nhà giáo đã nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và ý nghĩa về tấm gương đạo đức tự học của Người. Ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp trong đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có sự chuyển biến mạnh mẽ. Tập thể cán bộ, giáo viên của từng đơn vị thường xuyên tự học để nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, sáng tạo trong các hoạt động giáo dục, góp phần đổi mới sự nghiệp giáo dục – đào tạo trong giai đoạn hiện nay.

Với việc triển khai, thực hiện Chỉ thị 03 bằng nhiều hình thức phong phú, ngành giáo dục Bắc Kạn đã đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Năm học 2010 – 2011, tỷ lệ học sinh được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học đạt 99,82%; tỷ lệ học sinh xét tốt nghiệp THCS đạt 98,47%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt 93,67%. Năm 2011, tổng số học sinh trúng tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng là 1.670 em, đạt 35,82%. Chỉ tính riêng trong học kỳ I năm học 2012 – 2013, toàn tỉnh đã có 54% học sinh xếp loại học lực Khá, Giỏi cấp Tiểu học, cấp THCS 30%, cấp THPT đạt 15%. Số lượng học sinh tham gia và đoạt giải tại các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, khu vực và quốc gia tăng so với những năm học trước…/.

Tường Vy
dangcongsan.vn

Đoàn đại biểu người khuyết tật, trẻ mồ côi và người bảo trợ tiêu biểu toàn quốc vào Lăng viếng Bác

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Hội Bảo trợ Người tàn tật và trẻ mồ côi, sáng ngày 13/4/2013, Đoàn đại biểu dự Hội nghị biểu dương người khuyết tật, trẻ mồ côi, người bảo trợ tiêu biểu toàn quốc lần thứ IV gồm 350 đại biểu đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là  những tấm gương tiên tiến, xuất sắc, đại diện cho người khuyết tật, trẻ mồ côi, người bảo trợ đến từ mọi miền đất nước. Mặc dù số lượng người khuyết tật phải dùng đến xe lăn rất lớn ( gần 60 trường hợp), nhưng với tinh thần phục vụ đồng bào tận tình, chu đáo nhất, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã bố trí đủ số lượng cán bộ, chiến sĩ để phục vụ Đoàn, cố gắng tất cả mọi người đều được vào Lăng viếng Bác.

Người khuyết tật viếng Bác2Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Bác

Cảm động trước tinh thần phục vụ của cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, chị Nguyễn Thị Phương bị liệt hai chân, tốt nghiệp khoa văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, giáo viên Ngữ văn tại trường THPT Bắc Mê, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang đã chia sẻ: “Đây thực sự là một giấc mơ đối với tôi. Đã nhiều lần tôi mong muốn được đến viếng Bác Hồ, nhưng nghĩ đến hoàn cảnh của bản thân đi lại khó khăn, rồi làm thế nào để lên bậc cầu thang vào viếng Bác mà tôi không dám đi, hôm nay được các đồng chí khiêng vào tận phòng đặt linh cữu Bác, tôi vô cùng xúc động. Cảm ơn sự giúp đỡ hết sức tận tình, chu đáo của các đồng chí.”

Hội nghị biểu dương do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Hội Bảo trợ Người tàn tật và Trẻ mồ côi Việt Nam tổ chức 3 năm/lần nhằm ghi nhận, tôn vinh những tấm gương vượt khó, những tấm lòng vì cộng đồng, cổ vũ, động viên, khích lệ những con người không lùi bước trước số phận, những người sống cống hiến và sẻ chia.

Các đại biểu tham dự Đại hội là đại diện người bảo trợ – những tấm lòng trong cộng đồng luôn dành sự quan tâm cả về vật chất, tinh thần cho người khuyết tật, trẻ mồ côi; những người khuyết tật không những nỗ lực vươn lên trước mọi khó khăn của cuộc sống; những điển hình tiên tiến của trẻ em thiệt thòi Việt Nam, dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo, thiếu vắng tình thương, sự nuôi dưỡng của cha mẹ nhưng vẫn luôn học giỏi, xứng đáng với sự quan tâm, chăm lo của Nhà nước và xã hội. Đó là các tấm gương: Sư cô Ngộ Mai, chùa Phật Minh (Bến Tre) đã cưu mang, nuôi dưỡng 70 trẻ mồ côi; chị Đào Thị Hiền – Giám đốc Trung tâm Dạy nghề tư thục Long Thành (Hòa Bình) đã nhận nuôi dưỡng, đào tạo nghề cho 700 người khuyết tật trong 10 năm qua; anh Nguyễn Phương Nam bị liệt chân trái, tốt nghiệp Đại học Y dược Cần Thơ, hiện là bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Phước; chị Nguyễn Thị Phương liệt hai chân, tốt nghiệp khoa văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, giáo viên Ngữ văn tại trường THPT Bắc Mê, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang; em Đặng Diệu Ái (Hậu Giang) bị bố mẹ bỏ rơi, ở với ông bà ngoại, hiện đang học lớp 6; em Nguyễn Thị Thúy Hiền mồ côi cha mẹ do tai nạn giao thông, vừa đi học, vừa đi làm, hiện là Sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai… Những tấm gương điển hình tiên tiến của các đại biểu dự Hội nghị là nguồn cổ vũ và động viên to lớn đối với hàng nghìn, hàng vạn người khuyết tật, trẻ mồ côi ở các thôn, xóm, ấp, bản, làng, các cộng đồng dân cư trong cả nước có thêm khát vọng, ý chí không ngừng phấn đấu vươn lên.

