Tag Archive | Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

(DVHNN) 1. Trọng dân, gần dân, thân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân quên mình, chăm lo đến lợi ích của dân, dân chủ với dân, thật sự tôn vinh nhân dân làm chủ xã hội là một tư tưởng lớn, mang tính văn hóa, nhân văn, nhân đạo cao cả và tính cách mạng, tính nhân dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người tận tâm suốt đời với sự nghiệp đấu tranh để giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Chưa thấy ai nói lên được đầy đủ nỗi khổ của nhân dân, phản ánh chân thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và cũng chưa thấy ai bênh vực quyền lợi cho nhân dân như Hồ Chí Minh.

Ngay từ những năm, tháng gian nan vất vả đi tìm đường cứu nước, Người đã nói rõ mục đích của mình là để giải quyết vấn đề dân tộc và dân chủ ở Việt Nam. Dân tộc là đấu tranh để giải phóng dân tộc, dân chủ là giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân. Tư tưởng dân chủ của Người được phát triển từng bước, khi Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ. Một nước dân chủ, theo quan điểm của Người là tất cả lợi ích, quyền hạn, quyền hành, trách nhiệm đều quy về nơi dân, đều ở nơi dân. “Nhân dân”, hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên trong lòng Người, cũng là tiếng chuông rung lên trong hàng triệu, hàng triệu trái tim của nhân dân Việt Nam. Ngay từ năm 1907, 1908, Người đã chứng kiến sức quật khởi vùng lên của nhân dân trong phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ. Từ “đồng bào” (chung một bọc) được Người dùng từ đây và trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Người lấy đức, lấy tình thương yêu thật sự để cảm hóa dân.

Tư tưởng trọng dân được thể hiện không chỉ ở những trang sách lý luận bàn về dân, dân làm chủ, mà điểm chính yếu là người ta đã tìm thấy trong hoạt động thực tiễn của Người. Trọng dân, Người đến với dân. Trọng dân, Người gần gũi với các cụ già, trẻ thơ, thăm hỏi ân cần những người dân lương thiện, lao động cần cù, một nắng hai sương, an ủi họ, tạo mọi điều kiện để họ có cơ hội sống tốt, sống khỏe, sống vì mình, vì người, vì cộng đồng của 54 dân tộc anh em.

Tư tưởng dân chủ là tư tưởng tiến bộ nhất của phương Tây thời cận, hiện đại. Hồ Chí Minh xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện tiếng nói của dân tộc là tiếng nói chung của nhân dân, các quyền của nhân dân, chính quyền thật sự của nhân dân.

Hồ Chí Minh nói nhiều đến lòng tin của người dân với Ðảng và Nhà nước, cụ thể là với những người lãnh đạo, quản lý. Người cho rằng, muốn được dân tin Ðảng, tin Nhà nước của mình, thì người lãnh đạo và quản lý, trước hết, phải dân chủ với dân, tôn trọng dân như tôn trọng chính bản thân mình. Không tôn trọng dân, không dân chủ với dân sẽ làm khoảng cách giữa Ðảng, Nhà nước với dân ngày một xa, làm cho lãnh đạo và người dân cách biệt nhau, xa rời nhau. Người chỉ ra: Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra. Họ không nói, không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nói ra, cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị trù dập. Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Ðảng im tiếng, ngoài Ðảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ cần phải nâng cao, mở rộng dân chủ, để cho người dân được “mở mồm”, động viên mọi người suy nghĩ để làm những việc ích lợi cho dân.  Người nói: Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: Dân rất tốt. Theo Người: Mỗi công việc của Ðảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, đó là trọng dân.

Hồ Chí Minh đã thường xuyên giáo dục cán bộ phải làm tốt công tác vận động nhân dân. Dân vận là vận động từng người dân, góp thành lực lượng toàn dân để chung sức chung lòng xây dựng và bảo vệ đất nước. Ðiều quan trọng là kiên trì giải thích cho dân hiểu trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ, lợi ích của mình. Người lãnh đạo chân chính bao giờ và bất cứ việc gì cũng phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, sao cho phù hợp với trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, lòng ham ý muốn của dân. Xét cho cùng, mọi cái đều từ dân mà ra và trở về nơi dân. Ðể cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là trọng dân.

Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề quan trọng bậc nhất là vấn đề lợi ích của người dân. Nếu lãnh đạo mang lại lợi ích thiết thực cho dân, sẽ làm cho dân tin Ðảng, tin chế độ. Nguyên tắc chung của chính sách với dân là tạo sự hài hòa giữa ba lợi ích: Lợi ích công dân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, trong đó, phải hết sức coi trọng lợi ích của người lao động chân chính. Ðiều tiết thu nhập hợp lý và phân chia công bằng lợi ích giữa các tầng lớp nhân dân là việc làm có ý nghĩa nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào Ðảng và Nhà nước. Muốn mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, trước hết, phải có chính sách đúng.  Quan điểm của Hồ Chí Minh là, tất cả đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước đều có ảnh hưởng trực tiếp đến dân, đều phải hướng vào dân và nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. Trong Di chúc, Người viết: Ðảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân (Người gạch dưới nhấn mạnh cụm từ “nâng cao đời sống của nhân dân”). Mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, là trọng dân.

2. Hồ Chí Minh là người có phong cách rất đặc biệt để gần dân. Ðó là phong cách cao thượng đến giản dị. Tiết kiệm và giản dị là phong cách nổi trội của Hồ Chí Minh. Vì vậy, dân được đến với Người, được đứng bên người, được trò chuyện với Người, như được trò chuyện với người hiền, người cha, người thân yêu nhất của mình. Ðến với nông dân, Người mặc quần nâu, áo vải, khăn mặt vắt vai, đầu đội mũ cát. Ðến với công nhân, Người mặc bộ quần áo xanh đã bạc mầu, đi đôi dép cao-su. Ðến với trí thức, Người mặc bộ quần áo ka-ki mầu vàng, đi đôi giày vải, thể hiện sự hòa đồng rất tự nhiên với nhân dân lao động nói chung.

Sự tiết kiệm đến mẫu mực, thể hiện phong cách cao thượng  của  Hồ Chí Minh.

Tham ô (mà ngày nay chúng ta gọi là tham nhũng) và lãng phí, dựa vào tiền “chùa” để ăn chơi vung phí, cái mà Người ghét cay, ghét đắng, thường xuyên lên án. Người nói: Tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công, chiếm của công làm của tư. Nó làm hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà; hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng của người cán bộ và công nhân. Lãng phí tuy khác với tham ô ở chỗ người gây ra lãng phí không trực tiếp trộm cắp của công làm của riêng. Nhưng kết quả thì làm tổn hại nghiêm trọng cho Nhà nước, cho nhân dân.

Tiết kiệm thời giờ là một trong những phong cách đặc sắc, thể hiện đạo đức cao quý của Hồ Chí Minh. C.Mác có lần đã nói: Tiết kiệm thời gian chính là một trong những nguồn gốc để tạo nên giá trị và giá trị sử dụng. Với Hồ Chí Minh, vấn đề tiết kiệm thời gian được xem như “thì giờ là vàng ngọc”, cho nên phải tiết kiệm thì giờ đi đôi với tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nó phải được xem như là một yếu tố kinh tế – xã hội, là vấn đề mang tính quy luật của quá trình vận động xã hội. Người là hiện thân và mẫu mực của việc sử dụng thời gian hợp lý trong mọi công việc. Trong hồi ký của một vị lão thành cách mạng kể rằng, khi còn là người đi lao động làm thuê ở nước ngoài trong lộ trình đi tìm đường cứu nước, đã chiếm hết thời gian trong mỗi ngày của Bác, nhưng khi rảnh rỗi, nhất là về đêm, Bác lại tranh thủ học tập, nghiên cứu. Khi trở về Tổ quốc thân yêu để lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, Bác đã dành hết thời gian để chăm lo, xây dựng lực lượng cách mạng, phát động quần chúng, tiến lên giành thắng lợi trong tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân. Trong những ngày hòa bình lập lại ở miền bắc, Bác thường xuyên nhắc nhở cán bộ và nhân dân phải tranh thủ mọi thời gian để lo vào việc sản xuất và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền bắc, ủng hộ đồng bào miền nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tiết kiệm thời gian sẽ góp phần đẩy nhanh tới thống nhất đất nước.

Phong cách gần dân của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở những công việc giản dị, đơn sơ hằng ngày khi tiếp xúc với dân, ở cách cư xử đầy tính nhân văn của tình người, tình làng, nghĩa xóm. Trong Hồi ký: Con đường theo Bác, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã kể lại, trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hồi ở núi rừng Việt Bắc, Ðảng, Chính phủ và Bác đã phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, nông dân, trường học, các lực lượng vũ trang như phong trào tăng gia, sản xuất, tiết kiệm. Bản thân tôi thuộc loại “chân yếu” (1), nhưng chiều nào cũng vác cuốc đi tăng gia. Có hôm cuốc đất tới lúc trời tối hẳn mới về. Sự cố gắng được đền bù bằng những luống rau xanh, bí, ngô, khoai. Tôi trồng được một vườn bí sai quả. Khi bí to, tôi hái vài quả, nhờ đồng chí thư ký mang sang biếu Bác. Bác nhận bí, rồi gửi lại đồng chí thư ký chuyển cho tôi bức thư. Trong thư, Bác đề vẻn vẹn có hai câu thơ:

“Ăn quả nhớ người trồng cây

Cảm ơn chú Việt. Bí này còn non”.

Câu thơ của Bác nhắc nhở tôi đừng vội hái quả non, mọi cái phải đạt tới “độ chín” mới có giá trị. Cách nhắc nhở nhẹ nhàng của Bác làm tôi thấm sâu. Ðặc điểm trong phong độ của Bác bao giờ cũng tế nhị, nhưng sâu sắc, chính vì thế mà Bác cảm hóa được nhiều người.

Tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Hồ Chí Minh là điểm hội tụ hợp thành đạo đức Hồ Chí Minh. Người là hiện thân của đạo đức, tình cảm, lương tâm, danh dự vì nhân dân.

Học tập tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Hồ Chí Minh là việc làm đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Tiếc rằng, trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên còn không ít những người xa dân, lên mặt với dân. Miệng nói phục vụ nhân dân, nhưng trong lòng lại chỉ muốn nhân dân phục vụ mình. Miệng nói nguyện làm đầy tớ của dân, nhưng việc làm lại bắt dân làm đầy tớ cho mình, còn mình thì chễm trệ ngồi trên ghế ông chủ. Miệng nói mang lại lợi ích cho dân, nhưng trong lòng lại chỉ lo thu vén cho mình. Trên bục giảng, có người thao thao bất tuyệt về học tập đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng khi về đến nhà lại đánh nhau với người hàng xóm. Thật trớ trêu! Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải rất nghiêm túc trong việc học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Học tập tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Người, mỗi người chúng ta phải phấn đấu, rèn luyện rất gian khổ, thì mới có thể thấm nhuần tư tưởng đạo đức trọng dân và phong cách gần dân của Người.

Chúng ta hãy thực hiện điều mong ước của Người: Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Ðược như thế thì trong Ðảng sẽ không có bệnh mà Ðảng sẽ mạnh khỏe vô cùng.

(1) Bản thân đồng chí Hoàng Quốc Việt, trong thời gian hoạt động bí mật của những ngày đầu thành lập Ðảng, bị mật thám Pháp bắt, đánh đến tàn phế, què chân, suốt đời phải đi “cà nhắc”, cho nên đồng chí đó thường nói vui: Tôi thuộc loại chân yếu, tay mềm.

PGS. TS ÐỨC VƯỢNG
Nguồn tin: THEO NHÂN DÂN ĐIỆN TỬ

dvhnn.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức

Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với GS. Trần Hữu Tước và Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch (người ngồi bên trái). Ảnh: TL - suckhoedoisong.vn

Những lời dạy của Bác Hồ về y đức là nội dung quan trọng trong tư tưởng và đạo đức của Người. Trong 20 năm, từ 1947 đến 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tới 25 bức thư gửi ngành y tế, thương binh – xã hội. 

Ngoài những lời khuyên về công tác chăm sóc, cứu chữa cho người bị bệnh, người bị thương, Người đặc biệt quan tâm đến y đức, cái đạo đức cần phải có của người thầy thuốc cách mạng, vì dân.

Tháng 3-1948, trong thư gửi Hội nghị Quân y, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”.

Vì sự kích thích trong chiến trận, vì sự sinh hoạt khắc khổ trong quân đội, vì sự tu dưỡng chưa đầy đủ, hoặc vì những điều kiện khổ sở, một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với thầy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những ca như vậy, chúng ta nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động, cảm hoá họ. Người ta có câu: “Lương y như từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải như một người mẹ hiền…”

Trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Người viết: “… Cán bộ y tế (bác sĩ, y tá, những người giúp việc) cần phải: Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. Lương y như từ mẫu”…

Với tinh thần nhân văn cao cả, lòng nhân hậu hết mực, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, tháng 2-1955, đã nhấn mạnh: “… Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang.

Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn”.

“Lương y như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng…”

Nội dung của y đức được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đầy đủ nhất, sâu sắc nhất và chuẩn xác nhất trong bức thư này.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân, trong đó, những người đau ốm, bệnh tật là những người được Người quan tâm nhất.

Trong thư gửi cán bộ và nhân viên quân y ngày 31 tháng 7 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần căn dặn: “Bác nhắc nhủ các cô, các chú phải:

Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kĩ thuật.

Luôn luôn ghi nhớ rằng, người thầy thuốc giỏi, đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khoẻ của bộ đội, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn…”

Tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức đã được ngành y tế nước ta từng thời điểm cụ thể hoá, và trở thành nền tảng đạo lí của mọi thầy thuốc, là cốt lõi tư tưởng của mọi hoạt động xây dựng và phát triển ngành y tế.

Mấy chục năm qua, tuân theo lời dạy về y đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều tấm gương làm việc quên mình, xả thân vì người bệnh, vì sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân như các giáo sư, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ… đã trở thành niềm tự hào của ngành y tế, được nhân dân quý trọng và ngưỡng mộ.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, một số tiêu cực của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng không ít đến một số người làm công tác y tế. Một số ít thầy thuốc, cán bộ y tế cửa quyền, tắc trách, thậm chí chạy theo đồng tiền, coi thường sức khoẻ, mạng sống của người bệnh, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với thiên chức cao cả “trị bệnh cứu người” của người thầy thuốc.

Hơn lúc nào hết, những người thầy thuốc và mọi cán bộ, nhân viên y tế phải chủ động rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, tu dưỡng y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần bảo đảm tốt nhất chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, xứng đáng với truyền thống “Thầy thuốc như mẹ hiền”, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.n

Tác giả: Nguyễn Xuyến

nguoicaotuoi.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên

Có thể nói rằng, giáo dục lý tưởng và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên là một nội dung cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nói về thanh niên với tấm lòng thương yêu vô hạn của vị cha già dân tộc. Người căn dặn chúng ta “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Ðiểm nổi bật trong quan điểm giáo dục lý tưởng cho thanh niên của Bác Hồ là đưa thanh niên vào các tổ chức chính trị, xã hội do Ðảng lãnh đạo để vừa giác ngộ lý tưởng cách mạng cho họ, vừa đưa họ hoạt động thực tiễn đấu tranh cách mạng của toàn dân tộc. Ðể chuẩn bị cho việc thành lập Ðảng, năm 1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là tiền thân của Ðảng ta sau này. Người trực tiếp lựa chọn và bồi dưỡng, đào tạo những thanh niên yêu nước, có chí khí đấu tranh chống thực dân, phong kiến. Cuốn sách Ðường kách mệnh là tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1925 đến 1927 cho các lớp thanh niên ưu tú về lý tưởng, đạo đức cách mạng. Những thanh niên yêu nước qua huấn luyện, giáo dục, đào tạo được Bác Hồ đưa về nước hoạt động để thâm nhập vào phong trào yêu nước, phong trào công nhân trở thành những cán bộ cách mạng tiên phong trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong đó có nhiều người cộng sản trẻ tuổi xuất sắc như Trần Phú, Nguyễn Lương Bằng, Phạm Văn Ðồng, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu,…

Với quan điểm “đạo đức là gốc của người cách mạng”, Bác Hồ quan tâm giáo dục thanh niên không chỉ có tinh thần làm chủ nước nhà mà phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính; chí công, vô tư. Bác khuyên thanh niên “hăng hái, xung phong”, có chí tiến thủ, không ngại khó khăn, không nề nguy hiểm trong công tác, học tập, chiến đấu. Song, trong cuộc sống, Bác căn dặn thanh niên biết yêu thương gia đình, kính trọng ông bà, cha mẹ, người cao tuổi, nâng đỡ, dìu dắt thiếu nhi, quý trọng và hiếu thảo với nhân dân. Trung với nước, hiếu với dân là nội dung đạo đức mới Bác khuyên nhủ thanh niên cần thực hiện. Người cho rằng, đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Do đó, thanh niên phải ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng, bởi vì “cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Trong công cuộc kiến thiết đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt kỳ vọng vào thanh niên. Nhớ lại năm 1945, khi nước nhà vừa giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu.

Từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, khó khăn lớn nhất là lực lượng sản xuất lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn. Bác Hồ cho rằng, nghèo nàn, lạc hậu là một kẻ địch to, chiến đấu và chiến thắng nghèo nàn lạc hậu còn khó khăn, gian khổ hơn chiến thắng giặc ngoại xâm. Nhất là chúng ta phải xây dựng lại đất nước sau hai cuộc kháng chiến lâu dài, chống chiến tranh xâm lược ác liệt, với sự tàn phá dã man do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Ðây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Ðể giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”. Trong lực lượng vĩ đại của toàn dân, Bác Hồ dành vị trí hết sức quan trọng cho thanh niên. Tháng 5 năm 1968, Người viết trong bản Di chúc lịch sử: “Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Ðảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Ðó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999, tr.32). Người còn căn dặn Ðảng ta phải thường xuyên chăm lo giáo dục thanh niên, bởi vì “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

Nói tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên nổi bật các quan điểm lớn:

– Thanh niên là lực lượng xung kích chủ yếu của cách mạng, là chủ tương lai của nước nhà.

– Ðảng, Nhà nước phải chăm lo bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho thanh niên, giáo dục ý thức làm chủ và đào tạo họ thành người làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề nghiệp. Nghĩa là đào tạo họ trở thành những con người vừa hồng, vừa chuyên.

– Thanh niên phải tự vươn lên, phấn đấu, rèn luyện để thật sự là đội quân chủ lực của cách mạng.

