Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Chăm lo bằng cả tấm lòng

Bác Hồ luôn nhắc nhở: “Cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ăn, đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa xuống sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”. Đặc biệt, tại Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Người khẳng định: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân. Cho nên Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta”.

Tình cảm của Bác đối với các tầng lớp nhân dân thật mênh mông bao la, nhưng lại hết sức thiết thực, cụ thể. Ngày 9.12.1961, về thăm quê hương Nghệ An, nói chuyện với những cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm, Bác căn dặn: “Dân không đủ muối, Đảng phải lo. Dân không có gạo ăn đủ no, dân không có vải mặc đủ ấm, Đảng phải lo. Các cháu bé không có trường học, Đảng phải lo… Ngay cả đến tương cà, mắm, muối của dân, Đảng đều phải lo”.

Cho đến những tháng ngày cuối cùng của mình, dù tuổi cao, sức yếu, nhưng sự quan tâm của Bác đối với đời sống của nhân dân vẫn không hề giảm sút. Người vẫn đau đáu một nỗi niềm, mong cho dân ta “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”…

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cần suy ngẫm và thực hiện, những lời Bác dạy đối với việc chăm lo đời sống nhân dân một cách thiết thực nhất. Đặc biệt, phải coi đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của mình và thực hiện nó bằng cả tấm lòng mình.

Diệp Tùng Chy
baobinhdinh.com.vn

Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội

Trong Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán năm 1946, Bác Hồ viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.

Khi bắt đầu truyền bá tư tưởng cách mạng cho dân tộc, Bác đã chọn thanh niên là đối tượng đầu tiên – lực lượng trẻ đầy lòng yêu nước và sẵn sàng hy sinh cho cách mạng. Tháng 6.1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã thành lập “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội”, xuất bản tờ báo Thanh Niên. Năm 1926-1927, Bác trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện, đào tạo hơn 200 thanh niên Việt Nam yêu nước, rồi đưa trở về nước xây dựng phát triển phong trào cách mạng. Bác đã lựa chọn giới thiệu nhiều thanh niên ưu tú đến học tại Trường Đại học Phương Đông, trong số đó nhiều người sau này đã trở thành những cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta.

Nhận rõ vai trò to lớn của thế hệ trẻ, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong ngày khai trường đầu tiên, Bác đã gửi gắm niềm tin yêu của mình vào thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Ngày 17.8.1947, trong “Thư gửi các bạn thanh niên”, Bác viết: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị tương lai đó”. Đến thăm đơn vị thanh niên xung phong làm đường trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác đã khuyên thanh niên: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”.

Thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, muốn xứng đáng vai trò làm chủ thì phải học tập. Vì vậy, Bác rất quan tâm đến việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ của thanh niên. Bác chỉ rõ: “Nhiệm vụ chính của thanh niên, học sinh là học. Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh tức là để làm trọn nhiệm vụ người làm chủ nước nhà”. Và, “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà, phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”.

Trước lúc đi xa, Bác đã căn dặn: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Hà Nhiên
baobinhdinh.com.vn

Mùa xuân là Tết trồng cây

Mùa xuân năm 1960, Bác Hồ khởi xướng Tết trồng cây. Người phát động “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Từ đó tới nay, cứ mỗi độ xuân về, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, nhân dân cả nước lại nô nức thực hiện Tết trồng cây theo lời kêu gọi của Bác Hồ.

Tết trồng cây mở đầu cho năm sản xuất mới, tạo ra phong trào trồng cây gây rừng và chăm sóc, bảo vệ rừng sâu rộng trong cả nước, đem lại những lợi ích thiết thực về kinh tế, xã hội và môi trường. Nét đẹp truyền thống của Tết trồng cây nhắc nhở chúng ta ý thức giữ gìn môi trường sinh thái, làm cho đất nước ngày càng xanh. Sau mỗi Tết trồng cây, đất nước có thêm hàng trăm triệu cây xanh, mang lại lợi ích nhiều mặt, góp phần điều hòa khí hậu và tô đẹp cảnh quan đất nước.

Những diễn biến phức tạp của khí hậu, thời tiết và thiên tai bão lụt liên tiếp xảy ra những năm gần đây, gây thiệt hại to lớn về nhiều mặt cho đời sống, dân sinh, có nguyên nhân từ nạn phá rừng, làm suy giảm diện tích cây xanh, tàn phá môi trường sinh thái. Điều đó đặt ra nhiệm vụ cấp bách là phải tổ chức trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Tổ chức Tết trồng cây, thực hiện thật tốt lời dạy của Bác Hồ là dịp để các địa phương, hộ nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, thay cây có giá trị kinh tế thấp bằng các loại cây trồng có giá trị và hiệu quả kinh tế cao, hình thành các vùng trồng cây hàng hóa theo chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Các địa phương, cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về mục đích, ý nghĩa của Tết trồng cây, trồng rừng và bảo vệ phát triển rừng.

