Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Mục đọc báo

2-10, Gǎngđi tuyệt thực 1 . Liên Xô. Ngày 1-1 2 tấn công Virikiroky 3 . Dei Rosta.

Ngày 3-1 tấn công Mostok.

4. Norkhek

5. Foruklatnaia séski

17. MéroJ

22. Sask

23. Amavir

25. 56 thành phố và làng mạc của Fronosi và Donetz.

Đầu tháng 2 4 , quét sạch quân Đức ở Xtalingrát.

Tù binh Đức: Nguyên soái 2

Tướng lĩnh 24

Sĩ quan 2500

Binh lính 9 vạn

Máy bay 760

Xe tǎng 15000

Vũ khí đạn dược nhiều vô kể.

Ngày 17-2 1 , tấn công Karkov, đánh bại hai sư đoàn nổi tiếng của quân Đức. Tổng thống Mỹ nói: Hết sức làm hài lòng mọi người, Nghị viện Anh hoan hô.

Ngày 18, phu nhân Tưởng đọc diễn vǎn trước nghị viện Mỹ.

Ngày 22, từ cuộc chiến tranh Xô – Đức đến nay, Đức thiệt hại 9 triệu người, trong đó chết trận 4 triệu.

Trong 35 cuộc tấn công của ba tháng nay, 130 sư đoàn bị đánh tan, bị chết trận trên 70 vạn, bị bắt làm tù binh 31 vạn, mất 7.000 xe tǎng, 4.000 máy bay, 17.000 trọng pháo.

Toàn Trung Quốc có 3736 nhà tù. Sáu tháng đầu nǎm ngoái 2 đưa vào 5 vạn người tù.

Chi phí chiến tranh của Mỹ mỗi ngày hơn 250 triệu đôla.

Ngày 21-3.

Vật tư chuyển từ hải cảng Mỹ đến nơi sử dụng ở Trung Quốc mất 75 đến 80 ngày.

Từ ngày nổ ra chiến tranh đến cuối tháng 2 nǎm 1943, Mỹ mất 66.399 người.

Người da đen trong quân đội Mỹ có 45 vạn người, sĩ quan có khoảng 2.000.

Mỹ tặng Liên Xô 5600 máy bay, 6100 xe tǎng, 85000 xe hơi.

Ngày 27-3.

Đức có gần 500 tàu ngầm. Mỗi tháng có thể đóng xong từ 15 đến 30 chiếc.

Ngày 26-7-1941, Nhật đổ bộ lên Sài Gòn.

Ngày 10-7-1943, vào Sicile.

Ngày 3-8 công kích, quân Đồng minh mất 31.158 người, quân Trục mất 165000 người, trong đó 132000 là tù binh.

Ngày 25-7, ý đảo chính 1 .

3-9, Đồng minh vào ý.

Thành phố Xtalingrát bị đánh bằng hơn 1.050.000 mìn.

Phá huỷ 73 kilômét chiều dài, 1 kilômét chiều rộng các thành phố và thị trấn, nông trang viên, chôn 128.000 xác người Liên Xô, 11.000 xác ngựa.

Ngày 1-11, trong một mỏ của Xtalinô, Đức chôn sống 4 vạn người Liên Xô.

Tháng 9, Đồng minh oanh tạc Trục, ném 37 vạn tấn bom.

Ngày 1-10, Mỹ ném bom Hải Phòng, bắn rơi 29 máy bay Nhật.

Ngày 9, lại ném bom Hải Phòng.

13, ý tuyên chiến với Đức 2 . Liên Xô, Anh, Mỹ công nhận ý là bạn chiến đấu.

Cắt tóc ở Quế Lâm 30 đồng, thịt lợn 45 đồng.

Lương một gái bán vui của nhà chứa mỗi tháng 30 vạn đồng.

Mỗi lần Mỹ mất một máy bay thì Nhật mất chín chiếc.

Đã chụp ảnh hai tấc, 144 đồng một chiếc.

14, sư đoàn quân tình nguyện Tây Ban Nha (trong quân đội Đức) rút khỏi mặt trận (Nga).

Chi phí quân sự của Mỹ tháng 9 là 7 tỷ 220 triệu đồng.

Máy bay quân Đồng minh đánh quân Nhật ở Labour , phá huỷ 177 máy bay, 121 tàu chiến lớn nhỏ, ném tất cả 350 tấn bom, 25 vạn viên đạn súng máy.

15, quân Mỹ ném bom vào quân Đức. Mỹ mất 60 lô cốt trên không, Đức mất 104 cái.

16, bốn giờ sáng, Mỹ ném bom Hải Phòng.

Từ khi tham chiến đến ngày 1-9-1943, máy bay Mỹ xuất kích 223.758 lần, ném 105.449 tấn bom, phá huỷ 7.312 máy bay địch. Mỹ mất 1.867 máy bay.

Tính đến 1-9 nǎm nay, trong nửa nǎm phá huỷ của địch 5.369 máy bay, Mỹ mất 1.239 máy bay.

10, R.Rolland mất 1 .

20, Hội nghị ngoại trưởng 3 nước: Liên Xô, Anh, Mỹ, họp tại thủ đô Liên Xô 2 .

Mỗi tháng Pháp chi cho quân Đức trong thời gian bị chiếm đóng 12.166 triệu phrǎng.

27-29, Mỹ ném bom Bắc Kỳ.

Ngày 1-11.

Tuyên ngôn tứ cường (tại Mátxcơva), toàn thế giới hoan nghênh.

Tháng 10, quân Đồng minh ném 18.000 tấn bom.

5, trong 12 tiếng đồng hồ, quân Đồng minh ném 4.000 tấn bom vào quân Đức.

Hàng nghìn máy bay Mỹ ném bom Wilam Hurvol.

