Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác Hồ với cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên

Hàn vạn người dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ngày 5-1-1946 Ảnh tư liệu
Hàng vạn người dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh 
và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ngày 5-1-1946

Cách mạng Tháng Tám thành công, đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, đưa nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do làm chủ nước nhà. Tuy nhiên, do tình hình lịch sử lúc bấy giờ: Tài chính đất nước thì kiệt quệ, dân trí thì lạc hậu (90% mù chữ), nạn đói hoành hành, thù trong giặc ngoài đang nhăm nhe lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ… Có thể nói vận mệnh của Tổ quốc như “ngàn cân treo sợi tóc”.

Để giữ vững được chính quyền cách mạng, để xây dựng được chính quyền vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cần phải tìm người hiền tài để giúp dân, giúp nước. Do đó, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 14/SL/8-9-1945 về cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên để bầu Quốc hội. Bản Sắc lệnh đã khẳng định yêu cầu bức thiết của Tổng tuyển cử, đồng thời khẳng định chúng ta có đủ cơ sở pháp lý, điều kiện khách quan và chủ quan để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đó. Bản Sắc lệnh gồm 7 điều, quy định: “Trong một thời hạn hai tháng kể từ ngày ký Sắc lệnh này sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu quốc dân đại hội” (Điều 1); “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường” (Điều 2); “Một Uỷ ban để dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được thành lập” (Điều 5); “Để dự thảo một bản Hiến pháp đệ trình Quốc hội, một Uỷ ban khởi thảo Hiến pháp 7 người sẽ thành lập” (Điều 6).

Ngày 16/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ấn định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử. Tuy còn một số cán bộ tỏ ra lo lắng vì trình độ nhân dân ta còn thấp, năng lực tổ chức yếu, kinh nghiệm chưa có, hơn nữa ở miền Bắc bè lũ phản động đang hè nhau phá phách; ở miền Nam tình hình chiến sự đang lan rộng, nhưng với lòng tin tuyệt đối vào nhân dân, Bác vẫn quyết định: “Phải bầu ngay Quốc hội càng sớm, càng tốt. Bên trong thì nhân dân tin tưởng thêm vào chế độ của mình. Trước thế giới, Quốc hội do dân bầu sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận”.

Tiếp đó, Chính phủ lâm thời đã ban hành các Sắc lệnh để xúc tiến công việc chuẩn bị cụ thể cho việc Tổng tuyển cử như: Sắc lệnh số 34/SL ngày 20-9-1945, thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm có: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu; Sắc lệnh số 39/SL ngày 26-9-1945 về thành lập Uỷ ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử gồm 9 người, trong đó có đại diện của các ngành, các giới.

Ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 51/SL quy định thể lệ Tổng tuyển cử gồm 12 khoản, 70 điều. Trong đó, quy định cuộc Tổng tuyển cử phải được tiến hành theo lối phổ thông đầu phiếu bầu cử trực tiếp và bí mật, đồng thời ấn định thời gian Tổng tuyển cử vào ngày 23/12/1945; Sắc lệnh số 71 và Sắc lệnh số 72 để sửa đổi, bổ sung Sắc lệnh 51 về thủ tục ứng cử; bổ sung số đại biểu được bầu cho một số tỉnh để nâng tổng số đại biểu Quốc hội lên 330 đại biểu. Để tạo điều kiện cho những người có quyền ứng cử và có nguyện vọng ứng cử có đủ thời gian ứng cử và vận động tuyển cử.

Với niềm tin vào Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã một lòng ủng hộ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc. Nhiều người có tài, có đức xung phong ra ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Danh sách các cử tri và ứng cử viên được hoàn thành và niêm yết công khai. Quần chúng sôi nổi trao đổi, tranh luận, chất vấn nhằm lựa chọn được những người xứng đáng nhất làm đại diện của mình, hạn chế tới mức cao nhất những phần tử cơ hội lợi dụng dịp Tổng tuyển cử để tranh giành quyền chức. Tại các địa phương, nhân dân ta nô nức kéo về trụ sở chính quyền các tỉnh thành, huyện lỵ mít tinh hoan nghênh Tổng tuyển cử và ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh. Không chỉ ở các tỉnh thành mà ở cả các bản làng xa xôi hẻo lánh cũng nô nức rộn ràng tiếng cồng chiêng cổ động cho Tổng tuyển cử. Hay ở các đất nước như Pháp, Thái Lan, Lào… đồng bào xa xứ của ta cùng mít tinh, hội họp, gửi điện tín, ủng hộ Tổng tuyển cử. Có thể nói cả dân tộc như hừng hực sức sống trước ngày hội của non sông.

Ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Toàn văn như sau:

“Ngày mai mồng 6 tháng giêng năm 1946.

Ngày mai là một ngày sẽ đưa Quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một là phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, Quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã:

Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ,

Kiên quyết chống bọn thực dân,

Kiên quyết tranh quyền độc lập.

Ngày mai dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.

Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.

Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà. Vì lợi chung, quên lợi riêng.

Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc.

Người không trúng cử cũng không nên ngã lòng. Mình đã tỏ lòng hăng hái với nước, với dân, thì luôn luôn phải giữ lòng hăng hái đó. Ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà. Lần này không được cử, ta cứ gắng làm cho quốc dân nhận rõ tài đức của ta, thì lần sau quốc dân nhất định cử ta.

Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

CT HCM thực hiện quyền bầu cử
Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện quyền bầu cử

Ngày 6-1-1946, ngay từ 6 giờ sáng, Hồ Chủ tịch đã xuất hành làm nhiệm vụ công dân của mình ở thùng phiếu số 10 phố Hàng Vôi. Người trình thẻ cử tri, nhận phiếu bầu, ra bàn ngồi ghi rồi gấp phiếu lại ngay ngắn, cẩn thận bỏ vào thùng phiếu. Sau đó, Người đến thăm một số phòng bỏ phiếu ở phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, làng Hồ Khẩu, Ô Đông Mác. Buổi trưa, Người ghé thăm các cháu thiếu nhi đang đi cổ động cho Tổng tuyển cử ở phố Lò Đúc. Quốc hội khóa I đã bầu ra được tổng số đại biểu là 403, gồm 333 đại biểu được bầu chính thức. Bắc bộ có 152 đại biểu, Trung bộ có 108 đại biểu, Nam bộ có 73 đại biểu và đặc thù có 70 đại biểu không thông qua bầu cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh được 98,4% số phiếu bầu. Kết quả này là một bằng chứng về khát vọng độc lập, tự chủ của dân tộc ta và uy tín tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn thể nhân dân Việt Nam. Về thành phần xã hội có trí thức, nông dân, công kỹ nghệ gia, thợ thuyền, buôn bán. Về tuổi tác, từ 18 – 70 tuổi. Thời gian Quốc hội khóa I hoạt động kéo dài đến ngày 15/4/1960. Qua hơn 14 năm đầy thử thách, cam go, Quốc hội đã giành được nhiều thắng lợi to lớn.

Thắng lợi của Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tinh thần yêu nước của nhân dân ta, là dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam, mở ra triển vọng của một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Đã 67 năm trôi qua kể từ mùa xuân năm ấy của ngày hội non sông nhưng giá trị lịch sử và ý nghĩa của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vẫn còn nguyên vẹn như thủa nào, điều ấy đã và đang được các thế hệ kế thừa và phát huy những thành quả mà Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã gây dựng lên.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Hào khí Điện Biên Phủ trên không

12 NGÀY ĐÊM CẢM TỬ (***)

Những người lính phòng không – không quân hôm nay luôn nêu cao khẩu hiệu: Không để Tổ quốc bị bất ngờ từ những tình huống trên không. Với họ, truyền thống của đơn vị anh hùng trong 12 ngày đêm là tài sản tinh thần vô giá.

Sư đoàn Phòng không Hà Nội và Sư đoàn Không quân Thăng Long những ngày này rộn ràng với những phong trào thi đua chào mừng 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không. Đây là 2 đơn vị sở hữu “bảng vàng thành tích” đáng tự hào trong 12 ngày đêm cảm tử.

Bài học vô giá

Trung tá Trương Bảo Anh, Trung đoàn phó Trung đoàn 257, đang làm luận văn thạc sĩ về đề tài “Xây dựng thế trận phòng không Hà Nội trong chiến thắng Điện Biên Phủ trên không”. Trung đoàn 257 chính là đơn vị bắn rơi nhiều máy bay B52 nhất trong chiến dịch 12 ngày đêm. “Tôi say mê những câu chuyện về trận đánh trên không 40 năm trước từ thời còn là học sinh. Sau này, tôi quyết tâm thi vào trường quân đội và trở thành sĩ quan lực lượng phòng không để tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu nhiều hơn về chiến thắng hào hùng của thế hệ cha anh” – ông tâm sự.

Lớp phi công trẻ từng bước làm chủ chiến đấu cơ hiện đại

Tổ hợp tên lửa C300 đời mới của lực lượng phòng không.Ảnh: QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG – KHÔNG QUÂN

Trung tá Bảo Anh cho rằng hào khí Điện Biên Phủ trên không cũng như những bài học của thế hệ cha anh để lại là vô giá. “Đường lối chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không nhân dân vẫn là bài học lớn nhất rút ra được từ chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” – ông nhìn nhận.

Trong luận văn của mình, trung tá Bảo Anh ghi rõ: “Một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến thành công của chiến dịch 12 ngày đêm là quân và dân ta đã xây dựng được một thế trận phòng không hết sức sáng tạo, độc đáo, trở thành yếu tố cấu thành nghệ thuật tác chiến phòng không, góp phần làm nên trường phái của học thuyết quân sự Việt Nam”.