Tết trồng cây là một nét đẹp văn hóa có ý nghĩa kinh tế – xã hội và giá trị nhân văn sâu sắc. Từ nhiều năm trước Tết trồng cây đã trở thành một mỹ tục trong đời sống xã hội ở đất nước ta. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tập quán tốt đẹp này đã không còn được duy trì như trước là một điều rất đáng tiếc.

Hiện nay cả nước ta đã và đang tiếp tục hưởng ứng và tích cực thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Việc học và làm theo Bác để “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân” là rất thiết thực và rất có ý nghĩa.

Duy Bình
baobinhdinh.com.vn

Đảng viên tốt thì Đảng mới mạnh

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do đảng viên đều tốt”. Do đó, phải đặc biệt chú trọng việc giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Trong Di chúc để lại trước lúc đi xa, Người đã đặc biệt nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải gìn giữ Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Người đã nêu ra những nguyên tắc cơ bản để định hướng cho việc tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Một là, lời nói phải đi đôi với việc làm, phải nêu gương về đạo đức cách mạng, theo đó “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”. Hai là, phải thực hiện tự phê bình và phê bình ở chi bộ một cách thành khẩn, trung thực, thẳng thắn và dũng cảm. Người cho rằng muốn thành người cán bộ, đảng viên tốt phải có tinh thần tự phê bình và phê bình cao. Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không kiên quyết sửa nó đi. Ba là, phải rèn luyện, tu dưỡng và nâng cao đạo đức cách mạng suốt đời mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mỗi người cán bộ, đảng viên, phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức như việc rửa mặt hằng ngày; đây là công việc phải làm kiên trì, bền bỉ suốt đời. Theo Người: Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Cho nên việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên phải được thực hiện trong suốt cả cuộc đời.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, để cho mọi đảng viên đều có phẩm chất, đạo đức tốt; chi bộ luôn luôn trong sạch vững mạnh thì phải thường xuyên làm tốt  công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó xuất phát từ vai trò của Đảng, bởi “Đảng ta là một Đảng cầm quyền”. Chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh không ngoài mục đích nào khác là nhằm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức.

Minh Phương
baobinhdinh.com.vn

Bác Hồ với công tác cán bộ

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, do đó Đảng phải đặc biệt chú trọng việc đào tạo cán bộ để có một đội ngũ cán bộ tốt. Người dạy “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Và chỉ rõ: “Không phải vài ba tháng hoặc vài ba năm mà đào tạo được một cán bộ tốt. Cần phải công tác, đấu tranh, huấn luyện lâu năm mới được”.

Đặc biệt, trong vấn đề đánh giá cán bộ, Người chỉ rõ “chẳng những xem xét công tác của họ, mà còn phải xem xét các sinh hoạt của họ. Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không. Chẳng những xem xét họ đối với ta như thế nào, mà còn phải xem xét họ đối với người khác như thế nào… Không nên chỉ xem công việc của họ trong một lúc, mà phải xem cả công việc của họ từ trước đến nay… Trong thế giới, cái gì cũng biến hóa. Tư tưởng của người cũng biến hóa. Vì vậy cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hóa…”.

Đối với việc lựa chọn, bố trí cán bộ, Người dạy: “Người đời ai cũng có chỗ hay, chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được! Nếu không biết tùy tài mà dùng người chẳng khác gì thợ rèn bảo đi đóng tủ, thợ mộc bảo đi rèn dao. Thành thử cả hai người đều lúng túng. Nếu biết tùy tài mà dùng người, thì hai người đều thành công”.

Mặt khác, Bác hết sức quan tâm việc cất nhắc, đề bạt cán bộ. Bác nói, cất nhắc, đề bạt cán bộ là “vì công tác, vì tài năng”. Nếu vì “lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang” thì nhất định không ai phục, mà lại gây nên mối lôi thôi trong Đảng”, là “có tội với Đảng, có tội với đồng bào”.

Theo Bác, đối với cán bộ, chẳng những phải xem xét kỹ trước khi cất nhắc, đề bạt, mà sau khi đã cất nhắc, đề bạt vẫn phải tiếp tục giúp đỡ họ… Khi họ mới có dấu hiệu sai lầm, khuyết điểm là phải chấn chỉnh ngay, đừng để sai lầm, khuyết điểm trở nên to tát, rồi mới đem ra “chỉnh”…

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ là những bài học vô giá, những “nguyên tắc vàng” đối với các cấp ủy Đảng và những người trực tiếp làm công tác cán bộ.

