Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Ký ức về Bác Hồ trên những chuyến chuyên cơ

Cuộc đời lính gắn bó với những người cựu binh này ngót gần nửa thế kỷ. Đôi phần ký ức đã lãng quên theo thời gian, nhưng những ký ức về năm tháng được gắn bó với Bác trên những chuyến chuyên cơ mãi không bao giờ phai mờ.

Người kể chuyện Bác Hồ

Với Đại tá Trần Văn Bích, mỗi dịp trò chuyện với những thanh niên thôn Vạn Phúc Đông (xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh), những ký ức về những năm tháng sống trong quân ngũ và phục vụ đất nước như sống lại. 15 năm công tác tại Trung đoàn bay 919, có đến 9 năm ông vinh dự được gắn bó bên Bác Hồ trên những chuyến chuyên cơ phục vụ lãnh tụ. Ở thôn này, ai cũng biết đến ông với cái tên gần gũi “Người kể chuyện Bác Hồ”.

ky-uc-bach-ho-aBàn thờ Bác được đặt vị trí trang nghiêm trong nhà Đại tá Trần Văn Bích

Năm 1945, người chiến sĩ trẻ Trần Văn Bích tròn 20 tuổi, theo đoàn quân tiến về Hà Nội tiếp quản Thủ đô. Đến tháng 2/1956, ông được tuyển chọn sang tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc học lái máy bay. Tháng 4/1958, ông tốt nghiệp lớp máy bay ném bom TU2, ở Trường số 2, Quân giải phóng Trung Quốc. Vào thời điểm đó, tình hình trong nước có một số biến động, ông Bích phải chuyển sang học lớp máy bay vận tải AN2. Sau khi hoàn thành khóa học tháng 2/1960, ông về nước tham gia vào Đoàn bay 919, thuộc Quân chủng Phòng không Không quân. Người bạn gắn bó với ông trong năm tháng cống hiến ở  Đoàn bay 919 chính là Thiếu tướng Nguyễn Đình Khoa, nguyên Phó Tổng Giám đốc Công ty bay dịch vụ.

Nhớ về  người đồng đội, Thiếu tướng Nguyễn Đình Khoa xúc động: “Đại tá Trần Văn Bích là linh hồn, anh cả của đội bay. Tính anh phóng khoáng, thẳng thắn và rất vui vẻ. Nhưng trong công việc anh rất nghiêm túc, nhiệt tình. Nhiều thế hệ lính phi công đã trưởng thành dưới bàn tay huấn luyện của người anh cả này”.

15 năm công tác tại Đoàn bay 919, phi công Trần Ngọc Bích có rất nhiều chuyến bay chuyên chở Bác Hồ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Lào, tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực tiếp viện cho chiến trường. Những lần được gặp Bác đều để lại ấn tượng sâu sắc với người lính không quân ấy. Ký ức về những ngày được cùng ăn, cùng trò chuyện, được chứng kiến nếp sống giản dị, gần gũi của Bác Hồ mãi khắc sâu trong tâm trí ông. Học tập và noi gương Bác, Đại tá Trần Văn Bích luôn giữ vững phẩm chất kiên trung, cao đẹp của một người lính. Dù là lính trực thăng của Đoàn bay 919, hay sau này là Trung đoàn trưởng Trung đoàn trực thăng 916 rồi Chánh Thanh tra Quân chủng, Hiệu phó Trường Sĩ quan chỉ huy không quân, Cục phó Cục Quân huấn… ông Bích đều hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, tự nhắc nhở mình và nhắc đồng đội sống xứng đáng với Bác, xứng đáng với tên gọi người lính Cụ Hồ.

ky-uc-bach-ho-bĐại tá Trần Văn Bích (người thứ hai hàng đầu, từ trái sang) chụp ảnh với đồng đội cũ
trong một dịp gặp mặt

Nghỉ hưu năm 1990, ông Bích lại về sống bên dòng sông La hiền hòa, gắn bó với công tác tuyên truyền, vận động thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở địa phương. Ở vùng quê này, ông trở thành người lưu giữ và truyền khẩu nhiều nhất những câu chuyện về Bác Hồ. Ông Chu Lương Tâm, Phó Chủ tịch xã Trường Sơn cho biết: “Nhiều năm qua, bác Bích là người cựu chiến binh có nhiều đóng góp cho thôn xóm. Đặc biệt, trong các dịp Tết thiếu nhi, Trung thu, bác vừa là người quyên góp nhiều đồng thời vận động mọi người cùng tham gia”.

Dạy con cháu, ông Bích luôn đề cao truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, ơn Đảng, ơn Bác… 4 người con đều noi gương ông, sắp đặt trang trọng ảnh Bác Hồ ở một gian bàn thờ, thắp hương vào mỗi dịp rằm, lễ, Tết. Hiện nay, người cháu nội của ông cũng đang tiếp bước ông làm phi công cho Hãng Hàng không Vietnam Airline. Nhiều thế hệ học sinh tiểu học, trung học cơ sở ở xã Trường Sơn từng được trò chuyện với Đại tá Trần Văn Bích trong giờ học ngoại khóa vẫn nhớ đến ông, người say mê kể chuyện Bác Hồ.

Nhớ cái ôm nhắc nhở của Bác

Rời làng Vạn Phúc Đông, chúng tôi tìm đến ngôi nhà của một người lính cũng đã có nhiều năm vinh dự được tham gia trên những chuyến bay với Bác, tên ông là Nguyễn Đăng Thường. Có một điều thú vị người lính già này cho chúng tôi biết, Đại tá Trần Văn Bích chính là người anh, người thầy đã dìu dắt ông trong những ngày làm lính phi công.

ky-uc-bach-ho-cThượng tá Nguyễn Đăng Thường bên những kỷ vật cũ

Những năm tháng rèn luyện trong quân ngũ khiến ông vẫn còn rất phong độ ở độ tuổi ngoài 80. Mái tóc trắng như cước, màu da đỏ au, và ấn tượng trong chúng tôi về ông chính là cách nói chuyện đậm chất người lính Cụ Hồ.

Cuộc đời lính gắn bó với ông hơn 30 năm nhưng với ông những năm tháng được tham gia lái máy bay cho Bác Hồ là những kỷ niệm thiêng liêng và rất đỗi khó quên. Từng câu nói, cử chỉ của người mãi in sâu trong trí nhớ của người cựu binh năm xưa.

ky-uc-bach-ho-dVợ chồng Thượng tá Nguyễn Đăng Thường

Ông kể: “Chuyến bay đầu tiên cũng là chuyến bay tôi nhớ nhất. Tôi không tham gia lái chính chỉ ngồi ở ghế phụ lái. Hôm đó và khoảng ngày 24 rạng ngày 25/12/1967. Đây là thời điểm Noel, Mỹ tuyên bố ngừng ném bom. Chúng tôi được nhiệm vụ chở Người sang Trung Quốc, nhưng do thời tiết xấu phải hạ cánh ở sân bay Nội Bài. Vừa xem xét để nắm tình hình của địch, đồng thời các đồng chí tranh thủ kiểm tra lại máy móc thiết bị. Lúc này, Bác cũng bước ra ngoài và ngồi xuống bên cạnh tôi nói chuyện với tất cả mọi người rất vui vẻ. Bác hỏi thăm, rồi dặn dò mọi người giữ gìn sức khỏe. Khi chuẩn bị có lệnh cất cánh, Bác bỗng quay sang ôm ngang người tôi thật chặt, giọng xúc động: “Phi công ta cũng không to cao bằng phi công của các nước khác, không biết các cháu ăn có đủ no không?”. Lúc này, một đồng chí trong Đoàn đứng dậy khẳng khái: “Thưa bác, tuy phi công chúng ta ăn chưa no, vóc người không to nhưng gan thì to lắm ạ. Dám đánh cả giặc Mỹ”. Bác đứng dậy, nhìn chúng tôi trìu mến, Người nói “Bác rất tin””.

Sau chuyến bay này, ông Thường còn tham gia trong Tổ lái máy bay cho Bác thêm ba lần nữa.

Phượng Vũ – Văn Dũng
Theo http://dantri.com.vn

Thu Hiền (st)

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác thông tin tuyên truyền

Hoạt động trong lĩnh vực thông tin – truyền thông, chúng ta luôn luôn học tập và làm theo Bác về công tác tuyên truyền và thấm nhuần những chỉ dẫn của Người để từ điều kiện thực tế, lựa chọn cách thức tuyên truyền cho phù hợp, nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tuyên truyền lớn của Đảng ta, là tấm gương mẫu mực về công tác tuyên truyền. Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”.  Trong công tác tuyên truyền phải mang tính đại chúng, tính nghệ thuật, diễn đạt ngắn gọn nhưng sâu sắc, giản dị, dễ hiểu, sử dụng linh hoạt sáng tạo các thành ngữ, dân ca…trong hoạt động thực tiễn. Trong hoạt động tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện phương châm kết hợp giữa lời nói và hành động, lý luận gắn liền với thực tiễn. Người chủ trương nói ít, làm nhiều; chỉ nói khi thật cần thiết, nói đúng để làm đúng.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện nhuần nhuyễn sự kết hợp giữa lời nói và hành động, làm chủ lý luận, thực tiễn hóa lý luận và lý luận hoá thực tiễn.

chu-tich-hcm-thong-tina
Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý đến công tác
thông tin – tuyên truyền

 Từ những hành động tuyên truyền của Người đã tạo sức cuốn hút, cảm hoá mọi người. Theo Hồ Chí Minh: “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi viết cho ai xem, nói cho ai nghe. Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem.” Người còn chỉ ra rằng: “Tuyên truyền không cần phải nói tràng giang đại hải. Mà nói ngắn gọn, nói những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được, để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được”. Nói đến lực lượng làm công tác tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tất cả cán bộ, đảng viên, hễ những người tiếp xúc với dân chúng đều là người tuyên truyền của Đảng. Vì vậy, ai cũng phải học nói, nhất là học nói cho quần chúng hiểu”, hơn lúc nào hết người làm công tác tuyên truyền “Phải có lòng tự tin, tin vào mình, tin Đảng, tin giai cấp, tin nhân dân mình”,

Đối với công tác tuyên truyền trên mặt trận báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ quan điểm tư tưởng của mình. Đó là cách viết. Vì ai mà viết? Mục đích viết làm gì? Viết cho ai? Viết cái gì? Cách viết thế nào? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích. Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng nhiều chữ. Viết phải gọn gàng, vắn tắt, nhưng phải có đầu có đuôi, viết phải thiết thực, chớ ham dùng chữ”. Bác còn căn dặn “để làm trọn nhiệm vụ tuyên truyền, tổ chức, hướng dẫn, thì các báo chí ta cần phải gần gũi quần chúng hơn nữa, đi sâu vào công việc thực tế hơn nữa, cách làm việc của báo chí phải cải thiện hơn nữa”. Bác xác định rõ mục đích của báo chí: “Báo chí phải phục vụ ai? Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội…Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”…

Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo sự thống nhất trong ý chí và hành động, tạo sự đồng thuận và quyết tâm trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội./.

Đức Lâm
Theo http://daklak.gov.vn

Phương Thúy (st)

Đạo đức Hồ Chí Minh toả sáng trong thơ ca

Đạo đức là một bộ phận của thế giới quan chi phối toàn bộ nhận thức và hành động của con người. Đạo đức theo nghĩa chung nhất là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với toàn xã hội. Đạo đức với những chuẩn mực giá trị đúng đắn là một bộ phận quan trọng của nền tảng tinh thần xã hội. Những chuẩn mực đạo đức được bồi dưỡng hình thành trong mỗi công dân sẽ tạo nên chất lượng mới của nguồn nhân lực.

Học tập theo gương Bác

Đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Bác Hồ đã viết: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giải mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của người cộng sản, đòi hỏi sự thống nhất giữa động cơ và hiệu quả, giữa lời nói và việc làm, từ đời sống chung đến đời sống riêng. Dân tộc ta, nhân dân ta vô cùng tự hào về lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại. Người đã để lại kho tàng di sản văn hóa đạo đức vô giá.

Chính vì lẽ đó, trong văn học, nói chung và thơ ca nói riêng, không ít những nhà thơ đã ca ngợi đạo đức Hồ Chí Minh thông qua ngôn ngữ văn học. Những bài thơ ca ngợi Bác Hồ dễ đi sâu vào lòng người, tình người, làm rung động trái tim thương nhớ, kính yêu lãnh tụ.

Trong bài thơ “ Sáng Tháng Năm”, Tố Hữu viết:

Người là Cha, là Bác, là Anh
Trái tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”

Đã nói lên tấm lòng thương yêu nhân dân mênh mông, vô bờ bến của Bác Hồ; diễn đạt một cách thâm trầm vai trò bao bọc, chở che với trách nhiệm to lớn của Bác Hồ đối với dân tộc. Cũng với ý tứ đó, trong bài “Bác ơi”, có những câu:

“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già”

Ở bài “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ, nhà thơ diễn đạt sự chăm chút, ân cần của vị lãnh tụ tối cao đối với người chiến sĩ:

Anh đội viên thức dậy
Thấy trời khuya lắm rồi
Mà sao Bác vẫn ngồi
Đêm nay Bác không ngủ”.

Bác Hồ không ngủ vì cảm thương chiến sĩ ngày mai sẽ ra trận, cần có một giấc ngủ ngon để lấy sức mà đánh giặc. Tình thương yêu của Bác đã làm cho anh đội viên du kích phải rưng rưng nước mắt, cảm động vô cùng. Tấm lòng của Bác như người cha đối với con, tình thương nồng ấm, chứa đựng một đức độ bao dung nhân hậu, hiếm có trong những người lãnh tụ cách mạng xưa nay. Và anh đội viên du kích nằm ngủ mà cứ rưng rưng trong lòng, thương cảm vị cha già thân yêu:

Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm”.

Nhà thơ Vũ Quần Phương đã diễn đạt về đạo đức sáng ngời của Bác:

Suốt một đời Bác đã nghĩ về ta
Nói về Đảng cũng vì dân mà nói
Nước còn giặc, dân còn khi lạnh đói
Ôi lòng Người đo sao hết mông mênh
Bác đắng lòng trong mỗi miếng cơm ǎn”.

Và nhà thơ đã nói với mọi người về tình cảm lớn lao cảm động của Bác Hồ đối với dân, với nước:

Ôi tim Bác sao mà mênh mông thế!
Gương trong ngần cho muôn thuở cùng soi”.

Trong suốt cuộc đời vì nước, vì dân, Hồ Chủ tịch luôn nêu tấm gương mẫu mực về đạo đức thực hành của người cộng sản. Gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh đã quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng, có ảnh hưởng sâu sắc đến suy nghĩ và hành động của quảng đại quần chúng nhân dân yêu nước, từ đó đưa đến những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Và rất nhiều bài thơ ca ngợi đạo đức của Bác Hồ. Có những nhà thơ được hạnh phúc với thời gian sống gần gũi với Bác Hồ nên cảm nhận được tình cảm, đạo đức lớn lao của Bác. Và nhà thơ đã tổng kết một câu rất hay, coi như là lời tâm nguyện trong suốt cuộc đời học tập theo đạo đức của Bác:

“Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”.