Việc bảo vệ, chăm sóc, giúp đỡ người khuyết tật, trẻ mồ côi trong những năm qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, do hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, của bom mìn, chất độc da cam, do thiên tai, bão lũ… nên nhu cầu cần được chăm sóc, giúp đỡ của người khuyết tật, trẻ mồ côi ở nước ta còn rất lớn.

Người khuyết tật viếng Bác1Người khuyết tật được các chiễn sĩ giúp để vào Lăng viếng Bác

Kinh tế đất nước những năm qua đã có bước phát triển, song vẫn còn nhiều khó khăn. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vẫn giành tình cảm và sự chăm sóc, hỗ trợ tận tình, chu đáo đối với người khuyết tật, trẻ mồ côi. Đây là đạo lý truyền thống của dân tộc ta, bản chất tốt đẹp của chế độ ta, là mong muốn của Bác Hồ, là sự nghiệp cao cả đòi hỏi tình cảm, trách nhiệm, sự chung sức chung lòng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Gặp lại “Nụ cười chiến thắng”

(GD&TĐ) – Nụ cười và câu nói nổi tiếng của chị: “Liệu chính quyền các ông còn tồn tại bao lâu mà kết án tôi 20 năm khổ sai” trước bản án ngày 2/8/1968, đã thành biểu tượng cho khí phách anh hùng của thế hệ thanh niên Việt Nam. 45 năm đã qua kể từ sự kiện lịch sử đó. Mặc dù rất bận rộn, nhưng chị và chồng – Luật sư Trần Quốc Thuận (nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) vẫn dành một buổi tối trải lòng với chúng tôi, những người lính.

Câu chuyện bắt đầu từ ký ức về những ngày đầu theo cách mạng: Võ Thị Thắng  sinh ra và lớn lên từ Rạch Rích, xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An trong một gia đình mà ba má và 9 anh chị em đều tham gia, gắn bó với cách mạng. Từ lúc 9 tuổi, chị tham gia đưa thư, mang cơm cho cán bộ trong hầm bí mật, được ba má chị che chở nuôi giấu trong nhà. Từ tình yêu thương các bác, các cô, các chú, chị có tình cảm với cách mạng và trở thành một đảng viên kiên trung. Năm 13 tuổi, chị thi đậu vào trường công lập Gia Long Sài Gòn (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai); 16 tuổi là thành viên Mặt trận dân tộc giải phóng huyện Bến Lức – Long An và khi 17 tuổi, được tổ chức điều về Sài Gòn hoạt động trong phong trào thanh niên – sinh viên – học sinh.

Sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 của quân và dân ta ở miền Nam, địch tập trung lực lượng điên cuồng phản kích. Tại Sài Gòn, chỉ tính riêng trong hai năm 1968 -1969, chúng tiến hành hơn 7.000 cuộc hành quân cảnh sát, càn quét phá vỡ nhiều cơ sở, bắt bớ nhiều đảng viên và cán bộ cách mạng. Các căn cứ như Rạch Bần, Phú Định, Rạch Ông, Rạch Cát… bị địch đánh phá chà đi xát lại nhiều lần. Đời sống của người dân điêu đứng, việc đi lại, làm ăn gặp nhiều khó khăn, trắc trở.

Bức ảnh “Nụ cười chiến thắng” của Võ Thị Thắng

Trên địa bàn Quận 6, địch tăng cường các đồn bót và các chốt chặn, lập các trạm gác trên cầu, ở các bến sông và chợ búa, tập trung quân liên tục lùng quét, phá vỡ nhiều cơ sở cách mạng. Trong khu vực cư xá Phú Lâm A – Hòa Đồng Tôn Giáo có tên liên gia trưởng khét tiếng gian ác, từng gây nhiều nợ máu với cách mạng. Tên này rất gian ngoan, xảo quyệt, do đó việc tiếp cận khó khăn. Nhằm phá thế kìm kẹp của kẻ thù, nữ đảng viên Võ Thị Thắng được giao nhiệm vụ trừng trị tên ác ôn này. Dưới sự chỉ đạo của Biệt động Quận 6, trực tiếp là anh Tám Thọ, anh Ba Phong, đêm 27/7/1968, Võ Thị Thắng bí mật tìm cách đột nhập vào nhà riêng tên ác ôn. Trong bóng tối lờ mờ, chị gọi tên xác định đối tượng trừng trị và bóp cò nhưng khẩu K54 bị kẹt đạn. Nhân đó, tên địch vùng chạy thoát thân. Thấy động, bọn lính bảo vệ vòng ngoài ùa vào bắt chị cùng đồng chí làm nhiệm vụ hỗ trợ. Mặc dù bị địch tra tấn rất dã man nhưng chị vẫn giữ trọn khí tiết người chiến sĩ cách mạng. Không có chứng cứ, bọn địch phải trả tự do cho bà con và đồng đội chị.

Nhằm đối phó với phong trào diệt ác, phá kìm của cách mạng ở “Thủ đô” Sài Gòn, Mỹ – ngụy vội vàng đưa Võ Thị Thắng ra xử tại tòa án quân sự vùng 3 chiến thuật. Tại phiên tòa, trước thái độ bình thản, hiên ngang của Võ Thị Thắng, tên ủy viên chính phủ của chính quyền Sài Gòn, với giọng tức tối kết tội:

“ … Võ Thị Thắng, cựu nữ sinh Gia Long, có thể nói là duyên dáng – với gương mặt thùy mị dịu dàng, nhưng không ngờ hành động của cô ta lại hoàn toàn trái ngược với gương mặt đó, nhất là thái độ vô lễ của cô ta khi đứng trước tòa án… Đề nghị chiểu theo Luật 10/59 tòa xử mức án tối đa”.