Nguyên Hiền
baobinhdinh.com.vn

Sửa đổi lối làm việc với dân

“Sửa đổi lối làm việc” là tác phẩm được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947. Theo nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu “Có thể coi “Sửa đổi lối làm việc” là sự tiếp bước nối dài nhằm hiện thực hóa những mục tiêu, nguyện vọng được đề cập trong “Tuyên ngôn độc lập” ”.

“Sửa đổi lối làm việc” thực chất là sửa đổi lề lối quan hệ với nhân dân. Chính vì vậy, tư tưởng “dân là gốc”, dân làm chủ toát lên từ mọi khía cạnh, mọi nội dung được đề cập trong “Sửa đổi lối làm việc”. Trong tác phẩm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nhân dân là đối tượng trọng tâm của việc sửa đổi lối làm việc. Với năm nội dung chủ yếu như sau:

Cán bộ, đảng viên trước hết phải có lòng tin vào quần chúng nhân dân. Người căn dặn “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”, và phải biết dựa vào ý kiến của dân chúng để chỉnh sửa cán bộ và tổ chức, từ đó không ngừng nâng cao năng lực phục vụ nhân dân.

Cán bộ, đảng viên phải học quần chúng. Người cho rằng, “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng” nên chúng ta phải học, phải hỏi, phải hiểu dân chúng. Người cảnh báo: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng…”

Cán bộ, đảng viên phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với dân. Người nhấn mạnh. “Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình,… còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình”. Có dân chủ, mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến, tạo không khí hăng hái thi đua rộng khắp.

Cán bộ, đảng viên nói và làm gì nội dung cũng phải thiết thực với dân, xuất phát từ lợi ích của dân. Người căn dặn: “Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng… Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”.

Cán bộ, đảng viên đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của quần chúng song tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Người chỉ rõ “Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiên tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu”. Cán bộ, đảng viên lắng nghe ý kiến của quần chúng, song không phải dân nói gì cũng nhắm mắt nghe theo, mà phải biết chọn lựa, vận dụng những ý kiến tích cực, tiến bộ vào công việc, để phục vụ dân tốt hơn.

“Sửa đổi lối làm việc” thực sự là một cuốn cẩm nang quý báu, về phong cách, lối làm việc của toàn bộ hệ thống chính quyền và mỗi cán bộ, đảng viên. Thực hiện thật tốt các lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta sẽ xây dựng được Đảng trong sạch, vững mạnh.

Lê Tùng
baobinhdinh.com.vn

“Trung với nước, hiếu với dân”

“Trung với nước, hiếu với dân” là một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Theo Người, dù mục tiêu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng  khác nhau, nhưng yêu cầu về trung, hiếu luôn nhất quán. Vì vậy, trong suốt quá trình xây dựng Đảng, lãnh đạo cách mạng, Người thường xuyên quan tâm tới việc nâng cao tinh thần trung, hiếu ở mỗi người dân Việt Nam yêu nước nói chung, cán bộ, đảng viên nói riêng, và đòi hỏi họ phải luôn ghi sâu trong lòng những chữ “trung với nước, hiếu với dân”.

Đảng ta được thành lập, Người luôn nhắc nhở: “Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân. Bác nhấn mạnh: “Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân”. Khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn dân vừa kháng chiến vừa kiến quốc, dù ở đâu, làm gì, Người cũng chỉ tâm niệm một điều rằng: “Đảng ta là Đảng cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”, “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân”…  Vì vậy, Người luôn chỉ rõ cho mọi người thấy và hiểu rõ vấn đề cốt lõi của đạo đức cách mạng là: Việc gì  lợi cho dân phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân phải hết sức tránh.

Đặc biệt trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Người đã nêu tấm gương sáng về lòng “tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Lòng trung, hiếu ở Người là nhất quán, trước sau như một. Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, hướng tới mục tiêu độc lập cho Tổ quốc, cơm no áo ấm cho đồng bào, Người đã vượt qua bao khó khăn, thử thách. Trong lao tù của bọn thực dân, đế quốc, lòng kiên trung bất khuất, quyết tâm giải phóng dân tộc, cơm no áo ấm cho đồng bào càng  được bồi đắp thêm. Khi đất nước giành được độc lập, Người “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào”, không muốn “dính líu gì với vòng danh lợi” mà “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

“Trung với nước, hiếu với dân” trong giai đoạn hiện nay trước hết là trung thành với con đường cách mạng  mà Đảng ta và Bác Hồ đã chọn, là trung thành với sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; là sự thể hiện lương tâm và trách nhiệm của mỗi người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Hà Sơn
baobinhdinh.com.vn

Nâng cao vai trò của phụ nữ

Đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ nữ. Vì vậy, chỉ hơn 8 tháng sau khi Đảng ta ra đời, Hội Phụ nữ chính thức được thành lập.

