Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Thư gửi Tướng Lơcléc (1-1-1947)

Kính gửi Đại tướng, thân hữu,

Ngài là một đại quân nhân và một nhà đại ái quốc. Ngài đã chiến thắng và chiến thắng anh dũng kẻ xâm lǎng nước ngài. Đó là một điều mà thiên hạ – trước hết là người Việt Nam – rất khâm phục.

Một nhà ái quốc trọng những người ái quốc nước khác. Một người yêu quê hương mình, trọng quê hương của kẻ khác. Tôi chắc rằng đó cũng là ý kiến của ngài.

Ngài muốn nước Pháp độc lập và thống nhất. Chúng tôi cũng muốn nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Ngài và chúng tôi cùng một chí hướng.

Lừng danh với những chiến công, ngài lại đi đánh một dân tộc chỉ muốn độc lập, thống nhất quốc gia, và một nước chỉ muốn hợp tác như anh em với nước ngài sao?

Phải chǎng đó là một công việc bạc bẽo đau đớn?

Giá thử ngài đánh được chúng tôi đi nữa – đấy là một điều viển vông, vì nếu ngài mạnh về vật chất, thì chúng tôi đây, mạnh về tinh thần, với một chí cương quyết chiến đấu cho tự do của chúng tôi – thì những thắng lợi tạm thời kia chẳng những không tǎng thêm mà lại còn làm tổn thương đến uy danh quân nhân và tư cách ái quốc của ngài.

Tôi biết ngài cương trực, thành thực cũng như ngài can đảm. Ngài đã từng tác chiến. Có lẽ ngài có thể tạo được hoà bình, một nền hoà bình hợp công lý và xứng đáng, thuận tiện cho hai dân tộc chúng ta, mặc dầu trong hoàn cảnh do kẻ khác gây ra, mà vẫn không dứt tình hữu nghị.

Chúng tôi đã nhất quyết ở trong khối Liên hiệp Pháp, cộng tác thành thực với nước Pháp và tôn trọng quyền lợi kinh tế, vǎn hóa Pháp trong nước chúng tôi. Nhưng chúng tôi cũng nhất quyết chiến đấu đến cùng cho độc lập và thống nhất quốc gia.

Tuy nhiên, một sự hoà bình hợp công lý còn có thể cứu vãn được tình thế. Nước Pháp sẽ không thu được mối lợi gì trong một cuộc chiến tranh thuộc địa.

Thưa Đại tướng, thân hữu, tôi nói với ngài với một tấm lòng thành thực và đau đớn. Đau đớn vì trông thấy bao nhiêu chiến sĩ thanh niên Pháp và Việt đang tàn sát lẫn nhau. Những thanh niên hy vọng của hai nước chúng ta, và đáng lẽ phải sống cùng nhau như anh em.

Trân trọng chúc mừng ngài trong dịp đầu nǎm.

Ngày 1 tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.17-18.
cpv.org.vn

Trả lời các nhà báo (2-1-1947)

– Hỏi: Thưa Chủ tịch, Bộ trưởng Mutê sẽ ra gặp Chủ tịch không?

– Đáp: Xin anh em hỏi Bộ trưởng Mutê thì rõ hơn. Dù sao, tôi với Bộ trưởng là bạn cũ. Tôi sẽ rất hoan nghênh gặp người bạn tôi.

– Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết ý nghĩa của cuộc chiến tranh này?

– Đáp: 1. Việt Nam không chiến tranh chống nước Pháp và dân Pháp vì ta muốn hai dân tộc Việt – Pháp cộng tác thật thà.

2. Nhưng tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc. Bọn thực dân phản động dùng vũ lực phá hoại quyền thống nhất và độc lập của dân ta, cho nên dân ta phải kháng chiến để giữ gìn đất nước.

– Hỏi: Thực dân phản động và thực dân không phản động khác nhau chỗ nào?

– Đáp: Có những người tài chính và kinh tế Pháp muốn kinh doanh ở xứ ta. Họ hiểu rằng muốn kinh doanh sinh lợi, thì phải thật thà cộng tác với ta. Muốn cộng tác, thì phải để ta độc lập và thống nhất. Đó là hạng thực dân không phản động. Còn những bọn cứ muốn dùng âm mưu hoặc vũ lực để dìm ta xuống, đó là thực dân phản động.

– Hỏi: Cuộc kháng chiến sẽ kết liễu thế nào?

– Đáp: Lịch sử thế giới và lịch sử nước ta tỏ cho ta biết rằng:

1. Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ. Dân Việt Nam muốn hoà bình, nhưng vì vận mệnh của Tổ quốc, của giống nòi, thì sẽ kháng chiến đến cùng, kháng chiến đến thắng lợi.

2. Chúng ta hiểu biết và kính trọng dân tộc Pháp. Nếu Chính phủ và nhân dân Pháp không để bọn thực dân phản động phá hoại hoà bình, phá hoại lợi ích và danh dự Pháp, phá hoại tình thân thiện giữa hai dân tộc Việt – Pháp, nếu Chính phủ Pháp dàn xếp theo cách hoà bình, tôn trọng chủ quyền của ta, thì ta vẫn sẵn sàng đàm phán.