Trong bốn tháng tấn công mùa hè, Liên Xô lấy lại được 35 vạn kilômét vuông, đánh bại 144 sư đoàn của Đức. Địch chết 90 vạn, bị bắt làm tù binh 98 nghìn.

Đội nhảy dù nữ của Liên Xô đã nhảy dù.

Hàng chục vạn dân thường và tù binh Liên Xô ở Xmolenxeơ bị tàn sát dã man.

Ngày 7, tấn công lấy lại Kiép 1 .

10, Sau khi kết thúc chiến tranh, Anh cấm thuốc phiện ở các đất thuộc địa tại Viễn Đông. Đến tháng 5-1943, Anh giúp Liên Xô 4.690 máy bay, 22 tàu chiến, sáu tàu ngầm và các loại tàu khác. Tổng cộng giá trị giúp Liên Xô 187 triệu đồng bảng Anh, giúp Mỹ 292 triệu đồng bảng Anh.

Mỹ phát minh máy có thể bắt được mục tiêu bằng sức điện.

Tính đến hết tháng 9 nǎm nay, số vật tư mà Mỹ cho Liên Xô vay mượn trị giá 3.287 triệu đồng.

22, về sau, máy bay quân Đồng minh liên tiếp phá huỷ một phần ba thành phố Béclin.

Pháp công nhận nền độc lập của Libǎng.

Mỗi tháng Mỹ sản xuất được 2000 chiếc máy bay.

Ngày 1-12, Hội nghị lãnh đạo tứ cường họp ở thủ đô Ai Cập. 11 tháng trong nǎm nay, máy bay Anh tập kích quân Đức 8 vạn lần.

Tháng 11, quân Đức ném 120 tấn bom vào quân Anh. Quân Anh ném vào quân Đức 13.000 tấn bom. Chi phí chiến tranh của Anh từ 1940 đến 1942, mỗi người mỗi nǎm phải gánh vác 194 đồng, từ 1942 đến 1943, mỗi người phải gánh vác 7.130 đồng.

Sinh hoạt phí tǎng 19%.

*

*      *

Việt Nam: 702.000 dặm, to gần bằng hai phần ba nước Pháp. Bờ biển dài 2000 dặm. Biên giới 3.900 dặm. Núi cao nhất: Phansipǎng 3.142 mét. Sông Mêkông dài 4.400 dặm (trong đó Việt Nam 2.400 dặm 2 ), rộng 400 thước.

Pháp có 19.000 người. Thế kỷ XVI, người Bồ Đào Nha và Hà Lan đến Việt Nam.

Nǎm 1624, người đạo Lamốttơ đi kinh lý khắp nơi.

Ngày 28-11-1787, Gia Long và Pháp ký hiệp ước (Gia Long lên ngôi nǎm 1802).

Ngày 5-6-1862, Tự Đức ký nhượng Sài Gòn, Biên Hoà, Mỹ Tho của Nam Kỳ.

Ngày 20-11-1873, mất Hà Nội.

Ngày 25-4-1882, lại mất.

Ngày 11-5-1884, ký hiệp ước Thiên Tân.

Ngày 28-3-1885, Pháp thất bại ở Lạng Sơn.

Binh lính thuộc quốc tịch Việt Nam tổ chức vào nǎm 1858 có hai đại đội, nǎm 1862 có ba tiểu đoàn, nǎm 1884 có hai trung đoàn. Trung Kỳ có bốn tiểu đoàn, vào nǎm 1887.

Khởi nghĩa, nǎm 1915 tháng 1: Phú Thọ, tháng 2: Móng Cái. Nǎm 1916, tháng 2: Sài Gòn; tháng 5: Duy Tân; tháng 8: Bát Xát. Nǎm 1917, tháng 2: Đồng Vǎn. Nǎm 1918, tháng 2: Mường Khương, tháng 7: Pha Long; tháng 9: Cốc Sàn. Từ tháng 9-1917 đến tháng 1-1918: Thái Nguyên. Từ tháng 11-1918 đến tháng 1-1919: Bình Liêu. Tháng 6-1919: Quảng Nam. Từ 1918 đến 1920: Mèo Bát Chai.

Cuộc đại chiến ở châu Âu, 94.411 người Việt Nam sang Pháp. Binh lực của Pháp: 11 tiểu đoàn người Pháp, 16 tiểu đoàn người Việt Nam, 21 khẩu đội pháo, 11 đại đội công binh, bốn phi đội máy bay, 14.765 lính khố xanh và lính khố đỏ người Việt Nam, 173 sĩ quan.

2000 người Thuỵ Điển, 9 tàu hộ tống, 8 pháo hạm, 3 tàu ngầm, 7 tuần dương hạm (17 tàu chiến không có giá trị lớn).

Nǎm 1929, Việt Nam nộp 32.300.000 đồng phrǎng cho chi phí quân sự. Từ 1919 đến 1929, tǎng gấp đôi.

Nhật Bản: 70 sư đoàn, mỗi sư đoàn 35.000 người, ở Trung Quốc có khoảng 35 sư đoàn, ở Miến Điện có 21 vạn quân, số quân đề phòng Liên Xô tấn công là 30 vạn.

Mỗi nǎm đóng được một tàu chiến loại 12 vạn tấn. Đến 1945, có 362 tàu chiến, 166 vạn tấn. Từ chiến tranh Thái Bình Dương đến cuối tháng 6 nǎm nay mất 446 tàu chiến.

Đến 1945, Mỹ có 736 tàu, cộng tất cả là 353 vạn tấn, cứ 36 giờ sản xuất được 1 chiếc tàu chiến. Ngày 31-5 nǎm nay, Mỹ chế tạo xong được chiếc máy bay thứ 10 vạn, có thể huy động 10 triệu binh lính.