Là người thực hiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, Bác Hồ đã gắn cuộc đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ với cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Người nói: “Phải kính trọng phụ nữ, chúng ta làm cách mạng để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau”. Người coi sự tiến bộ của xã hội là điều kiện để thực hiện quyền bình đẳng, tự do toàn diện cho phụ nữ. Do đó, bản thân phụ nữ cũng phải cố gắng vươn lên: “Phụ nữ càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm. Đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước có quyền bầu cử và ứng cử”.

Trong dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bác khẳng định sự đóng góp của chị em phụ nữ qua các phong trào “năm tốt”, “ba đảm đang” trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là kế tiếp truyền thống của dân tộc: “Hội phụ nữ mới 20 tuổi, nhưng truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam ta đã có gần 2.000 năm… Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”.

Nhận rõ công lao của phụ nữ, Người luôn dành cho phụ nữ sự quan tâm sâu sắc. Người thường xuyên động viên và chia sẻ cùng chị em những khó khăn, vất vả trong cuộc sống, những đau buồn mất mát trong chiến tranh. Cho đến trước lúc đi xa, Người còn căn dặn: “Phụ nữ ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo”. Tư tưởng đó của Bác chứa đựng cả một định hướng lâu dài về công tác cán bộ nữ của Đảng và Nhà nước ta.

Những lời dạy của Bác về công tác cán bộ nữ đã được Đảng và Nhà nước ta quán triệt nghiêm túc, thể hiện trong đường lối lãnh đạo của Đảng, trong công tác phụ vận. Đặc biệt, từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, vai trò, vị thế của người phụ nữ ngày càng được nâng cao.

Quang Tuyên
baobinhdinh.com.vn

Luôn tự học tập, tự rèn luyện

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ luôn luôn nêu cao tinh thần tự học tập, tự rèn luyện. Người nói: “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình”.

Theo Bác, mỗi cán bộ, đảng viên phải hiểu rõ mục đích học tập để xác định động cơ học tập cho đúng đắn “Học để làm gì? Học để sửa chữa tư tưởng… Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng… Học để tin tưởng… Học để hành”. Bản thân Người luôn xác định cho mình mục đích học tập là tìm con đường cứu nước, cứu dân, làm cho Tổ quốc được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc ai cũng được học hành, ai cũng được hạnh phúc.

Để nâng cao kiến thức, Bác chỉ rõ, mỗi người cần biết cách tận dụng triệt để những điều kiện, phương tiện để học tập. Theo phương châm: Học ở mọi nơi, học ở mọi lúc, trong việc lớn cũng như trong việc nhỏ, khi thành công cũng như khi thất bại. Người chỉ rõ: “Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”. Theo Người, thực tế là một trường học sinh động, là nơi để “hành” những cái đã học. Đó chính là học phải đi đôi với hành để áp dụng những kiến thức đã học vào công việc. Học mà không làm được thì học mấy cũng vô ích.

Học tập tấm gương tự học tập, rèn luyện của Bác Hồ, mỗi chúng ta tự nhận thức sâu sắc rằng phải tự học tập với thái độ nghiêm túc, tự học hỏi, với tinh thần, thái độ “Học thật, kiến thức thật” để ngày càng nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó.

Thường Văn
baobinhdinh.com.vn

Loại trừ “kẻ địch ở trong lòng”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng và người cách mạng có ba kẻ thù phải đương đầu và phải chiến thắng; đó là chủ nghĩa tư sản và bọn đế quốc, thói quen và truyền thống lạc hậu, chủ nghĩa cá nhân. Trong đó, chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm”, là “kẻ địch ở trong lòng”.

Trong bài viết: Chủ nghĩa cá nhân (năm 1948) Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ ra các bệnh tật của chủ nghĩa cá nhân được biểu hiện như sau: “Ngày thường, thì kỷ luật kém. Khi có vấn đề nghiêm trọng, thì hoang mang. Lúc tính toán công việc, thì đặt lợi ích của cá nhân mình, của nhóm mình lên trên lợi ích chung. Bệnh ấy dễ đưa đến chỗ trái kỷ luật, trái lợi ích của dân tộc”.

Người coi chủ nghĩa cá nhân là bệnh chính, là thứ “vi trùng” sinh ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm khác. Đó là bệnh quan liêu, bệnh tham nhũng, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, bệnh “hữu danh, vô thực”, bệnh cận thị – không trông xa, thấy rộng, bệnh tị nạnh, bệnh xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh.