3. Mỹ đã nhận Phi Luật Tân độc lập, Anh đã hứa ấn Độ độc lập. Không lẽ một nước tiền tiến như nước Pháp, vì bọn thực dân phản động, mà cam chịu tiếng bất nhân không công nhận Việt Nam độc lập.

Trả lời ngày 2-1-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.19-20.
cpv.org.vn

Thư gửi Bộ trưởng Mutê (3-1-1947)

Kính gửi Bộ trưởng Mutê,

Uỷ viên của Chính phủ Pháp,

Tôi lấy làm vui mừng được biết ngài tới Hà Nội. Xin có lời chào mừng ngài, vì ngài vừa là bạn cũ, vừa là đại diện cho nước Pháp mới, vừa là sứ giả của hoà bình.

Tôi rất mong và rất sung sướng được hội kiến với ngài lâu một chút để tỏ rõ ý muốn thành thực hoà bình và cộng tác của chúng tôi, và để chuyển đệ với ngài những đề nghị của chúng tôi về việc lập lại sự giao hảo giữa hai nước chúng ta.

Tôi mong được trả lời, và xin gửi ngài lời chào thân ái.

Xin ngài chuyển những ý nghĩ thân ái của tôi cho ông Guýtxtavơ (1) .

Ngày 3 tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.21.
cpv.org.vn

———————————

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thư gửi ông Cù Huy Cận (5-1-1947)

Chú Cận,

Đã lâu không gặp chú, nhớ lắm.

Nay có việc cần. Chú phải về ngay. Về đến thì tìm gặp Nam gấp.

Công việc trong đó, giao lại cho chú Nhân.

Tôi gửi lời thǎm tất cả đồng bào trong ấy.

Chờ chú.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 5 tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Bản gốc lưu tại Trung tâm
lưu trữ Quốc gia I, bản chụp
lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

“Chúng tôi đã rơi nước mắt khi nghe kể về Bác”

“Ngày ngày Mặt trời đi qua trên Lăng. Thấy một Mặt trời trong Lăng rất đỏ…”, có lẽ nhà thơ Viễn Phương cũng không thể nghĩ rằng những câu thơ đầy cảm xúc ông viết trong một chuyến ra Bắc thăm Lăng Bác lại được một người dân Lào khe khẽ ngâm trong một sáng mùa hè giữa Thủ đô Hà Nội…

Doan dai bieu Lao 1Đoàn đại biểu Lào vào Lăng viếng Bác. Ảnh: Tuấn Việt

Trong khuôn khổ Liên hoan hữu nghị nhân dân Việt Nam – Lào, sáng ngày 17/7, Đoàn đại biểu Lào tham dự Liên hoan đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thăm nơi ở và nơi làm việc của Người. Nắng sớm Hà Nội không gắt, khẽ khàng phủ từng tia sáng lên đoàn người đang bước chầm chậm vào Lăng. Sau nghi thức đặt vòng hoa và viếng Bác, những đại biểu đến từ đất nước Triệu Voi đã tới Khu Di tích Nhà sàn, nơi Bác từng sống và làm việc. Tại đây, những người con xứ Lào đã không kìm được xúc động khi tận mắt chứng kiến sự đơn sơ, giản dị trong nếp sống mà sinh thời vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam vẫn duy trì.

Đầu giờ sáng, sương ở những bụi cây xung quanh Khu Di tích vẫn chưa tan hết, không gian chợt thanh thoát một cách kỳ lạ. Đoàn người đứng quanh chiếc bàn Bác Hồ từng làm việc, nghe hướng dẫn viên kể những câu chuyện về Bác. Dường như, trong một khoảnh khắc nào đó, thời gian như dừng lại nơi đây. Một vài mế Lào lén chấm nước mắt; một vài mế khác để mặc sự xúc động cứ thế tuôn trào.

Mế Chanhthep Bounthilath đến từ thành phố Viêng Chăn, một trong những người đã từng che chở và giúp đỡ chuyên gia, quân tình nguyên Việt Nam đã vô cùng xúc động khi nghe kể về cuốn sách nhỏ nằm trên bàn làm việc của Bác. Giữa những chồng sách được sắp xếp một cách cẩn thận, cuốn sách nhỏ nằm khiêm tốn trên bàn. Nhưng đó lại là một trong những cuốn sách mà Bác Hồ quý nhất và luôn mang theo bên người. Cuốn sách là những ghi chép về gương người tốt, việc tốt mà lúc sinh thời Bác vẫn thường đọc và kể cho mọi người nghe. Nghẹn ngào, mế Chanhthep kể rằng, khi còn trẻ, mế đã được nghe rất nhiều câu chuyện về Bác Hồ, có những câu chuyện về sự vĩ đại, cũng có câu chuyện rất đời thường, nhưng chưa bao giờ mế được gặp Bác. Đó là một tâm nguyện mà mế nghĩ mình mãi không bao giờ đạt được. Lúc này đây, được tới thăm Lăng Bác, tận mắt thấy nếp sống và những kỷ vật giản dị của Người, hiểu được thế nào là tinh thần Hồ Chí Minh, mế nói mình đã thỏa được tâm nguyện.