Theo ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Tâm Trang (st)

Hành trình 102 năm, ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

Bác Hồ Cảng SaigonNgày này, cách đây vừa tròn 102 năm, vào ngày 05/6/1911 tại Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn – Gia Định (Nay là thành phố Hồ Chí Minh) người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khi đó mới vừa tròn 21 tuổi đã lên chiếc tàu mang tên Amiral La Touche De Tréville, ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Cuộc hành trình của Người đã qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia trên thế giới, đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết cách mạng tiên phong của thời đại.

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất, nhà tan, các thế hệ người dân Việt Nam lúc bấy giờ đều mong muốn đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Nguyễn Tất Thành sớm thấu hiểu tình cảnh nước mất, nhà tan và nỗi thống khổ của nhân dân, Người quyết định phải tìm ra con đường đúng đắn, nhằm đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược để cứu nước, cứu dân. Khi rời Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm một con đường mới cho cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ nung nấu một ý chí với quyết tâm cháy bỏng đó là: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Nguyễn Ái Quốc đã đi qua gần 30 nước ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và Người đã rút ra kết luận là chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc địa. Cũng từ đây, Người đã tìm đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp cuối năm 1920 và xác định con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc đúng đắn: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức, bóc lột và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Thời gian từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và “Đường Kách Mệnh”, đặc biệt là việc xuất bản tờ Báo Thanh niên ra ngày 21/6/1925, Người đã chuẩn bị về đường lối chính trị để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cũng trong thời gian này, Người đã tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ với việc Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ và gửi đi học ở Liên Xô … Khi điều kiện thành lập Đảng đã chín muồi, ngày 03/02/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản thành lập một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bước ngoặc vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị, về con đường cứu nước, cứu dân, thống nhất đất nước, thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, thoát khỏi bần cùng, đói nghèo và lạc hậu.

Mùa Xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba nước ngoài, rời xa Tổ quốc, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công; ngày 02/9/1945, Người đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập; khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; minh chứng cho sự lãnh đạo tài tình, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập rèn luyện.  

Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chi Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, ngày 07/5/1954. Thắng lợi của Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Giai đoạn từ năm 1954 – 1975, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai cuộc chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đối với cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai nguỵ Sài Gòn, giành nhiều thắng lợi vẻ vang. Đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”“Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hoá chiến tranh” ở miền Nam Việt Nam và các cuộc tập kích bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ vào miền Bắc. Với cuộc Tổng tiến công và  nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, kết thúc 30 năm đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, chấm dứt chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, giang sơn thu về một mối, hai miền Nam – Bắc sum họp một nhà, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một trong những trang sử chói lọi nhất của lịch sử dân tộc và có tính chất thời đại sâu sắc, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử nước ta – Kỷ nguyên của một nước Việt Nam độc lập, thống nhất.

Từ 1975 đến nay, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; tiếp tục phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hệ thống quan điểm về lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối đổi mới, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới được bổ sung và phát triển ngày càng hoàn thiện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua hơn 25 thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa quan trọng. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện. Đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân ta ngày càng được cải thiện, nâng cao. Hệ thống chính trị và khối Đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố, mở rộng và giữ vững.

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước; phát huy truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước vẻ vang của dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta ra sức khắc phục hậu qủa nặng nề do chiến tranh để lại, cùng nhau chung sức chung lòng xây dựng đất nước; đưa đất nước sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển. Chính từ những quan điểm, nhận thức đúng đắn, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; mà Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã quyết định thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, mà bắt đầu từ đổi mới tư duy, đã đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn thách thức, những trì trệ do cơ chế quan liêu bao cấp để lại. Đường lối, sáng tạo tuyệt vời đó của Đảng ta đặt nền tảng cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại chưa từng có cho dân tộc Việt Nam.

Với dân tộc Việt Nam ngày nay, sống trong thời đại hoà bình, thời đại Hồ Chí Minh, chưa bao giờ lịch sử dân tộc Việt Nam lại có những bước tiến thần kỳ, một thời đại mà cả dân tộc Việt Nam vững tin tiến bước dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng; Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống kẻ thù chung để giành lại độc lập tự do cho dân tộc, đem lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân, xoá đi kiếp sống nô lệ lầm than; từ một nước chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nhưng lại thiếu lương thực để nuôi sống con người, đã vươn lên trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ nhất trên thế giới.

Hơn 80 năm qua, hoạt động của Đảng ta đã làm cho đất nước, con người Việt Nam thay đổi hoàn toàn, từ một xã hội lầm than, vươn lên một xã hội tươi sáng; Đó là đạo đức cao cả của Đảng và cũng là ước mơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là làm sao cho nhân dân Việt Nam ta “ai ai cũng có cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, được học hành…” chính vì thế mà trong hơn 80 năm qua một chặng đường dài lịch sử đầy thử thách, gian khổ và hy sinh, Đảng ta luôn là người tổ chức và lãnh đạo duy nhất mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đảng tin dân, biết dựa vào dân; dân tin Đảng và kiên quyết đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đến nay, toàn dân tộc Việt Nam luôn hãnh diện vì có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân tiếp tục sự nghiệp đổi mới của đất nước; ngày nay vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng lên, đây là một cơ hội để đất nước Việt Nam vững tin tiến bước trong thời kỳ hội nhập Quốc tế và cũng là một kỳ vọng của nhân dân vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng mãi mãi là niềm tin hy vọng, tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại mãi mãi là ngọn cờ đưa đường, chỉ lối cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, anh dũng tiến lên đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đi vào cuộc sống, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Từ chuyến đi lịch sử của 102 năm về trước, Bác Hồ đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam rực rỡ cho đến ngày nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của nhân loại, Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.

Tự hào về Đảng quang vinh, về Bác Hồ vĩ đại, mỗi người dân Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước càng thấy rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của mình tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng trong sạch vững mạnh, xây dựng và phát huy sức mạnh khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; trước mắt cần tích cực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng vào cuộc sống.

Theo http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình(Phần 1) Hoàn cảnh, xuất thân và quá trình trở thành Thủ lĩnh vùng Mèo Đồng Văn

Đại đoàn kết dân tộc là trụ cột quan trọng bậc nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời là phương châm chiến lược của cách mạng Việt Nam. Có vô vàn những câu chuyện, sự kiện, văn bản… về sự quan tâm, tình cảm Bác dành cho đồng bào dân tộc thiểu số và vùng dân tộc miền núi, chiến khu Cách mạng Cao Bắc Lạng, Hà Tuyên Thái; về những nhân sỹ, trí thức, người tài năng, nổi tiếng theo Bác về với Cách mạng. Trong đó chuyện cha con Vua Mèo Vương Chí Sình là câu chuyện dài nhiều tình tiết ly kỳ, hấp dẫn nhất, đã làm tốn bao giấy mực.

a1. vuameo
Vua Mèo Vương Chính Đức.

 Tác giả loạt phóng sự tư liệu lịch sử này thấy mình có trách nhiệm phải chia sẻ, công bố những tư liệu đã cố gắng tìm hiểu, ghi chép, đối chiếu qua các văn bản, tài liệu lịch sử, cá nhân có liên quan với các sự kiện… mà hầu hết lần đầu tiên được công bố đối với bạn đọc. Tác giả mong muốn góp phần làm sáng tỏ sự thật điều mà lịch sử, xã hội và bạn đọc luôn trông đợi…

Nói tới khái niệm ”vùng Mèo” phải được hiểu không chỉ có 4 huyện núi đá Hà Giang, mà còn bao gồm một phần đất phía Nam tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc giáp Việt Nam. Sau cuộc khởi nghĩa chống nhà Thanh thất bại, quân binh Mèo rút lui về miền Nam Vân Nam Trung Quốc lập Thủ phủ Khai Hoa (hoa nở – tiếng mèo: Pas Tơv kha). Nhà Thanh tiếp tục truy đuổi chiếm phủ Khai Hoa rồi đổi tên thành Khai Hoá (khai mở văn minh). Nghĩa quân rút về Đường Thượng (nay thuộc huyện Yên Minh – Hà Giang) tôn Sùng Chứ Đa làm thủ lĩnh.

Sùng Chứ Đa tự xưng là Thuận thiên Chủ, chia xã hội Mèo thành 4 cấp: Thiên chủ, nguyên soái, đầu binh và trưởng thôn. Xoá hết chế độ dòng họ Mèo do người cầm quyền dòng họ là thủ lĩnh, Sùng tập trung quyền lực vào cá nhân. Do vậy không được lòng thủ lĩnh các dòng họ khác. Họ bàn nhau lật đổ Sùng, giao cho họ Đào đang sống ở Phó Cáo thực hiện.

Họ Đào là họ của vợ Sùng nên dễ tiếp cận với lãnh chúa hơn. Họ Đào thuê hiệp thợ đang xây dinh thự cho Sùng và đã giết được Sùng vào mồng 2 Tết năm 1827.

a2. vua meo
Vương Chí Sình và con trai.

Đương thời Sùng Chứ Đa sử dụng một thanh niên trai trẻ thông minh là Vàng N´jiên N´tor (Vàng Zền Tơ) làm Đổng lý văn phòng. Khi Sùng bị hạ sát, Zền Tơ chạy sang Pa Pú thuộc huyện Ma Lập Pha, Vân Nam Trung Quốc lánh nạn. Tại đây, Tơ được nhà họ Lý thương tình gả con gái cho. Khi tình hình đã êm ắng, họ chuyển về đất Sà Phìn – nơi lối rẽ Xà Phìn đi Lũng Cú. Họ có 2 con trai là Vàng Pá Tro và Vàng Giống Lồng (nhiều sách viết là Vàng Dúng Lùng – vì nghe âm tiếng Mông rất khó, tôi phải nhờ cụ Sơn đọc từng nguyên âm, phụ âm để ghi, cụ Sơn có tên Mèo là Vàng Giống Sính). Viết và đọc theo chữ và âm Hán Vàng Giống Lồng là Vương Chính Đức – sinh năm 1865 tại Pá Tró (tức con gấu) Sà Phìn.

Lúc ông Zền Tơ mất, Đức mới 12-13 tuổi. Nhà Đức nghèo xơ xác. Ngày ngày Đức đi lang thang gặp đám ma, đám cưới thì xin vào thổi khèn, múa võ để kiếm cơm. Bộ quần áo lanh bố mẹ may cho rách te tua, Đức lấy đá đột thành lỗ rồi dùng dây rừng túm lại che chỗ rách. Tới khi rách quá Đức mới chịu về nhà để mẹ vá cho, rồi lại biến đi. Để buộc chân Đức quy gia, bà Lý mang sính lễ sang bản Lũng Hòa, Sà Phìn hỏi con gái nhà họ Sùng làm vợ Đức. Song chứng nào tật nấy, ngay cả khi đã có con, gia đình cũng không ngăn được máu giang hồ của Đức. Đức có tài thổi khèn, múa võ rất giỏi, nên đi đâu cũng được yêu mến chào đón (chả thế mà ông có tới 3 bà vợ).

Khi quân Cờ đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc rút đi năm 1885 chỉ còn 3 nhóm tàn quân ở lại: Lương Tam Kỳ giữ đất Tả Châu Định Hoá,Tuyên Quang. Hoàng Sùng Anh chiếm giữ Bảo Thắng, Bảo Nhai, Bảo Sen, Lào Cai, Yên Bái. Hà Quốc Trường chiếm đất Hà Giang.

Khi quân Pháp tấn công lên vùng dân tộc nhằm mở rộng bộ máy cai trị, chúng gặp phải sự kháng cự quyết liệt của lực lượng các thủ lĩnh Mèo, Thái, Tày.

Một trong số đó là thủ lĩnh mèo Vừ Phái Lồng – chiếm cứ một dải đất rộng lớn từ Nam Vân Nam Trung Quốc sang vùng núi đá Hà Giang. Sau khi đánh bại chúa Bảo Lạc lấy lại vùng đất của người Mèo, ông đã cho mở đường đi Mông Tự -Vân Nam, đường Bách Xác Quảng Tây xuống Cao Bằng, Hà Giang lưu thông buôn bán. Dân Mèo khi ấy thừa thãi hàng hoá, làm ăn phát đạt, no đủ.

a3. vuameo
Gia đình Vua Mèo Vương Chính Đức.

a4. vuameo
Bờ tường vững chãi bao quanh nhà Vua Mèo.

Khi biết tin quân Pháp sẽ trở lại đánh lên Hà Giang, Hà Quốc Trường lo sợ cho mời Vừ Phái Lồng đến để bàn phối hợp đánh Pháp. Sau khi đánh bật quân Pháp khỏi vùng Mèo, Hà Quốc Trường đã phản bội giết chết Vừ.

Do chủ quan, tin vào sự thành thực của Trường, Vừ cưỡi la chỉ có 2 hộ vệ đủng đỉnh từ Linh Cảm bên kia sông Nho Quế đến gặp Trường. Vừa xuống la trước cửa thành Đồng Văn, ông bị lính của Trường chém chết.

Sau khi Vừ chết, Trường cho tàn quân Cờ đen mà đa phần là dân đầu trộm đuôi cướp, lục lâm thảo khấu tràn xuống vùng Mèo bắt bớ, cướp của, chém giết, hãm hiếp, cướp trẻ con mang sang Trung Quốc bán lấy tiền uống rượu, áp đặt chế độ hà khắc, đàn áp và phá bỏ các tập tục truyền thống của người Mèo.

Không chịu nổi sự o ép, các thủ lĩnh Mèo tập hợp lại thành lập Đảng ”Hươu Nai” dưới sự lãnh đạo của Vàng Dí Tủa. Nghĩa quân rút vào rừng sâu, dựa vào thế núi non hiểm trở chống lại Hà Quốc Trường. Vương Chính Đức là một trong những thủ lĩnh dòng họ của nghĩa quân đó. Ông là thủ lĩnh giỏi khèn, giỏi võ, can trường, thông minh được nghĩa quân tin cậy, thán phục. Ở trong rừng sâu thiếu thốn, đói khát nên có một lần Vàng Dí Tủa đang đêm ghé qua nhà thăm vợ con.

Thấy chồng ốm yếu, vợ Tủa mời thầy thuốc đến thăm bệnh. Do ăn nhiều thứ củ, quả, lá rừng nên Tủa mắc đường tiêu hoá, chướng bụng. Sau khi tẩy độc, thầy thuốc dặn ông giữ gìn kiêng khem nghiêm nghặt, ăn uống từ từ từng tí một. Lúc đó đang mùa ngô chín (từ cụ Sơn dùng), thương chồng, vợ Tủa luộc ngô và đồ mèn mén để ông ăn và mang vào rừng. Do quá đói ông đã ăn quá no, nên đứt ruột mà chết.