Do đó, theo Bác muốn tẩy sạch bệnh ấy “cần phải nâng cao trình độ giác ngộ của mình, phải học theo cái tinh thần kiên quyết, dũng cảm, hy sinh của nhân dân và của chiến sĩ”, phải “thực hành tự phê bình và phê bình đồng sự mình. Phê bình một cách thiết thực mà thân ái. Phê bình từ cấp trên xuống và từ cấp dưới lên. Phê bình nhau và giúp nhau sửa chữa”. Đối với cán bộ, đảng viên: “Phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết” và “Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải vào sâu dân chúng, vào sâu bộ đội. Hỏi ý kiến và hỏi sáng kiến của quần chúng. Gom góp kinh nghiệm của quần chúng để giải quyết các vấn đề, và trao đổi những kinh nghiệm mới cho cơ quan khác, địa phương khác”.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước ta đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong hệ thống chính trị. Để cuộc đấu tranh đạt kết quả mong muốn, trước hết phải bắt đầu từ phòng, chống chủ nghĩa cá nhân. Vì chủ nghĩa cá nhân sinh ra bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Duy Ngôn
baobinhdinh.com.vn

Cách mạng Tháng Tám – thắng lợi của đường lối chiến lược, sách lược chủ động và sáng tạo của Đảng

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới do giai cấp công nhân lãnh đạo giành được thắng lợi, góp phần cùng Đồng minh dân chủ quốc tế đánh bại chủ nghĩa phát-xít, kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, đem lại hòa bình cho toàn thể nhân loại. Cách mạng Tháng Tám còn góp phần tích cực vào phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa, mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến Cách mạng Tháng Tám thành công là do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đứng trên lập trường giai cấp công nhân, vận dụng một cách sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh Việt Nam, nêu cao ngọn cờ độc lập dân tộc, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc và dũng khí đấu tranh anh hùng, bất khuất của nhân dân Việt Nam. Nói cách khác, là do Đảng ta đã biết kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn tính giai cấp với tính dân tộc của cuộc cách mạng.

Do chưa nhận thức được tính tất yếu trong mối quan hệ giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc của Cách mạng Tháng Tám nên một số học giả nước ngoài đã không thấy hết vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng, cuộc cách mạng này nổ ra là do có “sự ăn may”, do lúc đó ở Đông Dương có “khoảng trống quyền lực” (Pháp chạy, Nhật hàng, quân Đồng minh chưa tới) nên Việt Minh mới dễ dàng giành thắng lợi. Một sự thật hiển nhiên mà nhiều nhà khoa học đã chứng minh là, trong hơn 80 năm đấu tranh chống thực dân Pháp, hàng chục cuộc đấu tranh vũ trang oanh liệt của nhân dân Việt Nam nổ ra nhưng vẫn chưa giành được thắng lợi. Nguyên nhân chủ yếu là do các cuộc đấu tranh đó chưa có một giai cấp tiền phong lãnh đạo, chưa có lý luận cách mạng soi đường, cũng như chưa có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, đủ sức giành thắng lợi trước những kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phát-xít. Nhưng, còn một sự thật lịch sử nữa phải được làm rõ là, muốn đưa cách mạng đến thành công, không chỉ cần có một Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo mà còn cần có một đảng biết vượt qua bao thử thách, gay go, khắc phục những sai lầm, khuyết điểm, rút ra những bài học kinh nghiệm để từng bước hoàn thiện đường lối chiến lược và sách lược. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác nhận, để đi đến thành công của Cách mạng Tháng Tám, Đảng phải trải qua ba cuộc vận động cách mạng khó khăn, gian khổ. Đó là:

– Cuộc vận động những năm (1930 – 1935), mà đỉnh cao là phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), tiếp theo là giai đoạn khủng bố trắng và thoái trào cách mạng (1932 – 1935).

– Cuộc vận động những năm (1936 – 1939), với cao trào Mặt trận Dân chủ năm 1938, Đảng lại phải vượt qua tổn thất do cuộc khủng bố của địch gây ra để đi tiếp chặng đường mới.

– Cuộc vận động những năm (1939 – 1945), Đảng đã sáng suốt phát triển cả lực lượng chính trị lẫn lực lượng vũ trang, dấy lên cao trào tiền khởi nghĩa, chủ động nắm bắt thời cơ mới để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Chính nhờ trải qua ba cuộc vận động đó, Đảng từng bước hoàn thiện đường lối chiến lược và sách lược. Điều đó biểu hiện ở một số vấn đề cơ bản sau:

1. Từ chỗ tiến hành song song hai nhiệm vụ phản đế và phản phong, đến chỗ xác định rõ nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc.

Đây là cả một chặng đường chuyển biến nhận thức, đổi mới tư duy không đơn giản. Luận cương chính trị của Đảng tháng 10 năm 1930 nêu rõ: “Sự cốt yếu của tư sản dân quyền cách mạng thì một mặt là phải tranh đấu để đánh đổ các di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bổn và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để, một mặt nữa là tranh đấu để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai mặt tranh đấu có liên lạc mật thiết với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa”. Phong trào đấu tranh của quần chúng năm 1930 – 1931 cũng nổi lên với khẩu hiệu “Đả thực, bài phong”, không chỉ chống đế quốc xâm lược mà còn đả đảo cả “Trí, phú, địa, hào”.