Khi nghe tuyên đọc bản án 20 năm khổ sai, người con gái Long An hiên ngang nở nụ cười và nói: “Liệu chính quyền các ông còn tồn tại bao lâu mà kết án tôi 20 năm khổ sai”. Khí phách và nụ cười bình thản của Võ Thị Thắng trước tòa án quân sự địch đã khiến kẻ thù phải run sợ, nhưng lại là niềm tự hào của người dân Sài Gòn – Gia Định.

Trong những năm tháng bị tù đày, chị cùng tập thể nữ tù chính trị bị địch đàn áp, đánh đập, giam cầm, đối xử hết sức dã man, 2 lần bị đày ra Côn Đảo, giam vào chuồng cọp. Nhưng với niềm tin vào thắng lợi của cách mạng và sức mạnh của tình cảm đồng chí, đồng đội, các chị đã giữ vững ý chí chiến đấu. Chị xúc động nhớ lại khi bị đày ra Côn Đảo, lúc bước đến cầu tàu bị đánh tới tấp nhưng các đồng chí, đồng đội đã đưa cả tấm thân đỡ cho nhau. Trong những ngày ở chuồng cọp, cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, có lần địch xé lẻ phân tán để dễ bề đàn áp, truy bức trong đêm lạnh giá, gió hú, sóng gầm, nhưng các chị vẫn kiên định một lòng tin vào chiến thắng, và mọi người đều móc tay vào nhau xiết chặt đội ngũ.

Từ khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, với bản lĩnh đã được tôi luyện trong đấu tranh, chị hăng hái công tác và vững vàng trong cơ chế thị trường. Trong những năm 1996 – 2007, chị được giao trách nhiệm đứng đầu ngành du lịch – một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, nhạy cảm. Cùng với cấp ủy, chỉ huy Tổng cục, chị vừa điều hành, lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động và chăm lo xây dựng nội bộ; vừa hoàn thành xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chiến lược ngành, xây dựng quy định, quy chế, góp phần xây dựng Pháp lệnh Du lịch rồi Luật Du lịch… Chị đã cùng tập thể, chèo chống khá thành công để giữ vững và đưa ngành du lịch từng bước sánh vai với các nước trong khu vực và thế giới, xứng đáng là ngành “kinh tế mũi nhọn” của đất nước, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra bạn bè quốc tế.

Hơn 40 năm hoạt động cách mạng, chị đã nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt các trọng trách Phó Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IX, X) và đại biểu Quốc hội (khóa IX, X, XI). Từ khi về nghỉ hưu, chị cùng chồng tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội và dành thời gian chăm lo tổ ấm gia đình, tạo điều kiện cho con cháu học tập, công tác.

Chia tay anh chị, nhưng giọng nói nhỏ nhẹ, bình dị, mộc mạc, bức ảnh trên tường với nụ cười chiến thắng, cùng những câu chuyện về tình đồng chí, đồng đội của chị càng làm tôn thêm vẻ đẹp không lẫn vào ai khác của người phụ nữ bất khuất Võ Thị Thắng một thời nổi tiếng và bình dị giữa đời thường hôm nay.

Nguyễn Minh Ngọc – Phạm Xuân Trường
gdtd.vn

Chiến thắng của tinh thần yêu nước và trí tuệ Việt Nam

(GD&TĐ) – Từ những ngày đầu tháng tư, nhân dân cả nước nói chung, Tây Nam bộ nói riêng, đã sống lại không khí hào hùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân cách đây 38 năm, lần lượt giải phóng các tỉnh Tây Nguyên, ven biển miền Trung và hải đảo, miền Đông Nam bộ, Sài Gòn – Gia Định và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Chiến thắng 30/4 là kết quả của cả chặng đường dài chiến đấu gian khổ, hy sinh của mọi người dân Việt yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mỗi mùa xuân đến, hơn 83 triệu người dân đất nước con Lạc cháu Hồng không thể nào quên Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Đó không chỉ là sự hoài niệm về một thời đầy hy sinh, gian khổ nhưng cũng lẫy lừng chiến công vang dội của lớp lớp cha anh đi trước, mà còn để chiêm nghiệm sâu hơn cội nguồn sức mạnh của dân tộc.

Đại thắng mùa Xuân 1975 cách đây đã 38 năm, nhưng ý nghĩa của nó vẫn còn tỏa khắp, nhất là mỗi độ xuân về trên đất nước Việt Nam. Với đại thắng hào hùng và oanh liệt mùa Xuân 1975 đã ghi những trang vàng chói lọi vào lịch sử dân tộc Việt Nam, thật đáng tự hào.

Cuộc Tổng tiến công thần tốc mùa xuân năm 1975 như một điều kỳ diệu, niềm tự hào và nguồn cảm hứng lớn lao, bất tận của các thế hệ người Việt Nam. Không có gì lạ bởi đó là trang sử đặc sắc, hiếm có trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam và thế giới.

Với khí thế hào hùng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và thời cơ “một ngày bằng 20 năm”, chỉ trong 55 ngày đêm, với sức mạnh áp đảo cả về quân sự và chính trị, quân và dân ta đã toàn thắng bằng ba chiến dịch then chốt: Chiến dịch Tây Nguyên; Chiến dịch giải phóng Huế – Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Với khí thế “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã nhanh chóng dẫn đến sự kiện 30/4/1975. Hơn một triệu ngụy quân và cả bộ máy ngụy quyền Sài Gòn bị xóa sổ, đất nước đi đến thống nhất.

Sự kiện này là ý chí, nguyện vọng và niềm tin tất thắng của dân tộc, đồng thời cũng là chân lý của thời đại. Ý chí và niềm tin toàn thắng của cả dân tộc Việt Nam không chỉ bày tỏ sâu sắc trong “Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước” của Bác Hồ vào tháng 7/1966: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa… song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Tiếp đó, Người đã nhấn mạnh “Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!” (thơ Xuân năm 1969) và được thể hiện bằng những trận chiến lẫy lừng, dũng mãnh của quân dân ta.

