Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Trả lời các nhà báo trong nước và nước ngoài

– Về kết quả của cuộc Tổng tuyển cử bên Pháp, nhất là ảnh hưởng của nó đối với nước Việt Nam?

– Người ta đã bàn tán nhiều rồi về sự thắng lợi của phái tả hay phái hữu trong cuộc Tổng tuyển cử này. Nhưng dù là phái hữu thắng hay phái tả thắng, nhân dân Pháp bao giờ cũng vẫn như trước: nghĩa là ủng hộ nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Điều đó tôi đã nhận thấy hồi tôi qua Pháp. Còn dân Việt Nam, thì dù phái hữu thắng hay phái tả thắng trong cuộc tuyển cử ở Pháp, dân Việt Nam cũng phải đòi cho được độc lập và thống nhất, tuy vẫn ở trong khối Liên hiệp Pháp. Người ta nói sự liên hợp làm nên sức mạnh. Vào trong khối Liên hiệp Pháp, cái đó vừa lợi cho nước chúng tôi và lợi cho cả nước Pháp nữa.

– Về sự thi hành bản Tạm ước 14-9?

– Như các ngài đã biết, chúng tôi nhất định thi hành thành thật những điều chúng tôi đã ký. Bản Tạm ước ấy sẽ dọn đường cho hai nước đi tới một sự hợp tác trên lập trường tự do có lợi cho cả hai nước. Tôi nhắc lại rằng những quyền lợi kinh tế, vǎn hoá, v.v. của người Pháp, chúng tôi đã hứa tôn trọng và chúng tôi sẽ tôn trọng. Cốt nhiên, chúng tôi mong rằng các bạn người Pháp hiểu cho như vậy và sự tôn trọng ấy phải có lợi cho cả hai bên. Một chứng cớ tỏ ra nhân dân Việt Nam muốn thân thiện với nhân dân Pháp đó là Hội Việt – Pháp vừa được thành lập. Mấy hôm nay, giọng các báo Pháp và của Đài phát thanh Sài Gòn có hơi thay đổi: tôi nghĩ rằng trong “tình yêu” (!) cũng có khi có những nhịp điệu lên xuống như vậy.

– Những kết quả của sự thi hành Tạm ước từ 30 tháng 10 tới giờ?

– Một vài kết quả nào đó, nhưng không phải những kết quả mà chúng ta chờ đợi. Thí dụ, chúng tôi đã đề nghị cử một vị đại diện Việt Nam ở bên cạnh viên Thượng sứ Pháp quốc Cộng hoà, nhưng chưa được trả lời. Chúng tôi đã sẵn sàng làm việc, vậy mà trừ tiểu ban quân sự, các tiểu ban khác đã định trong Tạm ước vẫn chưa thấy tới. Ngoài ra, trong vài bức thư của ông Thượng sứ Pháp mới đây có những câu mà thường thường từ trước tới giờ ông chưa dùng bao giờ. Ông nói những là “đình chỉ sự thi hành bản Tạm ước”, những là “các nhà cầm quyền Pháp ở Nam Bộ sẽ bắt buộc phải trừng trị, nếu …”. Tất cả những câu ấy không được. Người ta có thể là bạn với nhau được, nhưng không phải những câu như thế có thể giúp cho sự hiểu nhau. Có những thí dụ khác nữa mà tôi rất tiếc phải kể ra đây. Sự khủng bố ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ vẫn chưa dứt. Ngày 3 tháng 11, ở Gia Định trong miền Tân Sơn Nhất, quân đội Pháp đến vây dân chúng Việt Nam và giết mất hai người. Ngày 4 ở Gò Công, dân chúng Việt Nam đương biểu tình đòi thi hành đúng bản Tạm ước thì quân Pháp đến bắn sả vào, một người chết và nhiều người bị thương. ở Bà Rịa cũng chuyện như vậy, hai người chết. ở Nha Trang cũng thế, nhưng nghiêm trọng hơn: dân chúng mất bảy người chết. Còn nhiều việc đáng tiếc khác nữa. Sự giải phóng các chính trị phạm vẫn ngừng trệ và chỉ như có một tính cách tượng trưng, còn một số rất đông vẫn bị bắt bớ, giam cầm, vẫn bị đày đi ra Côn Đảo và các nơi khác. ở Bắc Bộ, việc hàng hoá ra vào bị ngǎn trở. Điều ấy không những có hại cho dân Việt Nam mà cho cả các bạn người Pháp và người Trung Hoa nữa. Tôi tin rằng những sự hiểu lầm ấy sẽ hết. Nếu sự buôn bán, làm lụng được dễ dàng hơn, cái đó không phải chỉ chúng tôi được hưởng không thôi, mà cả các bạn Pháp và Trung Hoa nữa.

Còn về Liên bang Đông Dương, chúng tôi cũng muốn gia nhập vào đó như vào khối Liên hiệp Pháp. Nhưng chúng tôi vào đấy là để cùng giữ lợi ích chung, chứ không phải để chết ngạt trong đó. Nếu người ta muốn dùng chữ Liên bang Đông Dương để làm thành một cái gì giam trói, ràng buộc quyền tự do, quyền sinh hoạt của chúng tôi, nhất định không thể xong được. Bởi vì ai cũng muốn sống tự do. Và không ai nên tìm cách lừa bịp lẫn nhau.