Chuyển sang thời kỳ những năm 1936 – 1939, trước nguy cơ phát-xít, Đảng thành lậpMặt trận Dân chủ Đông Dương nhằm kết hợp đấu tranh dân tộc với đấu tranh dân chủ để chống phát-xít. Điều đó bước đầu tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân, biểu hiện ở cuộc mít tinh đồ sộ với hơn hai vạn người tham dự ở nhà Đấu xảo Hà Nội, ngày 1/5/1938.

Đến giữa năm 1939, cuộc chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ, các nước đế quốc xâu xé lẫn nhau, thời cơ giải phóng dân tộc sẽ đến, Đảng thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm thời hạ thấp khẩu hiệu phản phong. Tại Hội nghị Trung ương 6, họp từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 11 năm 1939, Đảng ta chỉ rõ: “Cách mệnh phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của cách mệnh tư sản dân quyền. Không giải quyết được cách mệnh điền địa thì không giải quyết được cách mệnh phản đế. Trái lại không giải quyết được cách mệnh phản đế thì không giải quyết được cách mệnh điền địa… Hiện nay tình hình có đổi mới. Đế quốc chiến tranh, khủng hoảng cùng với ách thống trị phát-xít thuộc địa đã đưa vấn đề dân tộc thành một vấn đề khẩn cấp rất quan trọng. Đám đông trung tiểu địa chủ và tư sản bổn xứ cũng căm tức đế quốc. Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”(2). Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, một làn sóng cách mạng phản đế đã dấy lên, tiêu biểu là ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, làm rung động bộ máy thực dân.

Tháng 6 năm 1941, Liên Xô tuyên chiến với Đức. Sau đó, Đồng Minh quốc tế chống phát-xít gồm Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ ra đời. Ở Việt Nam, thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần. Đầu năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, chỉ đạo Hội nghị Trung ương 8 (họp ở Pắc Bó, Cao Bằng). Tại Hội nghị này, Đảng đã hoàn thiện thêm một bước nữa việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thay khẩu hiệu “Phản đế” (của Hội nghị Trung ương 6) hay “Phản đế cứu quốc” (của Hội nghị Trung ương 7) bằng khẩu hiệu “Cứu quốc”. Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “Chính sách của Đảng ta hiện nay là chính sách cứu quốc, cho nên mục đích của các hội quần chúng cũng xoay về việc cứu quốc là cốt yếu… Công hội từ nay lấy tên là Công nhân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy những người thợ Việt Nam muốn tranh đấu đánh Pháp – Nhật, lại có thể thu nạp hết cả những hạng cai ký, đốc công trong xưởng mà những công hội trước kia không hề tổ chức. Nông hội từ nay gọi là Việt Nam Nông dân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy nông dân đến cả hạng phú nông, địa chủ muốn tranh đấu đuổi Pháp – Nhật”. Đồng thời, Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương chuyển thành ba mặt trận “cứu quốc” của ba dân tộc Việt, Miên, Lào.

Ở Việt Nam, Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh (tức Mặt trận cứu quốc, gọi tắt là Việt Minh) ra đời. Các đoàn thể cứu quốc phát triển rộng khắp cả ba kỳ. Ngoài Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, còn có Quân nhân (hay binh sỹ, du kích) cứu quốc, Thương gia cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu vong… Như vậy, chiến lược cách mạng ngày càng được hoàn thiện và luôn đi đôi với những sách lược cách mạng mềm dẻo, thêm bạn bớt thù (như thu hút cả cai ký, đốc công, phú nông, địa chủ chống Pháp – Nhật vào Mặt trận cứu quốc). Chiến lược, sách lược đó phù hợp với yêu cầu cách mạng và nguyện vọng của quần chúng nhân dân, được cụ thể hoá trong Chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh. Qua nhiều con đường bí mật và bán công khai, Chương trình thâm nhập vào đại chúng, tạo nên Cao trào tiền khởi nghĩa rộng lớn, rồi dẫn đến Tổng khởi nghĩa thành công (chứ không phải đó chỉ là phong trào “tự phát” của quần chúng như có người đã nói).

