Tag Archive | Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo

Những nǎm gần đây tín ngưỡng tôn giáo đang phục hồi và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, châu lục, trong đó có Việt Nam. Rõ ràng tôn giáo không mất đi như nhiều người dự đoán, mà ngược lại có chiều hướng phát triển. Tình hình diễn biến theo nhiều khuynh hướng, góc độ khác nhau, đang đặt ra những vấn đề cần được lý giải trên cơ sở khoa học. Vì vậy, việc làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình hiện nay là việc làm cần thiết, nhằm nâng cao nhận thức, quan điểm, thái độ cách nhìn nhận cho quần chúng và tìm cách giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo một cách đúng đắn. Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau đang tồn tại. Lịch sử hình thành, du nhập, số lượng tín đồ, vai trò xã hội cũng như tác động chính trị của các tôn giáo ở nước ta cũng khác nhau. Có tôn giáo đã góp phần nâng cao ý thức dân tộc. Nhưng cũng có tôn giáo quá trình du nhập, hình thành và tồn tại đã bị các thế lực chính trị lợi dụng vì mục đích ngoài tôn giáo. Chính vì vậy, ngay từ đầu Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở đó Người đã đưa ra phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo phù hợp với từng giai đoạn cách mạng.

  • Quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi các giá trị nhân bản của các tôn giáo là những di sản vǎn hoá tinh thần quý báu của nhân loại, bằng tri thức cách mạng, vốn hiểu biết về vǎn hoá sâu sắc và cái nhìn duy vật biện chứng, Người đã phát hiện và tiếp nhận cái thiện, cái mỹ, cái cốt lõi nhân vǎn trong các tôn giáo. Người đã viết:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân .

Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.

Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.

Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta.

Khổng Tử, Giê su, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, cho xã hội. Nếu nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy “.

Vì vậy, không ngạc nhiên khi Hồ Chí Minh – Người cộng sản, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam không dưới một lần ca ngợi những người sáng lập ra các tôn giáo một cách thành kính: Chúa Giê su dạy đạo đức và bác ái. Phật thích ca dạy đạo đức và từ bi. Khổng Tử dạy đạo đức và nhân nghĩa.

Người đã nhấn mạnh điểm chung giữa lý tưởng của chủ nghĩa Mác với tôn giáo và các học thuyết có tính tiến bộ, đó là mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Đây là một đặc điểm lớn được Hồ Chí Minh khai thác một cách triệt để và tài tình trong giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo.

Tình cảm trân trọng và sự ngưỡng mộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với giá trị nhân vǎn của tôn giáo, khác với đức tin của các tín đồ của các tôn giáo ấy, nó xuất phát từ chủ nghĩa nhân đạo có sẵn trong con người Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vô thần đầy tư tưởng bao dung, không giáo điều, cục bộ, hẹp hòi; Người đã khéo léo vận dụng chủ nghĩa duy vật của Mác để “gạn đục khơi trong”, kế thừa những giá trị vǎn hoá mang tính nhân vǎn cao đẹp của các tôn giáo. Điều đó làm cho các tôn giáo không hoàn toàn đối lập với chế độ xã hội chủ nghĩa, trái lại một số vǎn hoá, đạo đức tôn giáo có thể hoà nhập cùng dân tộc trên con đường xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và vǎn minh; xây dựng một nền vǎn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đấy chính là sự vận dụng những quan điểm mác-xít hết sức xuất sắc và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh thực tế nước ta.

Có thể nói, ở Hồ Chí Minh tư tưởng và hành động của Người là sự dung hợp những giá trị tư tưởng nhân vǎn cao cả trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Trong sự dung hoà đó các giá trị nhân bản của tôn giáo được Hồ Chí Minh kế thừa, nâng cao trên cơ sở bổ sung những nội dung mới phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, phù hợp với thời đại.