Vị chỉ huy trung đoàn tên lửa anh hùng đúc kết: “Ta đã xây dựng được một thế trận phòng không 3 thứ quân vững chắc và duy trì được sự hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng. Bên cạnh lực lượng phòng không chủ lực, tại Hà Nội, ta đã tổ chức được gần 100 trận địa pháo phòng không tầm thấp và 4 đại đội cao xạ tầm trung, nhiều trận địa được bố trí trên các tòa nhà cao tầng, gần những mục tiêu trọng điểm, đón lõng các đường bay của địch…”.

Hiện đại hóa khí tài, vũ khí

Đại tá Nguyễn Việt Hùng, Phó Chính ủy Sư đoàn Không quân Thăng Long, cho biết: “Vừa qua, Quân chủng Phòng không – Không quân đã tiến hành tổng kết một số trận đánh mà không quân của ta bắn rơi nhiều máy bay Mỹ để đưa vào chương trình giáo dục, giảng dạy cho lớp phi công mới”.

Trong quá trình xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, riêng Sư đoàn Không quân Thăng Long có tới 33 người được tuyên dương anh hùng. Đó là những người đã tô thắm trang sử của sư đoàn được coi là “anh cả” của không quân Việt Nam này. Theo đại tá Hùng, yêu cầu đặt ra trong tình hình hiện nay là phải đổi mới và nâng cao khả năng chiến đấu của đơn vị. Những Mig 17, Mig 19, Mig 21 từng là niềm tự hào của không quân miền Bắc giúp ta lập nhiều chiến công đang dần được thay thế bằng các loại máy bay chiến đấu hiện đại hơn như Su 22, Su 22M4, Su 30MK2 và trực thăng vũ trang. “Với trang bị như hiện nay, chúng tôi đủ khả năng sẵn sàng chiến đấu, cùng với các lực lượng quản lý vững chắc vùng trời, vùng biển đảo và thềm lục địa của Tổ quốc, không để đất nước bị bất ngờ từ những tình huống trên không” – ông Hùng tự tin.

Dù vậy, vị phó chính ủy sư đoàn không quân anh hùng vẫn ưu tư: “Cái thiếu hiện nay là nhân lực, đội ngũ phi công giỏi. Đội ngũ phi công các loại máy bay cũ của chúng tôi từ nay đến năm 2016 sẽ được chuyển loại toàn bộ để có thể vận hành những chiến đấu cơ hiện đại”.

Vũ khí, khí tài phục vụ thế trận phòng không của ta hiện nay cũng đang từng bước được hiện đại hóa. Trung tá Trương Bảo Anh nhìn nhận: “Quan trọng là phải khai thác hết các tính năng, làm chủ khí tài, vũ khí”. Vị chỉ huy trung đoàn 40 năm trước từng lập nên kỳ tích bắn rơi 25 “pháo đài bay” liệt kê các loại tên lửa, tổ hợp tên lửa mà Quân chủng Phòng không – Không quân đang có trong tay và khẳng định: “Chúng ta đủ sức đánh trả bất kỳ âm mưu tập kích đường không nào”.

Tổn thất chưa từng có của Mỹ

Một phi công Mỹ may mắn thoát chết trong chiến dịch Linebacker II (12 ngày đêm) kể lại ác mộng kinh hoàng: “Khi những chiếc B52 đầu tiên tới vùng trời Hà Nội, tên lửa đất đối không bắn như pháo hoa lên máy bay chúng tôi. Từ khi vào mục tiêu, anh bạn xạ thủ đã đếm được 32 tên lửa SAM bắn vào hoặc ít ra cũng bay sát máy bay chúng tôi”.

Qua 12 ngày đêm, từ ngày 18 đến 29-12-1972, có 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó gồm 34 “pháo đài bay”. Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Nixon thừa nhận: “Nỗi lo của tôi trong những ngày ấy không phải là những làn sóng phản đối, phê phán nghiêm khắc ở trong nước và trên thế giới, mà chính là mức độ tổn thất về máy bay B52 quá nặng nề”.

Trong các cuộc chiến tranh, ở những trận tập kích đường không lớn, tỉ lệ tổn thất máy bay của phe tấn công khoảng 1%-2%. Tuy nhiên, trong chiến dịch Linebacker II, tỉ lệ tổn thất máy bay của Mỹ (chỉ tính riêng B52) đã lên tới 17%, một con số chưa từng có.

MẠNH DUY
nld.com.vn

————————-

12 NGÀY ĐÊM CẢM TỬ
Phi đội bay quyết tử
Tuổi trẻ can trường

Xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững mạnh

“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” không chỉ là niềm tự hào mà còn là tài sản vô giá.

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, ngày 19-12, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến thăm cán bộ chiến sĩ thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân.

Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, Chủ tịch nước nêu rõ trong cuộc đối đầu lịch sử với không quân Mỹ 12 ngày đêm, bộ đội Phòng không – Không quân đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cùng toàn quân, toàn dân ta đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của chúng vào Hà Nội, Hải Phòng và một số TP khác.

Trong những năm tới, Chủ tịch nước đề nghị cán bộ chiến sĩ quân chủng làm tốt vai trò tham mưu cho Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng xây dựng các lực lượng phòng không, tạo thành thế trận phòng không nhân dân vững mạnh, rộng khắp, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

l Theo TTXVN, cùng ngày, gặp mặt các đại biểu cựu chiến binh Trung đoàn Thủ đô nhân kỷ niệm 66 năm ngày Toàn quốc kháng chiến (19.12.1946 – 19.12.2012), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định những chiến sĩ quyết tử bảo vệ thủ đô năm xưa mãi mãi là tấm gương sáng để các thế hệ mai sau tiếp bước, noi theo.

Tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” không chỉ là niềm tự hào mà còn là tài sản vô giá của Tổ quốc, cổ vũ động viên quân và dân ta trong bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước hôm nay và mai sau.

B.T.D
nld.com.vn

Tuổi trẻ can trường

12 NGÀY ĐÊM CẢM TỬ (**)

Trắc thủ Nghiêm Xuân Danh và phi công Vũ Xuân Thiều là hai anh hùng tiêu biểu trong chiến dịch 12 ngày đêm được Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tạc tượng đồng. Cả hai người đều đã hy sinh trước khi chiến dịch kết thúc.

Trong quá trình lần tìm những câu chuyện lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không 40 năm trước, chúng tôi không khỏi ngưỡng mộ nhiều biểu tượng tuổi trẻ can trường và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Liệt sĩ Nghiêm Xuân Danh và liệt sĩ Vũ Xuân Thiều là những con người như thế.

Trận địa tên lửa Tiểu đoàn 77, nơi trắc thủ Nghiêm Xuân Danh hy sinh

“Mắt thần” quả cảm

Tốt nghiệp Khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Nghiêm Xuân Danh tiêu biểu cho lớp trí thức trẻ sống mãi với Hà Nội – thủ đô của phẩm giá và lương tri con người như thế giới ca ngợi thời ấy. Tên tuổi của anh trở thành một phần lịch sử Tiểu đoàn 77 – Trung đoàn 257 anh hùng. Khi trận địa tên lửa của ta bị trúng tên lửa, bom bi rải thảm dày đặc, Nghiêm Xuân Danh vẫn bám trụ chiến đấu kiên cường và anh dũng hy sinh ngay trên vị trí quan sát.

Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên phó Ban Tổng kết lịch sử Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ), đánh giá rất cao vai trò của bộ đội ra-đa trong trận chiến sinh tử 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội. “Không có bộ đội ra-đa thì không nhìn thấy mục tiêu mà bắn. Thế nên, công đầu trong chiến thắng vĩ đại này là của bộ đội ra-đa” – đại tá Tích khẳng định.

Ông Phạm Hồng Hà, nguyên trắc thủ cự ly của Tiểu đoàn 77, giải thích: “Tìm diệt B52 trong dải nhiễu cần óc phán đoán và sự tinh nhạy tuyệt vời. Thời ấy, chính các chuyên gia Liên Xô cũng phải ngỡ ngàng với sự sáng tạo của bộ đội Việt Nam”. Theo ông Hà, các trạm ra-đa đặt xung quanh Hà Nội đã kiên trì tìm ra cách bắt đúng dải nhiễu của B52 giữa biển nhiễu trên màn hình, định hướng cho tên lửa hạ tới 34 “pháo đài bay”.

Tìm ra được B52 đã khó nhưng dám phát sóng để định hướng tên lửa tiêu diệt chúng còn khó gấp bội, bởi nếu phát hiện sóng ra-đa, lập tức máy bay địch sẽ phóng tên lửa hành trình tiêu diệt trận địa. Ông Hà cùng các đồng đội: Nghiêm Xuân Danh – trắc thủ kính ngắm quang học TZK, Nguyễn Văn Đức – sĩ quan điều khiển, Đỗ Đình Tân – trắc thủ phương vị, Lưu Văn Mộc – trắc thủ góc tà đã quyết mở máy phát sóng để “bắt” bằng được B52, cũng có nghĩa là họ sẵn sàng chấp nhận hy sinh.

Thời ấy, chàng trai trẻ mới 19 tuổi Nghiêm Xuân Danh được ví như con “mắt thần” quả cảm của đơn vị. Nhờ Danh mà trong nửa đầu chiến dịch, trận địa tên lửa đặt tại Chèm (Từ Liêm – Hà Nội) đã bắn rơi 4 chiếc B52. Khi đó, máy bay F111 của địch liên tục tăng dải nhiễu để bịt mắt ra-đa, các loại máy bay khác thì rú rít trên bầu trời để tìm diệt trận địa tên lửa của ta.

“Danh thường đứng ngay trên “chuồng cu”, mắt hướng thẳng lên trời bằng kính TZK. Danh không rời trạm ra-đa và vị trí chiến đấu nửa bước trong suốt 12 ngày đêm” – ông Hà cảm phục. Trưa 21-12-1972, trận địa tên lửa tại Chèm ven sông Hồng bị địch đánh phá ác liệt. Chòi quan sát TZK của Danh bị trúng bom, người trắc thủ trẻ tuổi anh dũng hy sinh khi cặp mắt vẫn hướng lên bầu trời để quan sát máy bay địch.

