Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”

– Ngày 3/4/1946, trong số các sắc lệnh được ký trong ngày đáng chú ý có bản sắc lệnh số 44 cử nhân sự vào Ban Vận động Trung ương Đời sống mới, trong đó có các vị Đoàn Tâm Đan, Trần Huy Liệu, Vũ Đình Hoè, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Nguyễn Huy Tưởng, Đỗ Đức Dục, Phạm Biểu Tâm…

“Đời sống mới” là một cuộc vận động do Bác khởi xướng nhằm thực hiện một trong những mục tiêu được coi là nhiệm vụ cấp bách được xác định ngay từ sau khi giành được độc lập.

Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời được triệu tập chỉ 1 ngày sau Lễ Tuyên ngôn Độc lập (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ, ngoài việc chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, tổ chức Tổng tuyển cử và soạn thảo Hiến pháp là phải “giáo dục lại nhân dân chúng ta, chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc dũng cảm yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” .

 Tháng 4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp HĐCP tại Phủ chủ tịch.Tháng 4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp HĐCP tại Phủ chủ tịch.

Trong hồi ức của một số nhà hoạt động văn hoá đương thời như Nguyễn Đình Thi, Cù Huy Cận với tư cách là thành viên của Hội Văn hoá Cứu quốc, thành phần tham gia tích cực vào cuộc vận động này, khi đến gặp Bác bày tỏ rằng cái “tôn chỉ, mục đích” của cuộc vận động nếu là “Cần, Kiệm, Liêm , Chính, Chí công vô tư”  thì e rằng câu chữ có phần “cổ lỗ” không hợp với một cuộc vận động cho cái “mới”, thì Cụ Chủ tịch giải thích: Con người ta từ thượng cổ tới nay vẫn lấy cơm để ăn, nước để uống, không khí để thở mà sống và xây đắp văn minh; vậy thì, đến nay có ai chê cơm ăn, nước uống, không khí thở là “cổ lỗ mà từ bỏ hay không?! Chỉ có điều giờ đây câu chữ vẫn của người xưa nhưng phải mang những nội dung mới thích hợp với thời đại mới…

Đến khi chiến tranh đã bùng nổ, cả nước kháng chiến, Bác Hồ vẫn duy trì phong trào “Đời sống mới”. Trong một bài viết đăng trên báo “Cứu Quốc” (2/9/1947) có nhan đề “Cán bộ và Đời sống mới”, Bác viết: “Cán bộ muốn cho xứng đáng phải làm được việc. Muốn làm được việc thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn được dân tin dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới”.

Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc giây leo trời… Hoang phí là một tội ác. Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền.

Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí làm chợ đen, chợ đỏ, thụt két, buôn lậu. Có cần mới kiệm, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính… Chúng ta phải nêu ra khẩu hiệu: Cán bộ phải thực hành Đời sống mới!”.

X&N
bee.net.vn

“Chủ nghĩa đế quốc Pháp dám làm những gì?”

– Cách đây 86 năm, ngày 2/4/1921, tại tư gia của luật sư Phan Văn Trường ở Paris, Nguyễn Ái Quốc đã họp bàn với nhiều Việt kiều đang sống ở Pháp về việc thành lập một tổ chức lấy tên là “Hội Thân Ái”. Sau cuộc họp này, Hội đã được thành lập ngay trong tháng 4/1923 và cử Trần Nam Tiến làm chủ tịch và Lê Đức Long là phó chủ tịch Hội.

Ngày 2/4/1924, Tập san “Inprekorr” của Quốc tế Cộng sản (bản tiếng Pháp) đăng bài “Chủ nghĩa đế quốc Pháp dám làm những gì?” của Nguyễn Ái Quốc. Bài báo kết luận bằng câu: “Chủ nghĩa đế quốc Pháp quả là không hề ngại ngùng nhúng tay vào những tội ác bỉ ổi nhất “ sau khi thuật lại các sự kiện mà thực dân Pháp đồng loã với đế quốc Anh ở Ấn Độ hay đối với những người dân Tripôli đang trốn sang lánh nạn tại Tuynidi vì bị đế quốc Ý lùng bắt .

Ngày 2/4/1956, Bác đón Chủ tịch HĐBT Liên Xô Micôian tại Phủ Chủ tịchNgày 2/4/1956, Bác đón Chủ tịch HĐBT Liên Xô Micôian tại Phủ Chủ tịch

Cũng trong tháng 4/1924 (chưa xác định được ngày), trên Tạp chí “Quốc tế Nông dân” Nguyễn Ái Quốc viết bài “Nông dân Bắc Phi” khảo sát nền văn hoá và đời sống của nông dân ở các nước như Tuynidi, Marốc hay Angiêri… đã trở thành thuộc địa của Pháp và tại đó, “Chế độ thuộc địa Pháp đã phá vỡ tính tập thể của dân bản xứ và thay vào đó bằng sự cướp đoạt trắng trợn… Bọn thực dân rốt cuộc là kẻ chiến thắng và những người dân bản xứ phải ngoan ngoãn phục tùng chúng và nhường đất cho chúng”.

Bài báo cũng đưa ra câu hỏi “Chế độ thuộc địa đem lại lợi ích gì cho những người nông dân nghèo nước Pháp? Không! Chỉ có những tên chính khách bẩn thỉu, những bọn con buôn tham lam và tư bản lớn được lợi mà thôi!”.