Doan dai bieu Lao 2JPGNghe hướng dẫn viên kể những câu chuyện về Bác ở Khu Di tích Nhà sàn. Ảnh: Tuấn Việt

Trong số những đại biểu Lào ở đây, không phải ai cũng như mế Chanhthep lần đầu thăm Lăng Bác. Có người đã thăm vài lần, cũng có người không nhớ nổi số lần vào Lăng viếng Bác, nhưng họ đều gặp nhau ở một khoảng không gian riêng, nơi đó có sự xúc động, nghẹn ngào cùng niềm cảm phục khôn nguôi. Ông Bounxu Nammachak, Giám đốc Sở Công an thành phố Viêng Chăn, Chủ tịch Hội Hữu nghị Lào – Việt thành phố Viêng Chăn đã có nhiều năm tháng gắn bó với Việt Nam. Học trung học, đại học, thạc sĩ rồi làm tiến sĩ ở Việt Nam, ông Nammachak nói rằng, quãng thời gian đẹp nhất thời hoa niên của ông gắn liền với đất nước anh em bạn bè này. Trong những năm về sau này, ngoài các chuyến công tác đến Việt Nam, năm nào ông Nammachak cũng dành thời gian trở lại Việt Nam.

Trong âm thanh trầm trầm của hướng dẫn viên, ông Nammachak khẽ khàng chia sẻ những cảm nghĩ về lãnh tụ của nhân dân Việt Nam: “Đồng chi Cay-xỏn Phôm-vi-hản của chúng tôi đã từng nói: Bác Hồ là người vĩ đại trong vĩ đại, giản dị trong giản di, khiêm tốn trong khiếm tốn. Đó là đức tính mà không phải lãnh tụ nào cũng có được. Nói về Bác Hồ, ai cũng cảm phục. Thời học sinh chúng tôi, mỗi khi nghe những câu chuyện về Bác Hồ, về quá trình Bác tìm đường cứu nước Việt Nam, hầu như ai cũng rơi nước mắt, thương và cảm phục Bác. Lúc nãy chúng tôi cũng vậy, khi nghe hướng dẫn viên kể về những năm tháng Bác sống và làm việc ở Khu Di tích Nhà sàn này, nhiều người trong đoàn đã rơi nước mắt”, ông Nammachak xúc động nói. Chủ tịch Hội Hữu nghị Lào – Việt thành phố Viêng Chăn nói rằng, ông và những đồng chí trong đoàn đều tâm niệm rằng phải phấn đấu học theo đức tính giản dị và hy sinh của Bác, noi gương Bác. “Không chỉ là tâm niệm cho cá nhân chúng tôi, mà khi về nước, chúng tôi sẽ phát động những phong trào và khuyến khích thanh niên trẻ Lào học tập theo tấm gương Bác”, ông Nammachak cho hay.

Doan dai bieu Lao 3Cho cá ăn ở Ao cá Bác Hồ. Ảnh: Tuấn Việt

Ông Kongkeo Xaysongkham, Chủ tịch Hội Hữu nghị Lào – Việt tỉnh Bô-ly-khăm-xay không thể nhớ nổi mình đã vào thăm Lăng Bác bao nhiêu lần. Không phải bởi ông vô tâm, mà bởi vì một năm ông đến Việt Nam không dưới ba lần và hầu như lần nào ông cũng dẫn con đến thăm Lăng Bác. Từng học tại Việt Nam, mối duyên của ông Xaysongkham với đất nước Việt Nam trở nên sâu đậm hơn khi ông cưới một cô gái Việt Nam. Xaysongkham nói ông nghĩ mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào là mối quan hệ hiếm có. “Vì sao? Hiếm có một dân tộc nào lại động viên và tiễn con mình, em mình đi chiến đấu và hy sinh vì xương máu cho một đất nước khác. Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản đã từng nói: Ở nơi nào có một giọt máu của người dân Lào đổ xuống, nơi đó cũng có một giọt máu của quân tình nguyện Việt Nam. Chỉ câu nói đó thôi đã đủ thay cho ngàn vạn lời hoa mỹ”, ông Xaysongkham bồi hồi nhớ lại.

Thời gian không có nhiều, dù rất lưu luyến, nhưng các bạn Lào vẫn phải kết thúc chuyến thăm Lăng Bác để tham gia nhiều chương trình khác của Liên hoan. Có một điều thú vị là khi đang trên đường sang Khu Di tích Nhà sàn thì Đoàn đại biểu Lào gặp các cháu thiếu nhi Việt Nam cùng các du khách nước ngoài cũng vào Lăng viếng Bác. Một cách tình cờ, họ đã nhập thành một đoàn. Và, chỉ trong một đoạn hành trình ngắn ngủi, một đại biểu Lào (biết tiếng Việt) đã kịp trao đổi với một bé gái Việt Nam về câu chuyện Bác Hồ chia kẹo cho các cháu thiếu nhi và tình thương của Bác với các cháu.

Theo Thu Trang/Báo Quân đội nhân dân
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Thư gửi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp (7-1-1947)

Kính gửi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp,

Thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam, tôi trịnh trọng tuyên bố cùng nước Pháp rằng:

1. Nhân dân Việt Nam không tranh đấu chống nước Pháp và nhân dân Pháp. Đối với nước Pháp và nhân dân Pháp, nhân dân Việt Nam vẫn thân thiện, tin cậy và khâm phục.