TS: Phạm Văn Khánh

hungvuong.edu.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đảng viên

Vấn đề phát triển Đảng là vấn đề quan trọng trong xây dựng Đảng. Quan điểm, tư tưởng của Người về vấn đề này có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Đảng “cũng ở trong xã hội”. Đảng là một cơ thể sống, tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan, có hấp thụ, có đào thải. Đảng phải có một số lượng đảng viên nhất định mới hình thành nên tổ chức đảng. Sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của Đảng là sự nghiệp vĩ đại lâu dài phải do nhiều thế hệ chiến sĩ cộng sản tham gia gánh vác. Đảng phải liên hệ mật thiết với quần chúng, phải không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu tương xứng với đòi hỏi khách quan của tình hình nhiệm vụ cách mạng. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu chỉ có thể có trên cơ sở số lượng, chất lượng đội ngũ đảng viên tương ứng. Do đó, Đảng phải thường xuyên làm tốt công tác phát triển đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay”(1). Người vạch rõ tính tất yếu, yêu cầu, phương châm, phương pháp của công tác phát triển đảng: “Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang… Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng”(2).

Tư tưởng quán xuyến trong quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển Đảng là “coi trọng chất lượng”. Người dạy rằng, Đảng mạnh không phải chỉ do số lượng đảng viên quyết định; số lượng đảng viên chỉ trở thành sức mạnh một khi nó đạt những yêu cầu về chất lượng. Theo Người, nếu không quán triệt và thực hiện đúng đắn vấn đề có tính nguyên tắc đó, thì dù có kết nạp được nhiều đảng viên, dù số lượng đảng viên tăng, vẫn không làm cho tổ chức đảng mạnh lên mà trái lại có khi còn làm cho tổ chức đảng trở nên lỏng lẻo, biến Đảng thành câu lạc bộ, không làm tròn vai trò người lãnh đạo. Do vậy, Người luôn nhắc nhở: “Đảng không phải chỉ cần số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên”(3). Người đặc biệt nhấn mạnh khi tiến hành phát triển đảng “phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng”(4).

Ngày nay, đất nước ta bước vào thời kỳ hội nhập, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Thắng lợi của sự nghiệp này gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo và hoạt động của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định tạo nên những thành tựu đổi mới to lớn hơn. Điều đó đòi hỏi Đảng hơn bao giờ hết phải tiếp tục nâng cao phẩm chất cách mạng và khoa học, không ngừng củng cố sức mạnh chiến đấu, lãnh đạo có kết quả công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong những tình huống mới hết sức phức tạp. Yêu cầu xây dựng Đảng ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ mới đặt ra cho công tác phát triển đảng những yêu cầu mới. Để quán triệt và thực hiện đúng đắn những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo chúng tôi, cần tập trung làm tốt mấy vấn đề sau:

Một là, phải xác định và vận dụng đúng đắn tiêu chuẩn đảng viên. Đây là vấn đề then chốt. Tiêu chuẩn đảng viên là những chuẩn mực phản ánh bản chất của người đảng viên, là căn cứ để phân biệt sự khác nhau giữa người đảng viên với quần chúng, là cơ sở để cho từng đảng viên tự tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện và là căn cứ để thu nạp những quần chúng tốt vào Đảng, loại bỏ những đảng viên thoái hoá ra khỏi Đảng. Tiêu chuẩn đảng viên trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng biểu hiện tuy có khác nhau, song bản chất của nó không hề thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những tiêu chuẩn cơ bản thể hiện bản chất đó:

“Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ cần thường xuyên ôn lại, tự liên hệ và giữ cho đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên.

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm, kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi ích riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và đường lối của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình”(5).

Khi vận dụng tiêu chuẩn đảng viên để xem xét kết nạp quần chúng vào Đảng, Người căn dặn các tổ chức đảng phải đặc biệt quan tâm đến sự giác ngộ, lòng trung thành, thái độ trách nhiệm với Đảng, với nhân dân của người xin vào Đảng, Người nhấn mạnh: “Gọi là đảng viên thì phải nhận rõ, phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì”(6).

Hai là, phải thực hiện tốt phương hướng phát triển đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương hướng phát triển Đảng là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tác phát triển đảng có chất lượng, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng.

Trong khi khẳng định phải coi trọng việc phát triển Đảng trong công nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng không nên hẹp hòi với các thành phần lao động khác. Theo Người, nếu những người xuất thân từ các thành phần lao động khác đó tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân, muốn đứng trong hàng ngũ của Đảng để phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, xét thấy có đủ điều kiện thì kết nạp vào Đảng. Có như vậy mới thường xuyên tăng thêm nguồn sinh lực và sức chiến đấu mới cho Đảng, tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Vì vậy, Đảng phải chú trọng phát triển toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, đặc biệt đẩy mạnh việc phát triển Đảng vào thanh niên, phụ nữ, vào các vùng xung yếu, các cơ sở còn ít đảng viên.

Ba là, phát triển Đảng phải tích cực, thận trọng, phát triển phải luôn luôn đi đôi với củng cố. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các tổ chức đảng phải có kế hoạch phát triển Đảng trong từng thời kỳ, bảo đảm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng của Đảng; phải tiến hành thật tích cực, chủ động, không bị động, ỷ lại ngồi chờ người có đủ điều kiện rồi kết nạp theo lối ăn sẵn, phải gây dựng, đẩy mạnh phong trào cách mạng để trên cơ sở đó mà phát hiện, tìm hiểu, tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện các phần tử tích cực, nâng cao dần trình độ của họ từ thấp đến cao, tạo cho họ có đủ điều kiện trở thành người đảng viên. Khi xét kết nạp người vào Đảng, phải xem xét toàn diện cả trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng, cả phẩm chất đạo đức và năng lực hành động thực tế, cả lý lịch gia đình, bản thân và uy tín trước quần chúng…; phải xem xét sự rèn luyện, tu dưỡng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ trong một quá trình liên tục với những đều kiện, hoàn cảnh và những thử thách khác nhau; phải thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc, thủ tục kết nạp đảng, hết sức cảnh giác đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng. Chống giản đơn, phiến diện, chạy theo chỉ tiêu số lượng, kết nạp ẩu, hoặc vin vào thận trọng sinh ra rụt rè, bảo thủ, hẹp hòi, cục bộ.

Phát triển Đảng phải luôn luôn đi đôi với củng cố đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là hai vấn đề của xây dựng Đảng, có quan hệ hữu cơ với nhau. Củng cố Đảng tốt là điều kiện để tiến hành phát triển Đảng có chất lượng. Phát triển Đảng có chất lượng là cơ sở để củng cố Đảng tốt hơn. Do đó, cấp ủy đảng cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Phải coi trọng giáo dục rèn luyện đội ngũ đảng viên để mỗi đảng viên vừa là “người lãnh đạo” vừa là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, là tấm gương để quần chúng ngưỡng mộ, muốn vào Đảng, được là đồng chí của những người tiên tiến. Đồng thời, kiên quyết loại ra khỏi Đảng những phần tử thoái hoá, biến chất.

Bốn là, thực hiện tốt các bước phát triển Đảng. Phát triển Đảng là quá trình lựa chọn, chuyển hoá những quần chúng ưu tú trong đấu tranh cách mạng thành những chiến sĩ cộng sản, quá trình đó chỉ đạt hiệu quả cao khi nó được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ.

– Bước thứ nhất là thông qua phong trào cách mạng của quần chúng, phát hiện, lựa chọn đưa vào nguồn phát triển Đảng những quần chúng ưu tú “có lịch sử chính trị rõ ràng”, “đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong việc đấu tranh”, “liên lạc mật thiết với quần chúng”, tin tưởng vào Đảng và có nguyện vọng muốn gia nhập Đảng để phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Việc tạo nguồn phát triển Đảng do tổ chức có thẩm quyền quyết định, dựa trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của đảng viên, tổ đảng và tổ chức quần chúng của Đảng.

– Bước thứ hai là tuyên truyền, giác ngộ, giáo dục, rèn luyện, thử thách. Nội dung giáo dục, rèn luyện phải toàn diện, cả phẩm chất và năng lực, cả chính trị, đạo đức và nghiệp vụ chuyên môn, trong đó “lấy đức làm gốc”. Phương pháp cơ bản để giáo dục, chuyển hoá quần chúng là: Động viên quần chúng tự giác, rèn luyện theo tiêu chuẩn đảng viên; đồng thời, thông qua hoạt động sản xuất, đấu tranh cách mạng và bằng giáo dục, thuyết phục, nêu gương, tự phê bình và phê bình trong các đoàn thể cách mạng mà cảm hoá, xây dựng, nâng dần trình độ giác ngộ của quần chúng từ thấp lên cao, từ giác ngộ dân tộc đi đến giác ngộ giai cấp, từ tán thành những chủ trương, chính sách của Đảng đi đến ủng hộ, đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và tự nguyện xin gia nhập Đảng.

– Bước thứ ba là kết nạp quần chúng vào Đảng theo đúng thủ tục mà Điều lệ Đảng đã quy định.

– Bước thứ tư là tiếp tục bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đảng viên mới và làm đúng, đủ các thủ tục chuyển đảng viên dự bị thành đảng viên chính thức.

Để thực hiện có hiệu quả quy trình trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn các tổ chức đảng phải có kế hoạch, có kiểm tra, đôn đốc và thường xuyên tổng kết đúc rút kinh nghiệm. Đồng thời, phải gắn kết hoạt động phát triển Đảng với các hoạt động xây dựng đảng, xây dựng đơn vị và thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các ngành, các giới, các lực lượng tham gia xây dựng, phát triển Đảng n

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.467. (2) Sđd, tập 10, tr.20,21. (3) Sđd, tập 12, tr.222. (4) Sđd, tập 11, tr.155. (5) Sđd, tập 10, tr.69. (6) Sđd, tập 12, tr.221.

Trần Thông
Học viện Chính trị quân sự Bắc Ninh

xaydungdang.org.vn

Vị trí, vai trò của đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ: với mình, với người và với công việc.

Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.

Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách. Người viết : “có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”.

Với yêu cầu đó, Hồ Chí Minh nêu ra năm điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

+ Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.

+ Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.

+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.

+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.

+ Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

Đối với Đảng, tổ chức tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của V. I. Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại.

Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện. Người nêu yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả ba mối quan hệ của con người: đối với mình, đối với người, đối với việc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Trong bản Di chúc bất hủ, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

Hồng nhung (Theo haugiang.gov.vn)

khcncaobang.gov.vn

Học tập tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà văn hoá kiệt suất của dân tộc Việt Nam và của nhân loại đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, một hệ tư tưởng có giá trị về nhiều mặt. Trong đó tư tưởng về đại đoàn kết là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta.

Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết! Thành công! Thành công! Đại thành công

Là một người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc mình, Hồ Chí Minh nhận thức được thời phong kiến chỉ có những cuộc đấu tranh thay đổi triều đại mới làm thay đổi vận mệnh đất nước và từ chính những cuộc đấu tranh ấy, lịch sử đã ghi lại những tấm gương tâm huyết của ông cha ta với tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức” và “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước”. Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc trong chiều sâu và bề dày lịch sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh và được Người ghi nhận như những bài học lớn cho sự hình thành tư tưởng của mình.

Khái niệm đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng của Bác là một hệ thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục. Tập hợp, tổ chức cách mạng và tiến bộ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Nói một cách khác, đó là tư tưởng xây dựng, củng cố, mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Bác nhận định: Đoàn kết không phải là thủ đoạn chính trị nhất thời mà là tư  tưởng cơ bản, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng  Việt Nam. Đoàn kết phải luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng. Qua thắng lợi của Cách mạng tháng 8, Bác đã chỉ ra: “Vì sao có cuộc thắng lợi đó? Một phần là vì tình hình quốc tế có lợi cho ta. Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết…Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai thắng được lực lượng đó”. Vì vậy, Bác nhấn mạnh “Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc”. Bởi vì đại đoàn kết toàn dân tộc chính là nhiệm vụ củ quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, người tín ngưỡng hay không tín ngưỡng, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người.

Dù cách mạng Việt Nam trải qua những thời kỳ lịch sử khác nhau song chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Bác luôn được xây dựng, hoàn thiện và tuân theo những nguyên tắc nhất quán là: Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng của con người;  Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân; Đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết rộng rãi, lâu dài, bền vững; Đại đoàn kết chân thành, thân ái, thẳng thắn  trên tinh thần phê bình, tự phê bình vì sự thống nhất bền vững; Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân. Như vậy đại đoàn kết dân tộc phải là cơ sở và phải đi đến việc thực hiện đoàn kết quốc tế, nếu đại đoàn kết dân tộc là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, thì đoàn kết quốc tế cũng là yếu tố hết sức quan trọng giúp cho cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn và đưa cách mạng Việt Nam lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Qua 20 năm đổi mới, với nhiều chủ trương lớn của Đảng, chính sách của Nhà nước hợp với lòng dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển KT-XH, giữ vững ổn định chính trị của đất nước. Các hình thức tập hợp nhân dân có bước đa dạng hơn và có bước phát triển mới, dân chủ xã hội được phát huy. Tuy nhiên, hiện nay trong khi sự nghiệp đổi mới đang có yêu cầu cao về tập hợp sức mạnh toàn dân thì việc tập hợp nhân dân vào mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội còn hạn chế, nhất là ở khu vực kinh tế tư nhân và ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo, đồng bào thiểu số,…

Vì vậy, trong điều kiện nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay thì việc quan trọng là phải khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao ý chí tự cường dân tộc, trong chính sách đoàn kết phải chú ý phát huy tính năng động, sáng tạo của mỗi người, mỗi bộ phận  để mọi việc từ lãnh đạo, quản lý đến sản xuất kinh doanh, học tập và lao động đều có năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao. Đồng thời, phải khắc phục những tiêu cực của kinh tế thị trường, đặc biệt là tâm lý chạy theo đồng tiền, cạnh tranh không lành mạnh làm phai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa tương thân tương ái của dân tộc, giải quyết đói nghèo, thu hẹp khoảng cách, ranh giới giữa đồng bằng và miền núi, giữa nông thôn và thành thị, củng cố khối đại đoàn kết 54 dân tộc, chăm lo đời sống cho đồng bào dân tộc ít người, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo, các tập quán tốt đẹp của dân tộc, kiên quyết loại trừ những âm mưu lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để gây rối.

Trong tất cả người Việt Nam sống ở trong nước hay ở nước ngoài đều tiềm ẩn tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc. Vì vậy, khơi nguồn và phát triển đến đỉnh cao sức mạnh dân tộc và trí tuệ của con người Việt Nam, thực thi chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, quy tụ lực lượng dân tộc bằng nội dung và hình thức tổ chức thích hợp với mọi đối tượng tập thể, cá nhân trên cơ sở lấy liên minh công nông và trí thức làm nòng cốt dưới sự lãnh đạo của Đảng là một bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị bền vững lâu dài, đặc biệt có ý nghĩa chính trị quan trọng trong sự nghiệp thực thi đường lối đổi mới, thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay.

Hồng Nhung (TH)
Theo http://www.scribd.com

khcncaobang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân là một trong những di sản lý luận quan trọng nhất mà Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đó là một hệ thống lý luận, nguyên tắc với những nội dung phong phú, từ việc xác định vai trò lãnh đạo của Đảng đến quy luật ra đời; từ tư cách đảng viên cho đến những yêu cầu xây dựng đảng ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế chậm phát triển nhưng có nền văn hiến và truyền thống văn hóa đặc sắc.

Một trong những nguyên tắc hàng đầu mà Người đề cập đến đó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng Cộng sản, nhằm làm cho Đảng Cộng sản trở thành Đảng có sức mạnh chiến đấu to lớn trong một tổ chức chặt chẽ. Theo Người, tập trung và dân chủ là “hai vế của một nguyên tắc” có mối quan hệ khăng khít với nhau. Tập trung trên nền tảng dân chủ; dân chủ phải dưới sự chỉ đạo tập trung.

Tập trung trong Đảng là: thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, bộ phận phải phục tùng toàn thể, tất cả các đảng viên phải chấp hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”1. Tức là đề cao vai trò của tập trung, thực hiện tập trung trong Đảng để tạo sự thống nhất ý chí và hành động, tạo thành sức mạnh lãnh đạo to lớn trong tiến trình cách mạng. Đây là biểu hiện cụ thể tính tiên phong, tính chiến đấu của giai cấp công nhân. Cùng với tập trung phải chú ý thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Dân chủ là làm cho mọi người mạnh dạn có ý kiến, làm cho Đảng tập trung được trí tuệ, tăng cường sức mạnh lãnh đạo của Đảng. Người khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do, bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lí. Đó là một quyền lợi, cũng là một nghĩa vụ của mỗi người”2…

Nguyên tắc thứ hai Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách phải luôn đi đôi với nhau. Chỉ có tập thể lãnh đạo mới phát huy được toàn bộ trí tuệ đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người lý giải một cách vắn tắt: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy được một hoặc nhiều mặt của vấn đề, không thể thấy hết tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người, nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt thì vấn đề ấy được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm.

Theo Hồ Chí Minh, cá nhân phụ trách là nhằm tạo ra tính chuyên trách, gắn trách nhiệm để giải quyết công việc một cách tốt nhất. Người giải thích: “Việc gì đã được đông người bàn bạc kĩ rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới chuyên trách, công việc mới chạy… Nếu không có cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong”3. Người còn lưu ý, trong thực hiện nguyên tắc này phải chống lại bệnh độc đoán, chuyên quyền, vi phạm dân chủ trong Đảng; đồng thời chống lại tệ dựa dẫm tập thể, không dám chịu trách nhiệm. Đây là hiện tượng thường thấy hàng ngày, khi có thành tích thì nhận về mình, còn khuyết điểm sai lầm thì đổ lỗi cho tập thể. Không chú ý đến lãnh đạo tập thể thì sẽ bao biện, độc đoán, chủ quan; đồng thời không chú ý đến cá nhân phụ trách thì sẽ dẫn đến bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ.

Nguyên tắc thứ ba được Hồ Chí Minh đề cập trong xây dựng Đảng là nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Có lúc, Hồ Chí Minh coi nguyên tắc tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển Đảng. Cũng có khi Người coi đó là nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh. Hồ Chí Minh nói: “Mỗi người đều có thiện, có ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”; vì vậy, “thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”4.