Từ thực tiễn tại các thuộc địa Pháp ở Bắc Phi, Nguyễn Ái Quốc liên hệ “Khó có thể nói rằng ai trong số họ: người An Nam ở Đông Dương, người da đen ở Cônggô hay là Xênêgan, hay là người bản xứ ở Bắc Phi, bị bóc lột nhiều hơn?” để rồi đi đến kết luận “Người Bắc Phi sẽ biến khỏi mặt đất nếu giai cấp vô sản giác ngộ không đến cứu họ khỏi nền “văn minh” quái vật”.

Cũng trong khoảng thời gian này, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Đoàn kết giai cấp” thuật lại một sự kiện diễn ra trong phong trào công nhân ở Brazil lúc này đang là thuộc địa của Bồ Đào Nha để đi đến một kết luận quan trọng: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”.

Đây chính là thời gian nở rộ nhiều bài viết chuẩn bị cho Nguyễn Ái Quốc xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân” ra mắt bạn đọc sau đó không lâu (1925) tổng hợp tất cả những bài viết từ 1921-1925 về chủ đề này.

Ngày 2/4/1947, trên chiến khu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dọn đến một địa điểm mới là làng Xảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Bác ở trong một cái lán và tăng gia sản xuất gần gũi với dân bản.

Ngày 2/4/1958, Biên bản phiên họp của Bộ Chính trị nghe báo cáo kết quả Hội nghị văn nghệ sĩ lần thứ nhất ghi những ý kiến đóng góp của Bác, nhấn mạnh: cần phải rút kinh nghiệm công tác giáo dục vì từ trước đến nay, công tác này rất kém. Trong đấu tranh, đánh phải đúng và phải làm triệt để. Quần chúng ủng hộ ta. Phải củng cố công tác chi bộ ở cơ quan”.

Ngày 2/4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp của Hội đồng Chính phủ. Trong phát biểu cuối cùng, Bác nêu lên “tình trạng tham ô lãng phí nhắc từ lâu nhưng lâu nay không ai làm” và phân tích tình trạng đó xuất phát từ việc quản lý, kỷ luật tài chính và tinh thần trách nhiệm kém, kiểm tra đôn đốc kém và cho rằng “bốn cái đó mở cửa cho tham ô lãng phí”. Bác chỉ thị cho các bộ phải khắc phục tình trạng trên bằng cuộc vận động kết hợp với phong trào thi đua sản xuất, kết hợp tuyên truyền giáo dục, kỷ luật, thưởng phạt và tăng cường công tác kiểm tra.

Ngày 2/4/1964, Chủ tịch Hồ Chi Minh tiếp và tổ chức chiêu đãi Thủ tướng Hoàng thân Xuvana Phuma cùng Đoàn đại biểu Chính phủ Liên hiệp Vuơng quốc Lào đang thăm Việt Nam.

Ngày 2/4/1969, Bác làm việc và nghe Bí thư thứ nhất Lê Duẩn báo cáo một số vấn đề về công tác Đảng.

X&N
bee.net.vn

Từ “Người Cùng khổ” đến “Việt Nam độc lập”

– Ngày 1/4/1922, số đầu tiên của tờ “Le Paria” (Người Cùng khổ), “Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa” ra mắt bạn đọc tại Paris. Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí gốc dân các thuộc địa của Pháp như Bắc Phi, Tây Phi, Madagasca, Antilles và Guam…

Nguyễn Ái Quốc cũng là một cây bút tích cực của tờ báo lấy mục tiêu là lên án chủ nghĩa thực dân, giác ngộ nhân dân các nước thuộc địa cũng như vận động nhân dân Pháp đấu tranh chống chế độ thuộc địa thể hiện trong “Lời kêu gọi”: “Le Paria tố cáo những sự lạm quyền về chính trị, lối cai trị độc đoán, tình trạng bị bóc lột về kinh tế mà nhân dân các vùng lãnh thổ hải ngoại đang là nạn nhân.

 Ngày 1/4/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm trường Học sinh miền Nam số 7 TP Hải PhòngNgày 1/4/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm trường Học sinh miền Nam số 7 TP Hải Phòng

Báo kêu gọi họ đoàn kết lại đấu tranh cho tiến bộ về vật chất và tinh thần của chính họ. Báo Le Paria là vũ khí để chiến đấu… Le Paria đã sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu, mục đích của báo chắc chắn sẽ đạt được: đó là giải phóng loài người!”.

Ngay trên trang nhất của số báo ra mắt này đăng thông báo đề tài “Sân khấu Việt Nam” do Nguyễn Ái Quốc sẽ trình bày trong chương trình sinh hoạt của Câu lạc bộ Ngoại ô tháng 4/1922. Từ 1/1924 “Le Paria” được đổi thành “Diễn đàn của vô sản thuộc địa” tồn tại cho đến tháng 4/1926 thì đình bản sau khi đã ra được 38 số. Đây là tờ báo đầu tiên Nguyễn Ái Quốc đã tham gia như một thành viên sáng lập.

