Tag Archive | Tư tưởng Hồ Chí Minh

Góc nhìn khác của một học giả Nhật về tư tưởng Hồ Chí Minh

Tác giả: GS. TSUBOI YOSHIHARU (ĐẠI HỌC WASEDA)

Con người Hồ Chí Minh được phản ảnh sắc nét trong Hiến pháp là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản – Góc nhìn riêng của GS Nhật Bản Tsuboi Yoshiharu.

LTS: Có thể nói, Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử, một lãnh tụ đặc biệt của đất nước. Đã có biết bao nhiêu công trình, đề tài nghiên cứu về Người của các học giả trong nước, nước ngoài với các góc nhìn khác nhau.

Bài viết dưới đây của GS Tsuboi Yoshiharu (ĐH Waseda-Nhật Bản) đã được ông trình bày tại Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ 3 tổ chức tại Hà Nội tháng 12/2008. Khảo cứu này của ông Tsuboi Yoshiharu đã gây được sự chú ý của dư luận vì góc nhìn khác lạ.

Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiếu, Tuần Việt Nam xin đăng tải toàn văn nghiên cứu này của  ông Tsuboi, một nhà Việt nam học nổi tiếng như một góc nhìn cần tham khảo. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

Một góc nhìn khác

Trong bài viết này, chúng ta thử thoát khỏi những quan niệm về “Tư tưởng Hồ Chí Minh” cũng như cách đánh giá Ông Hồ như một người cộng sản Max – Lenin, lần theo những nẻo đường trong cuộc đời Hồ Chí Minh để khảo cứu lại tư tưởng của Ông trên một lập trường giá trị tự do hơn.

Từ khi bắt đầu nghiên cứu VN năm 1973, mỗi lần có cơ hội, tôi lại cố gắng lần theo những dấu vết cuộc hành trình của Hồ Chí Minh. Bắt đầu từ xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An – quê hương của Hồ Chí Minh, tôi lần theo dấu chân Ông ở Nhà kỉ niệm Hồ Chí Minh ở Vinh – thủ phủ của tỉnh Nghệ An, phòng làm việc, Bảo tàng và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trung tâm của Thủ đô Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh ở TP Hồ Chí Minh, trường Quốc học Huế, v.v…

Ở Trung Quốc, tôi đã đến thăm Hồng Kông, Quảng Đông, Thượng Hải, Diên An, v.v… Tôi cũng tìm đến ngôi nhà Hồ Chí Minh từng sống ở Moscow. Tôi đã đứng trong ngôi nhà ở phố Compoint, được coi là nơi hoạt động của Hồ Chí Minh ở Paris. Tại London, tôi đã tới thăm khách sạn nơi Ông từng làm đầu bếp dưới sự hướng dẫn của Escoffier. Ở New York, tôi đã thử hình dung Hồ Chí Minh đã ngắm nhìn bức tượng Nữ thần Tự Do từ góc độ nào.

Tôi cũng có dịp thảo luận với các nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh người Pháp như Brocheux, G. Boudarel… Đương nhiên, tôi cũng có dịp trao đổi ý kiến với những nhà trí thức, học giả người Việt như Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Đình Đầu, Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Nguyên Ngọc, v.v… Trong quá trình tìm hiểu, khám phá và trao đổi, tôi luôn cảm thấy dường như chưa ai đoán đúng được tư tưởng “bè trầm liên tục” (basso continuo) của Hồ Chí Minh.

Cho đến gần đây, tôi nhận ra rằng có lẽ giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời của mình là những giá trị của nền cộng hòa. Tôi cho rằng nếu nhận thức Hồ Chí Minh như một người theo chủ nghĩa cộng hòa, chúng ta có thể đánh giá được một cách đầy đủ và đúng đắn nhất những tư tưởng và hành động của Ông.

Không ai phủ nhận việc Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc. Mục tiêu tối thượng của Ông là giải phóng dân tộc và giành lại nền độc lập cho Tổ quốc từ tay thực dân Pháp. Để thực hiện công cuộc đó, cơ sở lý luận của Ông là “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” – những biểu tượng của nền cộng hòa.

Làng Sen quê Bác

Khi đặt chân đến nước Pháp, đất nước đã biến VN thành thuộc địa, Ông phát hiện ra rằng tầng lớp lao động nghèo khổ ở Pháp cũng ở trong tình cảnh bi thảm như các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Đồng thời, Ông cũng ngạc nhiên trước tinh thần cộng hòa đối xử bình đẳng với con người bất kể sự khác biệt màu da, ngôn ngữ, văn hóa.Có một câu chuyện nổi tiếng liên quan đến vấn đề này. Sau chuyến hải hành dài bắt đầu từ Sài Gòn, cuối cùng Hồ Chí Minh cũng đến được Maseille. Đây là lần đầu tiên Ông Hồ đặt chân lên nước Pháp. Ông vào một quán cà phê và gọi một tách cà phê. Người hầu bàn đáp lại: ” Vâng, thưa Ông” (Oui, Mousieur). Khi còn ở Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân, Hồ Chí Minh chưa bao giờ được gọi bằng từ “Mousieur”.

Đối với chàng thanh niên Hồ Chí Minh khi đó mới 21 tuổi, được một người Pháp gọi là “Mousieur” là một sự ngạc nhiên thú vị. Có lẽ khi đó người hầu bàn cũng không nghĩ rằng vị khách của mình là một người VN đến từ xứ thuộc địa, hoặc cũng có thể do anh ta không quan tâm tới quốc tịch của vị khách. Câu nói của người hầu bàn chỉ là một câu nói “đương nhiên” thường dùng để xác nhận với khách hàng. Thế nhưng, đối với Hồ Chí Minh, một người vốn đã quen chứng kiến cảnh phân biệt đối xử ở xứ thuộc địa, câu trả lời “đương nhiên” đó lại là một hiện tượng thật ngạc nhiên và mới mẻ.

Tinh thần nền cộng hòa Pháp

Tinh thần nền cộng hòa Pháp mang tính lý tưởng cao. Qua Cách mạng Pháp, một quan điểm mới về giá trị con người khác hẳn với giai đoạn trước đã được xác lập. Như đã thể hiện trong câu nói của bản Tuyên ngôn Nhân quyền: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng“. Sự khác biệt căn bản nhất của thời cận đại so với các thời đại khác là sự thay đổi 180 độ quan điểm về giá trị con người. Tinh thần nền cộng hòa chính là cuộc vận động nhằm tạo nên và lý tưởng hóa hình tượng con người mới, thúc đẩy mỗi cá nhân tiếp cận với hình tượng lý tưởng đó.

Đó là cách nhận thức con người bằng việc bài trừ những thuộc tính cá nhân. Lấy ví dụ, nó không quan tâm tới người đó là người Nhật hay người VN, sinh ra ở tỉnh nào, xuất thân trong gia đình hay dòng họ nào, bao nhiêu tuổi, là nam hay nữ. Vấn đề quan trọng là con người đó với tư cách là một “cá nhân” có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính hay không.

Nền cộng hòa được xây dựng bởi những cá nhân là nhân dân Pháp, bất kể giai cấp, màu da hay người đó có sinh ra ở Pháp hay không. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của nền cộng hòa là phải giáo dục ra được những “cá nhân” có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính.

Tuy nhiên, không dễ dàng hiện thực hóa được những lý tưởng đó của tinh thần cộng hòa. Đã có rất nhiều hành động nhằm kéo xã hội quay về với tư tưởng cũ. Để xác lập được tinh thần cộng hòa, nước Pháp cần phải đợi đến thời kì nền Đệ tam Cộng hòa, khoảng 100 năm sau Cách mạng Pháp.

Ở nước Pháp khi đó cũng như ngày nay, nông dân luôn đóng vai trò trung tâm. Họ có tư tưởng cực kì bảo thủ. Ở người nông dân, tình cảm thích nhà vua, coi trọng gia đình, truyền thống và dòng dõi là hết sức mạnh mẽ. Trong số họ có rất nhiều người vừa hiếu kì đối với những người khác, đồng thời lại có những suy nghĩ mang tính phân biệt chủng tộc, cho rằng người da trắng ưu việt hơn so với các chủng tộc khác.

Cách mạng Pháp đã thay đổi tư tưởng bảo thủ của nông dân thành những “cá nhân” theo giá trị con người kiểu cận đại, quá trình biến đổi đó kéo dài 100 năm. Ngay trong thời đại hiện nay, dù có quá nửa người Pháp tán thành tinh thần cộng hòa, nhưng rõ ràng cũng có không ít người vẫn duy trì thể trạng cũ của nông dân.

Nguyễn Ái Quốc tại ĐH lần XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở Tua – Ảnh: cuocsongviet.com.vn

Nói một cách chính xác hơn, vẫn còn rất nhiều người vẫn mang trong mình mâu thuẫn giữa một bên là con người được giáo dục để mang tinh thần cộng hòa một cách tự giác, với một bên là quan điểm bảo thủ về giá trị con người vốn được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình thủ cựu.

Trong khi đó, người VN lại hoàn toàn ngược lại. Người VN trước tiên coi trọng thuộc tính. Mỗi khi đến VN, tôi thường rất lúng túng khi bị người VN đặt những câu hỏi liên quan đến cá nhân như bao nhiêu tuổi, làm việc cho công ty nào, ở vị trí gì, xuất thân từ trường đại học nào, vùng nào, tầng lớp nào, gia đình như thế nào. Hay những câu hỏi đại loại như “Đã kết hôn chưa, nếu có con thì được mấy con rồi?”, “Con mấy tuổi”, v.v…

Tại sao người VN lại chấp nhặt những thông tin cá nhân và hoàn cảnh gia đình như vậy. Đó là vì thông qua những câu hỏi đó, người VN muốn làm rõ vị trí của đối phương, dựa vào đó xác định rõ ràng mối quan hệ xã hội trên dưới giữa mình và đối phương.

Từ đó, quan hệ đó sẽ được phản ánh qua cách dùng từ và động tác ứng xử, qua việc sử dụng cách nói kính trọng hay khiêm tốn, có nên chào hỏi và bắt tay như đối với người lớn hơn hay không. Để xây dựng được quan hệ tốt đẹp cho hai bên và ứng xử đúng với những quy tắc xã hội vô hình, trước tiên người Việt phải tìm hiểu những thuộc tính của đối phương.

Đây không chỉ là truyền thống của riêng VN mà là truyền thống của cả khu vực theo văn hóa Nho giáo, tương ứng với thế giới Đông Á bao gồm cả Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, những nơi cũng lấy “quan hệ” giữa con người với con người làm quy tắc chuẩn cho hành động.

Ở Đông Á, nơi thuộc tính cá nhân và quan hệ con người đóng vai trò chủ đạo, người ta đã không lý giải được hết được tinh thần nền cộng hòa. Người ta thường viện dẫn những ví dụ của nước Pháp và nước Mỹ để đưa ra những định nghĩa mang tính mô phỏng về nền cộng hòa, kiểu như nền cộng hòa là việc chặt đầu nhà vua, phế bỏ chế độ quân chủ, xây dựng thể chế chính trị “của dân, do dân và vì dân”. Nền cộng hòa là thể chế chính trị mà nhân dân đóng vai trò chính, v.v… Người ta đã không đạt tới được nhận thức rằng, điều kiện tiền đề của nền cộng hòa là những “cá nhân” theo quan điểm giá trị mới về con người.

Tinh thần nền cộng hòa của Hồ Chí Minh

Người viết cho rằng có lẽ Hồ Chí Minh là lãnh đạo chính trị duy nhất ở Đông Á nhận thức được một cách đúng đắn nhất tinh thần nền cộng hòa và Ông đã cố gắng đưa nó vào Việt Nam. Tôi muốn lần theo những hành động của Hồ Chí Minh trong quãng thời gian 10 năm Ông phát huy được năng lực lãnh đạo của mình nhất, tức là quãng thời gian từ lúc về nước từ năm 1941 sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại đến năm 50, để chứng minh cho giả thuyết nêu trên.

Trước tiên, tôi cho rằng cần phải khảo cứu lại vấn đề tại sao Hồ Chí Minh lại “phát hiện” ra Lenin và trở thành một người CS. Để định nghĩa lại Hồ Chí Minh từ một người CS Max- Lenin trở thành một người theo chủ nghĩa cộng hòa, cần phải làm rõ mối quan hệ này.

Hồ Chí Minh biết đến Lenin nhờ đọc bài viết được công bố của Lenin về vấn đề thuộc địa. Ông đã bị thu hút mạnh mẽ bởi mối quan tâm sâu sắc cũng như cách đưa ra những phương pháp giải quyết cụ thể đối với vấn đề thuộc địa của Lenin. Ông Hồ cho rằng để giải phóng dân tộc thuộc địa, chỉ có con đường duy nhất là Đảng CS, do vậy Ông đã từ bỏ Đảng Xã hội và trở thành một trong những thành viên sáng lập Đảng CS Pháp.

Sau đó, Ông sang Moscow, trở thành một thành viên của Quốc tế CS và hoạt động năng nổ. Kể từ lúc đó, trong quá trình hoạt động của mình, Ông học được rằng, để giành được độc lập cho VN từ tay nhà nước cận đại Pháp, một trong những liệt cường của Tây Âu có lực lượng quân sự và chính trị khổng lồ, cần phải có một tổ chức đoàn kết chặt chẽ đóng vai trò trung tâm cho công cuộc giải phóng, cũng như cần hoạt động liên kết quốc tế nhằm nhận được sự đồng cảm rộng rãi từ quốc tế.

Ông đồng tình với đề xướng của Lenin về Bôn-sê-vích, Đảng CS- một đảng tiên phong có kỉ luật sắt. Về điểm này, đúng là Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa Lenin. Tuy nhiên, ngoài mặt tổ chức, Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề cần ưu tiên nhất là đấu tranh giải phóng dân tộc giành lại độc lập cho VN chứ không phải là vấn đề giai cấp. Về mặt này, Hồ Chí Minh không phải là một người CS “chính thống” theo chủ nghĩa Marx – Lenin.