Sau cái chết của Vàng Dí Tủa, Vương Chính Đức được suy tôn lên làm thủ lĩnh. Lên cầm quyền, thủ lĩnh họ vương khôi phục lại thiết chế dòng họ truyền thống của xã hội Mèo, dựa vào sự cố kết các dòng họ trong sự thống nhất chặt chẽ. Ông củng cố lực lượng, không chịu thế bị động trong rừng sâu. Một mặt ông chuẩn bị tấn công, đồng thời chỉ thị, truyền lệnh cho các dòng họ Mèo rằng: Khi nghĩa quân nổ súng, các gia đình Mèo có quân Trường ở, hãy vùng dậy dùng mọi vũ khí, dụng cụ, tìm mọi cách giết chúng. Khi nghĩa quân nổ súng tiến vào Linh Cảm bên kia sông Nho Quế, chỉ trong vài đêm quân của Trường bị sát hại nhanh chóng bằng tên độc, súng kíp, cắt cổ… Các toán quân đầu đuôi, sau trước không ứng cứu được cho nhau.

Hà Quốc Trường cùng vợ con chạy thục mạng về Quảng Tây bên kia biên giới (có tài liệu nói là Trường bị giết chết). Chấm dứt mộng xưng hùng xưng bá, mưu toan chiếm dải đất từ châu Vân Sơn, Vân Nam Trung Quốc kéo dài tới các huyện núi đá Hà Giang. Ngoài ra, ông Vương còn có công bang giao, gắn kết với người Mèo ở Trung Quốc, tích trữ lương thảo, súng đạn tính kế lâu dài. Cuộc chiến vũ trang đánh Pháp của người Mèo hai bên biên giới Việt – Trung từ 1909 – 1913 là một mimh chứng cho tầm nhìn chiến lược của ông.

(Còn nữa)

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Tự do, tín ngưỡng tôn giáo ngày càng hoàn thiện trong Hiến pháp và được Đảng đảm bảo thực hiện trong cuộc sống

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”

Thiếu Tướng, PGS, TS Trần Minh Thư.
Ngay khi mới thành lập (1930), Đảng ta đã thấy được Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo và các loại hình tín ngưỡng, tín đồ các tôn giáo là nhân dân lao động, có tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Vì vậy, ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của lực lượng cách mạng Việt Nam và có nhiều chủ trương, chính sách đoàn kết các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc để tiến hành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trên cơ sở quan điểm của Đảng về tôn giáo, Nhà nước đã xác định: Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được hiến định ngày càng hoàn thiện trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và đảm bảo thực hiện trong cuộc sống.Tuy nhiên, một số quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp năm 1992 vẫn còn một số điểm cần bổ sung, hoàn thiện. Cụ thể là:

1. Nội dung giáo lý của các tôn giáo tuy có khác nhau nhưng đều mang tính hướng thiện là răn dạy con người làm điều tốt, sống nhân ái, yêu thương, giúp đỡ nhau, tránh xa các thói hư, tật xấu, chống lại cái ác và những bất công trong xã hội. Những mặt tích cực đó của giáo lý các tôn giáo có tác dụng rất lớn đối với việc điều chỉnh hành vi đạo đức của quần chúng tín đồ và một bộ phận dân cư ở nước ta. Trong công tác đối với tôn giáo, Đảng ta đã thấy rõ điều đó và có nhiều chủ trương để phát huy những mặt tích cực của các tôn giáo trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nếp sống ở các khu dân cư, đấu tranh với những ai lợi dụng tôn giáo để chống lại dân tộc và cuộc sống bình yên của nhân dân. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” đã xác định: “Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với việc xây dựng xã hội mới”. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ cần “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Những năm qua, do tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đã làm tha hóa đạo đức, lối sống của một bộ phận nhân dân trong đó có tín đồ các tôn giáo. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạm, các tệ nạn xã hội gia tăng, đạo đức xã hội xuống cấp, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Trong bối cảnh đó, các cấp, các ngành chức năng cần có biện pháp phát huy những giá trị đạo đức văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo trong việc giúp đỡ, động viên tín đồ, chức sắc các tôn giáo tích cực thực hiện chương trình phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng quê hương giàu mạnh và đấu tranh với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Vì vậy, đề nghị bổ sung thêm nội dung: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo” vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

2. Khoản 3, Điều 25 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 quy định: “Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Nội dung quy định này có 2 ý, thứ nhất là: Không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, điều này là hoàn toàn phù hợp. Ý thứ hai là: Không ai được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Như vậy được hiểu là: Chỉ nghiêm cấm những ai lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo với mục đích vi phạm pháp luật. Song, trên thực tế những người lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta từ trước đến nay không phải mục đích để vi phạm pháp luật, mà mục đích của họ là để chống phá chế độ hoặc trục lợi cá nhân. Hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo thường diễn ra rất tinh vi, xảo quyệt. Nhiều trường hợp, chủ thể thực hiện hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống chế độ nhưng được che đậy bằng các thủ đoạn rất tinh vi dưới chiêu bài bảo vệ đạo hoặc hoạt động tôn giáo nên các cơ quan chức năng không xử lý được về mặt hình sự, vì hành vi đó chưa cấu thành tội phạm. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011) của Đảng đã xác định: “Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”. Vì vậy, khoản 3, Điều 25 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đề nghị sửa lại như sau: “Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”.

3. Khoản 2, Điều 25 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ”. Theo quy định này thì pháp luật chỉ bảo hộ: chùa, nhà thờ, thánh đường, đền, đình, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ và những cơ sở thờ tự khác (được xác định là nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo). Trong khi đó, cơ sở tôn giáo ngoài những nơi thờ tự còn có trụ sở các tổ chức tôn giáo, cơ sở đào tạo của tổ chức tôn giáo, những cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp khác, kinh bổn, đồ dùng thờ cúng. Những nơi này đều được pháp luật của nhà nước ta bảo hộ (quy định tại Điều 4, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo). Vì vậy, quy định: “Nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ” như dự thảo là chưa đầy đủ, chưa phù hợp với tình hình tôn giáo ở nước ta. Đề nghị nội dung ở khoản 2, Điều 25 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nên sửa lại như sau: “Cơ sở của tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp được pháp luật bảo hộ”

T.M.T.

Theo cand.com.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1927)

Đầu năm

Cuốn Đường cách mệnh32, tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các khoá huấn luyện chính trị của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu, được Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tại Quảng Châu (Trung Quốc).

Sách khổ 13 x 18 cm, in giấy nến, kiểu chữ viết thường.

Nội dung cuốn sách phân chia theo từng vấn đề và số trang cũng được đánh theo từng vấn đề, không đánh liền cho cả cuốn sách. Có 15 vấn đề sau đây:

1.         Tư cách một người cách mệnh.

2.         Vì sao phải viết sách này?

3.         Cách mệnh.

4.         Lịch sử cách mệnh Mỹ.

5.         Cách mệnh Pháp.

6.         Lịch sử cách mệnh Nga.

7.         Quốc tế.

8.         Phụ nữ quốc tế.

9.         Công nhân quốc tế.

10.        Cộng sản Thanh niên quốc tế.

11.        Quốc tế giúp đỡ.

12.        Quốc tế cứu tế đỏ.

13.        Cách tổ chức công hội.

14.        Tổ chức dân cày.

15.        Hợp tác xã.

Các vấn đề trên được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.

Cuốn sách này nằm trong loạt sách do Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên xuất bản ở Quảng Châu nhằm giới thiệu về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

            –  Đường cách mệnh, in năm 1927. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.257 – 318.

Tháng 1, ngày 31

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ sáu về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi, chủ yếu giới thiệu Tuyên bố của Chính phủ Quốc dân về thái độ và ý đồ ngoại giao của mình. Theo Nguyễn Ái Quốc, đó là một bản tuyên bố rõ ràng và cương quyết, làm cho người ta không còn nghi ngờ gì về chính sách đối ngoại của Chính phủ Quốc dân.

Sau khi giới thiệu những nội dung cơ bản trong bản Tuyên bố, Nguyễn Ái Quốc khẳng định:

“1) Các cường quốc phải thay đổi chính sách ở Trung Quốc theo thực tế và những đòi hỏi hiện tại; 2) Chính phủ Quốc dân do những người Trung Quốc dân tộc chủ nghĩa ủng hộ sẽ đấu tranh giành lại độc lập hoàn toàn về chính trị và lãnh thổ của Trung Quốc; 3) Chính phủ Quốc dân quyết định xem xét với tinh thần công bằng tình hình của kiều dân nước ngoài, sẵn sàng thương lượng với các cường quốc nước ngoài, những cường quốc này không có nguy hiểm nào trong việc thương lượng và thoả thuận với Chính phủ Quốc dân mà quyền lực của nó dựa trên một lực lượng không khoan nhượng và vô địch: đó là chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc”.

Nguyễn Ái Quốc còn tiên đoán tuyên bố này của Chính phủ Quốc dân sẽ trở thành đối tượng của nhiều cuộc tranh cãi trong các giới ngoại giao nước ngoài và chắc chắn sẽ có hiệu quả tức thì đối với chính sách của các cường quốc nước ngoài ở Trung Quốc.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.480 – 484.

Tháng 2, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ bảy về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi, thông báo về diễn biến tình hình ở Hán Khẩu, ở Dương Tử, ở miền Bắc, đặc biệt là về thái độ của các cường quốc nước ngoài.

Thông tin những ý kiến trái ngược nhau về giải pháp ngoại giao của Anh đối với tình hình Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc vạch rõ đó chỉ là những kế hoãn binh, “những lý do khéo léo nhất để che đậy mục đích thực sự của chính sách hăm dọa của Anh”, mặt khác cũng chứng tỏ sự lúng túng của Anh và của các nước đế quốc khác trước tuyên bố của Chính phủ Quốc dân.

Nguyễn Ái Quốc còn đưa ra một nhận định: “Ở Trung Quốc, cũng như ở châu Âu, chính sách đối ngoại của Anh hình như bị chi phối bởi nỗi lo sợ thấy chủ nghĩa bônsêvích lan rộng trên lãnh thổ của mình, hay ở những nước tự trị và thuộc địa, trong những thần dân của Anh. Các nhà chính khách Anh không ngần ngại tuyên bố rằng đường lối xôviết ở Trung Quốc còn có mục đích làm áp lực đối với chính sách của Anh ở châu Âu, nhằm làm cho chính sách của Anh mềm đi và bớt cứng rắn theo quan điểm xôviết”.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.485 – 489.

Tháng 2, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết bài Khổng Tử nhân việc Chính phủ Trung Hoa dân quốc ban hành quyết định: từ nay về sau, xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử, những khoản dự chi cho những cuộc nghi lễ ấy cũng như những đền thờ ông sẽ được sử dụng làm các trường học công.

Sau khi ca tụng đạo đức, học vấn, kiến thức của Khổng Tử đã khiến những người cùng thời và hậu thế phải khâm phục, bằng quan điểm lịch sử, tác giả đã phân tích mặt tích cực cũng như tiêu cực trong học thuyết của Khổng Tử.

Cuối cùng, tác giả viết:

“Với việc xóa bỏ những lễ nghi tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin”.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 452-454.

Tháng 2

Nguyễn Ái Quốc chủ trương ra tờ báo Lính cách mệnh nhằm tuyên truyền giác ngộ binh lính người Việt Nam. Báo Lính cách mệnh số 1 được ra vào tháng 2-1927 tại Quảng Châu (Trung Quốc). Tờ báo khổ 13 x 19cm, in rônêô. Nguyễn Ái Quốc là cây bút chính. Ngoài ra, còn có Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Duy Điếm, là những biên tập viên của tờ báo này.

            –  Báo Lính cách mệnh. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Nguyễn Thành: Báo chí cách mạng Việt Nam (1925 – 1945), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, tr.43.

Tháng 4, sau ngày 12

Mặc dù ở Quảng Châu đã nổ ra cuộc đảo chính của Tưởng Giới Thạch và những cuộc đàn áp khủng bố các lực lượng cách mạng diễn ra khắp thành phố, Nguyễn Ái Quốc vẫn tiếp tục ở lại Quảng Châu để bí mật liên lạc với các đồng chí Trung Quốc và duy trì công việc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

            –  T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.32-33.

Tháng 5, đầu tháng 1)

Vào một đêm khuya, Nguyễn Ái Quốc được Trương Vân Lĩnh, một người Việt Nam tốt nghiệp Trường quân sự Hoàng Phố đang làm việc ở Sở Công an của chính quyền Tưởng Giới Thạch, đến báo tin: “Chúng sắp bắt anh đấy! Tính thế nào, anh phải tính nhanh đi!”. Nguyễn Ái Quốc liền bí mật đi Hương Cảng.

Đến Hồng Kông, Người bị Sở mật thám Anh xét hỏi. Chúng buộc Người rời Hồng Kông trong 24 giờ.

Nguyễn Ái Quốc đi Thượng Hải. Tại đây bọn Quốc dân Đảng cũng đang khủng bố gắt gao. Người phải vào ở khách sạn thật sang, ăn mặc thật đẹp để che mắt mật thám. Sau đó đáp tàu từ Thượng Hải đi Vlađivôxtốc (Liên Xô) 2).

        –  T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.33.

        –  Bút tích bức thư Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, tháng 6-1927. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 25

Từ Mátxcơva, với tư cách là đại biểu Việt Nam trong Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư cho Chi bộ Cộng sản Trường đại học Phương Đông, thông báo quyết định của Ban Phương Đông, Ban Bí thư latinh của Quốc tế Cộng sản và đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Ban Chấp hành về việc thành lập một nhóm cộng sản Việt Nam gồm 5 người: Phon Shon, Le Man, Jiao, Min Khan, Le Quy 3) – do Le Quy làm Bí thư và yêu cầu chi bộ nhà trường cử cán bộ phụ trách việc giáo dục cộng sản cho nhóm “để họ học cách làm việc” và “để đào tạo các đồng chí đó theo sinh hoạt của Đảng”.

            –  Bút tích bức thư ngày 25-6-1927. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 240.

Tháng 6

Tại Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản báo cáo những kết quả chính đã làm trong thời gian công tác ở Quảng Châu, tình hình sau cuộc đảo chính của Tưởng Giới Thạch (tháng 4-1927), những ý kiến của Đôriô (Doriot) 4) và Vôitinxki về công tác của Nguyễn Ái Quốc khi họ gặp nhau ở Vlađivôxtốc…

Thư cho biết, trong thời gian từ năm 1924 đến năm 1927, “mặc dù thiếu thời gian và tiền, nhờ sự giúp đỡ của các đồng chí người Nga và An Nam, chúng tôi đã có thể: 1) Đưa 75 thanh niên An Nam đến học ở Trường tuyên truyền do chúng tôi tổ chức ở Quảng Châu; 2) Xuất bản 3 tờ báo nhỏ; 3) Phái những người tuyên truyền vừa mới được đào tạo về Xiêm, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Nam Kỳ; 4) Thành lập một liên đoàn cách mạng do một ủy ban gồm 5 ủy viên ở tại Quảng Châu lãnh đạo, liên đoàn đã bắt rễ khắp nơi trong tất cả các xứ Đông Dương đó”.

Sau khi cuộc đảo chính nổ ra, “3 trong số 5 ủy viên của Uỷ ban Đông Dương chúng tôi bị bắt giữ, tôi suýt bị bắt… trụ sở của chúng tôi bị cảnh sát đến khám xét và giám sát. Khi đó, tôi chỉ còn cách là phải chọn gấp giữa hai con đường hoặc là để bị bắt hay tiếp tục qua Mátxcơva về công tác ở Xiêm”.