2. Nhân dân Việt Nam thành thực muốn cộng tác với nhân dân Pháp như anh em trên một cǎn bản tín nghĩa và bình đẳng.

3. Nhân dân Việt Nam chỉ đòi độc lập và thống nhất quốc gia trong khối Liên hiệp Pháp, một khối liên hiệp do sự tự do thoả thuận tạo nên.

4. Nhân dân Việt Nam chỉ muốn có hoà bình, một nền hoà bình thực sự, để kiến thiết quốc gia với sự cộng tác của những người bạn Pháp chân chính.

5. Nhân dân Việt Nam cam kết không những tôn trọng những quyền lợi kinh tế và vǎn hoá Pháp ở Việt Nam, mà còn giúp cho những quyền lợi đó phát triển thêm để ích lợi chung cho cả hai nước.

6. Nhân dân Việt Nam đã bị chính sách vũ lực, chính sách xâm lǎng của một vài người đại diện Pháp ở Đông Dương xô đẩy vào một cuộc chiến tranh tự vệ thảm khốc. Những người đại diện đó tìm mọi cách để chia rẽ dân tộc chúng tôi, cắt xén Tổ quốc chúng tôi, xâm phạm chủ quyền quốc gia của chúng tôi, ngǎn cản không cho chúng tôi độc lập và phá hoại sự hợp tác thành thực của hai dân tộc Việt- Pháp.

7. Muốn lập lại hoà bình, chỉ cần:

a) Trở lại tình trạng trước ngày 20-11 và 17-12-1946, đình chỉ ngay và đình chỉ thực sự những cuộc xung đột trong toàn cõi Việt Nam (Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ).

b) Làm xúc tiến ngay công việc của các Uỷ ban đã dự định đặt ra để thi hành Tạm ước 14-9-1946 1 , các Uỷ ban này phải họp ở Sài Gòn và Hà Nội, nhưng không ở Đà Lạt.

c) Tiếp tục ngay những cuộc điều đình ở Phôngtennơblô để giải quyết một cách vĩnh cửu vấn đề giao thiệp giữa hai nước Pháp, Việt.

Nhiều thành thị, làng mạc đã bị tàn phá, hàng vạn đàn bà, trẻ con và người già cả Việt Nam đã bị phi pháo tàn sát. Và đã nhiều binh lính trai trẻ Pháp và Việt chết hoặc bị thương.

Bao nhiêu đổ nát đã chồng chất lên nhau, máu chảy cũng đã nhiều.

Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được những tai biến này; hoà bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc. Dân tộc Việt Nam đang chờ đợi cử chỉ đó.

Nước Pháp mới muôn nǎm!
Nước Việt Nam độc lập và thống nhất muôn nǎm!
Tình thân thiện Pháp Việt muôn nǎm!

Ngày 7 tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.22-23.
cpv.org.vn

Thư khen ngợi các chiến sĩ bị thương và sự tận tâm của các y sĩ, khán hộ, cứu thương (8-1-1947)

Cùng các nam nữ chiến sĩ bị thương ,

Tôi tiếp được nhiều thơ nam nữ chiến sĩ bị thương, hǎng hái hứa với tôi rằng: hễ vết thương khỏi, thì lại xin ra mặt trận.

Lòng yêu nước, chí kiên quyết của các chiến sĩ thật là đáng quý!

Các chiến sĩ đã hy sinh máu mủ để giữ gìn đất nước. Nay đã bị thương mà còn mong mỏi ra sát địch ở trận tiền. Các chiến sĩ thật xứng đáng với Tổ quốc, và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên những người con yêu quý như thế.

Tôi thay mặt Chính phủ hỏi thǎm và chúc anh chị em mau lành mạnh.

Các anh em thầy thuốc và chị em khán hộ, cứu thương,

Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khán hộ đều hết lòng sǎn sóc thương binh một cách rất chu đáo. Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc.

Tôi thay mặt anh em thương binh, cảm ơn các bạn, và khuyên các bạn gắng sức.

Tôi gửi cho tất cả mọi người trong nhà thương lời chào thân ái và quyết thắng.

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Viết ngày 8-1-1947.
Bản gốc lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I.
cpv.org.vn

 

 

 

Thơ gửi tặng báo Độc lập nhân mùa Xuân kháng chiến đầu tiên (8-1-1947)

Nǎm mới thế cho nǎm đã cũ.
Báo “Độc lập” của Đảng Dân chủ 2 .
Kêu gọi toàn thể dân Việt Nam,
Đoàn kết và thắt chặt hàng ngũ,
Kiên quyết kháng chiến đến kỳ cùng,
Để giữ chủ quyền và lãnh thổ.
Chờ ngày độc lập đã thành công.
Tết ấy tha hồ bàn với cỗ.

Ngày 8 tháng 1 nǎm 1947
Báo Độc lập, số 1024,
ngày 27-11-1974.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân ngày Tết Nguyên đán nǎm 1947 (8-1-1947)

Tết đã gần đến.

Theo tục lệ thường, thì đồng bào từ Nam chí Bắc, từ thành thị đến thôn quê, ai cũng sắm sửa ǎn Tết.

Song Tết nǎm nay, phải là một Tết kháng chiến. Chiến sĩ ở tiền phương đang chịu đói chịu rét, xông pha bom đạn, đem xương máu để giữ gìn Tổ quốc, để bảo vệ cho đồng bào hậu phương được an toàn.