Nguyên tắc thứ tư được Người nhắc đến trong xây dựng Đảng kiểu mới là kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng là đòi hỏi tất cả mọi tổ chức đảng, mọi đảng viên đều phải bình đẳng trước Điều lệ Đảng, trước pháp luật Nhà nước, Nghị quyết của Đảng. Đảng ta là một tổ chức gồm những người tự nguyện phấn đấu cho lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa, cho nên tự giác là một yêu cầu bắt buộc đối với mọi tổ chức đảng và đảng viên. Theo đó, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên dù ở cương vị nào, làm bất cứ việc gì cũng phải chấp hành nghiêm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước. Việc coi thường kỷ luật Đảng, không tự giác chấp hành kỷ luật Đảng sẽ làm suy yếu và tan rã Đảng.

Trong hệ thống các nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới, Hồ Chí Minh không quên đề cao nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đoàn kết, thống nhất là một thuộc tính cơ bản, một nguyên tắc hoạt động quan trọng của Đảng, quyết định sức mạnh của Đảng. Trong Di chúc, Người viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kì quý báu của đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”5. Đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin; đường lối, chủ trương của Đảng; Điều lệ Đảng. Thực hành dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh thực hiện tự phê bình và phê bình, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống mọi biểu hiện tiêu cực trong Đảng.

Việc nắm vững và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc trong xây dựng Đảng kiểu mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là vấn đề có tính quy luật nhằm xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Đỗ Đình Cường

1. Hồ Chí Minh toàn tập, t5, NXB CTQG, H. 2009, tr.553
2. Hồ Chí Minh toàn tập, t8, NXB CTQG, H. 2009, tr.216
3. Hồ Chí Minh toàn tập, t5, NXB CTQG, H. 2009, tr.505
4. Hồ Chí Minh toàn tập, t5,NXB CTQG, H.2009, tr262
5. Hồ Chí Minh toàn tập, t12, NXB CTQG, H. 2009, tr.510

baobacninh.com.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

(TCTG)- HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG, HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN    (Tài liệu học tập năm 2009 của Ban Tuyên giáo Trung ương)

Chú dẫn của nhà xuất bản

Hai năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội, làm cho toàn Đảng, toàn dân ta ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về những nội dung cơ bản, giá trị tinh thần to lớn của tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Kết quả bước đầu của Cuộc vận động đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trong nhận thức, ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tổ chức học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo các chủ đề là một nội dung quan trọng trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tiếp theo các chủ đề học tập năm 2007, 2008, thực hiện Kế hoạch số 03-KH/BTGTW ngày 14-5-2007 của Ban Chỉ đạo Trung ương, năm 2009, toàn Đảng, toàn dân toàn quân ta sẽ học tập chủ đề: Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn với Kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Bác.

Nhằm cung cấp kịp thời tài liệu học tập cho các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chủ đề năm 2009 – Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân (Tài liệu học tập năm 2009) do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn.

Đây là tài liệu được phát hành rộng rãi trong cả nước, giúp cho tất cả cán bộ, đảng viên, công chức nâng cao nhận thức về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng kế hoạch cá nhân làm theo Bác với các nội dung cụ thể và thiết thực, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp triển khai Cuộc vận động trong năm 2009 do Ban Chỉ đạo Trung ương đề ra.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Tháng 4 năm 2009

Nhà xuất bản chính trị quốc gia

I. SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trách nhiệm là phần việc được giao, nghĩa vụ phải làm tròn theo cương vị, chức trách của mình. Con người có bao nhiêu vị trí, vai trò, chức năng trong các mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu trách nhiệm. Đó là trách nhiệm thành viên của mỗi người trong quan hệ gia đình; trong cộng đồng, tổ chức, xã hội; trách nhiệm công dân trong quan hệ với đất nước; trách nhiệm phục vụ nhân dân, là công bộc của dân, của cán bộ, công chức…

Trách nhiệm là một khái niệm kép, vừa thuộc phạm trù đạo đức, vừa thuộc phạm trù pháp luật. Có trách nhiệm chỉ chịu sự phán xét của dư luận, đạo đức. Có trách nhiệm ngoài sự phán xét của dư luận, đạo đức còn chịu sự xét xử của pháp luật. Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, chịu sự phán xét của cả dư luận, đạo đức, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trong đó việc nhận thức đúng đắn, tự giác thực hiện có vai trò quan trọng.

ý thức trách nhiệm là sự nhận thức (nông, sâu, đầy đủ hay chưa đầy đủ) về nghĩa vụ phải hoàn thành trong mối quan hệ nhất định. Ngược lại với ý thức trách nhiệm là thái độ vô trách nhiệm. Hồ Chí Minh chỉ rõ trách nhiệm của mỗi người trong các mối quan hệ, nhưng nhấn mạnh trước hết là trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân. Người thường nhắc nhở mỗi người có 3 trách nhiệm: trước Đảng, trước dân, trước công việc. Trong 3 trách nhiệm đó, trước hết cần có ý thức trách nhiệm cao trước công việc, trước nhân dân để làm thật tốt rồi mới đem kết quả đó mà báo cáo với cấp trên, với Đảng.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cần phải “nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Tiếp theo các chủ đề học tập được triển khai trong các năm 2007, 2008, theo kế hoạch toàn khoá, trong năm 2009, chủ đề học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là: Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân gắn với kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hiện nay. Mục đích của việc học tập là:

1. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới

Trong phạm vi đạo đức, trách nhiệm mang tính bổn phận mà mỗi tổ chức, cá nhân đều phải tự giác, tự mình thực hiện.

– Dân tộc Việt Nam, với 54 dân tộc anh em hình thành và phát triển trên một miền đất có điều kiện tự nhiên vừa thuận lợi, vừa khắc nghiệt, gắn liền với nền văn minh lúa nước. Vì vậy, ngay từ rất sớm đã hình thành cộng đồng dân tộc thống nhất, dựa trên các cộng đồng làng xã phát triển và khá bền vững. Trong mối quan hệ chặt chẽ và gắn bó qua nhiều đời đó, mỗi thành viên là một bộ phận không tách rời của cộng đồng, có lợi ích chung và có trách nhiệm chung. Đó chính là nguồn sức mạnh của cộng đồng.

– Thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã xác định nhiệm vụ “phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới”. Việc động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặc biệt phát huy vai trò nêu gương đi trước, làm trước của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức… có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

2. Phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tập thể, đẩy mạnh tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, chống chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, cục bộ, địa phương…

– Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, chủ nghĩa yêu nước đã giữ vai trò to lớn, có ý nghĩa quyết định. Lòng yêu nước, bắt nguồn từ yêu nhà, yêu quê hương xứ sở, Tổ quốc, nhân dân, là sức mạnh vô địch… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[1]. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay có cơ hội lớn và thách thức lớn, rất cần phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, được thể hiện cụ thể trong ý thức trách nhiệm của mỗi người Việt Nam.

– Đối lập với tinh thần tập thể, ý thức trách nhiệm trước tập thể là chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của cộng đồng. Ông cha ta đã ca ngợi những người có công với làng, với nước, dựng đền thờ, tôn vinh là thánh, là thần, là phật hoàng, là thành hoàng…, đồng thời phê phán gay gắt những kẻ phản bội, đầu hàng, những thói hư, tật xấu, chủ nghĩa cá nhân…

– Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, những mặt tiêu cực của toàn cầu hóa, của cơ chế kinh tế thị trường khách quan tác động vào tư tưởng mỗi người, kích thích chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, làm suy giảm sự cố kết của cộng đồng dân tộc. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch cũng tận dụng điều kiện đó để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, mà khuyến khích lối sống cá nhân, thực dụng, hưởng thụ, vọng ngoại… là một trong những thủ đoạn chủ yếu. Trong điều kiện đó, việc làm rõ trách nhiệm của mỗi cá nhân; trên cơ sở tôn trọng lợi ích và quyền tự do của mỗi cá nhân, tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm của cá nhân trước tập thể, cộng đồng, Tổ quốc và nhân dân có nghĩa to lớn và tác dụng xã hội tích cực.

3. Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức có phẩm chất đạo đức cách mạng, hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang trong giai đoạn cách mạng mới

– Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã xác định nhiệm vụ tổ chức, lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành lại nền độc lập và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Ngoài mục đích đó, Đảng không có lợi ích nào khác. Chính vì vậy, Đảng đã được nhân dân tin cậy, đi theo, làm nên những thắng lợi vẻ vang trong thế kỷ XX. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Đó là chiến thắng trong các cuộc chiến tranh để bảo vệ nền độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đó là thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới.

– Trong giai đoạn cách mạng mới, thực hiện nhiệm vụ đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, phải chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải xác định rõ trách nhiệm của mình trước Tổ quốc và nhân dân. Đó là nhân tố quyết định, bảo đảm thắng lợi của công cuộc đổi mới.

– Công tác xây dựng Đảng trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đồng thời cũng còn nhiều yếu kém, khuyết điểm. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức đã và đang làm giảm sức chiến đấu của Đảng, làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng. Việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong giai đoạn hiện nay là một giải pháp quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng, góp phần làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, hoàn thành trách nhiệm vẻ vang trước Tổ quốc và nhân dân.

4. Đưa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, đẩy mạnh việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

– Thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07-11-2006 của Bộ Chính trị, trong những năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã triển khai mạnh mẽ Cuộc vận động và đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là Cuộc vận động lớn, kéo dài nhiều năm, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức tự giác và tổ chức thực hiện làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Trong hai năm 2007, 2008, theo Kế hoạch toàn khóa đã ban hành (Kế hoạch số 03-KH/BTGTW ngày 14-5-2007), việc triển khai Cuộc vận động đã đạt được kết quả quan trọng. Nhiệm vụ của những năm sắp tới là kết hợp tiếp tục giáo dục nhận thức theo các chủ đề với tăng cường tổ chức, hướng dẫn việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Nghiên cứu, quán triệt tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân có ý nghĩa thiết thực và trực tiếp trong thực hiện nhiệm vụ này.

– Năm 2009 là năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành tổng kết 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác. Việc học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người về ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là biểu hiện làm theo Di chúc của Bác một cách thiết thực, góp phần tạo nên sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, phấn đấu đạt được các mục tiêu do Đại hội X của Đảng đã đề ra.

II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG, HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

– Trong hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: mỗi người đều phải tuân theo đạo đức công dân. Đó là tuân theo pháp luật của Nhà nước, kỷ luật lao động, giữ gìn trật tự chung, đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ, đúng số… Đạo đức công dân là hăng hái tham gia công việc chung, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ Tổ quốc, cần, kiệm xây dựng nước nhà… Người nói, mỗi người đều phải có bổn phận với đất nước. Nước là nước của dân; và dân là chủ của nước. Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trách nhiệm công dân trước hết và bao trùm nhất là trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân. Cơ sở của việc nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ quan niệm mỗi người đều có trách nhiệm trước Tổ quốc. Khi Tổ quốc lâm nguy thì mọi người đều phải đứng lên. Trong lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946 Bác viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”[2].

– Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, Người yêu cầu để làm gương cho nhân dân, phải có đạo đức cách mạng, vì cán bộ, đảng viên là tấm gương của xã hội, phải nêu gương, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Mỗi cán bộ, đảng viên, cán bộ quản lý, lãnh đạo vừa phải thực hiện đạo đức công dân, vừa thực hiện đạo đức của người cán bộ. Dù công tác ở lĩnh vực nào cũng đều phải có phẩm chất đạo đức. Cấp bậc càng cao càng phải nêu gương về đạo đức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân[3]. Người viết: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”[4].

Cơ sở của trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức là “dân là chủ và dân làm chủ”. Chính phủ, cán bộ là công bộc của dân. Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Việc gì hại đến dân thì Chính phủ phải hết sức tránh. Việc gì lợi cho dân thì Chính phủ phải ra sức làm.

– Đối với cán bộ, đảng viên của Đảng, cơ sở của ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân bắt nguồn từ mục đích và bản chất của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là đảng của nhân dân lao động, của dân tộc. Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc; đại biểu cho lợi ích của giai cấp và dân tộc. Đảng quy tụ những người kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Đảng lấy dân làm gốc. Đảng cầm quyền, nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền là để bảo đảm cho dân làm chủ. Mọi quyền lực vẫn thuộc về dân. Người dân ủy thác quyền lực đó cho những chức danh cụ thể, kể cả chức vụ Chủ tịch nước.

Trong Lời kết thúc buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam (3-3-1951), Hồ Chí Minh nói: “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”[5].

– Cán bộ, đảng viên, công chức phải phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của quần chúng nhân dân; nhân dân là sức mạnh vô địch.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng là do nhân dân tiến hành. Nhân dân là người làm ra lịch sử. Sức mạnh của nhân dân là vô địch. Không có nhân dân, Đảng, Chính phủ không có lực lượng. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trên thế giới này không có sức mạnh nào bằng sức mạnh của nhân dân. Có dân là có tất cả. “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong[6]… Nhiệm vụ phục vụ nhân dân của Đảng là tổ chức và phát huy sức mạnh trong nhân dân để đấu tranh giành lợi ích cho nhân dân, để xây dựng và bảo vệ xã hội mới do nhân dân làm chủ.

2. Nội dung nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh

a) Về ý thức trách nhiệm

– Theo Hồ Chí Minh, ý thức trách nhiệm của mỗi người trước hết thể hiện trong quan hệ với nhiệm vụ được giao, với công việc phải làm.

Khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, đều phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, làm một cách tự giác, theo lương tâm, lương tri, theo nhu cầu nội tâm của cá nhân mình. Nếu làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy…, là không có tinh thần trách nhiệm. Tất cả mọi người, ở mọi địa vị, mọi công tác, mọi hoàn cảnh đều phải có tinh thần trách nhiệm.

– ý thức trách nhiệm biểu hiện trong việc nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ; thực hiện đúng đường lối quần chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Đảng và Chính phủ đề ra chính sách. Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy. Theo chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, hiểu thấu hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình. Rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực, để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu thấu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy. Như thế là làm trọn nhiệm vụ.

Để thực hiện trách nhiệm, phải bàn bạc với quần chúng, hỏi han ý kiến, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình. Người nói, “Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệmđối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân”[7].

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư, tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm.

b) Về nội dung hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

– Mọi người đều phải có trách nhiệm với đất nước. “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Theo Hồ Chí Minh, Tổ quốc – Đất nước là của tất cả mọi người Việt Nam và nhân dân chính là chủ nhân của đất nước. Tổ quốc và nhân dân có mối quan hệ máu thịt, theo nghĩa “đồng bào”. Khi Tổ quốc lâm nguy thì mọi người phải “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”[8].

– Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Cán bộ, đảng viên phải tận tâm, tận lực, tận tình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Người dạy: Việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân thì phải hết sức tránh. Mục đích hoạt động của các cấp, các ngành, của mọi cán bộ, đảng viên là nhằm không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, cả đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần. Cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân là tiêu chí số một đánh giá năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người, trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau.

– Phục vụ nhân dân là phải quan tâm, chăm lo mọi mặt của đời sống nhân dân, tìm cách thoả mãn các nhu cầu, lợi ích của nhân dân, trước hết là những nhu cầu thiết yếu nhất theo tinh thần: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[9]. Phải: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”2. Phải biết kết hợp các loại lợi ích khác nhau: Lợi ích gần và lợi ích xa, trước mắt và lâu dài; lợi ích của Trung ương và lợi ích của địa phương; lợi ích của các giai cấp, tầng lớp xã hội, làm cho ai cũng cảm nhận được rằng họ đang là đối tượng được phục vụ.

– Phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân và xác định vì dân mà làm việc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế”3. Tôn trọng dân, trước hết là tôn trọng quyền làm chủ của dân, tôn trọng ý kiến của dân. Không được tự cao, tự đại, khinh rẻ dân, chê bai dân. Bởi vì, so với nhân dân thì số đảng viên chỉ là số ít. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng đắn rằng Đảng và Chính phủ cũng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, đem lại hạnh phúc, tự do cho dân. Vì vậy, mỗi cán bộ đảng viên cũng phải xác định vừa phụ trách trước Đảng và Chính phủ vừa phụ trách trước nhân dân, “Mà phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ”[10]. Cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ cũng chỉ là công bộc của dân.

– Phục vụ nhân dân là hướng dẫn nhân dân tự chăm lo cho đời sống của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: Sự hướng dẫn này được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, chủ yếu là tập trung vào những nội dung cơ bản: Hướng dẫn nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất; hướng dẫn nhân dân biết cách thực hành tiết kiệm; hướng dẫn nhân dân phân phối cho công bằng những phúc lợi xã hội theo phương châm “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”[11].

– Phục vụ nhân dân trước hết phải đề ra được các chủ trương, chính sách đúng đắn, vì lợi ích của nhân dân.

Chủ trương, chính sách phải xuất phát từ các điều kiện thực tế và quan tâm tới nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, ngay cả cấp cơ sở. Người dạy: “Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc”[12].

Về cách làm việc, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải nhận thức sâu sắc phương pháp “Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”. Việc to, việc nhỏ đều phải phù hợp với lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng, thì mới có thể phục vụ được quần chúng. “Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”2.

– Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân phải luôn luôn quán triệt cán bộ là công bộc, là đày tớ của dân.

Hồ Chí Minh dạy: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”3. Làm đày tớ thì phải học dân, hỏi dân, hiểu dân. “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân4.

Đày tớ là phục vụ dân; có cái gì lo thì lo trước dân, có cái gì vui thì vui sau dân. Tự phê bình trước dân và nếu có khuyết điểm thì nhận; đồng thời hoan nghênh nhân dân phê bình mình. ý thức phục vụ nhân dân không phải nằm ở nghị quyết, chỉ thị, kêu gọi, hô hào, nói suông. Người yêu cầu “các vị bộ trưởng nên luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi ở bàn giấy”; hoặc “hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết mà không làm”.

Tóm lại, nội dung tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh hết sức rộng lớn, sâu sắc. Trước hết là ở nhận thức về Tổ quốc, về nhân dân, về vị trí của cán bộ, đảng viên. Nhận thức đúng sẽ mở đường cho hành động đúng. Nhận thức sai, hành động sai. Hai điểm cốt yếu quan trọng nhất của vấn đề này trong tư tưởng Hồ Chí Minh là dân là chủ, là gốc của nước. Có dân là có tất cả. Cán bộ là đày tớ của dân. Phục vụ dân là nhiệm vụ của mọi cán bộ, công chức, là gốc của mọi công việc.

3. Các giải pháp nâng cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh

a) Các giải pháp về phía Đảng

– Giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về Đảng.

+ Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Văn minh là trí tuệ, là bản lĩnh, là tính nhân văn của một Đảng cách mạng chân chính. Đạo đức chủ chốt của Đảng là quyết tâm suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”[13].

+ Người khẳng định, Đảng ta vĩ đại, lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng. Đảng ta vĩ đại vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác. Đảng là mỗi chúng ta. Đảng phải giáo dục cho cán bộ, đảng viên nhận thức được rằng, mỗi cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, có ý thức phục vụ nhân dân tốt thì Đảng trong sạch, vững mạnh.

– Phải xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự có đạo đức cách mạng.

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò quyết định của cán bộ, có cán bộ tốt, việc gì cũng xong. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, mỗi cán bộ, đảng viên càng phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch. Phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

+ Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là thực hiện nghiêm minh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.

Phải rà soát lại tất cả những chủ trương, chính sách đã có để kiên quyết chống tư tưởng đặc quyền, đặc lợi trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Còn đặc quyền, đặc lợi thì còn có kẽ hở để vi phạm đạo đức cách mạng.

Phải kiểm tra, kiểm soát trong việc thực hiện chính sách của Đảng để biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu; biết rõ ưu điểm, khuyết điểm của các cơ quan và của các mệnh lệnh, nghị quyết. Đặc biệt để chống lại cái thói nghị quyết một đường thi hành một nẻo.

Có hai cách kiểm soát. Một cách là từ trên xuống, tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả của những công việc của cán bộ mình. Một cách là từ dưới lên, tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo. Cách này là cách tốt nhất để kiểm soát các nhân viên.

– Phải giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng.

+ Hồ Chí Minh luôn luôn coi kỷ luật đảng là nhất trí về tư tưởng, hành động và xuất phát từ lòng tự giác của đảng viên. Cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức, số ít phục tùng số nhiều, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương… Phải giáo dục tư cách, bổn phận đảng viên và rèn luyện tính Đảng.

+ Duy trì kỷ luật Đảng phải có thái độ khen, chê đúng mực đối với các hạng đảng viên, cán bộ. Người dạy: Khi cán bộ có khuyết điểm thì trước hết cần có nhận thức đúng về khuyết điểm. Người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm. Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Sửa chữa sai lầm, trước hết cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo; song tuyệt nhiên không phải không dùng xử phạt. Khuyết điểm có việc to việc nhỏ. Nếu tất cả không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Trong bài Sự nghiệp vĩ đại của Lênin, Người đã nhắc lại câu nói của V.I.Lênin: “Không xử bắn bọn ăn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người cách mạng”[14]. Vì vậy, hoàn toàn không xử phạt là không đúng. Mà mắc sai phạm gì cũng dùng đến xử phạt cũng là không đúng.

b) Các giải pháp từ phía cán bộ, đảng viên

Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh vai trò của cán bộ, đảng viên cũng như mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên với tổ chức, với quần chúng. Người nói: hàng trăm người dân mới có một đảng viên. Cần phải hiểu đúng ý nghĩa của vấn đề. Một mặt, sức mạnh to lớn của quần chúng so với đảng viên; mặt khác, đảng viên là người đại biểu ưu tú của dân tộc; là người lãnh đạo và tấm gương để nhân dân noi theo. Do vậy, cán bộ, đảng viên phải có nhận thức và hành động đúng.

– Về nhận thức:

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc về tư cách và bổn phận của mình.

Người nói, có những điều tưởng như ai cũng nhận thức đầy đủ cả rồi, nhưng thực tế lại không phải như vậy. Không ai bắt buộc ai vào Đảng. Đó là do sự tự giác, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ xung phong. Vậy thì, mỗi đảng viên phải xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc. “Làm đảng viên, làm cán bộ là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”. “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”.

+ Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần phải có “tính Đảng”. Thể hiện ở các điểm sau:

Một là, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Hai là, việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi, đến chốn, không qua loa, đại khái.

Ba là, lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau.

Bốn là, phải ráo riết dùng phê bình và tự phê bình.

Năm là, nơi nào sai lầm, ai sai lầm thì lập tức phải sửa chữa, v.v..

Đó là những điều “tối thiểu” mà bất kỳ ai, khi viết đơn vào Đảng cũng đã “thuộc” và hứa trước đảng kỳ. Phải thông qua tu dưỡng như chuyện rửa mặt hằng ngày. Tự giác tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện về mọi mặt là thước đo tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân.

– Về chính trị, tư tưởng:

+ Phải nắm vững đường lối cách mạng của Đảng. Đường lối đó vừa có nội dung xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình cách mạng, đồng thời phản ánh thực tiễn của từng giai đoạn. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời.

+ Tu dưỡng về chính trị là phải chống khuynh hướng “tả” và khuynh hướng “hữu”, ngả nghiêng dao động. Điều này hoàn toàn xa lạ với việc nắm vững và kiên định về chiến lược, mềm dẻo về sách lược và hết sức linh hoạt trong sử dụng các biện pháp tiến hành cách mạng theo tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

+ Phải nghiêm túc nghiên cứu, học tập lý luận Mác – Lênin.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, “lý luận cách mạng như cái bàn chỉ nam”, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng, như nhắm mắt mà đi.

Học lý luận không chỉ củng cố lập trường quan điểm chính trị, nâng cao nhận thức, tầm trí tuệ mà còn là xác lập cơ sở, nền móng vững chắc hoàn thiện nhân cách làm người. Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: Học chủ nghĩa Mác – Lênin là để biết cách sống với nhau có tình, có nghĩa; tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa giữa con người với con người.

Trong nghiên cứu học tập lý luận phải phê phán thói “khinh lý luận” hoặc lý luận suông. “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”[15]. Về bệnh lý luận suông, Người nói: “Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách”[16].

Học lý luận để thấm nhuần tư tưởng cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, từ đó vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, lấy thực tiễn Việt Nam làm điểm xuất phát, lấy cải tạo hiện thực Việt Nam làm mục tiêu.

– Về đạo đức:

+ Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trước hết là “trung với nước, hiếu với dân”. Người nói, đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng. Điểm xuất phát quan trọng nhất là phải xác định lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít đi và tính tốt ngày càng thêm. Tu dưỡng đạo đức cách mạng phải toàn diện, trên tất cả các khía cạnh.

+ Phải thường xuyên nuôi dưỡng lòng thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ oai quyền.

+ Tu dưỡng đạo đức là rèn luyện đức tính ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Là rèn luyện cho đầu óc trong sạch, sáng suốt, có đức tính biết xem người, biết xét việc…

+ Tu dưỡng đạo đức phải rèn luyện đức tính có gan nói, có gan phụ trách, có gan làm việc, có gan tự phê bình, có gan sửa chữa khuyết điểm, có gan chịu đựng khó khăn, chống lại sự vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

+ Phải rèn đức tính trong sạch, không tham địa vị, không tham tiền tài, ít lòng ham muốn về vật chất. Không ham người tâng bốc mình.

+ Phải rèn luyện đức tính cần, kiệm, liêm khiết, chính trực.

+ Phải tu dưỡng, rèn luyện, đấu tranh bền bỉ hằng ngày, suốt đời.

– Về văn hoá, học vấn, chuyên môn nghiệp vụ:

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc học văn hoá, nâng cao học vấn là một mặt của chế độ công tác, một biểu hiện của đạo đức cách mạng.

+ Cán bộ, đảng viên phải chịu khó, học tập thường xuyên, mọi nơi, mọi lúc, “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân”. Học tập suốt đời nhằm thâu thái tri thức, khoa học, kỹ thuật của nhân loại, tăng năng suất công tác, cải tiến công việc.

Người khẳng định, cán bộ, đảng viên không chỉ giỏi về chính trị mà cũng phải giỏi về chuyên môn. Làm nghề gì cũng phải học và làm nghề gì phải thạo nghệ ấy. Không có chuyên môn sẽ dẫn tới bệnh nói suông, lãnh đạo chung chung. Cán bộ chính trị phải biết kinh tế, cán bộ kinh tế phải có chính trị. Đó chính là một biểu hiện của nâng cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

– Về phương pháp công tác, cách lãnh đạo:

Cách lãnh đạo, cách làm việc của cán bộ, đảng viên, hiểu rộng ra là văn hóa lãnh đạo, văn hóa ứng xử. Theo Hồ Chí Minh nói chung có hai cách làm việc: Làm việc theo cách quan liêu và làm việc theo cách quần chúng.

+ Thực hành cụ thể theo cách quần chúng thì phải theo nguyên tắc “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Đó là cách làm việc thể hiện được nguyện vọng, tâm tư của quần chúng. Việc gì cũng phải tin vào dân chúng, học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng, theo tình hình thiết thực của dân chúng, theo trình độ giác ngộ của dân chúng và sự tình nguyện của dân chúng…

+ Làm việc theo cách quan liêu cũng gần với kiểu làm việc theo cách quyền lực, xa lạ với cách làm việc quần chúng. Theo Hồ Chí Minh, là cán bộ công chức, dù ít dù nhiều đều có quyền hành “cấp cao quyền to, cấp thấp quyền nhỏ”. Có quyền mà xa dân, làm việc theo kiểu quan liêu, mệnh lệnh, không dân chủ thì sớm muộn nhất định thất bại. Có quyền mà nhận thức đúng đắn rằng quyền lực đó là của dân và nhân dân giao phó quyền lực đó cho mình, thì sẽ làm hết trách nhiệm đối với nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh.

Phong cách và phương pháp công tác có văn hóa của cán bộ, đảng viên là theo đúng đường lối quần chúng, là nguyên tắc, là tình cảm, trách nhiệm của những công bộc của dân.


III. TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM HẾT LÒNG, HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

1. Tấm gương về ý thức trách nhiệm trước Tổ quốc, Đảng và dân tộc

– Động cơ thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước là trách nhiệm của một người dân mất nước.

Mang theo hoài bão, khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, Hồ Chí Minh tự mình quyết tâm đi ra nước ngoài “xem người ta làm thế nào” để trở về cùng đồng bào cứu nước, đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Trong gần 10 năm bôn ba, trải qua biết bao khó khăn của sự kiếm tìm, Người đã hoàn thành trách nhiệm do mình tự đặt ra, đó là tìm thấy chân lý “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản[17].

– Sau khi tìm được con đường cứu nước, Hồ Chí Minh tự xác định trách nhiệm tuyên truyền, vận động, tổ chức, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Người đã tập hợp, giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo được những người tiên tiến nhất trong cộng đồng dân tộc, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành độc lập.

– Từ năm 1930 đến năm 1945 là thời kỳ tư tưởng và cuộc sống của Hồ Chí Minh gặp nhiều thử thách, nhưng trong thử thách, Người luôn luôn kiên định mục tiêu và luôn mong muốn, khát khao được hoạt động vì sự nghiệp cứu nước của dân tộc.

+ Hai lần người bị bắt và bị giam trong nhà tù đế quốc. Trong tù, Người xác định “muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao”. Người không ngại sự gian khổ, đau đớn và lo về tính mạng của mình, mà lo cho cách mạng, buồn vì không được hoạt động. Người tâm sự: Đối với người cách mạng, không gì khổ tâm bằng đã không hoạt động được, lại mất liên lạc với đoàn thể lâu ngày.

+ Ngay sau khi về nước, chấp nhận một cuộc sống vô cùng thiếu thốn, gian khổ, Hồ Chí Minh khẩn trương bắt tay vào thực hiện nhiều công việc quan trọng, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Người vừa xác định trách nhiệm của người lãnh đạo, vừa xác định trách nhiệm cứu quốc là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm. Người xác định trách nhiệm của Người: “Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”[18].

– Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, trong 24 năm giữ cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh đã tự xác định cho mình trách nhiệm vừa là người lãnh đạo cao nhất, vừa là đày tớ của dân.

+ Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”[19].

+ Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vai trò, trách nhiệm của Người trong hệ thống quyền lực. Đó là nhận sự uỷ thác của quốc dân, đồng bào, quyết tâm hoàn thành trách nhiệm được Tổ quốc giao phó “giống như người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận” nhằm làm cho “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[20]; xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới…

– Trong tiến trình cách mạng, không tránh khỏi có lúc Đảng phạm sai lầm, khuyết điểm. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương và Chính phủ nhận trách nhiệm. Trong Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản hoàn thành, sau khi nêu những khuyết điểm, sai lầm của Đảng trong việc đoàn kết nông thôn, việc đánh kẻ địch, việc chấn chỉnh tổ chức, trong chính sách thuế nông nghiệp, Người viết: “Vì sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ có chỗ thiếu cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc – cho nên khi cải cách ruộng đất đã xảy ra những khuyết điểm, sai lầm… Trung ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm ấy và đã có kế hoạch kiên quyết sửa chữa, nhằm đoàn kết cán bộ, đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn, đẩy mạnh sản xuất”[21].

2. Tấm gương hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

a) “Tổ quốc trên hết”; “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”

Cả cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần và quyết tâm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong câu trả lời phóng viên báo Granma, Cuba, Người nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”. Điều đó được chứng minh một cách đầy đủ bằng cả cuộc đời hoạt động của Người.

Sau hơn ba mươi năm lặn lội tìm đường cứu nước, cứu dân, khi chính quyền đã về tay nhân dân, Hồ Chí Minh không hề gợn lên một suy nghĩ nhỏ nào về hưởng thụ. Sau khi giành được độc lập, Người đã cùng Trung ương Đảng, Chính phủ đưa chính quyền nhân dân non trẻ vượt qua bao thác ghềnh, gian khó. Nếm mật, nằm gai, lội suối ngủ rừng, tiếp tục lãnh đạo nhân dân đánh thắng hai cuộc chiến tranh của thực dân, đế quốc. Trong điều kiện hòa bình, với cương vị Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Người vẫn giữ gìn lối sống trong sạch, giản dị, vì nước, vì dân.

b) Tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc; “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”

Trước thời cơ giành độc lập, Người quyết tâm: “dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc”.

Sau khi giành được chính quyền và trong suốt 24 năm lãnh đạo đất nước, Người luôn luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để giữ gìn và bảo vệ nền độc lập ấy.

Trước chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người có sức lan tỏa mạnh mẽ, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc chiến đấu vì độc lập, tự do và giành được thắng lợi vẻ vang.

c) Tất cả vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, không dành riêng cho cá nhân và gia đình

Trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”[22].

Trong bản Di chúc, Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[23].

IV. HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ NĂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG, HẾT SỰC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1. Quán triệt tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh “trung với nước, hiếu với dân”, nâng cao nhận thức về ý thức trách nhiệm, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong cán bộ, đảng viên, công chức

– Giáo dục đạo đức trước hết là tác động vào nhận thức, tạo ra ý thức đạo đức đúng đắn, qua đó mỗi người tự giác thực hiện để có hành vi đạo đức phù hợp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những phẩm chất đạo đức cơ bản của người cán bộ cách mạng, tiêu biểu nhất là “trung với nước, hiếu với dân”. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trước hết cần quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người, để vận dụng và làm theo.

– Học tập và làm theo tư tưởng “tận trung với nước, tận hiếu với dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là mỗi người phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của đất nước, của dân tộc, đặt độc lập dân tộc, chủ quyền và lợi ích quốc gia lên trên hết và trước hết. ý thức hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của mỗi người phải được thể hiện trong hành động đem hết tài năng, sức lực cống hiến cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho sự phát triển của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

– Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, mỗi cán bộ, công chức phải hoàn thành nhiệm vụ, chức trách của mình theo đúng pháp lệnh công chức. Biểu hiện cụ thể là làm tốt những công việc hàng ngày, nhất là những việc liên quan trực tiếp tới đời sống của người dân.

– Để nâng cao ý thức trách nhiệm, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân cần kiên quyết đấu tranh, phê phán những quan niệm và biểu hiện sai trái. Đó là sự lầm lẫn giữa quyền uy được tổ chức giao phó với quyền lực cá nhân. Sự lẫn lộn đó dẫn tới cơn khát quyền lực, chạy quyền, mua quyền, bán quyền, lộng quyền, cửa quyền, tham quyền cố vị. Khi có quyền mà thiếu lương tâm sẽ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân, đục khoét dân, ăn của đút, “dĩ công vi tư”. Lúc sinh thời Bác Hồ đã cảnh báo: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”[24].

2. Cụ thể hóa ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương

– Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, mỗi người, dù ở cương vị nào cũng cần phải tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức. Người đã có nhiều lời dạy rất cụ thể về đạo đức của các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội… Những lời dạy của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị và cần được cụ thể hóa trong điều kiện mới.

– Cơ sở để vận dụng, cụ thể hóa những lời dạy của Bác với các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội là đường lối, quan điểm, giải pháp… đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Đó là đảm bảo quyền làm chủ của dân “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, thực hiện đường lối quần chúng “gần dân, học dân, gắn bó với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, thực hiện được nhiệm vụ của người cán bộ “nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, đảm bảo dân sinh, nâng cao dân trí”. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, dù làm việc ở vị trí nào cũng đều cần quán triệt những quan điểm chung đó.

– Cần cụ thể hóa tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân thànhcác nhiệm vụ trên từng vị trí công tác, từng loại công việc. Thấm nhuần, quán triệt sâu sắc tư tưởng và tấm gương vì nước quên mình, vì nhân dân phục vụ của Bác Hồ để vận dụng, cụ thể hóa nội dung những lời dạy của Bác đối với ngành, địa phương, giới mình trong điều kiện mới, gắn với hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị.

3. Kết hợp chặt chẽ giữa tổ chức, hướng dẫn với động viên, kiểm tra, giám sát việc làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

– Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hướng vào việc nâng cao vai trò tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Vì vậy, cần động viên, khuyến khích, hướng dẫn mọi người, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, công chức tự giác đề ra chỉ tiêu phấn đấu “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh”. Trong đợt học tập chủ đề “Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của năm nay, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức công tác ở mọi cấp, mọi ngành, nhất là các cán bộ lãnh đạo chủ trì, chủ chốt, cần xây dựng kế hoạch của mỗi cá nhân học tập và làm theo Bác với những việc làm cụ thể, định kỳ báo cáo trước chi bộ, cơ quan, đơn vị.

– Để hỗ trợ mỗi cá nhân thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi tập thể đảng, chính quyền, đoàn thể xây dựng các chương trình hành động, giúp đỡ, giám sát và kiểm tra việc tự giác làm theo. Định kỳ yêu cầu các cá nhân báo cáo những việc đã làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

4. Phát huy vai trò nêu gương trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

– Một trong những nguyên tắc thực hành đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải nêu gương về đạo đức. Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người đều phải nêu gương về đạo đức. Ông bà nêu gương cho con cháu, cha mẹ nêu gương cho con, anh chị nêu gương cho em, đảng viên nêu gương cho quần chúng… Phát huy vai trò nêu gương trong thực hành đạo đức có ý nghĩa to lớn không chỉ trước mắt mà còn mãi mãi lâu dài về sau.