Trong thư, Nguyễn Ái Quốc cũng nêu quan điểm của mình giữa việc về công tác ở Xiêm theo ý kiến của Đôriô hay về công tác ở Thượng Hải (Trung Quốc) theo ý kiến của Vôitinxki, và trình bày một yêu cầu về kinh phí cho chuyến đi từ Liên Xô về Đông Dương qua Xiêm và “thời gian cư trú ở thuộc địa này khoảng chừng 2 năm”.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc viết: “Trong khi chờ đợi quyết định của các đồng chí, xin các đồng chí vui lòng: 1) Đưa tôi vào bệnh viện; 2) Khi tôi ra viện cho phép tôi được học vài kinh nghiệm cần thiết cho công tác của tôi; 3) Và cho tôi lên đường càng sớm càng tốt”.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.241-244.

Tháng 7

Nguyễn Ái Quốc vì lý do sức khỏe được Quốc tế Cộng sản bố trí đi điều trị tại bệnh viện.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, ngày 12-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 8, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đi nghỉ tại nhà an dưỡng mang tên Lênin ở Éppatôria vùng Crưm bên bờ biển Hắc Hải.

            –  Bưu thiếp của Nguyễn Ái Quốc gửi Ph. Biu. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 8, trước ngày 8

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Phrăngxoa Biu (Francois Billoux) làm việc tại Quốc tế Cộng sản.

Bức thư viết trên bưu ảnh, nội dung như sau:

“Đồng chí thân mến,

Nhờ đồng chí nói với nữ đồng chí thay chị Mácgô rằng, nếu tôi có thư từ gì xin gửi theo địa chỉ dưới đây:

Ái Quốc

Krưm – Éppatôria

Nhà an dưỡng Lênin.

Xin chào tất cả”.

            –  Bưu ảnh của Nguyễn Ái Quốc gửi Ph. Biu. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Ph. Biu: Bác Hồ của chúng tôi. In trong tập Bác Hồ ở Pháp, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.43-44.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.245.

Tháng 9, ngày 28

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Những tội ác kinh khủng của chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr bản tiếng Pháp, số 99, và các bản tiếng Đức và tiếng Anh.

Tác giả tố cáo việc đế quốc Pháp “mộ phu” người Đông Dương sang khai thác các thuộc địa khác của Pháp và vạch trần âm mưu bẩn thỉu, thủ đoạn tàn bạo để vét dân bản xứ đem bán làm nô lệ, từ việc lợi dụng tình trạng khốn khổ của họ do đói kém, do nợ lãi, do những gánh nặng của “công cuộc khai hóa”, đến cả việc tổ chức bắt cóc người.

Bài báo dành một phần mô tả thảm cảnh của những người dân bản xứ được “tuyển mộ” này: họ được chất đống trong hầm tàu; luôn luôn bị đày đọa; dày vò vì đói và khát; ốm đau thì bị quăng xuống biển để tránh “truyền nhiễm”; phụ nữ tuy được mang theo con nhỏ, nhưng lên tàu rồi thì đứa trẻ bị vứt xuống nước để “giảm bớt những miệng ăn không cần thiết”; trên tàu, những tên lính tay súng lăm lăm canh gác họ và khi sống sót được tới đảo, họ bị nhốt trong các chuồng để chờ các ông chủ đến mua bán như những con vật.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 246-248.

Tháng 10, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc viết thư cho đồng chí K.Vacne, một thư ký của Ban thư ký Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, đề nghị cho ba người mới bị ốm 5) và một người ốm chưa khỏi hẳn đi bệnh viện.

            –  Hồ sơ của Trung tâm lưu trữ và nghiên cứu các tư liệu lịch sử hiện đại Nga, phông 531.1.52.

            –  Theo A.A.Xôkôlốp: Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, bản tiếng Nga, Nxb. Mátxcơva, 1998, tr.33.

Tháng 10, ngày 15

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh N.K., nhan đề Sự thống trị của đế quốc Pháp ở Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 104.

Bài báo tố cáo âm mưu của đế quốc Pháp trong việc gây ra cuộc xung đột “Hoa – Việt”vạch trần tính chất bịp bợm, mị dân của cái gọi là Viện “Đuma” An Nam do chúng nặn ra và kết tội chính chủ nghĩa đế quốc Pháp là nguyên nhân của mọi tai họa mà người dân xứ Đông Dương đang phải gánh chịu.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.249-254.

Tháng 11

Nguyễn Ái Quốc được Quốc tế Cộng sản cử đi Pháp công tác.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản ngày 12-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 12, đầu tháng

Nhận sự phân công của Quốc tế Cộng sản, từ Pháp, Nguyễn Ái Quốc đi dự cuộc họp Đại hội đồng của Liên đoàn chống đế quốc33 (Grand conseil général de La ligue anti impérialistes) từ ngày 9 đến ngày 12-12-1927 tại Brúcxen 6) (Bruxelles) – Thủ đô nước Bỉ.

Cuộc họp có khoảng 50 người tham dự, mở rộng cho các thành viên ngoài hội đồng. Nội dung chính: quyết định thành lập các phân bộ của Liên đoàn ở các nước, bàn về chống chiến tranh thế giới mới, thông qua nghị quyết về Trung Quốc, Ấn Độ, Nicaragoa, Inđônêxia, Đông Dương, Iran; về mối quan hệ của Liên đoàn với Quốc tế II trong vấn đề thuộc địa.

Tại cuộc họp, Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ và làm quen với Môtilan Nêru (thân sinh cố Thủ tướng J. Nêru), Xucácnô, Katayama Xen, Tống Khánh Linh. Trong thời gian dự họp, Người ở tại một khách sạn phố Rêgin và đã tranh thủ viết một tài liệu về cuộc đấu tranh của nhân dân Cônggô, thuộc địa của Bỉ, nơi Người đã từng đến sống và lao động những ngày tìm đường cứu nước.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, ngày 12-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            –  T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.33.   

            –  Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1980, tr.209.

Tháng 12, ngày 16

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Toàn văn bức thư như sau:

“Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân.

Các đồng chí thân mến,

Trong 2 hoặc 3 tuần lễ tôi sẽ trở về đất nước tôi. Chuyến đi của tôi tốn chừng 500 đôla Mỹ. Vì tôi không có tiền, nên tôi mong các đồng chí giúp tôi.

Xin vui lòng trả lời tôi ở địa chỉ như sau: Ông Lai, ở nhà ông Écxten, 21 phố Halesơ, Béclin 7)Trong thư trả lời, hãy viết đơn giản “có” hoặc “không”. Nếu là có, hãy gửi tiền đến Uỷ ban Trung ương của Đảng Đức, cho “Liwang”.

Có hay không có tiền, tôi yêu cầu các đồng chí gửi cho tôi một chương trình tổ chức thực hành để tôi có thể làm việc một cách có ích.

Trong khi chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng có được tức thời, xin gửi các đồng chí thân mến nhận lời chào cách mạng của tôi.

Béclin, ngày 16-12-1927

N. Ái Quốc”

            –  Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.255.

Cuối năm

Nguyễn Ái Quốc viết Công tác quân sự của Đảng trong nông dân34, nêu lên tầm quan trọng của nông dân trong tiến trình cách mạng và đảng của giai cấp vô sản phải hết sức quan tâm tới công tác chính trị và tổ chức (cả về công tác quân sự) trong nông dân.

Thời gian hoạt động ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã chứng kiến cuộc chiến tranh Bắc phạt do Tôn Trung Sơn phát động nhằm mở rộng thành quả cách mạng ra phạm vi cả nước. Đây là một cuộc chiến tranh chống đế quốc phong kiến của nhân dân Trung Quốc, thực chất là do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhưng bề ngoài do Chính phủ Quốc dân tiến hành. Cuộc chiến tranh Bắc phạt được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân, nên liên tiếp giành được những thắng lợi về quân sự, lực lượng cách mạng nhanh chóng phát triển, khống chế được quá nửa lãnh thổ Trung Quốc. Song cuối cùng, cuộc Bắc phạt đã thất bại.

Theo dõi chặt chẽ diễn biến của cuộc chiến tranh, suy nghĩ về những sự biến đó, tổng kết những bài học kinh nghiệm, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “Chính sách kém cỏi về vấn đề nông dân của Đảng Cộng sản là một trong những nguyên nhân quyết định làm cho cuộc cách mạng Trung Quốc cuối năm 1927 thất bại”.

Từ thực tiễn của cách mạng Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc cho rằng:

“Đảng của giai cấp vô sản, trước hết ở tất cả các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp, phải quan tâm tới công tác chính trị và tổ chức (cả về công tác quân sự) trong nông dân. Công tác này không được phó thác cho sự may rủi, hay tiến hành gặp chăng hay chớ, một kiểu giống nhau trên khắp cả nước”. Những vấn đề về tổ chức các lực lượng vũ trang trong nông dân, vấn đề xây dựng căn cứ địa, những nguyên tắc trong việc tổ chức du kích và lãnh đạo chiến tranh du kích đã bước đầu được Nguyễn Ái Quốc phân tích và giải quyết về mặt lý luận. Trên cơ sở đó, kết hợp với những bài học của cách mạng thế giới, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực. Đó là một sự thực hiển nhiên đối với cả hai cuộc cách mạng – cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản”. Do vậy mà công tác tuyên truyền, tổ chức của đảng với nông dân có tầm quan trọng đặc biệt. “Cách mạng chỉ có thể thắng lợi nếu như những làn sóng cách mạng lay động được quần chúng nông dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 413 – 433.

————————–

1) Theo William Duiker là ngày 5-5-1927.

2) Trong một lá thư gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc ghi tháng 6 tới Mátxcơva.

3) Tức Nguyễn Thế Rục, Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng, Bùi Lâm và Trần Phú (B.T).

4) J. Doriot – đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, cán bộ của Quốc tế Cộng sản (B.T).

5) Theo A. A. Xôkôlốp một trong ba người mới bị ốm là Nguyễn Thế Vinh (em ruột Nguyễn Thế Rục) bí danh là Tăng Hy Hiền.

6) T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện đã nhắc lại một kỷ niệm trong chuyến đi Brúcxen như sau:

“Đến ga xe hỏa thì Bác (tức Nguyễn Ái Quốc khi đó – B.T) gặp đồng chí Xen Câtdâm – người sáng lập Đảng Cộng sản Nhật. Vì tuổi già, đồng chí được đoàn thể cấp vé hạng nhất. Khi thấy Bác đi hạng ba, đồng chí cũng quyết định đi hạng ba, mặc dù Bác khẩn khoản mời đồng chí đi hạng nhất cho khoẻ khoắn”.

7) Nguyên văn: M. Lai, chez M., Ecckstein, 21 Halle-chastransse, Berlin (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1926)

Tháng 1, ngày 6

Nhân Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân Đảng Trung Quốc họp tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã gửi một bức thư 1) đến đại hội. Bức thư ký tên Lý Thuỵ, toàn văn như sau:

“Kính gửi Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Quốc dân Đảng Trung Quốc.

Xin thưa, tệ nhân 2) là một người An Nam mất nước phải lưu vong bôn ba đến chốn này. May thay gặp lúc quý hội họp đại hội, tuyên bố viện trợ cho công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới, không nén nổi sự vui mừng. Song “muốn bốc thuốc, trước hết phải biết bệnh”. Cho nên, tệ nhân yêu cầu quý hội cho phép đến hội nghị để bộc bạch tình cảnh đau khổ của đất nước kém cỏi chúng tôi, mong những người muốn giúp chúng tôi tiện nghiên cứu để tìm phương châm. Nước tôi sẽ may mắn biết bao! Cách mạng sẽ may mắn biết bao! Trước khi ngừng lời, xin kính chúc:

Cách mạng Trung Quốc muôn năm!

Quốc dân Đảng Trung Quốc muôn năm! 3).

Lý Thụy

Ngày 6 tháng 1 Trung Hoa dân quốc năm thứ 15

Địa chỉ liên lạc: Sứ quán Bôrôđin, ngài Trương Xuân Mộc 4) chuyển”.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.35 (bản tiếng Trung Quốc).  

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.210-211.

Tháng 1, ngày 13

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, cho biết Người đã nhiều lần viết thư cho các đồng chí trong Đoàn Chủ tịch đề nghị gửi cho các tài liệu về nông dân viết bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh để phục vụ tập san Nông dân sắp xuất bản, nhưng cho đến nay vẫn không nhận được gì cả. Bức thư có đoạn viết:

“Tôi sẽ rất cảm ơn các đồng chí nếu gửi cho tôi nhật báo của Quốc tế Nông dân từ số 1 cho tới số hiện nay bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, để tôi có thể dịch sang tiếng Trung Quốc dùng cho việc tuyên truyền của chúng tôi”.

Cuối thư ký tên: Nilốpxki (N.A.Q)

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.212.

Tháng 1, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc với bí danh Vương Đạt Nhân được Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân Đảng Trung Quốc mời đến dự và phát biểu ý kiến tại phiên họp thứ 9 của đại hội.

Chủ tịch phiên họp là Uông Tinh Vệ – Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền của Trung ương Quốc dân Đảng Trung Quốc, đã mời Nguyễn Ái Quốc lên phát biểu và mời Lý Phú Xuân làm phiên dịch (vì Người phát biểu bằng tiếng Pháp).

Sau lời chào mừng và cảm ơn sự hoan nghênh của đại hội, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra rất nhiều sự thật để tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam trong hơn 60 năm qua, đối với Hoa kiều ở Việt Nam. Chúng đàn áp dã man cách mạng Việt Nam và cũng sợ cả cách mạng Trung Quốc nên đã tìm mọi cách công kích phá hoại Chính phủ cách mạng Quảng Châu.

Cuối cùng, Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: “Tất cả các dân tộc bị áp bức đều cùng chịu sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần phải cùng nhau liên hiệp lại, đánh đổ đế quốc Pháp, đánh đổ chủ nghĩa đế quốc trên thế giới… Không phân biệt nước nào, dân tộc nào, tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung của chúng ta”.

Bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc đã được đại hội hoan nghênh nhiệt liệt.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr. 35-37 (bản tiếng Trung Quốc).

Tháng 1, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc viết bài Báo chí bình dân để trả lời những lời phàn nàn nhiều lần rằng “các bài báo của ta quá thiếu trau chuốt để có thể gây ảnh hưởng đến tâm trí dân chúng”.

Bài viết có đoạn:

“Chúng tôi xin báo với các độc giả của mình rằng chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, văn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đăng đối song hành, những sự tô vẽ văn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngược lại chúng tôi gắng sức, vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một văn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Vì mục đích của chúng tôi là: 1. Đánh trả sự tàn bạo của người Pháp; 2. Khích lệ dân tộc An Nam kết liên lại; 3. Làm cho họ thấy được nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm cách nào để tránh được những điều đó, nên bản báo chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động mà người ta gióng lên khi có đám cháy để báo cho người đang trong ngôi nhà cháy, giục giã họ chạy thoát thân để khỏi bị chôn vùi hoặc bị thiêu cháy, và gọi những người xung quanh đến ứng cứu.