– Về sự giao thiệp giữa Việt Nam và Trung Hoa?

– Tôi lấy làm lạ rằng sao người ta lại còn phải hỏi một câu tôi đã trả lời bao nhiêu lần rồi. Về lịch sử, địa dư, vǎn hoá, kinh tế, Việt Nam và Trung Hoa bao giờ cũng vẫn có quan hệ với nhau, như môi với rǎng. Nhưng nếu các nhà cầm quyền Trung Hoa đã bàn về vấn đề có can dự đến Việt Nam mà dân Việt Nam không được biết thì chúng tôi không chịu trách nhiệm. Tôi tin rằng theo chủ nghĩa của bác sĩ Tôn Dật Tiên và ý tưởng của Thống chế Tưởng Giới Thạch, không người Trung Hoa nào sẽ làm gì phạm tới chủ quyền và quyền lợi nước Việt Nam.

– Sự giao thiệp của Việt Nam với ấn Độ?

– Rất thân thiện. Mới đây, tôi nhận được lời mời tham dự vào Hội nghị Liên á họp ở ấn Độ sang nǎm. Khi tôi qua ấn Độ, các bạn ấn đã tiếp đón tôi một cách rất thân mật.

*

*      *

Để kết luận, tôi mong rằng những hiểu lầm giữa hai bên Việt – Pháp sẽ được tiêu tán đi, để cho hai bên sau đây sẽ cùng bước mau đến một sự hợp tác mà ai cũng muốn. Tôi yêu cầu các bạn Pháp tin ở chúng tôi; chúng tôi nhất quyết giữ lời hứa. Có người hỏi: Tại sao những giao tiếp cá nhân giữa người Pháp và người Việt Nam bây giờ rất hiếm? Chúng tôi không bao giờ làm gì ngǎn trở, gây khó khǎn cho những cuộc gặp gỡ ấy. Trái lại, chúng tôi còn muốn khuyến khích những sự tiếp xúc đó nữa. Vì những cuộc đó dễ làm tan những mối hiểu lầm và làm nảy nở tình thân thiện. Tôi mong rằng sau đây những cuộc giao thiệp gặp gỡ nhau ấy sẽ có luôn. Cái đó chỉ do các bạn người Pháp thật tâm muốn là được.

Trả lời ngày 16-11-1946.

Báo Cứu quốc, số 408,
ngày 17-11-1946.
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện Công an nhân dân Việt Nam

CAND chup anh cung BH Cán bộ lớp Trung cấp Công an rất phấn khởi, vinh dự được
 Bác Hồ đến thăm và chụp ảnh kỷ niệm (1950). (Ảnh sưu tầm)

Suốt quá trình đấu tranh cách mạng, từ khi còn trứng nước đến lúc trưởng thành, các thế hệ “Công an cách mệnh” luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh rèn luyện, lãnh đạo sát sao. Sự quan tâm của vị lãnh tụ kính yêu đối với lực lượng Công an thể hiện từ những văn bản pháp lý do Người ký đánh dấu từng mốc son trưởng thành của lực lượng Công an đến các bài nói, bài viết nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sỹ về nhiều mặt.

Hồ Chí Minh khẳng định bản chất nhân dân của Công an cách mạng Việt Nam. Người xem việc “làm cho anh chị em Công an nhận rõ Công an của ta là Công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ” là nhiệm vụ thường xuyên. Từ đó, Người nêu lên phương thức tốt nhất để lực lượng Công an hoàn thành nhiệm vụ là phải “dựa vào nhân dân mà làm việc” vì “nhân dân ta có hàng chục triệu người, có mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong” . Nhân dân giúp đỡ nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ít thì thành công ít, giúp đỡ hoàn toàn thì thành công hoàn toàn. Trong bài nói tại lớp Chỉnh huấn Khóa 2 ( tháng 5 năm 1959) Bác huấn thị: “Làm Công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì Công an mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ của mình. Nếu trong công tác các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, thì nhất định các cô, các chú thành công…” . Tuy nhiên, dựa vào dân theo Hồ Chí Minh không phải là ỷ lại, trông chờ ở nhân dân mà cần phải chủ động khai thác sức mạnh của nhân dân. Người yêu cầu “mỗi Công an viên đóng chỗ nào phải dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian,…”  và “dạy cho dân nơi đó giữ bí mật” . Cán bộ, chiến sỹ Công an phải nhận phần khó về mình, tạo thuận lợi cho nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân – đó là yếu tố quan trọng để Công an ngày càng được dân tin yêu, giúp đỡ. Đây là những quan điểm sâu sắc về xây dựng nền an ninh nhân dân Việt Nam.