Biến mình thành tên lửa

Nghiêm Xuân Danh cùng với phi công Vũ Xuân Thiều là hai liệt sĩ anh hùng tiêu biểu trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972 được Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tạc tượng đồng. Cả hai đều đã hy sinh trước khi chiến dịch kết thúc nhưng tên tuổi của họ còn mãi lưu danh.

Đại tá Trần Cung, lúc ấy là thượng úy – tiểu đội phó tiểu đội bay đêm, bồi hồi cảm xúc khi nhắc đến người đồng đội quá cố Vũ Xuân Thiều: “Thời đó, chúng tôi xác định nếu tiếp cận được máy bay B52, kể cả có hết tên lửa và hỏa lực thì vẫn sẵn sàng biến mình và máy bay trở thành tên lửa diệt cho được “pháo đài bay”. Thiều đã có cơ hội làm điều đó và cậu ấy đã làm đúng như những gì tất cả chúng tôi nghĩ”.

Phi công Vũ Xuân Thiều đã hy sinh sau khi tiêu diệt một máy bay B52. Ảnh: TƯ LIỆU

Trong cuốn sách lịch sử Sư đoàn Không quân Thăng Long, thời khắc phi công Vũ Xuân Thiều hy sinh được ghi lại giống như một bản anh hùng ca: “Đêm 28-12-1972, Vũ Xuân Thiều được lệnh cất cánh từ sân bay Cẩm Thủy. Sở Chỉ huy Thọ Xuân dẫn anh bí mật bay vòng đằng sau đội hình B52. Đến vùng trời Sơn La, Vũ Xuân Thiều gặp địch. Khoảng cách giữa anh và chiếc B52 quá gần nên khi mục tiêu bốc cháy thì máy bay của anh cũng lao vào đám cháy. Anh đã anh dũng hy sinh”.

Tinh thần “Thép đã tôi thế đấy”

Ông Đỗ Đình Tân, nguyên trắc thủ phương vị của Tiểu đoàn 77, người có thời gian dài gần gũi với Nghiêm Xuân Danh từ khi anh nhập ngũ, nhớ lại: “Danh mê văn học Xô viết và có tâm hồn lãng mạn như một nhà thơ. Thỉnh thoảng, cậu ấy còn gửi những bài thơ viết vội ngoài mặt trận về nhà cho người thân”. Cảm phục anh, ông Tân đã giữ gìn kỷ vật là cuốn nhật ký của người đồng đội đến nay. Đưa cho chúng tôi xem một bài thơ của Nghiêm Xuân Danh, ông giải thích: “Tôi cứ nghĩ Danh làm bài thơ này cho người yêu nhưng thực ra, cậu ấy viết cho em trai: Anh tạm xa đất Bắc thân yêu/ Nhận tin anh chớ buồn nhiều em nhé/ Tuổi hai mươi đời còn non trẻ/ Anh vào trận lần này sức khỏe đang lên/ Lòng rộn vui khi vững gan bền/ Như cậu học trò thuộc bài lên bảng”… Danh vẫn chưa một lần biết yêu cho đến tận lúc hy sinh”.

Ông Tân cho biết sách gối đầu giường của Nghiêm Xuân Danh chính là cuốn Thép đã tôi thế đấy của Ostrovsky. “Những câu nói như tuyên ngôn của chàng trai trẻ Paven về lẽ sống luôn được Danh gạch chân. Từ khi vào quân ngũ, Danh luôn sống bằng những lời thề với bản thân: Nguyện chiến đấu và hy sinh để đất nước sớm có ngày hòa bình, im tiếng đạn bom”.

Kỳ tới: Hào khí Điện Biên Phủ trên không

MẠNH DUY
nld.com.vn

Lời thú tội của những kẻ gây chiến

Đúng như tiên đoán của Bác Hồ từ đầu năm 1968, Mỹ đã thất bại và phải cuốn cờ về nước vào cuối tháng 3-1973 sau khi không lực Mỹ thua trên bầu trời Hà Nội bởi một Điện Biên Phủ trên không của quân và dân thủ đô vào cuối tháng 12-1972.

Với những trận đánh của các lực lượng phòng không – không quân ta, pháo đài bay B52 Mỹ trên bầu trời Hà Nội 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 đã bị thiêu xác, chiến dịch Linebacker II bị thảm bại hoàn toàn. Sau đây là những lời thú nhận chính của người cầm đầu Nhà Trắng và những lời kể về nỗi khiếp sợ của những phi công Mỹ sừng sỏ đã tham gia các phi vụ trong chiến dịch Linebacker II này.

Sử dụng B52 là rất sai lầm

Tổng thống R.Nixon thừa nhận: “Ngày 12-12-1972, Mỹ đã hoãn cuộc thương lượng. Tôi đã quyết định như vậy vì Hà Nội buộc chúng ta phải có một bước đi làm thay đổi suy nghĩ của họ. Bằng hành động để chúng ta thuyết phục Bắc VN rằng tốt hơn hết họ nên ký một hiệp định theo các điều kiện của chúng ta hơn là tiếp tục cuộc chiến đấu. Ngày 14-12-1972, tôi đã ra lệnh rải thủy lôi cảng Hải Phòng và cho máy bay trinh sát toàn miền Bắc VN để chuẩn bị ném bom B52 Hà Nội, Hải Phòng. Đó là một quyết định khó khăn nhất mà tôi thực hiện trong thời gian làm tổng thống. Ngày 17-12-1972, tôi ra lệnh bắt đầu chiến dịch thả thủy lôi trên biển và 24 giờ sau, 129 máy bay B52 tiến hành ném bom miền Bắc VN. Trong 12 ngày đêm, chúng tôi ra lệnh cho không quân xuất kích 729 lần bằng B52 và khoảng gần 4.000 lần bằng chiếc tiêm kích bom, ném tất cả 20.000 tấn vào mục tiêu định sẵn”.

Trong quyển Giải phẫu cuộc chiến tranh, TS Grabriel Conco đã vạch rõ sự tuyệt vọng của Tổng thống Nixon: “Mọi người, kể cả không quân Mỹ, đều thừa nhận rằng sử dụng B52 là rất sai lầm. Không quân gây thương vong đáng sợ cho các mục tiêu dân sự, nhưng đồng thời Mỹ phải trả giá chưa từng có”.

Đại úy phi công R.Scott: “Thật đáng kinh hãi…”

Vậy chiến dịch Linebacker II của Mỹ đã diễn ra như thế nào? Đại úy phi công Robert E.Wonfer, lái B52 từ căn cứ Guam – Thái Bình Dương đến Hà Nội, sau này đã kể lại: “Chúng tôi bay trên đường bay quen thuộc của các phi công tiêm kích bom và luôn bị pháo phòng không Bắc Việt theo dõi, 67 chiếc B52 bay dọc theo sông Hồng lên phía Bắc rồi xuống Hà Nội thành một đội hình dài 70 dặm. Tên lửa SAM của Bắc VN phóng dữ dội vào dòng thác B52. Từ lúc bắt đầu cắt bom đến khi vội thoát khỏi mục tiêu, tôi đếm được 36 quả tên lửa SAM phóng vào đường bay của chúng tôi. Bằng cách khéo léo nào đấy, những người điều khiển SAM đã làm các máy bay gây nhiễu điện tử của chúng tôi cho mục tiêu B52 đã bị thất bại. Từng mỗi trận địa phòng không, Bắc VN phóng hàng loạt 6 tên lửa SAM và cho nổ bất cứ đoạn nào trong đội hình của B52”. Còn theo đại úy R.Scott bay trong tốp B52 sau trong đội hình này, “tên lửa SAM bay từng đôi một, đôi sau cách đôi trước chỉ vài giây và đã nổ khá gần khi tôi bay qua. Tôi thấy rõ một quả cầu lửa bùng lên ở phía trước máy bay của tôi rồi lao nhanh xuống như một ngọn đuốc khổng lồ. Tôi đoán đó là một chiếc B52 bị trúng trực tiếp tên lửa SAM. Về sau tôi mới biết đó là chiếc B52G bị bốc cháy. Thật đáng kinh hãi, 4 phi công nhảy dù ra và đều bị bắt”.

Trong đêm đầu của chiến dịch ném bom chiến lược, đã có 7 chiếc máy bay tan xác, trong đó có 3 B52, một số phi công bị thiệt mạng, một số bị bắt, có tên bị mất tích do tan xác theo máy bay. Ngay chiều hôm sau, 19-12-1972, tại câu lạc bộ quốc tế trên đường Lê Hồng Phong (nay là Trung tâm Hội nghị quốc tế), Tổng cục Chính trị – Bộ Quốc phòng VN đã có cuộc họp báo tố cáo tội ác của Mỹ dùng B52 đánh vào thủ đô Hà Nội với sự trình diện của nhiều phi công Mỹ vừa bị ta bắt làm tù binh đêm 18-12.

Đó chỉ mới là 1-2 ngày đầu, càng về sau, cường suất B52 càng tăng và không lực Mỹ càng bị thảm hại. Số máy bay B52 cũng như tiêm kích bom còn rơi rụng ngày càng tăng và dẫn tới chiến dịch Linebacker II hoàn toàn sụp đổ sau 12 ngày đêm. May mắn sống sót trong chiến dịch Linebacker II, mãi đến 5 năm sau, đại úy phi công lái B52 Daren Kawsky đã viết lại trên tạp chí quân lực Mỹ, số tháng 7-1977: “Ôi! Thật hãi hùng, tôi cứ nơm nớp lo sợ mỗi lần lên máy bay để bay đến Hà Nội. Cứ nghĩ đến hình ảnh đồng đội tôi ngồi gục đầu kinh hoàng trước cuộc họp báo ở Hà Nội ngày 19-12-1972 thật khủng khiếp. Tôi may mắn sống sót, nhưng nhiều bạn đã tan xác cùng với máy bay trúng tên lửa Bắc Việt”.