Và 20 năm sau, ngày 1/4/1942, báo “Việt Nam Độc lập” xuất bản tại Cao Bằng đăng bài “Bài ca sợi chỉ” gồm 20 câu thơ lục bát của Nguyễn Ái Quốc khích lệ tinh thần yêu nứơc và cổ động đồng bào tham gia Mặt trận Việt Minh: “Hỡi ai con Lạc cháu Hồng/ Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau/ Yêu nhau xin nhớ lời nhau/ Việt Minh hội ấy mau mau phải vào”.

“Việt Nam Độc lập” là tờ báo cũng do nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, vào thời điểm này đã mang tên Hồ Chí Minh, sáng lập ngay sau khi trở về nước trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, số đầu ra ngày 1/8/1941, là cơ quan ngôn luận của Mặt trận Việt Minh mới được thành lập (19/5/1941) với mục tiêu: “Việt Nam độc lập thổi kèn loa/ Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già/ Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta”. Tờ báo tồn tại và tham gia vào quá trình vận động cho đến ngày Các mạng thánh Tám thành công (8/1945).

Có thể nói, đây là hai tờ báo đầu tiên và cuối cùng mà Bác Hồ đã tham gia sáng lập và trực tiếp điều hành trong cuộc đời cách mạng và làm báo cách mạng của mình.

X&N
bee.net.vn

“Đoàn kết không phải ngoài miệng”

– Có 2 sự kiện đáng nhớ diễn ra trong ngày này, ngày 31/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm và kiểm tra cảng Hải quân Bãi Cháy và lên tàu T554. Bác đi thăm trận địa pháo của Đại đội 34 trên đảo Hòn Rồng trong vịnh Hạ Long.

Nói chuyện với các chiến sĩ, Bác động viên phải cố gắng khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, an tâm với nhiệm vụ, tích cực học tập quân sự, chính trị, văn hoá, tăng gia sản xuất để cải thiện sinh hoạt, đời sống, sẵn sàng chiến đấu.

 31-3-1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phóng.jpg (89KB)Ngày 31/3/1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phòng

Cũng trong chuyến đi này, Bác giao trách nhiệm cho lãnh đạo Tổng cục Hậu cần phải nghiên cứu, bảo đảm cung cấp sách báo và nước ngọt cho các chiến sĩ… Đây chính là địa bàn mà 6 năm sau đó, không lực của Mỹ đã ném bom ngay trong ngày đầu tiên khi phát động chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và cũng là nơi lập chiến công đầu bắn rơi và bắt sống phi công Mỹ (5/8/1964).

Cũng trong chuyến đi này, Bác đến thăm các đảo Cát Hải và Cát Bà, thăm hỏi một số cư dân trên đảo, thăm Trường huấn luyện Hải quân và buổi tối nói chuyện với cán bộ các ngành quân, dân, chính, đảng thành phố Hải Phòng.

Bác nhấn mạnh đến những bất cập của một thành phố cảng quan trọng nhất miền Bắc nhưng chưa phát triển đúng với yêu cầu mà mấu chốt là công tác quản lý. Do vậy “phải chống tư tưởng bảo thủ, chống chủ quan tếu, đồng thời chống bi quan…

Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí. Đoàn kết không phải ngoài miệng mà đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ… Kết quả công tác của địa phương là thước đo sự lãnh đạo của Đảng”.

Ngày 31/3/1960, Bác Hồ gửi thư tới Hội nghị Thể dục Thể thao trong đó viết: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khoẻ. Muốn giữ sức khoẻ thì nên thường xuyên tập thể dục, thể thao. Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp.

Câu nói “Yêu xe như con, quý xăng như máu” đã từng trở thành phương châm hành động của các chiến sĩ lái xe trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ mà đến nay vẫn chưa phải đã cũ. Bác đã nói câu đó vào tháng 3/1951, khi đến thăm đoàn xe đầu tiên của quân đội được thành lập trên cơ sở những chiến lợi phẩm trong Chiến dịch Biên giới và biên chế thành những đơn vị cơ giới vận tải.

Nói chuyện với các bộ và chiến sĩ đơn vị, Bác căn dặn: “Các chú đã thu được một số xe của địch, thế là tốt, vì các chú lấy xe của địch diệt địch, “Gậy ông lại đập lưng ông”. Đấy là cái vốn, các chú phải giữ gìn lấy. Vốn này sẽ phát triển nhiều thêm… Các chú phải giữ gìn xe, tiết kiệm xăng để phục vụ bộ đội. Xe xăng là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân. Các chú phải chăm sóc xe, phải yêu xe như con, quý xăng như máu…”.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ với những tù binh Pháp

– Ngày 30/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thả 200 tù binh Bắc Phi đã bị quân ta bắt trên các chiến trường để thể hiện thiện chí của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với dân các nước thuộc địa của Pháp.

Cần nói rằng chính sách đối với tù binh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán. Không đầy một tuần sau khi đưa ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” nhiều binh sĩ của quân đội Pháp đã bị bắt làm tù binh. Là người tha thiết không muốn cuộc chiến tranh bùng nổ, chủ trương hoà hiếu nhưng quyết tâm bảo vệ nền độc lập của mình, nhân ngày Thiên Chúa Giáng sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư “gửi các tù binh Pháp” (24/12/1946). Thư viết :

30-3-1959 HCM thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh.jpg (111KB)Ngày 30/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh

“Các bạn, tôi rất lấy làm phiền lòng vì thấy các người đang ở trong tình trạng như thế này. Tôi coi các người là bạn của tôi. Tôi biết rằng đó không phải là bởi các bạn, nhưng các bạn cũng như chúng tôi, đều là nạn nhân của bọn thực dân Pháp. Bọn này vì quyền lợi ích kỷ riêng của họ, chỉ muốn đi chinh phục nước người khác.