Chiến thắng vĩ đại ngày 30/4/1975 đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài, đầy gian khổ hy sinh, nhưng rất anh dũng, kiên cường của quân dân ta, là thắng lợi mang ý nghĩa dân tộc và ý nghĩa thời đại sâu sắc, là kết quả sự nỗ lực vượt bậc, chiến đấu hy sinh, nêu cao tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đại thắng mùa Xuân 1975 là bản anh hùng ca tuyệt đẹp của chủ nghĩa yêu nước, là một “biểu tượng Việt Nam” sáng ngời của thế kỷ XX. Cả dân tộc vang khúc khải hoàn “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”.

Ngày toàn thắng 30/4/1975 đi vào lịch sử như một kết thúc chiến lược vô song. Trải qua cuộc trường chinh 30 năm với ba mốc son chói lọi: Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và Đại thắng mùa Xuân 1975 toàn thắng, cả nước ta đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cứu nước. Từ đó đã hun đúc thêm niềm tin và sức mạnh cho phong trào giải phóng dân tộc, cho các lực lượng hòa bình và tiến bộ trên thế giới.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mãi mãi gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh – ngọn cờ tất thắng và linh hồn của sự nghiệp kháng chiến giành độc lập dân tộc, đồng thời chính là thành quả của khối đoàn kết nhất trí giữa ý Đảng, lòng dân và sự thống nhất ý chí, thống nhất hành động, phấn đấu cho mục đích cứu nước cao cả trong toàn Đảng, toàn dân ta.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là sự kiện quan trọng, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc và có ý nghĩa quốc tế vô cùng to lớn. Với Đại thắng này, là bài ca hùng tráng nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, là kết tinh truyền thống yêu nước của dân tộc, là bản lĩnh và trí tuệ của người Việt Nam, một đất nước không khuất phục trước kẻ thù, một dân tộc được hun đúc từ truyền thống yêu nước, yêu chuộng hòa bình, đã được phát huy trong từng chiến dịch, từng giai đoạn lịch sử với phương châm “lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy trí nhân để thay cường bạo”, tạo nên “thế trận lòng dân” và “chiến tranh nhân dân” vững chắc, đánh bại mọi thứ bom đạn, vũ khí tối tân, chất độc hóa học và âm mưu xảo quyệt của chủ nghĩa đế quốc, trở thành biểu tượng cao đẹp, sáng ngời của tinh thần yêu nước Việt Nam, đưa âm hưởng của nó mãi mãi ngân vang trong mọi thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau.

38 năm qua, tận hưởng những thành quả rực rỡ từ ngày đất nước Việt Nam độc lập, thống nhất đến nay, đặc biệt là gần 30 năm đổi mới, chúng ta càng thấm thía hơn giá trị của chiến thắng 30/4. Để có được những hoa thơm, trái ngọt nhân dân ta đã phải đổ biết bao mồ hôi, xương máu. Từ những mảnh vụn chiến tranh, dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới. Lòng yêu nước, bản lĩnh, ý chí tự lực, tự cường, trí tuệ sáng tạo và các giá trị văn hóa Việt Nam luôn được bồi đắp và tỏa sáng, tạo thành sức mạnh của dân tộc, vượt qua mọi khó khăn thách thức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, gắn với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị theo chuyên đề năm 2013 “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Năm tháng sẽ trôi qua, song thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là bản anh hùng ca mãi mãi âm vang theo dòng chảy lịch sử, nuôi dưỡng tâm hồn, tinh thần yêu nước và trí tuệ của con người Việt Nam, bồi đắp và làm phong phú thêm sức mạnh chính trị và tinh thần của dân tộc, quyết tâm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Nguyễn Thanh Hoàng
gdtd.vn

___________________________

(1): Richard Nixơn – 1999: chiến thắng mà không cần chiến tranh, Nxb. Simon and Schuster.
(2): Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, H.2000, tập 12, tr.108.

Đại biểu Công đoàn Dầu khí Việt Nam báo công dâng Bác

Trong không khí cả nước thi đua chào mừng Đại hội Công đoàn các cấp, tiến tới Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ XI, ngày 17/4/2013, 250 đại biểu Công đoàn về dự Đại hội đại biểu Công đoàn Dầu khí Việt Nam đã tụ hội về Quảng trường Ba Đình lịch sử để tưởng nhớ và báo công với Bác Hồ kính yêu về những thành tích mà Công đoàn Dầu khí đã đạt được trong thời gian qua. Đây là dịp để cán bộ, đoàn viên công đoàn thể hiện sự quyết tâm kiên định đi theo con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.

tap doan dau khi 1Giây phút báo công trang trọng  trên Quảng trường Ba Đình

Hòa bình mới giành được năm 1954, biết bao công việc bận rộn và khó khăn của Nhà nước Việt Nam non trẻ, nhưng tầm nhìn xa, trông rộng năm 1958, Bác đã thăm quan thành phố Bacu Khu công nghiệp dầu khí Nước Cộng hòa Azecbaizan. Tại đây Người nói với Lãnh đạo và nhân dân thành phố Bacu là: “Sau khi Việt Nam chúng tôi thắng lợi, nhân dân Azecbaizan nói chung và thành phố Bacu nói riêng phải giúp đỡ Việt Nam khai thác và chế biến dầu khí, xây dựng những khu công nghiệp mạnh và giàu đẹp như thành phố Bacu của các đồng chí”.