Bản chất của tôn giáo là khẳng định, nhấn mạnh vai trò của siêu nhiên như một giá trị xã hội cao nhất và đề ra một hệ thống chuẩn mực bình đẳng cho sự củng cố, giữ vững niềm tin ở sức mạnh của các thế lực siêu nhiên. Dù tôn giáo có lý tưởng cứu khổ, giải phóng con người nhưng tôn giáo đã phủ định sức mạnh ở chính con người. Với tôn giáo, con người chỉ là “con cừu bé nhỏ”, là “chúng sinh đau khổ”, cần được “chǎn dắt”, “cứu vớt”, “giải thoát”. Với Hồ Chí Minh, xuất phát từ sự tôn trọng, tin tưởng vào sức mạnh to lớn của bản thân con người, Người cho rằng sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc phải dựa vào chính tiềm nǎng, sức mạnh to lớn của con người, của dân tộc.

2. Tự do tín ngưỡng và đại đoàn kết toàn dân là những nguyên tắc cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh khi giải quyết vấn đề tôn giáo. Điều này được thể hiện rất rõ:

a) Tư tưởng tự do tín ngưỡng, tôn giáo: trong các vǎn bản quan trọng cũng như sắc lệnh mà Người trực tiếp tuyên bố và soạn thảo, Hồ Chí Minh luôn khẳng định tư tưởng nhất quán, lâu dài trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra những quan điểm của mình mà còn giáo dục cán bộ, Đảng viên cũng như đồng bào lương giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đó. Sự tôn trọng ấy không chỉ thể hiện trên vǎn bản, lời nói mà cả trên hành động thực tiễn của Người. Ngay từ khi mới giành được độc lập, tại phiên họp đầu tiên của chính phủ Người đã khẳng định: “Thực dân phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị. Tôi đề nghị chính phủ ra tuyên bố “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Trong buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam (nǎm 1957), Người khẳng định lại: “Chúng tôi xin nói thêm hai điều, nói rõ để tránh sự hiểu lầm: Một là vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người…”. Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, Người luôn phê phán nghiêm khắc những thái độ, hành vi xâm phạm, hoặc làm phương hại đến quyền tự do chính đáng đó.

Sự tôn trọng đức tin của đồng bào có đạo và lòng thương yêu bà con có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau ở Hồ Chí Minh làm cho những người không cùng quan điểm với Người cũng phải kín phục. Chính ông J. Sainteny đã viết trong cuốn sách “Đối diện với Hồ Chí Minh”: “Về phần tôi phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào dù rất nhỏ của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu đối với bất kỳ một tôn giáo nào”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tranh thủ sự ủng hộ của các chức sắc tôn giáo đối với cách mạng, thông qua họ để động viên tín đồ gắn bó với dân tộc, tham gia bảo vệ và xây dựng đất nước. Ngay cả với những người có tư tưởng bán nước (như giám mục Lê Hữu Từ), khi còn tranh thủ được, Người vẫn tranh thủ đến cùng trên tình huynh đệ con người, nhằm hạn chế thấp nhất những ảnh hưởng xấu và tổn thất do họ gây ra. Ngày 23/1/1947, trong thư gửi giám mục Lê Hữu Từ, Người đã viết: “Tôi tin rằng Đức cha đã lấy tư cách công dân, cố vấn tối cao của chính phủ và là bạn thân của tôi mà giải thích cho nhân dân hiểu rõ chính sách của chúng ta là khuyên giải bà con can đảm tham gia cuộc toàn quốc kháng chiến”.

Có thể nói, cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tôn giáo thể hiện trong đó tính khoa học và nghệ thuật, nhưng đồng thời còn chứa đựng tính nhân bản, nhân vǎn đối với con người, đối với quần chúng có đạo. Có lẽ vì thế mà Người đã được đông đảo quần chúng tín đồ coi như mộ tấm gương mẫu mực phấn đấu cho đạo và cho đời của dân tộc Việt Nam.

Đối với bọn lợi dụng, mượn danh tôn giáo để chống phá cách mạng, chống phá sự nghiệp của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm mọi cách để đồng bào ta, nhất là đồng bào có đạo nhận rõ bộ mặt của chúng. Sắc lệnh 234/SL ngày 14/6/1955 do Người ký đã chỉ rõ: “Pháp luật sẽ trừng trị kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hoà bình, thống nhất độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngǎn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác hoặc những việc làm trái pháp luật ” (Điều 7 – Chương 1).

b) Tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc: vấn đề xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh; đồng thời tư tưởng đoàn kết lương giáo là một bộ phận có vị trí quan trọng trong tư tưởng của Người về chiến lược đại đoàn kết dân tộc. Có thể nói quan điểm đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, bao trùm trong tư tưởng của Người đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN ở Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Người nói riêng đã được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa phát huy những giá trị vǎn hoá truyền thống của dân tộc qua hàng ngàn nǎm lịch sử dựng nước và giữ nước, cũng như tiếp thu những tinh hoa vǎn hoá của nhân loại (trước hết là những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin), đồng thời vận dụng nó một cách sáng tạo vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử nước ta. Vì vậy, tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc của Hồ Chí Minh đã đạt đến đỉnh cao truyền thống đoàn kết của nhân dân ta.

Nội dung đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc của Hồ Chí Minh đã được chứng minh qua thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã viết: “Đồng bào đều biết rằng: ngày bắt đầu kháng chiến, lực lượng quân sự của Pháp mạnh hơn ta, thế mà ta càng ngày càng thắng lợi. Đó là nhờ sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân và sự hǎng hái tham gia kháng chiến của mọi người giáo cũng như lương”.

Trong thời kỳ miền Bắc đã được giải phóng và đi lên CNXH, Hồ Chí Minh lại viết: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống ấm no, xây dựng tổ quốc, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của tất cả các tôn giáo”.

Thông qua thực tiễn cách mạng Việt Nam ở từng giai đoạn cụ thể, Hồ Chí Minh đã tìm ra những động lực chủ yếu, trực tiếp cho chiến lược đoàn kết lương giáo; Người đã làm thất bại âm mưu và hành động nhằm chia rẽ khối đoàn kết lương giáo; xoá bỏ những thành kiến, mặc cảm giữa dân tộc và đồng bào theo đạo.

Trên cơ sở lập trường duy vật triệt để, Hồ Chí Minh đã có một tầm nhìn khá bao quát và rộng rãi. Điều đó đã đưa Người vượt qua thành kiến hẹp hòi đối với tôn giáo, thực hiện thắng lợi chiến lược đoàn kết toàn dân, góp phần đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng. Có thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo mặc dù ra đời đã lâu, trong một hoàn cảnh khá đặc biệt của đất nước, nhưng mãi cho đến nay tư tưởng của Người vẫn còn giá trị, là di sản tư tưởng vô cùng quý giá giúp Đản và Nhà nước ta có cơ sở lý luận hoạch định chính sách tôn giáo trong bối cảnh tín ngưỡng tôn giáo đang diễn biến không ít phức tạp như hiện nay. Do đó, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh và tuyên truyền giáo dục cho mọi người cùng hiểu, đặc biệt là quần chúng có đạo là việc làm cần thiết nhằm đoàn kết tốt các tôn giáo, vận động toàn dân thực hiện tốt những nhiệm vụ kinh tế – xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước về tôn giáo, đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta.

Các từ khóa theo tin:Võ Thị Bích Thuỷ
Trường Chính trị Lâm Đồng (Tạp chí Khoa học chính trị, số 5/2001)

cpv.org.vn

Về những phẩm chất của người cán bộ y tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Là lãnh tụ của Đảng và dân tộc, Hồ Chí Minh hơn ai hết nhận rõ tầm quan trọng của việc nâng cao sức khoẻ cho nhân dân để dựng nước và giữ nước. Người từng nói: “Dân cường thì nước mạnh”. Một trong những yếu tố làm cho dân cường là tổ chức chǎm sóc tốt sức khoẻ cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng từ khi mới sinh ra. Người coi đó là nhiệm vụ vinh quang, rất vẻ vang mà thiên chức của nó được trao vào tay người cán bộ y tế.

Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến ngành y và y đức của người thầy thuốc. Người đã nhiều lần gửi thư, trực tiếp gặp, thǎm các cơ sở y tế bày tỏ quan điểm của Đảng và Chính phủ ta về phẩm chất người thầy thuốc. Người cán bộ y tế là người chiến sĩ. Xét trên góc độ y học, mỗi cán bộ y tế là một chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Y tá là những chiến sĩ đánh gặc ốm để bảo vệ sự khang kiện của giống nòi”. Cuộc chiến đấu của con người chống lại bệnh tật luôn diễn ra gay go ác liệt. Những thành tựu y học đã chǎm sóc bảo vệ con người tốt hơn, nhưng có những lúc con người phải lùi bước trước bệnh tật. Trên trận tuyến này, người cán bộ y tế là người đi đầu, có nhiệm vụ nghiên cứu tìm ra phương cách phòng bệnh, chữa bệnh và chiến thắng bệnh tật.