VN được ca ngợi

Với thất bại nặng nề sau 6 ngày khởi sự chiến dịch “rải thảm” B52, ngày 25-12-1972, hãng AP (Mỹ) đã phát tin và cảnh báo: “Đây là ngày thứ sáu liên tiếp của cuộc tấn công chớp nhoáng lớn nhất trong cuộc chiến tranh chống VN. Mỹ đã phải trả giá đắt nhất kể từ khi bắt đầu tấn công bằng không quân ra miền Bắc VN tháng 9-1964. Thiệt hại của Mỹ là nặng nề nhất trong cuộc chiến tranh này”. Với thất bại nối tiếp sau lễ Giáng sinh của không quân Mỹ, chiến dịch này buộc phải kết thúc không kèn, không trống. Ngày 29-12, tổng thống Nixon đã phải hạ lệnh dừng cuộc ném bom này.

Sau này, trong tác phẩm Mỹ ở VN, giáo sư Mỹ Guenter Levy khẳng định: “Chiến dịch Linebacker II là sự thất bại cả về chính trị, quân sự của Mỹ, vì nó không buộc được đối phương đầu hàng. Bắc VN thực tế đã kết thúc cuộc chiến tranh với một hiệp định có lợi cho họ. Sự có mặt của lực lượng vũ trang Bắc VN tại Nam VN được hợp pháp hóa. Chỉ hơn hai năm sau, Bắc VN đã hoàn thành mục tiêu của họ là giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước”.

Thấy ở VN tương lai của loài người

Ca ngợi chiến thắng 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 của quân và dân ta, ông Romet Sandra, nguyên chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới, đã nói: “VN đồng nghĩa với sự vinh quang, lòng dũng cảm và tinh thần quyết thắng. Mỗi lần đứng bên hố bom do đế quốc Mỹ rải xuống VN, chúng tôi nhận ra rằng nhân dân VN không phải hy sinh chỉ vì VN, mà vì cả chúng tôi. Những người anh hùng ngã xuống trên mảnh đất VN là những liệt sĩ của thế giới, vì họ đấu tranh cho cả thế giới, cho cả nhân dân Mỹ. Chúng tôi thấy ở VN tương lai của cả loài người”.

Bùi Đình Nguyên
nld.com.vn

Phi đội bay quyết tử

12 NGÀY ĐÊM CẢM TỬ (*)

Quân chủng Phòng không – Không quân đã bí mật xây dựng phi đội bay đêm gồm những phi công thiện chiến, dũng cảm để đọ sức với không lực Mỹ trên bầu trời Hà Nội trong chiến dịch 12 ngày đêm.

Các cuộc tập kích của “pháo đài bay” B52 đều là những trận tấn công ban đêm. Vì thế, từ cuối những năm 1960, Quân chủng Phòng không – Không quân  (PK-KQ) đã ý thức  rõ: Nếu ta có được lực lượng bay đêm giỏi, máy bay Mỹ sẽ không thể làm mưa làm gió.

Người xuất kích

Năm 1968, 30 phi công tốt nghiệp Trường Không quân Krasnoda – Liên Xô đã được bổ sung biên chế của Trung đoàn Không quân Sao Đỏ. Lúc này, trung đoàn chỉ có 3 đại đội phi công, số máy bay cũng ít ỏi nhưng các chuyên gia bay đêm đã bất ngờ xuất hiện làm máy bay Mỹ nhiều phen khiếp vía.

Chúng tôi tìm đến nhà đại tá Trần Cung trong một ngõ nhỏ trên đường Trường Chinh – Hà Nội. Thời 12 ngày đêm năm 1972, ông Cung là thượng úy, tiểu đội phó tiểu đội bay đêm, nằm trong nhóm những phi công tiêu biểu và có nhiều kinh nghiệm đối đầu “pháo đài bay”.

Với đại tá Cung, đêm mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ trên không đã để lại những ký ức không thể quên được. “19 giờ ngày 18-12-1972, tôi nhận lệnh xuất kích. Ngay sau đó, phi công Phạm Tuân cũng được lệnh sẵn sàng chiến đấu với B52 trên bầu trời Hà Nội. Trước khi vào buồng lái, chúng tôi đều xác định nếu gặp máy bay B52 sẽ quyết hạ bằng được dù phải hy sinh” – ông nhớ lại.

Đại tá Trần Cung kể lại cuộc giáp mặt B52 trên bầu trời Hà Nội đêm 18-12-1972

Trước trận chiến này, ông Cung chưa từng giáp mặt “pháo đài bay”. “Tất cả những gì chúng tôi học được đều chỉ là lý thuyết. Chúng tôi biết B52 không quá đáng sợ nhưng nó được hộ tống bởi rất nhiều máy bay chiến đấu F4. Ngoài ra, nếu gặp B52 thì phải phóng tên lửa ở khoảng cách dưới 15 km và phải bắn ít nhất 2 quả mới tiêu diệt được vì nó có tới 8 động cơ” – ông phân tích.

Ngay trong đêm đầu tiên xuất kích mở màn chiến dịch, phi công Trần Cung đã có cơ hội tiếp cận B52. Ông hồi tưởng: “Tôi đang tìm đánh những tốp B52 thả bom, phá hoại các sân bay xung quanh Hà Nội thì nhận được lệnh từ đài chỉ huy thông báo “pháo đài bay” đang tiến vào trung tâm thủ đô với vận tốc khủng khiếp 1.200-1.400 km/giờ. Khi đó, mục tiêu chỉ còn cách tôi 25 km. Tôi liền mở ra-đa để tên lửa tìm diệt B52. Tuy nhiên, mở ra-đa cũng có nghĩa là tôi tự biến mình thành miếng mồi của dàn máy bay F4 đi xung quanh hộ vệ cho B52”.

Đại tá Cung cho biết vào thời điểm sinh tử ấy, ông chỉ nghĩ đến việc làm thế nào để tiếp cận gần hơn nữa và phóng tên lửa trúng mục tiêu B52. Chỉ 5 giây sau khi phát hiện “pháo đài bay”, chiếc Mig 21 do ông Cung điều khiển đã bám sát phía sau. Ngay lập tức, B52 phát nhiễu dày đặc, đồng thời máy bay F4 phía dưới lao lên quần nhau với chiếc Mig 21 của ông.

Trong cuộc chiến đấu giáp lá cà với F4, ông Cung tránh được nhiều quả đạn và tiếp tục truy đuổi B52 nhưng lại để lỡ thời cơ tiêu diệt “pháo đài bay”. Bởi lúc ấy, chỉ mình ông đơn thương độc mã trong khi tốp B52 lại có hàng chục chiếc máy bay chiến đấu F4 hỗ trợ. “Tôi tiếc đứt ruột vì không hạ được B52 ngay đêm đó. Dù vậy, việc “pháo đài bay” bị Mig 21 truy kích cũng khiến giặc lái Mỹ bị một đòn tâm lý khá mạnh” – ông Cung luyến tiếc.

Không màng trở về

Những người trong phi đội bay đêm quyết tử bí mật ngày ấy sau này đều trở thành phi công giỏi, là lực lượng chiến đấu tinh nhuệ nhất của không quân miền Bắc. Những tên tuổi: Phạm Ngọc Lan, Bùi Doãn Độ, Trần Cung, Phạm Tuân, Vũ Đình Rạng, Hoàng Biểu, Đặng Vân Đình… đều là niềm tự hào của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Theo đại tá Trần Cung, thời điểm đầu của chiến dịch 12 ngày đêm, không quân của ta gặp rất nhiều khó khăn vì cho tới tận ngày 23-12-1972, dù đã nhiều lần xuất kích nhưng Mig 21 vẫn chưa thể tiếp cận được B52. Nhiều phi công của ta không khỏi hoang mang vì cho rằng Mig 21 khó thể tiếp cận và không bắn rơi được “pháo đài bay”. “Những ngày cuối của chiến dịch mới là lúc không quân ta lập công. Ngày 29-12-1972, phi công Bùi Doãn Độ hạ thêm một chiếc F4 – máy bay cuối cùng mà không quân Việt Nam bắn rơi từ ngày mở đầu chiến dịch – khiến Mỹ phải ngừng ném bom hoàn toàn miền Bắc” – ông Cung cho biết.

Với phi đội bay đêm, một khi đã nhận lệnh cất cánh, tất cả đều xác định không màng có thời khắc trở về. Thế nên, những trận chiến trên không của phi đội này cho đến nay đã trở thành huyền thoại được nhắc mãi.

Trước chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, không quân miền Bắc đã có những cuộc thử sức không khoan nhượng với không lực Mỹ. Trong đó, tiêu biểu phải kể đến là trận chiến ngày 8-5-1972, khi Trung đoàn 925 tổ chức xuất kích trận đầu chủ động tấn công địch. Hai biên đội với 4 chiếc Mig 19 đã đánh địch ngay trên bầu trời Yên Bái trong 8 phút, hạ 2/12 chiếc F4 và trở về căn cứ an toàn.

Người đầu tiên hạ “pháo đài bay”

Trước Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều, đã có một phi công khác hạ được B52, dù “pháo đài bay” này không bị rơi tại trận. Đó là ông Vũ Đình Rạng, người mà lịch sử quân sự Mỹ ghi nhận là phi công duy nhất của Bắc Việt đã làm hư hỏng nặng một chiếc B52 khiến nó không thể sử dụng được nữa. Đây cũng là lần đầu tiên, không quân của một nước bắn bị thương được “pháo đài bay”.