Tôi mong nột ngày gần đây, hai dân tộc Pháp – Việt có thể cùng cộng tác trong vòng hoà bình và thân ái để mưu cầu hạnh phúc chung cho hai dân tộc. Trong khi chờ đợi, các bạn hãy yên lòng và sống dưới sự che chở của chúng tôi, cho đến khi hết chiến tranh, khi đó các bạn sẽ được tự do. Tôi chúc các bạn một ngày Noel vui và một năm tốt đẹp”.

Trong suốt những năm tháng chiến tranh gian khổ và đầy hy sinh Bác cũng thực hiện một chính sách nhân dân đối với các tù binh của quân đôi Pháp, nuôi dưỡng trong hoàn cảnh chính những chiến sĩ của mình còn đói, rét, thiếu thuốc men… Do chính sách binh vận tốt nên nhiều tù binh Pháp và đoàn quân Lê dương cũng như những lính thuộc địa đã tình nguyện đi theo kháng chiến.

Sau Chiến dịch Biên giới (1950) cả 2 viên đại tá chỉ huy cấp binh đoàn là Lepage và Charton đều bị quân ta bắt sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đích thân đến nơi giam giữ để an ủi.

Hồi ức của Đại tá Hoàng Thế Dũng người tháp tùng Bác, kể lại rằng, khi giải thích những khó khăn của tù binh Pháp gặp phải, Bác, trong vai cố vấn chính trị của Mặt trận, nói: “Các ông biết chiến tranh là chiến tranh. Nhưng quân đội Việt Nam chỉ làm chiến tranh trong các trận đánh thôi. Sau trận đánh, đối với quân đội bại trận, quân đội Việt Nam coi binh sĩ của nó như là nhân dân Pháp. Sự thiếu thốn chỉ là vì hoàn cảnh…”.

Và trong một lần thăm tù binh Pháp, Bác đã cởi tấm áo khoác của mình cho một sĩ quan ốm yếu của đối phương mà người nhận không hề biết rằng người nhường tấm áo rét cho mình là người đứng đầu Việt Minh đang tổ chức kháng chiến.

X&N
bee.net.vn

Hồ Chí Minh và viên tướng Mỹ

– Ngày 29/3/1945, Hồ Chí Minh gặp Tướng Mỹ Claire Chennault, Tư lệnh không đoàn số 14 của Mỹ, cũng là người đại diện cao nhất của Đồng Minh ở vùng Hoa Nam, Trung Quốc để thoả thuận sự hợp tác chống phát xít Nhật ở Đông Dương.

Cuộc gặp này được bố trí bởi Trung uý hải quân Charles Fenn, công tác tại cơ quan Cứu trợ mặt đất của Mỹ ở Trung Hoa (AGAS), người đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Hồ Chí Minh cách đó 10 ngày (18/3/1945).

Sau này, trong cuốn sách viết về tiểu sử chính trị của Hồ Chí Minh xuất bản bằng tiếng Anh vào năm 1973 của Ch.Fenn, được trích dẫn lại trong cuốn “Tại sao Việt Nam?”(Why Vietnam?) của Đại tá Archimedes Patti, chi tiết này được đánh giá như một bước ngoặt quan trọng vì sự xác lập được mối quan hệ đồng minh giữa Việt Minh và Hoa Kỳ cũng như xác lập được vị thế “đứng về phía Đồng Minh” trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít của Hồ Chí Minh nói riêng và lực lượng Việt Minh nói chung.

Tháng 8-1945, tạ Hà Nội,Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp ảnh kỷ niệm với đơn vị OSS củ (90KB)Tháng 8/1945, tạ Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp ảnh kỷ niệm với đơn vị OSS.

Ch.Fenn cho biết, ông đã được nghe nói về một người An Nam tên gọi là “Hu Tze-ming” đã giúp cho viên phi công Mỹ tên là trung uý Shaw, nằm trong số 9 viên phi công trên những phi cơ tham gia các cuộc không kích ở vùng sông Sài Gòn bị quân Nhật bắn hạ. Trung uý Shaw được Việt Minh cứu sống và Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Phạm Văn Đồng tổ chức đưa viên phi công này qua Côn Minh (Trung Quốc) để giao lại cho Đồng Minh.

Thực hiện đề nghị của Hồ Chí Minh, Ch.Fenn đã bố trí cuộc gặp này và thuật lại trong hồi ức của mình: “Chelnault rất cảm ơn ông Hồ về việc người phi công được cứu thoát, ông Hồ đáp lại bao giờ ông cũng sung sướng được giúp đỡ người Mỹ và đặc biệt là giúp tướng Chelnault mà ông ta hết mực ca tụng. Họ trò chuyện về đội “Hổ Bay” (biệt danh của các đơn vị tinh nhuệ trong Tập đoàn không quân số 14 của viên tướng này)… Họ bàn chuyện cứu các phi công bị nạn.