Đồng bào các chiến khu thì nhà tan của mất, lưu lạc, tản cư, ǎn đói mặc rét, cực khổ điêu linh.

Trước tình trạng đó, đồng bào các nơi khác có nỡ lòng ǎn Tết linh đình không?

Chắc là không!

Vậy tôi kêu gọi toàn thể đồng bào:

1. Phải hết sức tiết kiệm, để dành tiền bạc, cơm gạo, cho cuộc kháng chiến lâu dài.

2. Nhân dịp Tết kháng chiến, mọi người thi nhau đào hầm trú ẩn và làm những việc cần kíp, để phòng trước bọn địch tấn công.

3. Ra sức thi nhau tǎng gia sản xuất.

4. Rủ nhau gửi đồ uý lạo cho chiến sĩ ở tiền phương, có gì gửi nấy, quà bánh và thư từ, để tỏ tình thân ái. Nhất là phụ nữ, thanh niên và thiếu nhi, nên phụ trách tổ chức việc này.

Chúng ta phải làm sao cho Tết này thật là một Tết kháng chiến.

Bao giờ kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau ǎn Tết linh đình.

Ngày 8 tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, t.1, tr.24.
cpv.org.vn

 

 

 

Chúc mừng nǎm mới (1947)

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

Nǎm Đinh Hợi (1947)
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 129.
cpv.org.vn

Trở về với Bác Hồ

Lãnh đạo các cấp ở trung ương và địa phương đang tự phê bình và phê bình. Từ lâu đã tắm từ vai, nay gội đầu rửa mặt thì thân thể mới nhẹ nhõm, thư thái đầu óc mới minh mẫn, trong sáng, cũng như cái nhà trước hết phải củng cố cái nóc, nhà dột thì bên trong dù tiện nghi sang trọng cũng ẩm mốc, mục nát hết, con người dù cường tráng, thông minh cũng dễ nhiễm bệnh, yếu hèn.

Thua lỗ nợ nần hàng trăm nghìn tỷ đồng, kéo theo tham nhũng,
lãng phí, mất mát cán bộ ở một số tập đoàn,
tổng công ty nhưng vẫn không ai chịu trách nhiệm
Ảnh: T.L

Từ xa xưa, dân ta vẫn nói “Quan đần, dân khổ, quan tham dân càng khổ.” Còn ngày nay, đổi mới, đi lên xã hội chủ nghĩa xã hội, quan đần cũng vẫn có, cụ thể là ở trung ương và địa phương đâu cũng có hiện tượng “người kém lại lãnh đạo người giỏi. Còn quan tham thì như báo chí đã nhận xét “đụng đến đâu cũng có tham nhũng”.

Hiểu rõ hiện tình đất nước như vậy mới thấy đợt tự phê và phê lần này của lãnh đạo các cấp, đặc biệt lãnh đạo trung ương, cơ quan đầu não có tầm quan trọng hết sức đặc biệt, trực tiếp liên quan đến sự tồn vong của chế độ, đến sự tồn tại của Đảng. Kết quả như thế nào còn phải chờ đợi nhưng đông đảo dân và cán bộ đã tỏ ra lạc quan, chỉ mong lãnh đạo các cấp học Bác Hồ, làm theo Bác, thế thôi, cũng đủ để dân được nhờ. Lại có mong ước cụ thể hơn, nghiêm khắc hơn, “lãnh đạo các cấp, lãnh đạo trung ương trở về với Bác Hồ”. “Trở về” vì bên cạnh thường xuyên học tập Bác làm theo Bác, cũng có lúc đã xa Bác, xa rời Tư tưởng Hồ Chí Minh là dân khổ, nước nghèo. Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, Mặt trận bị thu hẹp, không còn kinh tế tư nhân, chỉ còn kinh tế quốc doanh và tập thể, hơn 10 năm trong cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, cả nước chịu đói nghèo. Đổi mới tại Đại hội Đảng lần thứ VI, đại đoàn kết dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc lại được thực hiện, ấm no hạnh phúc lại trở lại. Hoặc chưa xa Bác nhưng thực hiện Tư tưởng Hồ Chí Minh chưa trọn vẹn, triệt để cũng rất cần tự kiểm điểm thành khẩn lấy Tư tưởng Hồ Chí Minh là điểm tựa vững chắc để Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đợt tự phê bình và phê bình của lãnh đạo trung ương rất thiết thân với nhân dân vì mọi quyền lực nhân dân đã trao cho Đảng. Mấy năm gần đây nhân dân ngày càng lo lắng, không yên vì quyền lực ấy có vẫn còn toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân không khi tham nhũng, lãng phí không chỉ tiếp tục tăng và lan rộng, mà còn càng trở nên công khai, trắng trợn. Đặc biệt kỷ cương phép nước không còn nghiêm, thua lỗ nợ nần hàng trăm nghìn tỷ đồng, kéo theo tham nhũng, lãng phí, mất mát cán bộ ở một số tập đoàn, tổng công ty nhưng vẫn không ai chịu trách nhiệm. Trong dân ở đâu cũng đặt câu hỏi “Vậy thì gây tổn thất cho ngân sách nhà nước trầm trọng đến đâu mấy vị ấy mới chịu từ chức”. Ai cũng thừa biết, ở một số nước khác mà phạm tội như thế thì miễn bàn, không từ chức cũng bị cách chức ngay. Qua những sự việc cụ thể này mới thấy nhân dân nhiều nước, quyền lực đã được những người lãnh đạo do dân bầu thực thi nghiêm chỉnh quyết liệt, lãnh đạo càng lên cao gây tổn thất khoảng trên dưới một nghìn đô la Mỹ đã bị mất chức, còn ở nước ta gây tổn thất một triệu đô la Mỹ cũng vẫn an toàn tại chức, tiếp tục lên chức và chẳng xin lỗi nhân dân một câu; dân tình bị coi thường đến như vậy, quyền lực của dân có còn nữa không? Trên đã không nghiêm thì đương nhiên dưới cũng không nghiêm “trên nói dưới không nghe” vì trên thiếu gương mẫu. Nhân dân thấy quyền lực của mình đang bị nhiều người lãnh đạo buông lỏng, thậm chí một số người biến chất, tham nhũng đương chức đương quyền tận dụng quyền lực để bao che cho nhau và dựa vào tổ chức Đảng, đoàn thể trong ngành và cơ quan thuộc quyền để vu oan, gán tội cho người tốt dám đấu tranh là “bôi nhọ lãnh đạo, chống lãnh đạo” để trừng phạt người tốt. Người dũng cảm, “gặp sự bất bình chẳng thể tha” thường đơn độc, trơ trọi dù ở bất cứ cơ quan nào, người tốt, trung thực cũng là số đông nhưng không dám đứng về phía người dám đơn độc bảo vệ Đảng, sợ bị trù dập chưa nói đời sống khó khăn có thể còn bị mất lương, mất chức nên đành nhìn người tốt chịu tội.