Muốn khai thác được sức mạnh của nhân dân, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi Công an viên phải giữ tư cách, đạo đức. Người rút ra “những đạo đức và tư cách mà người Công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng” thông qua sáu mối quan hệ của lực lượng công an nhân dân. Hiếm thấy Người nói về đạo đức, tư cách của cán bộ, chiến sỹ một tổ chức hết sức rành rọt, rõ ràng, chi tiết như vậy. Không những thế, Hồ Chí Minh còn nêu lên phương thức tuyên truyền, phổ biến việc thực hiện những yêu cầu trên: “Những điều đó, chẳng những luôn luôn nêu trên báo mà lại nên viết thành ca dao cho mọi người Công an học thuộc, nên viết thành khẩu hiệu dán tại những nơi anh em công an thường đến (bàn giấy, nhà ăn, phòng ngủ,…”. Điều này cho thấy đạo đức của người Công an cách mệnh không phải là cái gì cao siêu, xa vời mà là những điều dễ nghe, dễ hiểu, dễ thuộc và dễ thực hiện. Hồ Chí Minh cũng là người duy nhất khai thác, sử dụng, phát huy sức mạnh của các giá trị văn hóa dân gian, cụ thể là “ca dao” trong giáo dục, rèn luyện tư cách cho một lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.

Công an phải phát huy lối làm việc dân chủ. Người dặn: “Lề lối làm việc phải dân chủ. Cấp trên phải thường kiểm tra cấp dưới. Cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và kháng chiến, giúp nhau tiến bộ. Tự phê bình và phê bình nhau theo tinh thần thân ái và lập trường cách mạng”. Người nhắc nhở “phê bình để tiến bộ, không phải để xoi mói”. Song, trong bài nói chuyện tại Trường Công an Trung ương, Người nhắc nhở “dân chủ và chuyên chính phải đi đôi với nhau. Muốn dân chủ thực sự phải chuyên chính thực sự”. “Đối với người không sửa được thì phải tẩy trừ ra khỏi ngành kẻo để lại thì con sâu làm rầu nồi canh”.

“Đối với nhân dân, đối với Đảng, với cách mạng xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm của Công an rất lớn, rất nặng nề. Cho nên phải xây dựng một bộ máy Công an rất tốt, rất chắc chắn”. Theo Người, “cách tổ chức Công an phải giản đơn, thiết thực, tránh cái tệ hình thức, giấy má”; chú trọng “củng cố thật tốt Công an khu phố, huyện và xã”. Hồ Chí Minh cho rằng “mỗi cán bộ Công an đều có trách nhiệm vào đấy. Ai cũng tiến bộ, cũng khắc phục được khuyết điểm, phát huy được ưu điểm, thì toàn bộ bộ máy Công an sẽ tốt”. Do vậy, Người yêu cầu “Công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình” để “kiện toàn tổ chức thành một lực lượng thật vững chắc của nền chuyên chính vô sản”.

Bác luôn nhắc nhở việc xây dựng khối đoàn kết, xem “đoàn kết là rất cần thiết” vì “có thế thì công tác mới làm được”. Đoàn kết theo Hồ Chí Minh gồm có ba cấp bậc: “đoàn kết nội bộ ngành Công an, đoàn kết với các ngành khác, đoàn kết với nhân dân”. Trong nội bộ ngành, “từ cấp cao cho đến nhân viên phải đoàn kết nhất trí” trên tình thân ái giúp đỡ. “Cấp trên phải chú ý đến đời sống vật chất và tinh thần của chiến sỹ… đoàn kết và học tập lẫn nhau, luôn luôn giúp đỡ nhau tiến bộ”. Tuyệt đối đấu tranh chống tình trạng “chén chú chén anh,… anh A giấu lỗi cho anh B”. Đối với các ngành khác, Hồ Chí Minh chú trọng nhắc nhở đoàn kết chặt chẽ giữa Công an với Quân đội. Trong quan hệ với nhân dân, “Công an với dân phải đoàn kết – nghĩa là phải khuyến khích cho dân phê bình Công an”, phải khéo – “nghĩa là phải thực sự trung thành, tôn kính, thương yêu dân”.

Về công tác giáo dục – đào tạo lực lượng Công an nhân dân, Hồ Chí Minh có nhiều bài nói, bài viết, thư gửi cán bộ, giáo viên, học viên Trường Công an Trung ương, Ban Huấn luyện Công an, Trường Công an Trung cấp Khóa 2. Người khẳng định “Đảng, Chính phủ rất chú ý… đến việc giáo dục cán bộ Công an”. Nói chuyện tại Trường Công an Trung ương (28/1/1958), Người cho rằng: “Ở trường này một người giúp đỡ hướng dẫn 4 học viên. Một người phục vụ bốn người như thế là thiếu hay là thừa? Bác thấy là nhiều đấy”. Qua tổng kết số liệu đảng viên Trường Công an Trung ương, Bác nhắc nhở “không có cơ quan nào lại nhiều cán bộ như thế này” nên “các cô, các chú phải xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng và Chính phủ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm về công tác báo chí của lực lượng Công an nhân dân thông qua nhận xét tờ Báo của Công an Khu XII do đồng chí Hoàng Mai gửi biếu. Theo đó, báo chí của lực lượng công an cách mạng “cần làm ngắn lại và viết những vấn đề thiết thực, mọi người đọc đều có thể hiểu và làm được”. Có như vậy, công tác báo chí “mới có tác dụng giúp đẩy mạnh công tác, đẩy mạnh thi đua”, hướng tới “thường xuyên làm cho anh chị em Công an nhận rõ” bản chất nhân dân và “nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức”.