Không ai nói gì đến người Pháp hoặc nói chuyện chính trị. Tôi thở phào khi mọi người sắp từ biệt nhau. Lúc đó ông Hồ nói rằng ông muốn xin một vật kỷ niệm nhỏ… và tất cả cái mà ông ta muốn chỉ là một cái ảnh của tướng Chelnault.”

Viên tướng Mỹ vốn rất hãnh diện với diện mạo và những chiến tích của mình đã đưa ra một sấp ảnh khổ 8X10cm và đề nghị Hồ Chí Minh chọn lấy một chiếc. “Ông Hồ cầm lấy một chiếc và hỏi tướng Chelnault có vui lòng cho xin chữ ký? Chelnault liền viết ở dưới tấm ảnh “Bạn chân thành của Anh. Claire L.Chelnault”.

Sau này cả hai viên sĩ quân tình báo của đơn vị OSS (Cơ quan tình báo chiến lược), tiền thân của CIA sau này, là Ch.Fenn và A.Patti, đều đánh giá rằng nhà cách mạng Việt Nam đã khôn khéo sử dụng tấm ảnh có lời đề tặng này để gây thanh thế đối với các nhà lãnh đạo Trung Hoa cũng như lực lượng người Việt đang có mặt tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

 Hơn thế từ cuộc gặp mặt này những mục tiêu của Hồ Chí Minh đã được thực hiện nhằm xác lập vị thế của Việt Minh và những sự hỗ trợ cụ thể (chủ yếu là phương tiện thông tin, vũ khí, tin tức tình báo) giữa hai bên góp phần vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tháng Tám giành độc lập cho dân tộc Việt Nam gắn với cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít Nhật.

Về sau này, trải qua nhiều biến thiên của thời cuộc, kể cả việc Mỹ tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, 2 cựu sĩ quan Mỹ này vẫn giữ được sự trân trọng đối với cá nhân cũng như sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Chelnault đã cảm ơn việc cứu phi công Mỹ và hỏi Việt Minh có sẵn sàng giúp cứu phi công Đồng Minh bị rơi ở Đông Dương không? Hồ Chí Minh trả lời rằng “bổn phận của những người chống phát xít là làm tất cả những việc có thể làm được để giúp đỡ Đồng Minh”.

Trước khi chia tay, viên tướng Mỹ đã tặng Hồ Chí Minh một tấm chân dung của mình kèm theo lời đề tặng “Bạn chân thành của ông”. Sau cuộc gặp này nhiều hoạt động chuẩn bị được thiến hành và tháng 5/1945, Hồ Chí Minh về nước đưa theo 2 báo vụ viên và một số thiết bị liên lạc về chiến khu Việt Bắc.

X&N
bee.net.vn

“Mỗi người làm việc bằng hai”

– Ngày 28/3/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo bế mạc Hội nghị Chính trị đặc biệt. Đây là hội nghị theo quy định của Hiến pháp,  cho phép Chủ tịch nước được triệu tập nhằm bày tỏ ý chí của nhân dân trước những vấn đề trọng đại của đất nước và những ý kiến của Hội nghị sẽ được chuyển cho Quốc hội, Hội đồng Chính phủ và các cơ quan hữu quan khác thảo luận và ra quyết định (điều 67 Hiến pháp 1959).

Hội nghị Chính trị đặc biệt có 325 đại biểu chính thức và hơn 300 đại biểu dự thính đại diện cho các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo và các tầng lớp nhân dân, nhân sĩ trí thức tiêu biểu cùng đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc và Việt kiều, họp tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa khai mạc vào sáng 27/3 và bế mạc vào ngày 28/3/1964.

3-1960 - Hồ Chủ tịch thăm Trường thiếu nhi các dân tộc vùng cao ở Thái Nguyên.jpgTháng 3/1960, Hồ Chủ tịch thăm Trường thiếu nhi các dân tộc vùng cao ở Thái Nguyên

Hội nghị được triệu tập vào thời điểm 19 năm sau Hiệp định Giơnevơ ký kết, miền Bắc đã giải phóng nhưng tổng tuyển cử chưa thực hiện được và cuộc chiến tranh giải phóng đang diễn ra ở miền Nam Việt Nam, đồng thời nguy cơ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc của đế quốc Mỹ có nguy cơ trở thành hiện thực.

Trong báo cáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới… là 10 năm đấu tranh gian khổ và thắng lợi vẻ vang…

Chúng ta vô cùng tự hào với miền Nam anh hùng của dân tộc ta, 10 năm qua ở  miền Nam là 10 năm đấu tranh oanh liệt, 10 năm thắng lợi vẻ vang. Suốt 20 năm trời, đồng bào miền Nam ta đã không ngừng đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc. Hết chống thực dân Pháp, lại chống đế quốc Mỹ, lực lượng yêu nuớc miền Nam đã vượt mọi gian khổ khó khăn, càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng. Thật xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”.

Báo cáo phân tích tình hình trong nước và quốc tế, đưa ra những đường lối cơ bản để thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, góp phần bảo vệ hoà bình thế giới.