24 năm đứng đầu Nhà nước, đứng đầu Đảng cầm quyền, vấn đề dân ủy quyền cho Đảng, mọi quyền lực đều do Đảng cầm quyền nắm giữ bao giờ cũng là vấn đề được Bác Hồ quan tâm nhiều nhất và có một sự chú ý thường xuyên hết sức đặc biệt. Khi quyền lực thuộc về đông đảo quần chúng nhân dân và những người đại biểu của nhân dân được giao cho nắm quyền lực không những là những người lãnh đạo mà còn là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân thì quyền lực sẽ phát huy mặt tích cực của nó. Ngược lại, khi quyền lực chỉ phụ thuộc vào một số ít người, thậm chí chỉ thuộc về một người, trở thành độc tài, chuyên chế thì tất cả những tiêu cực xấu xa của quyền lực sẽ lập tức bộc lộ. Bác Hồ đã nhìn thấy vấn đề cốt lõi của cách mạng là vấn đề chính quyền, vấn đề quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước thuộc về ai. Đảng cầm quyền chỉ có mục đích đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân như Bác Hồ thường nhấn mạnh “quyền lực chỉ thuộc về nhân dân”, bất cứ lúc nào chệch hướng, vô tình hay cố ý không thấy chỉ nhân dân mới được làm chủ đất nước thì quan liêu, cửa quyền, tham ô, lãng phí…. xuất hiện ngay và nạn nhân chỉ là dân.

Ta tiến nhưng chậm, ta đổi mới nhưng chưa triệt để chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa lại vẫn bao cấp nặng nề, vẫn chưa có cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, vẫn phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp tư nhân và nhà nước, cái cũ đã níu kéo làm cho ta đến nay mới gia nhập hàng ngũ nước có thu nhập trung bình trong khi một số nước khác từng là thuộc địa như ta đã và đang trở thành nước công nghiệp. Ta thua kém thiên hạ, nguyên nhân hàng đầu được nhân dân nói đến đã lâu, đến nay càng trở nên sâu sắc: bộ máy nhà nước rất thiếu người có thực tài, phẩm chất và năng lực trọn vẹn, thiếu đến nỗi gần đây cả ở địa phương và trung ương đều có hiện tượng khá phổ biến người kém lại lãnh đạo người giỏi. Người tài đức không thiếu nhưng không được trọng dụng chỉ vì ngoài Đảng. Lãnh đạo các cơ quan nhà nước ở trung ương, lãnh đạo UBND các cấp xã phường, huyện, quận, tỉnh, thành phố đều là đảng viên. Cái giá quá đắt dân tộc ta phải trả là với bộ máy nhà nước quá thiếu người tài giỏi, nền kinh tế ta yếu kém và nhân dân ta còn nghèo là tất nhiên. Một bi kịch lớn với chúng ta khi những người tài giỏi chỉ có thể phát huy tài năng ở nước ngoài, góp phần làm giàu cho nước ngoài và vẫn chưa có thể thi thố tài năng ở chính Tổ quốc mình. Người ngoài Đảng ở nước ta hiện nay khoảng 84 triệu, trong đó có nhiều người đức, tài trọn vẹn chưa được trọng dụng. Không ít người Việt ở nước ngoài không những được tin dùng còn giữ chức vụ cao trong bộ máy nhà nước của thiên hạ. Nước Đức nền kinh tế phát triển nổi tiếng thế giới, đã giao chức Bộ trưởng Bộ Y tế cho một trí thức Việt Nam. Tổng lãnh sự Mỹ ở TP. Hồ Chí Minh là một người Việt Nam. Trung tá chỉ huy một chiến hạm Mỹ thăm TP. Hồ Chí Minh là một người Việt Nam. Trong đoàn của Tổng thống Pháp Mitterand sang thăm Việt Nam có hai trí thức Việt Nam. Đồng chí Đặng Hữu, Nguyên Trưởng ban Khoa giáo đã kể lại, báo chí Pháp đưa tin, không có người Việt thì ngành tin học ở Pháp sẽ suy sụp. Còn ở Thung lũng Silicon – khu công nghệ cao của Mỹ lớn nhất thế giới – có hơn một vạn người Việt Nam làm công nghệ thông tin, nhiều người giữ những vị trí quan trọng trong các hãng lớn của Mỹ, có người được trả lương 500 đôla Mỹ một giờ.