Ông Rạng hào hứng: “Ngày 20-11-1971, một tốp B52 xuất hiện trên tuyến lửa Vĩnh Linh, tôi được giao nhiệm vụ truy kích bằng chiếc Mig 21. Chiếc “én bạc” của tôi bay dọc dãy Trường Sơn truy đuổi cùng lúc 3 chiếc B52 đang chuẩn bị rải bom Bình Trị Thiên. Khi còn cách tốp B52 khoảng 15 km, tôi mở ra-đa và reo lên: “Xin cho công kích!”.

Trung tá Trần Hanh, Phó Tư lệnh Không quân, hạ lệnh cho phép công kích. Tôi bèn tăng tốc độ cho chiếc Mig 21 tiếp cận tốp B52. Một chiếc B52 được đưa vào vòng ngắm, vùng phóng đã xuất hiện, tôi nhẩm đếm 1, 2, 3… Đến khi chỉ còn cách dưới 2,5 km, đường ngắm ổn định, tôi bấm nút phóng, một quả tên lửa lao thẳng trúng đích chiếc B52”.

Kỳ tới: Tuổi trẻ can trường

MẠNH DUY
cand.com.vn

Huyền thoại “Điện Biên Phủ trên không”

Khi nói về chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”, Đại tướng Liên Xô Khiupenen Anatoli Ivanovitr cho rằng người Mỹ có thể hủy diệt đất nước Việt Nam nhưng không bao giờ thống trị được con người Việt Nam

40 năm trước, cuộc chiến 12 ngày đêm rực lửa ở Hà Nội (từ  ngày 18 đến 29-12-1972) với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” của quân dân ta đã đánh bại tham vọng xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải trở lại bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Paris. 40 năm sau, những nhân chứng sống của trận chiến thần kỳ đó có dịp tề tựu với nhau trong buổi giao lưu “Hà Nội 12 ngày đêm, chuyện bây giờ mới kể” do Đài Truyền hình TPHCM và Quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức sáng 22-11 để ôn lại một thời đạn bom oanh liệt, hào hùng.

Chủ động bước vào trận chiến

Trong đêm 27-12-1972, phi công trẻ Phạm Tuân đã trở thành người đầu tiên bắn rơi B52 trên không và trở về an toàn. Sự kiện đó đã trở thành niềm tự hào về lòng quả cảm, trí tuệ của lực lượng không quân Việt Nam trong cuộc đối đầu không cân sức với Mỹ. Trung tướng – Anh hùng Lực lượng Vũ trang Phạm Tuân xúc động kể: “Tôi không thể nào quên ngày 19-7-1965, khi đến thăm Trung đoàn 324 bộ đội phòng không – không quân, Bác Hồ nói: “Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền; dù chúng có B57, B52 hay “bê” gì đi nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa, ta cũng đánh. Mà đã đánh là nhất định thắng”. Những lời nói của Bác là điều tôi đã mang theo khi bay trên bầu trời Hà Nội trong trận Điện Biên Phủ trên không”.

Anh hùng Phạm Tuân (bìa phải) trả lời các bạn trẻ trong buổi giao lưu

Anh hùng Phạm Tuân cho biết: Năm 1966, máy bay B52 của Mỹ ném bom đánh phá Quảng Bình, Vĩnh Linh ngày càng dữ dội, Bác Hồ đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông Đặng Tính, Chính ủy Quân chủng Phòng không – Không quân, phải tìm cách đánh cho được B52. Vào một tối mùa xuân năm 1968, khi gọi Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam Phùng Thế Tài lên gặp, Bác đã đưa ra một lời tiên đoán tài tình: “Sớm muộn gì đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định chịu thua nhưng chỉ sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Gần 5 năm sau, lời tiên đoán của Bác thành sự thật khi quân Mỹ ồ ạt mang B52 đánh phá Hà Nội. “Với tầm nhìn xa trông rộng của Bác Hồ, chúng ta đã bước vào cuộc chiến 12 ngày đêm một cách chủ động, đàng hoàng và giành thắng lợi vẻ vang” – Trung tướng Phạm Tuân khẳng định.

Bắt pháo đài bay B52 phải cúi đầu

Một nhân vật khác cũng từng làm cho B52 Mỹ khiếp sợ là ông Đinh Thế Văn, nguyên tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 tên lửa – người chỉ huy bắn rơi 4 máy bay B52. Quay về câu chuyện 40 năm về trước, ông Đinh Thế Văn cho biết B52 được Mỹ cho là một quyền lực bất khả chiến bại và có thể trong vòng 3 ngày đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá. Chúng tuyên bố đánh vào Hà Nội như… đi du lịch, không một thứ vũ khí nào của Việt Nam có thể bắn rơi B52.

Ghi nhớ lời dạy của các bậc tiền bối “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”, ông Văn cùng đồng đội đã dày công nghiên cứu và nắm được tất cả những đặc điểm, tính năng của B52. Chính sự chuẩn bị kỹ lưỡng đó và ý chí, quyết tâm, cách đánh linh hoạt, khéo léo, thông minh mà chúng ta đã biến điều không thể thành có thể: Bắt pháo đài bay B52 của Mỹ rơi lả tả trên bầu trời thủ đô.

Sau 12 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay của Mỹ, trong đó có 34 máy bay B52, 5 chiếc F-111 và 42 máy bay chiến thuật các loại. Trong số 34 máy bay B52 bị tiêu diệt, bộ đội tên lửa bắn rơi 29 chiếc; bộ đội không quân bắn rơi 2 chiếc; bộ đội pháo phòng không 100 mm bắn rơi 3 chiếc. Đặc biệt, trong đêm 26-12-1972, đêm thứ 9 của chiến dịch, quân dân ta đã xuất sắc hạ gục 8 chiếc B52.

Quốc tế khâm phục

Có mặt trong 12 ngày đêm ác liệt ấy còn có nhiều chuyên gia Liên Xô. 40 năm trôi qua, Đại tướng Khiupenen Anatoli Ivanovitr vẫn tràn đầy cảm xúc khi nói về cuộc chiến này: “Hà Nội đổ nát, bầu trời rực lửa. Tôi hết sức kinh ngạc trước cảnh tượng trên và cứ nghĩ Việt Nam không sao chống đỡ nổi”.

Ông Khiupenen Anatoli Ivanovitr hiểu rằng dù được Liên Xô giúp đỡ nhưng hỏa lực của Việt Nam lúc bấy giờ so với Mỹ còn rất khiêm nhường. Bản thân ông cũng không dám tin Việt Nam có thể đánh thắng một trong những lực lượng không quân mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, trong đó B52 chính là biểu tượng của sự hủy diệt.

Đây chính là điều mà ông Khiupenen Anatoli Ivanovitr giữ trong lòng từ ấy đến nay. “Sau khi biết các bạn bắn rơi B52, tôi khâm phục vô cùng ý chí cũng như cách đánh khôn khéo của các bạn. Người Mỹ đã không lường được ý chí và sự thông minh của người Việt Nam. Người Mỹ có thể hủy diệt đất nước các bạn nhưng không bao giờ thống trị được các bạn” – Đại tướng Khiupenen Anatoli Ivanovitr khẳng định. Ông cũng cho rằng “Điện Biên Phủ trên không” đã trở thành huyền thoại, thành biểu trưng cho sức mạnh tinh thần và đoàn kết dân tộc của Việt Nam.

Lời kể của tù binh – phi công

Trung tướng Phạm Tuân đã kể câu chuyện gặp lại viên phi công lái B52 tại nhà tù Hỏa Lò khiến ông nhớ mãi. Lúc đó ông hỏi viên phi công: “Ông suy nghĩ gì khi bay vào Hà Nội?”. Vị sĩ quan trả lời: “Vũ khí của không quân Bắc Việt chúng tôi biết hết, gồm có Mig, Sam và nhiều loại khác. Thậm chí chúng tôi còn diễn tập bằng các loại khí tài này và chúng tôi nghĩ rằng bay vào đánh Hà Nội như là bay luyện tập thôi, vào ném bom thì bay ra”. Trung tướng Phạm Tuân hỏi tiếp: “Vậy giờ ngồi ở đây, ông cảm thấy như thế nào?”. “Đó là vấn đề chúng tôi chưa nghĩ hết và nghĩ cũng không thông. Chúng tôi chưa hiểu hết con người Việt Nam nên giờ chúng tôi mới ngồi ở đây”.

Kỳ tới: Mở đường thống nhất đất nước

Bài và ảnh: PHAN ANH
nld.com.vn

Rồng Thăng Long thiêu cháy “pháo đài bay”

Thất bại trong trận Điện Biên Phủ trên không đã buộc Mỹ ký Hiệp định Paris và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Ngày 18-12-1972, Mỹ đã dùng máy bay chiến lược B52 điên cuồng đánh phá thủ đô Hà Nội. Quân và dân ta đã anh dũng đánh trả, làm nên 12 ngày đêm chiến thắng vang dội Điện Biên Phủ trên không… Để có chiến thắng lịch sử này, bộ đội quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) đã chuẩn bị ngay từ năm 1966 với những cuộc hành quân đón bắn B52 ở Quảng Bình, Nghệ An. Song trước tất cả những điều đó là lời căn dặn của Bác Hồ. Năm 1962, nhân đồng chí Phùng Thế Tài được bổ nhiệm làm Tư lệnh Phòng không, Bác hỏi: “Chú đã biết gì về B52 chưa?”. Và Bác cười độ lượng: “Bác hỏi thế thôi chứ chú có biết cũng chưa làm gì được nó. Nó bay cao trên 10 cây số mà trong tay chú hiện nay mới chỉ có cao xạ thôi. Nhưng ngay từ bây giờ, là tư lệnh bộ đội phòng không, chú phải theo dõi chặt chẽ và nghiên cứu về loại máy bay B52 này” (*).