Còn trong phát biểu bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và kêu gọi: “Đại biểu cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân, tất cả các vị đại biểu đều nhất trí và quyết tâm cùng với toàn dân nâng cao hơn nữa chí khí cách mạng, ra sức thi đua yêu nước, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên, vượt qua mọi gian khổ, khó khăn giành những thắng lợi rực rỡ hơn nữa…

Tôi đề nghị các cụ và các đồng chí sẽ đem tinh thần nhất trí, ý chí cách mạng và lòng tin tưởng quyết tâm của tất cả chúng ta ở Hội nghị này đến nhân dân cả nước ta, biến thành một sức mạnh vĩ đại, một sức phấn khởi mới, hăng hái tiến lên !”

Từ sau Hội nghị này một phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” đã được phát động và trong lịch sử sự kiện này được coi là một “Hội nghị Diên Hồng” thứ hai.

X&N
bee.net.vn

“Người đảng viên phải thế nào?”

– Ngày 25/3/1951, báo “Nhân Dân” đăng bài viết với đầu đề “Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải thế nào?” ký bút danh C.B. Đây là bài báo được Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mới được bầu vào cương vị Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương, vừa tổ chức thành công tại Chiến khu Việt Bắc.

Sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới (1950), nhu cầu thúc đẩy cuộc kháng chiến và với mối liên hệ với các Đảng cộng sản của các nước xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đảng của những người cộng sản phải ra công khai, sau khi đã “tuyên bố tự giải tán” từ tháng 11/1945.

Đại hội Đảng lần thứ II được triệu tập và dẫn đến quyết định trở lại công khai lãnh đạo toàn diện cuộc kháng chiến và kiến quốc, nhưng với tên gọi mới là “Đảng Lao động Việt Nam”(3/3/1951).

Bác Hồ chụp ảnh vói các cháu thiếu nhi trên Chiến khu Việt BắcBác Hồ chụp ảnh với các cháu thiếu nhi trên Chiến khu Việt Bắc

Quyết định chọn tên này là do đề nghị của Bác và cũng phải trải qua những tranh luận quyết liệt. Bài báo này xác định bản chất và những sắc thái mới của tổ chức cách mạng này trong bối cảnh lịch sử mới, nhằm trả lời câu hỏi: “Thế nào mới xứng đáng là người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam?”.

Bài báo xác định “Đảng Lao động Việt Nam sẽ gồm những công nhân, nông dân và lao động trí óc yêu nước nhất, hăng hái nhất, cách mệnh nhất” và là “những người kiên quyết phụng sự lao động, những người chí công vô tư, làm gương mẫu trong cuộc kháng chiến kiến quốc. Như thế là rõ.

Ai mà không như thế, thì không xứng đáng là người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Nói chung, người đảng viên ở bất kỳ đâu, bất kỳ làm việc gì, bất kỳ địa vị và hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn:  Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải ra sức tham gia công việc kháng chiến; phải gần gũi dân chúng, thương yêu giúp đỡ dân chúng, tổ chức là lãnh đạo dân chúng; phải giữ vững đạo đức cách mệnh là chí công vô tư…

Nói tóm lại, người đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo.

Mà muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ. Đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam”.

Đến nay vừa tròn 60 năm, nhắc lại bài báo như thấy một tấm gương để người nay soi vào!

X&N
bee.net.vn

Cuộc hội kiến trên Vịnh Hạ Long

– Ngày 24/3/1946 đã diễn ra cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cao uỷ Pháp D’ Argenlieu trên tuần dương hạm “Émile Bertin” đậu trên Vịnh Hạ Long.

Vào thời điểm ký kết Hiệp định Sơ bộ 6/3, diễn biến chính trường nước Pháp có những thay đổi mạnh mẽ. Đảng Xã hội Pháp đã thay thế Tướng De Gaulle trên chính trường.

Phái “diều hâu” ở Đông Dương đứng đầu là Cao uỷ – Đô đốc D’ Argenlieu tìm mọi cách phá hoại hoà hoãn, đặt Chính phủ Pháp vào những việc đã rồi, với Việt Nam là dung dưỡng các phần tử khiêu khích và tách Nam Bộ thành lập chính phủ tự trị.

Ngày 24/3/1966, Bác nói chuyện tại Đại hội thi đua bảo đảm giao thông vận tải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lượcNgày 24/3/1966, Bác nói chuyện tại Đại hội thi đua bảo đảm giao thông vận tải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược

Và trong nội bộ tìm cách gạt các nhân vật chủ trương thực hiện Hiệp định Sơ bộ. Trong bối cảnh và ý đồ ấy, D’ Argenlieu đã đề nghị tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng địa điểm được mời đến lại là trên một chiến hạm đậu tại Vịnh Hạ Long.

Bác nhận lời và ngày 24/3/1946 từ sân bay Gia Lâm, bằng một chiếc thuỷ phi cơ, Bác cùng Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam và Thứ trưởng Bộ nội vụ Hoàng Minh Giám bay đến điểm hẹn: Tuần dương hạm “Émille Bertin”

Đô đốc D’Argenlieu đã tiếp đón với hình thức trọng thị để tỏ rõ quyền lực tối cao của mình ở Đông Dương cũng là để gạt bỏ ảnh hưởng của Tướng Leclerc, người có khuynh hướng hoà hoãn đã tham gia quá trình dẫn đến ký kết Hiệp định Sơ bộ mà Đô đốc cho rằng đã nhượng bộ Việt Minh quá nhiều. Hạm đội Pháp đã duyệt binh vừa để chào mừng vừa để thị uy sức mạnh của vũ khí.