Tiếng đàn cầm chắc chắn hay hơn tiếng kẻng; nhưng trước mối hoạ đang đe doạ chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gẩy đàn”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 446-447.  

Tháng 1, ngày 21

Nhân kỷ niệm ngày mất của Lênin, Nguyễn Ái Quốc viết bài nhan đề Lênin và phương Đông, đăng trên báo Gudok, Cơ quan ngôn luận của ngành giao thông vận tải Liên Xô, xuất bản ở Mátxcơva.

Bài báo phê phán các lãnh tụ Quốc tế thứ II đã không đồng tình với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa. Họ luôn luôn nhất trí với chính sách đế quốc mà bọn tư bản thực hiện ở các thuộc địa. Ngược lại, “Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa”.

Một lần nữa, Nguyễn Ái Quốc khẳng định những đóng góp lớn lao của Lênin đối với phong trào giải phóng dân tộc, và kết luận:

“Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 218-220.

Tháng 2, ngày 3

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, báo tin đã gửi số đầu tiên của tờ Nông dân Trung Quốc do Quốc dân Đảng xuất bản, tờ Litao và những báo cáo về phong trào nông dân đăng trên Quảng Châu báo.

Người nhắc lại đề nghị gửi cho các tài liệu tuyên truyền bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, nhất là nhật báo của Quốc tế Nông dân từ số đầu tiên để “tôi có thể dịch cho báo chí Trung Quốc chúng tôi”, và lưu ý “tôi đã viết cho các đồng chí nhiều lần về vấn đề này. Nhưng cho tới nay, tôi không nhận được gì cả”.

Cuối thư, ký tên: Nguyễn A.Q.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.221.

Tháng 3, ngày 8

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Toàn văn bức thư như sau:

Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân.

Các đồng chí thân mến,

Tôi muốn biết tại sao tất cả những thư mà tôi đã gửi đến các đồng chí đều không được trả lời, và nhất là những yêu cầu của tôi về báo cáo và tài liệu khác dùng cho tuyên truyền.

Tất cả những thư mà các đồng chí giao cho tôi để gửi đi Giava, Manila, Ấn Độ và những nơi khác đã được gửi đi. Chỉ có một thư quay trả lại tôi, vì không có người nhận, đó là thư gửi Ban biên tập Petir, Langiơ, Átgét – Xumatơra 5).

Tôi gửi đến các đồng chí những bài cắt ở báo có liên quan đến phong trào nông dân (tháng 2 và tháng 3), và một số báo nông dân của Quốc dân Đảng.

Tôi vẫn hy vọng các đồng chí vui lòng gửi cho tôi tài liệu để tuyên truyền. Xin gửi các đồng chí lời chào anh em.

Quảng Châu, ngày 8-3-1926.

Nilốpxki (N.A.Q)

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.222.

Tháng 4, ngày 4

Ký bút danh Mộng Liên, Nguyễn Ái Quốc viết bài Về sự bất công gửi báo Thanh niên đăng trên mục Dành cho phụ nữ.

Tác giả đã dẫn lời của Khổng Tử, Mạnh Tử, cách ví von của người Trung Quốc và câu nói cửa miệng của người Việt Nam về thân phận của người phụ nữ đã bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì trong xã hội và trong gia đình. Và đặt ra một câu hỏi lớn:

“Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công này?”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 448.

Tháng 5, sau ngày 14

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân do Phó Tổng thư ký Đômban, Trưởng ban Phương Đông Vônhêxienxki và Thư ký tổ chức Oóclốp, thay mặt ký tên.

Thư báo cho biết đã nhận được các thư của Nguyễn Ái Quốc đề ngày 13-1-1926, 3-2-1926, và 8-3-1926 với hai số báo Nông dân và những bài cắt của Quảng Châu báo nói về tình cảnh nông thôn Quảng Đông. Đoàn Chủ tịch muốn biết tình hình phong trào nông dân Sơn Đông sau khi gia nhập Quốc tế Nông dân và yêu cầu Nguyễn Ái Quốc gửi cho một thông báo chi tiết về tình hình các tỉnh Quảng Tây, Quý Châu và về kế hoạch tổ chức nông dân.

Thư còn yêu cầu Nguyễn Ái Quốc gửi cho Đoàn Chủ tịch “vào chuyến thư sắp tới” Cương lĩnh của Quốc dân Đảng về vấn đề nông dân, những nghị quyết, những biên bản của Đại hội II Quốc dân Đảng về công tác nông thôn.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo cho Quốc tế Cộng sản (Báo cáo của Đông Dương) về những công việc đã làm cho Đông Dương từ khi Người đến Quảng Châu, như tổ chức được một tổ bí mật, một Hội liên hiệp nông dân của những người Việt Nam sống ở Xiêm, một tổ thiếu nhi, một tổ phụ nữ cách mạng, một trường huấn luyện chính trị, xuất bản tờ báo Thanh niên…

Báo cáo cũng nhắc đến Hội liên hiệp các thuộc địa ở Pari, về hai tờ báo Le Paria (viết bằng tiếng Pháp) và Việt Nam hồn (viết bằng tiếng Việt), và nhờ tổ chức liên lạc giúp với Nguyễn Thế Truyền gửi các báo đó cho Nguyễn Ái Quốc. Ngoài ra, còn nhờ nhắc hiệu sách của Đảng gửi cho Người các báo L’Humanité, La Vie Ouvrière và Tập san Inprekorr bằng tiếng Anh và tiếng Pháp.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 223-224.  

Tháng 7, ngày 22

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư Gửi Uỷ ban Trung ương thiếu nhi (tức Uỷ ban Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin – Liên Xô) về việc đề nghị cho gửi “một nhóm thiếu nhi Việt Nam” sang học ở Mátxcơva.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc còn viết thư Gửi đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp tại Quốc tế Thanh niên Cộng sản, nói là “đã viết thư cho Uỷ ban Trung ương Thiếu nhi Mátxcơva” và “đề nghị đồng chí ủng hộ yêu cầu của tôi và tiến hành mọi hoạt động cần thiết để người ta trả lời tôi được mau chóng và thuận lợi” về nội dung trên.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.225-227.

Tháng 8, ngày 14

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Phong trào cách mạng ở Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 91.

Tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến những hành động yêu nước “lần đầu tiên người ta thấy ở Đông Dương”, như phong trào phản đối việc bắt bớ và xử án cụ Phan Bội Châu đã buộc tên Toàn quyền Varen phải ân xá cho nhà lão thành cách mạng này, như cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng yêu nước chống bọn thực dân phản động dưới danh nghĩa một cuộc đón rước Bùi Quang Chiêu – một người thuộc phái Quốc gia mới ở Pháp về, như phong trào để tang nhà chí sĩ Phan Châu Trinh diễn ra sôi nổi trong khắp cả nước bất chấp sự đe doạ và đàn áp của chính quyền thuộc địa.

Các tổ chức chính trị cũng lần lượt ra đời. Bắc Kỳ có Phục Việt, kêu gọi “Người Việt Nam không thể đội trời chung với người Pháp!… Hỡi dân tộc Việt Nam! Hãy mau mau thức tỉnh…”. Nam Kỳ có Đảng Lập hiến của một nhóm trí thức Tây học chủ trương “Pháp – Việt đề huề”, có tổ chức Thanh niên An Nam hoạt động tích cực, hướng tới việc thành lập đảng…

Cuối cùng, bài viết có đoạn: “Tình hình chính trị ở Đông Dương có thể tóm tắt trong lời than vãn sau đây của một tờ báo tiếng Pháp ở Bắc Kỳ: “Vụ biến động này… đã làm cho nước ta xưa nay yên ổn biết bao, đã trở thành trung tâm của những cuộc biến động và hỗn loạn”.

– Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 91, ngày 14-8-1926.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 228-233.

Tháng 9, ngày 18

Nguyễn Ái Quốc viết bài Người cách mạng mẫu mực, nêu 12 điều đòi hỏi ở một người cách mạng, bao quát các mặt về lý tưởng, về tinh thần hy sinh, về phẩm chất đạo đức, về phương pháp công tác.

Đoạn mở đầu và cũng là lời kết luận, tác giả viết:

“Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa”. Để hoàn thành vẻ vang vai trò này, người cách mạng kiểu mẫu phải có đầy đủ và thực hiện tốt những điều đó.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 449-450.

Tháng 9

Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ lấy tên là Vương đã giao nhiệm vụ cho Nguyễn Lương Bằng, một trong số anh em trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vừa học xong lớp huấn luyện chính trị, về nước tổ chức đường dây giao thông Hải Phòng – Hương Cảng để đưa thanh niên trong nước ra ngoài và chuyển tài liệu, sách báo từ nước ngoài về nước.

Sau này, nhớ lại Những lần gặp Bác, đồng chí Nguyễn Lương Bằng kể về sự kiện trên như sau:

“Hôm đó đồng chí Vương căn dặn nhiều điều… khi về nước, thì tìm gặp những bạn cũ ở quê nhà hay ở thành phố vẫn có tình thân với mình. Trong bất cứ câu chuyện gì, cũng gợi đến cảnh Pháp áp bức bóc lột. Nếu bà con tỏ ý đồng tình, thì hỏi: ta cứ để cho nó áp chế mãi sao? Bà con sẽ hỏi: sức đâu mà chẳng chịu? Nói: sức mạnh là ở đoàn kết, đoàn kết thì có sức mạnh lấy súng của giặc làm vũ khí của mình. Dần dần đưa bà con vào các phường họ, các hội ái hữu, tương tế. Người tích cực thì tổ chức vào Hội trước. Cứ thế mà mở rộng phong trào”.

“Đồng chí Vương dặn dò tôi cặn kẽ, tỉ mỉ nhất là về vấn đề giữ bí mật. Trước khi chia tay, đồng chí Vương lại bảo tôi phải chú ý một điểm: Mình ở nước ngoài về, thường là có mật thám theo. Cho nên mới về nước, không nên đi lung tung ngay, chưa nên vào nhà ai vội. Không những thế, nếu cần còn phải đóng vai người chơi bời để mật thám không chú ý”.

– Nguyễn Lương Bằng: Những lần gặp Bác. In trong Bác Hồ. Hồi ký của nhiều tác giả, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 36.

Tháng 10, ngày 24

Bài Nhân đức của Pháp của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Thanh niên, số 66, viết về vụ nhà cầm quyền Pháp trong mùa nước lũ đã sai lính phá đê sông Hồng ở phía bên kia để giữ an toàn cho thành Hà Nội “vì có nhiều Tây ở”, mặc dầu chúng biết khi đê lở nước ào vào, người lính kia không phòng bị trước chắc chắn sẽ chết trôi và dân chúng bên đó chắc chắn sẽ bị nhấn chìm. Quả nhiên, người lính phá đê rồi thì chết đuối ngay. Và 20.000 dân ta bất thình lình bị nước ùa vào làm cho chết trôi hết.

Bài viết có đoạn:

“Thương ôi! Dân ta bị Tây nó giết mòn, giết mỏi. Giết cách này không chết hết, thì nó giết cách khác. Nó lấy rượu và a phiến làm cho dân ta chết nhiều. Nó bắt đi đào sông, đào đường bị nước độc mà chết. Nó bắt đi lính đi làm nô lệ bên các xứ đen 6) mà chết. Nay nó lại nhận chìm cả xứ!

Đồng bào ơi! Mau mau dậy cứu lấy nòi!

Kẻo mà Nam Việt đi đời nhà ma!”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 451.

Tháng 11, ngày 13

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc với tư cách “đặc phái viên” của báo, viết bài đầu tiên trong loạt bài Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi gửi về cho báo L’Annam, một tờ báo xuất bản bằng tiếng Pháp ở Nam Kỳ do ông Phan Văn Trường làm chủ nhiệm.

Bài viết thông báo về những thắng lợi đầu tiên của Quân cách mạng Quốc dân 7) trong cuộc Bắc phạt do Tôn Trung Sơn phát động nhằm mở rộng thành quả cách mạng trong phạm vi cả nước, về những lục đục phe phái trong nội bộ chính quyền Bắc Kinh, về thái độ của các cường quốc nước ngoài với Quảng Châu.

Nói về nhiệt tình của dân chúng đối với Chính phủ Quốc dân, Nguyễn Ái Quốc nhận xét: “Sự nồng nhiệt của nhân dân chứng tỏ người Trung Quốc biết ơn dường nào vị lãnh tụ vĩ đại quá cố đã khơi dậy nơi họ ý chí tự giải phóng khỏi ách áp bức về ngoại giao mà bây giờ không gì có thể biện hộ được”.

Về quan hệ giữa các cường quốc với Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc nhận định: Họ “không phải là chính thức thừa nhận Chính phủ Quốc dân ở Quảng Châu mà là thực hiện một kế hoạch nhằm làm suy yếu Trung Quốc và đặt nước này dưới sự thống trị hoàn toàn của ngoại bang (…). Mưu mô này nhất định đã được Chính phủ Quốc dân nhận thấy, và những biện pháp thoả đáng đã được áp dụng để ngăn chặn việc thực thi này.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 458-461.

Tháng 11, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ hai về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi. Ngoài việc thông báo phía Chính phủ Quốc dân “sự kiện nổi bật trong tuần qua là việc cải tổ cuối cùng hệ thống cai trị ở cấp tỉnh tại tỉnh Quảng Đông”, bài viết tập trung nói về những khó khăn bế tắc của chính quyền Bắc Kinh, đặc biệt là tình hình tài chính đã không đủ để chi tiêu cho quân sự, về những chia rẽ sâu sắc và phân hoá giữa các tướng lĩnh quân phiệt.

Nhận xét về diễn biến của chiến tranh, Nguyễn Ái Quốc viết: “Thái độ của dân chúng các tỉnh rõ ràng là thuận lợi cho Chính phủ Quốc dân… Thái độ đúng đắn của dân chúng quốc gia, lòng yêu nước và sự trong sạch của các thủ lĩnh dân sự và quân sự, sự đoàn kết giữa họ, lòng mong muốn thành thật và rõ ràng của họ là vì lợi ích chung, tất cả những cái đó làm cho dư luận dân chúng ủng hộ Chính phủ Quốc dân… Họ không bỏ lỡ cơ hội nào để chứng tỏ cảm tình của mình đối với Quân giải phóng” 8).

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 462-465.

Tháng 11, ngày 28

Bài viết Người An Nam ở Xiêm 9) của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Thanh niên, số 71.

Tác giả đã điều tra và cho biết về số lượng, về tín ngưỡng, về nghề nghiệp, về thân phận của 3 vạn dân Việt đã “lưu ly thất sở, tan cửa tan nhà, phải bỏ quê cha đất tổ, dạt ra đất khách quê người” kể từ ngày thực dân Pháp xâm chiếm nước ta.