Đối với những người CS “chính thống”, việc Hồ Chí Minh coi trọng giải phóng dân tộc, coi nhẹ đấu tranh giai cấp là hành động xa rời chủ nghĩa cộng sản, do đó, Ông Hồ đã bị phê phán một cách gay gắt và công khai. Furuta Motoo, tham khảo nghiên cứu của Kurihara Hirohide đã trích dẫn một phần lá thư của Ủy ban hải ngoại Đảng CS Đông Dương gửi cho Quốc tế CS như sau:

Ở Đông Dương, các tổ chức CS đã triển khai một cuộc đấu tranh công khai với đường lối của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và VN Thanh niên Cách mạng đồng chí hội – đường lối là tàn dư kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa cải lương duy tâm. Tàn dư này hết sức nặng nề và đang trở thành một chướng ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa CS. Cần thiết phải đấu tranh không thương tiếc với chủ nghĩa cơ hội và lý luận kiểu cũ của Quốc và Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Chúng tôi đề xuất đồng chí Lin (Bút danh lúc đó của Nguyễn Ái Quốc – Tsuboi) phải viết bản tự kiểm điểm bản thân”.

Trước những phê phán này, Ông Hồ đã phải thay đổi đôi chút lập trường của mình và phải rất vất vả để giữ được vị trí của mình trong Quốc tế CS. Tuy nhiên, ông đã bị gạt ra ngoài hoạt động lãnh đạo của Đảng CS Đông Dưong và bị buộc phải sang Moscow học tập. Nhưng cũng nhờ đó mà Ông Hồ đã thoát chết.

Dưới sự đàn áp khốc liệt của nhà nước đương cục thực dân, những người CS đã phê phán Ông Hồ hoặc bị chết hoặc bị xử tử. Lê Hồng Phong bị bắt tháng 6 năm 1938 và sau đó qua đời trong tù vào khoảng tháng 9 năm 1942. Hà Huy Tập bị bắt tháng 7 năm 1938, sau đó được thả ra một thời gian rồi bị bắt lại năm 1940 và bị xử tử vào tháng 8 năm 1941.

Khi Ông Hồ trở về nước vào năm 1941, ở VN hầu như không còn một người CS “chính thống” nào. Nhờ vậy, trong quãng thời gian 10 năm tính từ khi trở về nước năm 1941, Ông Hồ, dựa vào sự ủng hộ của Quốc tế CS cũng như tiếng tăm của mình, đã có thể hành động một cách tự do hơn theo những suy nghĩ của mình.

Có một giai thoại thể hiện rất rõ hình ảnh Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa cộng hòa. Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại, chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban CHTƯ Đảng CS Đông Dương, xác định cách mạng là cách mạng giải phóng dân tộc, công bố ý tưởng thành lập nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa, đồng thời thành lập VN Độc lập Đồng minh (tên thường gọi là “Việt Minh”). Tên gọi Việt Minh cho thấy mục tiêu của cách mạng VN lúc bấy giờ là đánh đổ ách thống trị của Nhật và Pháp, giành lại độc lập, tập trung toàn lực vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.

Hồ Chí Minh nêu lên chủ trương của VN Độc lập Đồng minh là “liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, xu hướng, đảng phái chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp, Nhật. Sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của VN Dân chủ Cộng hòa. Ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”.

Tuyên ngôn Độc lập

Tên nước VN Dân chủ Cộng hòa được cho là do Hồ Chí Minh đặt. Nội dung của nó được thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập tháng 9 năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Câu đầu tiên của bản Tuyên ngôn Độc lập có đề cập đến Hiến pháp Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp.

Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tuyên ngôn Nhân quyền được viết trong Cách mạng Pháp năm 1791 đã trình bày nội dung tương tự như sau: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn“… (Lược một đoạn – Tsuboi).

“Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước VN mới, đại biểu cho toàn dân VN, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước VN, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước VN. Toàn dân VN, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. (Trích “Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945”).

Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập 2-9-1945

Còn có một câu chuyện nữa về Hồ Chí Minh ít được biết đến. Sau khi thành lập Việt Minh năm 1941, để kêu gọi sự ủng hộ của các nước Đồng minh trong đó có cả Trung Quốc, Ông Hồ đã quay trở lại Trung Quốc. Tuy nhiên, do Việt Minh nằm dưới cái bóng của chủ nghĩa CS nên Ông Hồ đã bị Quốc dân đảng nghi ngờ.

Ông bị chính quyền địa phương của Quốc dân đảng bắt và bị giam từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943. Sau cùng, Quốc dân đảng nhận định rằng Việt Minh là thế lực chính trị chống Nhật trong phạm vi VN nên Ông Hồ đã được thả. Tháng 8 năm 1944, khi được tự do và chuẩn bị về nước, Hồ Chí Minh đã nói với tướng Trương Phát Khuê của Quốc dân đảng như sau: “Tuy tôi là một người CS nhưng bây giờ vấn đề mà tôi quan tâm không phải là chủ nghĩa CS mà là độc lập tự do của VN. Tôi xin hứa với anh một lời hứa đặc biệt: Trong vòng 50 năm tới sẽ không thực hiện chủ nghĩa CS ở VN”. (trích theo Furuta Motoo).

Cách mạng Tháng 8

Tuy nhiên, không thể có được Con người mới gánh vác được độc lập tự do chỉ bằng đấu tranh giải phóng đơn thuần. Hồ Chí Minh biết rõ rằng, để đạt được điều đó cần một cuộc cách mạng làm đòn bẩy. Cuộc cách mạng đó ở VN là “Cách mạng Tháng 8”.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện quân Đồng minh, nước Pháp bảo hộ thì chưa khôi phục được thế lực của mình. Cách mạng Tháng 8 là cuộc khởi nghĩa trên toàn quốc do Việt Minh tổ chức nhân cơ hội đó nhằm giành quyền tự chủ thực sự cho VN.

Nhận được tin Nhật đầu hàng, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đảng CS đã tổ chức Hội nghị toàn quốc ở Tân Trào, ra quyết định khởi nghĩa. Ngày 16-17/8, Việt Minh tổ chức Đại hội Quốc dân, quyết định thành lập Chính phủ lâm thời nước VN Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, bắt đầu từ việc giành chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8, Việt Minh đã lãnh đạo thành công khởi nghĩa ở các thành thị khác, xác lập được quyền làm chủ đất nước. Kết quả của quá trình này là sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập.

Có nhà nghiên cứu cho rằng Cách mạng Tháng 8 không đơn thuần là một cuộc đảo chính bằng vũ lực. Đúng là khi cách mạng nổ ra, quân Nhật, lúc đó đã đầu hàng Đồng minh, đã không tiến hành đàn áp cuộc khởi nghĩa của Việt Minh. Đồng thời ở VN cũng không có mặt quân Pháp và quân Đồng minh. Nhờ vậy, cuộc khởi nghĩa đã diễn ra một cách tương đối dễ dàng và không phải đổ nhiều máu. Đối với Hồ Chí Minh, cuộc cách mạng này chính là quá trình giành lại quyền lực của nhân dân dựa trên khát khao mạnh mẽ về tự do của họ, nó chính là quá trình xây dựng nên Con người mới.

Ý nghĩa của Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Ước mơ “Độc lập” từ lâu của Hồ Chí Minh là VN được giải phóng khỏi tay thực dân Pháp và trở thành một nước độc lập. Nhưng độc lập của Hồ Chí Minh không phải là khái niệm “độc lập” theo nghĩa cũ, vốn thường được lặp đi lặp lại trong sách giáo khoa- là quá trình VN giữ vững được độc lập và bản sắc (identity) của mình trước sự uy hiếp của Trung Quốc.

VN có lịch sử khởi nghĩa, đánh bại, đánh đuổi sự xâm lược của các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh của Trung Quốc, nhưng sau mỗi lần đánh đuổi quân xâm lược Trung Quốc, VN lại chỉ xây dựng một thể chế chính trị mô phỏng Trung Quốc. Nhưng độc lập mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng là một nước độc lập, một nhà nước chủ quyền theo kiểu cận đại.

Từ độc lập của Ông bao hàm ý nghĩa xây dựng một quốc gia chủ quyền có lực lượng sánh vai được với các cường quốc trên thế giới. Ý tưởng của Ông là không chỉ xây dựng một chế độ Dân chủ cộng hòa mà còn xây dựng nên hình ảnh những Con người mới đóng vai trò gánh vác quốc gia độc lập.

“Tự do” của Hồ Chí Minh rõ ràng chịu ảnh hưởng từ chữ “tự do” trong khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Cách mạng Pháp và quyền mưu cầu Tự do của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tự do của Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là đất nước được độc lập, nhà nước có chủ quyền và có quyền tự do phát ngôn, hoạt động trên trường quốc tế, mà phải là thứ tự do được từng người dân ca ngợi.

Nó cũng yêu cầu mỗi người dân ca ngợi quyền tự do đó phải trở thành chủ thể xây dựng từ dưới lên trật tự của nền cộng hòa, yêu cầu từng cá nhân phải có khả năng suy nghĩ, quyết định với tinh thần trách nhiệm cao. Nhà nước kiểu cận đại chính là nhà nước được hệ thống giáo dục đào tạo ra được những con người như vậy. Đồng thời có những thiết chế chính trị đi kèm đảm bảo cho việc giáo dục đó. Nước Cộng hòa của Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa dân chủ kết hợp với Tự do.

Cuối cùng, như được đề cập trong bản Tuyên ngôn Độc lập, hạnh phúc theo quan niệm của Hồ Chí Minh, chịu ảnh hưởng của “quyền mưu cầu hạnh phúc” trong Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chính là bản Hiến pháp đầu tiên viết rõ ràng về “quyền mưu cầu hạnh phúc”. Hạnh phúc là một từ có tính đa nghĩa, nhưng ý nghĩa từng cá nhân có quyền mưu cầu Hạnh phúc là một khái niệm hết sức mới mẻ của thời kì cận đại.

Lịch sử VN là lịch sử tranh sáng tranh tối của những cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của Trung Quốc, đấu tranh chống lại những thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán. Con người VN coi những nguy cơ đó là “bất hạnh”. Đặc điểm của VN là có lịch sử chiến đấu và chiến thắng những “bất hạnh” đó. Nếu coi những “bất hạnh” mà dân tộc VN phải chịu đựng là những thách thức của Ông Trời mang lại để dân tộc VN phải vượt qua thì quả thực, dân tộc VN là một dân tộc anh hùng và quả cảm.

Thế nhưng, quá trình đó bản chất là một quá trình mang tính thụ động. Thông điệp về Hạnh phúc của Hồ Chí Minh là thông điệp mỗi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc và phải chủ động, tích cực tranh đấu để giành được hạnh phúc đó. Thông điệp đó của Hồ Chí Minh đã được đông đảo nhân dân VN đón nhận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt (3/1951). Ảnh: TL

Trong bản Hiến pháp làm cơ sở cho nhà nước, Hồ Chí Minh đã tham khảo nước Cộng hòa Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và nêu lên ý tưởng về nước VN Dân chủ Cộng hòa. Con người Hồ Chí Minh được phản ảnh sắc nét trong Hiến pháp là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản.

Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập cho nước VN Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Trong vòng xoáy tương quan lực lượng quốc tế mà VN bị lôi vào, Liên Hiệp Quốc đóng vai trò vô cùng quan trọng. Để các nước công nhận nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã có một hành động mạo hiểm là xóa đi hình ảnh người cộng sản của mình.

Tháng 11 năm 1945, Ông Hồ đã ra quyết định dứt khoát giải tán Đảng CS. Đương nhiên, trên thực tế, tổ chức của Đảng vẫn được giữ nguyên, do đó cũng có thể coi nó như một hành động “ngụy trang”. Thế nhưng, để được các nước công nhận nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa, Ông Hồ đã lựa chọn con đường ưu tiên “quyền lợi dân tộc” lên trên “quyền lợi đảng phái”. Về điểm này, chúng ta có thể nhìn thấy một phần cách suy nghĩ theo chủ nghĩa cộng hòa của Hồ Chí Minh.

Người VN có hiểu Hồ Chí Minh không?

Ở đây có một vấn đề là những người VN khác có hiểu được nguyên lý về nước VN Dân chủ Cộng hòa mà Hồ Chí Minh đã trình bày cũng như tinh thần nền cộng hòa được đúc kết trong khẩu hiệu “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” của Ông hay không? Thật tiếc phải nói rằng thông điệp của Hồ Chí Minh hầu như không được truyền bá và lý giải một cách đầy đủ và đúng đắn.

Người ta đã coi Ông như một người lãnh đạo của phong trào CS quốc tế, một người theo chủ nghĩa Marx- Lenin. Đó là vì sau Chiến tranh Thế giới II, thế giới rơi vào cục diện Chiến tranh Lạnh, VN đã bị đặt vào tiền tuyến xung đột của chiến tranh Lạnh Đông – Tây. Trong bối cảnh quốc tế đó, Hồ Chí Minh sau khi thành lập nước đã phải nhận sự hỗ trợ của Trung Quốc và Liên Xô, trở thành lãnh tụ lãnh đạo một cuộc chiến tranh lâu dài chống Pháp và Mỹ.

Ai cũng lấy ý thức hệ làm chủ thể để lý giải Ông Hồ, và ngay bản thân Ông Hồ, để nhận được viện trợ, tiếp tục công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mình, không có một sự lựa chọn nào khác ngoài việc phát ngôn và hành động như một thành viên của liên minh những người CS.

Thế hệ kém Ông Hồ 10 tuổi như Đại tướng Võ Nguyên Giáp hay Ông Trần Văn Giàu, do chịu sự giám thị gay gắt của nhà đương cục thực dân, đã phải hoạt động tại nước ngoài một thời gian. Chính vì vậy, họ đã hiểu được tình hình bên ngoài và lý giải được một phần tinh thần nền cộng hòa của Hồ Chí Minh. Sự lý giải của họ là nhờ vào những kinh nghiệm sống ở các nước Âu Mỹ, chủ yếu là nước Pháp.

Tuy nhiên, đối với những thế thệ trẻ hơn, do phải tiến hành cách mạng và chiến tranh trên đất VN, hầu như không có mấy người có kinh nghiệm sống ở nước ngoài. Do đó, họ thiếu đi nền tảng tư tưởng để có thể lý giải được đầy đủ “Tinh thần nền cộng hòa” mà Hồ Chí Minh đã đúc kết được sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại.