Mỗi nǎm Nhật Bản có thể chế tạo được 3000 máy bay. Hiện nay, Nhật có 15.000 chiếc. Mỗi tháng Nhật vận chuyển vật tư vào trong Trường Thành 520 vạn tấn, vào Đông Bắc 280 vạn tấn. Nǎm ngoái vận chuyển từ Nhật sang sáu triệu tấn.

*

*      *

Phụ nữ tham gia sản xuất, khuyến khích chồng con ra trận, giúp đỡ binh lính may vá và giặt giũ quần áo, ưu đãi các gia đình kháng chiến, uý lạo, quyên góp (tiết kiệm), trừ gian, đi du kích.

Tài liệu chữ Hán,
viết trong bản thảo
Nhật ký trong tù.

cpv.org.vn

————————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

2. Chủ nghĩa cộng sản thời chiến (chính sách cộng sản thời chiến): Chính sách kinh tế của nước Nga Xôviết thi hành trong thời kỳ nội chiến và chống sự can thiệp của 14 nước đế quốc (1918-1920). Theo chính sách này, chính quyền Xôviết không chỉ kiểm soát công nghiệp lớn mà còn kiểm soát cả công nghiệp nhỏ và vừa, nắm độc quyền mua bán lúa mì, cấm tư nhân buôn bán lương thực, trưng mua lương thực thừa của nông dân, nắm hàng tiêu dùng và nông sản để cung cấp cho quân đội, công nhân và nhân dân lao động. Chính quyền Xôviết thi hành chế độ nghĩa vụ lao động đối với tất cả các giai cấp, kể cả giai cấp tư sản, theo nguyên tắc “ai không làm thì không ǎn”.

Việc thực hiện chính sách cộng sản thời chiến lúc đó là hết sức cần thiết và đúng đắn. Nhờ đó đã huy động được sức người, sức của phục vụ cho công cuộc chiến đấu chống bọn bạch vệ và bọn can thiệp, giữ vững chính quyền Xôviết non trẻ. Sau khi đập tan bọn can thiệp vũ trang và kết thúc cuộc nội chiến, chính sách cộng sản thời chiến được thay bằng chính sách kinh tế mới (NEP) tháng 3-1921. Tr.28.

3. Chính sách kinh tế mới (NEP): Chính sách kinh tế của nước Nga Xôviết do Lênin đề xướng tháng 3-1921 với nội dung: lấy thương nghiệp làm khâu trung tâm để khôi phục kinh tế, thay thế chế độ trưng thu lương thực bằng thuế lương thực, thực hiện chế độ nông dân được tự do trao đổi nông sản; đặt các xí nghiệp nhà nước trên cơ sở hạch toán kinh tế, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước và tô nhượng cho tư bản ngoại quốc nhằm phục vụ lợi ích xây dựng chủ nghĩa xã hội… Đây là sự xây dựng nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường tiến lên chủ nghĩa xã hội trong một thời kỳ dài. Tr.28.

4. Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba): Tổ chức cách mạng quốc tế của giai cấp vô sản, trung tâm lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới.

Do ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười nǎm 1917 và sau khi Quốc tế thứ hai bị phá sản, cuộc đấu tranh của Lênin và những người cộng sản chân chính chống bọn cơ hội chủ nghĩa đã thúc đẩy sự ra đời của các đảng cộng sản và tổ chức cộng sản ở nhiều nước trên thế giới. Để giúp các tổ chức cộng sản này lãnh đạo phong trào cách mạng các nước đi theo con đường của chủ nghĩa Mác chân chính, tháng 1-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, Hội nghị đại biểu của 8 đảng cộng sản và nhóm cộng sản đã kêu gọi tất cả các đảng cộng sản, các tổ chức xã hội chủ nghĩa phái tả tham gia Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba).

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, tháng 3-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, các đảng cộng sản và nhóm cộng sản của 30 nước đã tiến hành Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva.

Quốc tế Cộng sản đã có công lao trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Quốc tế Cộng sản đã rất chú trọng tới vấn đề giải phóng dân tộc. Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được Đại hội II Quốc tế Cộng sản (1920) thông qua đã đặt nền tảng chính trị và tư tưởng cho việc giải quyết đúng đắn những vấn đề phức tạp của phong trào giải phóng dân tộc. Trên con đường cứu nước, Nguyễn ái Quốc đã hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba.

Đến thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, cǎn cứ vào hoàn cảnh mới, tháng 5-1943, Đoàn chủ tịch Quốc tế Cộng sản với sự tán thành của đa số các đảng cộng sản, đã thông qua nghị quyết giải tán tổ chức quốc tế này. Tr. 28.

Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư – Chủ nhiệm họ Hầu tặng một bộ sách

Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư

Khoảnh thừa chủ nhiệm tống thư lai,

Độc bãi tinh thần giác đốn khai;

Lãnh tụ vĩ ngôn như tại nhĩ,

Thiên biên oanh động nhất thanh lôi.

Chủ nhiệm họ Hầu tặng một bộ sách

Vừa rồi được Chủ nhiệm đưa sách đến cho,

Đọc xong, thấy tinh thần đột nhiên mở mang;

Lời lãnh tụ như còn vẳng bên tai,

Khác nào một tiếng sấm ầm vang nơi chân trời.

Sách ngài Chủ nhiệm mới đưa sang,

Đọc đoạn, tinh thần chợt mở mang;

Còn vẳng bên tai lời lãnh tụ,

Chân trời một tiếng sấm rền vang.

Đỗ VǍN Hỷ dịch
cpv.org.vn

Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động – Được lệnh trên cho đi lại ngoài buồng giam 419

Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động

Cửu nhàn lưỡng cước nhuyễn như miên,

Kim thí hành hành lũ dục điên;

Phiến khắc dĩ vǎn Ban trưởng hám:

“Phản lai, bất chuẩn tái trì diên”.