Người nhấn nút đầu tiên

Đó là Dương Văn Thuận, sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 261 Anh hùng, người ấn nút phóng quả tên lửa đầu tiên bắn rơi một máy bay B52 ngay trên bầu trời Hà Nội trong đêm 18-12-1972, mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ trên không. Cùng là lính quân chủng PKKQ, cùng nhập ngũ một năm 1965, dạo đó tôi đã nghe tiếng anh. Mũi xung kích văn công PKKQ của chúng tôi ngay hôm sau đã đến phục vụ động viên ở tiểu đoàn của anh, nhưng anh cùng tốp trắc thủ phải trực chiến, không được ra xem văn nghệ. Vậy là “văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình” cho đến tận hôm nay. 30 năm đã trôi qua, Dương Văn Thuận “đã có đủ dâu và rể”, nhưng câu chuyện của anh vẫn sống động: Hôm đó là chủ nhật, 18-12, lúc 18 giờ đơn vị báo động lần thứ nhất. Trên màn hình ra đa đã thấy lao xao những tốp máy bay chiến thuật của Mỹ. Đến 20 giờ, ra đa của ta bắt được nhiều cụm nhiễu ở phía Bắc thủ đô. Chỉ huy kíp chiến đấu ra lệnh bám sát dải nhiễu hướng Bắc. Lê Xuân Linh, trắc thủ góc “tà” đọc dõng dạc mỗi lần 5 ly giác: 320 – 325 – 330… không khí im lặng nhưng sôi sục, hồi hộp căng người. Đến phương vị 3500, góc tà 340, mục tiêu 25 km, Dương Văn Thuận nhấn nút phóng. Một giây, hai giây… tên lửa nổ. Mục tiêu mất tăm… Bên ngoài, trắc thủ PA00 trên đài ăng-ten reo lớn: “Cháy rồi thủ trưởng ơi… cháy rồi…”. Trong xe chỉ huy, trắc thủ, sĩ quan điều khiển ôm nhau reo hò.

Chiến công của Tiểu đoàn 59 còn tạo nên một sự trùng hợp vi diệu: Trung đoàn của anh Thuận có mật danh “Thành Loa”, đóng trận địa ở Cổ Loa (huyện Đông Anh, Hà Nội). Ngày xưa, nơi đây An Dương Vương dùng nỏ thần, tên tre để đánh đuổi kẻ thù, nay đơn vị của anh dùng tên lửa bắn rơi “pháo đài bay” B52 của Mỹ.

Vạch nhiễu tìm kẻ thù

Phải bắn rơi tại chỗ (trong đất liền hoặc ở ngay Hà Nội). Phải nhặt được mảnh xác B52 và bắt được phi công để có nhân chứng vật chứng về sự điên cuồng, dã man của kẻ thù. Đó là quyết tâm của lực lượng PKKQ của ta khi đó. Tuy nhiên, quyết tâm này lại chưa được những sĩ quan cố vấn tên lửa Liên Xô “thông”. Theo các cố vấn thì nguyên tắc sát thương của tên lửa là bằng mảnh, còn máy bay B52 (thân 47 mét, sải cánh 56 mét, có 8 động cơ) bay ở độ cao 10 km, có bị cháy thì nó cũng rơi lạng ra biển hoặc ngoài biên giới nước ta. Về lý thuyết, điều này có cơ sở.

Đại tá Lê Cổ, nguyên sĩ quan huấn luyện chiến đấu tên lửa, cán bộ nghiên cứu đánh B52, cho biết: Để thực hiện quyết tâm của Bộ Tư lệnh PKKQ, chúng ta phải giải quyết được hai việc, đó là chọn hướng tập kích chủ yếu của B52 đánh vào Hà Nội và phải “lách” qua vòng nhiễu để bắn khi không có tín hiệu B52 trên màn hiện sóng. Chọn hướng đúng để bố trí đội hình, phát huy hỏa lực là việc đã có đủ niềm tin qua tình báo, nghiên cứu thực địa. Nhưng còn khó khăn thứ hai là phải chứng minh được thông qua những công thức rất phức tạp có liên quan đến toán học, cơ học, điện tử. Không kể hàng đàn máy bay chiến thuật hộ tống và gây nhiễu “tiêu cực”, bản thân B52 lại có hệ thống gây nhiễu rất mạnh khiến cho trên màn hiện sóng ra đa của ta không thấy được tín hiệu B52. Phương pháp bắn của ta là: Chọn dải nhiễu dọc của chính B52 để xác định B52 và thu nhiễu nó để bắn nó. Khẩu hiệu đặt ra là vạch nhiễu tìm thù. Rất nhiều trận, khi B52 vào đến 20 km tín hiệu vẫn mờ và phải là trắc thủ giỏi mới nhìn thấy để có thể đưa đúng “tim nhiễu” mà phát hỏa. Phải có kỹ thuật thành thục để bắn trúng và lòng dũng cảm để vô hiệu được những quả tên lửa không đối đất của kẻ thù, bám theo cánh sóng ra đa, bắn vào trận địa. Cán bộ và chiến sĩ tên lửa của ta đã có đủ cả hai phẩm chất đó. Kết quả trong 12 ngày đêm của chiến dịch, tên lửa ta bắn rơi 29 chiếc B52 (trên tổng số 34 chiếc), trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ, chiếm tỉ lệ 55%. Một con số chưa có trong lịch sử chiến tranh thế giới.

Hai quả đạn diệt hai B52

Để đánh thủ đô Hà Nội, trong 12 ngày đêm (từ 18 đến 29-12-1972), Mỹ đã huy động  663 lần chiếc B52, cùng với 3.920 lượt máy bay chiến thuật. Có đêm riêng trên bầu trời Hà Nội, ta đã phóng tới hơn 100 quả tên lửa. Để có đủ đạn, ta đã mạnh dạn cải tiến lắp đạn trên xe TZM thay cho xe TCT là xe có khung cứng để đảm bảo đồng trục cho quả đạn; cấp tốc điều hai trung đoàn tên lửa 263 và 267 từ khu 4 ra Hà Nội. Yêu cầu đặt ra lúc ấy là phải hết sức tiết kiệm đạn, chỉ dành đạn để đánh B52; càng ít đạn càng phải đánh giỏi, đánh trúng. Tiểu đoàn tên lửa phòng không do đồng chí Nguyễn Văn Phiệt chỉ huy là đơn vị thực hiện xuất sắc yêu cầu này. Khi B52 tiếp tục vào đánh Hà Nội, trên bệ phóng của tiểu đoàn chỉ còn có 2 quả đạn. Nhưng bằng chính hai quả đạn này, đồng chí Phiệt đã ra lệnh phóng “mổ cò” mỗi lần một quả và tiểu đoàn của anh đã bắn rơi hai chiếc B52, trong đó có một chiếc rơi ngay chợ Thả, gần Núi Đôi, Đa Phúc (Vĩnh Phúc).

Sau cái đêm mở màn chiến thắng, liên tiếp chiến công tiếp chiến công: Đêm 19, ta bắn rơi 2 chiếc B52, 5 chiếc máy bay chiến thuật. Đêm 20-12: 7 chiếc B52, 8 chiếc máy bay chiến thuật. Đại tá Lương Đình Mậu, nguyên cán bộ tác chiến PKKQ, nhớ lại: “Không bao giờ tôi có thể quên được cảm xúc của mình về đêm 19-12 năm ấy. Những vệt tên lửa bay vút lên trong trời đêm Hà Nội và B52 bùng cháy như một bó đuốc; rồi tiếng của ai đó tường thuật trên đài: Rồng, Rồng Thăng Long xuất kích. Sao mà đúng quá, cảm động quá. Dương Văn Thuận nói.

Bằng chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, quân và dân ta đã đập tan ý chí xâm lược của giặc Mỹ, đập tan mưu đồ thôn tính và kéo dài cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ. Thất bại trong cuộc tập kích hủy diệt Hà Nội, đã hạ uy thế quân sự của Mỹ, là “giọt nước cuối cùng làm tràn ly”, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris và phải rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam. Quân chủng PKKQ đã hoàn thành xuất sắc lời tiên tri của Bác Hồ, tháng 9-1967: “Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

(*) Những lời của Bác Hồ được dẫn từ sách Nhớ về trận Điện Biên Phủ trên không – Nhà xuất bản TPHCM,  2002

An Bình Minh
nld.com.vn

Công bố nhiều hiện vật về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Công bố nhiều hiện vật về chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”

Hàng chục hiện vật lần đầu tiên được công bố về 12 ngày đêm Mỹ đưa B.52 đánh phá Hà Nội năm 1972 đã ra mắt người xem tại Bảo tàng Lịch sử quân sự VN, trong triển lãm chuyên đề “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, khai mạc chiều 18.12.

Ở triển lãm, những người lớn tuổi sẽ tìm lại được ký ức của chính mình trong những ngày Hà Nội đau thương và anh dũng, còn thế hệ trẻ sẽ lần đầu tiên được tận mặt biết thế nào là chiếc mũ rơm, những mảnh xác máy bay B.52 hay những quả đạn cối từng hạ gục nhiều pháo đài bay của Mỹ.

Triển lãm giới thiệu gần 300 hiện vật, hình ảnh về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Tại triển lãm, có những tài liệu hiện vật lần đầu tiên được công bố. Đó là động cơ máy bay B.52 rơi xuống làng hoa Ngọc Hà; mảnh xác máy bay B.52 đầu tiên bị bắn rơi trên cánh đồng Chuôm (huyện Sóc Sơn, Hà Nội); những hiện vật thu được của phi công lái B.52 như cờ xin ăn, súng bắn pháo hiệu, giày, mũ phi công, hay những hiện vật còn rõ tên của phi công Mỹ, như chiếc thẻ ngân hàng mang tên Charles Brown, một chiếc bật lửa khắc tên H.K. Wilson.