Càng đến những thế hệ trẻ hơn, người ta càng có xu hướng lý giải Hồ Chí Minh chỉ theo góc độ là nhà lãnh đạo Đảng CS. Cùng với việc thần tượng hóa Hồ Chí Minh, người ta đang đánh mất đi khả năng lý giải nội tại Hồ Chí Minh với tư cách là một CON NGƯỜI bình thường.

————————-

Tài liệu tham khảo

Furuta Motoo, Hồ Chí Minh – Giải phóng dân tộc và Đổi mới (Ho-Si-Min Minzoku kaiho to Doi Moi), NXB Iwanami, 1996.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Đoàn kết, thống nhất trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đoàn kết là một truyền thống quý báo của dân tộc ta. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đã hun đúc nên con người Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn, sống thuỷ chung, nhân ái và sự cố kết cộng đồng sâu sắc thể hiện ở triết lý: “thương người như thể thương thân”; “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, toàn dân góp sức”. Truyền thống văn hoá ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo giáo dục cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an dựa trên giác ngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân.

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đặc biệt tới việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng phải là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, phải hoàn thiện mình để lãnh đạo đất nước. Mỗi khi cách mạng chuyển giai đoạn chiến lược, Người đều nhắc nhở phải chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng xứng đáng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Một trong những vấn đề mà người luôn đặc biệt quan tâm, nhắc nhở cán bộ, đảng viên đó là phải giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người coi việc giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Thật vậy, Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã gắn bó với dân tộc, hòa mình cùng dân tộc, sinh tồn trong dân tộc. Tập hợp trong hàng ngũ Đảng là những người xuất thân từ nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau, chủ yếu là công nhân và nông dân, nhưng đều cùng chung lý tưởng, cùng chung mục tiêu và cùng chung lợi ích. Lý tưởng đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Mục tiêu đó là độc lập dân tộc và CNXH, là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Lợi ích đó là phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, ngoài ra Đảng không có lợi ích riêng tư nào khác. Chính lý tưởng chung, mục tiêu chung và lợi ích chung là cơ sở của sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Và đoàn kết thống nhất thực sự là động lực chủ yếu của sự phát triển của Đảng. Thống nhất là cơ bản, các hình thức đấu tranh nội bộ mang tính chất xây dựng góp phần quan trọng củng cố và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Đoàn kết thống nhất trong Đảng là nguyên tắc cơ bản nhất trong các nguyên tắc xây dựng Đảng. Nguyên tắc đó phản ảnh quy luật vận động và phát triển của Đảng. Đoàn kết trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đoàn kết toàn dân. Bác Hồ nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” là bao gồm cả sự đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, và chỉ có sự đoàn kết cơ bản và rộng rãi như thế mới thật sự là sức mạnh vô địch, cơ sở cho mọi thắng lợi và thành công của cách mạng. Thống nhất trong Đảng là sự thống nhất cao nhất và toàn diện nhất. Từ đó thống nhất về hành động. Có thể nói đoàn kết thống nhất trong Đảng là vấn đề sinh tử của toàn Đảng và từng đảng bộ các cấp.

Tư tưởng của Người về đoàn kết thống nhất trong Đảng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính nguyên tắc tổ chức kỷ luật trong Đảng với tình cảm thương yêu đồng chí đậm đà văn hóa phương Đông; giữa truyền thống dân tộc và tính tiên tiến của giai cấp công nhân thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đoàn kết là sức mạnh. Đảng ta là một Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tất cả cán bộ đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng của giai cấp và của nhân dân lên trên hết, cao hơn hết, tất cả các đảng viên dù ở những cương vị khác nhau cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ của Đảng giao cho. Sinh thời Chủ tịch Hồ Minh không chỉ đề ra những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp để xây dựng, củng cố, giữ gìn, phát huy sức mạnh đại đoàn kết của Đảng, toàn quân, toàn dân mà chính Người đã cảm hoá, cổ vũ động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng tấm lòng “Trung với nước, hiếu với dân”; bằng phẩm chất “cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”. Người là hiện thân của khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Sự thống nhất hài hoà giữa tư tưởng và hành động, đạo đức, nhân cách, sự mẫu mực trong lời nói và việc làm vì lợi ích dân tộc, giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự trở thành động lực, sức mạnh to lớn cảm hoá giáo dục, rèn luyện xây dựng tình đoàn kết giữa cấp trên, cấp dưới, giữa đảng viên với quần chúng, giữa quân và dân, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành.

Muốn xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong các tổ chức của Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tự học tập, rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của người đảng viên cộng sản, tuyên truyền, vận động để mọi đảng viên, quần chúng tự nhận thức được sự cần thiết phải đoàn kết, từ đó tự giác tham gia xây dựng, bảo vệ sự đoàn kết thống nhất trong mọi tổ chức của Đảng; phải có chủ trương chính sách, chế độ chăm lo lợi ích chính đáng của tất cả mọi người. Người căn dặn, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là một tấm gương đoàn kết, mẫu mực từ lời nói đến việc làm vì lợi ích của dân, của nước, thực sự làm hạt nhân đoàn kết trong chi bộ đảng.

Để mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt trong tổ chức đảng được phát huy sức mạnh, cần phải kiên quyết chống bệnh quan liêu, độc đoán chuyên quyền, cá nhân chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức quần chúng trong tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, làm nòng cốt để xây dựng, củng cố giữ gìn mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng là người tổ chức, hướng dẫn, lãnh đạo khối đại đoàn kết, do vậy Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một Đảng trí tuệ, cách mạng, thống nhất, phải luôn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Với Hồ Chí Minh đoàn kết thống nhất trong Đảng không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời mà phải là một chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng. Đoàn kết không đơn thuần là tập hợp lực lượng mà cao hơn nó là bộ phận hữu cơ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam: “Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí, đoàn kết không phải ngoài miệng mà phải đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ”. Do đó, Bác luôn tâm niệm, Đảng ta tuy đông người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người: “Cách mạng nhất định thành công, ta thành công chính vì đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng”.

Và theo Bác, chính sự đoàn kết làm cho mọi người hành động thống nhất, không bị gượng ép, bắt buộc. Vì thế, Bác gọi “Đảng ta là một bà mẹ rất nghiêm ngặt và cũng rất hiền từ”. Bác cũng khuyên các đồng chí trong Đảng phải thương yêu đoàn kết, nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh công thần, địa vị, hẹp hòi cục bộ, kèn cựa… “Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, phải kiên quyết chữa cái bệnh hẹp hòi đó để thực hành chính sách đại đoàn kết. Chính sách thành công thì kháng chiến mới dễ thắng lợi”.

Đã 42 năm kể từ ngày Bác đi xa và 81 năm xây dựng và phát triển của Đảng và của cách mạng nước ta, chúng ta tự hào về đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại. Càng tự hào, chúng ta càng phải quyết tâm làm theo lời căn dặn trước lúc đi xa của Bác: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”./.

K.A (t/h)

soctrang.gov.vn

Nguyên tắc Phê bình và tự phê bình trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng cả về tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức, cán bộ. Sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử vẻ vang đó vì Đảng luôn luôn được xây dựng, tự đổi mới và tự chỉnh đốn theo tư tưởng Hồ Chí Minh để Đảng thật sự là một Đảng cách mạng chân chính như mong muốn của Người.

Một trong những tư tưởng có tính nguyên tắc trong xây dựng Đảng của Bác là Tự phê bình và phê bình được thể hiện rõ trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”. Theo Hồ Chí Minh đây là vũ khí sắc bén nhất để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh và là quy luật phát triển của Đảng. Người nhận thức sâu sắc rằng, tuy Đảng ta gồm những người có tài, có đức, phần đông là những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất …, nhưng “không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”. Người nói: “Đảng ta không phải ông thánh và cũng không phải từ trên trời rơi xuống, nó ở trong xã hội mà ra”. Từ đó, Người khẳng định: “Người đời ai cũng có khuyết điểm, có làm việc thì có sai lầm”, do vậy trong Đảng phải luôn luôn tự phê bình và phê bình, mà phê bình và tự phê bình “phải ráo riết”, “ triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt”. Cách phê bình cũng phải thành thật, giàu lòng nhân ái, khách quan. Thái độ phê bình phải có văn hoá, mang tính chất xây dựng chứ không phải nói xấu nhau. Những người bị phê bình thì phải vui vẻ nhìn nhận để sửa chữa. Được như vậy thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng.

Bản chất của “tự phê bình và phê bình” là hoạt động đấu tranh trong nội bộ Đảng để khắc phục sửa chữa những mặt, những khuynh hướng, những yếu tố tiêu cực lạc hậu trong tổ chức đảng và đảng viên; tìm ra những ưu điểm, những mặt tích cực để khuyến khích, biểu dương, phát triển. Nếu ví Đảng ta như một cơ thể sống, thì những khuyết nhược điểm là bệnh tật trong người và tự phê bình và phê bình là hoạt động “khám bệnh” và trị bệnh cho con người. Nhưng đấu tranh giải quyết những mâu thuẫn trong Đảng, như C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng chỉ rõ, tuyệt đối không được dùng biện pháp bạo lực thanh trừng lẫn nhau, loại bỏ lẫn nhau, mà phải đấu tranh bằng phê bình và tự phê bình.

Tự phê bình theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là “cá nhân thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa và để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã vi phạm. Phê bình là thấy ai có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ”.

Theo Người, có thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm thì mới phê bình người khác được chân thực và thẳng thắn. Mặt khác, trong thực tế, tự phê bình thường khó khăn hơn phê bình. Cần tự phê bình tốt để có thể phê bình tốt. Vì thế, Người thường đặt tự phê bình trước phê bình. Người nói: “Tự phê bình phải thật thà. Khi tự mình kiểm điểm cũng như khi tự phê bình trước mọi người, có khuyết điểm gì nói hết, không giấu diếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao sai lầm? Sai lầm ấy sẽ thế nào? Dùng cách nào mà sửa chữa? Và phải kiên quyết sửa chữa”. Bác cũng nói: “Tự phê bình và sửa chữa có khi dễ, nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn vì tự ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh. Tự mình không đánh thắng được khuyết điểm của mình mà muốn đánh thắng kẻ địch; tự mình không cải tạo được mình mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý. Vì vậy, người cách mạng nhất định phải thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm tự phê bình và phê bình trong xây dựng Đảng là “luật”, là “quy luật”, là “vũ khí sắc bén” làm cho Đảng trong sạch vững mạnh. Trước hết, tự phê bình và phê bình là “luật” – ở chỗ, đó là một trong những nguyên tắc không thể thiếu trong sinh hoạt Đảng nhằm không ngừng nâng cao tinh thần đoàn kết trong Đảng. Mọi tổ chức Đảng, đảng viên phải thấy đó là trách nhiệm của mình. Tự phê bình và phê bình là “quy luật” tồn tại và phát triển của Đảng; vì thông qua tự phê bình và phê bình, cán bộ, đảng viên mới thấy rõ yếu kém để khắc phục sửa chữa, thấy ưu điểm để phát huy. Tự phê bình và phê bình là “vũ khí sắc bén” vì qua đấu tranh phê phán những việc làm sai trái để làm trong sạch nội bộ Đảng. Mác, Ăngghen cho rằng tự phê bình và phê bình là quy luật bất di bất dịch về sự phát triển của Đảng cách mạng. Lênin tại Đại hội IX Đảng Cộng sản Nga, đã nói: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay đều bị tiêu vong do tự cao tự đại vì không biết cái gì đã tạo nên sức mạnh của mình và vì sợ không dám nói lên nhược điểm của mình. Chúng ta không sợ nói lên nhược điểm của chúng ta; những nhược điểm đó chúng ta sẽ học được cách khắc phục…”.

Về mục đích của “tự phê bình và phê bình”, Bác Hồ viết: “Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ, thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động được đúng đắn. Những người cách mạng cần phải kiên quyết thực hành tự phê bình, không thực hành tự phê bình thì không xứng đáng là người cách mạng. Cách mạng sở dĩ phát triển mãi, càng gặp nhiều gian khổ càng mạnh mẽ thêm là nhờ có phê bình và tự phê bình”. Tự phê bình và phê bình cũng theo Bác Hồ, là cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn; mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày phải kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết, như Bác nói: “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết. Ðoàn kết, phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa”.

Đối tượng của “tự phê bình và phê bình” theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cái cũ, cái tiêu cực, lỗi thời, cái không phù hợp với thời đại, cái sai trái trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ đảng viên.

Về phương pháp của “tự phê bình và phê bình”, Người chỉ rõ: “Tự phê bình là cá nhân cơ quan hoặc đoàn thể thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết để tránh những khuyết điểm mình đã phạm. Yêu cầu các tổ chức Đảng và đảng viên phải nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, cấp trên phải tự phê bình trước cấp dưới và tổ chức tốt phê bình, tự phê bình từ dưới lên. Tự phê bình phải thẳng thắn, thật thà, trung thực trên tình đồng chí thương yêu nhau. Đồng thời cần phải tránh việc lợi dụng phê bình để đả kích, vu cáo gây bè phái hay trù dập người phê bình thẳng thắn. Phê bình là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người, là thực hành dân chủ, do vậy người phê bình phải thành khẩn nghiêm trang đúng mực, phê bình phải đúng với thực tiễn khách quan, không được đem ý chủ quan của mình để áp đặt cho người khác”.