Được lệnh trên cho đi lại ngoài buồng giam

Nhàn rỗi lâu ngày, hai chân mềm như bông,

Nay mới đi thử vài bước đã lảo đảo mấy lần chực ngã;

Chốc lát đã nghe Ban trưởng quát:

“Quay lại! Không được rềnh ràng nữa!”.

Nghỉ lâu, chân tựa bông mềm nhũn,

Đi thử, hôm nay muốn ngã quay;

Chốc lát đã nghe cai ngục quát:

“Không rềnh ràng nữa, phải vào ngay!”.

Đỗ VǍN Hỷ dịch
cpv.org.vn

Thu dạ – Đêm thu

THU DẠ

Môn tiền vệ sĩ chấp thương lập,

Thiên thượng tàn vân bạng nguyệt phi;

Mộc sắt tung hoành như thản khắc ,

Mân trùng tụ tán tự phi ky (cơ);

Tâm hoài cố quốc thiên đường lộ ,

Mộng nhiễu tân sầu, vạn lũ ti;

Vô tội nhi tù dĩ nhất tải,

Lão phu hoà lệ tả tù thi.

ĐÊM THU

Trước cửa lính gác bồng súng đứng,

Trên trời đám mây tàn bay bên vầng trǎng;

Lũ rệp bò ngổn ngang như xe tǎng,

Đàn muỗi lúc tụ lúc tán như máy bay;

Lòng nhớ cố quốc cách xa nghìn trùng,

Giấc mộng vấn vương mối sầu mới như vạn mối tơ;

Vô tội mà ở tù đã một nǎm nay,

Già này hoà nước mắt viết thơ tù.

Trước cửa lính canh bồng súng đứng,

Trên trời trǎng lướt giữa làn mây;

Rệp bò ngang dọc như xe cóc,

Muỗi lượn hung hǎng tựa máy bay;

Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ,

Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay;

ở tù nǎm trọn thân vô tội,

Hoà lệ thành thơ tả nỗi này.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Khán “Thiên gia thi” hữu cảm – Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”

Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ,

Sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong;

Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,

Thi gia dã yếu hội xung phong.

Cảm tưởng đọc “THIÊN GIA THI”)

Thơ xưa nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên,

Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trǎng, gió;

Trong thơ thời nay nên có thép,

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp,

Mây, gió, trǎng, hoa, tuyết, núi, sông;

Nay ở trong thơ nên có thép,

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tức cảnh – Tức cảnh

Thụ sao xảo hoạ Trương Phi tượng,

Xích nhật trường minh Quan Vũ tâm;

Tổ quốc chung niên vô tín tức,

Cố hương mỗi nhật vọng hồi âm.

Tức Cảnh

Ngọn cây khéo vẽ hình Trương Phi ,

Mặt trời hồng sáng mãi lòng Quan Vũ 2 ;

Tổ quốc suốt nǎm không tin tức,

Mong thư trả lời của quê nhà hàng ngày.

Cành lá khéo in hình Dực Đức,

Vầng hồng sáng mãi dạ Quan Công;

Nǎm tròn cố quốc tǎm hơi vắng,

Tin tức bên nhà bữa bữa trông.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Kết luận – Kết luận

Hạnh ngộ anh minh Hầu Chủ nhiệm,

Nhi kim hựu thị tự do nhân;

Ngục trung nhật ký tòng kim chỉ,

Thâm tạ Hầu công tái tạo ân.

Hoàn
29-8-1942
10-9-1943

Kết luận

May mắn gặp được Chủ nhiệm họ Hầu sáng suốt,

Mà nay ta lại là người tự do;

Nhật ký trong tù chấm dứt từ đây,

Cảm tạ khôn xiết công ơn tái tạo của ông Hầu.

Hết
29-8-1942
10-9-1943

Sáng suốt, nhờ ơn Hầu chủ nhiệm,

Tự do trở lại với mình rồi;

Ngục trung nhật ký từ đây dứt,

Tái tạo ơn sâu, cảm tạ người.

Hết
29-8-1942
10-9-1943

Khương Hữu Dụng dịch
cpv.org.vn

Mục đọc sách – Những hiểu biết cơ bản về quân sự.Bài giảng của Uỷ viên trưởng

1- Tổ chức: Biên chế và đội hình.

Quân đoàn, sư đoàn đến trung đội, tiểu đội là hình thể của tổ chức.

Mệnh lệnh, điều lệnh, các nhiệm vụ là nhiệm vụ của tổ chức.

Tổ chức cần phải chặt chẽ, thống nhất.

2- Kỷ luật cần nghiêm minh. Tổ chức là cơ thể của quân sự.

Kỷ luật là sinh mệnh của quân sự.

3- Kế hoạch cần rất tỉ mỉ, đầy đủ. Điều kiện: 1- Đối tượng; 2- Hoàn cảnh, địa hình, giao thông, vệ sinh, quân đội bạn, lực lượng ta, lực lượng kẻ thù; 3- Nhiệm vụ và mục đích của ta; 4- Công việc chuẩn bị: lương thực, súng đạn, giao thông, vệ sinh.

4- Mệnh lệnh cần đơn giản, rõ ràng, thiết thực, chu đáo. Chú ý thời gian, địa điểm, tình hình địch, hoàn cảnh, nhiệm vụ và mục đích bản thân công việc chuẩn bị.

5- Động tác như đứng nghiêm, v.v., cần nhanh chóng, xác thực. Đứng nghiêm: thân, tâm, khí, thế đều ổn định.

6- Hành động cần phải đều rǎm rắp, cùng nhất trí, nhanh chóng xác thực. Bí quyết nhanh chóng: đơn giản, tiết kiệm không gian, thời gian và tài lực, vật lực.