Cuộc thảo luận xoay quanh việc thúc đẩy những cuộc tiếp xúc cao cấp giữa hai bên trong đó có cuộc gặp thượng đỉnh mà vị Chủ tịch nước Việt Nam yêu cầu sẽ phải được diễn ra tại thủ đô nước Pháp nhằm ngăn chặn những mưu đồ của các phần tử thực dân muốn phá hoại những nỗ lực hoà bình và tranh thủ chính giới tiến bộ ở Pháp.

Cũng trong cuộc tiếp xúc này mà nội bộ giữa hai viên đô đốc và tướng Pháp càng trở nên căng thẳng. Leclerc sau khi tỏ rõ sự bất đồng với D’Argenlieu, không bao lâu sau bị điều động rời khỏi Đông Dương. Còn viên đô đốc thực dân thì đòi hỏi phải có một cuộc hội nghị sơ bộ ở Đà Lạt nhưng đã phải chấp nhận một chuyến thăm viếng chính thức của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sang thăm hình thức Cộng hoà Pháp.

Trên máy bay trở về Hà Nội, Bác nói với viên tướng Pháp Salan, người đi tháp tùng đoàn cảm nghĩ về cuộc găp này: “Nếu đô đốc (D’Argenlieu) muốn đem tàu bè ra lung lạc tôi thì ông ta đã lầm to. Những tàu đó không thể nào đi ngược các dòng sông của chúng tôi!”.

Nhận xét sau cuộc hội kiến này, chính viên Đô đốc D’ Argenlieu đưa ra nhận xét: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có một bản lĩnh vững vàng. Ông biết mình muốn điều gì và chỉ đạo hoạt động của mình một cách kiên nhẫn… Chủ tịch có được cái kỹ thuật của một lãnh tụ cách mạng, cũng là cái kỹ thuật của đảng đã đào tạo nên ông” (P.Devillers. “ Paris-Sài Gòn- Hà Nội”, tr.295).

X&N
bee.net.vn

“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ”

– Ngày 23/3/1949, báo “Cứu Quốc” đăng nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của nhà báo Walter Briggs, phóng viên của nhiều tờ báo ở Mỹ. Cuộc phỏng vấn này không thực hiện trực tiếp mà qua văn bản.

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp năm 1946

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp năm 1946

Trả lời câu hỏi điều kiện nào Việt Nam chấp nhận sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc, Bác khẳng định: “Độc lập và thống nhất thực sự của Việt Nam”;

Hỏi “Cụ có phải là một người cộng sản nữa không?”, Bác trả lời: “Tôi luôn luôn là người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thực sự của Tổ quốc tôi”;

Hỏi: “Việt Nam công khai tuyên bố trong 24 vị thành viên của Chính phủ có 4 vị là cộng sản, thế thì 4 vị ấy có ảnh hưởng đặc biệt hay cũng như các vị khác”, Bác trả lời: “Tất cả các bộ trưởng Chính phủ Việt Nam đều cộng đồng phụ trách và ảnh hưởng bình quân”;

Hỏi: “Một khi độc lập thì Việt Nam sẽ đứng với Nga và các nước đồng minh với Nga hay là với dân chủ phương Tây?”, Bác trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bàu bạn”;

Hỏi: “Một khi độc lập đã thành công, về mặt quốc tế, Cụ sẽ đưa Việt Nam đứng với Nga và các nước đồng minh của Nga hay là với dân chủ phương Tây, hay là theo chính sách độc lập của mình?”, Bác trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bầu bạn”….

Có thể nói đây là quan điểm nhất quán mà ngay sau khi Cách mạng tháng 8/1945 thành công và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, người đứng đầu nhà nước đã tuyên bố “Nước Việt Nam chủ trương làm bạn với tất cả các nước dân chủ trên thế giới, không muốn gây sự với ai…”(1945-1946), và nó tiếp tục được khẳng định ngay cả khi chiến tranh đã bùng nổ và vào thời điểm phỏng vấn đang diễn ra ác liệt.

Cũng trong tháng 3/1949, trả lời phỏng vấn của nhà báo Standley Harrison của báo “Telepress” (đăng trên Cứu Quốc ngày 26/3/1949), Bác cũng khẳng định: “Pháp công nhận Việt Nam thống nhất thực sự và độc lập thực sự thì chiến tranh sẽ lập tức chấm dứt”.

Trả lời câu hỏi: “Vì lẽ gì mà Việt Nam thành công về mặt quân sự?”, Bác trả lời: “Vì toàn dân đại đoàn kết để chống thực dân Pháp và để tranh lấy thống nhất và độc lập thật sự cho Tổ quốc mình”.

Hỏi: “Khi ngoại thương Việt Nam đã khôi phục, thì Việt Nam sẽ giao dịch với các nước dân chủ nhân dân những gì?”, Bác khẳng định: “Việt Nam sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật thà”.

X&N
bee.net.vn

Bác và nhà báo Úc W.Burchett

– W.Burchett sau này nhiều lần đến Việt Nam đã đưa ra nhận xét: “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm ngay từ khoảnh khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng.

Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13/3/1954 bằng trận tấn công vào cứ điểm Him Lam và kết thúc đợt 1 bằng việc đánh trên đồi Độc lập (15/3) và bức hàng cụm cứ điểm Bản Kéo.

Giữa đợt 1 và đợt 2 (bắt đầu từ 30/3), tại căn cứ địa Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Úc Wilfred Burchett người sau này tiếp tục gắn bó phản ánh và ủng hộ nhân dân ta cho đến cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Ngày 22/3/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956.Ngày 22/3/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956.

Mối quan tâm của dư luận lúc này là sau khi chiến trận đã bùng nổ, với những diễn biến vô cùng ác liệt và thực dân Pháp được can thiệp Mỹ hỗ trợ cũng thể hiện cũng đang say máu quyết huy động lực lượng vào trận quyết chiến này với tất cả các vũ khí hiện đại thì liệu khả năng chiến thắng của lực lượng kháng chiến sẽ ra sao?

Trong hồi ức của mình, nhà báo Úc đã thuật lại cách giải thích của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam kháng chiến: “Bác Hồ đặt ngửa chiếc mũ trên bàn, đưa những ngón tay gầy guộc theo vành chiếc mũ và nói: “Tình hình thế này, đây là những ngọn núi mà lực lượng chúng tôi đang chiếm giữ. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ. Đó là nơi đóng quân của người Pháp với những đội quân thiện nghệ nhất mà họ có tại Đông Dương. Và họ sẽ không bao giờ rút ra được”.

“Vậy đây chính là Stalingrad ở Đông Dương?” Burchett hỏi. Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Căn cứ vào điều kiện ở đây thì đúng như vậy. Nói khiêm tốn thì đó là một điều gì đó giống như thế”.

W.Burchett sau này nhiều lần đến Việt Nam đã đưa ra nhận xét: “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm ngay từ khoảnh khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng.

Trong những cuộc gặp gỡ tiếp theo với nhân cách vĩ đại này, sự ấm áp, giản dị, cách thể hiện rõ ràng xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp và sự thấu hiểu trọn vẹn chủ đề khiến ta có ấn tượng vô cùng sâu sắc. Bất cứ ai được Hồ Chủ tịch tiếp đều bình luận về những phẩm chất ấy và cao hơn hết là cảm giác của họ ngay lập tức như người trong nhà của Chủ tịch”.

X&N

bee.net.vn

Ý kiến của Bác Hồ tại phiên họp của Bộ Chính trị

 – Những phát biểu của Bác tại các phiên họp của Bộ Chính trị thường được bút lục trong biên bản lưu trữ. Dưới đây là một vài ý kiến phát biểu của Bác trong các cuộc họp rơi vào ngày 21/3 của một số năm. Tuy tình hình ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng những tinh thần cơ bản liên quan đến mục tiêu phát triển và phương thức lãnh đạo vẫn còn nhiều điều gần gũi với ngày hôm nay.

Ngày 21/3/1958, tham dự phiên họp của Bộ Chính trị bàn về kế hoạch nhà nước, trong phát biểu kết luận, Bác nhấn mạnh đến việc Trung ương cần kiên quyết đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chú trọng đến các khâu nước, phân và công cụ. Không nhất thiết đưa ra chỉ tiêu mỗi huyện một hợp tác xã mà tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể có huyện có vài ba, có huyện chưa cần lập, cán bộ hợp tác xã nên dùng người của địa phương.

Về công nghiệp phải chú trọng khâu kiểm tra. Vấn đề thu mua “phải chú trọng tuyên truyền, giáo dục, tổ chức chu đáo thì nông dân mới đồng tình…về giá cả phải định cho phải chăng, không nên hạ”.

Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956

Ngày 21/3/1962, cũng trong một phiên họp Bộ Chính trị bàn về công tác chuẩn bị cho Hội nghị trung ương về công nghiệp, Bác phát biểu: “Phần nói nông nghiệp còn nhẹ quá. Công nghiệp nặng phải có, nhưng 8 năm thiếu gang thép ta vẫn xoay xở được, còn mất mùa một năm thì chúng ta méo mặt, mất mùa thì gang thép cũng không làm được”.

Bác cũng phê bình: “Ta có họp, có nghị, có quyết rồi giao cho ai phải giao trách nhiệm rõ ràng, ai làm đựơc thì khen, thấy ai làm sai không có thái độ rõ ràng, làm không được thì cách chức ngay (tỉnh Thái Bình được thưởng hơn 700 huân chương, huy chương mà không thấy phạt một ai), ý tôi còn nhu nhược với vấn đề này”.

Ngày 21/3/1964, cũng tại trong một lần họp Bộ Chính trị, Bác nêu ý kiến: quân và dân ta rất tốt, thiên thời địa lợi cũng không khó khăn lắm, nhưng công việc không chạy do lãnh đạo có sức ỳ lớn, phối hợp chưa chặt chẽ, chưa tốt, chỉ đạo chưa thống nhất. Bác còn phê bình tình trạng thiếu lương thực, hàng hoá kém phẩm chất, hình thức xấu, giá cả đắt đỏ, thiếu cán bộ cụ thể chịu trách nhiệm và phải coi vấn đề củng cố chi bộ là một trọng tâm.

X&N
bee.net.vn