Trước những ý kiến cho rằng, tiến hành tự phê bình và phê bình là vô hình trung vạch rõ khuyết điểm của Đảng, của Chính phủ, của mình cũng như đồng chí mình, và như vậy kẻ địch sẽ lợi dụng để phá hoại Đảng, Hồ Chí Minh lập luận: làm người khó ai tránh khỏi lỗi lầm, thiếu sót. Đảng ta là một tổ chức chính trị tiên phong của giai cấp công nhân, tập hợp những chiến sĩ trung kiên, thông minh, dũng cảm…, nhưng Đảng cũng từ trong xã hội mà ra, không phải “trên trời rơi xuống” nên không tránh khỏi khuyết điểm, thiếu sót. Người chỉ ra nhiều lý do khách quan, chủ quan dẫn tới nhiều thiếu sót, khuyết điểm, thậm chí sai lầm của cán bộ, đảng viên. Điều đó là lẽ bình thường, quan trọng là thái độ của những người cộng sản ra sao trước những lỗi lầm mắc phải. Nếu “sợ mất oai tín và thể diện”, không quyết tâm sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, đó là điều bất bình thường. Người khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Hồ Chí Minh cho rằng: khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình thì giống như uống thuốc. Nếu sợ phê bình thì cũng khác nào là có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Như vậy thì bệnh tình lại càng nặng thêm, không chết “cũng la lết quả dưa ”. Do vậy, đối với đảng viên, cán bộ mà “nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình”.

Đặt vấn đề như vậy, rõ ràng Hồ Chí Minh không “siêu nhân hoá” con người cán bộ, đảng viên mà xét họ trong môi trường sống cụ thể và nêu quan điểm tự phê bình và phê bình chính là thang thuốc “xổ bệnh” rất có hiệu nghiệm để tẩy trừ những khuyết điểm, thiếu sót của cán bộ đảng viên, nhằm làm cho họ sống cao đẹp hơn, phục vụ cho nhân dân được nhiều hơn.

Để phê bình và tự phê bình đạt được kết quả mong muốn, theo Bác điều có ý nghĩa then chốt là phải “phê bình cho đúng”. Phê bình cho đúng chẳng những không làm giảm thể diện, uy tín của người bị phê bình, trái lại, còn làm cho sức mạnh, uy tín của Đảng và cán bộ đảng viên tăng lên. Muốn phê bình cho đúng, trước hết phải xác định đúng mục đích và đối tượng phê bình. Phê bình cốt là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, làm việc cho tốt hơn, tạo ra sự đoàn kết, thống nhất nội bộ. Phê bình mình cũng như phê bình người khác không phải là dịp để công kích lẫn nhau, nói xấu và bôi nhọ danh dự của nhau. Bản thân mình khi phê bình người khác không phải là soi mói, “bới lông tìm vết” của đồng chí mình để tìm cơ hội “hạ bệ” lẫn nhau. Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, cần phải tránh triệt để hiện tượng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí”. Người xác định đối tượng cần phê bình là công việc chứ không phải phê người. Những việc làm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm, khuyết điểm dù đó là của cá nhân hay của tổ chức, dù đó là đảng viên bình thường hay là cán bộ cấp cao đều phải được phê bình một cách kiên quyết và “phải lập tức sửa chữa”. Người nhấn mạnh: Đối với cơ quan lãnh đạo cũng như đảng viên giữ cương vị lãnh đạo trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể phải hết sức gương mẫu trong việc thực hiện tự phê bình và phê bình, tuyệt đối không được “phùng mang trợn mắt” làm thui chột tinh thần của đảng viên, quần chúng nhân dân trong đấu tranh phê bình, tự phê bình.

Theo Bác, có thái độ đúng với những khuyết điểm, thiếu sót và tìm ra phương pháp phê bình thích hợp là điểm có ý nghĩa mấu chốt trong nâng cao hiệu quả của tự phê bình và phê bình trong Đảng. Người cũng nghiêm khắc lên án thái độ, cách xử lý không đúng đắn trước những khuyết điểm, thiếu sót của tổ chức đảng hay cán bộ, đảng viên. Khi có người mắc phải sai lầm, khuyết điểm, thái độ đúng của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng là không “đao to búa lớn”, vội vàng chụp mũ cho họ là “cơ hội chủ nghĩa” rồi đi đến cảnh cáo “khai trừ” một cách áp đặt. Muốn cho họ thành tâm sửa chữa, phải tiến hành giải thích rõ ràng, làm cho họ tự nhận thấy sai sót của mình để vui lòng sửa chữa. Để làm được điều đó, “phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”. Phê bình “khôn khéo” ở đây, theo Hồ Chí Minh, là phải đồng thời vạch rõ ưu điểm và khuyết điểm, tránh dùng những lời mỉa mai, chua cay đâm thọc, không được hữu khuynh “a dua”, “tâng bốc” mà phải phê, tự phê một cách “ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang thêm bớt”.

Sự “khôn khéo” còn thể hiện ở chỗ tiến trình tự phê bình và phê bình phải được đặt trong khuôn khổ của tổ chức, có sự lãnh đạo chặt chẽ. Lãnh đạo, chỉ huy phải khơi dậy được tinh thần dân chủ không chỉ trong Đảng mà cả trong quần chúng nhân dân. Làm như thế mới tránh được hiện tượng đảng viên, cán bộ và quần chúng nhân dân dù có ý kiến cũng không dám nói, không dám đấu tranh phê bình. Hồ Chí Minh cho rằng: Họ không dám nói không phải họ không có ý kiến, nhưng vì họ nghĩ: nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị “trù” là đằng khác. Do không dám nói ra nên họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản, sinh thói không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng, “ trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm” sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác. Người nêu bật kinh nghiệm: “cơ quan nào mà trong lúc khai hội, cấp trên để cho mọi người có gì nói hết, cái đúng thì nghe, cái không đúng thì giải thích, sửa chữa, ở những cơ quan đó mọi người đều hoạt bát mà bệnh “thì thầm thì thào” cũng hết”.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh, phê bình phải được tiến hành một cách thường xuyên liên tục. Làm được như vậy, theo Người: các sai lầm khuyết điểm sẽ được rửa sạch ngay khi nó mới phôi thai. Còn “nếu để sai lầm, khuyết điểm trở nên to tát rồi mới đem ra “chỉnh” một lần, thế là “đập” cán bộ. Cán bộ bị “đập”, mất cả lòng tự tin, người hăng hái cũng hoá thành nản chí, từ nản chí đi đến vô dụng”, như thế là không thực hiện đúng mục đích của tự phê bình, phê bình, không vì sự tiến bộ mà còn mất dần đảng viên, cán bộ.

Những ý kiến về phê bình cho đúng của Hồ Chí Minh vừa nói lên tính Đảng, vừa nói lên tính nhân văn, văn hoá của người phê bình. Muốn sửa chữa sai lầm khuyết điểm đi đến sự tiến bộ thì phải dựa vào lòng tự giác của đảng viên, cán bộ và dùng biện pháp giải thích, thuyết phục. Điều đó là hết sức cần thiết nhưng như thế không có nghĩa là không giải quyết bằng con đường tổ chức. Người chỉ ra lỗi lầm cũng có “việc nhỏ, việc to”, nếu không dùng biện pháp xử phạt thì kỷ luật của Đảng cũng trở nên lỏng lẻo, và điều đó cũng là sự mở đường cho bọn cố ý dễ dàng phá hoại Đảng ta. Do vậy, để tự phê bình và phê bình được tăng thêm hiệu quả thì phải kết hợp chặt chẽ với biện pháp tổ chức, soi xét kỹ lưỡng từng trường hợp để có hình thức xử lý thích hợp.

Là một chiến sĩ cộng sản đã từng trải, dày dạn kinh nghiệm, với nhãn quan chính trị hết sức nhạy bén, Hồ Chí Minh sớm nhìn thấu được nguy cơ của một đảng cầm quyền là dễ vấp phải những sai lầm, khuyết điểm. Người đã chỉ ra một cách cụ thể và đồng thời bốc trúng thang thuốc “xổ bệnh” có hiệu quả cao là tiến hành phê bình trong Đảng. Phê bình cho đúng được Hồ Chí Minh luận giải trong tất cả các đề mục của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đều toát lên tư tưởng của Người về tình yêu thương con người, vì sự tiến bộ của mỗi đảng viên, cán bộ. Người cỗ vũ và chỉ rõ cho mỗi đảng viên, cán bộ con đường tự giải thoát và giúp nhau giải thoát khỏi mọi chứng bệnh, vượt lên mọi cám dỗ thấp hèn, thực sự là con người mới xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang thực hiện cuộc vận động lớn: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để cuộc vận động đạt được mục tiêu đề ra thì giải pháp hàng đầu là tiến hành phê bình, tự phê bình mà điểm then chốt của nó là phải phê bình cho đúng như Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách đây hơn 60 năm ở trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Phê bình cho đúng cũng chính là một biểu hiện của sự thấm sâu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong mỗi chúng ta.

Trong thực tế hiện nay, một số tổ chức Đảng xuất hiện những biểu hiện lệch lạc trong phương pháp tự phê bình và phê bình, như sau: Tự phê bình thì ít hoặc không chịu tự phê bình nhưng phê bình thì nhiều, làm ra vẻ ta đây hăng hái đấu tranh chống tiêu cực; phê bình vu vơ, phê bình không có địa chỉ rõ ràng; phê bình theo cách đặt điều, theo kiểu lợi dụng phê bình để bôi xấu nhau, để hạ bệ người mình không ưa, nhất là biết người đó sẽ được đề bạt. Trong các đợt sinh hoạt Ðảng tự phê bình và phê bình, thường có thái độ “giữ mình”, ngồi im, nếu thấy đồng chí phê bình mình thì giả vờ thành khẩn nhận cho qua chuyện; giả vờ thành khẩn nhận và hứa sửa chữa khuyết điểm khi được tập thể phê bình, nhưng thực chất nhận và hứa cho qua chuyện. Hiện tượng hữu khuynh, né tránh, kém tính chiến đấu của không ít cán bộ, đảng viên, cá biệt có tình trạng tranh thủ phê bình để tâng bốc, nịnh bợ cấp trên… đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tự phê bình và phê bình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi hiện tượng đó là sự giấu diếm khuyết điểm, giống như người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc, trong khi những người khác biết rõ nhưng cũng làm ngơ. Hữu khuynh né tránh, thực chất là một biến tướng của chủ nghĩa cá nhân và tư tưởng cơ hội trong tình hình mới và là nguyên nhân của hiện tượng độc đoán, chuyên quyền, định kiến, trù dập người phê bình của những cán bộ có chức, có quyền… làm cho cấp dưới và quần chúng “Dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình”. Tự phê bình và phê bình vốn đã mang tính chiến đấu, ngày nay tính chiến đấu đó càng đòi hỏi cao hơn. Không thể dung nạp hiện tượng độc đoán, gia trưởng, hữu khuynh, né tránh của cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình. Người nói: “Cán bộ nào không dám công khai nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”.

Mỗi thời kỳ phát triển của cách mạng đặt ra những nhiệm vụ chính trị cụ thể và cũng đặt ra những yêu cầu mới trong nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu và nhiệm vụ lãnh đạo công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội hiện nay là một sự nghiệp to lớn nhằm củng cố vững chắc độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đảng không thể hoàn thành sự nghiệp lãnh đạo đầy khó khăn đó nếu không chú trọng xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về mọi mặt, nếu Đảng không thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, cùng với những thành công và ưu điểm, Đảng cũng còn bộc bạch những khuyết điểm, yếu kém, những biểu hiện chưa ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng. Vì vậy, đổi mới và chỉnh đốn Đảng là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng và cũng là đòi hỏi tự thân của Đảng. Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, trong đó đặc biệt là coi trọng nguyên tắc Tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ thường xuyên và tất yếu trong công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh./.

AD

soctrang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân

CPV- Bằng đường lối chính trị đúng đắn, bằng mục tiêu chính trị đúng đắn với sự mềm dẻo, linh hoạt trong chỉ đạo, Hồ Chí Minh đã thực hiện thành công việc tập hợp toàn dân vào các hình thức mặt trận, phát huy đến cao độ khả năng của dân trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, trường kỳ để rồi bằng chính sức mạnh của mình giành thắng lợi.

Tư tưởng quốc phòng toàn dân của Hồ Chí Minh được biểu hiện trước hết là việc phát động một cuộc chiến tranh nhân dân, dùng sức mạnh của toàn dân để đánh thắng kẻ thù.

Kế thừa truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của dân tộc, vận dụng quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Dân là chủ, kháng chiến kiến quốc là sự nghiệp của dân; có dân là có tất cả; khởi nghĩa toàn dân để giành lại nền độc lập cho dân tộc, kháng chiến toàn dân để giữ vững nền độc lập ấy. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. Trong quá trình kháng chiến, Người đã nhiều lần khẳng định: 20 triệu đồng bào Việt Nam quyết đánh tan mấy vạn quân thực dân phản động. Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người kêu gọi toàn dân với tinh thần: mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Hai là, xây dựng lực lượng quân sự bao gồm ba thứ quân, kết hợp xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp và chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, sử dụng linh hoạt các phương pháp tiến công.

Ngay khi Đảng ra đời, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng ta đã chú ý xây dựng các hình thức mặt trận. Mặt trận chính là tổ chức nhằm tập hợp đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân. Đây là cơ sở để xây dựng một đội quân chính trị rộng khắp.

Trong xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh hết sức chú ý đến việc giáo dục tư tưởng chính trị và nhiệm vụ chính trị cho họ. Đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ở Hồ Chí Minh, giữa chính trị và quân sự có mối quan hệ mật thiết. Dùng chính trị để phục vụ cho quân sự, dùng quân sự để xây dựng chính trị và kết hợp chính trị với quân sự để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bằng tinh thần và sức mạnh của toàn dân.

Ba là, kết hợp giữa kháng chiến và kiến quốc, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Tư tưởng này được thể hiện rất rõ trong hai cuộc kháng chiến. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chủ trương “Vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, khẩn trương xây dựng chính quyền và Mặt trận Liên Việt, kêu gọi toàn dân thi đua ái quốc “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm”, “hậu phương thi đua với tiền phương”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính, thi hành đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện các chính sách bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Người chủ trương xây dựng miền Bắc làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam và là cơ sở vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Người đã động viên quân và dân miền Bắc ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cả nước có chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đánh bại chiến tranh phá hoại của địch và chi viện cho miền Nam, với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”.

Tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, hiện nay, Đảng ta rất coi trọng việc giáo dục ý thức quốc phòng cho các tầng lớp nhân dân, kêu gọi nhân dân đề cao cảnh giác, chống các âm mưu và thủ đoạn của địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Cùng với chiến lược phát triển kinh tế, Đảng ta đề ra chiến lược về quốc phòng và an ninh quốc gia; kết hợp kinh tế với quốc phòng; kết hợp giữa xây dựng lực lượng vũ trang chính quy với các lực lượng tự vệ ở các địa phương, tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

ĐTH – ĐQ

sites.google.com

Tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Bác Hồ 12Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, trước khi đi xa đã căn dặn “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình được xem là nguyên tắc, quy luật phát triển Đảng, là biện pháp tốt nhất để củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là để làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, làm cho mỗi một tổ chức tốt lên, phần xấu bị mất dần đi.

Trong từng hoàn cảnh cụ thể, Hồ Chí Minh có cách nói khác nhau để đạt được mục đích song Người thường đặt lên trước tự phê bình, sau đó mới đến phê bình. Người cho rằng mỗi cán bộ, đảng viên trước hết tự mình phải thấy rõ mình, để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, cũng như phải tự soi gương, rửa mặt hằng ngày. Hơn nữa, nếu biết tự phê bình tốt thì mới phê bình người khác tốt được. Người luôn nhắc nhở, yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải “Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình”. Người coi tự phê bình và phê bình là công cụ đắc lực để rèn luyện cán bộ, đảng viên nhằm làm cho mỗi người tốt hơn, tiến bộ hơn và tăng cường đoàn kết nội bộ hơn. Người thẳng thắn chỉ rõ “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Tuy nhiên, Người cũng lưu ý để làm được việc đó thì không dễ, “vì người ta hay có lòng tự ái. Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị”. Người lưu ý cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng từ trên xuống dưới không những phải “luôn luôn dùng” mà còn “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”. Để tự phê bình và phê bình có kết quả thì mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thực, chân thành với bản thân mình cũng như với người khác, phải tiến hành thường xuyên, nghiêm túc, không nể nang, qua loa đại khái, hình thức, không giấu giếm và cũng không thêm bớt khuyết điểm, đặc biệt “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, “phải học tập chủ nghĩa Mác- Lênin và thấm nhuần chính sách của Đảng”. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng mạnh mẽ lên án, phê phán những ai giấu khuyết điểm, không dám thẳng thắn nhận khuyết điểm “Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm càng ngày càng to, đến khi to quá, không sửa chữa được, thì mọi việc đều hỏng”. Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh thẳng thắn thừa nhận có lúc Đảng cũng mắc sai lầm song khẳng định rõ: “Đảng ta dũng cảm nhận sai lầm và quyết tâm sửa chữa”. Hồ Chí Minh và Đảng ta thừa nhận cái sai trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc thời kỳ 1954 – 1956 và quyết tâm sửa chữa, đã đem lại kết quả tốt đẹp. Nông thôn dần dần ổn định, nội bộ Đảng đoàn kết, lòng tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, chính quyền dân chủ nhân dân được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường. Những kết quả đó là cơ sở, tiền đề vững chắc đưa miền Bắc nhanh chóng bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Thực tế một lần nữa chứng minh tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật và làm theo sự thật” đã tạo ra một cuộc cách mạng to lớn. Cuộc cách mạng ấy đã đem đến sự đổi mới toàn diện, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là đổi mới về tư duy kinh tế. Chính quyết tâm đổi mới ấy của Đảng và cả dân tộc đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Đến nay, sau hơn 20 năm nhìn lại, đất nước đã và đang có sự chuyển mình to lớn, kinh tế tăng trưởng nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy mạnh, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị- xã hội ổn định. Quốc phòng an ninh được giữ vững. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao.

40 năm đã qua đi, song Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là cẩm nang thần kỳ giúp cho Đảng hoạch định đường lối chiến lược để xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tự phê bình và phê bình vẫn là nguyên tắc cơ bản, không thể thiếu trong xây dựng và phát triển Đảng ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Thạch Văn Chung
(Văn phòng Tỉnh uỷ)

tinhdoanbg.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo

Nước ta là nước đa tôn giáo, song có hai tôn giáo mà số tín đồ đông nhất là Phật giáo và Công giáo.

Là một người cộng sản theo chủ nghĩa Mác – Lê nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ phản đối, bài xích các tôn giáo. Người luôn luôn tỏ thái độ tôn trọng và đề cao vai trò của những vị đã sáng lập ra các tôn giáo. Người nói: “Mục đích cao cả của Phật Thích Ca và chúa Giê-su đều giống nhau. Thích Ca và Giê- su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là mẫu mực của sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng. Người không hề có sự phân biệt đối xử giữa tôn giáo này và tôn giáo khác, giữa người có đạo và người không có đạo. Tư tưởng đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo là tư tưởng nhất quán và trở thành chính sách lớn của Bác.

Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định quyền tự do tín ngưỡng là quyền tự nhiên của người Việt Nam. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, quan tâm giáo dục cán bộ chính quyền, quân đội và các đoàn thể phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, bảo vệ đền chùa, nhà thờ các tôn giáo.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào lương hay giáo đều là người Việt Nam, đều là người lao động và sự nghiệp cách mạng là việc lớn, 1à sự nghiệp chung không phải chỉ của một hai người. Người kêu gọi: “Lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc, và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh”(3).

Người dạy: “Ngày nay, đồng bào cả nước, giáo và lương, đều đoàn kết chặt chẽ, nhất tâm nhất trí như con một nhà, cương quyết giữ vững tự do độc lập…”

Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh rõ ràng nổi lên quan điểm bỏ qua những dị biệt nhỏ để giữ lấy cái tương đồng lớn; vượt qua những khác biệt về đức tin, lối sống… để giữ lấy tình đoàn kết dân tộc, giữ lấy mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc.

Giữa tháng 10 năm 1945, vào ngày lễ hành nguyện Phật giáo, trong một bữa tiệc chay được tổ chức tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), có tín hữu hai tôn giáo (Công giáo và Phật giáo) tham dự, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Mặc dầu hai tôn giáo có hai giáo lý khác nhau nhưng tôn giáo nào cũng từ bi nhân đạo mà ra, thì không lý gì lúc này cùng là con dân Việt Nam, lại không thể có sự đoàn kết giữa hai tôn giáo được”.

Trong bức thư gửi các giám mục và đồng bào công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình, ngày 14-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh phấn đấu”(7)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo không chỉ xuất phát từ thực tế đất nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc, từ tinh hoa văn hóa dân tộc, từ lý luận Mác – Lê nin xem cách mạng là sự nghiệp của quần chúng… mà còn từ tình cảm yêu thương, lòng nhân ái của Người với đồng bào các tôn giáo. Tấm lòng ấy là bản sắc Hồ Chi Minh luôn biết hòa vào quần chúng, hiểu họ yêu gì, ghét gì và mong muốn điều gì.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc có một ý nghĩa rất to lớn. Nó đã trở thành cơ sở cho việc hình thành chính sách tôn giáo của Đảng và Chính phủ ta trong các giai đoạn cách mạng nhằm phát huy được mặt tích cực của đạo đức tôn giáo trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.

Kể từ luận cương cách mạng tư sản dân quyền năm 1930 đến Nghị quyết Đại hội VII của Đảng năm 1996, từ Nghị quyết đầu tiên của Chính phủ ngày 3-9-1945 đến Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19-4-1999 và trong các bản Hiến pháp của nước ta, Đảng và Nhà nước đều nhất quán tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo.

Nguyễn Xuyến

sites.google.com

Xây dựng Đảng ta là đạo đức, là văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Với bản chất cách mạng và khoa học, Đảng ta đã không ngừng chăm lo xây dựng Đảng, kiên cường lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi gian nan thử thách, đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc. Có thể nói, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản – một Đảng đạo đức và văn minh, cách mạng và khoa học – là vấn đề có tính nguyên tắc, là quy luật của cách mạng XHCN, là nhân tố bảo đảm sự phát triển đúng đắn của đất nước. Không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì không thể có độc lập dân tộc vững chắc, không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân, không có Nhà nước của dân, do dân và vì dân theo đúng nghĩa của nó và càng không thể có CNXH.

Hiện nay, nhân loại đã trải qua thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, một kỷ nguyên có nhiều diễn biến hết sức phức tạp và sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã khẳng định thế và lực đi lên của chúng ta. Điều ấy đòi hỏi Đảng ta phải vững mạnh, đủ tầm, đủ bản lĩnh, trí tuệ để đưa đất nước phát triển bền vững cả về chính trị và kinh tế trong thời đại toàn cầu hóa; xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh theo đúng lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Nhiều lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: Là người cộng sản không thể viết lên trán mình chữ cộng sản là đã được quần chúng tin yêu, mà phải bằng hành động gương mẫu, bằng phẩm chất, đạo đức, tài năng của mình thể hiện ở những việc làm ích nước, lợi dân, thực sự phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người… thì mới được quần chúng yêu mến, tin tưởng. Và Người khẳng định: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc mình và thời đại. Chỉ khi nào Đảng Cộng sản thực sự là tổ chức của những người có đạo đức và văn minh cao, thì Đảng mới có thể làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong xây dựng xã hội mới – xã hội XHCN. Đó là sự lựa chọn khách quan của lịch sử. “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hăng hái và gương mẫu”.

Do vậy, để xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh thì những người cộng sản Việt Nam nhất thiết phải nâng mình lên một tầm cao mới về tri thức và văn minh của thời đại.

1. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần và thường xuyên trau dồi đạo đức của người cộng sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: đạo đức cách mạng là nền tảng, là tiêu chuẩn đầu tiên của người cách mạng. Cốt lõi của đạo đức cách mạng là gì? Theo Hồ Chí Minh, đó là: cần, kiệm, liêm, chính. Trong lời khuyên đối với anh em viên chức ngày 17-1-1946, Người nói: để giúp công việc Chính phủ một cách đắc lực, để nâng cao tinh thần kháng chiến, anh em viên chức bây giờ phải có bốn đức tính là cần, kiệm, liêm, chính.

Và Người ví:

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính

Người còn nhấn mạnh: Thiếu một mùa thì không thành trời. Thiếu một phương thì không thành đất, thiếu một đức thì không thành người.

Mỗi khi chúng ta xa rời các đức ấy thì “dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”. Cùng với cấu trúc: Cần, kiệm, liêm, chính, Hồ Chí Minh còn đưa ra một kiểu cấu trúc khác: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Trong “Sửa đổi lối làm việc” khi nêu lên những tính tốt của người đảng viên, Người viết: “Tóm tắt tính tốt ấy gồm năm điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm… Đó là đạo đức cách mạng”. Cũng có khi Người dùng: Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm để chỉ đạo đức cách mạng. Đó là một khái niệm có nội dung phong phú, nhiều mặt, nhiều nghĩa, nhiều khía cạnh khác nhau. Đối với người đảng viên, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, tùy theo đối tượng mà Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm đạo đức cách mạng một cách linh hoạt.

Nhưng tóm lại, Người viết: “Đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất.

Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng.

Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình.

Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.

Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác”.

Với cách giải thích ngắn gọn mà đầy đủ, súc tích và dễ hiểu của Hồ Chí Minh, các “đức”, các “điều” ấy trở nên gần gũi, dễ nhớ đối với mọi người, mọi giới và ai ai cũng thấy rằng mình vẫn có thể thực hiện được và cố gắng thực hiện để góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp lớn lao của Đảng, của cách mạng.

Nhìn lại hơn 20 năm qua, chúng ta đã thu được nhiều thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề để tiếp tục đi theo con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn. Đó cũng là kết quả tốt đẹp của việc rèn luyện đạo đức cách mạng; là quá trình làm mới đạo đức cách mạng cả về thực tiễn và ý thức, cả trong Đảng và trong dân. Chúng ta tự hào vì “Đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, năng động sáng tạo trong công tác, lao động, rèn luyện phẩm chất năng lực, có bước trưởng thành, đóng vai trò nòng cốt trong công cuộc đổi mới, góp phần xứng đáng vào thành quả chung của sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc”.

Song, chúng ta rất hổ thẹn và bất bình khi: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém cả về phẩm chất và năng lực… Thoái hóa biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân… diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi… Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

Trước tình hình ấy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới. Nâng cao đạo đức cách mạng trong tình hình mới, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt và vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cũng như những chỉ dẫn của Đảng về đạo đức cách mạng của người đảng viên trong thời kỳ mới. Có thể khái quát nội dung rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay gồm:

Một là, cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, tin tưởng vào con đường đi lên CNXH; khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, không nao núng trước kẻ thù, không dao động trước khó khăn, thử thách; hăng say tham gia vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện dao động, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Hai là, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu về đạo đức, lối sống, thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; bất luận khi nào và nơi nào cũng nêu cao tinh thần “mình vì mọi người”, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm với công việc của mình; mọi lời nói việc làm đều vì mục đích chung là xây dựng thành công CNXH, lấy lợi ích của nhân dân là trên hết; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, thói quan liêu, đặc quyền đặc lợi; mặt khác, phải biết gần gũi, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Ba là, cán bộ, đảng viên phải “học, học nữa, học mãi”; luôn khiêm tốn, cầu thị, tích cực học tập để không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt, có đủ phẩm chất và năng lực tham gia lãnh đạo, tổ chức hoạt động thực tiễn theo chức trách, nhiệm vụ được giao.

Bốn là, cán bộ, đảng viên phải biết nhận thức đúng và nghiêm túc chấp hành mọi quy định của tổ chức, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tự giác chấp hành kỷ luật, nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình; dũng cảm và kiên quyết đấu tranh với những sai lầm khuyết điểm.

Như vậy, yêu cầu về đạo đức đối với người đảng viên của Đảng bao hàm trên nhiều khía cạnh khác nhau: đạo đức về chính trị tư tưởng, đạo đức trong sinh hoạt lối sống, đạo đức trong sinh hoạt đảng, đạo đức trong quan hệ giữa người và người, quan hệ với quần chúng nhân dân.

Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên hiện nay là một cuộc đấu tranh rất phức tạp và khó khăn, kiên trì và lâu dài. Bởi vì, đó là đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu; giữa cái mới và cái cũ; giữa nhận thức và hành động… trong bối cảnh có nhiều thách thức, tiêu cực.

Do đó, phải sử dụng tổng hợp, đồng bộ nhiều giải pháp trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Có thể tập trung vào các biện pháp sau:

– Đổi mới công tác giáo dục chính trị, đạo đức.

– Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời và chính xác các biểu hiện cá nhân chủ nghĩa của cán bộ, đảng viên.

– Nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình.

– Phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân và báo chí trong đấu tranh chống suy thoái đạo đức.

Đặc biệt, cần đẩy mạnh nêu gương, học tập người tốt, việc tốt; mà trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt, nhận thức đúng và hành động đúng theo Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

2. Cán bộ, đảng viên không ngừng học tập, nâng cao năng lực trí tuệ khoa học, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Cách mạng là một nghề, nghề gì cũng phải học, học lý luận Mác-Lênin, học văn hóa, học khoa học-kỹ thuật, học ngoại ngữ… Muốn xây dựng CNXH thì phải có học thức, phải có văn hóa. Với mọi cán bộ, đảng viên, Người yêu cầu “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn” và “nghề nào cũng phải học, phải thông thạo”.

Hiện nay khi mà thời đại đã và đang tạo cho nhân loại thu được nhiều thành tựu kỳ diệu trên các lĩnh vực thì những chân lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các thành tựu do cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại đem lại chính là những thăng hoa của văn hóa, là đỉnh cao trí tuệ của loài người.

Các nhân tố đó đang và sẽ là hành trang và sức mạnh tinh thần không thể thiếu được để toàn Đảng, toàn dân ta vững bước tiến vào thế kỷ XXI, một thế kỷ chứa đầy triển vọng nhưng cũng không ít thách thức.

Nâng cao trí tuệ trong tình hình mới đòi hỏi Đảng và nhân dân ta tiếp tục đổi mới tư duy. Phải hiểu cho đúng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, biết vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết và tư tưởng đó, đặc biệt là những vấn đề về CNXH vào những điều kiện lịch sử cụ thể hiện nay. Phải hiểu cho đúng thực tiễn Việt Nam và thế giới, những xu thế lớn của thời đại khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI, những kiến thức về khoa học-kỹ thuật, công nghệ hiện đại, và đặc biệt là về kinh tế thị trường định hướng XHCN còn mới mẻ đối với chúng ta.

Từ đó Đảng không ngừng hoàn chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng và bảo vệ đất nước; cán bộ, đảng viên phải quán triệt và lãnh đạo nhân dân biến những đường lối, chủ trương, chính sách ấy thành hiện thực.

“Kiến thiết cần có nhân tài”. Muốn có nhân tài thì phải đào tạo. Với ý nghĩa đó, cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu. Đảng cần đẩy mạnh hơn nữa trong phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đào tạo ra những con người có khả năng đáp ứng nhu cầu trước mắt và chuẩn bị cho sự phát triển của đất nước trong tương lai.

Quả thật, mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng bao giờ cũng đặt ra những nhiệm vụ mới, với những khó khăn, thử thách mới. Sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh là “một cuộc chiến đấu khổng lồ” để “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”.

Và cái khó khăn của cuộc chiến đấu mới không phải chỉ ở tầm vóc và quy mô của sự nghiệp xây dựng mà còn ở chỗ mỗi cán bộ, đảng viên phải khắc phục những yếu kém của mình, chiến thắng “giặc ở trong lòng” mình, “giặc nội xâm” ở ngay trong tổ chức mình.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang tiến hành sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nhiều thời cơ và thách thức, vận hội và nguy cơ đan xen nhau, đang tác động qua lại hết sức phức tạp. Phải tranh thủ nắm bắt thời cơ, tận dụng vận hội, vượt qua mọi thử thách, đẩy lùi mọi nguy cơ để đưa đất nước đi lên.

Vì vậy, Đảng ta đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải có một sự nỗ lực phi thường. Sự nỗ lực ấy trước hết tập trung vào việc nâng cao hai mặt trí và đức của mỗi cán bộ, đảng viên, cũng như nâng cao mặt bằng trí-đức của toàn xã hội. Phải có cái trí ngang tầm thời đại và cái đức theo gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta mới thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển đất nước theo định hướng XHCN, chúng ta mới đi tới được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Ôn lại những chặng đường mà Đảng ta đã trải qua cùng những thắng lợi vẻ vang mà nhân dân ta giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta càng thấm thía và biết ơn vô hạn công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu, càng hiểu thêm, tin yêu thêm và tự hào thêm về dân tộc ta – một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta – Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện – một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Với chặng đường lịch sử 81 năm vẻ vang của Đảng, chúng ta có quyền tự hào mà nhắc lại nhận định sáng suốt của lãnh tụ Hồ Chí Minh:

Đảng ta là đạo đức, là văn minh
Là thống nhất, độc lập, là hòa bình, ấm no.

ThS. Trương Thị Mỹ Trang
Khoa Xây Dựng Đảng – Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi

xaydungdang.org.vn

Tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo

Dân tộc Việt Nam có truyền thống hàng nghìn năm văn hiến, truyền thống hiếu học. Một trong những con người tiêu biểu cho truyền thống hiếu học, có nhiều đóng góp trong việc xây dựng nền giáo dục cách mạng Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Là người sáng lập ra chế độ mới, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngay sau ngày độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc giải quyết nạn dốt là một trong những nhiệm vụ cấp bách của chế độ mới. Bởi vì, ”một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, ”Dốt thì dại, dại thì hèn”.

Theo Hồ Chí Minh, “một chế độ mới ra đời, điều cần thiết đầu tiên là phải nhanh chóng xóa bỏ nền giáo dục nô lệ, Thực dân Pháp muốn làm cho dân ngu để trị”. Đối với chúng ta, vấn đề không chỉ là nhận thức thế giới mà còn phải cải tạo thế giới. Muốn làm được điều đó, nói như V.l. Lê Nin, mù chữ sẽ đứng ngoài chính trị. Quan điểm của Hồ Chí Minh là phải làm cho nhân dân biết đọc, biết viết, từng bước nâng cao dân trí. Bởi vì nước ta là nước dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ. Công việc kháng chiến, kiến quốc, đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chúng ta phải đem tài dân, sức dân, của đân để làm lợi cho dân. Muốn làm được điều đó, cần phải có giáo dục và giáo dục lại nhân dân.

Hồ Chí Minh cho rằng, giáo dục sẽ tạo ra tính liên tục của cách mạng. Trên cơ sở nâng cao dân trí, nhân dân sẽ biết quyền lợi, bổn phận, có kiến thức mới để tham gia vào công việc xây dựng. Sự thành công của các nước, không có yếu tố nào quan trọng hơn giáo dục. Giáo dục sẽ tạo ra ”những nguyên liệu” không có sẵn trong tự nhiên như kỹ sư, chuyên gia, bác học… Giáo dục – đào tạo sẽ góp phần quyết định làm cho non sông Việt Nam bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu. Giáo dục tạo ra nhân cách và từng bước hoàn thiện con người.

Mặt khác, giáo dục còn là yếu tố quyết định trực tiếp nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, trình độ tổ chức quản lý. Giáo dục sẽ giúp cho người học có một vốn liếng về lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam và thế giới mà nếu không có nó thì sẽ không giữ vững được nền độc lập, không thể tham gia vào công việc kiến thiết xây dựng nước nhà dân giàu, nước mạnh. Giáo dục sẽ giúp cho mỗi người dân có kiến thức mới để biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc…” Theo Hồ Chí Minh, giáo dục chỉ phát huy hết vai trò, sức mạnh của mình khi thực hiện đúng đắn phương châm, phương pháp giáo dục. Người đã nhiều lần căn dặn các nhà giáo phải luôn gắn nội dung giáo dục với thực tiễn Việt Nam, học đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ thực tế, học tập phải kết hợp với lao động sản xuất Giáo dục phải kết hợp cả 3 khâu: gia đình, nhà trường và xã hội. Nếu xem nhẹ bất kỳ khâu nào cũng đều hạn chế đến kết quả của giáo dục, thậm chí có thể đưa lại những hậu quả khó lường… Hồ Chí Minh quan niệm giáo dục đào tạo là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Kết quả giáo dục phụ thuộc rất lớn vào đường lối của Đảng, trách nhiệm của chính quyền, các ngành, các cấp, các đoàn thể, của cha mẹ học sinh. Phải tạo ra sức mạnh tổng hợp cho công tác giáo dục – đào tạo của Đảng. Bởi vì, giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần còn lại thuộc về vai trò của các đoàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để có một nền giáo dục đạt chất lượng và hiệu quả cao, thể hiện bản chất tốt đẹp của nền giáo dục XHCN thì phải thật sự dân chủ, bình đẳng trong giáo dục; phải gắn liền với thi đua và phương pháp nêu gương…

Nhìn lại nền giáo dục cách mạng Việt Nam gần 60 năm qua, chúng ta càng thấy rõ một sự thật: Lúc nào và ở đâu nghiên cứu và quán triệt đầy đủ Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo thì ở đó đem lại những thành tựu và niềm tự hào lớn cho nền giáo dục nước nhà. Hiện nay, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta coi giáo dục làquốc sách hàng đầu nhưng làm thế nào để hiện thực hóa điều đó thi chúng ta vẫn còn đang tìm tòi. Đội ngũ giáo viên vẫn đang còn phải lo toan quá nhiều việc để lo cho cuộc sống gia đình. Những biện pháp cụ thể để chặn đứng những tiêu cục, xuống cấp trong giáo dục vừa thiếu, vừa yếu, lại không đồng bộ. Trước đây, phong trào thi đua ”dạy tốt, học tốt” không bị chủ nghĩa hình thức chi phối ngày nay bệnh thành tích đang làm mờ đi thực chất giáo dục. Hai năm gần đây, việc cãi cách phương pháp ra đề thi đại học, bước đầu xác định là một vị thuốc trong thang thuốc làm giảm căn bệnh của những cơn sốt luyện thi, dạy thêm, học thêm. Đó là những kinh nghiệm cần được nghiêm túc đánh giá, tổng kết để tìm ra bước đi thích hợp cho nền giáo dục nước ta trong những năm tới.

Theo báo Lâm Đồng

dangcongsan.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đồng thời là nhà giáo, nhà văn hoá lớn của thế giới, Người sáng lập, đặt nền móng và chỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục mới Việt Nam. Chỉ riêng về giáo dục, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã là một kho tàng, ở tầm chiến lược và ngày càng ngời sáng qua thực tiễn. 

1. Nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, trước hết, phải nói đến tư tưởng giải phóng con người thoát khỏi tăm tối, lạc hậu, đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc văn minh, tiến bộ. Đây vừa là mục tiêu, vừa là khát vọng “tột bậc” của Người. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, dù ở trong hoàn cảnh nào, Người cũng là chiến sĩ tiên phong đi vào phong trào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập ; giải phóng họ thoát khỏi ách áp bức bóc lột của thực dân phong kiến, thoát khỏi sự ràng buộc của hệ tư tưởng lạc hậu, tạo mọi điều kiện cho mỗi dân tộc và mỗi người dân đứng lên làm chủ nền văn hoá, làm chủ vận mệnh và tương lai của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người kế tục và phát triển cao hơn cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, dân trí của thế hệ những người Việt Nam yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Người đã tố cáo đanh thép chế độ thực dân Pháp trong việc “làm cho dân ngu để trị”, “gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát”, đòi quyền “tự do học tập” và “thực hành giáo dục toàn dân”(1). Đồng thời, Người đã dày công tìm kiếm, phát hiện và giới thiệu cho đất nước những nét tiến bộ mới của nền giáo dục kiểu mới của nhân dân lao động – nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính nhân đạo và tính dân chủ cao cả, bảo đảm cho sự phát triển toàn diện những năng lực sẵn có của con người.

Trong suốt thời gian lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Người chỉ rõ cho chúng ta thấy mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với cách mạng ; giữa giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước. Người khẳng định: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn cho dân mạnh, nước giàu, thì mỗi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. Muốn cho dân mạnh, nước giàu thì dân trí phải cao, phải “đa dạng hoá các loại hình đào tạo, mở trường vừa học, vừa làm để tạo điều kiện cho người lao động, cán bộ, chiến sỹ được đi học”. Khi dân trí cao sẽ xuất hiện nhiều nhân tài tham gia xây dựng đất nước. Người chỉ cho chúng ta con đường đưa đất nước thoát khỏi cảnh yếu hèn – đó là con đường phát triển giáo dục. Người nói : “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và kêu gọi mọi người thi đua học tập để đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc văn minh, tiến bộ.

2. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội dung cơ bản của giáo dục là phải đào tạo ra những con người xây dựng chủ nghĩa xã hội “vừa hồng vừa chuyên”. Đây là một tư tưởng then chốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục. Người nhấn mạnh, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, mỗi cô giáo, thầy giáo phải là những chiến sỹ trên mặt trận đó. Nhiệm vụ của nền giáo dục cách mạng là : “phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân”. Giáo dục phải tạo ra được những người lao động mới. Đó là những người có lòng yêu nước nồng nàn, “trung với nước, hiếu với dân”, có đạo đức trong sáng, có chí khí hăng hái vươn lên, không sợ hy sinh gian khổ, có tinh thần gan dạ, dũng cảm, khiêm tốn, thật thà, cần cù, tiết kiệm, trong sạch, giản dị, có tri thức và sức khoẻ để trở thành những người chủ tương lai của đất nước, “những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của các cô giáo, thầy giáo đối với xã hội. “Những người thầy giáo tốt là những người vẻ vang nhất, là những người anh hùng vô danh”. Muốn được như vậy, các cô giáo, thầy giáo, trước hết, phải trau dồi đạo đức cách mạng, không ngừng rèn luyện chuyên môn, phải là tấm gương trong sáng để học sinh noi theo, phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm, phải thương yêu chăm sóc học sinh như con em ruột thịt của mình, phải thật sự yêu nghề, yêu trường, phải không ngừng học hỏi để tiến bộ mãi. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng và mong muốn các thế hệ học sinh không ngừng cố gắng học tập và rèn luyện tốt để mai sau trở thành những người có ích cho Tổ quốc. Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường tháng 9 năm 1945, Người viết : “non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Lời dạy của Người đã đi sâu vào lòng dân, tạo thành động lực thúc đẩy mạnh mẽ cho hàng triệu thầy giáo và học sinh thi đua dạy tốt – học tốt. Bức thư Người viết đã trở thành chân lý của thời đại, hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển của các nước đi từ lạc hậu lên tiên tiến và hiện đại, từ nông nghiệp đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

3. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng phương châm giáo dục thiết thực, cụ thể. Người nói : “Chúng ta phải tẩy rửa những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết thương yêu nhau như anh em một nhà. Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần mở mang quê hương của mình và xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”. Ngay trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của buổi đầu mới giành được độc lập, giữa lúc kinh tế kiệt quệ, thiên tai, nạn đói hoành hành, thù trong giặc ngoài ra sức chống phá để tiêu diệt cách mạng, Người kêu gọi toàn dân ra sức thực hiện đồng thời ba nhiệm vụ vô cùng trọng đại và cấp bách là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Nhờ vây, từ chỗ hơn 95% mù chữ, dân ta đã trở thành một dân tộc có văn hoá, khoa học, đủ khả năng giành độc lập, tự do cho đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở những người làm công tác giáo dục phải “nhận thức đúng tầm quan trọng của giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”. Do đó, các cấp uỷ, chính quyền, các ngành các giới, các đoàn thể quần chúng và toàn xã hội phải thật sự quan tâm đến phương châm giáo dục mới như : phát huy cao độ dân chủ trong nhà trường để tạo nên sự đoàn kết nhất trí giữa thầy với thầy, thầy với trò, trò với trò, tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa nhà trường – gia đình – xã hội cùng cộng đồng trách nhiệm để phát triển giáo dục. Trong công tác quản lý giáo dục, Người đã chỉ thị “phải đi sâu vào việc điều tra nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm. Chủ trương phải cụ thể, thiết thực, đúng đắn ; kết hợp chặt chẽ chủ trương chính sách của trung ương với tình hình thực tế và kinh nghiệm quý báu và phong phú của quần chúng, của cán bộ và của địa phương”. Phải coi “giáo dục thiếu nhi là một khoa học”. Mặc dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn giành thì giờ để chỉ đạo cụ thể, sát sao các phong trào thi đua, như phong trào “dạy tốt, học tốt”, đề xuất công tác Trần Quốc Toản, phong trào “kế hoạch nhỏ”… cho các cháu thiếu niên, nhi đồng nhằm tạo nên môi trường xã hội rộng lớn và thuận lợi cho công tác giáo dục.

4. Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là phương pháp giáo dục con người toàn diện. Muốn xây dựng và hoàn thiện con người theo Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là giáo dục và tự giáo dục. Đây là phương pháp tốt nhất để “đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam và làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”. Người nhấn mạnh : “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” và “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Vì thế, nền giáo dục mới phải thực hiện phương pháp dạy và học mới để đạt được mục tiêu : “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. “Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng”, “học để tin tưởng” và “Học để hành”. Tư tưởng này không chỉ phản ánh truyền thống quý báu của dân tộc ta mà còn phản ánh yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài của đất nước trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội.

Phương pháp giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “phải chú trọng đủ các mặt ; đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Đây là những nhiệm vụ giáo dục hết sức cơ bản, gắn bó chặt chẽ với nhau, làm nền tảng cho sự phát triển con người Việt Nam mới. Nhà trường phải bảo đảm cho thế hệ trẻ vươn lên làm chủ kho tàng kiến thức văn hóa của nhân loại, trang bị đầy đủ vốn hiểu biết về văn hóa, tri thức khoa học, công nghệ. Thế hệ trẻ cần phải được giáo dục về lý tưởng và đạo đức xã hội chủ nghĩa – hạt nhân của nhân cách người lao động mới. Người căn dặn : Phải có phương pháp giáo dục tốt để giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên. Theo Người : “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

5. Tư tưởng về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra phương hướng cơ bản cho chiến lược con người, chiến lược phát triển giáo dục ở nước ta trong suốt mấy chục năm qua và cả thời gian sắp tới. Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng ta hết sức quan tâm đến giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có thể nói, những nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong thời gian qua đã đánh dấu một mốc son mới trong công cuộc chấn hưng giáo dục nước nhà, góp phần giữ vững mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nước ta đã đạt chuẩn quốc gia về xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, bắt đầu phổ cập trung học cơ sở ở một số thành phố và tỉnh, trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên. Hoàn thiện thêm một bước hệ thống giáo dục quốc dân, mở rộng mạng lưới trường học đến hầu hết các thôn bản, hiện có hơn 23 triệu người đi học, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Quy mô và cơ sở vật chất giáo dục được phát triển. Hệ thống các trường học dân tộc nội trú tỉnh, huyện được củng cố và mở rộng. Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, các trường chuyên nghiệp đang từng bước được tổ chức sắp xếp lại. Hệ thống các trường đào tạo nghề đã được phục hồi và bắt đầu phát triển. Chất lượng giáo dục có chuyển biến bước đầu, hạn chế được một số hiện tượng tiêu cực, nổi cộm trong giáo dục.

Thấu suốt tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, từ nay đến năm 2010, toàn Đảng, toàn dân mà nòng cốt là đội ngũ giáo viên và cán bộ giáo dục tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo. Thực hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt chú trọng giáo dục tư tưởng – chính trị, nhân cách, đạo đức, lối sống cho người học. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường và gia đình, phát huy vai trò giáo dục gia đình. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường giáo dục tư duy dáng tạo, tăng năng lực tự học, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm. Đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và các địa phương, vùng miền. Một số trường đại học phải sớm đạt chất lượng ở trình độ quốc tế. Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sớm xây dựng chính sách sử dụng và tôn vinh các nhà giáo, cán bộ quản lý giỏi, có công lớn trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, chấn chỉnh việc phong chức danh, học vị, cấp văn bằng.

Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn, trên cơ sở đảm bảo chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đào tạo với sử dụng. Mở rộng hệ thống trường lớp giáo dục mầm non trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở miền núi, vùng dân tộc ít người, nông thôn. Hoàn thành cơ bản phổ cập trung học cơ sở năm 2010, củng cố kết quả phổ cập tiểu học, đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục xóa mù chữ, ngăn ngừa tái mù chữ, giáo dục cho người lớn. Điều chỉnh cơ cấu đào tạo, tăng nhanh dạy nghề và trung học chuyên nghiệp. Hiện đại hóa một số trường dạy nghề nhằm chuẩn bị đội ngũ công nhân bậc cao có trình độ tiếp thu và sử dụng công nghệ mới và công nghệ cao. Phát triển giáo dục không chính quy, các hình thức học tập công đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế – xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập.

Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục. Có chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên thuộc các gia đình nghèo và các đối tượng chính sách xã hội. Ưu tiên phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Củng cố và tăng cường hệ thống nội trú, bán trú cho học sinh dân tộc thiêu số ; từng bước mở rộng quy mô tuyển sinh, đáp ứng yêu cầu đào tạo toàn diện đi đôi với cải tiến chính sách học bổng cho học sinh các trường này. Thực hiện chế độ miễn phí học tập, cung cấp sách giáo khoa cho học sinh vùng cao, vùng sâu, vùng xa, học sinh dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt chính sách cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ với vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có nhiều khó khăn.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc. Đó là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Tư tưởng đó của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn tỏa sáng tính cách mạng, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đẩy mạnh và phát triển toàn diện sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đổi mới hôm nay là thực hiện ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhanh chóng đưa nước ta “sánh vai với các cường quốc năm châu”./.

Theo Tạp chí Cộng sản

dangcongsan.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, pháp luật, kỷ luật trong quân đội

Tư tưởng về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật trong Quân đội là một nội dung trong hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh. “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”(1). Do đó, việc quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật của Quân đội có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ văn hoá pháp luật của quân nhân.

Văn hoá pháp luật trong Quân đội là một bộ phận, một biểu hiện của văn hoá nói chung, là tổng hoà những tri thức, tình cảm, hành vi ứng xử của quân nhân đối với pháp luật, với nền pháp chế và hệ thống quan hệ pháp luật. Văn hoá pháp luật của quân nhân biểu hiện tập trung ở sự hiểu biết sâu sắc, sự nhất trí và lòng tin vào pháp luật Nhà nước, điều lệnh kỷ luật quân đội, tự giác hành động theo pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật quân đội. Bởi vậy, muốn có văn hoá pháp luật, kỷ luật tự giác nghiêm minh, con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất là phải học tập chính cương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật của Quân đội. Phải thực hiện phương châm: “Mỗi mệnh lệnh đưa xuống, cấp trên đã thảo luận cân nhắc kỹ càng nên cấp dưới phải phục tùng và kiên quyết chấp hành…”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến các biện pháp bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, kỷ luật cho quân nhân. Nghiên cứu tư tưởng của Người, có thể thấy:

Thứ nhất, chú trọng giáo dục tri thức pháp luật, kỷ luật, xây dựng ý thức tự giác và bản lĩnh chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.

Văn hoá pháp luật, kỷ luật của quân nhân được hình thành phát triển trên cơ sở có nhận thức, hiểu biết sâu sắc, sự nhất trí, lòng tin tưởng tuyệt đối vào pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật của Quân đội và hành vi tự giác chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Trong giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật cho cán bộ, chiến sỹ, Bác dạy phải chăm lo giáo dục những tri thức về pháp luật, điều lệnh, điều lệ của Quân đội, chỉ rõ những điều nên làm và không nên làm: “Đối với mỗi công tác quan trọng, cần phải làm cho mọi người hiểu cái gì nên làm, cái gì nên tránh, thế nào là đúng, thế nào là sai kỷ luật của Đảng. Như vậy kỷ luật của Đảng sẽ được bảo đảm, công tác của Đảng sẽ được thuận lợi, nhiệm vụ của Đảng sẽ chắc chắn hoàn thành”(3). Cùng với việc giáo dục tri thức pháp luật, cần khơi dậy ý thức tự giác chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của Quân đội. Phải làm cho bộ đội có nhận thức đúng đắn, sâu sắc nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của đơn vị, quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng, yêu cầu khách quan của việc chấp hành pháp luật, kỷ luật, trên cơ sở đó có thái độ, động cơ, ý chí, trách nhiệm, tinh thần đoàn kết và ý thức tự giác chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật.

Hai là, phát huy vai trò trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị trong bồi dưỡng văn hoá pháp luật.

Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy là người chịu trách nhiệm về mọi mặt của đơn vị. Nhận thức sâu sắc vị trí trách nhiệm của mình, cán bộ quản lý, chỉ huy các cấp thường xuyên nêu cao trách nhiệm và năng động, sáng tạo đổi mới hình thức, biện pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, nâng cao chất lượng giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật, đồng thời tổ chức, quản lý đơn vị chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Mặt khác, bản thân mỗi cán bộ quản lý, chỉ huy cần tự tu dưỡng, tự rèn luyện, “phải làm gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sỹ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”(4). Hồ Chí Minh cho rằng, muốn có kỷ luật, điều quan trọng là cán bộ phải quyết tâm cao, tự giác: “Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng”(5). Thực tế cho thấy, ở đâu, lúc nào cán bộ quản lý, chỉ huy thực sự là tấm gương sáng về chấp hành pháp luật, kỷ luật, thì ở đó chiến sỹ sẽ có ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật tốt và ngược lại, ở đâu cán bộ quản lý, chỉ huy thiếu gương mẫu, tự do tuỳ tiện, thì ở đó sẽ có nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Ba là, duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật, rèn luyện tác phong chính quy, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Theo Hồ Chí Minh, việc bồi dưỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật phải gắn với việc duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật và quản lý chặt chẽ mọi chế độ, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật, “khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức”(6). Bác nhắc nhở cán bộ, chiến sỹ phải hình thành thói quen có kỷ luật hằng ngày. Việc rèn luyện tác phong giữ nghiêm kỷ luật phải được thông qua việc hướng dẫn cụ thể, tỷ mỉ của người cán bộ; càng tỷ mỷ, cụ thể bao nhiêu thì càng bớt sai lầm, vi phạm pháp luật, kỷ luật bấy nhiêu. Người quan niệm: “Trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết”(7). Vì vậy, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, kỷ luật của quân nhân không chỉ dựa trên công tác giáo dục cơ bản, mà còn phải dựa vào sự hướng dẫn, nhắc nhở thường xuyên, sâu sát của cán bộ các cấp, làm cho việc chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật trở thành thói quen. Người chỉ rõ: “Các cán bộ từ chỉ huy trở xuống phải cố gắng hơn nữa trong công tác, trong học tập, từ bước đi, từ cái chào đều phải chính quy hoá, cán bộ phải tiến trước và làm gương mẫu cho các chiến sỹ”(8).

Trong việc giữ vững tính nghiêm minh của pháp luật, Bác chỉ rõ: “Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng chưa bị xử lý kịp thời… Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm”(9). Người yêu cầu kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền lợi của người khác. Bác lưu tâm nhiều đến khen thưởng và xử phạt để động viên cán bộ, chiến sỹ chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Bác nói: “Khen thưởng người tốt, trừng phạt người xấu…”(10) và “Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật. Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt. Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì không giữ vững kỷ luật”(11).

Bốn là, thống nhất bồi dưỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật với việc nâng cao giáo dục đạo đức.