7- Sinh hoạt cần chỉnh tề, sạch sẽ, đơn giản, chất phác. Thời chiến bình tĩnh như thời bình. Thời bình khẩn trương, chịu đựng khắc khổ như thời chiến.

8- Quản lý người, việc, địa điểm, vật dụng, thời gian.

9- Tính chất trong sạch, đáng kính; cơ động, bí mật, diện: lường đến những việc có thể xảy ra, tích cực.

10- Hiệu quả và mục đích 1 : thân ái đoàn kết, muôn người một lòng.

11- Điều kiện thành công 2 : cẩn thận, sẵn sàng, kiểm thảo.

HUẤN LUYỆN

Tính chất huấn luyện dựa trên cǎn bản phải xem xét và giao trách nhiệm cho những người có tài nǎng để huấn luyện. Nghĩa là nói rồi thì phải đi làm, đã nói thì phải làm được. Xem xét tình hình, phẩm cách, kinh nghiệm, ưu điểm và khuyết điểm. Tổ chức nhân tài. Dạy làm người, làm việc. Thân ái đoàn kết. Không cẩu thả, không dối trá. Cán bộ. Nghiên cứu, phê bình, thảo luận, thi đua, hỗ trợ. Tự giác, tự động. Sáng tạo, phụ trách. Đầu óc, miệng, mắt, tay, chân đều đạt. Giữ kỷ luật, tiếc thời gian.

Phân biệt sự vật, có cái nặng, cái nhẹ, cái gấp, cái không gấp.

Trao đổi kinh nghiệm. Giao công tác thực tế. Giải đáp thắc mắc.

Phân công việc không tiến thì lùi. Một chỗ buông lơi, trǎm chỗ lười biếng.

Tinh thần càng dùng càng nhạy bén, trí tuệ càng dùng càng minh mẫn.

Cái cần lúc đầu là dũng khí.

Mới, không ngừng tiến thủ, cần có bản lĩnh độc lập. Tự mình làm lấy, tự giác, tự động, tự chủ. Lao động, sáng tạo, quyết đoán. Mỗi ngày một mới. Cần theo dõi, kiểm tra, khảo sát, chỉ đạo, hội báo.

Quyết tâm trở thành người tốt là phải không sợ khổ, không sợ khó, nhất định làm đến cùng những điều chúng ta thấy đáng làm, cho dù chưa chắc thành công vẫn ra sức làm dù gặp phải gian nan nguy hiểm gì, cùng cực càng phấn đấu, không lùi bước, phải làm thực sự, làm nhanh, làm một cách kiên quyết.

Liên hợp với các quốc gia dân tộc đồng tình với ta để cùng đấu tranh cho hoà bình và chính nghĩa của thế giới…

Từ nay về sau, chúng ta hy vọng: tất cả các dân tộc nhỏ yếu trên thế giới nên lấy nhiệt tình đòi độc lập tự do của dân tộc mình giúp đỡ cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc. Các quốc gia, dân tộc bị chủ nghĩa bạo lực, bị đế quốc Nhật thôn tính… từ nay về sau đều phải liên hợp lại (tháng 6-1927).

Thái độ: lễ, quy, củ. Kỷ luật: nghiêm, chính. Hành vi: nghĩa, chính, đương. Hy sinh: khảng khái. Phân biệt: liêm, thanh, sở. Tiết kiệm: thực, tại. Giác ngộ: sĩ, thiết, thực. Phấn đấu: dũng, liệt.

Một vật dùng như hai vật. Một người làm việc của hai người. Một ngày làm công của hai ngày. Nói ít, bắt đầu bằng hành động. Tiến bộ.

Qua ba nǎm kháng chiến, mất Bắc Bình, Thiên Tân: 4-8-1937; Trương Gia Khẩu: 25-8-1937; Thạch Gia Trang: 10-10-1937; Thái Nguyên: 9-11-1937; Tuy Viễn: 13-11-1937; Thượng Hải: 13-8 đến 9-11-1937; Nam Kinh: 13-11-1937; Tế Nam: 27-12-1937; Từ Châu: 19-5-1938; Hàng Châu: 25-11-1938; Vũ Hán: 12-6 đến 25-10-1938; Quảng Châu: 21-10-1938; Hải Nam: 10-2-1939; Nam Ninh: 24-2-1939; Nam Xương: 27-2-1939.

Sư đoàn thứ tám Trung Điều Sơn tấn công từ tháng 5 đến tháng 7-1939. Địch khoảng 35 sư đoàn. Hà Bắc, Cáp Nhĩ Tân, Tuy Viễn, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Giang Tô, Triết Giang, An Huy, Giang Tây, Hà Bắc, Quảng Đông, Hồ Nam, Phúc Kiến, Quảng Tây, cộng tất cả 16 thành phố, 1.170 huyện, địch chiếm 15 thành phố, 533 huyện. Đến hết tháng 3-1940, có tất cả 179.000 quân nguỵ và quân chính quy. Lấy lại Nam Ninh ngày 30-10-1940.

Địch vào Việt Nam tháng 9-1940.

ý nghĩa của vǎn hoá: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, vǎn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ǎn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là vǎn hoá. Vǎn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.

Nǎm điểm lớn xây dựng nền vǎn hoá dân tộc.

1- Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.

2- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.

3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội.

4- Xây dựng chính trị: dân quyền.

5- Xây dựng kinh tế.