Thấm thoát đã 55 năm, thực hiện lời dạy của Bác, ngành Dầu khí Việt Nam đã trưởng thành và lớn mạnh không ngừng, vừa phát huy nội lực của đội ngũ cán bộ, công nhân viên, người lao động bằng khối óc, lao động sáng tạo và hết mình, vừa tiến hành hợp tác quốc tế đạt hiệu quả, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới, vừa bảo đảm an ninh dầu khí, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và lợi ích của Tổ quốc. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, ngành Dầu khí đã và đang có doanh thu rất lớn, chiếm khoảng 23% GDP của cả nước và đóng góp 30% tổng thu ngân sách nhà nước. Trong những thành tích đó có phần đóng góp tích cực của 250 đại biểu đang có mặt tại đây, là những đại biểu không chỉ ngày đêm lao động với tinh thần trách nhiệm cao, lao động giỏi, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, mà còn là những người hết lòng, hết sức, đem nhiệt tình và trí tuệ xây dựng tổ chức công đoàn các cấp ngày càng vững mạnh, là chỗ dựa tin cậy cho 63 nghìn cán bộ, công nhân và người lao động trong ngành Dầu khí.

tap doan dau khi 2Đoàn đại biểu kính dâng vòng hoa và vào Lăng viếng Bác

Trong không khí trang trọng của buổi lễ, cán bộ, đoàn viên công đoàn Ngành Dầu khí đã bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công ơn trời biển của Bác đối với đất nước và những lời dạy của Bác đối với tổ chức Công đoàn.

Thay mặt cho cán bộ, đoàn viên công đoàn ngành Dầu khí, đồng chí Hà Duy Dĩnh – Chủ tịch Công đoàn Ngành Dầu khí đã hứa trước anh linh của Người, sẽ nguyện suốt đời phấn đấu làm theo tấm gương của Bác, không ngừng học tập, lao động sáng tạo, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư bằng những việc làm thiết thực hàng ngày, luôn kiên cường tiến lên phía trước.

tap doan dau khi 3Công đoàn Dầu khí tổ chức chương trình văn nghệ ca ngợi về Bác trên Quảng trường Ba Đình

Kết thúc lễ báo công dâng Bác, Đoàn đại biểu công đoàn ngành Dầu khí đã tổ chức biểu diễn chương trình văn nghệ ca ngợi về Bác và kính cẩn đặt vòng hoa vào Lăng viếng Người.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

Công an Thái Nguyên báo công dâng Bác

Hướng đến kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc và 65 năm Ngày Công an nhân dân học tập thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy, lực lượng Công an nhân dân nói chung, lực lượng công an tỉnh Thái Nguyên nói riêng đang thi đua sôi nổi, lập nhiều chiến công xuất sắc. Hòa chung khí thế đó, sáng 04/4/2013, tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, 150 đại biểu Công an tỉnh Thái Nguyên đã tụ hội về bên Lăng Bác để tưởng nhớ và kính dâng lên người những thành tích, chiến công đã đạt được trong 65 năm thi đua thực hiện Di huấn của Người. Thay mặt Đoàn, đồng chí Đại tá Vũ Hùng – Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Công an tỉnh đã đọc bài báo công dâng Bác.

CA Thái Nguyên dâng Bác1
Đoàn Công an tỉnh Thái Nguyên báo công tại Quảng trường Ba Đình

Trải qua 65 năm chiến đấu và xây dựng, lực lượng Công an Thái Nguyên đó từng bước trưởng thành và không ngừng lớn mạnh, có đội ngũ cán bộ thực sự vững vàng về chính trị, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng quang vinh và tận hiếu với nhân dân; có trình độ nghiệp vụ, pháp luật và khoa học kỹ thuật.

Chặng đường lịch sử mấy thập kỷ qua, lực lượng Công an Thái Nguyên đó lập nên những chiến công to lớn, rất đáng tự hào. Ghi nhận những đóng góp quan trọng đó, đơn vị đã được Đảng và Nhà tặng thưởng 01 Huân chương Hồ Chí Minh; 04 đơn vị và 03 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; hàng trăm Huân, Huy chương các loại, các hạng, cùng nhiều Cờ thưởng của Bộ Công an và của Ủy ban nhân dân tỉnh… Đây là những phần thưởng cao quý, là niềm vinh dự tự hào, nguồn động viên to lớn đối với cán bộ công an toàn tỉnh.

Dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Đảng Cộng sản Việt Nam, vinh dự tự hào về truyền thống vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân, hơn lúc nào hết mỗi đơn vị, mỗi cán bộ cảnh sát công an Thái Nguyên đang bằng những hành động thực tế trên từng vị trí công tác, luôn tự nhủ lòng, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện theo 6 điều Bác Hồ dạy, phát huy truyền thống quê hương, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh, Cuộc vận động” “CAND chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ”… nêu cao hơn ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Noi gương các anh hùng liệt sĩ, các thế hệ cha anh, không quản hy sinh gian khổ; tận tụy trong công tác, mưu trí, sáng tạo và dũng cảm trong chiến đấu; phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân; đoàn kết, hiệp đồng giữa các lực lượng và với các ngành, các cấp quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó; viết tiếp những trang sử vẻ vang bằng những chiến công mới; tạo môi trường ổn định, thuận lợi để Thái Nguyên nói riêng, đất nước ta nói chung thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển.

Trước anh linh của Người, cán bộ chiến sỹ Công an tỉnh Thái Nguyên đã hứa: Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù phải gian khổ hy sinh hay đứng trước những khó khăn thử thách đến mấy vẫn một lòng sắt son, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạngtận trung với Đảng, với Chính phủ, tận hiếu với dân, coi đây là lý tưởng và mục tiêu đấu tranh cao nhất; thường xuyên rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tăng cường đoàn kết, kiên quyết khắc phục những thiếu sót khuyết điểm, vượt lên mọi khó khăn thách thức, xây dựng lực lượng Công an chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; xứng đáng là lực lượng nòng cốt, xung kích trên mặt trận bảo vệ an ninh chính trị, đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; góp phần đắc lực phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương và đất nước.