Từ lâu trong đông đảo cán bộ và nhân dân, nhiều người vẫn kiên trì đề nghị chọn lựa cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo bộ máy nhà nước ở trung ương và địa phương cần thực hiện như khi Bác Hồ còn là Chủ tịch nước, chỉ căn cứ vào hai tiêu chuẩn đức và tài. Với Bác, hễ là người Việt Nam ai cũng yêu nước và đã yêu nước thì việc gì cũng làm được kể cả tham gia bộ máy nhà nước được giao chức vụ tương xứng với tài và đức, ngoài ra không còn tiêu chuẩn nào khác. Cơ sở xã hội của Nhà nước ta là dân tộc. Nhà nước càng lớn mạnh càng phải dựa vào cơ sở đó. Đoàn kết dân tộc trong bộ máy nhà nước là rất quan trọng, thước đo để thấy có đoàn kết không là căn cứ vào những người có thực tài, năng lực, phẩm chất vững vàng có được tin dùng không? Nếu không được tin dùng chỉ vì thành phần lý lịch hoặc chưa là đảng viên là hoàn toàn ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước. Những năm Bác Hồ là Chủ tịch, bộ máy nhà nước lúc nào cũng rộng mở để đón mọi người có đức có tài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyền Chủ tịch nước là cụ Huỳnh Thúc Kháng, nhân sĩ ngoài Đảng khi Bác Hồ sang Pháp, bốn tháng theo lời mời của Chính phủ Pháp; Chủ tịch Quốc hội là cụ Nguyễn Văn Tố, cũng là nhân sĩ ngoài Đảng; lần đầu tiên phong tướng trong quân đội ta, ngay sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Trung tướng Nguyễn Bình, lúc đó chưa là đảng viên. Đoàn kết trong bộ máy nhà nước lúc nào cũng là sự sát cánh của những lãnh đạo, những quan chức có năng lực quản lý đất nước, biết làm giàu cho đất nước và thấm nhuần tư tưởng của Bác nên đã thành thói quen chẳng bao giờ phải bận tâm bàn đến trong hay ngoài Đảng.

Sau khi đất nước độc lập và thống nhất, bộ máy nhà nước không còn rộng mở. Riêng hai tiêu chuẩn thành phần lý lịch và đảng viên đã hạn chế nhiều người có thực tài. Có lãnh đạo cho là đảng viên đều đã được thử thách, rèn luyện nên tăng cường đảng viên cho bộ máy nhà nước là cách tốt nhất để bộ máy trong sạch vững mạnh. Cố vấn Phạm Văn Đồng lại có ý kiến khác. Ngày 19-5-1999, nhân có Cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, báo Nhân dân đã đăng trang trọng trên trang nhất bài báo cuối cùng của Cố vấn Phạm Văn Đồng đầu đề “Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”. Xin trích một đoạn: Chúng ta thường được báo cáo rằng chất lượng tổ chức của Đảng và đảng viên là trong sạch, lành mạnh chiếm đến 70 – 80%. Nhưng thực sự đâu có vậy, đảng viên một phần không nhỏ không có phẩm chất chính trị, tư tưởng và tác phong của người cộng sản.

Tôi muốn đặc biệt nêu bật ba điểm rất quan trọng: về quan hệ của Đảng với công nhân, thành phần công nhân trong Đảng không nhiều. Về quan hệ của Đảng với tầng lớp trẻ, là số đông của dân cư nước ta, lớp trẻ không tha thiết vào Đảng. Về quan hệ của Đảng với trí thức, hiện nay trí thức cũng không quan tâm đến việc gia nhập Đảng. Ba lớp người này không muốn vào Đảng bởi vì họ thấy nhiều tổ chức Đảng và đảng viên chưa xứng đáng là đảng viên cộng sản, chưa xứng đáng với Đảng của Hồ Chí Minh”.

Những ý kiến trên đây của Cố vấn Phạm Văn Đồng càng nhắc nhở chúng ta, không nên tồn tại mãi đến hiện nay tình trạng chính quyền cấp xã, phường, huyện, quận, tỉnh, thành phố lên đến các thành viên Chính phủ đều là đảng viên, trong khi Nhà nước, chính quyền ta là của dân, do dân, vì dân. Mấy Đại hội Đảng vừa qua, góp ý kiến với Đại hội, vấn đề người ngoài Đảng tham gia lãnh đạo bộ máy nhà nước liên tiếp được nêu lên trên báo chí. Một số lão thành cách mạng trả lời báo chí về xây dựng Đảng cũng đề nghị chọn người vào các cương vị lãnh đạo Nhà nước không nên có tiêu chuẩn đảng viên.