Nhận xét chung về người An Nam ở Xiêm khi đó, Nguyễn Ái Quốc phải thốt lên: “Tình cảnh người mình như vậy đều là lưu lạc quê người, cứ kể bình thường thì người An Nam ở Xiêm trông thấy nhau nên thương yêu nhau, giúp nhau là phải, nào ngờ vẫn giữ lấy thói dã man nào lương giáo giết nhau, lợi hại tranh nhau, lừa đảo nhau, chém giết nhau đến nỗi đem nhau đi kiện cáo cho Xiêm, Lào sỉ nhục. Vì một tính không biết đoàn thể, đã đến nỗi bỏ nước mà đi, lại còn vẫn không giác ngộ thế thì sao còn trách người Xiêm nó khinh, nó chửi. Nói ra thật đau lòng”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 455-456.

Tháng 12, ngày 10

Trong bài thứ ba viết về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi, về tình hình ngoại giao, Nguyễn Ái Quốc cho biết các cường quốc nước ngoài vẫn “tiếp tục quan hệ với một chính phủ mà quyền hạn không vượt quá các tường thành của Bắc Kinh, một chính phủ chỉ có cái tên, mà lý do duy nhất tồn tại là sự công nhận ngoại giao của các cường quốc”. Tuy nhiên, lập trường nào của họ đã có sự thay đổi, họ “có thể ký với Chính phủ Quốc dân một thứ tạm ước, chẳng hạn thừa nhận nó bình đẳng với Chính phủ Bắc Kinh”.

Nguyễn Ái Quốc còn cho biết, theo dư luận của báo chí, trước sức tiến công của Quân Quốc dân, nhiều nơi như ở Hán Khẩu và Thượng Hải đã lấy cớ “cứu tính mạng và của cải người nước ngoài bị đe doạ” để yêu cầu các cường quốc can thiệp.

Mặc dù vậy, Nguyễn Ái Quốc vẫn nhận định: “Cho đến nay, các sự kiện đã diễn ra theo kế hoạch Chính phủ định ra và kế hoạch ấy được thực hiện dễ dàng là do dân chúng nông thôn tận tình, do có sự đồng lòng giữa những nhà chức trách dân sự và quân sự, do lòng mong muốn chung góp phần cải tổ lại nước Trung Hoa. Cho đến nay, chưa bao giờ dân chúng Trung Quốc lại nêu một tấm gương về sự đoàn kết dân tộc, về chính trị, tốt đẹp đến như thế…”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 466-469.

Tháng 12, ngày 12

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, nhan đề Bà Trưng Trắc, ký bút danh H.T., đăng trên báo Thanh niên, số 73.

Sau khi thuật lại cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, tác giả bình luận: “Can đảm thay! Phận thuyền quyên vì nước quên mình! Tuy chỉ trong 3-4 năm nhưng cũng đủ làm cho bọn tu mi quân giặc mất vía”. Và kêu gọi:

“Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết K. m 10). Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 457.

Tháng 12, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ tư về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi. Ngoài việc phản ánh một số nét về tình hình ở Bắc Kinh, Thiên Tân và Quảng Đông, bài viết tập trung nói về chính sách ngoại giao của Anh ở Trung Quốc.

Theo tác giả, nước Anh đang thi hành chính sách ngoại giao hai mặt ở Trung Quốc. Một mặt, trong khi tiếp tục duy trì quan hệ với Bắc Kinh, Anh đã cử đại diện tiếp xúc và hội đàm với Chính phủ Quốc dân nhằm mục đích lôi kéo Trung Hoa Dân quốc tham gia vào sự phòng thủ và duy trì những hiệp ước bất bình đẳng cần phải được xoá bỏ. Mặt khác, tăng cường lực lượng hải quân ở các cửa biển, hòng gây áp lực với Chính phủ Quốc dân.

Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc nhận xét, “dư luận nhân dân tố cáo kịch liệt mưu toan ngoại giao nhằm cung cấp cho kẻ thù của Chính phủ Quốc dân những phương tiện để có tiền của chống lại Chính phủ ấy”, “báo chí của phái dân tộc chủ nghĩa không che giấu sự bất bình lớn của mình, và đã có những lời bình luận không có lợi cho nước Anh”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 470-474.

Tháng 12, ngày 31

Chính phủ Quốc dân sau một năm là nội dung chính bài viết thứ năm Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi của Nguyễn Ái Quốc.

Tác giả điểm lại cách nhìn nhận của các nước Viễn Đông, của giới ngoại giao nước ngoài về Chính phủ Quốc dân một năm trước đây, họ cho rằng chính phủ đó chỉ là “một nhúm gây rối làm tay sai cho Quốc tế III, nếu không phải là cho nước Nga Xôviết”, rằng “Tất cả các cuộc biểu tình của thợ thuyền ở miền Nam cũng như ở miền Bắc và miền Trung, của Trung Quốc được tổ chức dường như là do những người bônsêvích lãnh đạo”, rằng “Những người dân tộc chủ nghĩa đòi hỏi huỷ bỏ những hiệp ước giữa Trung Quốc với nước ngoài không có lợi cho quyền lợi của dân tộc Trung Hoa, đều là những nhân viên “đỏ” tay sai của Mátxcơva”, v.v..

Nhận định về tình hình của Chính phủ Quốc dân sau một năm, tác giả viết: “Dư luận nước ngoài, tuy còn chống đối những người dân tộc chủ nghĩa, bây giờ không còn cố chấp như đầu năm trước”, “các giới chính trị của phần lớn các nước cũng xem xét những khả năng ấy”, “các cường quốc nước ngoài công nhận Chính phủ”, “Chính đảng mạnh, Quốc dân Đảng, chính đảng duy nhất có một tổ chức cho phép tiếp xúc thường xuyên với các giai cấp khác nhau trong nhân dân Trung Quốc, được thừa nhận như là người đại diện của những khát vọng dân tộc Trung Hoa, và Chính phủ Quốc dân, chính phủ duy nhất xứng đáng với cái tên ấy tồn tại ở Trung Quốc, được xem như là chính quyền duy nhất có thể nói chuyện được”.

Nguyễn Ái Quốc cũng nêu một trong những lý do khiến dư luận nước ngoài đã có sự đánh giá khác về Chính phủ Quốc dân chỉ sau một năm:

“Dư luận nước ngoài nhận thấy rằng Quốc dân Đảng thực sự mong muốn lợi ích cho Trung Quốc và Chính phủ Quốc dân thành thực mong muốn đạt điều đó.

Người nước ngoài nhận thấy rằng sau một năm thành lập Chính phủ Quốc dân ở Quảng Châu và ở các tỉnh, sự kiểm soát của những người dân tộc chủ nghĩa lan ra dần dần, những biện pháp về chính trị và hành chính thực sự nhằm mục đích thiết lập ở Trung Quốc một chính phủ của dân, do dân và vì dân, theo ba nguyên tắc lớn của người sáng lập Quốc dân Đảng”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 475-479.

Trong năm

Từ năm 1923 đến năm 1926, căn cứ vào những sự kiện có thật, bằng lời văn châm biếm sâu sắc mang tính chiến đấu mạnh mẽ, Nguyễn Ái Quốc viết một loạt bài bằng tiếng Pháp, bóc trần bộ mặt tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương trên mọi lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội. Các bài viết cũng đồng thời phản ánh phong trào đấu tranh cách mạng ở Đông Dương và vạch ra con đường đúng đắn cho cách mạng Đông Dương là gắn chặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản.

Năm 1962, các bài viết nói trên được tập hợp thành cuốn sách lấy tên là Đây “công lý” của thực dân Pháp ở Đông Dương!, do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Việt, nội dung cuốn sách gồm các vấn đề:

– Nước Việt Nam dưới con mắt người Pháp.

– Tâm địa thực dân.

– Đông Dương khổ nhục.

– Đời sống kinh tế.

– Độc quyền ăn cướp.

– Chế độ nhượng quyền và những kẻ được nhượng quyền.

– Những thảm hoạ của nền văn minh Pháp.

– Các quan cai trị.

– Ăn bám và hỗn độn.

– Những tội ác của chủ nghĩa quân phiệt.

– Tạp dịch hay là khổ sai.

– Công chính.

– Thuế khoá.

– Giáo hội.

– Chính sách ngu dân.

– Chế độ báo chí.

– Công lý.

– Phong trào cách mạng ở Đông Dương.

– Cuộc kháng Pháp.

– Hồ Chí Minh: Đây “công lý” của thực dân Pháp ở Đông Dương, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1962. 

————– 

1) Bức thư do Tưởng Vĩnh Kính công bố trong cuốn Hồ Chí Minh ở Trung Quốc, Đài Bắc Truyện ký xuất bản xã, 1972. Bản gốc lưu tại Quảng Châu (B.T).

2) Tệ nhân có nghĩa là tôi, một lối nói khiêm nhường. Do bức thư viết theo lối văn cổ nên chúng tôi giữ nguyên từ ngữ Nguyễn Ái Quốc dùng (B.T).

3) Quốc dân Đảng Trung Quốc ở thời kỳ này theo đuổi những mục đích rất tiến bộ do Tôn Trung Sơn đề xướng, nên Nguyễn Ái Quốc nêu khẩu hiệu trên (B.T).

4) Một bí danh của Trương Thái Lôi (B.T).

5) Ở nguyên bản là: Redactie Petir, Langxa, Atjeh – Sumatra (B.T).

6) Châu Phi (B.T).

7) Tháng 7-1925, Chính phủ cách mạng Quảng Châu đổi tên là Chính phủ Quốc dân. Lực lượng vũ trang cách mạng trước đây gọi là Quân cách mạng

 Quốc dân (hay còn gọi là Quân Quốc dân) (B.T) 

8) Chỉ quân cách mạng Quốc dân (B.T).

9) Từ năm 1938 đổi tên là Thái Lan (B.T).

10) Cách mạng (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Sáu điều dạy của Bác Hồ đối với Công an nhân dân vẫn giữ nguyên giá trị thời sự trong thời kỳ đất nước phát triển, hội nhập

Kỷ niệm 65 năm CAND học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy:

GS. TS. Nguyễn Hồng Vinh
Cách đây 65 năm, ngày 11/3/1948, Bác Hồ đã viết thư gửi đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an khu XII về “Tư cách người công an cách mệnh”.

Lời dạy của Bác Hồ đã trở thành lời huấn thị chung cho toàn lực lượng CAND, trở thành di sản tinh thần thiêng liêng, vô giá; là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của lực lượng CAND, góp phần quan trọng làm nên nhiều chiến công vẻ vang của lực lượng CAND từ đó đến nay.

Sáu lời dạy của Bác tuy ngắn gọn, dễ hiểu, nhưng có ý nghĩa toàn diện, cơ bản trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện đối với mỗi CBCS công an, chẳng những phù hợp trình độ văn hóa và hoàn cảnh chiến tranh trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, mà còn có giá trị nhân văn lâu dài trong giai đoạn lịch sử chống Mỹ, cứu nước, xây dựng CNXH, đổi mới và hội nhập quốc tế hôm nay của đất nước ta.

Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu công phu về ý nghĩa 6 lời dạy của Bác Hồ đối với CAND. Ở bài viết này, chúng tôi muốn nhấn mạnh 2 vấn đề căn cốt trong 6 điều dạy của Bác, đó là tư cách của người công an cách mệnh trong quan hệ đối với Chính phủ và nhân dân.

Có ý kiến cho rằng, tại sao trong lời dạy đó, Bác chỉ nói: “Đối với Chính phủ…”, mà không đề cập tình cảm của người cán bộ công an đối với Đảng? Tại sao Người không dạy “Đối với Đảng, phải tuyệt đối trung thành”?

Cần nhớ lại thời điểm lịch sử năm 1948, đó là thời kỳ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của chúng ta đang ở giai đoạn cầm cự, gặp vô vàn khó khăn.

Để tập hợp, đoàn kết tất cả các lực lượng trong nước, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “giải tán Đảng Cộng sản”, thực chất là chỉ đạo Đảng ta rút vào hoạt động bí mật dưới danh nghĩa “Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác” để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến kiến quốc. Chính vì đặc điểm lịch sử đó, trong thư, Bác chỉ nói “Đối với Chính phủ…”.

Trong bối cảnh như vậy, lực lượng công an triển khai học tập, thực hiện lời dạy của Người, đều hiểu rõ sự trung thành với Chính phủ cũng có nghĩa là trung thành với Đảng, với Tổ quốc. Nội hàm Đảng – Chính phủ – Tổ quốc ở đây thống nhất làm một.

Đây là điều cốt tử để sau này lực lượng CAND xây dựng thành nội dung 5 lời thề danh dự CAND Việt Nam và trở thành nguyên tắc sống còn trong cơ cấu, tổ chức lực lượng cũng như phương thức công tác, chiến đấu của lực lượng công an Việt Nam.

Bác từng nhiều lần căn dặn cán bộ phải là “công bộc” của dân, là “đầy tớ” của dân. Với công an, Bác Hồ dạy “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép”, đó là nội dung cụ thể và rất dễ hiểu để thực hiện.

Trong suốt quá trình giáo dục, rèn luyện lực lượng CAND, Bác Hồ đã dành sự lưu tâm đặc biệt căn dặn cán bộ công an coi trọng việc xây dựng mối liên hệ mật thiết với nhân dân.

Năm 1951, với tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta bước vào thời kỳ gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho giai đoạn chuyển mạnh sang tổng phản công chống thực dân Pháp, lực lượng Công an tiến hành đào tạo những lớp học viên công an có trình độ trung cấp nhằm cung cấp nguồn nhân lực, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi mới của cuộc kháng chiến.

Trước yêu cầu đó, tại châu Sơn Dương, Tuyên Quang (Việt Bắc), Trường Công an Trung cấp được vinh dự đón Bác đến thăm. Bác căn dặn CBCS công an phải nhận thức đầy đủ vị trí, nhiệm vụ của mình trong việc bảo vệ nền chuyên chính dân chủ nhân dân – đó là điểm khác biệt về bản chất giữa công an đế quốc với CAND Việt Nam.

Bác nhấn mạnh, người CAND trong chế độ mới cần nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị, gắn liền với ý chí khắc phục khó khăn, ra sức thi đua sáng tạo để đáp ứng kịp thời những đòi hỏi mới của cuộc kháng chiến, kiến quốc. Bác dạy trong quan hệ với dân, lực lượng công an phải ghi nhớ: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”.

Đó là những lời dạy giản dị, sâu sắc, dễ thấm sâu vào tâm tư, tình cảm mỗi người, ai cũng có thể hiểu để vận dụng trong thực tiễn công tác.

Cũng như vậy, ngày 16/5/1959, nói chuyện với CBCS và học viên khóa II lớp chỉnh huấn tại Trường Công an Trung ương, Bác lại nhắc: “Làm công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì công an mới hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được. Nếu trong công tác công an, các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì nhất định các cô, các chú thành công. Muốn được như vậy cũng phải trau dồi đạo đức cách mạng, cũng phải chống chủ nghĩa cá nhân”.

Trong suốt 65 năm qua, khi có chiến tranh cũng như trong điều kiện đất nước hòa bình, phong trào học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy luôn luôn được duy trì, phát triển sâu rộng và là một phong trào thi đua lớn nhất của lực lượng CAND.