CA Thái Nguyên dâng Bác2
Kết thúc buổi báo công, Đoàn Công an Thái Nguyên
 đã dâng vòng hoa  và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi Lễ, cán bộ, chiến sỹ Công an tỉnh Thái Nguyên đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Bác với lòng biết ơn vô hạn, quyết tâm thực hiện nghiêm túc 6 điều dạy của Người, xây dựng lực lượng Công an tỉnh Thái Nguyên trong sạch vững mạnh, xứng đáng với niềm tin yêu của quần chúng nhân dân./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Lễ báo công dâng Bác của Đại hội đại biểu Hội Nông dân thành phố Hà Nội lần thứ VIII

Nhân dịp kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, 38 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc và chào mừng Đại hội đại biểu Hội Nông dân thành phố Hà Nội lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2013-2018, chiều ngày 15/4/2013, 350 đại biểu dự Đại hội đại biểu Hội Nông dân thành phố Hà Nội lần thứ VIII đã vinh dự tổ chức lễ báo công dâng Bác, báo cáo với Bác những thành tích xuất sắc của tổ chức Hội và giai cấp nông dân Hà Nội trong những năm qua.

Lễ báo công dâng Bác1
Buổi lễ báo công diễn ra trang nghiêm trên Quảng trường Ba Đình

Trong thư gửi Hội nghị cán bộ nông dân toàn quốc (họp từ 28/11 – 7/12/1949), Bác viết:  Nông vận phải là:

– Tổ chức nông dân phải chặt chẽ.

          – Đoàn kết nông dân thật khăng khít.

          – Huấn luyện nông dân thật giác ngộ.

          – Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nông dân, của Tổ quốc.

Người còn nhấn mạnh: “Vận động nông dân là phải vận động thế nào cho toàn thể nông dân đông, nghĩa là: Làm cho nông dân hiểu rõ quyền lợi của dân tộc và của giai cấp mình. Muốn thế thì cán bộ làm công tác vận động nông dân phải tránh bệnh chủ quan, bệnh hình thức, bệnh giấy tờ, cán bộ tỉnh phải đến tận các huyện, các xã, các thôn, cán bộ phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ để thiết thực điều tra giúp đỡ, kiểm soát rút kinh nghiệm giúp đỡ nông dân và học hỏi dân”.

Thấm nhuần những lời dạy của Người, trong những năm qua, toàn thể cán bộ, hội viên Hội Nông dân thành phố Hà Nội đã không ngừng ra sức thi đua, đoàn kết, phấn đấu trưởng thành, vượt qua nhiều khó khăn thử thách như thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh trên người và gia súc. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thành uỷ Hà Nội; sự giúp đỡ, tạo điều kiện có hiệu quả của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân;  sự phối hợp chặt chẽ của Mặt trận Tổ quốc, các đơn vị, doanh nghiệp… công tác Hội và phong trào nông dân Hà Nội trong những năm qua đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô. Công tác xây dựng tổ chức Hội đổi mới; các phong trào thi đua cụ thể, thiết thực, hiệu quả, thực sự giữ vai trò nòng cốt trong các phong trào ở nông thôn; đội ngũ cán bộ Hội đoàn kết, từng bước trưởng thành đáp ứng được yêu cầu; vai trò, vị thế, uy tín của Hội được khẳng định và nâng cao trong xã hội, đồng thời góp phần quan trọng vào sự ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển Thủ đô giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Những lời căn dặn của Bác với cán bộ, hội viên Hội Nông dân là nguồn động viên, định hướng trên con đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong công cuộc xây dựng nông thôn mới của Thủ đô Hà Nội.

Lễ báo công dâng Bác2
Kết thúc buổi lễ, Hội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh  kính yêu

Trước anh linh của Người, cán bộ, hội viên Hội Nông dân Hà Nội xin hứa: Sẽ ra sức thi đua, tập trung xây dựng tổ chức Hội vững mạnh toàn diện; nâng cao hiệu quả, chất lượng các phong trào thi đua, các cuộc vận động; chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nông dân; tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; chủ động tham gia xây dựng nông thôn mới góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển Thủ đô giàu đẹp, văn minh, hiện đại, giữ vững phẩm chất chính trị vững vàng của người cán bộ Hội, hết lòng, hết sức với nông dân./.

Vân Phương
bqllang.gov.vn

Sức lan tỏa từ giá trị của các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong nước

Hội thảo với chủ đề “Bảo tồn và phát huy giá trị các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong nước” do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) tỉnh Nghệ An tổ chức từ ngày 8-9/4/2013 tại thành phố Vinh. Tham gia Hội thảo có gần 200 đại biểu đến từ Bảo tàng của các tỉnh, các Khu Di tích lịch sử, Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cả nước.

hoi-thao-khoa-hoc1
Tiến sỹ Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh phát biểu
tại Hội thảo khoa học

 Sinh ra và lớn lên từ quê hương Nam Đàn, Nghệ An, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã sớm có chí đánh đuổi thực dân, phong kiến. Tuổi thơ của Người gắn bó với những hoạt động yêu nước của cha anh và lớp lớp sỹ phu, công nhân lao động khắp các tỉnh miền Trung, miền Nam trước khi ra đi tìm đường cứu nước.