Tài liệu chữ Hán,
viết trong bản thảo
Nhật ký trong tù.
cpv.org.vn

Tân xuất ngục học đǎng sơn – Mới ra tù, tập leo núi (1)

Ân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,
Giang tâm như kính tịnh vô trần;
Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,
Dao vọng Nam thiên ức cố nhân.
Mới ra tù, tập leo núi
Mây ôm dẫy núi, núi ôm mây,
Lòng sông như gương, không chút bụi;
Một mình bồi hồi dạo bước trên đỉnh núi Tây Phong
Trông về phía trời Nam xa xǎm nhớ bạn cũ.
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,
Lòng sông gương sáng, bụi không mờ;
Bồi hồi dạo bước Tây Phong lĩnh,
Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Mây ôm núi núi ôm mây,
Lòng sông sạch chẳng mảy may bụi hồng;
Bùi ngùi dạo đỉnh Tây Phong,
Trông về cố quốc chạnh lòng nhớ ai.

T.LAN dịch (1)

cpv.org.vn

————————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Tặng cụ Đinh Chương Dương

Quan san muôn dặm gặp nhau đây,
Mục đích chung là đuổi Nhật, Tây.
Dân bị hai tròng vào một cổ,
Ta liều trǎm đắng với ngàn cay.
Già dù yếu sức mang mang nhẹ,
Trẻ cố ra công gánh gánh đầy.
Non nước của ta ta lấy lại,
Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây.

Liễu Châu, nǎm 1943

In trong sách: Hồ Chí Minh, Thơ, Nxb. Vǎn học,
Hà Nội, 1970, tr.46. Theo bài in trong sách Hồ Chí Minh, Thơ
cpv.org.vn

Libǎng 12-1943 (1)

Libǎng là gì? Chắc là nhiều độc giả chưa từng nghe nói đến tên xứ này. ấy là một nước nhỏ ở Cận Đông, gần đây đã làm cho thế giới phải chú ý.

Libǎng ở cạnh xứ Xyri, đất rộng 38 vạn dặm vuông (dặm Anh), dân số 70 vạn người, kinh đô là Bâyrút, ngày trước thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, đến nǎm 1861 thì thoát ly nước Thổ mà độc lập, song lại bị đế quốc Pháp bao biện.

Sau Thế giới đại chiến lần thứ nhất, Libǎng đòi hoàn toàn độc lập, nhưng không được. Tháng 7-1922, Hội Quốc liên uỷ nhiệm xứ ấy cho nước Pháp. Trong lời uỷ nhiệm có định rằng: “trong hạn 3 nǎm, Pháp phải lập nên Hiến pháp cho Libǎng và Xyri, và phải làm cho hai nước ấy thành nước độc lập”.

Hiến pháp thì có Hiến pháp Libǎng được Pháp quẳng cho tấm áo Cộng hoà có Tổng thống, có Nội các, có Nghị viện.

Nhưng Hiến pháp lại do người Pháp định ra và chung quy chỉ lợi cho nước Pháp, dân tộc Libǎng chỉ có tiếng mà không có miếng. Bởi vậy, dân Libǎng lấy làm cǎm giận, nên đến nǎm 1925 nổi cách mệnh chống với Pháp. Đế quốc Pháp đối phó với cách mệnh Libǎng cũng như chúng đã từng đối phó với cách mệnh Việt Nam và cách mệnh ở các thuộc địa khác của chúng. Nghĩa là chúng dùng uy lực tàn sát mà đàn áp và đốt phá mấy thành thị để thị uy. Trong cuộc tranh đấu ấy, dưới sự tàn bạo của giặc Pháp, 6000 cách mệnh chiến sĩ Libǎng chìm thây trong bể máu. Song cuộc đại khủng bố của giặc Pháp chẳng những không làm cho dân Libǎng kinh sợ, mà trái lại bể máu đào ấy chẳng bao lâu lại nổi lên một trận sóng to gió lớn khác khiến cho đế quốc Pháp phải hoảng sợ, ấy là: nǎm 1931, dân Lêbanôn lại vùng dậy gây thành phong trào bãi khoá, bãi thị, bãi công, chống thuế, v.v.. Công cuộc vận động tiến hành tràn lan khắp nơi.

Nǎm 1936, công cuộc cách mệnh đại vận động lại dấy nổi làm cho đế quốc Pháp phải nhượng bộ và theo lời hứa của Pháp: sau 3 nǎm sẽ để cho Libǎng được độc lập hẳn. Nhưng vì cuộc Thế giới đại chiến lần thứ hai bùng nổ, nên cuộc độc lập của Libǎng chưa được thực hiện. Cho tới nǎm 1940, Pháp bị mất nước. Cách đó ít lâu, Anh mang quân đánh Xyri, Pháp bị thua. Nhưng Anh lại giao Xyri và Libǎng cho bọn Đờ Gôn giữ.

Nǎm 1941, Anh Pháp dân tộc giải phóng uỷ viên hội (bọn Đờ Gôn) lại hứa cho Libǎng độc lập. Nhưng trong thời kỳ chiến tranh, bọn Đờ Gôn vẫn được quyền đại lý Libǎng.

Đầu tháng 11-1943, nghị viện Lêbanôn sửa chữa lại Hiến pháp. Uỷ viên của phái Đờ Gôn ở Libǎng bảo rằng Hiến pháp mới không lợi cho đế quốc Pháp, nên bắt giam Tổng thống, Tổng lý và 49 nghị viên Libǎng. Dân chúng tiếp tin ấy, rất mực công phẫn, lập tức nổi lên can thiệp. Người Pháp phái cảnh sát ra dẹp, nhưng cảnh sát cũng đồng tình với dân chúng cự tuyệt không chịu tuân theo mệnh lệnh, nên người Pháp lại phái lính Xênêgan (lính châu Phi) đàn áp. Việc ấy phát sinh từ ngày 10-11-1943, đến nay cũng chưa giải quyết xong. Xem việc ấy thì chúng ta đủ biết nhận thấy:

1) Bất kỳ bọn Pêtanh hay bọn Đờ Gôn cũng vẫn mang tâm lang sói, khư khư trong cái khuôn khổ đế quốc chủ nghĩa, đều là kẻ thù chung của những dân tộc các xứ thuộc địa hay bảo hộ mà trước đây, tại những nơi đó mà chúng đã hoành hành bao thủ đoạn tàn bạo bóc lột, dẫu rằng hiện tại chính thân thể chúng cũng đương bị quằn quại ở chỗ trong cảnh nước mất nhà tan. Và trước đây ít lâu, bọn Đờ Gôn há chẳng từng phải đem những câu “Dân tộc giải phóng” trưng bày với thế giới để cầu mong các cường quốc giúp đỡ, thế mà đối với các dân tộc khác vận động sự giải phóng độc lập thì chúng lại giở tay đàn áp đến cùng. Đấy là một lẽ mà chúng ta cần phải nhận biết.