Những mất mát đau thương của người dân Hà Nội cũng được nhắc lại – là chiếc cân trẻ em của trạm xá xã Uy Nỗ, những chiếc áo trẻ em, những chiếc nồi quấy bột ở phố Khâm Thiên… Nhưng những mất mát đó cũng tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Hà Nội vùng lên. Có nhiều hiện vật gắn với tên tuổi những người trực tiếp tham gia chiến đấu, như giản đồ chiến đấu của Anh hùng LLVT Nguyễn Văn Giắng – Binh chủng Radar, bảng bắn của đại đội pháo 100mm khu Đống Đa sử dụng 8 viên đạn bắn rơi một chiếc F.8; nhóm hiện vật của anh hùng Nguyễn Văn Phiệt – tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tên lửa 57 – chỉ huy đơn vị trong 10 phút bắn rơi 2 chiếc B.52 đêm 20.12.1972.

Theo laodong.com.vn

Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Bài 1: Đòn cân não của Mỹ

Lưới lửa của Đại đội 2, Đơn vị quyết thắng pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô bắn rơi máy bay Mỹ. Ảnh: T.LLưới lửa của Đại đội 2, Đơn vị quyết thắng pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô bắn rơi máy bay Mỹ. Ảnh: T.L

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã trở thành thành ngữ tự hào của dân tộc sau trận chiến trên bầu trời Hà Nội do đế quốc Mỹ phát động với âm mưu muốn “Hà Nội phải quỳ gối”. Lùi lại 40 năm, việc nhìn nhận cuộc chiến lịch sử này liệu có gì thay đổi? Liệu có bí mật gì mà bây giờ mới được nhắc tới?

Nếu các nhân chứng lịch sử bây giờ mà không hé lộ, thì càng về sau sẽ càng khó, bởi sự khắc nghiệt của thời gian, họ sẽ lần lượt ra đi. Trong chuyên đề này, chúng tôi sẽ cố gắng trả lời phần nào đó cho một số câu hỏi được đặt ra.

Bài 1: Đòn cân não của Mỹ

Ngày 14.12.1972,  tại Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Nixon khẳng định: “Sẽ sử dụng B.52 rải thảm bom vào Hà Nội để vừa hủy diệt vừa uy hiếp và bắt Hà Nội phải quỳ gối xin ký hiệp định do ta đưa ra”. Nhưng cuối cùng, thay vì “Hà Nội phải quỳ gối…”, chính đế quốc Mỹ đã phải chấp nhận ký Hiệp định Paris với những điều khoản mà chúng ta đưa ra.

Nhận định thiên tài của Bác Hồ

Cuối tháng 11.1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng – khẳng định: Âm mưu của đế quốc Mỹ cho B.52 đánh thủ đô Hà Nội là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy, chúng ta phải cương quyết đánh thắng chúng trên bầu trời thủ đô.

Điều đặc biệt là, không phải đến những tháng cuối năm 1972 nóng bỏng ở trên chiến trường cũng như ở Hội nghị Paris, mà ngay từ đầu xuân 1968, Bác Hồ đã có những nhận định thiên tài. Lúc triệu tập đồng chí Phùng Thế Tài – Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN và đồng chí Đặng Tính – Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân chủng PKKQ – đến báo cáo tình hình, Bác đã nhận định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Nixon: Thế giới nghĩ tôi là người điên rồ cũng được 

Lật lọng sau khi tái đắc cử, ngày 14.12.1972, Tổng thống Nixon đã phê chuẩn kế hoạch ném bom Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương khác của Bắc Việt Nam do Bộ Quốc phòng Mỹ đệ trình.

Nixon đặt tên cho chiến dịch ném bom lần này là Linebacker II. Làm việc với các phụ tá, ông ta cũng giải thích tại sao vẫn đặt tên là Linebacker: “Nếu Linebacker I chỉ sử dụng máy bay chiến thuật để dằn mặt Hà Nội, thì Linebacker II sẽ sử dụng B.52 rải thảm bom vào Hà Nội để vừa hủy diệt, vừa uy hiếp và bắt Hà Nội phải quỳ gối xin ký hiệp định do ta đưa ra”.

Tối ngày 18.12, sau khi ra lệnh thực hiện chiến dịch Linebacker II, Nixon đã mời một số phụ tá thân cận lên phòng làm việc ở tầng 2 của Nhà Trắng để giải thích tại sao lại cho B.52 đánh Hà Nội và Hải Phòng. Đồng thời ông ta cũng nói thẳng: Tôi không quan tâm nếu thế giới nghĩ tôi là người điên rồ khi cho ném bom và thả bom mìn trở lại. Nếu họ nghĩ như vậy thì càng tốt. Người Nga và người Trung Quốc  có thể nghĩ rằng họ đang bắt tay với người điên. Điều này sẽ tác động lớn đến Hà Nội. Họ phải khuyên bảo đồng minh của họ ở Hà Nội. Nếu không muốn Hà Nội của họ bị hủy diệt bởi các trận mưa bom, thì phải chịu nhượng bộ với người điên.

Chính vì là “người điên”, tại phòng bầu dục, sau khi xem bản thảo bức công hàm “tối hậu thư” gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng do Henry Kissinger soạn thảo, Nixon ghi thêm một câu nối tiếp vào cuối bản thảo: “Đây là cơ hội cuối cùng dành cho Hà Nội để được hưởng hòa bình”.

14h (giờ Paris) ngày 18.12, Đại sứ Võ Văn Sung tại Cộng hòa Pháp nhận được công hàm này. Đây thực chất là một tối hậu thư với lời lẽ rất ngạo mạn và đe dọa. Phía Mỹ hẹn cố vấn Lê Đức Thọ phải quay lại Paris để ký hiệp định do Mỹ soạn thảo lại. Chúng ta đã không trả lời và chấp nhận sự thách thức của Mỹ trên mặt trận quân sự.

12h ngày 18.12 (giờ Hà Nội), Tổng thống Mỹ Nixon với tư cách là tổng tư lệnh quân đội đã ấn nút đỏ, chiến dịch Linebacker II bắt đầu. Ngay sau đó, máy bay B.52 cùng các máy bay tiêm kích từ các ngả bắt đầu hướng về Hà Nội. Cuộc chiến 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội bắt đầu.

* Tham khảo tài liệu của Ban Tuyên giáo và cuốn “Vòng cung lửa trên bầu trời Hà Nội”.

Đầu tháng 10.1972, ta đưa ra dự thảo hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và phía Mỹ chấp thuận bản dự thảo này. Nhưng ngay sau khi tái cử, Nixon đã trắng trợn lật lọng, đòi ta phải sửa chữa 126 điểm mà trước đó phía Mỹ đã hoàn toàn nhất trí. Kissinger tuyên bố ngừng đàm phán vô thời hạn. Ngày 17.12, Tổng thống Nixon ra lệnh tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược vào miền Bắc với tên gọi “Chiến dịch Linebacker II”.

Theo laodong.com.vn

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Trận quyết chiến lịch sử

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Trận quyết chiến lịch sửXác B.52 trên hồ Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội.

“Chiến thắng B.52 trên bầu trời thủ đô Hà Nội đã trở thành trận quyết chiến lịch sử, thật sự là một “Điện Biên Phủ trên không” – Thượng tướng Nguyễn Thành Cung – Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo tại hội thảo cấp nhà nước về “Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” –  tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam” ngày 28.11 tại Hà Nội – đã nhấn mạnh như vậy trong bài phát biểu của mình.

Dân Mỹ nghi ngờ sức khỏe tinh thần của tổng thống

Phát biểu tham luận tại hội nghị, ông Hà Đăng (nguyên là Người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại hội nghị 4 bên ở Hội nghị Paris, nguyên UVTƯ Đảng, Trưởng ban TTVH TƯ) cho biết: Sau khi ký kết dự thảo hiệp định cho việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 20.10.1972, dự thảo này đáp ứng được những đòi hỏi cơ bản của ta. Nhưng sau khi tái cử, Tổng thống Mỹ R.Nixon đã lật lọng, đòi thay đổi cơ bản những điều đã ký kết.

Ngày 16.12, cố vấn H.Kissinger đột nhiên họp báo và đổ lỗi cho phía ta kéo dài đàm phán. Ngày 18.12, khi cố vấn Lê Đức Thọ vừa từ sân bay Gia Lâm về đến nhà, máy bay chiến lược B.52 của Mỹ đã ầm ầm giội bom xuống Hà Nội. Còn kết cục, cả thế giới đã biết…

Báo chí Mỹ hồi đó viết: “Hàng triệu người Mỹ cúi đầu vì xấu hổ và nghi ngờ sức khỏe tinh thần của tổng thống”. Và rằng: “Đây là một hành động khủng bố vô đạo, làm hoen ố uy danh nước Mỹ”; rằng ”các cuộc ném bom này là kiểu chiến tranh nổi khùng, tổng thống là một bạo chúa lên cơn điên”.

Ông Hà Đăng cho biết thêm, trong hồi ký của mình, H.Kissinger kể lại, trước khi trở lại Paris để nối lại đàm phán, ông ta đã được “Tổng thống R.Nixon nhấn mạnh, tôi phải chấp nhận một giải pháp, dù điều kiện đối phương nêu ra như thế nào đi nữa”.

Và cuối cùng, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết vào ngày 27.1.1973. Nội dung này không khác mấy so với hiệp định ký tháng 10.1972.

Tên lửa, không quân của ta gặp không ít khó khăn, nhưng…

Tham luận của Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt (nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn tên lửa 261, Sư đoàn 361) đề cập thẳng những khó khăn ban đầu: Đó là tại sao ta đánh không thắng, bắn không trúng, không rơi, B.52 vào đánh cũng không rơi được chiếc nào?