Trong lịch sử nước ta, một nước chậm phát triển và chiến tranh kéo dài, vai trò người chiến sĩ của người cán bộ y tế thể hiện rõ hơn trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa quân y và dân y. ở vào thời kỳ kháng chiến, người làm công tác quân y thường là ở tuyến sau, chạy chữa thương bệnh binh. Đảm bảo sức chiến đấu, giữ lại sinh mạng đồng đội là một nhiệm vụ không kém phần khó khǎn. Mỗi sự cố gắng nỗ lực của họ đều có vai trò quan trọng tới sinh mạng của đồng chí đồng đội. Công tác quân y làm tốt có ảnh hưởng rất quan trọng đến tinh thần chiến đấu của người lính.

Trong thư khen các y bác sĩ, hộ lý ngày 8-1-1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Các thầy thuốc và khán hộ đều hết lòng sǎn sóc thương binh một cách rất chu đáo. Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc . Trong thực tế, không ít trường hợp người cán bộ y tế phải trực tiếp cầm súng chiến đấu bảo vệ thương bệnh binh và bảo vệ chính mình. Trên một khía cạnh khác, người cán bộ y tế phải chiến đấu vì các giá trị khoa học mà họ đang tiến hành.

Đó là việc phổ biến các kiến thức y học, chống lại các tập quán mê tín dị đoan, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người. Người cán bộ y tế phải vượt trǎm ngàn gian khổ hy sinh, “chịu khổ, chịu khó” thực sự làm công tác dân vận của Đảng, giành giật người bệnh từ tay tầng lớp thầy mo thầy cúng. ở đây, người cán bộ y tế thực sự là người chiến sĩ trên mặt trận vǎn hoá tư tưởng, đấu tranh chống những tư tưởng lạc hậu, đem ánh sáng khoa học tới với đồng bào.

Chiến đấu chống bệnh tật đã khó, chiến đấu chống những tư tưởng lạc hậu đã ǎn sâu vào tập quán bao đời của đồng bào còn khó hơn nhiều. Nó đòi hỏi người cán bộ y tế phải hết sức cố gắng về chuyên môn chữa trị bệnh có hiệu quả tốt, kiên trì làm công tác chính trị mới có tính thuyết phục. Như vậy vai trò người cán bộ y tế là người chiến sĩ là quan điểm rất đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có cơ sở khoa học và thực tiễn. Người cán bộ y tế phải như người mẹ hiền.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng đạo đức. Theo Người đạo đức là gốc. Đạo đức của người làm công tác y tế theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải là người biết “thương yêu người bệnh” “sǎn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn”, “phải giàu lòng bác ái hy sinh”, “thầy thuốc phải như mẹ hiền”. Không phải ngẫu nhiên, Người lại dùng hình ảnh so sánh thầy thuốc như mẹ hiền bởi tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng. Mặt khác cha ông ta có câu: “có bệnh vái tứ phương”.

Những lúc đau yếu, bệnh tật người bệnh không còn trông cậy vào đâu, họ thực sự phó thác tính mệnh của mình cho người thầy thuốc. Đưa tình cảm này vào sự chǎm sóc, chữa trị bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn người thầy thuốc có cái tâm, làm phúc, để đức cho đời. Chǎm sóc cứu chữa kịp thời, không ít trường hợp người cán bộ y tế đã “sinh ra” người bệnh lần thứ hai, để lại niềm tin yêu kính phục trong nhân dân. Tinh thần phục vụ người bệnh là rất quan trọng, đặc biệt trong điều kiện vật chất của các cơ sở y tế nước ta còn hạn chế.

Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cǎn dặn thầy thuốc và nhân viên phục vụ cần coi trọng cả hai mặt vật chất và tinh thần . Có thuốc hay thức ǎn ngon, còn cần phải có thái độ phục vụ tốt, coi người bệnh như ruột thịt. Người viết trong thư gửi Hội nghị quân y (3-1948): “Người làm thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý đến mối quan hệ giữa thể xác và tinh thần người bệnh, lấy sự an ủi động viên tinh thần làm giảm đi nỗi đau về thể xác, hướng cho người bệnh có suy nghĩ và hành động đúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán những hành vi phân biệt đối xử với người bệnh, tính tự kiêu tự phụ, xem mình là người ban ơn cho kẻ khác của người làm công tác y tế. Người cán bộ y tế không chỉ giỏi về chuyên môn mà phải vững vàng về chính trị. Để chǎm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng tốt hơn, người thầy thuốc phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyến khích người thầy thuốc tích cực học tập và vận dụng kiến thức học tập vào công tác thực tế ở các cơ sở y tế để nâng cao tay nghề.

Trên cơ sở khám và chữa bệnh cho cộng đồng, chú trọng tổng kết, chú trọng nghiên cứu khoa học để tổng kết các phương pháp chữa bệnh, các phương thuốc thích hợp với từng loại bệnh để rút ngắn thời gian điều trị trả lại sức khoẻ cho người bệnh. Người đặc biệt lưu ý các thầy thuốc Việt Nam nghiên cứu kết hợp chữa bệnh Đông y và Tây y, tìm ra các phương thức chữa bệnh cũng như ứng dụng những thành tựu y học của nhân loại. Bác cũng nhắc nhở “học” phải đi đôi với “hành” mới có thể thành thạo công việc, mới có thể đưa kiến thức y học vào thực tiễn.

Trong điều kiện cụ thể của nước ta, Người nhắc nhở luôn học tập để tiến bộ nhưng phải chú trọng cái gì thích hợp với hoàn cảnh tức là gắn lý luận với thực tiễn, hiệu quả là thước đo sự tiến bộ trình độ chuyên môn. Y tế dự phòng là công tác hết sức quan trọng vì thế Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở người cán bộ y tế phải đặc biệt chú ý đến phòng bệnh. Vừa chữa bệnh, người cán bộ y tế vừa có trách nhiệm tuyên truyền công tác giữ gìn vệ sinh, phòng tránh bệnh tật cho nhân dân trong đời sống thường ngày. Có như vậy, những kiến thức về vệ sinh phòng bệnh thông qua người cán bộ y tế mới tới được với cộng đồng. Giỏi về chuyên môn chưa đủ, người cán bộ y tế còn cần sự vững vàng về tư tưởng chính trị.

Hoạt động y tế của người thầy thuốc phải theo đúng đường lối chính sách y tế của Đảng và Chính phủ. Họ phải xác định công tác y tế là phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Bằng hoạt động của mình, họ tuyên truyền cho đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Người cán bộ y tế phải có tinh thần vượt mọi khó khǎn gian khổ, cố gắng hết sức mình vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân… Người cán bộ y tế phải có lối sống thực thà đoàn kết. Trong chữa bệnh, người thầy thuốc không được gây phiền hà cho người bệnh, không được lợi dụng vị trí của mình để kiếm lợi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng tổng kết: đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết, thành công thành công đại thành công. Trong y tế cũng vậy, Người cǎn dặn: “Đoàn kết thì vượt mọi khó khǎn, giành được nhiều thành tích. Đoàn kết giữa các cán bộ cũ và cán bộ mới, đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân”. Người đã coi tinh thần tập thể của người cán bộ y tế là một yếu tố dẫn tới thành công. Rõ ràng là công việc chǎm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân không đơn giản. Nó đòi hỏi sự hỗ trợ cùng hoàn thành trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế, cho dù ở cương vị nào. Chỉ có như vậy công tác y tế mới đạt hiệu quả cao nhất.