2) Libǎng tuy là một nước rất nhỏ, dân số Việt Nam ta 20 phần thì đem so với dân số của họ thật không bằng một phần của ta. Thế mà dân tộc Libǎng, trong khoảng 18 nǎm trời (1925-1943) gây nên biết bao cuộc đấu tranh oanh liệt, sự thất bại trong nhất thời đã không làm nản lòng chiến sĩ, thì sự tiếp tục phi thường đáng kính ấy là một lẽ tất nhiên phải có, dân tộc đó anh dũng lại thêm tinh thần đoàn kết cả nước một lòng thì ai là chẳng kính phục? mà loài lang sói vì thế cũng phải trùng gan ngại bước.

Việt Nam hiện đang chuẩn bị đánh Nhật, đuổi Pháp để giành lấy sự độc lập tự do, vậy nên vô luận gần hay xa và bất cứ dân tộc nào nổi lên chống với đế quốc xâm lược đều là bạn thân của dân tộc Việt Nam ta vậy. Cho nên chúng ta rất đồng tình và mong cho công cuộc cách mạng của dân tộc Libǎng được thắng lợi. Tuy xa cách nhau mấy nghìn dặm, chúng ta đồng thanh cùng với anh, với chị em Libǎng hô to khẩu hiệu:

Đánh đổ bọn đế quốc xâm lược!
Libǎng cách mạng thành công muôn nǎm!
Các dân tộc bị áp bức được hoàn toàn giải phóng!

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số 18, tháng 12-1943.
cpv.org.vn

———————————-

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Chào xuân

Nǎm cũ lịch cũ vừa qua,
Nǎm mới lịch mới lại tới!

Sau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều. Và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian những vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khí. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Loài người lợi dụng cái luật tự nhiên của tạo hoá, chẳng những hưởng thụ cái hạnh phúc khoái lạc của mùa Xuân, và lại nhận cái không khí phồn vinh của ngày Xuân để sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả nǎm, nên tục ngữ có câu “Nhất niên chi kế thuỷ ư Xuân”.

Cũng vì thế cho nên nǎm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ, sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân. Chẳng những là kẻ giàu sang tiếp Xuân với sự hồ hởi, mà người nghèo khó thấy Xuân cũng vui mừng.

“Mồng một đốt toang ba chiếc pháo
Ba mươi kéo tuốt một con nêu”

Chỉ có ba chiếc pháo mà vẫn inh ỏi cười Xuân như ai! Xuân chẳng những là ôn hoà tươi đẹp, mà lại chí công vô tư. Đã không riêng cho một hạng người nào, cũng không riêng cho một nơi nào. Cho nên có câu ca dao:

“Xuân ơi, Xuân hỡi, hỡi Xuân,
Từ xa tới gần, Xuân khắp mọi nơi”.

*

*      *

Song luật xã hội không theo vòng tròn của luật tự nhiên. Từ xưa đến nay, nơi nào cũng có Xuân. Từ xưa đến nay cây nào cũng tươi tốt. Nhưng cách thức loài người đón rước Xuân này và đón rước mùa Xuân trước, khác nhau nhiều lắm.

Ngày nay, những tiếng pháo lốp đốp chào Xuân đã bị những tiếng đùng đùng của ngư lôi ngoài bể và đại bác trên bờ át mất. Cái sắc đỏ của hoa đào, màu điều của câu đối Xuân, tựa hồ đã nhuộm bằng giọt máu hồng của những chiến sĩ ở các sa trường khắp thế giới! Khi ai hưởng bánh chưng, rượu ngọt, củ kiệu, thịt đông, sao cho khỏi nhớ đến chiến sĩ ǎn tuyết, uống sương trên mặt trận!

Trong tự nhiên thì Xuân này không khác gì các Xuân trước. Nhưng trong xã hội thì Xuân này là một chiếc tranh Xuân, một Xuân trọng yếu, chẳng những nó giúp giùm sinh kế của loài người trong một nǎm mà nó sẽ quyết định mệnh vận của loài người trong bao nhiêu thời đại.

Vậy muốn biết Xuân này sẽ có ảnh hưởng thế nào, thì chúng ta phải kiểm thảo lại những cuộc chuyển biến trong thế giới từ Xuân trước.

*

*      *

Đến Xuân này:

Trung Nhật chiến tranh đã 6 nǎm rưỡi
Thế giới đại chiến 4 nǎm
Nga Đức chiến tranh đã 2 nǎm rưỡi
Thái Bình Dương chiến tranh 2 nǎm

Muốn biết từ Xuân này, chiến tranh sẽ thế nào thì chúng ta phải xét lại từ Xuân nǎm ngoái đến giờ, chiến tranh đã đến bước nào rồi.

Từ Xuân nǎm ngoái, quân các nước Đồng minh đã đứng vào chủ động. Quân các nước Trục – Tâm đứng về bị động. Minh quân bước qua thế công. Trục quân lui lại thế thủ. Chiến lược chớp nhoáng của Trục hoàn toàn thất bại. Chiến lược (trì cửu) của Đồng minh hoàn toàn thắng lợi.