Pháp luật và đạo đức điều chỉnh hành vi con người, hướng con người tới Chân – Thiện – Mỹ. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức là cơ sở thực hiện pháp luật. Đạo đức có tác dụng thúc đẩy, định hướng hành vi của quân nhân phù hợp yêu cầu của pháp luật, kỷ luật. Đạo đức cao nhất, theo Hồ Chí Minh là “Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc”(12). Khi quân nhân biết tôn trọng và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức của xã hội thì đó sẽ là điều kiện tốt để họ chấp hành pháp luật, tỏ rõ tinh thần bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chân lý, giữ nghiêm kỷ luật. Đối với cán bộ Quân đội ta, Người yêu cầu phải luôn luôn là tấm gương sáng trong bồi dưỡng cũng như thực hành đạo đức cách mạng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”(13).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật đối với cán bộ, chiến sỹ mãi mãi là kim chỉ nam cho hành động, là ngọn đèn pha soi đường để quân nhân phấn đấu bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXBCTQG, H.2002, tr.560. (2) Sđd, tr.318. (3) Sđd, tập 7, tr.336. (4) Sđd, tập 8, tr.308. (5) Sđd, tập 5, tr.250. (6) Sđd, tập 12, tr.146. (7) Hồ Chí Minh, về xây dựng Đảng, NXBCTQG, H.1996, tr.426. (8) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXBCTQG, H.2002, tr.426. (9) Hồ Chủ tịch và pháp chế, Nxb TP. Hồ Chí Minh,1998, tr.148. (10) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.2002, tr.392. (11) Sđd, tập 7, tr.466. (12) Sđd, tập 9, tr.285. (13) Hồ Chí Minh với lực lượng vũ trang nhân dân,

NXBQĐND, H.1975, tr.157-158.
THƯỢNG TÁ, THS. VŨ VĂN THƯỜNG

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo nhân tài

“Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”- Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài đối với tiến trình xây dựng và phát triển đất nước. 

Ngay sau cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ tịch đặt vấn đề chống nạn dốt là vấn đề cấp bách số hai (sau vấn đề chống nạn đói) trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước lúc bấy giờ. Vì “nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta” và “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, vì bận đánh giặc và sản xuất, nhiều người chưa quan tâm, chú ý đúng mức đến văn hóa và giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sửa khẩu hiệu “Thanh toán nạn mù chữ” thành “Thi đua diệt giặc dốt”. Bác Hồ kêu gọi mọi người thi đua học tập để đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc “Thông thái”.

Bác Hồ đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Người dặn các cháu “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, đó là nhờ một phần lớn công học tập của các cháu.” Và: Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của nhân loại. Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Người chỉ rõ: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Muốn có nhân tài phải “trồng” và dĩ nhiên là rất công phu.

Mục tiêu của nền giáo dục mới, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là đào tạo “những công dân tốt và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà”. Muốn cho dân giàu, nước mạnh thì dân trí phải cao, phải đa dạng hóa các loại hình đào tạo, mở trường vừa học, vừa làm để tạo điều kiện cho người lao động, cán bộ, chiến sĩ được đi học. Khi dân trí cao sẽ xuất hiện nhiều nhân tài tham gia xây dựng đất nước. Người chỉ cho chúng ta con đường đưa đất nước phồn vinh đó là con đường phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài. Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo dục, đào tạo nhân tài chính là Người đặt ra mục tiêu giáo dục toàn diện. Người yêu cầu: “Phải chú trọng đủ các mặt, đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Theo Hồ Chủ tịch, nội dung giáo dục phải toàn diện, phải nhằm mục tiêu đào tạo con người lao động mới, phải coi trọng cả tài và đức. Không những phải giàu về tri thức mà còn phải có đạo đức cách mạng. “Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt” mà “phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra, trong thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học kỹ thuật”.

Đối với phương pháp đào tạo nên những người hội đủ tài, đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng việc phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài, Người đặc biệt coi trọng chính sách sử dụng nhân tài. Trong bài “Tìm người tài đức”, ngày 20-11-1946, Bác viết: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chủ tịch thật sự quan tâm và tin tưởng đội ngũ trí thức – những nhân tài của đất nước, không chỉ bằng lời nói mà bằng việc làm cụ thể. Bác cho rằng, để phát huy sự sáng tạo của trí thức, cần đưa họ vào phong trào cách mạng, đi vào đời sống nhân dân, coi đó là trường học lớn để học tập, rèn luyện và trưởng thành. Người đòi hỏi trí thức cách mạng phải là những người vừa có đức, vừa có tài. Cán bộ lãnh đạo và quản lý phải được đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên để có tri thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực mình đang phụ trách, có như vậy mới có thể hoàn thành công việc ngày càng tốt. Chính nhờ tư tưởng sáng suốt của Bác mà đến nay phần lớn con em giai cấp công nhân, nông dân được đào tạo trở thành những cán bộ lãnh đạo, cán bộ khoa học tài năng, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Theo Hồ Chủ tịch, vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục là xây dựng đội ngũ những người thầy giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Bởi vì “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục, phải xây dựng đội ngũ những người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo”. Đó là những người yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng “khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ”. Phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn, phương pháp sư phạm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy “người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyến của mình”. Người dẫn lại câu của Khổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” và lời dạy của V.I Lê Nin: “Học, học nữa, học mãi” để nhấn mạnh rằng người huấn luyện nào tự cho mình là đã biết đủ rồi thì người đó dốt nhất. Giáo dục trực tiếp nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học, cả khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, trình độ tổ chức quản lý… Giáo dục sẽ giúp cho con người có một vốn liếng về lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam và thế giới, nếu không có nó thì sẽ không giữ vững được nền độc lập dân tộc, không thể tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào công việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục sẽ giúp cho mỗi người dân có kiến thức mới để “biến một nước dốt nát, khổ cực thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc.

Tư tưởng với những nguyên lý giáo dục Hồ Chí Minh về phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài để lại cho chúng ta đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn sáng mãi tính khoa học và cách mạng, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là những bài học vô cùng quý giá để chúng ta học tập, và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt làm tốt hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, lựa chọn nhân tài đáp ứng nhu cầu cao của công cuộc đổi mới vì sự phồn vinh của đất nước.

Theo báo Hà Tây điện tử

dangcongsan.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ngay từ năm 1941, dưới sự lãnh đạo của Người, chương trình Việt Minh ghi: “Cần khuyến khích nền thể dục quốc dân, làm cho giống nòi ngày càng thêm mạnh”. 

Chương trình hành động này còn chỉ rõ: “Lập thêm nhà thương, nhà đỡ đẻ, nhà dưỡng lão”. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 27-3-1946, Người ký Sắc lệnh số 38/SL thiết lập Nha Thanh niên và Thể thao Trung ương, đồng thời Người viết bài: “Sức khỏe và thể dục”. Từ năm 1947-1967, Người có 25 bài và thư gửi ngành y tế và thương binh, xã hội, chỉ ra những quan điểm cơ bản về điều trị thương, bệnh binh, kết hợp quân dân y, kết hợp đông y và tây y và công tác khác của ngành y tế.

1- Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sức khỏe và mối quan hệ giữa y lý, y thuật và y đạo trong tư tưởng của Người.

Người quan niệm sức khỏe là gồm có sự thoải mái cả về thể xác lẫn tâm hồn. Ðiều đáng chú ý, Người phát biểu quan niệm này từ năm 1946 và tới năm 1978, Tổ chức Y tế thế giới mới đưa ra định nghĩa về sức khỏe. Người định nghĩa: “Khí huyết lưu thông, tinh thần thoải mái, thế là sức khỏe”. Sinh ra tại một vùng “địa linh nhân kiệt” như Nghệ An, nơi cách không xa quê ngoại của Ðại danh y Hải Thượng Lãn Ông (Hương Sơn, Hà Tĩnh), lại lớn lên trong một gia đình nhà Nho có cha đã từng là thầy thuốc đông y làm nghề cắt thuốc trị bệnh cứu người, Chủ tịch Hồ Chí Minh am hiểu sâu sắc về y lý, y thuật và y đạo của Y học phương Ðông. Vì vậy, khi diễn giải về sức khỏe, Người dùng những khái niệm của y học phương Ðông. Theo Y học phương Ðông, huyết là cái xe vận chuyển khí, khí động thì sinh ra tinh, tinh động thì sinh ra thần. Nếu khí không động thì tinh thần tan rã, và như vậy là sinh ra bệnh tật, ốm đau, chết chóc.

Như vậy, chúng ta hiểu định nghĩa về sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên y lý của Y học phương Ðông. Ngày nay Y học hiện đại cũng định nghĩa: “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”. Khởi đầu là sự tiếp thu y lý của Y học phương Ðông, nhưng khi đã tiếp cận với lý luận của triết học Mác về con người, con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội, thì trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mặt thể chất và mặt tinh thần lại càng được hòa quyện với nhau trong khái niệm sức khỏe và công tác chăm sóc sức khỏe. Một điều quan trọng khi phân tích và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về sức khỏe và công tác chăm sóc sức khỏe mà chúng ta cần lĩnh hội, đó là tính khoa học và tính thống nhất giữa y lý, y thuật và y đạo trong tư tưởng của Người. Chính dựa trên khái niệm đúng đắn về sức khỏe, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta về y thuật và đặc biệt Người dạy nhiều về y đạo. Những lời dạy về y thuật và y đạo không phải là những ý ngẫu nhiên hoặc lặp lại một cách đơn thuần những ý hoặc lời của các bậc danh nhân hoặc danh y tiền bối. Chính sự hiểu đúng đắn về sức khỏe, hay nói cách khác, xuất phát từ cơ sở y lý đúng đắn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ cho chúng ta những vấn đề y thuật và y đạo. Ðó là tính khoa học và tính thống nhất sâu sắc trong tư tưởng của Người về sức khỏe. Cũng chính từ cơ sở nhận thức đúng đắn về sức khỏe mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến y đạo, tức tính cao cả của nghề thầy thuốc và trọng trách của người thầy thuốc.

2- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí của công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Trên cơ sở hiểu một cách đúng đắn về sức khỏe, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của sức khỏe và vị trí của công tác chăm sóc sức khỏe trong kháng chiến và kiến quốc: Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”. “Dân cường thì quốc thịnh”. “Sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người là vị trí trung tâm của mọi hoạt động và quyền được sống là quyền cao nhất của con người. Khi được sống thì sức khỏe là yếu tố quan trọng nhất, nếu không có sức khỏe thì chẳng làm được gì. Chính vì vậy mà Người dạy chúng ta: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công”. Ðó chính là tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của sức khỏe và vị trí của công tác chăm sóc sức khỏe. Có một điều mà chúng ta cần nhận thức sâu sắc, đó là ngay khi cách mạng còn nhiều khó khăn, gian khổ, đời sống của nhân dân còn gian nan, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng vị trí của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Người cho rằng: “Sạch sẽ thì ít ốm đau. Sức khỏe thì làm được việc, làm được việc thì có ăn”. Như vậy, không phải chỉ khi nào “có ăn” mới lo giữ sức khỏe. Người còn dạy: “Mình dù nghèo, ai cấm mình ăn ở sạch sẽ”. Ngày nay, khi liên hệ với nhận thức của một số cán bộ lãnh đạo các cấp, đặc biệt ở địa phương, chúng ta có thể thấy tình trạng coi nhẹ công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong địa bàn mình quản lý. Họ thường viện lý cần phải phát triển kinh tế trước, lo cái ăn trước và chăm lo văn hóa xã hội sau. Ðành rằng kinh tế có phát triển thì mới có tiền để mua trang thiết bị dùng để nâng cao chất lượng phòng bệnh và chữa bệnh. Nhưng không vì thế mà lãng quên hoặc coi nhẹ mọi hoạt động của công việc chăm sóc sức khỏe ngay khi bắt đầu xây dựng kinh tế. Hơn thế, câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cho thấy: Chăm sóc sức khỏe cũng góp phần tạo ra của cải xã hội chứ không phải là một công việc chỉ tiêu tốn của cải xã hội.

3- Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong vấn đề chăm sóc sức khỏe.

Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sức khỏe của cá nhân và sức khỏe của cộng đồng có quan hệ mật thiết với nhau. Mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng là một nét đặc sắc trong tư tưởng của Người về chăm sóc sức khỏe. Cơ sở sâu xa của tư tưởng này của Người cũng lại chính là sự tiếp cận của Người với tư tưởng triết học của Mác về con người. Con người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe và biết cân bằng mối quan hệ cung cầu trong lĩnh vực này. Câu nói của Người: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe” đã thể hiện rất rõ mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức khỏe không chỉ là tài sản cá nhân mà còn là tài sản chung; tạo nguồn sức khỏe không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn là trách nhiệm của cộng đồng. Bằng cách gắn nhiệm vụ tự chăm sóc sức khỏe với khái niệm yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cao vị trí của công tác chăm sóc sức khỏe. Theo Người, tự chăm sóc sức khỏe không chỉ vì mục đích cá nhân mà còn có mục đích vì đất nước. Cũng bằng cách đặt vấn đề như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa khái niệm yêu nước: Yêu nước không phải là một khái niệm chung chung, mà nó được thể hiện bằng các hành động cụ thể trong cuộc sống hằng ngày. Cách đặt vấn đề của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một lời hiệu triệu đi vào lòng người, làm cho toàn dân nô nức thực hiện. Ngày nay, chúng ta không chỉ học tập tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn phải học tập cả phương pháp Hồ Chí Minh. Ngoài việc tự chăm sóc sức khỏe, mỗi cá nhân có nghĩa vụ tham gia các hoạt động chăm sóc sức khỏe. Người dạy: “Sạch sẽ tức là một phần đời sống mới. Sạch sẽ thì ít đau ốm, sức khỏe thì làm được việc, làm được việc thì có ăn. Xem đó thì biết rằng ai cũng nên làm đời sống mới”.

Ngoài vai trò cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vai trò của cộng đồng. Người hết sức coi trọng việc phát động phong trào quần chúng thi đua trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Người gọi đó là phong trào xây dựng “Ðời sống mới”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phong trào này phải đến với mỗi người và mỗi người phải tham gia. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sức khỏe, vị trí của công tác chăm sóc sức khỏe và mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân mãi mãi là cơ sở lý luận cho mọi hành động đúng đắn của chúng ta trong sự nghiệp bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân.

GS, TSKH Phạm Mạnh Hùng
Phó Trưởng Ban Khoa giáo T.Ư

sites.google.com