Tóm lại, Người căn dặn: “Công an đánh địch bên ngoài đã khó, đánh địch bên trong người còn khó khăn hơn. Vì vậy phải nâng cao kỷ luật, tính tổ chức, chống ba phải, nể nang. Công tác phải đi sâu và thiết thực. Làm việc phải có điều tra, nghiên cứu, không được tự kiêu, tự đại. Phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân thì khuyết điểm mới có thể khắc phục được và ưu điểm mới có thể phát huy được. Phải đi đường lối quần chúng thì nhân dân mới tin yêu, giúp công an và công an mới thành công được. Phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết với nhân dân và với các ngành khác thì công việc mới thắng lợi”.

Trên cơ sở lời dạy của Bác, Đảng và Nhà nước ta mà trực tiếp là Bộ Công an đã xây dựng tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo các tiêu chí: lập trường chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới; kiến thức và năng lực tham gia các hoạt động tập thể và khả năng tổ chức thực hiện; hiệu quả thực hiện nhiệm vụ trên mỗi vị trí công tác; ý thức tổ chức kỷ luật, gắn bó với quần chúng và được quần chúng tín nhiệm. Đó là sự trung thành, vận dụng, bổ sung những luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lực lượng Công an cách mạng Việt Nam.

Hiện nay, những biến thể đa dạng, phức tạp của các loại hình tội phạm thời hội nhập đặt lên vai lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trọng trách rất lớn. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là đảm bảo cuộc sống bình yên của nhân dân. Để làm được điều đó, lực lượng Công an nhân dân phải không ngừng tự đổi mới, rèn luyện, trưởng thành về mọi mặt. Người cán bộ, chiến sỹ Công an phải luôn luôn biết mình từ đâu mà ra, do ai mà chiến đấu, chiến đấu như thế nào, rèn luyện bản thân và tổ chức ra sao. Tất cả đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra và dạy bảo trong suốt quá trình Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện tổ chức Công an cách mạng Việt Nam. Những quan điểm của Người về Công an nhân dân cho đến ngày nay vẫn mang giá trị thời sự sâu sắc, là nền tảng tư tưởng cho đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển lực lượng Công an Việt Nam tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh. Mọi thế hệ Công an nhân dân Việt Nam luôn hướng về Người để noi theo, nghe lời Người mà hành động, nguyện phấn đấu thực hiện thắng lợi lý tưởng của Người vì một đất nước “độc lập, tự do, hạnh phúc”.

Nguyễn Phương An 
(Trường Chính trị Tôn Đức Thắng – An Giang)
Theo hvcsnd.edu.vn
Kim Yến
(st)

 

 

 

Bệnh binh 23 năm chăm Cây đa Bác Hồ

Bước từng bước khó nhọc bằng đôi chân tật nguyền, trong suốt 23 năm qua, ngày nào cũng vậy, dù là nắng cháy, mưa phùn hay gió rét,… người bệnh binh già ấy vẫn cố gắng làm tròn bổn phận của mình – chăm sóc Cây đa cuối cùng Bác trồng.

Một nạn nhân của chiến tranh

Ông tên là Trần Hữu Hào, 64 tuổi, ngụ tại xóm 1, thôn Yên Bồ, xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội. Năm 1968, ông tham gia kháng chiến chống Mỹ và được điều vào chiến trường Thừa Thiên Huế đảm nhiệm công tác hậu cần.

Vào mùa mưa, lương thực khan hiếm, trong những chuyến đi xuyên qua các khu rừng trụi lá sang nước bạn Lào xin trợ cấp lương thực cứu đói cho bộ đội, ông đã bị nhiễm chất độc đi-ô-xin lúc nào không hay.

Những tưởng mình là một trong những người may mắn sống sót sau cuộc chiến, nhưng ông không thể ngờ rằng, đó là sự khởi đầu cho những chuỗi ngày mà cơ thể mình và người thân bị thứ chất độc quái ác mang tên da cam hành hạ.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, năm 1975, ông Hào được xuất ngũ. Về quê, ông kết hôn với bà Phan Thị Lý – người cùng quê. Bốn đứa con của ông là Trần Thị Anh, Trần Trung Kiên, Trần Văn Giá, Trần Quang Hiển lần lượt trào đời.

Nhưng buồn thay, khi vừa sinh ra, người chị cả Trần Thị Anh đã mang trên mình cánh tay trái bị liệt. Vợ chồng ông hết lòng chạy chữa cho con, nhưng không thể thay đổi được điều gì.

Năm Trần Thị Anh lên 8, cơ thể ông Hào xuất hiện những cơn đau nhức ở các khớp xương. Trong đó, nặng nhất là khớp đầu gối. Những cơn đau mỗi ngày một nhiều và nặng hơn, ông phải đến Bệnh viện Bạch Mai khám bệnh. Các bác sỹ cho biết, ông đã bị nhiễm chất độc đi-ô-xin và điều này sẽ ảnh hưởng đến cơ quan thần kinh toàn thân.

Sau đó, Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội đã chứng nhận ông là bệnh binh mất sức 81%. Giờ đây, ông Hào phải bước đi khó nhọc.