Qua phong trào thi đua học tập và thực hiện 6 điều Bác dạy, đã xuất hiện ngày càng nhiều những tấm gương CBCS công an không ngại gian khổ, không sợ hy sinh, tận tụy công tác, dũng cảm chiến đấu, lập nhiều thành tích và chiến công xuất sắc, góp phần tô thắm truyền thống vẻ vang của lực lượng CAND anh hùng.

Nhiều CBCS đã hy sinh anh dũng trong phòng, chống tội phạm, bảo vệ tính mạng và tài sản vì cuộc sống bình yên của nhân dân, như: Anh hùng, liệt sỹ Lâm Văn Thạnh (Công an tỉnh Lâm Đồng); Lưu Thế Hà (Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp); Lê Thanh Á (Công an TP Hải Phòng); Nguyễn Văn Ngữ (Công an TP Hà Nội); Phạm Văn Cường (Công an tỉnh Lai Châu)… Đó là những minh chứng sống động về kết quả to lớn của phong trào “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”.

Và còn có hàng nghìn, hàng vạn CBCS công an không tiếc máu xương, chiến đấu kiên cường, dũng cảm trong quá trình bảo vệ ANTT của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Đó là những bằng chứng sinh động về kết quả to lớn của phong trào “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy” trong 65 năm qua.

Thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của nước ta, trong đó có lĩnh vực bảo vệ ANTT.

Ở trong nước, bên cạnh những thời cơ thuận lợi, đất nước ta đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức không nhỏ. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”; triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền hòng gây mất ổn định chính trị. Đặc biệt, quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã và đang xuất hiện những biểu hiện mới, phức tạp, tinh vi. Vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang đặt ra nhiều thách thức…

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ những nhiệm vụ hết sức nặng nề của sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đó là “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị – xã hội, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, TTATXH; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch…”, trong đó giữ vững ANQG, TTATXH là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, mà lực lượng CAND là lực lượng nòng cốt.

Hiến pháp 1992 sửa đổi cũng quy định (Điều 73 dự thảo): “CAND Việt Nam được xây dựng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ ANQG và bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng chống tội phạm”.

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đó, hơn lúc nào hết, lực lượng CAND cần tiếp tục đẩy mạnh phong trào “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”, đưa phong trào phát triển lên tầm cao mới.

Trong thời đại và hoàn cảnh lịch sử ngày nay, theo chúng tôi, cần phải tổ chức nghiên cứu sâu sắc hơn nữa giá trị bền vững và ý nghĩa thời sự của 6 điều Bác Hồ dạy CAND, tiếp tục tuyên truyền và phổ biến ý nghĩa cách mạng, khoa học, nhân văn và giá trị thực tiễn to lớn của 6 điều Bác Hồ dạy.

Mỗi CBCS cần nhận thức rằng, việc duy trì và phát triển phong trào thi đua “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy” là nhiệm vụ thường xuyên và là định hướng cơ bản để tạo ra tiền đề quan trọng nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

N.H.V.

Theo cand.com.vn
Vkyno (st)

Nhà báo Hồ Chí Minh và câu chuyện “Viết cho ai”

Sau này, khi đã có một sự nghiệp viết, trong đó có một sự nghiệp văn chương lớn; đã là nhà thơ lớn của dân tộc với Nhật ký trong tù; đã là tác giả Tuyên ngôn độc lập bất hủ, Bác vẫn chỉ nhận mình là người viết báo, là nhà báo cách mạng. Một sự nghiệp báo chí – đó quả là dấu ấn đậm nét nhất trong sự nghiệp viết của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Những kinh nghiệm làm báo, viết báo, Bác đã nhiều lần nói với giới nghề nghiệp; và bài học làm báo, viết báo được Bác quan tâm trước hết, đó là bài học: Viết cho ai xem?

Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà báo Wilfred-Burchett

Bài nói đầu tiên của Hồ Chí Minh về câu chuyện này là bài Cách viết, tại Trường Chỉnh Đảng Trung ương, ngày 17.8.1952; rồi được trở lại, lần thứ 2, trong Đại hội lần thứ III Hội nhà báo Việt Nam, ngày 18.9.1962.

“Kinh nghiệm của tôi là thế này: mỗi khi viết một bài báo thì tự đặt câu hỏi:

– Viết cho ai xem?

– Viết để làm gì?

– Viết thế nào cho phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc”

Điều cần lưu ý, tuy chỉ là bài nói với giới báo chí; nhưng rồi do sự cần thiết, chúng ta chủ trương vận dụng ý kiến của Hồ Chí Minh cho mọi dạng viết, mọi binh chủng chữ nghĩa, trong đó có cả văn chương – học thuật.

Và khi đặt lên vị trí số 1 câu chuyện Viết cho ai xem? chúng ta hiểu đấy là sự đánh dấu bước chuyển quan trọng nhất của nền báo chí cách mạng ở Việt Nam thế kỷ XX. Bởi, mối quan tâm đến công chúng, trước hết là công chúng cần lao, những người dân lam lũ, đói khổ, đó là minh chứng cho một bước ngoặt vĩ đại trên con đường dân chủ hóa đời sống con người. Đặt câu hỏi Viết cho ai xem? là nhằm giải quyết nhu cầu của quần chúng đông đảo; nhằm giác ngộ, tuyên truyền đưa quần chúng vào trường cách mạng, vào một cuộc sống đầy ắp các hoạt động biến cải. Và quần chúng, trong một giai đoạn lịch sử nào đó còn là thất học, hoặc còn đang thanh toán nạn mù chữ; họ liên tục là đội quân hùng hậu, đóng vai trò chủ lực trong các cuộc cách mạng và chiến tranh cách mạng.

Một sự nghiệp làm báo, viết báo, có thể nói là vĩ đại, đối với dân tộc Việt Nam ngay trong bóng đêm của chế độ thuộc địa, bắt đầu từ Le Paria (Người cùng khổ) trên địa bàn Paris, với số đầu, ra ngày 1.4.1923. Đó là chặng đường đầu tiên trên hành trình viết của Nguyễn Ái Quốc, nhằm cảnh tỉnh thế giới phương Tây và thức tỉnh thế giới phương Đông, trong đó nổi lên hai nhân vật trung tâm là những tên chủ thực dân và những người nô lệ trên khắp thế giới da màu. Cùng với việc làm tờ Le Paria, Nguyễn còn viết cho nhiều tờ báo khác ở Paris như Nhân đạo, Dân chúng, Đời sống thợ thuyền… và hoàn thành tác phẩm lớn, đầu tay, mang tên Bản án chế độ thực dân Pháp – năm 1925. Viết bằng tiếng Pháp, đối tượng đọc chủ yếu của Nguyễn là người của chính quốc và những nơi là thuộc địa của Pháp. Nhưng một đối tượng đọc khác mà Nguyễn không lúc nào không khao khát hướng tới – đó là những người Việt xa xứ trên đất Pháp – vào thời Nguyễn ở Paris, đã lên đến 10 vạn người; cùng với 25 triệu đồng bào quê hương còn đắm chìm trong tối tăm, đói khổ. Và đó là lý do, để, cùng với tờ Le Paria, hai năm sau, Nguyễn còn mong muốn cho ra mắt tờ Việt Nam hồn bằng tiếng Việt: “… Cũng vì nghĩ thế/ Tôi muốn làm ra/ Một báo tiếng ta/ Cho đồng bào đọc”.

Cũng như trước đó, từ năm 1919, sau khi gửi Hội nghị Versailles bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam, gồm 8 điểm, bằng tiếng Pháp, dưới tên ký Nguyễn Ái Quốc, đến năm 1922, Nguyễn còn soạn một bản Việt Nam yêu cầu ca bằng tiếng Việt, dài 56 câu, trong thể lục bát và song thất lục bát quen thuộc, để bí mật phân phát trong các giới công nhân và binh sỹ An Nam ở Marseille.

  Bằng nay gặp hội giao hòa
Muôn dân hèn yếu gần xa vui tình

     …

            Một xin tha kẻ đồng bào
Vì chưng chính trị mắc vào tù giam
Hai xin pháp luật sửa sang
Người Tây người Việt hai phương cùng đồng
Ba xin rộng phép học hành
Mở mang kỹ nghệ, tập tành công thương

    (…)

Ý thức về người đọc, luôn luôn là một niềm canh cánh trong sự nghiệp viết của Nguyễn.

Hành trình tìm đường của Nguyễn Ái Quốc là từ Đông sang Tây, từ dân tộc mà ra nhân loại. Nhưng đích đến cuối cùng của Bác là trở về phương Đông, về với dân tộc. Trong sự nghiệp báo chí và văn chương của Bác, cần chú ý khu vực những bài Bác viết bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài. Nhưng cuối cùng, hoặc trên hết, là niềm mong muốn viết bằng tiếng Việt. Có thể nói đó là niềm khao khát lớn của Bác mà bất cứ lúc nào có dịp, có hoàn cảnh, Bác đều nghĩ đến và quyết tâm thực hiện.

Năm 1941, sau khi về nước, ông ké cách mạng – Già Thu, rồi sẽ lấy tên Hồ Chí Minh, đã sáng lập và chủ trì tờ báo Việt Nam độc lập ở căn cứ địa Cao – Bắc – Lạng. Đó là tờ báo có sứ mệnh giáo dục, tuyên truyền quần chúng hướng tới cao trào Tổng khởi nghĩa đang sắp tới gần. Một tờ báo nhằm vào công chúng, đa số là đồng bào các dân tộc thiểu số, thất học, đang khao khát đến với cách mạng – tất nhiên nội dung phải được chuyển tải dưới một hình thức giản dị, phổ cập, dễ hiểu. Và đó là lý do, chỉ trong một thời gian ngắn, Bác đã làm trên ba mươi bài thơ tiếng Việt – những bài với tên gọi rất giản dị như Ca công nhân, Ca dân cày, Ca binh lính, Ca phụ nữ, Ca sợi chỉ… đăng trên Việt Nam độc lập.Những bài như Hòn đá to để nói lên sức mạnh đoàn kết; như Nhóm lửa, để nói phương thức làm cách mạng… trong dạng thức cô đúc và dễ hiểu nhất. Thậm chí đến cả tên báo làViệt Nam độc lập, Bác còn chủ trương rút ngắn, chỉ còn là Việt Lập, để cho quần chúng dễ nhớ, dễ thuộc. Ngay cả tên Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh cũng được Bác cho gọi tắt là Việt Minh.

Điều cần lưu ý: Người viết những bài thơ giản dị như vậy chính là người đã viết các truyện và ký rất sắc sảo, theo phong cách hiện đại bằng tiếng Pháp ở Paris ngót 20 năm về trước; và chỉ vài năm sau, sẽ viết 135 bài thơ bằng chữ Hán với phong cách rất cổ điển và rất hiện đại trong Ngục trung nhật ký.

Như vậy, có thể nói câu chuyện Viết cho ai? là mối quan tâm hàng đầu của nhà cách mạng, nhà báo cách mạng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động của mình. Và đó là lý do cơ bản tạo nên mối giao cảm lớn, sự đồng tâm nhất trí giữa dân tộc Việt Nam và lãnh tụ kính yêu của mình, trong suốt thế kỷ XX – thế kỷ đứng trước hai yêu cầu lớn: cách mạng hóa và hiện đại hóa mà Nguyễn Ái Quốc là người có vai trò khởi xướng và kết hợp một cách trọn vẹn nhất.

Cùng với câu hỏi Viết cho ai? còn là câu hỏi: Viết để làm gì? và Viết như thế nào? để làm nên một bộ ba quan trọng cho một sự nghiệp viết có độ dài 50 năm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, tính từ bản Yêu sách… viết năm 1919 đến Di chúc năm 1969. Một sự nghiệp viết rất linh hoạt, đa dạng, gồm nhiều chủng loại, trong đó có một sự nghiệp báo chí vĩ đại, và một sự nghiệp văn chương với những giá trị vĩnh cửu, để tạo nên nền móng và tinh hoa cho nền văn hóa mới Việt Nam thế kỷ XX.

Gs Phong Lê

Theo daibieunhandan.vn
Vkyno (st)

“Người đi tìm hình của Nước”

Nguoi di tim hinh cua nuoca

Tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, nơi người thanh niên Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước (6/1911). Ảnh internet

Chắc hẳn trong mỗi chúng ta đều đã một lần được nghe, được đọc, được suy ngẫm và rưng rưng xúc động về bài thơ “Người đi tìm hình của Nuớc” của nhà thơ Chế Lan Viên. Có thể nói, mỗi vần thơ cất lên như chứa đựng bao nỗi niềm của tình cảm, sự tự hào, hãnh diện, kính trọng và biết ơn công lao trời bể của nhà thơ nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình suốt cuộc đời phấn đấu vì một lý tưởng cao đẹp, từ ngày ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911) trở thành nhà hoạt động cách mạng kiên cường và bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng (2/9/1969) đưa đất nước và dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Nguoi di tim hinh cua nc 2

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920Ảnh internet

Mỗi lần đọc những dòng thơ trên, trước mắt ta như thấy giây phút thiêng liêng: Đó là hình ảnh của một chàng trai yêu nước tên Ba, tuổi mười tám đôi mươi đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước vào ngày 5-6-1911 trên con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin tại bến cảng Sài Gòn (thành  phố Hồ Chí Minh). Trong chuyến hành trình đầu tiên đó, Bác đã đến Sing-ga-po, Cô-lôm-bô, Po Xa-ít, rồi Đa-răng Mác-xây và ngày 15 tháng 7, Bác đến Lơ Ha-vrơ, cảng chính của miền Bắc nước Pháp.

Với niềm xúc động chân thành, nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm nhận sâu sắc nỗi lòng của Người trong những ngày tháng lênh đênh trên đại dương bao la, xa lạ. Bác đã quyết chí ra đi tìm ánh sáng cho dân tộc giữa mùa bão tố tháng sáu với một trái tim vĩ đại mang trọn tình yêu quê hương đất nước. Từ buổi trưa đó, Bác bước vào cuộc đời của một người lao động cực khổ để ra đi và để rồi:

Đêm xa Nước đầu tiên, ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa Nước rồi, càng hiểu Nước đau thương

Vần thơ thật sâu lắng, giàu cảm xúc như hồi tưởng lại tâm sự của Bác Hồ trong “đêm xa Nước đầu tiên”, tưởng chừng như có thể thấy mỗi đau mất nước ngày đêm giày vò Người; hình ảnh của Người trằn trọc không ngủ trong những đêm dài lênh đênh nơi xứ lạ. Người ra đi thầm lặng, đơn độc trên con tàu vượt đại dương nhưng trong lòng vẫn luôn khắc khoải, canh cánh, day dứt một nỗi niềm mang tên “tình đất nước”, “vận mệnh dân tộc”. Xúc cảm của người xa xứ pha lẫn nỗi đau thương da diết vì mất Nước thật nghẹn ngào khi đồng bào còn chìm đắm trong bùn đen nô lệ, cam chịu sự thống trị của thực dân, đế quốc. Tàu càng đi xa, tiếng sóng càng trở nên xa lạ, nỗi đau như tăng dần lên “xa Nước rồi, càng hiểu Nước đau thương”.