– Trong phạm vi xã hội, việc nêu gương về đạo đức của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo các cấp, có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, nhân dân ta đã có câu nói rất hay và rất đúng là “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Theo yêu cầu đó của dân, trong Đảng và hệ thống quản lý nhà nước, việc lãnh đạo đi trước, làm trước để đảng viên, quần chúng, nhân dân đi sau, làm theo có ý nghĩa rất quan trọng. Việc nêu gương về đạo đức không chỉ là sự vận động mà phải trở thành những quy định, sự ràng buộc trách nhiệm để mỗi người đều tự giác và cần phải thực hiện. Các cấp, các ngành cần chủ động ban hành các quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo trước nhân viên; cán bộ, đảng viên trước quần chúng.

Mục lục

Chú dẫn của Nhà xuất bản

I. Sự cần thiết nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

III. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

IV. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong giai đoạn hiện nay

Chịu trách nhiệm xuất bản: Ts. Nguyễn Duy Hùng
Chịu trách nhiệm nội dung: Ts. Hoàng Phong Hà
Biên tập nội dung: TS. Trịnh Đình Bảy, Phí ngọc Nội
Trình bày bìa: Phạm Thuý Liễu
Chế bản vi tính: Nguyễn Thị Hằng
Sửa bản in: Phòng biên tập kỹ thuật
Đọc sách mẫu: Phí Ngọc Nội

CTQG-2009


[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.6, tr.171.
[2]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.280.
[3]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.7,tr. 480.
[4]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr.285.
[5]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr. 185.
[6]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.212.
[7]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.346.
[8]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.3, tr.557.
[9], 2. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.56, 152. 3. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 243.
[10]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 294.
[11]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.185.
[12], 2. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 246, 297. 3. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.555. 4. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.89.
[13]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.249.
[14]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.386.
[15]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.7, tr.234.
[16]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.234.
[17]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr.314.
[18]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.3, tr.198.
[19]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.240.
[20]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.161.
[21]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr. 236.
[22]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr. 161.
[23]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.512.
[24]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr. 57.

tuyengiao.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngành Y tế Việt Nam

Giáo sư Tôn Thất Tùng (người mặc comple trắng bên trái) hướng dẫn Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bệnh viện Việt - Đức sau ngày Hà Nội giải phóng (10/10/1954). Ảnh Internet

Cả cuộc đời dành trọn cho quê hương, đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất đã để lại cho các thế hệ con cháu Việt Nam những tư tưởng cao quý, có giá trị sâu sắc. Trong đó phải kể đến những tình cảm, những tư tưởng khoa học mang tính định hướng lâu dài dành cho ngành Y tế – một trong những ngành giữ vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước.

Trong di sản của Người để lại, tài liệu viết về ngành Y tế không nhiều song những giá trị cốt lõi được thể hiện trong tư tưởng của Bác về lĩnh vực này đã trở thành kim chỉ nam hành động đối với toàn thể cán bộ, nhân viên trong ngành. Điều này được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, Bác Hồ luôn đánh giá cao vai trò, nhiệm vụ của ngành Y tế trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân và sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Trong bức thư viết tháng 2/1955, Bác Hồ nêu rõ: “Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang”. Bác Hồ cũng đã nhiều lần căn dặn cán bộ: Trên đời này không có gì sung sướng, vẻ vang hơn là được phục vụ nhân dân. Sức khỏe là vàng, không có sức khỏe thì con người không thể làm bất cứ việc gì. Chính vì vậy, muốn đất nước ngày càng phát triển thì trước hết nhân dân phải có sức khỏe tốt. Và đó là nhiệm vụ của ngành Y tế: Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Đó là lý do mà Bác kính yêu đã khẳng định công việc của những người trong ngành Y tế là một “nhiệm vụ rất vẻ vang”.

Công lao của những người làm việc trong ngành Y tế có ý nghĩa rất to lớn. Sự hy sinh thầm lặng của họ đáng được Đảng, Chính phủ và toàn dân ghi nhận, trân trọng và khen ngợi thỏa đáng. Bác Hồ từng nói: “Bây giờ ta chịu khổ với nhau. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công điều kiện cho phép, Chính phủ quyết không quên công lao anh em đã cố gắng: “Chính phủ sẵn sàng khen thưởng những người xuất sắc nhất” (Tháng 6/1948).

Bác cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được học hành, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục, tập quán không tốt thì dần dần xóa bỏ”. “Ốm đau có thuốc” được Bác nêu lên chính là nhiệm vụ, trách nhiệm và vai trò của ngành Y tế. Nhiều cuộc họp của Bộ Chính trị và Trung ương Đảng mà Bác Hồ dự và chủ trì, đều quan tâm đến vấn đề này. Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác Hồ đã nhiều lần làm việc với cán bộ lãnh đạo ngành Y tế, quan tâm, động viên, thăm hỏi đội ngũ thầy thuốc, khẳng định tầm quan trọng của nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Những thành tựu mà ngành Y tế đã đạt được trong cả thời chiến và thời bình đã khẳng định vai trò quan trọng của ngành trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước đúng như quan điểm của Bác Hồ.

Trong kháng chiến chống Pháp, dưới sự quan tâm lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ với đường lối kháng chiến kiến quốc đúng đắn, cán bộ ngành Y tế đã khắc phục mọi khó khăn, cố gắng bền bỉ đưa công tác y tế của đất nước tiến lên. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh, công tác y tế của nước ta thời kỳ này “đã đi dần vào con đường phục vụ quảng đại nhân dân”. Lịch sử ghi danh những chiến sỹ áo trắng không quản ngại nguy hiểm, khó khăn, thiếu thốn luôn có mặt tại các chiến hào để cứu chữa thương bệnh binh, phục vụ đắc lực cho tiền tuyến. Biết bao tấm gương y, bác sỹ – chiến sỹ kiên trung, dũng cảm đã xuất hiện trên khắp chiến trường, nhiều người đã để lại một phần máu xương của mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước, cũng có không ít người đã vĩnh viễn ra đi, để lại bao niềm đau nỗi nhớ cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp. Ngày 2/1/1947, Người đã có thư khen ngợi sự tận tâm của các y sĩ, khán hộ cứu thương, trong đó có đoạn: “Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khán hộ đều hết lòng săn sóc thương binh một cách chu đáo. Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc”. Trong “Báo cáo tại Hội nghị chính trị đặc biệt” (ngày 28/3/1964), Người đánh giá rằng: “Công tác y tế đã có nhiều thành tích, đã ngăn chặn được nhiều dịch bệnh và bệnh xã hội cũ, sức khỏe của nhân dân được nâng cao. Trẻ em ngày càng được săn sóc chu đáo hơn”. Công tác y tế thời kỳ này không chỉ là một mặt trận kháng chiến mà còn là một mặt trận đấu tranh chống lại bệnh tật, đem lại sức khỏe cho toàn dân, vì cuộc sống của nhân dân.

Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời kháng chiến trường kỳ chống Mỹ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, ngành Y tế đã nêu cao tinh thần cống hiến hết mình và nỗ lực không ngừng để vừa góp phần xây dựng cuộc sống mới, vừa trở thành hậu phương vững chắc cung cấp đầy đủ thuốc men cho toàn quân, vừa kề vai sát cánh với các chiến sĩ sẵn sàng cứu chữa kịp thời thương bệnh binh, đảm bảo sức khỏe cho họ tiếp tục kiên cường đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Rất nhiều sinh viên y khoa mới tốt nghiệp cũng xung phong vào các chiến trường khốc liệt, đem tài sức của mình kề vai sát cánh với những người lính ngoài trận địa, góp phần vì sự nghiệp cách mạng cao đẹp của nước nhà. Hàng trăm nghìn tấn thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế đã được vận chuyển vào miền Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh.

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc – Nam quy về một mối, ngành Y tế đã khẩn trương cùng với các ngành bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước và khắc phục những hậu quả của chiến tranh để lại. Mặc dù phải đối phó với những tác động của nền kinh tế thị trường khi bước vào thời kỳ đổi mới, ngành Y tế đã không ngừng khắc phục khó khăn, phấn đấu đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của nhân dân. Phương châm đổi mới của ngành y tế là kế thừa, nâng cao chất lượng, kết hợp phòng bệnh và chữa bệnh, lấy dự phòng làm chính, đông tây y kết hợp để xây dựng nền y học Việt Nam phát triển bền vững.
Đánh giá cao những thành tựu của ngành Y tế đã góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc, Đảng và Nhà nước đã trao tặng cho các tập thể, cá nhân ngành Y tế nhiều phần thưởng cao quý, như Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập. Nhiều giáo sư, bác sỹ, dược sỹ, các nhà khoa học và cán bộ của ngành Y tế có những cống hiến to lớn trong các lĩnh vực y tế, đã đ­ược Đảng và Nhà nước trao tặng các danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương Lao động và giải thư­ởng cao quý khác.

Thứ hai, Bác Hồ luôn dành sự quan tâm sâu sắc đối với những người làm việc trong ngành Y tế.

Lịch sử dân tộc vẫn còn lưu giữ những hồi ký rất cảm động của các cán bộ trong ngành Y tế khi nhớ về Bác kính yêu. Đó là sự quan tâm và tình cảm ấm áp, chân tình của Bác đối với bác sĩ Trần Hữu Tước trong chuyến tàu từ Pháp trở về Tổ quốc năm 1946, cũng như thời gian sau này. Đó là những lời lẽ hết sức xúc động của Người trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng chia sẻ nỗi đau khi vừa biết tin con trai của bác sĩ hi sinh trong trận chiến đấu chống trả cuộc tấn công của quân Pháp vào Hà Nội. Đó còn là sự quan tâm của Người đối với những bác sĩ sống ở Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn (thư gửi đồng chí Hoàng Hữu Nam ngày 19/3/1947). Khi nghe tin vợ bác sĩ Đặng Văn Ngữ mất, Bác viết thư thăm hỏi, động viên (thư ngày 10/6/1954)…

Đáp lại tình yêu thương vĩ đại Bác dành cho, nhiều thế hệ thầy thuốc Việt Nam đã cố gắng sống và làm việc, đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp cách mạng của nước nhà. Giáo sư Hồ Đắc Di – một bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam, hiệu trưởng đầu tiên trường Đại học Y khoa của nước Việt Nam độc lập, là người hiểu thấu tư tưởng và thấm nhuần đạo đức, lối sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông từng nói: “Càng sống lâu, càng suy ngẫm, càng hiểu sâu biết rộng, càng nhìn thấu kim cổ Đông Tây, ta càng thấy rõ Bác Hồ của chúng ta quả là bậc vĩ nhân của các vĩ nhân. Theo tôi, Người là một Einstein về mặt đạo đức. Lời nói nào của chúng ta có sâu xa đẹp đẽ đến đâu chăng nữa, cũng không thể nào nói lên đầy đủ tầm vóc của Người. Có lẽ chính lịch sử mới đủ sức nói lên tầm vóc đó. Điều kỳ diệu của Bác Hồ là Người là bậc thánh nhân xuất chúng nhưng lại không xa rời nhân dân đại chúng, là nhân vật thần thoại truyền kỳ nhưng lại gần gũi biết bao đối với những con người bình thường, nhỏ bé và bất hạnh. Người có ảnh hưởng sâu xa đến tâm tư, tình cảm của mỗi chúng ta, trẻ cũng như già”.

Giáo sư, bác sĩ Tôn Thất Tùng – vị bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực gan và giải phẫu gan sau cuộc gặp gỡ đầu tiên với Bác, “dưới ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”, tâm hồn ông đã đi theo cách mạng. Trong suốt cuộc đời mình, Giáo sư đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, tin cậy với niềm tin yêu đặc biệt và tình cảm gần gũi. Không phụ lòng tin yêu của Bác, Giáo sư đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp với mong muốn đưa nền y học Việt Nam sánh ngang với các nước trên thế giới. Giáo sư Tôn Thất Tùng đã để lại cho nền y học nước nhà 123 công trình khoa học, đặc biệt Ông là một trong những nhà khoa học đầu tiên xây dựng phương pháp mổ gan mang tên ông: “phương pháp Tôn Thất Tùng” (hay “phương pháp mổ gan khô”). Giáo sư từng viết: “Bác ơi, công ơn Bác với con thật như trời, như bể. Con nhắc lại mấy kỷ niệm đánh dấu từng chặng đời con, để ghi vào lòng, tạc vào dạ rằng, chính Bác là người đã thay đổi đời con, quyết định cả sự nghiệp khoa học của con. Bác là người cha, người thầy đã tái sinh và dạy dỗ con”.

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, Người lại đi thăm và chúc Tết các tầng lớp nhân dân. Năm nào Bác cũng dành thời gian đến thăm và chúc Tết một, hai vị trí thức ngành y vào đêm giao thừa. Gặp gỡ các vị giáo sư, Bác luôn gửi lời thăm và chúc tết tới các cán bộ đang làm việc tại các bệnh viện, các bệnh nhân còn ở lại bệnh viện.

Bác Hồ nói chuyện thân mật với trí thức ngành y. Ảnh: Internet

Đối với các thầy thuốc làm việc trong ngành Y tế, Bác luôn dành cho họ sự tin tưởng, quan tâm, ân cần chỉ bảo, sử dụng đúng khả năng, động viên kịp thời. Xuất phát từ tình cảm chân thành, sâu sắc với cán bộ ngành Y tế, Bác Hồ đã chỉ ra những nội dung ngắn gọn song lại có ý nghĩa định hướng hành động cho mọi người. Ngày 27/2/1955, trong bức thư gửi Hội nghị cán bộ ngành y tế, Người căn dặn “phải thật thà đoàn kết” để “vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích”. “Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành Y tế – từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành Y tế, trong việc phục vụ nhân dân”.

Trong thư gửi cán bộ và nhân viên quân y ngày 31/7/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần căn dặn: “Bác nhắc nhủ các cô, các chú phải:Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kĩ thuật”.

Thứ ba, phải đẩy mạnh công tác phòng bệnh

Đây là quan điểm cơ bản của công tác chăm sóc sức khỏe mà Người nêu ra từ sau Cách mạng Tháng Tám. Người nói “Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân khỏe mạnh tức là góp phần làm cho cả nước khỏe mạnh. Việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám, trong 12 điều răn cán bộ, Người căn dặn “Phải dạy đồng bào: Vệ sinh thường thức”. Đầu năm 1946, Người kêu gọi “Luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước” và nói: “Việc đó không tốn kém, khó khăn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Dân cường thì nước thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”. Người đã phát động phong trào “Đời sống mới” với nội dung chủ yếu là giữ gìn vệ sinh. Từ khi hòa bình lập lại ở miền Bắc và trong những năm chống Mỹ cứu nước, mỗi khi đi thăm một xí nghiệp, một HTX, cơ quan, đơn vị bộ đội, trường học hay bệnh viện, trước hết Người xem xét nơi ăn, chốn ở, nhà bếp, nguồn nước, nhà tắm, hố xí và dặn dò mọi người ăn ở trật tự vệ sinh.

Người còn cho rằng vấn đề sức khỏe có mối quan hệ trực tiếp với cuộc kháng chiến và kiến quốc. Người nói: “Sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng gần thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công”. Vì lẽ đó mà đối với tầng lớp nào, lứa tuổi nào, Người cũng luôn dặn dò mọi người phải giữ gìn và nâng cao sức khỏe. Đối với các cháu thiếu nhi, Người khuyên “Phải siêng tập thể thao cho mình mẩy được nở nang”. Trong lần về thăm bệnh xá Vân Đình vào ngày 20/4/1963, Bác căn dặn: “cần chú ý đến việc phòng bệnh, tuyên truyền và giải thích cho đồng bào xung quanh nhà thương và trong huyện biết cách giữ gìn vệ sinh, làm cho mỗi người bệnh khi khỏi bệnh biết cách phòng bệnh cho họ và gia đình họ…”.

Bác Hồ thăm Bệnh xá Vân Đình, năm 1963. Ảnh Internet

Năm 1964, trong Hội nghị chính trị đặc biệt họp tại Thủ đô Hà Nội, khi thấy Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên (Viện trưởng Viện mắt), Bác liền hỏi: Chú chữa mắt, chú có biết vì sao về các thôn, xóm vẫn thấy các cháu còn toét mắt nhiều? Và trong lúc giáo sư tìm câu trả lời thì Bác đã nói: Các cô, các chú chưa chú ý tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh trong nhân dân. Phải đẩy mạnh công tác phòng các bệnh mắt sâu rộng bằng nhiều cách thì mới ăn sâu vào ý thức của mỗi người.

Trong cuộc đời, không ai muốn mình bị mang bệnh tật, ốm đau bởi “sức khỏe là vàng”. “Chữa bệnh” vừa đau đớn, vừa tốn kém về thời gian, tiền bạc. “Phòng bệnh” vừa giúp mọi người tăng cường sức khỏe, tránh được tổn hại về thể lực, tinh thần và tài chính; chủ động hơn với thời gian và cuộc sống của mình; đóng góp nhiều hơn cho gia đình, xã hội. Chính vì lẽ đó mà người ta lựa chọn: “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Thứ tư, “Lương y phải như từ mẫu”.

Nghề thầy thuốc là một nghề cao quí, bởi đây là nghề chữa bệnh cứu người. Đối với các nghề khác nếu mắc phải sai lầm có thể còn có cơ hội để sửa đổi, còn đối với nghề y, nếu xảy ra một lỗi lầm hay một thiếu sót dù rất nhỏ cũng có thể gây nên những tác hại lớn đến sức khỏe và thậm chí đến tính mạng của con người, mà người mắc lỗi có khi không còn cơ hội sửa chữa, khắc phục được nữa. Cho nên, người thầy thuốc không chỉ phải giỏi về chuyên môn mà còn phải có tâm, có đức. Y đức là phẩm chất tốt đẹp, là giá trị cốt lõi của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh như chăm lo cho những người thân yêu trong gia đình của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lương y phải như từ mẫu” nghĩa là người thầy thuốc đồng thời phải như một người mẹ hiền. “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu” (Thư gửi Hội nghị Quân y, tháng 3/1948).
Năm 1955, trong thư gửi cán bộ y tế toàn quốc, Bác viết: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe của đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ phải thương yêu, phải săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói đó rất đúng”.