2. Thực thi quyền dân tộc tự quyết của ba nước Đông Dương

Quyền dân tộc tự quyết là vấn đề quan trọng trong chiến lược cách mạng và trong quan hệ quốc tế. Từ lâu, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ vấn đề quyền dân tộc tự quyết. Bởi vậy, trong Chương trình tóm tắt của Đảng năm 1930, Người đã nhân danh Đảng Cộng sản Việt Nam công bố vấn đề này. Nhưng quyết định đó không sớm được chấp nhận. Từ Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930, cho đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 tháng 11 năm 1940, Đảng vẫn khẳng định chỉ có một Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo cách mạng của cả ba nước Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao. Đến Hội nghị Trung ương 8, tháng 5 năm 1941, do Người chỉ đạo, Đảng mới quyết định thành lập ba Đảng với ba mặt trận của ba nước như trên đã nói. Nghị quyết Hội nghị khẳng định: “Chiến thuật hiện tại của Đảng ta là phải vận dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân (hơn hết là dân tộc Việt Nam)… Vậy mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay ở Việt Nam là Việt Nam Độc lập đồng minh, hay nói tắt là Việt Minh. Đảng ta và Việt Minh phải hết sức giúp đỡ các dân tộc Miên, Lào tổ chức ra Cao Miên Độc lập đồng minh, Ai Lao Độc lập đồng minh để sau đó lập ra Đông Dương Độc lập đồng minh”. Kèm theo đó là các sách lược mềm dẻo của ba Đảng nhằm tranh thủ được nhiều nhân vật thuộc hoàng gia và thân sỹ yêu nước vào Mặt trận cứu quốc, góp thêm sức mạnh cho cách mạng. Với tinh thần dân tộc tự quyết, sự phát triển song song của cách mạng ba nước Đông Dương từ đó trở đi ngày càng thu được những thành tựu to lớn. Điều đó chứng tỏ, quyết sách chiến lược nói trên là đúng đắn và sáng suốt.

3. Bố trí thế trận cách mạng và sắp xếp lực lượng cách mạng phù hợp với yêu cầu khách quan của lịch sử

Khi tình thế cách mạng có sự chuyển biến mau lẹ, đối tượng cách mạng luôn thay đổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng một cách xuất sắc lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vào nhận thức xã hội Việt Nam để đề ra các quyết sách chiến lược đúng đắn. Đó là nhận thức rõ các mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu trong xã hội, xác định rõ kẻ thù chính, kẻ thù phụ và hậu bị quân của chúng để sắp xếp Tiền phong quân, Hậu bị quân trực tiếp, Hậu bị quân gián tiếp của cách mạng Việt Nam. Cụ thể, lúc đầu mũi nhọn của cách mạng chĩa vào thực dân xâm lược Pháp và tay sai phong kiến. Khi Nhật vào Việt Nam, Pháp làm tay sai cho Nhật, kẻ thù chủ yếu của cách mạng là Pháp – Nhật. Từ năm 1943 trở đi, Nhật ngày càng lấn chân Pháp ở Việt Nam, kẻ thù chủ yếu của cách mạng được xác định lại là Nhật – Pháp. Từ ngày 9/3/1945 (ngày Pháp đầu hàng Nhật) trở đi, kẻ thù chủ yếu của cách mạng chỉ còn là phát-xít Nhật và tay sai. Điều này có tầm quan trọng rất lớn trong việc bố trí thế trận cách mạng và lực lượng cách mạng Từ năm 1943, bên cạnh Mặt trận Việt Minh là lực lượng nòng cốt, Đảng còn thành lập Mặt trận Dân chủ chống phát-xít và tuyên bố gia nhập Đồng minh quốc tế chống phát-xít. Với sách lược này, ở trong nước có thể thu hút được các lực lượng dân chủ chống phát-xít, kể cả Ấn kiều, Pháp kiều, Hoa kiều; ở ngoài nước có thể coi Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc đều là bạn đồng minh. Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương họp từ ngày 25/2/1943  đến ngày 28/2/1943 khẳng định: “Từ Xô – Đức chiến tranh bùng nổ (22/6/1941), cuộc thế giới chiến tranh lần thứ hai này đã tiến lên giai đoạn mới và đã thay đổi tính chất. Nó không còn là đế quốc chủ nghĩa chiến tranh nữa, mà là chiến tranh phát-xít xâm lược và chống phát-xít xâm lược”. Vì vậy, “Muốn cho Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát-xít Nhật – Pháp có thêm vây cánh, chúng ta phải ra sức tìm kiếm các phái đảng chống phát-xít của người ngoại quốc ở Đông Dương và đề nghị với Việt Minh liên minh với họ theo tinh thần bình đẳng và tương trợ đặng chính thức thành lập Mặt trận dân chủ chống Nhật ở Đông Dương” (6). Sách lược này tạo nên thế chính nghĩa cho Việt Minh trong sự nghiệp kháng Nhật, cứu nước. Khi giành được chính quyền từ tay phát-xít Nhật, cách mạng Việt Nam đã có thế hợp pháp là đứng vào hàng ngũ Đồng minh chống phát-xít để ra Tuyên ngôn Độc lập và tiếp đón quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Pháp (Đờ Gôn) và Tàu (Tưởng) – thuộc hàng ngũ Đồng minh chống phát-xít, dù có ý đồ tái xâm lược Việt Nam cũng không thể phủ nhận được chân lý hiển nhiên này.