Sự tích cây đa Bác Hồ

Ông Hào cho biết: ngày 16/2/1969 (tức ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu), UBND xã Vật Lại tiến hành trồng cây bạch đàn phủ xanh đồi Đồng Váng. Sáng hôm ấy, sau khi thăm bộ đội Quân chủng Phòng không – Không quân ở Bạch Mai, Bác phải lên Vĩnh Phú công tác. Biết được nhân dân xã Vật Lại đang triển khai tết trồng cây, Bác đã đến thăm, chúc tết đồng bào và không quên trồng một cây đa lưu niệm.

Sau này, nhân dân xã Vật Lại vẫn thường gọi cây đa ấy với cái tên vô cùng ý nghĩa: Cây đa Bác Hồ.

thuong binh - cay da BH 1Ông Trần Hữu Hào

Trồng cây xong, Bác căn dặn mọi người phải cố gắng trồng cây nhiều hơn nữa, tốt hơn nữa, vì trồng cây có nhiều điều lợi, lợi trước mắt và lợi lâu dài. Trồng cây rồi phải chăm sóc, bảo vệ cho tốt. Trồng cây nào phải sống cây đó.

Tại đây, nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước cũng đến thăm và trồng cây lưu niệm cạnh Cây đa Bác trồng như đồng chí Trường Trinh (năm 1980); đồng chí Phạm Văn Đồng, Nguyễn Hữu Thọ (năm 1983) và đồng chí Nguyễn Văn Linh (năm 1990)…

Năm 2004, đồi Đồng Váng vinh đự được Bộ Văn hóa và Thông tin cấp giấy chứng nhận làDi tích lịch sử quốc gia.

“Tôi làm vì tôi thấy hạnh phúc”

Ông Hào kể lại: năm 1988, ông được Ủy ban nhân dân xã Vật Lại giao việc trông giữ toàn bộ khu đồi này với diện tích khoảng 10 ha trong thời hạn 50 năm. Mặt khác, ông Hào được phép cắt tỉa những cành cây phát triển thừa và cây bụi làm củi. Ngày ấy, cây đa Bác trồng vẫn còn nhỏ, cao khoảng 3,5 – 4 mét, đường kính gốc là 25cm.

Dẫn tôi tham quan khu đồi, ông Hào chỉ tay vào hàng trăm gốc cây thông, tràm cao khoảng trên dưới chục mét (thấp hơn những cây xung quanh) và khoe: “Nó là của tôi đấy. Hai mươi năm trước, tôi đã mạnh dạn lên Hạt Kiểm lâm huyện xin những giống cây này về trồng. Bao nhiêu công sức của gia đình  đổ vào đây trong mấy chục năm mới được như thế này đấy chú ạ”.

Mỗi khi trái gió trở trời, những khớp xương của ông lại phải chịu đựng những cơn đau dữ dội. Đau như có ai đó đang cầm búa đập vậy. Thế nhưng, bằng tình yêu thiên nhiên, yêu rừng và yêu Cây đa Bác trồng, nằm trên giường nhưng ông cứ ngay ngáy một nỗi lo, không biết Cây đa của Bác sao rồi? Liệu có ai đó vào chặt trộm cây cối không? Vì thế, ông lại dồn hết sức bình sinh của mình để ngồi dậy và đi bộ ra đồi trông nom.

Ông Hào là người chứng kiến sự lớn lên từng ngày của Cây đa. Ông cũng chính là người chăm sóc cho Cây đa bằng tấm lòng chân thành nhất. Từ việc tưới nước, bón phân đến việc cắt tỉa cành lá, uốn nắn từng chiếc rễ đâm từ thân xuống đất…

Bây giờ, thân Cây đa đã to bằng sải tay của hơn 2 người trưởng thành cộng lại, tỏa bóng mát lan tỏa một vùng rộng xung quanh.

thuong binh - cay da BH 2Khó nhọc bằng đôi chân tật nguyền, trong suốt 23 năm qua, ngày nào cũng vậy, dù là nắng cháy, mưa phùn hay gió rét,… người bệnh binh già ấy vẫn cố gắng làm tròn bổn phận của mình – chăm sóc Cây đa cuối cùng Bác trồng.

Ông tâm sự: “Nếu vì mục đích vụ lợi từ công việc này thì tôi sẽ không bao giờ làm. Tôi làm vì tôi cảm thấy hạnh phúc. Ít ra, một nạn nhân nhiễm chất độc da cam như tôi vẫn có thể làm những việc có ích cho môi trường sống của con người”.

Trước đây, vì không có tường ngăn bảo vệ nên có nhiều trẻ em, thanh niên vào rừng chặt củi, hái quả dại ăn rồi nghịch ngợm leo trèo, phá phách cây cối. Thậm chí, bọn nghiện hút cũng lân la đến để tiêm chích rồi dùng mũi kim tiêm khắc hình bậy bạ lên thân. May mà ông Hào cùng các con phát hiện và kịp thời ngăn cản những hành vi xấu đó.

Năm 2009, nhà nước đầu tư 2,9 tỉ đồng xây dựng hệ thống tường rào xung quanh khu đồi với chiều dài 1650 mét và làm đường nhựa từ cổng đồi vào Cây đa Bác Hồ. Từ đó, công việc bảo vệ khu đồi được thuận tiện hơn, nhưng không lúc nào ông Hào và các con lơ là nhiệm vụ trông giữ đồi.