Khi vào thăm Bệnh xá Vân Đình, Người căn dặn: “Trong công tác phục vụ cần coi trọng cả hai mặt vật chất và tinh thần. Có thuốc tốt thức ăn ngon còn cần có thái độ phục vụ tốt, coi người bệnh như ruột thịt”.

Người nhắc cán bộ y tế: “Đừng ngại khó, ngại khổ. Phải lao mình vào chỗ bẩn để làm cho sạch, phải dấn thân vào chỗ đau để giảm bớt khổ đau, lương y phải như từ mẫu, phải dịu dàng khiêm tốn, không được hách dịch, ban ơn”.

“Lương y phải như từ mẫu” – lời dạy của Bác là yếu tố cốt lõi của đạo đức ngành y. Y đức thể hiện từ trong suy nghĩ đến hành động. Thực hiện theo lời dạy của Bác, người cán bộ y tế phải niềm nở, dịu dàng trong tiếp xúc với bệnh nhân; tận tình, cẩn trọng khi chăm sóc; ân cần, tỉ mỉ lúc dặn dò. Không được có thái độ coi thường, lạnh nhạt, dùng những lời nói vô lễ đối với người bệnh và gia đình người bệnh; không được đùn đẩy, gây phiền hà cho bệnh nhân; không được tùy tiện, qua loa, tắc trách,… dẫn đến bỏ sót bệnh, nhầm lẫn, sai sót có hại cho sức khỏe và tính mạng người bệnh,…

“Lương y như từ mẫu” là một lời khái quát ngắn gọn nhất về bản chất đạo đức của người thầy thuốc. Đó là tư tưởng quán triệt trong truyền thống y học Việt Nam từ Tuệ Tĩnh, Lãn Ông cho đến ngày nay. Trong lịch sử ngành Y tế, các thầy thuốc của thế hệ đi trước như Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Chung, Trần Hữu Tước, Đỗ Tất Lợi và thế hệ tiếp nối như Tôn Thất Bách, Lê Thế Trung, Đặng Thuỳ Trâm v.v.. đã để lại tấm gương sáng ngời về y đức, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp y học và y tế của nước nhà.

Đất nước bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển. Người thầy thuốc hiện nay đang phải đấu tranh với những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. Thời gian vừa qua, hiện tượng “phong bì” đang diễn ra phổ biến trong các bệnh viện, làm xói mòn giá trị đạo đức của người hoạt động nghề Y. Người dân bức xúc trước sự thiếu trách nhiệm, thái độ thờ ơ, ứng xử thiếu tôn trọng đang có xu hướng gia tăng của một bộ phận cán bộ y, bác sĩ đối với người bệnh. Điều này trở thành nỗi đau nhức nhối của toàn xã hội, của những người thầy thuốc tâm huyết với nghề. Trước những cám dỗ của đồng tiền, người thầy thuốc phải giữ bản lĩnh của mình, nhìn thẳng vào căn bệnh, vào thể trạng bệnh nhân mà điều trị, không phân biệt giàu nghèo để có sự quan tâm như nhau, phải lấy tư tưởng y đức của Bác làm kim chỉ nam để không bị lầm đường lạc lối gây ra những buồn phiền cho người bệnh.

Thứ năm, xây dựng nền y học khoa học, dân tộc và đại chúng; kết hợp Đông y và Tây y.

Người từng viết: “Trong những năm nước ta bị nô lệ, thì y học cũng như các ngành khác đều bị kìm hãm. Nay chúng ta đã độc lập tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta. Y học càng phải dựa trên nguyên tắc: Khoa học, dân tộc và đại chúng.

Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “đông” và thuốc “tây”. (Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, ngày 27/2/1955).

Ngày 16/1/1961, khi đến thăm Viện Nghiên cứu Đông y ở Hà Nội, Bác Hồ căn dặn: “Thuốc tây chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc ta chữa được; thuốc ta chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng có bệnh chữa không được mà thuốc tây chữa được… Bên nào cũng có cái ưu điểm, hai cái ưu điểm cộng lại thì chữa được bệnh tốt cho đồng bào, cho nhân dân, phục vụ cho xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thầy thuốc tây phải học Đông y, thầy thuốc ta cũng phải học Tây y… Thầy thuốc ta và thầy thuốc tây đều phục vụ nhân dân, như người có hai cái tay, hai bàn tay cùng làm việc thì làm việc được tốt, cho nên phải đoàn kết từ trên xuống dưới, từ dưới lên, đoàn kết thuốc ta và thuốc tây thành một khối để chữa bệnh cho đồng bào”. Đó chính là sự kết hợp giữa y học hiện đại và y học dân tộc.

Năm 1955, Hội nghị cán bộ y tế được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, vào đúng ngày 27/02/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội nghị. Bức thư ấy đã trở thành tài sản vô giá của ngành Y tế nước ta. Do ý nghĩa sâu sắc của bức thư này, ngày 06/02/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27/02 hàng năm làm “Ngày Thầy thuốc Việt Nam” và cũng kể đó, ngày 27/02 đã trở thành ngày truyền thống của ngành Y tế.

Thực hiện Chỉ thị số 06 – CT/TW ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Quyết định số 01-QĐ/BCĐCVĐ ngày 22/10/2007, Ban Chỉ đạo Trung ương cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã chọn ngành y tế là đơn vị chỉ đạo điểm Cuộc vận động. Ngành y tế đã quán triệt sâu sắc rằng đây là một cuộc vận động chính trị lớn, là một chủ trương đúng đắn của Đảng, có ý nghĩa trước mắt và lâu dài, là cơ hội quý giá để ngành y tế tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục cán bộ công chức, viên chức nâng cao trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của mình theo lời dạy của Bác Hồ với tâm nguyện: Những người thầy thuốc Việt Nam chung lòng phấn đấu thực hiện lời dạy của Người đối với ngành Y tế Việt Nam “Lương y phải như từ mẫu”- tất cả vì sức khỏe của mỗi người dân, và của cộng đồng-một yếu tố cơ bản được tạo thành dân cường nước thịnh, quốc thái dân an.

Những tư tưởng sâu sắc của Người đối với ngành Y tế là di sản quý giá cho các thế hệ thầy thuốc Việt Nam, là nền tảng đạo lí của người làm nghề y, là định hướng đúng đắn cho mọi hoạt động xây dựng và phát triển ngành Y tế nước nhà. Trong giai đoạn hiện nay, hơn lúc nào hết, ngành Y tế cần đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Thầy thuốc phải như mẹ hiền” và xây dựng nền y tế nước nhà “hiện đại, hiệu quả, phát triển và công bằng”, góp phần làm cho đất nước phát triển hùng mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

Trong những ngày này, đội ngũ cán bộ, công nhân viên phục vụ trong ngành Y tế trên cả nước đang hướng tới kỷ niệm 57 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 – 27/2/2012). Khắc sâu lời dạy của Người: “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”, toàn ngành Y tế Việt Nam đang nỗ lực không ngừng, ra sức thi đua phấn đấu nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ nhân dân để xứng đáng với lòng tin yêu, dạy dỗ của Bác Hồ kính yêu, sự tin tưởng của Đảng, sự mong đợi của nhân dân và vì một đất nước Việt Nam hùng mạnh.

Thu Hiền

bqllang.gov.vn

Vấn đề chế độ dân chủ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ góc nhìn triết học

Nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh ta thấy rất rõ quan điểm của Người về ba giai đoạn trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam: giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, chế độ dân chủ nhân dân là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ cũ – chế độ thực dân, phong kiến, đồng thời đó cũng là bước khẳng định – xác lập những cơ sở, nền tảng cho chế độ xã hội mới ở trình độ phát triển cao hơn là chủ nghĩa xã hội. Chế độ dân chủ nhân dân là một giai đoạn tất yếu trên con đường phát triển của xã hội Việt Nam.

134.jpgChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ảnh: Tuấn Anh

I. Chế độ dân chủ nhân dân là sự phủ định triệt để chế độ thực dân, phong kiến

Trong bài nói tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam mới (ngày 03-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách cần phải tiến hành: Thứ nhất, dưới chế độ thực dân, để phục vụ mục đích chính trị và quân sự, thực dân, đế quốc Pháp – Nhật đã “gây nạn đói” cho nhân dân ta nhằm làm cho dân ta chết, còn dưới chế độ mới, chúng ta “phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất,, và mở “cuộc lạc quyên” để “làm thế nào cho họ sống”; thứ hai, dưới chế độ thực dân, nạn dốt là “một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta”, nhằm làm cho dân tộc ta yếu, còn dưới chế độ mới, chúng ta “mở một chiến dịch chống nạn mù chữ” vì chúng ta muốn dân tộc ta mạnh; thứ ba, dưới chế độ thực dân và chế độ quân chủ phong kiến, “nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ”, còn dưới chế độ mới, nhân dân ta được hưởng mọi quyền tự do dân chủ, trước hết là tham gia cuộc “TÔNG TUYÊN CỬ” với chế độ phổ thông đầu phiếu và thông qua Quốc hội được lập nên bằng tổng tuyển cử mà xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ; thứ tư, chế độ thực dân “dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác”, còn chế độ mới “phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”, vì vậy, chúng ta “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CÂN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”; thứ năm, chế độ thực dân thực hiện “một lối bóc lột vô nhân đạo” bằng thuế thân, thuế chợ, thuế đò, còn chế độ ta “bỏ ngay ba thứ thuế ấy” vì chế độ ta là chế độ nhân đạo; thứ sáu, chế độ thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, còn chế độ ta thì thực hiện “tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”.

Trong bài nói quan trọng trên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến sự đối lập giữa cái mới và cái cũ. Đó là sự đối lập giữa “sống” và “chết”, giữa “phát triển” và “phản phát triển”, giữa “quyền” và “vô quyền”, giữa “lành mạnh” và “hủ hóa”, giữa “nhân đạo” và “vô nhân đạo”, giữa “đoàn kết” và “chia rẽ”. Có thể nói, đó là những sự đối lập triệt để và toàn diện. Trong nhiều bài nói, bài viết khác sau đó, khi đề cập đến những đặc điểm của chế độ xã hội mới, Hồ Chí Minh cũng sử dụng phương pháp đối lập như trên. Chẳng hạn, trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (tháng l0-1945), Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Ở đây, đặc điểm “công bộc của dân” của chế độ dân chủ nhân dân là sự đối lập với bản chất “đè đầu dân” của chế độ xã hội cũ.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chế độ dân chủ nhân dân được tuyên bố ra đời, trở thành một tồn tại hiện thực. Song, đó chưa phải là nột hiện thực hoàn toàn, đầy đủ. Đầu năm 1946, Hồ Chí Minh nói: “Bộ máy thống trị cũ đã hủy bỏ, nhưng nền nếp dân chủ mới chưa hoàn toàn”. Sự tồn tại của chế độ xã hội mới là một quá trình. Đó là một quá trình mà trong đó một số phương diện của chế độ xã hội cũ vẫn còn tồn tại (chẳng hạn như ban đầu là sự tồn tại của giai cấp địa chủ và quan hệ địa chủ – nông dân) và vì thế cuộc đấu tranh giữa cái mới đang hình thành với cái cũ vẫn còn tồn tại diễn ra quyết liệt. Chính trong cuộc đấu tranh ấy, cái mới nếu có đủ sức mạnh sẽ chiến thắng cái cũ và vì thế tự khẳng định mình thực sự là cái mới. Chiến thắng của những nội dung mới làm cho sự tồn tại của chế độ xã hội mới trở thành tồn tại hoàn toàn, đầy đủ. Ba giai đoạn trong quá trình hình thành và phát triển của sự vật mới như trên đã được nhà biện chứng lỗi lạc của nhân loại là G.V.F. Hê-ghen khái quát bằng bộ ba khái niệm: thực tại, tồn tại – cho – cái khác và tồn tại – cho – bản thân. V.I. Lê-nin đặc biệt đánh giá cao bộ ba khái niệm nói trên, coi đó là sự thể hiện biện chứng của tư tưởng phản ánh được biện chứng khách quan của hiện thực. Và rõ ràng, Hồ Chí Minh đã tư duy về chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam theo phương pháp tư duy biện chứng như thế cho dù Người không sử dụng các khái niệm của Hê-ghen.

Có thể thấy, với Hồ Chí Minh, những đặc điểm của chế độ xã hội mới được xác lập trong tư tưởng trước hết thông qua phương pháp tư duy chuyển hóa những đặc điểm của chế độ xã hội cũ thành mặt đối lập của nó. Đây chính là phương pháp tư duy biện chứng. Lê-nin đã đánh giá rất cao tư duy biện chứng của Xpi-nô-da khi ông này nêu lên mệnh đề: “Omnis determinatio est negatio” (mọi sự quy định là sự phủ định). Với phương pháp tư duy như thế, quá trình xây dựng (quy định) chế độ dân chủ nhân dân trong hiện thực được tư duy trước hết là quá trình vượt bỏ (phủ định) một cách triệt để và toàn diện những đặc trưng bản chất của chế độ thực dân, phong kiến.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chế độ 1 dân chủ nhân dân trước hết là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ cũ – bước phủ định đã được khởi đầu và hoàn thành một phần trong Cách mạng Tháng Tám.

II – Chế độ xã hội chủ nghĩa ra đời từ trong chế độ dân chủ nhân dân

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan hệ giữa chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa thể hiện trên hai phương diện.

Thứ nhất, theo Hồ Chí Minh: chế độ dân chủ nhân dân chưa phải là chế độ xã hội chủ nghĩa. Điểm khác căn bản chính là ở vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất. Trong chế độ dân chủ nhân dân, chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất của thiểu số ngùơi bị phủ định để xác lập chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất của đa số người. Quan điểm trên của Hồ Chí Minh được thể hiện rõ, chẳng hạn trong luận điểm về so sánh chế độ sở hữu tư liệu sản xuất trong chế độ dân chủ nhân dân với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất trong chê độ xã hội chủ nghĩa: CANH GIẢ HỮU KỲ ĐIỀN” nghĩa là dân cày có ruộng. “Phải chăng đó là một chủ nghĩa cộng sản, hoặc chủ nghĩa xã hội? Không phải. Chủ nghĩa xã hội hoặc cộng sản là không có chế độ tư hữu. Trái lại “canh giả hữu kỳ điền” là làm cho hàng chục triệu dân cày thành tư hộ đều có ruộng, đều có quyền sở hữu ruộng đất… Dân cày có ruộng chỉ là một chính sách dân chủ”.

Tất nhiên, còn có những sự khác biệt khác nữa, những đâu là sự khác biệt về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và đi liền với nó là các loại hình kinh tế là sự khác biệt chủ yếu. Trong tác phẩm Thường thức chính trị (năm 1953), khi đề cập tới đặc điểm kinh tế trong các “đặc điểm của dân chủ mới”, Hồ Chí Minh đã chỉ ra “năm loại kinh tế,,: A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh). Năm loại kinh tế này dựa trên nhiều loại hình sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau, và vì thế nó vẫn khác với kinh tế xã hội chủ nghĩa, dù rằng những mầm mống xã hội chủ nghĩa về kinh tế đã xuất hiện. Nói theo ngôn ngữ ngày nay thì kinh tế dân chủ nhân dân là kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể nói như vậy bởi chính Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát trên theo hướng xã hội chủ nghĩa chứ không phải theo hướng chủ nghĩa tư bản”.

Quan điểm về sự khác biệt giữa chế độ dân chủ nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa cũng được Đảng ta khẳng định. Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội II (năm 1951) nói rõ: Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân “không phải là cách mạng dân chủ tư sản lối cũ cũng không phải là cách mạng xã hội chủ nghĩa mà là một thứ cách mạng dân chủ tư sản lối mới tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, không phải trải qua một cuộc nội chiến cách mạng”. Sự khác biệt giữa chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng như quá trình tiến triển từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa còn được luận chứng rõ hơn trong Luận cương cách mạng Việt Nam do đồng chí Trường Chinh trình bày tại Đại hội II của Đảng.

Thứ hai, chế độ dân chủ nhân dân không phải là chế độ xã hội chủ nghĩa, nhưng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam lại ra đời từ trong chế độ dân chủ nhân dân. Đây là quan điểm rất cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng ta đều biết rõ, quan điểm chính thức của Đảng ta là từ năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh cũng nhất trí với quan điểm như vậy. Bước vào thời kỳ quá độ, tức là bắt tay “xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”. Tuy nhiên, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đây là quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ trong chế độ dân chủ nhân dân. Từ năm 1945 cho đến lúc Hồ Chí Minh qua đời, Người luôn khẳng định chế độ ta là chế độ dân chủ nhân dân, đặc biệt là về phương diện chính trị. Trong những năm 1954 – 1955, Hồ Chí Minh nhiều lần nói rõ: “chế độ ta là chế độ dân chủ”, hay “nước ta là nước dân chủ”. Đến những năm 1964 – 1965, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục khẳng định “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ. Rõ ràng là, chế độ xã hội chủ nghĩa là giai đoạn phát triển cao hơn chỉ có thể ra đời từ cái khác nó – từ chế độ dân chủ nhân dân. Hay nói cách khác, chế độ dân chủ nhân dân là giai đoạn phát triển thấp hơn nhất định sẽ chuyển hóa thành cái khác nó – chế độ xã hội chủ nghĩa trong quá trình vận động khách quan của mình. Đây là một quan hệ biện chứng và quan hệ này thể hiện “lôgic đặc thù” trong sự vận động, phát triển của xã hội Việt Nam. Sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa từ cái khác của nó chính là một bước chuyển về chất trong quá trình vận động và phát triển của xã hội Việt Nam. Chúng ta thấy rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã phản ánh xã hội Việt Nam hiện đại trong trạng thái vận động qua hai bước chuyển. Bước chuyên thứ nhất gắn liền với sự thành công của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của chế độ dân chủ nhân dân. Bước chuyển thứ hai chính là sự chuyển hóa từ chế độ dân chủ nhân dân sang chế độ xã hội chủ nghĩa. Toàn bộ quá trình vận động của xã hội trải qua những bước chuyển về chất như thế nhằm hướng tới một trình độ phát triển cao hơn – chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Đi sâu hơn nữa vào tư tưởng Hồ Chí Minh về quá trình chuyển hóa từ chế độ dân chủ nhân dân sang chế độ xã hội chủ nghĩa, ta thấy nổi lên mấy quan điểm sau:

Một là, Việt Nam tiến dần lên chủ nghĩa xã hội từ trong chế độ dân chủ nhân dân – chế độ dân chủ nhân dân ở trình độ phát triển cao. Trình độ phát triển cao của chế độ dân chủ nhân dân thể hiện trước hết ở sự tiến bộ trong năng lực làm chủ của người dân, ở việc hoàn thiện bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật với tư cách là

những công cụ quyền lực của nhân dân và cùng với những bước phát triển về phương diện chính trị, sự phát triển của chế độ dân chủ nhân dân còn thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… Và đặc biệt là sự phát triển trong lĩnh vực kinh tế.