Sau khi rút kinh nghiệm, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt cho biết: Con người sử dụng thành thục rồi, đòi hỏi thế bố trí phải vững chắc, liên hoàn; trên một đường bay địch vào có nhiều tiểu đoàn cùng đánh vào một điểm, một đoạn đường bay. Như vậy lực lượng ta tuy ít hóa nhiều. Đây là nghệ thuật bố trí đội hình chiến đấu của chiến dịch phòng không năm 1972. Và kết quả, bộ đội tên lửa phòng không trong chiến dịch này đã đánh 192 trận, sử dụng 334 quả đạn, tiêu diệt 36/81 máy bay các loại, trong đó có 29 máy bay B.52 (98,5%).

Nói về Binh chủng Không quân, Trung tướng – TS Phương Minh Hòa (UV Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân) đã không né tránh những khó khăn, mất mát: Trong 12 ngày đêm đánh B.52, ngoài những khó khăn bị máy bay tiêm kích địch khống chế, uy hiếp nhiều tầng, nhiều lớp thì những điều kiện phức tạp trong quá trình cất- hạ cánh cũng gây cho phi công không ít căng thẳng về tâm lý, đó là: Trực chiến dưới tầm bom đạn của các loại máy bay cường, kích kể cả B.52. Cất- hạ cánh trong điều kiện ban đêm, đường băng ngắn, hẹp hoặc đã bị đánh phá, thiếu đèn chiếu sáng, không có chỉ huy… (Trong 12 ngày đêm chúng ta mất 6 máy bay, trong đó  4 chiếc bị hỏng là do hạ cánh).

Trong điều kiện địch tìm mọi cách để tiêu diệt không quân, chúng ta đã nêu cao ý chí quyết tâm, vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh để tồn tại và phát triển, từng bước đánh bại kẻ thù. Đường băng bị đánh hỏng thì “ta sửa, ta bay” hoặc cất cánh từ đường lăn; sân bay chính bị bom, bị khống chế thì xuất kích từ sân bay dự bị,…

Qua nhiều lần rút kinh nghiệm, khi tiếp cận B.52 ta đã nghiên cứu, áp dụng và phát triển các hình thức chiến thuật từ “bay thấp, kéo cao” đến “bay cao, tiếp cận nhanh” rất có hiệu quả và đã thành công trong 2 trận, bắn rơi liên tiếp 2 chiếc B.52 trong 2 đêm 27 – 28.12.1972 của đồng chí Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều.

Xuất xứ của thành ngữ: “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”
“Khi còn ở Hội nghị Paris, đọc thấy báo chí nước ngoài thường nói cụm từ “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng tôi rất tự hào, thích thú. Sau này chúng tôi mới biết, tại căn hầm trú ẩn của Báo Nhân Dân ở 71 Hàng Trống, nhà báo Thép Mới – Phó Tổng biên tập Báo Nhân Dân- đã sáng tạo nên. Cụ thể,  sau đêm chiến thắng rực rỡ 26.12.1972, Báo Nhân Dân ngày 28.12.1972 đã ra lời kêu gọi bạn đọc viết cho mục “Viết tại chỗ về Hà Nội – Điện Biên Phủ”; sau đó được phát triển thành “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

(phát biểu của ông Hà Đăng)

Theo laodong.com.vn

Lại kể chuyện giặc lái B-52

QĐND – Đến thăm nhà báo Lê Kim vào một ngày cuối tháng 12, tôi được nghe câu chuyện về những giặc lái B-52 đã nổi tiếng từ 40 năm về trước của ông. Câu chuyện bắt đầu khi ông còn công tác tại tổ quốc tế, phòng Thời sự, Báo Quân đội nhân dân. Dù là một nhà báo công tác lâu năm trong nghề, lại cũng từng tham gia hầu hết các chiến dịch lớn và ác liệt, trải qua những thăng trầm lịch sử, nhưng đối với nhà báo Lê Kim, câu chuyện về những viên phi công B-52 Mỹ ở Nhà tù Hỏa Lò vẫn có một dấu ấn đặc biệt khó quên trong suốt cả cuộc đời ông. “Cho đến giờ mà tôi vẫn còn nhớ như in cái ngày đầu tiên tôi bước chân vào “thăm” những “vị khách” tại Hỏa Lò.

Nhà báo Lê Kim (ngoài cùng, bên phải) trong buổi gặp gỡ tại Báo Quân đội nhân dân ngày 23-12 vừa qua.

Sau khi nghe giới thiệu sơ qua về thành phần “khách” trong trại, ông được đưa cho danh sách ghi tên những lính Mỹ vừa bị đưa vào đây. Lướt qua cuốn sổ với những cột dài dằng dặc họ tên, số lính, chức vụ…, ông đã để ý đến một cái tên rất “đặc biệt”: Ri-sớt Giôn-xơn, bị bắn rơi và bắt sống đêm 18-12-1972. Và câu chuyện về giặc lái B-52 của nhà báo Lê Kim bắt đầu như thế đó.

Ri-sớt Giôn-xơn là một viên sĩ quan Mỹ cao gần 2m, mặt to, tai dài, mắt sắc, tóc thưa màu nâu đen điểm những sợi bạc, khoảng chừng 40 tuổi là thiếu tá thuộc Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, số lính 561-54-4696. Hắn giữ chức vụ hoa tiêu ra-đa trên chiếc máy bay ném bom B-52 thuộc đơn vị ném bom số 72, liên đội máy bay ném bom chiến lược số 6 đóng tại căn cứ không quân chiến lược Andersen trên đảo Gu-am. Sau cái đêm 18-12-1972 bị bắt ở Vĩnh Phú cho đến ngày gặp nhà báo Lê Kim, Ri-sớt đã ngồi gần 1 tháng trong trại giam Hỏa Lò. Thời gian không dài nhưng đủ để Ri-sớt thấy được thái độ đối xử độ lượng của các đồng chí trong trại và từ đó bước đầu hiểu chính sách khoan hồng nhân đạo của Chính phủ ta. Có lẽ cũng vì vậy, sau vài phút đầu còn thiếu tự nhiên, dần dà hắn đã cởi mở, không e dè mà kể về những bước thăng trầm trong chuyến bay định mệnh đêm 17-12-1972 của hắn.

Đêm đầu tiên trong “chiến dịch tập kích dữ dội bằng không quân chiến lược” do đích thân Tổng thống Mỹ kiêm Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Mỹ Ri-sớt Ních-xơn ra lệnh, chiếc B-52G của Ri-sớt và đồng bọn bay vào vùng trời miền Bắc nước ta. Theo Ri-sớt thú nhận, chức vụ hoa tiêu ra-đa của hắn không khác gì hơn là cái nghề bấm nút, trút bom rải thảm xuống những mục tiêu đã được cấp trên ghi sẵn bằng những dấu hiệu hình tam giác trên tấm bản đồ bay, căn cứ vào tọa độ đã được biết trước và sau khi đã tính toán cho khớp với đường bay, tốc độ bay và vị trí của chiếc máy bay ném bom chiến lược đang bay tới mục tiêu. Nhưng khi chiếc “pháo đài bay” B-52G chở Ri-sớt và đồng bọn lặc lè vác gần 100 quả bom loại gần 230kg, ký hiệu 117 chưa bay tới mục tiêu và cũng chưa kịp trút bom thì nó đã bị bắn rơi vì lưới lửa phòng không hiệu nghiệm của miền Bắc Việt Nam.

Nói về cảm tưởng của mình trước khi xuất phát, Ri-sớt chốt một câu là: Sợ. Hắn giải thích, sợ là lẽ dĩ nhiên bởi hắn đã từng hoạt động khá lâu năm ở khu vực Đông Nam Á nên cũng đã từng nhiều lần được nghe những thằng bạn chết hụt trở về, lắc đầu, thè lưỡi bàn tán xôn xao về cái “lưới lửa phòng không dày đặc và hiện đại ở vùng châu thổ sông Hồng”. Do vậy, cái nỗi phấp phỏng lo sợ của hắn là hợp lý.

Đối với những lính Mỹ đang ngồi trong trại như Ri-sớt Giôn-xơn hay Uy-li-am Oan-tơ Con-li, gọi tắt là Bin, sĩ quan điện tử trên chiếc B-52 bị bắn rơi ngày 22-12-1972, thì việc tin vào sức bảo vệ của B-52 có lẽ chỉ là quá khứ. Uy-li-am cho biết, trước kia, hắn cũng tin là những thiết bị điện tử có thể bảo vệ được cho chiếc B-52 chống lại sự tiến công của đối phương. Nhưng khi có chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi trên vùng trời Việt Nam thì hắn không thể nào tin B-52 thuộc loại bất khả xâm phạm được nữa.

Ngoài Ri-sớt Giôn-xơn, Uy-li-am Oan-tơ Con-li, nhà báo Lê Kim cũng đã tiếp xúc và thu thập tin tức từ rất nhiều “vị khách” khác nữa. Phần lớn trong số lính Mỹ “nằm” ở Hin-tơn Hà Nội đều không tin những thứ đồ “trang thiết bị hiện đại” mà quân đội Mỹ cấp có thể bảo vệ tính mạng. Thế nên, các trang bị lủng củng, lỉnh kỉnh, lắm thứ nhiều loại của các phi công Mỹ như lá cờ xin ăn và cuốn cẩm nang “Tự cứu mình” đều được coi như “của nợ”. Viên trung úy Pôn Lu-i Gren-giơ mỉa mai nhận xét: “Có khi chết lây vì những thứ của nợ này cũng nên”. Và anh ta chốt một câu rằng: “Cách tự cứu mình tốt nhất là… ra hàng đối phương”.

Đối với một nhà báo như Lê Kim, việc tiếp xúc và trò chuyện khai thác thông tin từ những lính Mỹ bị bắt tại Nhà tù Hỏa Lò thật sự là một trải nghiệm thú vị.

Bài và ảnh: NGỌC THƯ
qdnd.vn