Mặt trận Đức – Nga

Xuân trước, trong độ này, 38 vạn tinh binh của Đức đánh vào thành Xtalingrát. Nhưng kết quả bị một trận thất bại rất to. Trong lúc quân Nga giải vây thành Xtalingrát bắt được nǎm ngàn tướng lãnh và hơn 9 vạn lính Đức. Trận ấy là trận thắng lợi to nhất và đầu tiên của quân Đồng minh. Từ đó trở đi, quân Trục cứ thất bại mãi, mà quân Đồng minh, nhất là quân Nga thì lại thắng lợi luôn và lấy lại được nhiều thành trì trọng yếu như:

Tháng 2 lấy lại Gorsk, Rostof, Kharkof
Tháng 3 lấy lại Yoff, Virsma
Tháng 7 lấy lại Orel
Tháng 8 lấy lại Belarus
Tháng 9 lấy lại Staline, Chianof Smolensk
Tháng 10 lấy lại Maiopol và các thành khác
Tháng 11 lấy lại Kieb 1
Tháng 12 lấy lại biên thuỳ Balan – Nga

Trong lời diễn thuyết kỷ niệm Cách mệnh Nga, ngày 6-11 dương lịch, Đại nguyên soái Xtalin nói rằng: “Kết quả trong 7 tháng vừa qua, quân đội ta tiến được nơi thì 500 cây số, nơi thì 1500 cây số. Đã giải phóng hơn một triệu cây số vuông đất nước của ta, tức là hai phần ba đất đai tạm thời bị Đức chiếm cứ… Trong một nǎm nay, trên mặt trận Nga, quân phát xít Đức đã tổn thất hơn 4 triệu người, trong số đó, một triệu tư người chết tại mặt trận. Phát xít Đức mất trên 14.000 chiếc tàu bay, hơn 35.000 chiếc xe tǎng, hơn 40.000 khẩu đại pháo…”.

Trong lúc viết bài chào Xuân này, quân Nga đuổi quân Đức chẳng những ra khỏi đất Nga, mà lại vào sâu gần 60 cây số trong nước Ba Lan.

*

*      *

ở Địa Trung Hải, từ Xuân trước đến Xuân này, Minh quân cũng thắng lợi luôn, mà bên Trục cũng thất bại mãi.

Ngày 3-1-1943, đệ 8 quân (1) Anh khởi phản công từ Ai Cập, đệ 19 quân (2) Anh và viễn chinh quân Mỹ đổ bộ tại Marốc và Angiêri. Quân Trục phải bỏ Libi (thuộc địa của ý) mà rút cả ở Tuynidi. Đến trung tuần tháng 5 thì quân Đức và ý hoàn toàn bị đánh tan.

Trong trận đó, bao nhiêu thuộc địa của ý đều mất sạch. Quân Trục tổn thất hơn 95 vạn người. Trong số đó, 37 vạn lính ý, 15 vạn lính Đức, 17 đại tướng và 2 nguyên soái bị cầm tù.

Về khí giới thì quân Trục mất:

Tàu bay, hơn 8000 chiếc
Đại pháo 8100 khẩu
Xe tǎng 2250 cái
Tàu thuỷ 210 vạn tấn

Qua tháng 6, quân Anh, Mỹ đánh vào đảo Xixin của ý. Ngày 17-3 thì đảo ấy đầu hàng.

Trong một thời gian không đầy hai tháng, mà quân Đức và quân ý mất hơn 17 vạn người chết, bị thương và bị cầm tù.

Chiếm được cǎn cứ địa ấy rồi, qua ngày 3-9, Minh quân đổ bộ tại phía nam ý. Cách 5 ngày sau thì nước ý xin hàng. Trừ một bộ phận nhỏ bị Đức ép bắt theo nó, bộ phận lớn quân đội ý với hết thảy hải quân của ý, hơn 100 chiếc tàu binh lớn, bé đều theo Minh quân cả.

Thế là về mặt trận này, Minh quân cũng đại thắng. Mútxôlini phải chạy trốn.

*

*      *

Tại Thái Bình Dương. Tuy Minh quân không có những cuộc đại thắng lợi như các mặt trận kia, nhưng cũng giành được địa vị chủ động, bước qua thế công và khá tiến bộ.

Tại Bắc Thái Bình Dương, từ hôm 12-2-1943, Mỹ bắt đầu phản công, đến cuối tháng 5-1943 lấy lại đảo Marian.

Tại Nam Thái Bình Dương, từ tháng 7 đến tháng 10, Minh quân lấy lại được 6 nơi cǎn cứ tại bán đảo và một nơi cǎn cứ địa tại quần đảo Sokman.

Trong 2 nǎm, tại mặt trận Nam, Nhật mất 1300 tàu bay và 1500 chiếc tàu thuỷ lớn và bé.

Tại Trung Quốc, mùa Xuân trước đến mùa Xuân này, không có đại chiến tranh. Trong tháng 11, 12, tại miền Bắc tỉnh Hồ Nam, nhất là tại Thường Đức đã làm cho giặc Nhật một mẻ mất hồn.

*

*      *

Đoán trước để xét sau, xem sự chuyển biến nói trên, thì chúng ta có thể nói rằng: Xuân này sẽ là một Xuân thắng lợi cho mặt trận phản xâm lược.

Xuân là Xuân chung, vậy chúng ta phải gắng sức công tác thế nào cho Đồng minh hội chúng ta cũng có phần thắng lợi chung của Đồng minh lớn kia.

Vậy xin kết luận vài lời nôm na rằng:

Rót cốc rượu Xuân, mừng cách mạng.
Viết bài chào Tết, chúc thành công!

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số Xuân Giáp Thân.
cpv.org.vn

———————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.