Hai là, bước chuyển từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa là bước chuyển về chất, vì thế không thể làm mau, không thể một sớm một chiều, mà là cả một quá trình với nhiều bước đi. Quá trình đó dài hay ngắn, điều đó tùy thuộc vào sự nỗ lực của toàn thể nhân dân. Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định quan điểm này, chẳng hạn: “Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dân dần”; “Nói tóm lại, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thể một sớm một chiều”…

Ba là, tiến lên chủ nghĩa xã hội từ chế độ dân chủ nhân dân là một công trình cải tạo và xây dựng khổng lồ, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, các quan hệ của đời sống xã hội. Khi nhấn mạnh một đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa là “mọi tư liệu sản xuất là của chung”, thì sự cải tạo đầu tiên chính là nhằm vào quan hệ sản xuất. Việc Hồ Chí Minh đặt vấn đề cải tạo quan hệ sản xuất theo hướng xóa bỏ các hình thức tư hữu, làm cho hình thức công hữu chiếm địa vị độc tôn trong quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất khi bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự thật. Tuy nhiên, cần lưu ý là, đồng thời với quan điểm trên, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, thậm chí nhấn mạnh nhiều hơn, đến một vấn đề kinh tế có liên quan, đó là vấn đề mục đích của cải tạo quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất vấn đề tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, hay nói cách khác là vấn đề phát triển sản xuất.

Cải tạo quan hệ sản xuất không phải là mục tiêu, mà chỉ là phương thức để phát triển sản xuất, qua đó thực hiện mục tiêu “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần” cho nhân dân. Thực vậy, trong toàn bộ quá trình tư duy về chế độ dân chủ nhân dân, Hồ Chí Minh đã luôn coi phát triển sản xuất là động lực trong phát triển xã

hội. Hồ Chí Minh viết: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc then chốt để khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, để cải thiện dần đời sống của nhân dân, để củng cố miền Bắc, tranh thủ miền Nam, để tăng cường lực lượng đấu tranh thống nhất nước nhà. Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã hội”. Lôgic của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở đây rất rõ ràng. Mục tiêu là cái quyết định, còn phương thức là cái bị quyết định. Phương thức nào phù hợp, giúp đạt được mục tiêu thì lựa chọn, còn phương thức nào không phù hợp, cản trở quá trình đến mục tiêu thì ta không lựa chọn hoặc từ bỏ. Chính quan điểm về mối quan hệ giữa đặc trưng mục tiêu và đặc trưng phương thức của Hồ Chí Minh đã cung cấp cơ sở phương pháp luận quan trọng để Đảng ta có những điều chỉnh kịp thời về phương thức thực hiện mục tiêu, mở ra thời kỳ đổi mới.

Bốn là, để bảo đảm cho sản xuất phát triển và quá trình chuyển biến từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa được diễn ra ổn định, vấn đề củng cố chính quyền là rất quan trọng. Hồ Chí Minh viết: “nhiệm vụ chúng ta phải ra sức củng cố chính quyền nhân dân và củng cố những tổ chức của nhân dân ở các địa phương. Bởi vì nếu chính quyền nhân dân và tổ chức nhân dân ở các địa phương lỏng lẻo thì những chính sách của Đảng và của Chính phủ đưa ra thi hành không đến nơi đến chốn. Cho nên phải củng cố chính quyền nhân dân, củng cố các tổ chức của nhân dân, trong đó phải đặc biệt chú ý tổ chức công an và dân quân du kích, vì công an, dân quân du kích có nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh ở địa phương. Có giữ gìn trật tự trị an, nhân dân mới an cư lạc nghiệp, tăng gia sản 1 xuất”.

Củng cố chính quyền nhân dân trước hết là củng cố và tăng cường địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản – “đội tiên phong của nhân dân lao động”. Củng cố chính quyền nhân dân, sử dụng chính quyền nhân dân như là công cụ quyền lực của nhân dân để bảo đảm sự ổn định cho phát triển kinh tế, xã hội là quan điểm thể hiện tính biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế.

Năm là, quá trình chuyển biến từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, những biến chuyển của các lĩnh vực khác đều phải xoay quanh kinh tế mà cụ thể là phải góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Về văn hóa, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Văn hóa phải phục vụ sản xuất tiết kiệm, phục vụ nhân dân, phục vụ đoàn kết, phục vụ Tổ quốc. Cần xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục . . . Thuần phong mỹ tục là đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau sản xuất, tiết kiệm, vì vậy nên cần phát triển thuần phong mỹ tục”. Về giáo dục: “Thanh toán nạn mù chữ là bước đầu nâng cao trình độ văn hóa. Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Trong giáo dục, cần đặc biệt chú ý đến giáo dục thế hệ trẻ. Giáo dục thế hệ trẻ chính là một phương thức xây dựng xã hội tương lai ngay từ hiện tại. Đây là quan điểm thường trực trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tất cả đều do và vì phát triển sản xuất. Quan điểm coi sản xuất là nền tảng, là động lực cho sự vận động và phát triển của xã hội của Hồ Chí Minh chính là quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Bản thân Hồ Chí Minh cũng ý thức rất rõ về điều này. Người thấy rõ sự gặp gỡ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin với quan điểm đề cao lao động trong truyền thống Việt Nam: Bác chỉ nói một điểm rất đơn giản “có thực mới vực được đạo” đó là duy vật, đó là gốc của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Muốn ăn là phải sản xuất… Đảng ta không phải là đảng làm quan mà Đảng phải lo đời sống cho nhân dân, trước mắt là sản xuất. Rõ ràng là trong hiện thực, sản xuất là nền tảng của đời sống xã hội, và khi hiện thực ấy được khái quát thành lý luận, thì nó trở thành quan điểm “gốc” của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, của tư tưởng Hồ Chí Minh. Không xuất phát từ quan điểm “gốc” này để nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh thì rất dễ chệch hướng.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chế độ dân chủ nhân dân không chỉ là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến, mà còn là môi trường, điều kiện để chủ nghĩa xã hội có thể ra đời từ đó, trong đó.

Theo Tạp chí Cộng sản

hochiminhhoc.com

Phương pháp luận nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

(TuanVietNam) – Tiếp tục mạch bài, GS Tương Lai cho rằng:Trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi để hiểu được sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi nghiệm ra rằng, cần phải xác lập cho mình một cách thức tìm hiểu, điều mà người ta hay nói là phương pháp luận.

>> Hiểu kỹ Hồ Chí Minh hãy nói đến tư tưởng của Người
>> Tầm vóc Hồ Chí Minh

Tuần Việt Nam xin giới thiệu một số suy ngẫm của GS về vấn đề này:

Ảnh tư liệu.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh có sự bình thường sau khi đã trải qua sự cao siêu; có sự giản dị sau khi đã trải qua sự phong phú, đa dạng, phức tạp;

Cụ thể sau khi đã trải qua trừu tượng; mộc mạc sau khi đã rất tinh tế; đạm, rất đạm sau khi đã rất nồng; khiêm nhường sau khi đã từng trải để rất biết người, biết mình; ung dung, thanh thản sau khi tự mình đã trải nghiệm qua biết bao sự chịu đựng cay đắng đủ điều, từ sự chịu đựng vì sự nghiệp của nước, của dân cho đến sự đắng cay của cuộc sống cá nhân, của thân phận con người.

Vì vậy, đơn giản hóa, tầm thường hóa, dung tục hóa, hoặc ngược lại rắc rối đến cầu kỳ, phức tạp, đi sâu vào tầm chương trích cú, tìm sự phong phú ở cái rậm rạp, xô bồ trong cách nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh thì rồi dù vô tình hay cố ý cũng đều không dẫn đến cách nắm bắt và tiếp nhận cái cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cũng giống như những nhà tư tưởng lớn của loài người mà Hồ Chí Minh đã học hỏi tiếp thu, tư tưởng Hồ Chí Minh có sự đa dạng, nhiều chiều, năng động, luôn luôn phát triển chứ không phải là “nhất thành bất biến”. Chỉ có một điều cần thấy rõ, đó là, từ lúc manh nha, đến lúc hình thành, và khi vận dụng vào cuộc sống, rồi được sửa chữa, bổ sung, đều đã thể hiện sự nhất quán, rất nổi bật “tính chất trước sau như một” của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cả hai biểu hiện ấy, “đa dạng, năng động, nhiều chiều, không “nhất thành bất biến” thông nhất với sự nhất quán, “trước sau như một”, xin được gọi là “tính chất một” cực kỳ hàm súc của tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất lớn.

2. Chú ý đến biểu hiện ấy trong phương pháp luận nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là chú ý đến sự gặp gỡ thú vị của phong cách Hồ Chí Minh với xu thế hiện nay của khoa học và của đặc điểm trí tuệ của thời đại là: tổng thể hóa trong đa dạng, chứ không chỉ là chuyên biệt hóa ngày càng sâu, càng tinh vi khi đi sâu vào phân tích cụ thể mà thiếu sự tổng hợp.

Đây là sự tổng thể hóa đầy mâu thuẫn trong đời sống và hoạt động của con người, từ cá nhân đến cộng đồng, từ một góc tâm linh, một nét tiềm thức hoặc là vô thức sâu kín, bí ẩn nhất của mỗi con người, cho đến động thái của mỗi dân tộc và của cả loài người.

Ảnh tư liệu.

Có sự tổng thể hóa nhiều sắc thái của kiến thức và nghiên cứu khoa học của con người, nó là kết quả đan xen vào nhau, trở thành nhau của nhiều ngành, nhiều phương pháp khoa học, trong khi mà sự chuyên biệt hóa, bên cạnh mặt mạnh của nó, ngày càng bộc lộ những nhược điểm khá rõ.

Đó là sự liên ngành, mà thực chất mới chỉ là sự phối hợp, kết hợp giữa nội dung và phương pháp của nhiều ngành để bổ sung và làm sáng tỏ cho nhau nhưng vẫn chưa bộc lộ hết tiềm năng của nó, chưa đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại.

Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh phải là sự nghiên cứu rất hiện đại. Nếu chỉ dừng lại phương pháp liên ngành như đã từng có trong nửa cuối thế kỷ XX thì chưa đủ, hơn nữa, đã bị vượt qua. Phương pháp phân tích cụ thể quá sẽ thành ra chi li, dẫn đến phân tán. Tuy rằng đi sâu vào từng lĩnh vực của tư tưởng Hồ Chí Minh thì cần thiết, song không đủ.

Cách nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh có triển vọng nhất đó là một, nhất quán trong đa dạng, tổng thể hóa trong phong phú. Với phương pháp luận đó thì có thể sẽ tìm ra và nhấn mạnh không nhiều, nhưng lại có sức khái quát lớn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là thiết thực và hành động, cho nên phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu, tiếp nhận và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng phải như vậy. Sự nghiên cứu uyên bác là rất cần, càng uyên bác, thâm thúy thì càng hay. Nhưng cần nhớ rằng cái chất của Hồ Chí Minh, cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là thiết thực và hành động. Uyên bác và thâm thúy nhất của Hồ Chí Minh là thiết thực và có hiệu quả trong hành động.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh là chân thực. Bởi vậy, vấn đề là phải làm sao phát hiện được, tiếp nhận được tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự chân thực đó.

Ảnh tư liệu.

Trong những thiên lệch cần phải tránh thì trước hết phải tránh sự “tụng ca”, “vĩ nhân ca”. Không nên và không thể cộng thêm cái gì vào tư tưởng Hồ Chí Minh, vì tư tưởng ấy cũng chính là nhân cách Hồ Chí Minh.

Mọi ý định, cho dù là thiện chí muốn thêm vào thì chỉ là trừ đi, và nếu Hồ Chí Minh biết thì sẽ cười rằng “vẽ rắn thêm chân”! Sự cường điệu về chất, về mức là không trung thực, hoàn toàn không cần thiết, hơn nữa, là có hại.

Vấn đề là ở chỗ nhận cho ra đâu là nét đích thực của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua việc làm, qua cách sống, qua lời nói, qua bài viết, qua cơ đồ, qua sự nghiệp. Đừng cố tìm ở Hồ Chí Minh cái gì cũng đều có, cũng đều “vĩ đại”, vì như vậy chính là xuyên tạc, hạ thấp hoặc là bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải thấy cho rõ, cho đúng, cho đủ những thiếu sót, sai lầm chủ quan đã để lại dấu ấn trong tư tưởng, trong việc làm, trong sự nghiệp của Hồ Chí Minh .

Những cái đó không thể không có, vì Hồ Chí Minh là một con người chứ không phải là một vị thánh. Hồ Chí Minh không thể không có sai lầm, cần phải khách quan và trung thực chỉ ra. Mà chỉ ra được những sai lầm và tác hại của nó một cách đúng đắn là thể hiện sự kính trọng và tin yêu Hồ Chí Minh, người con vĩ đại của dân tộc ta, nhân dân ta và là người lãnh đạo tuyệt vời nhất mà nhân dân ta tự hào có được.

Cùng với cái đó, cũng phải phân tích rõ những hạn chế lịch sử mà Hồ Chí Minh không thể vượt qua được, trong đó, kể cả những điều mà Hồ Chí Minh không thể thuyết phục được những đồng chí và học trò của mình.

Chuyện “Chính cương và Sách lược” của Đảng do Nguyễn Ái Quốc chủ xướng bị phê phán là “quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh” vì “giai cấp tranh đấu là quan trọng nhất và ngày càng có tính chất kịch liệt” để rồi bị thay thế bằng “Luận cương chính trị” của Trần Phú là một ví dụ đau xót.

Ảnh tư liệu.

Và rồi “cải cách ruộng đất” là một ví dụ xót xa nữa đủ để nói lên những oái oăm của lịch sử. Và chính những điều đó đã để lại những di lụy không nhỏ trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh đã đến lúc cần phải trung thực nêu lên.

4. Kế thừa, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sự nâng niu, bảo quản như bảo quản một di vật quý trong bảo tàng. Kế thừa là vận dụng và phát triển. Vậy thế nào là kế thừa và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay, điều kiện của dân tộc, của thế giới, của thời đại? Đây là một khó khăn phức tạp và có thể tác động ngược lại đến việc nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thông thường, việc kế thừa và vận dụng một tư tưởng đòi hỏi một sự lựa chọn. Nếu không có sự lựa chọn thì cũng không thể có sự kế thừa, vận dụng và phát huy. Và nói lựa chọn tức là đòi hỏi phải bỏ qua một số điểm nào đó, cố ý làm nổi bật lên hay làm nhẹ bớt đi một số điều nào đó, là nắm bắt những thông điệp nào đó và lướt qua những thông điệp nào đó.

Đấy là cách làm đúng đắn mang tính khoa học cao. Có thể gọi đó là điều có tính quy luật được vận dụng phổ biến, để không chỉ nhằm học tập, tiếp thu những thành tựu trí tuệ của văn hóa và văn minh loài người đã đạt được, mà cũng chính là cách những người được xem là những vĩ nhân, những nhà tư tưởng lớn của loài người đã thực hiện như thế nào để trở thành vĩ nhân.

5. Có một lập luận cho rằng: hãy nghe thấy trong Hồ Chí Minh điều mà dân tộc ta cần nghe vào chính lúc này. Hãy tìm thấy, làm nổi bật lên, học theo và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh điều mà dân tộc ta cần nhất vào lúc này với niềm tin rằng, những cái đó đều có trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ảnh tư liệu.

Lập luận đó có cơ sở đúng bởi vì, thường là vĩ nhân nào mà cốt lõi tư tưởng là vì con người, dân tộc và loài người thì tư tưởng của họ càng đa dạng và phong phú, càng chứa đựng nhiều thông điệp cần thiết cho mọi thời đại, càng dễ vận dụng theo cách lựa chọn trên.

Vấn đề là, với sự tiếp cận này, sự chân thực có được với niềm tin rằng đó là khách quan và khoa học đạt được đến đâu và đâu là điểm dừng cần phải có?

Những người phản bác lại lập luận đó thì cho rằng, với cách ấy rất dễ chủ quan, tùy tiện gán cho Hồ Chí Minh những điều mà mình muốn, mình đang trông chờ chứ không phải là trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có những điều đó. Lúc này đang cần có tri thức và kinh nghiệm về kinh tế thị trường thì cố đào cho ra trong tư tưởng Hồ Chí Minh những điều ấy.

Khi đất nước đang bị hút vào quỹ đạo của toàn cầu hóa thì đã cố moi tìm chỗ này, chỗ kia rằng Hồ Chí Minh đã nói về toàn cầu hóa và hội nhập hay chí ít cũng manh nha những tư tưởng ấy. Nếu làm như vậy thì đúng là giả tạo và không biết đến điểm dừng.

Nhưng đã là phương pháp luận khoa học thì phải có sự lựa chọn, có mức độ, có điểm dừng, có thái độ trung thực khoa học đầy trách nhiệm để có cách xử lý thỏa đáng. Đây là điều không dễ dàng chút nào, song là một phương pháp luận, mà theo chúng tôi, cần phải chú ý vận dụng.

Một phương pháp luận nghiên cứu như thế mới có thể đưa tới những công trình nghiên cứu xứng đáng với Hồ Chí Minh. Càng kính trọng và tin yêu Hồ Chí Minh, thấy rõ tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa lớn lao như thế nào đối với vận mệnh của đất nước, sự nghiệp của nhân dân và tương lai của dân tộc, càng phải tuân thủ phương pháp luận đó.

  • Tương Lai

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Tầm vóc Hồ Chí Minh

(TuanVietNam) – “Khi đặc biệt coi trọng cá nhân con người, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chừng mực nào đó, là rộng hơn C.Mác” – GS Tương Lai.

>> Hiểu kỹ Hồ Chí Minh hãy nói đến tư tưởng của Người

Theo GS Tương Lai: Tầm vóc của con người, cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh có thể nói gọn lại trong năm điểm nổi bật sau:

Ảnh tư liệu

1. Trước hết và sau cùng, Hồ Chí Minh là một con người rất người, một người Việt Nam rất Việt Nam. Đúng là “dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chí Minh” theo đúng nghĩa sâu sắc, đậm đặc và nhất quán một nhân cách Hồ Chí Minh, một đường nét văn hóa Hồ Chí Minh rất Việt Nam.