Nhìn toàn bộ khu rừng 10 ha rợp bóng cây xanh không một gốc cây bị chặt phá, Cây đa Bác trồng ngày càng vươn những cành lá sum suê lên bầu trời cao rộng… tôi mới hiểu ra rằng, khi con người ta cái tâm chân thành, hết lòng vì công việc thì tật nguyền cũng biến thành sức mạnh.

Theo Phùng Minh Phúc/ tin247.com
Kim Yến
(st)

Gửi nhi đồng Xã Ba, Lao Cai

Các cháu yêu quý,

Bác đã nhận được thư và hai cái gậy roi. Cảm ơn các cháu.

Tuy Bác ở xa, nhưng lòng Bác nhớ đến các cháu luôn luôn.

Bác khuyên các cháu giữ gìn kỷ luật, và ra sức học hành.

Cháu nào chưa biết chữ quốc ngữ, phải học cho biết.

Cháu nào biết rồi, thì gắng giúp anh em chị em học cho biết.

Làm sao cho đồng bào ở Xã Ba ai cũng biết chữ quốc ngữ, thì Bác sẽ vui lòng và khen các cháu ngoan.

Bác thay mặt cho anh chị em nhi đồng Hà Nội, gửi lời thân ái thǎm các cháu.

Hà Nội, ngày 19 tháng 11 nǎm 1946
Bác Hồ

Báo Cứu quốc, số 411,
ngày 20-11-1946.
cpv.org.vn

Tìm người tài đức

Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức.

E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận.

Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiền nǎng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết.

Báo cáo phải nói rõ: tên tuổi, nghề nghiệp, tài nǎng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó.

Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ.

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 411,
ngày 20-11-1946.
cpv.org.vn

Thư gửi tướng Moóclie

Hà Nội, ngày 21 tháng 11 nǎm 1946

Thưa Ngài,

Tôi đã tiếp nhận thư của Ngài đề ngày 20-11-1946, về những việc vừa xảy ra ở Hải Phòng.

Ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ tôi, trong một bức thư đề ngày hôm nay sẽ đặt lại các việc xảy ra trong thực trạng của nó.

Tôi chỉ xin Ngài chú ý rằng cǎn cứ vào những việc đã xảy ra thì trách nhiệm quy vào bộ đội Pháp ở Hải Phòng, đã bắn trước vào bộ đội Việt Nam và đã tiếp tục gây hấn, mặc dầu đã có lệnh thôi bắn của các nhà chức trách quân sự trung ương Pháp và Việt Nam ở Hà Nội.

Dù sao tôi cũng mong rằng bản ký kết giữa Đại tá Lami và ông Thứ trưởng Bộ Nội vụ của chúng tôi sẽ được thi hành, và tôi cũng lại mong phái đoàn Việt – Pháp đi từ Hà Nội sáng nay sẽ đạt được kết quả là ổn định tình thế ở Hải Phòng.

Kính chào Ngài
Chủ tịch Chính phủ
Dân chủ Cộng hoà Việt Nam
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 413,
ngày 22-11-1946.
cpv.org.vn

Bắc cực: một địa điểm quan trọng cho chiến lược quân sự sau này

Khoa học càng phát triển, xe cộ, tàu bò càng tinh xảo, đường giao thông càng tiện lợi. Hàng ngàn trùng dương rút gần như gang tấc. Núi cao rừng rậm không còn là hiểm trở. Không trung rộng lớn bao la cũng coi là bé nhỏ. Hàn đới, bǎng tuyết quanh nǎm cũng chẳng phải là nơi người không thể để chân đến được. Rồi đây, bốn bể một nhà, những vùng giá lạnh trên Bắc Cực sẽ thành những thị trấn phồn hoa đô hội chẳng kém gì ở vùng ôn đới.

Trước chiến tranh, Mỹ, Liên Xô và Gia Nã Đại (1) đã là những nước láng giềng gần. Sau chiến tranh, Liên Xô lại đã vươn tay sang đến Thái Bình Dương. Do đó sự quan hệ giữa ba nước sẽ thay đổi và sẽ trở thành nghiêm trọng.

Gần đây, nước Mỹ chẳng những đã làm bá chủ trên mặt Thái Bình Dương, lại còn muốn xây dựng thế lực quân sự cả ở Bắc Bǎng Dương. Một chứng cớ hiển nhiên là nước Mỹ đã cho thí nghiệm những cuộc chiến tranh hải quân và không quân ở những vùng đó trong mấy tháng vừa qua.

Xưa nay Liên Xô vẫn là có thế lực về mặt Bắc Bǎng Dương. Nếu sau này, tàu bay và tàu biển sẽ qua lại được trên Bắc Bǎng Dương, thế lực của Mỹ sẽ tràn lan tới đó sẽ là một mối lo cho Liên Xô.

Sau cuộc Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô đã gấp rút tiến hành những cuộc thám hiểm trên miền Bắc Cực. Những sự hoạt động đó chỉ có mục đích chinh phục những vùng bǎng giá và khai phá ở đó các nguồn lợi thiên nhiên. Còn công cuộc của hai nước Mỹ và Gia Nã Đại đương tiến hành ngày nay toàn là những công cuộc thí nghiệm về quân sự. Người ta thấy bộ đội và từng đoàn xe tǎng, xe phun lửa, và xe hơi trượt tuyết kéo lên tập trận giả ở Bắc Gia Nã Đại. Nghe đâu lần tập trận giả này là để xem binh sĩ có thể đánh trận ở miền cực rét được không và các chiến cụ đem dùng ở đó có gặp trở lực gì khó khǎn không, để dự định đi tới một cuộc tập trận giả lớn khác có đủ cả hải, lục, không quân tham dự.