Khi có đợt tự phê bình và phê bình của lãnh đạo các cấp, đặc biệt của lãnh đạo trung ương, nhiều người có suy nghĩ giống nhau, đây là dịp tốt nhất để một lần nữa và chắc chắn lần này mong ước thiết tha, khắc khoải từ lâu của mọi người sẽ được đáp ứng, bộ máy nhà nước, chính quyền các cấp sẽ mở rộng cửa để thu hút mọi hiền tài và dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiêu chuẩn để chọn người tham gia lãnh đạo bộ máy nhà nước đúng như Bác Hồ đã đề ra từ khi Nhà nước dân chủ cộng hòa vừa ra đời là Đức và Tài, Năng lực và Phẩm chất.

Thái Duy
daidoanket.vn

Tuổi trẻ Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga báo công dâng Bác

Trong không khí sôi nổi của tuổi trẻ cả nước đang ra sức thi đua lập thành tích xuất sắc hướng tới Đại hội Đoàn toàn quốc thứ X, kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, sáng ngày 12/7/2112, Đoàn đại biểu dự Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga lần thứ IV đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và tổ chức lễ báo công dâng Bác tại Quảng trường Ba Đình, báo cáo với Bác những thành tích trong nghiên cứu khoa học, học tập, lao động, công tác góp phần vào quá trình xây dựng và trưởng thành của Trung tâm.

Trungtam nhiet doi Viet NgaTuổi trẻ Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga báo công dâng Bác

Tuổi trẻ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của Trung tâm luôn ghi nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Bác – người đã hết lòng chăm sóc, giáo dục rèn luyện và dành cho các thế hệ thanh thiếu niên, nhi đồng tình yêu thương đặc biệt. Những năm qua, công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Trung tâm đã có bước tiến bộ trưởng thành, tổ chức Đoàn thường xuyên được củng cố, hoạt động của Đoàn ngày càng có hiệu quả, công tác giáo dục và phong trào thi đua đã bám sát được nhiệm vụ chính trị của đơn vị, ngày càng đáp ứng tốt nhu cầu, nguyện vọng của thanh niên. Với đặc điểm là đơn vị hợp tác quốc tế làm nhiệm vụ nghiên cứu công tác khoa học, trong 5 năm qua đoàn viên thanh niên Trung tâm đã tham gia và chủ trì thực hiện hơn 40 công trình, đề tài, dự án đạt kết quả tốt, đã có nhiều tập thể và cá nhân được Trung ương Đoàn, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, lãnh đạo Trung tâm tặng Cờ, Bằng khen, Giấy khen như: 2 giải Nhất Giải thưởng “Tuổi trẻ sáng tạo” toàn quân 2010, 2011; 2 giải Khuyết khích Hội thi báo cáo viên toàn quân lần thứ III và IV… 100% các tổ chức Đoàn được công nhận vững mạnh, 21 đồng chí đạt Danh hiệu Gương mặt trẻ tiêu biểu cấp Trung tâm và 135 đoàn viên thanh niên đạt Danh hiệu Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác. Ngoài ra, Đoàn còn tổ chức và triển khai có hiệu quả các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, Quỹ “Ngày vì người nghèo”…

Tiếp tục thực hiện lời Bác dạy, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của Trung tâm đã thường xuyên làm tốt việc giáo dục, bồi dưỡng, lựa chọn giới thiệu đoàn viên ưu tú và đã có 20 đoàn viên ưu tú được kết nạp Đảng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ Trung tâm. Phong trào thanh niên đã xây dựng được nhiều nhân tố điển hình mới, nhiều tấm gương tiêu biểu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị như: Đồng chí Vương Văn Trường, Nguyễn Văn Lượng, Nguyễn Trọng Dân, Phạm Mai Phương… và nhiều tập thể tiêu biểu khác.

Tham dự lễ báo công, bạn Nguyễn Bảo Ngọc, Phòng Sinh thái cạn, Chi nhánh phía Nam tâm sự: Thật xúc động khi lần đầu tiên được vào Lăng viếng Bác và báo công dâng Bác, đặc thù công việc là phải thường xuyên đi công tác, nghiên cứu nhưng mình vẫn cố gắng làm tốt nhiệm vụ chuyên môn và tích cực trong công tác Đoàn. Mình sẽ lập nhiều thành tích hơn nữa để có dịp được báo công dâng Bác.

Còn bạn Võ Thị Hà, Phòng Sinh thái, Chi nhánh ven biển Nha Trang cũng vậy. Mặc dù đã có gia đình và thường xuyên phải đi công tác nhưng bạn vẫn khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn và công tác Đoàn với mong muốn đóng góp nhiều hơn nữa để Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga ngày càng phát triển vững mạnh.

Thay mặt cán bộ, đoàn viên thanh niên Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga, đồng chí Hoàng Hải Thụy – Trợ lý phụ trách công tác thanh niên hứa với Bác: Chúng cháu sẽ không ngừng học tâp nâng cao trình độ về mọi mặt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, nỗ lực khắc phục mọi khó khăn thử thách phát huy vai trò xung kích sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lớp thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần xây dựng Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga ngày càng phát triển bền vững.

Sau buổi lễ, các đại biểu đã đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vân Phương
bqllang.gov.vn