Những gì là lý luận, là khoa học, là uyên bác, là thâm thúy đều có trong Hồ Chí Minh, đó chính là sự hòa quyện, sự kết đọng của sự thông tuệ dân gian. Đó là sự thông minh, tế nhị và mộc mạc của tinh hoa văn hóa Việt Nam thể hiện trong ứng xử hàng ngày của người dân quê trên đồng ruộng, giữa núi rừng, nơi“thôn cùng xóm vắng” [Nguyễn Trãi].

Những uyên bác, những thâm thúy, những tế nhị và mộc mạc hòa quyện vào trong sự thông tuệ dân gian ấy được Hồ Chí Minh tiếp thu một cách hồn nhiên, thoải mái và có chọn lọc, để rồi thể hiện ra một cách dung dị nhưng không kém phần sâu lắng tế nhị, không kém phần minh triết trong cái khôn ngoan dân dã Việt Nam!

Chính điều này vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của sự gắn bó máu thịt giữa lãnh tụ và quần chúng, niềm tin yêu của nhân dân dành cho lãnh tụ của mình và là “ham muốn, ham muốn đến tột bậc” của Hồ Chí Minh về cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân mình.

Với đặc điểm này, cho dù với sự khiêm tốn tuyệt đối cần thiết, cũng phải nói rằng, so với những lãnh tụ cách mạng khác, Hồ Chí Minh có sự kết đọng đậm đặc hơn, quán triệt hơn, sâu xa và thấm thía hơn trong sự gắn bó tin yêu với nhân dân của mình và đồng thời hình ảnh Hồ Chí Minh sống trọn vẹn trong trái tim của họ. Hồ Chí Minh ở trong họ, gần gũi thân thiết với họ, nâng họ lên để cùng đứng với mình chứ không bao giờ đứng trên họ. Hồ Chí Minh với nhân dân mình là một.

Nói như nhà báo Úc Burchett “Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng trong nhân dân thì không có ai ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh”, và như đòi hỏi của Charles Fourniau, nhà sử học Pháp “cần làm nổi bật một cách hiển nhiên và trên mọi tầm vóc, hình ảnh một con người đã là một trong ba hoặc bốn nhân vật vĩ đại nhất của phong trào công nhân và cách mạng thế giới, một trong những vĩ nhân của thế kỷ chúng ta”.

2. Hồ Chí Minh là con người của hành động và sáng tạo. Hành động rất thiết thực và sáng tạo Con người ấy không viết nhiều, không nói nhiều, không viết dài nói dài, song là con người làm, làm rất nhiều. Con người ấy nói ít, làm nhiều, thậm chí không cần nói, chỉ cần làm để rồi bằng việc làm cụ thể mà thuyết phục người ta làm theo mình.

Nhưng như thế không hề là chủ thuyết của một nhà “triết học vô ngôn”, hoặc một “chính khách vô ngôn”. Hồ Chí Minh không phải không có những tác phẩm, những công trình, những bài viết, những diễn văn, những lời kêu gọi. hưng, tác phẩm lớn hơn cả, bài học sâu sắc nhất chính là cả cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Giờ đây đọc lại hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh, khởi đầu từ những năm 20 của thế kỷ trước, cho đến tư tưởng chỉ đạo hai cuộc chiến tranh cứu nước, giải phóng dân tộc là trước sau như một nhất quán với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do” mới thấy “vào thời ấy, hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ, khó lòng tưởng tượng. Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”(Phạm Văn Đồng).

Ảnh tư liệu

Đó là một con người sáng tạo, rất sáng tạo, con người đổi mới, thường xuyên đổi mới, đổi mới rất táo bạo. Con người ấy “có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn”.

Từ quan điểm, đường lối cho đến cách sống, cách nói, cách viết, Hồ Chí Minh quyết liệt chống sự sáo mòn, hướng tới cái thiết thực, đạt tới hiệu quả cao nhất. Trong con người ấy có sự hòa quyện nhuần nhị lý trí với tình cảm và tâm linh, sự gắn kết rất tự nhiên giữa tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, với bản lĩnh tinh nhạy của một chính khách, và sự khoan hòa nhân ái của một lãnh tụ nhân dân.

Đặc điểm nổi bật ấy tạo ra phong thái rất độc đáo của Hồ Chí Minh không trộn lẫn vào đâu được. Nhờ vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi tầng lớp nhân dân một cách dễ dàng vì nó gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của họ, vừa rất truyền thống, vừa rất hiện đại. Biết cách làm cho dễ hiểu để đến được với người có trình độ học vấn thấp, song lại biết cách nâng cao lên để diễn đạt được chân lý của cuộc sống, thể hiện được khát vọng thầm kín và sâu xa của con người, nhất là những con người cùng khổ, con người bị áp bức.

Cách tư duy cũng như cách ứng xử của Hồ Chí Minh, như có người nhận xét, “vừa rất ta, vừa rất tây”, đây cũng là một nét độc đáo rất Hồ Chí Minh. Đã có người quan sát và kể lại cách Hồ Chí Minh chọn và ngắt một bông hoa hồng trong vườn Phủ Chủ tịch để tặng một người phụ nữ Pháp là 100% châu Âu . Nhưng cách Bác Hồ bưng bát nước chè xanh của một cụ già nông dân mời, vừa thổi, vừa uống thì 100% là Việt Nam.

Ở trong ứng xử cũng như trong cách viết, cách trả lời nhà báo nước ngoài, cách diễn đạt những mệnh đề lý luận của Hồ Chí Minh có sự tinh tế nhuần nhuyễn của những đường nét minh triết phương Đông và văn hóa phương Tây, vừa dân tộc vừa quốc tế. Cần phải thấy cho ra tầm vóc luận điểm Hồ Chí Minh đưa ra từ 1924 trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”!

Việt Nam, Phương Đông, Phương Tây, thế giới, thời đại đều có trong cốt cách ứng xử của Hồ Chí Minh. Không quá cường điệu khi Hélène Tourmaire, một nhà văn và cũng là nhà báo viết: “Hình ảnh Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”.

3. Một trong những nét độc đáo nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là tính hệ thống đồng bộ. Hệ thống đồng bộ trong những quan hệ tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, chuyển hóa thành nhau của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tức là các chiều cạnh của cuộc sống xã hội. Đây chính là khái niệm mới về nền văn minh.

Hồ Chí Minh không bị đẩy lệch về kinh tế, không rơi vào “kinh tế luận”, cũng không bị đẩy lệch về chính trị để rơi vào cái vũng bùn của quan điểm “chính trị là thống soái” từng gây nên bao thảm họa.

Hồ Chí Minh càng không lệch về quân sự, để rơi vào sự sùng bái bạo lực, “chính quyền ra đời từ đầu ngọn súng”, đấu tranh giai cấp, “một mất một còn” trong cuộc chiến “ai thắng ai”, cội nguồn của bao tai họa mà di lụy của nó vẫn chưa gột sạch, có lúc lại trở thành cách đánh lạc hướng những đòi hỏi về dân chủ, dân quyền và dân sinh rất thiết thực trong đời sống của người dân.

Không bị rơi vào những sai lầm, lệch lạc đó, vì Hồ Chí Minh có nhận thức sâu sằc về tính hệ thống đồng bộ xã hội, và trong tổng thể xã hội ấy, một quan niệm về xã hội mới mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng. Trong ấy, Hồ Chí Minh đặt con người ở vị trí trung tâm. Đó là nét đặc sắc nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh. Mà như thế có nghĩa là đặc biệt coi trọng về văn hóa, vì nói đến con người chính là nói đến văn hóa.

Ảnh tư liệu

Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để nâng cao trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Không coi nhẹ kinh tế, không coi nhẹ chính trị, nhưng đặc biệt coi trọng văn hóa. Cố nâng đời sống kinh tế lên cho từng người, từng nhóm người, đặc biệt cho nhóm người đang có mức sống quá thấp, để trên cái nền của đời sống vật chất được nâng cao dần lên đó, mà có điều kiện đem lại hạnh phúc cho con người. Vì vậy, văn hóa là nhân tố đặc biệt quan trọng. Văn hóa bao gồm trí tuệ, tình cảm, phẩm chất, đạo đức, tóm lại là “cuộc sống người của con người”.

Với đặc sắc tư tưởng nổi bật như vậy, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường xây dựng xã hội mới của Việt Nam, cũng có thể có giá trị đối với các nước đang phát triển. Thấy khoa học, thấy công nghệ, thấy kinh tế, thấy lý trí và trí tuệ, nhưng những cái đó không phải cái đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh.

Chỗ đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh là nhận thức sâu sắc về tổng thể con người, về văn hóa. Tổng thế và văn hóa, tức là con người. Đó chính là tầm nhìn và cách tư duy để tìm kiếm con đường hiện đại, có thể rút ngắn đoạn đường, đi tắt để phát triển.

Quán triệt điểm đặc sắc ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, thì về kinh tế sẽ tránh rơi vào nền kinh tế thị trường hoang dã, chộp giựt. Mà là, làm kinh tế, làm chính trị là để nhằm tôn vinh dân chủ, tức là người dân và con người. Nếu làm kinh tế thị trường đơn thuần về chính trị với hàm nghĩa những mưu lược, thì mục tiêu dù đạt được cũng dễ làm mất văn hóa, dễ “nuốt trôi” mất văn hóa.

Ngược lại, xuất phát từ văn hóa, tức là từ con người thì sẽ nâng cao kinh tế và chính trị lên với những nội dung văn hóa được đưa vào. Nếu hiểu sâu sắc đặc điểm nổi trội ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ giúp hình thành một hệ thống giá trị chân chính của xã hội mới.

4. Từ nét đặc điểm nổi trội ấy mà nhận ra tinh thần đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại doàn kết để xây dựng xã hội mới. Mãi mãi đại đoàn kết dân tộc. Đây là điểm độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng của C.Mác, Ph Angghen, V.I Lênin không tìm thấy điều này, hoặc nếu có đôi điều nói thoáng qua, chứ không tập trung, nổi bật như của Hồ Chí Minh.

Qua quá trình tiến lên của cách mạng, mục tiêu, động lực và lực lượng không hề có sự sắp xếp loại bỏ, thay đổi, chỉ có sự nâng cao về chất mà không bớt đi về lượng, về số tầng lớp, số người tham gia.

Nghĩa là, với Hồ Chí Minh, không có chuyện một bộ phận nào đó của nhân dân, một tầng lớp xã hội nào đó nửa chừng đứt gánh, không thể cùng chung con đường mình đang đi. Không có chuyện ai đó, tầng lớp nào đó chỉ là “bạn đường một đoạn” trong cả chặng đường dài, vì họ không còn đủ điều kiện theo đến cùng nên phải thải loại ra.

Nếu xem xét thất kỹ sẽ thấy rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có luận điểm về sắp xếp lực lượng cách mạng trong từng giai đoạn, bố trí chiến lược, chiến thuật về lực lượng: lực lượng chủ lực, lực lượng đồng minh gần tức là đồng minh chiến lược, rồi đồng minh xa, tức là đồng minh chiến thuật, lực lượng trung lập lâu dài hoặc trung lập từng lúc một như trong những chỉ dẫn của C.Mác, Ph Angghen, V.I Lênin.

Ảnh tư liệu

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có thể có những thay đổi về mục tiêu cụ thể, thay đổi về nhiệm vụ, chủ trương và phương pháp nhưng không có sự thay đổi về lực lượng cách mạng. Trong học thuyết và tư tưởng của C.Mác, Ph Angghen, V.I Lênin có khái niệm “bạn đường một đoạn”, còn trong Hồ Chí Minh không hề có điều ấy.

Cũng đã có một số người vì những lý do nào đó không thể đi theo Hồ Chí Minh, trong đó có người rất đau lòng, nuối tiếc vì hoàn cảnh bắt buộc và rồi sau đó họ quay trở lại với Hồ Chí Minh. Cũng có thể nói, chỉ có ai đó đã bỏ Hồ Chí Minh, chứ Hồ Chí Minh thì không bỏ một ai.

Ai đó tự loại trừ chính mình, chứ Hồ Chí Minh không loại trừ ai. Phải lưu ý nhấn mạnh điều này vì, cũng đã có người nhân danh cách mạng đã làm hoen ố sự chân thành, thủy chung như nhất của Hồ Chí Minh với khối đại đoàn kết dân tộc.

Bằng những thủ đoạn bè phái, hẹp hòi, họ đã làm tổn thương đến niềm tin của dân đối với tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đã làm vấy bẩn hình ảnh Hồ Chí Minh trong sự tin yêu và thân thiết với tấm lòng rộng mở và chân thành của Hồ Chí Minh, làm cho những người trung thực giảm lòng tin vào Hồ Chí Minh. Những hẹp hòi, thiển cận, thủ đoạn của họ đã gây nên những tổn thất cho sự nghiệp mà Hồ Chí Minh suốt đời đeo đuổi.

5. Hồ Chí Minh thấy và rất coi trọng cá nhân trong cộng đồng dân tộc. Điều này do nhiều nhân tố tạo thành chứ không phải chỉ là do tiếp thu được từ học thuyết của C.Mác.

Nếu có tiếp thu thì là tiếp thu cái cốt lõi có giá trị nhất của học thuyết ấy bằng truyền thống về nhân văn sâu xa từ triết lý cổ đại thời Hy-La, rồi hiện đại dần lên đến thời cổ điển, phục hưng, khai sáng cho đến thời hiện đại của phương Tây.

Có thể nói, truyền thống nhân văn ấy là phần rất nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi đặc biệt coi trọng cá nhân con người, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chừng mực nào đó, là rộng hơn C.Mác. Điều này gắn liền với giá trị tinh thần Việt Nam trong truyền thống văn hóa phương Đông đối với con người.

Điểm nổi bật nhất của giá trị đó chính là biểu hiện xuyên suốt trong cuộc đời, trong sự nghiệp và trong tư tưởng bản chất người, bản chất dân tộc của Hồ Chí Minh. Có được điều ấy vì Hồ Chí Minh phải sống và hoạt động trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn.

Những đốm lửa cách mạng được nhen nhóm từ trong điều kiện rất hiểm nghèo, khắc nghiệt của chế độ thuộc địa Pháp ở Việt Nam, phải chắt chiu, trân trọng gìn giữ và phát huy từng cá nhân con người, phải coi trọng từng cá nhân con người mới có thể thổi bùng lên ngọn lửa của Cách mạng Tháng Tám và ngọn lửa của các cuộc kháng chiến trường kỳ trong thế kỷ XX.

Hồ Chí Minh nâng niu trân trọng con người, từng cá nhân con người, nhẫn nại thức tỉnh, giác ngộ, đào tạo từng người, không nề hà công sức, không quản ngại khó khăn, năng nhặt chặt bị, từng ly từng tí một góp gió thành bão.

Ảnh tư liệu

Khởi đầu từ cái cụ thể tưởng như nhỏ nhặt không đáng kể để rồi trở thành một công trình vĩ đại mang ý nghĩa thời đại, ý nghĩa lịch sử. Đi khắp năm châu bốn biển, ôm ấp một hoài bão lớn lao về giải phóng dân tộc mình, góp phần giải phóng loài người, nhưng khi trở về lại mảnh đất của quê hương, đất nước thì lại có thể kiên trì giúp đỡ, dìu dắt, giác ngộ cho một đồng bào của mình ở miền núi, từ việc nhẫn nại dạy chữ, giảng giải về hoạt động cách mạng để người đó có thể trực tiếp tham gia rồi dần dần trở thành người cán bộ cách mạng.

Không chỉ là cá biệt một người, mà nhiều trường hợp với nhiều người khác cũng đã được Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, giúp đỡ mà trưởng thành.

Biết đánh giá, sử dụng và phát huy từng người cả đức và tài của họ. Trong rất nhiều trường hợp, nhất là trong những trường hợp có ý nghĩa lịch sử, thiên tài của Hồ Chí Minh thể hiện ra ở đây là chọn rất đúng và rất trúng người đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ lịch sử ấy.

Tôn trọng, chăm lo, tạo điều kiện làm nảy nở và tạo dựng nên nhân cách của từng người, Hồ Chí Minh hiểu rõ thế nào là nhân cách, rất dễ dàng cảm thông, trân trọng nhân cách và cá tính của con người.

Nếu nhớ lại rằng, do điều kiện đặc biệt của người chiến sĩ cách mạng luôn luôn phải đối phó với hoàn cảnh khắc nghiệt bởi tính chất của công việc và mạng lưới bủa vây, truy lùng của kẻ thù, Hồ Chí Minh không có gia đình, không có được môi trường sống bình thường của một con người trong tình cảm, nghĩa vụ và ứng xử hàng ngày với ông bà, cha mẹ, vợ con, anh chị em…

Hiểu như vậy mới thấy hết được cái lớn của tấm lòng cảm thông và cung cách ứng xử hàng ngày của Hồ Chí Minh với mọi người, với từng người .

Hồ Chí Minh thực hiện một cách mẫu mực và chân thật sự bình đẳng của các cá nhân, không hề cường điệu, phân biệt giữa người bình thường với người giữ trọng trách, người ở cương vị cao chót vót. Hồ Chí Minh thường xuyên hỏi ý kiến các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước song cũng đồng thời sẵn sàng và thành thật hỏi ý kiến những đồng chí cấp dưỡng, lái xe, bảo vệ mình gặp hàng ngày.

Người ta kể lại rằng, có lần Hồ Chí Minh không chấp nhận ý kiến của một Ủy viên Bộ Chính trị, nhưng lại lắng nghe và chấp nhận ý kiến của một người cấp dưỡng. Bằng cuộc sống đầy bản sắc của riêng mình, Hồ Chí Minh biết và hiểu được theo chiều sâu bản sắc của từng người, từng hạng người để tôn trọng và giúp trau dồi bản sắc ấy ở mỗi người.

Hồ Chí Minh đều rất tôn trọng cả hai mặt: một mặt là cải tạo hoàn cảnh bên ngoài trở nên hoàn cảnh có tính người như C.Mác nói, để qua đó, cải tạo con người và làm nên được bản sắc của con người mới. Đồng thời đi vào chiều sâu bên trong của từng con người hàm chứa tâm linh dân tộc, tâm linh tôn giáo, tính chất trí thức, đặc điểm thế hệ, tâm lý cá nhân, những khát vọng, những nét bản sắc của từng cá nhân ấy.

  • Tương Lai

Kỳ 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh là chân thực (Phương pháp luận nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh)

tuanvietnam.vietnamnet.vn