Năm 1941, Người về Pắc Bó – Cao Bằng trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục cùng Trung ương Đảng lãnh đạo sự nghiệp giữ vững chính quyền cách mạng, tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước. Dấu ấn hoạt động của Người, cùng với những lần đi kiểm tra, làm việc trải dài, rộng khắp ở nhiều tỉnh, thành, địa phương trong cả nước. Sau khi Người qua đời, với lòng thành kính và biết ơn Hồ Chủ tịch, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người, xây Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội và hệ thống các bảo tàng, các di tích lịch sử lưu niệm về Người trong cả nước để lưu giữ, bảo quản, tôn tạo và phát huy giá trị của những tài liệu, hiện vật, hình ảnh về Người.

Bên cạnh những công trình lớn ấy, với lòng kính yêu, biết ơn, tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã sáng tạo ra nhiều hình thức tưởng niệm phong phú, đa dạng như: Tượng, Tượng đài, Nhà bia, Đền thờ, Quảng trường, Thờ phối trong các đền, chùa, lấy tên của Bác đặt cho thành phố, trường học….. Gần nửa thế kỷ qua, những công trình tưởng niệm và mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện tình cảm thiêng liêng mà còn là niềm tự hào, động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhân dân ta tích cực thực hiện lời dạy của Người là xây dựng một nước Việt Nam: Hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, hiện nay trên cả nước có gần 400 công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang phát huy tác dụng, đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục, tuyên truyền về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong không khí sôi nổi của cuộc Hội thảo, các đại biểu đã trao đổi và phát biểu những ý kiến hết sức sâu sắc và kinh nghiệm về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các công trình tưởng niệm Bác Hồ. Ông Nguyễn Bá Hòe, Giám đốc Khu Di tích Kim Liên cho biết:“Khu Di tích Kim Liên là nơi lưu giữ những tài liệu, hiện vật vô giá về Chủ tịch Hồ Chí Minh và gia đình của Người.Thông qua những tư liệu, hiện vật, người xem sẽ hiểu được hoàn cảnh sống của gia đình Bác Hồ, đó là lòng yêu nước thiết tha, chí căm thù giặc, tấm lòng bao dung, đức hy sinh cao cả… Những năm qua, Khu Di tích thường xuyên mở cửa đón khách tham quan tất cả các ngày trong năm, kể cả ngày lễ, ngày chủ nhật, có khi ngoài giờ hành chính.

Ngoài ra Khu Di tích còn còn tích cực đổi mới, sáng tạo trong các hoạt động tuyên truyền của mình như: Báo cáo chuyên đề về Bác Hồ, tổ chức triển lãm, tọa đàm khoa học… Đội ngũ cán bộ, hướng dẫn viên của Khu Di tích với niềm vinh dự, tự hào là những người con quê hương Bác Hồ, bằng tinh thần trách nhiệm, tinh thần thái độ phục vụ hòa nhã, văn minh, lịch sự đã đón tiếp và hướng dẫn tận tình chu đáo đồng bào và khách quốc tế tới thăm Khu Di tích  đồng thời để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách”.

Theo con số thống kê của Khu Di tích, đến nay đã có trên 30 triệu lượt khách tới tham quan, bình quân hàng năm đón từ 1,6 đến 2 triệu lượt người. Năm có số lượng khách tham quan lớn nhất là năm 1990 – kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu Di tích đã đón 4,3 triệu lượt khách.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoa Xinh, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, các thiết chế, công trình tưởng niệm Bác Hồ ở thành phố Hồ Chí Minh đã phát huy giá trị, ý nghĩa chính trị là giáo dục, tuyên truyền về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân của thành phố. Hiện nay trên thành phố Hồ Chí Minh chỉ có hai cụm công trình tưởng niệm Bác Hồ, đó là: Tượng đài Bác Hồ với thiếu nhi và Tượng Nguyễn Tất Thành tại Bến cảng Sài Gòn nhưng đây là những công trình có ý nghĩa đặc biệt đối với nhân dân thành phố. Tất cả các sinh hoạt chính trị, các buổi đặt hoa, dâng hương, báo công đều được tổ chức trang trọng ở nơi đây, và các cụm công trình này thực sự là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với Bác Hồ kính yêu.

hoi-thao-khoa-hoc2
Quang cảnh buổi Hội thảo khoa học

Đến từ tỉnh cực nam Trung bộ, đại biểu của Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận trong tham luận của mình đã đề cập đến tính hiệu quả trong các hoạt động tuyên truyền giáo dục tại Khu Di tích Dục Thanh – Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận, một công trình tưởng niệm của nhân dân Bình Thuận đối với Bác Hồ kính yêu và là một trong những điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận được khởi công xây dựng năm 1986, thể theo ý chí, nguyện vọng và lòng kính yêu sâu sắc của nhân dân Bình Thuận đối với Bác. Những năm qua, một trong những hoạt động thu hút khách đến với bảo tàng là hoạt động tưởng niệm, hoạt động này từ lâu đã trở thành một nghi lễ không thể thiếu đối với các đoàn khách mỗi khi đến với Dục Thanh. Tại gian trang trọng của bảo tàng, hàng ngàn buổi lễ tưởng niệm, dâng hoa, dâng hương, báo công… được tổ chức, tạo ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách.