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911 ấy, Người đã trải qua bao gian nan, cực khổ của các nghề “bồi” ở dưới tàu, “bồi” ở khách sạn, làm nghề rửa ảnh, vẽ sơn mài, làm nghề cào tuyết cho một trường học để sống, để đi, để hiểu và hoạt động cách mạng. Trong chuyến hành trình tìm đường cứu nước, Người đã đi khắp thế giới với nhiều khó khăn, vất vả, hiểm nguy nhưng ý chí, quyết tâm và lòng tin của Người về con đường giải phóng dân tộc luôn trước sau như một, chưa một phút giây thôi nghĩ về vận mệnh của đất nước, đời sống của đồng bào. Ý thơ đã cho ta thấy được tình yêu Tổ quốc luôn luôn cháy bỏng đến thiết tha trong tâm trí của Người:

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể
Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi
Những đất tự do, những trời nô lệ
Những con đường cách mạng đang tìm đi
Đêm mơ Nước, ngày thấy hình của Nước
Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà
Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc
Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa

Sống giữa trời Âu phủ đầy tuyết trắng giá lạnh “một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá”, châu Mỹ, châu Phi xa xôi và nhiều lạ lẫm nhưng trong thẳm sâu tâm hồn Bác hình ảnh quê hương hiện lên với màu xanh của cỏ cây tươi tốt như màu xanh của hi vọng, mong ước về màu xanh của hòa bình dân tộc, sự yên bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của đồng bào. Đọc câu thơ, ta bắt gặp một sự đối lập về hình ảnh, điều đó đã càng làm rõ hơn sự tinh tế đầy sâu lắng trong tâm hồn của Hồ Chủ tịch, đó là sự trăn trở, day dứt khôn nguôi đối với vận mệnh của đất nước. “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”. Trái tim giàu lòng yêu nước của Người như đang run lên, như đang nức nở, trong từng bữa ăn, giấc ngủ – Người cùng đau nỗi đau của dân tộc.

Xa Tổ quốc nhưng trái tim của Người luôn đập cùng nhịp đập trái tim của hàng triệu đồng bào. Đó là sức mạnh to lớn nhất giúp Người vượt qua mọi trùng dương, khó khăn để tiếp bước, tìm thấy ánh sáng chân lý soi rọi con đường đi đang đầy bùn đen tăm tối cho cả dân tộc. Khi đọc được Luận cương của Lê-nin, ngồi trong căn nhà số 9 ngõ Compoint, quận 17, ngoại ô Paris, Người đã bật khóc – khóc trong niềm hạnh phúc, khóc trong hi vọng về một ngày mai tươi sáng sẽ đến với dân tộc.

Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin.
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin

Niềm hạnh phúc như vỡ òa khi Người tiếp nhận Luận cương Lê-nin. Người tiếp nhận chân lý cách mạng ấy bằng tất cả trái tim, sự nhiệt huyết và khối óc của mình. Người tập trung lật giở từng trang sách và dường như cả đất trời cùng nín thở chờ đợi giây phút thiêng liêng, trọng đại này. Giây phút ló rạng ánh sáng của con đường giải phóng dân tộc, thời khắc lịch sử của một dân tộc đang trong cảnh lầm than, nô lệ hi vọng về ngày mai tươi sáng. Chân lý cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã soi sáng tâm hồn Người, đất trời và vạn vật xung quanh như bừng tỉnh, cùng hòa chung niềm hạnh phúc vô bờ:

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
Hình của Đảng lồng trong hình của Nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười

Những câu thơ chứa đựng niềm hân hoan trào dâng đầy xúc động. Niềm vui náo nức của cả dân tộc trong giờ phút trọng đại hòa chung cùng tiếng reo mừng sung sướng của Người “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”. Con đường đi của cả dân tộc sẽ còn vô vàn những khó khăn, hi sinh, gian khổ nhưng hình ảnh của Đảng lồng trong hình đất nước đã khẳng định niềm tin vô cùng sâu sắc và mãnh liệt đối với Đảng quang vinh, đối với linh hồn của dân tộc. “Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười” – câu thơ giàu hình ảnh ấy đã làm người đọc xúc động xen lẫn vui mừng khi Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Và hơn cả là niềm hạnh phúc khi gặp những phác họa đầy tươi sáng về tương lai mới của đất nước:

Bác thấy:
Dân ta bưng bát cơm mồ hôi nước mắt
Ruộng theo trâu về lại với người cày
Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, bể bạc
Không còn người bỏ xác bên đường ray

Giặc Nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát
Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân
Những kẻ quê mùa đã thành trí thức
Tăm tối cần lao nay hóa những anh hùng

Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lý Trần Lê
Thành nước Việt nhân dân trong mát suối
Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói
Những đời thường cũng có bóng hoa che

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911, Bác rời xa Tổ quốc, quyết chí ra đi tìm đường cứu nước và Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Sau bao năm bôn ba, nay Người trở về với quê hương, trở về với đồng bào. Mang trên vai sứ mệnh cao cả cùng với chân lý sáng ngời của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết chí đồng lòng, trải qua nhiều chiến đấu, hi sinh, gian khổ đưa cả dân tộc thoát khỏi đêm dài nô lệ:

Luận cương của Lê-nin theo người về quê Việt
Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi
Kìa, bóng Bác hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình Đất nước phôi thai

Ngày Bác ra đi chỉ có hai bàn tay với chí lớn tìm ra con đường cứu nước. Mùa Xuân của 30 năm sau (tháng 2 năm 1941), vượt qua biết bao khó khăn, trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua nổi, mong ước được trở về Nước cùng đồng bào đấu tranh của Bác Hồ đã trở thành hiện thực. Bước chân đầu tiên về đất Mẹ, là giây phút thiêng liêng khó diễn đạt bằng lời, Người như lặng đi bên cột mốc 108 biên giới Việt – Trung, mặt hướng về Tổ quốc, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, rồi Người cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt rưng rưng, tiếng lòng như thẳm sâu lắng đọng, cảm nhận sự sống của “hình Đất nước” đang phôi thai trong lòng mình, hình ảnh của một đất nước Việt Nam mới tươi sáng:

Kìa, bóng Bác hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình Đất nước phôi thai

Những vần thơ xúc động nhưng giản dị đã cho ta cảm nhận thấy phong cách gần gũi, vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt hành trình 30 năm tìm đường cứu Nước. Có thể nói “Người đi tìm hình của Nước” đã diễn đạt lòng yêu nước vô cùng sâu nặng của Bác Hồ, đồng thời để lại cho các thế hệ Việt Nam một trong những bài thơ hay nhất, thành công nhất viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đã 102 năm trôi qua kể từ ngày người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu Nước với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”nhưng ý nghĩa lịch sử sâu sắc của sự kiện ngày 5/6/1911 vẫn luôn sáng mãi trong tâm thức của hàng triệu trái tim Việt Nam và bạn bè quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh với trái tim yêu Nước nồng nàn đã đánh đổi tuổi trẻ, thanh xuân của mình để giành lấy mùa Xuân cho dân tộc, Người đã mở rộng cánh cửa để cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, để cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và những giá trị nhân đạo./.

Huyền Trang
bqllang.gov.vn

Học phong cách ngoại giao con người của Bác

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là người dạy ngành ngoại giao Việt Nam ngay từ đầu. Theo đúng nghĩa đen. Thí dụ có lần Bác đến nói chuyện với ngành ngoại giao, từ chuyện ăn, Bác dạy phải ăn như thế nào. Bác dạy rất đơn giản thôi. Các chú tốt nhất là ăn sau, chứ đừng ăn trước, để xem người ta ăn như thế nào, để mình theo, các chú đừng ‘xông lên’ ăn trước”.

phong-cach-ngoai-giao-a
Ông Vũ Khoan (thứ 2 bên phải) trong một lần làm phiên dịch cho
Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trên đây những lời tâm sự của ông Vũ Khoan, một nhà ngoại giao kỳ cựu khi ông nói về người thầy vĩ đại của ngành ngoại giao Việt Nam, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Là người công tác trong ngành ngoại giao hơn bốn mươi năm, đã từng tham gia rất nhiều sự kiện ngoại giao lớn của đất nước, đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng của ngành ngoại giao, được trực tiếp dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần, ông Vũ Khoan đã thấm nhuần và suốt đời học tập phong cách ngoại giao của Bác.

phong-cach-ngoai-giao-b
Bác Hồ và các cháu thiếu nhi An-ba-ni, năm 1957

Tâm sự với nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân trong một chiều giữa tháng Năm, khi chỉ còn vài ngày nữa là tới Ngày sinh nhật Bác, ông nói: Chuyện ăn, chuyện học ngoại ngữ, chuyện lễ tân…trong ngoại giao, chỉ là những chuyện nhỏ. Còn những chuyện lớn Bác dạy thì vĩ đại lắm. Cái mà chúng tôi học được ở Bác chính là phong cách ngoại giao con người.

“Ngoại giao của Việt Nam có nghi lễ, lễ tân khác với các nước khác, rất dân dã, bình dị.Còn một số nước khá cứng nhắc, nghiêm chỉnh quá. “Dân dã” của mình là ở đâu ra. Chính từ phong cách ngoại giao giản dị mà uyên thâm của Bác. Ứng xử ngoại giao theo cách Bác dạy là ứng xử ngoại giao con người”.

Ông Khoan cho biết, nhiều vị khách quốc tế, sau khi gặp Người bao giờ cũng giữ lại ấn tượng sâu sắc bởi vốn hiểu biết uyên bác, tài trí thông minh, sự giản dị, lạc quan cùng sự tự tin kết hợp với phong cách lịch thiệp, nho nhã.

phong-cach-ngoai-giao-c
Bác Hồ thân mật trò chuyện cùng các cháu thiếu nhi Tiệp Khắc và Việt Nam

Nói tới ngoại giao con người trong phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, ông Vũ Khoan kể: Ngày xưa, tôi đi phục vụ các đoàn ở Liên Xô, Đông Âu. Thường bạn qua một số nước rồi mới sang mình, tất cả các đoàn đều nói rằng: Sang Việt Nam rất sướng. Tôi hỏi: Tại sao các đồng chí lại thoải mái như thế? Họ trả lời: Là vì các đồng chí ứng xử với chúng tôi là con người chứ không phải chính khách. Chứ sang một số nước, họ đối với chúng tôi như chính khách, thành ra không thoải mái, rất gò bó. Về sau thành cán bộ lãnh đạo, tôi đi tôi mới cảm nhận thấy được. Khi tôi tới một số nước, hai bàn tay của tôi không dùng vào việc gì cả, mở cửa cũng có người mở sẵn. Ra khỏi khách sạn, vào ô tô…đều có người mở sẵn. Luôn luôn có người đi kèm. Ở Việt Nam thì khác. Các nhà ngoại giao luôn thoải mái. Ví dụ sinh động nhất là việc Thủ tướng Australia khi sang dự hội nghị APEC tại Việt Nam, có thể chạy bộ quanh Hồ Gươm vào sáng sớm.

“Học tác phong của Bác, khi tôi là cán bộ của Bộ Ngoại giao, tôi luôn chỉ đạo, tất cả các hoạt động ngoại giao phải bảo đảm tính con người. Đừng gò bó. Người ta muốn chạy bộ để cho người ta chạy”, ông Vũ Khoan chia sẻ.

phong-cach-ngoai-giao-d
Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Tát-gi-ki-xtan, ngày 27-7-1959

Kể lại một kỷ niệm khác, ông Vũ Khoan cho biết: Khi còn công tác, tôi được chứng kiến, để đảm bảo an ninh cho một Hội nghị, có nước đã đưa dân của cả một khu phố lớn đi “sơ tán” hết. Chính phủ cho tiền để dân đi nghỉ cả tuần. Cả một khu phố lớn, trên quãng đường chúng tôi đi từ khách sạn tới khu Hội nghị không có bóng người dân. Chỉ có các quan chức, lễ tân và nhân viên an ninh.

Rút kinh nghiệm chuyện này, khi Việt Nam chuẩn bị tổ chức Hội nghị APEC, Ban tổ chức Hội nghị cũng bàn chuyện có hay không để dân nghỉ. Tôi đưa ra ý kiến, ta không nên cho dân nghỉ. Vì ở ta có hai nhân tố. Một là Hội nghị này không phải tổ chức trên dân. Đây là Hội nghị của cả nước, các đại biểu cũng cảm thấy thân thiện hơn với điều kiện thực tế của Việt Nam.

“Có điều đặc biệt ở dân mình, tâm lý bình thường có khi chen lấn nhau, nhưng khi có khách quốc tế thì rất trật tự và nhường nhịn. Đây là điều rất hay”, ông Khoan nói.

Tiếp tục câu chuyện ngoại giao con người theo phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, ông Vũ Khoan cho biết thêm: Sự giản dị của Bác, ai cũng có thể thấy rõ. Mỗi khi có khách quốc tế, các Nguyên thủ quốc gia tới thăm Việt Nam, Bác thường đưa ra nhà sàn, coi như những người bạn thân thiết. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đã được Bác tiếp ở Nhà sàn.

phong-cach-ngoai-giao-e
Các cháu thiếu nhi Pháp tặng hoa Bác. Ảnh TL

Khi Bác ra nước ngoài, quà của Bác thường là hoa quả trong vườn ở Phủ Chủ tịch. Không có nước nào làm như thế. Ở trong nước, khi các Đoàn ngoại giao và khách quốc tế tại Hà Nội đến Phủ Chủ tịch chúc Tết Bác, thường cuối bữa tiệc, Bác chia quà cho mọi người, theo đúng phong tục Việt Nam, gửi quà cho người ở nhà. Mọi người hết sức xúc động và cảm phục sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn rất nhiều mẩu chuyện về phong cách ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng một điều có thể khẳng định: Ngoại giao Hồ Chí Minh, ngoại giao con người chính là sự kết hợp có chọn lọc giữa chủ nghĩa yêu nước, văn hóa dân tộc và truyền thống ngoại giao Việt Nam, mang lại bản sắc riêng cho nền ngoại giao Việt Nam.

“Những chuyện về ngoại giao con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nhiều. Ngoại giao con người theo phong cách Hồ Chí Minh là vậy đó. Tư tưởng đó, phong cách đó thấm nhuần vào các thế hệ ngoại giao Việt Nam. Tổ chức đón tiếp khách quốc tế phải luôn để bạn thoải mái, không bị gò bó. Làm cho người ta thoải mái thì vẫn tốt hơn”, ông Vũ Khoan chia sẻ.

phong-cach-ngoai-giao-f
Chủ tịch Hồ Chí Minh với bạn bè quốc tế. Ảnh TL

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: Sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh trong giao tiếp ngoại giao đã trở thành những câu chuyện huyền thoại.

Ngoại giao con người theo phong cách Hồ Chí Minh chính là hiểu người khác, chia sẻ với người khác để họ hiểu mình. Văn hóa Việt Nam hiện hữu trong nền ngoại giao Việt Nam đó là tính hòa hiếu và nhân nghĩa, là bản chất hòa bình và khoan dung, là sự ứng xử tinh tế, linh hoạt và mềm dẻo nhưng kiên định theo nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tất cả vì lợi ích của dân tộc.

Nguyễn Hòa
Theo Báo Quân đội nhân dân

Thanh Huyền (st)