4. Thực thi phương châm chiến lược “kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang”, tiến từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa

Trong thế trận lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu địch mạnh, cách mạng Việt Nam vừa phát huy truyền thống vũ trang anh hùng, bất khuất của ông cha, vừa vận dụng hình thức đấu tranh chính trị của quần chúng. Hình thức này đã nảy sinh từ cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) và phong trào Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939). Đến cuộc vận động cách mạng những năm 1939 – 1945, hình thức đấu tranh chính trị được vận dụng một cách phổ biến trong đại chúng. Ngoài công, nông, còn vận động được cả tiểu thương, tiểu chủ, cai ký, đốc công… cùng tham gia chống độc tài, phát-xít. Năm 1945, phát-xít Nhật – Pháp tăng cường vơ vét lương thực cho chiến tranh, gây nên thảm họa 2 triệu người Việt Nam chết đói, Đảng đã phát động một cao trào đấu tranh kết hợp chính trị với vũ trang: Mít tinh, biểu tình đòi quyền sống, đi đôi với vũ trang phá kho thóc cứu đói, lập các căn cứ địa và các chiến khu cách mạng, tiến hành khởi nghĩa từng phần, thành lập chính quyền cách mạng địa phương, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc.

5. Nắm đúng thời cơ, kịp thời phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền, ít phải đổ máu

Cách mạng Tháng Tám nổ ra thành công, ít phải đổ máu là do các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã đứng vững trên thế chủ động chiến lược. Đến nay, nhiều người mới rõ, từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự đoán: Năm 1945, cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam sẽ thành công. Chương trình cứu nước của Việt Minh ra đời từ Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5 năm 1941), đã đến tay những chiến sỹ cách mạng ở các địa phương, kể cả sự truyền miệng qua các lao tù. Khi thời cơ đến, khắp nơi đều chủ động đứng lên giành chính quyền địa phương, như các chiến sỹ Ba Tơ đã nổi lên phá ngục tù, lập căn cứ địa cách mạng ngay sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945). Trong Cao trào tiền khởi nghĩa, nhiều xã, huyện và một số tỉnh đã giành được chính quyền trước ngày giành chính quyền ở Hà Nội. Phương châm chiến lược kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nắm đúng thời cơ để nổi dậy đã góp phần quyết định vào việc giành được chính quyền ít phải đổ máu. Đây là cả một cuộc đấu trí, đấu dũng của cách mạng Việt Nam với bọn đế quốc, phát-xít. Nếu cuộc khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, sẽ bị bọn phát-xít Nhật dập tắt; nếu nổ ra muộn hơn – khi quân Đồng minh, trong đó có Anh, Pháp và Tàu (Tưởng) vào, thì cũng gặp khó khăn. Việc Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam nhân danh là người đứng về phía Đồng minh chống phát-xít giành được quyền độc lập, đã nói lên tài vận dụng chiến lược của cách mạng Việt Nam: Nắm đúng thời cơ, nổi dậy kịp thời, giành được chính quyền.

Như trên đã chứng minh, mặc dù có thuận lợi khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan mới là nguyên nhân quyết định sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Đó là do có sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng. Nói cách khác, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối chiến lược, sách lược chủ động và sáng tạo của Đảng.

Theo GS Văn Tạo, Tạp chí Cộng sản
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

“Tự phê bình”

Đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố bản “Tự phê bình” trước toàn thể nhân dân, công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Trong bản tự phê bình này, sau khi nêu lên những công việc làm được trong hoàn cảnh khó khăn, Người tự nhận xét: “Ngoài những việc đó, Chính phủ do tôi đứng đầu, chưa làm việc gì đáng kể cho nhân dân. Tuy nhiều người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch… Người đời không phải là thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi… Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là của tôi”. Cuối bản “Tự phê bình”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tiếp: “Tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, trước hết là những cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ. Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi!”.

Câu chuyện tự phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng về tự phê bình công khai trước Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân những thiếu sót của mình, thể hiện rõ ràng thái độ, mối quan hệ giữa cá nhân với Tổ quốc, với chế độ, với nhân dân. Theo Người, nguyên tắc tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Người khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Ra đời đã cách đây hơn 60 năm, nhưng tư tưởng, quan điểm của bài viết “Tự phê bình” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị. Mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cần noi gương, học tập và làm theo để tự hoàn thiện mình và góp phần xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.

Mạnh Tường
baobinhdinh.com.vn