Trong giây phút thiêng liêng đứng trước chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả như được trở về với cội nguồn dân tộc, luôn cảm thấy thanh thản lạ thường. Ánh mắt bao dung, đôn hậu và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác đã tiếp thêm sức mạnh to lớn, để mỗi cá nhân tự hứa với lòng mình sẽ thực hiện tốt hơn những lời Bác dạy. Tất cả mọi người, từ các cụ già đến các cháu nhỏ khi đến với Bảo tàng đều có những ấn tượng sâu sắc, thông qua những dòng lưu niệm được ghi lại: “… Tôi đã được xem Bảo tàng về Bác ở nhiều nơi, nhưng Bảo tàng Bác Hồ ở Bình Thuận rất đẹp, nội dung cô đọng, rõ ràng, có tác dụng giáo dục rất mạnh nên đã gây nhiều cảm xúc trong tôi, đặc biệt là gian tưởng niệm Bác Hồ” (Cụ Nguyễn Hữu Quý – Câu lạc bộ Hội người cao tuổi Thủ đô Hà Nội, ngày 08/5/2010), “Hôm nay được dẫn đoàn học sinh Trường THCS và THPT Phạm Ngũ Lão  Quận Gò Vấp  Tp Hồ Chí Minh đến dâng hương tưởng niệm Bác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh Bình Thuận và vinh dự tổ chức lế kết nạp Đoàn cho thanh niên của trường, tôi cảm thấy thật vinh dự và hạnh phúc. Đây sẽ mãi là nơi giáo dục truyền thống được giới trẻ tôn kính và tưởng nhớ”, (Nguyễn Thị Thanh Thảo – giáo viên Văn A, ngày 21/3/2013).

Lúc sinh thời, do hoàn cảnh đất nước còn trong chiến tranh, Bác Hồ chưa có dịp vào thăm Tây Nguyên, nhưng đồng bào Tây Nguyên luôn kính yêu và biết ơn vô hạn đối với Người và ngược lại, Bác cũng dành vô vàn tình yêu thương đối với đồng bào Tây Nguyên.

Tới tham dự Hội thảo, trong tham luận của mình, đại biểu Huỳnh Văn Kính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum cho chúng tôi biết một thông tin quý giá về một hiện vật đặc biệt hiện đang được lưu giữ trong bảo tàng: Đó là bức tượng Bác Hồ được đúc bằng đồng cao 12,5cm. Về sự ra đời của Bức tượng này, theo lời kể của một số lão thành cách mạng, vào giữa những năm 60 của thế kỷ trước, một người dân tộc Jrai ở xã Ia Lang, huyện Đức Cơ đã bí mật đúc thủ công một bức tượng Bác Hồ bằng đồng  tặng cho chi bộ xã. Bức tượng chỉ cao 12,5cm nhưng luôn được đặt trang trọng trong lễ kết nạp đảng viên mới và được truyền từ chi bộ này đến chi bộ khác. Sau đó, tượng Bác được truyền tay đến những chiến sĩ cộng sản. Họ truyền tay nhau, người ngã xuống truyền cho đồng đội với lời căn dặn: “Các đồng chí dù có phải hy sinh cũng quyết giữ lấy tượng Bác để làm cách mạng”. Cứ thế bức tượng luôn được giữ cẩn thận qua bao trận càn quét của địch. Bức tượng Bác được xem là chứng nhân của lịch sử, hiện nay đang được lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum.

Lòng dân Tây Nguyên với Bác đặc biệt còn khắc ghi qua câu chuyện góp gỗ xây Lăng Bác ở Hà Nội. Những cây gỗ quý giá hàng trăm năm tuổi ở rừng nguyên sinh Kon Hà Nừng đã hòa quyện vào tình cảm, trái tim của đồng bào Tây Nguyên để xây dựng Công trình Lăng Bác. Sức mạnh nào, nếu không phải là tình yêu, lòng kính trọng liệu có thể thực hiện công việc khó khăn đến thế khi phải vượt đường xa, suối sâu, bom đạn của chiến tranh để đưa gỗ ra tới Thủ đô. Hiện nay, ở Gia Lai có 3 công trình tưởng niệm Bác Hồ, đó là: Bảo tàng Hồ Chí  Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum, Tượng đài “Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên” tại Quảng trường Đại Đoàn Kết và địa điểm đón thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku năm 1946. Trong đó, Công trình Tượng đài “Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên” được khánh thành ngày 09/12/2012 thực sự là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, một công trình lịch sử – văn hóa, có giá trị to lớn. Như tâm sự của ông Huỳnh Minh Kính: Điều quan trọng nhất với công trình này là niềm mơ ước bấy lâu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nay đã trở thành hiện thực. Có Bác về bên cạnh, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tin tưởng chắc chắn rằng, “trời Tây Nguyên thêm xanh” hơn.

Đã hơn 40 năm ngày Bác Hồ đi xa, nhưng tấm lòng của mỗi người dân đất Việt đều hướng về Người với tình cảm đặc biệt. Ngày nối ngày, trên Quảng trường Ba Đình nơi Bác Hồ đang yên nghỉ hay tại các Di tích, Công trình tưởng niệm về Người trên khắp cả nước, hàng vạn lượt nhân dân và khách quốc tế thành kính đến với Người bằng tình cảm sâu nặng. Đã từ lâu rối, mọi người dân Việt Nam đến với Bác như một nhu cầu tinh thần, một phong tục tập quán, một đời sống văn hóa tâm linh. Một nén nhang thơm, một phút tưởng niệm trước tượng đài, phòng thờ của Người chính là tâm nguyện, là niềm tin mãnh liệt của người dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Có thể khẳng định rằng, trong nhiều năm qua hoạt động của các Di tích và các Công trình tưởng niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước đã phát huy giá trị, đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp giáo dục và phát huy truyền thống cách mạng của Đảng và nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, trong phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, các Di tích, Công trình tưởng niệm về Người sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn và là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân; để mỗi người đến với Bác tự thấy lòng mình bình yên, thanh thản, biết sợ hãi khi làm điều xấu, thấy hạnh phúc khi làm điều tốt lành. Mỗi người sống tốt lành cả xã hội sẽ tốt lành, đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc./.

Trần Duy Hưng
bqllang.gov.vn