Theo giới không quân Mỹ, rồi đây sẽ có những trường tàu bay thiết lập tại Bắc Cực, vì Mỹ cho rằng nếu sau này xảy ra chiến tranh, Bắc Cực sẽ trở thành một vị trí quân sự quan trọng nhất. Đặt những cǎn cứ quân sự ở Bắc Cực, hình như Mỹ có ý đồ đối phó với Liên Xô sau này.

Đứng về địa lý mà xét, Bắc Cực là nơi châu Mỹ và châu á liên tiếp với nhau gần nhất, nên giữa ba châu Âu, á, Mỹ, đường hàng không ngắn nhất cũng là đường qua Bắc Cực. Trong trận chiến tranh vừa qua, tàu bay Mỹ bay sang Liên Xô đều qua lại vùng đó. ở miền tây bắc Gia Nã Đại nhất là miền Alaxka, hiện nay đã thấy mở ra rất nhiều đường ô tô chuyên dùng về việc quân.

Nếu sau này những đường giao thông ấy chỉ dùng về việc mở mang miền Bắc Cực thì biết đâu một vùng hoang vu lạnh lẽo xưa nay chẳng biến thành nơi phồn hoa, đô hội của thế giới. Rồi có thể đặt đường sắt qua eo bể Bêrinh để nối liền châu á với châu Mỹ lại với nhau, tưởng cũng không phải là một việc khó gì.

Nhưng hai nước Mỹ và Gia Nã Đại có phải nhằm mục đích đó để tiến đâu. Trừ những cǎn cứ quân sự ra, người ta không thấy một hành động nào để đem ánh sáng vǎn minh lên miền Bắc Cực cả. Bắc Cực sẽ là nơi hoạt động của nhân loại hay là nơi phá hoại vǎn minh của nhân loại, chúng ta chưa thể đoán định được. Có một điều làm cho chúng ta bǎn khoǎn là nước Mỹ một mặt vẫn hô hào hoà bình, một mặt lại vẫn chuẩn bị lực lượng quân sự về không quân cũng như về hải quân. Độc quyền bí mật nguyên tử, hợp hải, lục, không quân làm thành Bộ Quốc phòng, thí nghiệm quân sự và đặt cǎn cứ quân sự trên miền Bắc Cực có phải để kiến thiết hoà bình thế giới hay để đi đến chiến tranh?

Dù sao mặc lòng, sau bao nǎm đau khổ vì chiến tranh, nếu lại chuẩn bị chiến tranh nhất định dân chúng thế giới sẽ phản đối.

Q.T. thuật

Báo Cứu quốc, số 413.
ngày 22-11-1946.
cpv.org.vn

———————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Lời khuyên sinh viên Trường quân y

Phải chǎm lo học hành và gắng thực hiện 5 điều: HĂNG HÁI, HY SINH, BÁC ÁI, ĐOÀN KẾT, KỶ LUẬT

Báo Cứu quốc, số 414,
ngày 23-11-1946.
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam

Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là quan hệ đặc biệt. Mối quan hệ đặc biệt ấy phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình tại Lào. Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập đã gây dựng được cơ sở tại Lào. Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất Lào.

Trên thực tế, từ nửa sau những năm 20 thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương. Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào. Cũng trong năm này, Chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức.

Chu tich HCM nguoi dat nen mongHướng dẫn nông dân nước bạn Lào thu hoạch lúa – Ảnh: Tư liệu 

Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương. Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào.

Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Đông Dương còn đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ đảng và phong trào cách mạng Đông Dương cũng như tăng cường mối quan hệ mật thiết, nương tựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào trên hành trình đấu tranh giành tự do, độc lập cho mỗi dân tộc.

Điều này thêm một lần nữa khẳng định quá trình chuẩn bị công phu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, và tổ chức cho cách mạng Việt Nam, đồng thời với việc quan tâm xây dựng nhân tố bên trong cho cách mạng Lào, cả về phương diện tổ chức lẫn chỉ đạo thực tiễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thật sự tạo ra nền tảng hoàn toàn mới về chất cho lớp người cộng sản Đông Dương đầu tiên, bất luận họ là người Việt Nam, người Lào, hay là người Campuchia. Đây chính là nền móng vững chắc của quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc là kiến trúc sư vĩ đại của tình đoàn kết đặc biệt đó.

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Hoàng thân Xuphanuvông đến Hà Nội. Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việc chọn lựa con đường làm cách mạng.

Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang trang mới: Từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũ bão, đẩy nhanh xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Do đó, các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam và Lào, đều có cơ hội và điều kiện thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ của thế giới để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xây dựng đất nước…

Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 18/7/1977, Đoàn đại biểu cao cấp của Đảng và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào. Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũng như các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngày 18/7/1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào và ra Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước.

Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm đã có trên 30 đoàn từ cấp trung ương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận. Quan hệ giữa các Bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả./.

Theo Báo Quảng Trị online
Huyền Trang (st)

Gửi đồng bào Việt Nam, người Pháp và người thế giới

Cùng đồng bào Việt Nam,

Cùng người Pháp và người thế giới,

Vì vâng lệnh Chính phủ, mà nhân dân Việt Nam sẵn sàng cộng tác thật thà với nhân dân Pháp.

Vì hiểu rõ đại nghĩa, mà nhân dân Pháp mong muốn cộng tác thật thà với nhân dân Việt Nam.

Vì tôn trọng chữ ký, mà Chính phủ Việt Nam ra sức thực hành một không khí thân thiện. Tiếc vì một đôi nơi, như ở miền Nam nước Việt, ở Hải Phòng và Lạng Sơn, một số người Pháp không hiểu tâm lý dân Việt Nam, không làm theo ý nguyện dân Pháp, đã gây nên những cuộc xung đột đổ máu giữa hai bên.

Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh.

Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong.

Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người.

Trong hai cuộc đại chiến, Pháp hy sinh hàng triệu người, để chống bọn xâm lǎng, để tranh lại quyền thống nhất, độc lập.

Nước Pháp cách Việt Nam muôn dặm, Việt Nam thống nhất độc lập có động chạm gì đến người Pháp mà người Pháp lại muốn cản trở Việt Nam. Người Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh và cộng tác với những người sĩ nông công thương Pháp qua đây làm ǎn. Những lợi ích hợp lý về tiền tệ và vǎn hoá của người Pháp ở đây sẽ được Việt Nam bảo vệ. Những người Pháp không muốn ai phạm đến chủ quyền mình thì phải tôn trọng chủ quyền Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam đã ký Tạm ước với Chính phủ Pháp thì Chính phủ và nhân dân Việt Nam quyết làm đúng theo Tạm ước đó.

Đồng thời Chính phủ và người Pháp cũng phải làm theo Tạm ước đó. Đó là lợi ích cho cả hai bên.

Chính phủ và nhân dân Việt Nam kiên quyết cộng tác thật thà với người Pháp. Song khi phải giữ chủ quyền của Tổ quốc, cần hy sinh thì cũng phải kiên quyết hy sinh.

Tôi thay mặt Chính phủ mà kêu gọi đồng bào toàn quốc sẵn sàng theo mệnh lệnh của Chính phủ.

Tôi cũng kêu gọi người Pháp ở đây thôi những hành động khiêu khích và thành thật cộng tác với Việt Nam một cách bình đẳng thân thiện. Máu Việt Nam và máu Pháp đổ đã nhiều rồi. Không nên đổ nữa. Vì lý lẽ gì, vì lợi của ai, mà đem máu quý báu của thanh niên Pháp (một thanh niên đầy những tương lai vẻ vang) đổ trên non nước Việt Nam. Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức:

Tự do, Bình đẳng, Bác ái, Độc lập.

Người Việt và người Pháp có thể và cần phải bắt tay nhau trong một sự nghiệp cộng tác bình đẳng, thật thà, để gây dựng hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc.

Đó là ý nguyện rõ rệt của Việt Nam, mong người Pháp và toàn thế giới biết cho.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 414,
ngày 23-11-1946.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi về việc quân Pháp lại gây hấn ở Hải Phòng

Tình hình Lạng Sơn chưa yên, thì tình hình Hải Phòng trở lại nghiêm trọng. Chẳng những quân đội Pháp không thi hành những điều đại biểu tướng Moóclie và đại biểu Chính phủ ta đã ký chiều ngày 20 tháng 11. Mà sáng nay họ lại yêu sách thêm những điều ta không thể nhận. Vì vậy lại bắt đầu xung đột.

Tôi kêu gọi Đại tướng Valuy, Tổng chỉ huy quân đội Pháp kiêm chức Thượng sứ, và các tướng lĩnh Pháp ở Việt Nam phải lập tức đình chỉ việc đổ máu giữa người Pháp và người Việt.

Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào phải trấn tĩnh, các bộ đội và tự vệ phải sẵn sàng bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc, bảo vệ tính mệnh, tài sản của ngoại kiều.

Chính phủ luôn luôn đứng sát với toàn thể đồng bào để giữ gìn đất nước.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn nǎm!

Đọc ngày 23-11-1946.
Báo Cứu quốc, số 415,
ngày 24-11-1946.
cpv.org.vn

Các nhà vǎn hoá Việt Nam hãy chú ý đặc biệt đến nhi đồng(1)

Nhi đồng Việt Nam đã tiến bộ nhiều về vǎn hoá. Cứ xem mỗi khi có công việc gì thích hợp để làm, các em đã làm rất tài tình. Ví dụ như cần tuyên truyền Đời sống mới, cần chống nạn mù chữ, các em diễn được ngay những vở kịch ngắn, vui mà khéo biết bao! Hay là không biết có phải vì tôi thương nhi đồng mà tôi thấy thế?

Tôi xin thay mặt toàn thể thiếu nhi Việt Nam kêu gọi các nhà vǎn hoá Việt Nam hãy chú ý đặc biệt đến nhi đồng.

Phát biểu ngày 24-11-1946.
Báo Cứu quốc, số 417,
ngày 26-11-1946.
cpv.org.vn

——————————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.