Không chỉ đoàn kết nội bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở người cán bộ y tế phải đoàn kết với nhân dân nói chung. Có như vậy, người cán bộ y tế mới có thể vượt mọi khó khǎn gian khổ, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đến với cộng đồng, chǎm sóc và bảo vệ tốt sức khoẻ nhân dân. Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cán bộ y tế và y đức có cơ sở lý luận và được thực tiễn chứng minh là đúng đắn. Vì vậy trong công tác y tế hiện nay, việc tìm hiểu, hiểu đúng và thực hiện tốt những lời dạy bảo ân cần của Người là trách nhiệm của mỗi người cán bộ y tế…

PTS. Trịnh Mưu – Nguyễn Bình (Bộ Y Tế; NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997)

cpv.org.vn

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến việc xây Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Người căn dặn: Đảng phải luôn nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, phải luôn tự chỉnh đốn để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang.

Theo Hồ Chí Minh, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trước hết phải coi trọng giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng lập trường, quan điểm giai cấp công nhân cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng. Bởi vì, Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt. Đảng mà không có chủ nghĩa làm cốt cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Đối với tổ chức cơ sở đảng, Người yêu cầu: “Phải học tập tinh thần của Chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(1). Đồng thời, phải giáo dục, động viên, tổ chức cho nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng. Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Công việc càng khó khăn thì sự lãnh đạo càng phải liên hợp chặt chẽ với quần chúng, càng phải liên hợp chặt chẽ chính sách chung với chỉ đạo riêng.

Về nâng cao sức chiến đấu của Đảng, Người dạy: “Để lãnh đạo tốt, các cấp ủy phải thật đoàn kết, thật dân chủ, phải thực hành chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”(2). Trong Đảng, thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất. Thực hành dân chủ rộng rãi nghĩa là phải dân chủ thực sự, dân chủ thường xuyên, dân chủ từ Trung ương đến cơ sở. Nhưng, dân chủ phải gắn với tập trung. Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản và cũng là biện pháp tốt nhất để xây dựng Đảng ta. Trước khi đi xa, Người căn dặn: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Chỉ trên cơ sở đoàn kết Đảng mới có sự thống nhất về ý chí và hành động, triệu người như một để chiến thắng bất cứ kẻ thù nào, vượt qua bất cứ khó khăn trở ngại nào.

Thực tiễn hơn 81 năm qua đã khẳng định ý nghĩa to lớn của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, góp phần quan trọng xây dựng Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, hầu hết các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên đã thể hiện tốt vai trò lãnh đạo, vững vàng trước những khó khăn, thử thách. Kết quả của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cho thấy những chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng đảng, xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu của đảng viên.

Tuy nhiên, vẫn còn không ít tổ chức cơ sở đảng yếu kém. Năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước và cấp ủy cấp trên của nhiều tổ chức cơ sở đảng còn yếu, chưa đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở. Điều đó cho thấy cần phải quán triệt sâu sắc hơn nữa nội dung Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng về tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giai đoạn cách mạng mới.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp cơ bản sau:

1. Tăng cường công tác giáo dục lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên. Tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh vững vàng trước những khó khăn, thách thức; nhạy bén về chính trị, kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh với các thủ đoạn, hành động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh với những nhận thức, quan điểm mơ hồ, lệch lạc, hành vi sai trái; đề cao trách nhiệm chính trị, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, đóng góp sức lực, trí tuệ của mình xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.

2. Nâng cao năng lực vận dụng đúng đắn, sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên vào tình hình thực tiễn của đảng bộ, chi bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng, đơn vị đoàn kết, thống nhất. Thường xuyên nêu cao tính chiến đấu, tự phê bình và phê bình. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa, biến chất.

3. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị. Dân chủ trong thảo luận, bàn bạc, ra quyết định và tổ chức thực hiện. Thực hiện tốt quy chế lãnh đạo, quy chế làm việc, chế độ thông tin nhanh chóng, chính xác để đảm bảo thực sự dân chủ, quyết định tập thể.

4. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh; thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên; kết hợp chặt chẽ giữa việc kiện toàn cán bộ chủ trì với kiện toàn cấp ủy đảng. Trong đó: Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường hơn nữa công tác quản lí, giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác cho cán bộ, đảng viên; đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải tích cực tự học tập, tự rèn luyện phấn đấu nâng cao trình độ, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Công tác phát triển đảng viên phải được tiến hành đúng phương châm, phương hướng, coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng. Phát triển đảng viên luôn đi đôi với việc củng cố Đảng. Mỗi tổ chức đảng cơ sở phải thường xuyên kiện toàn đội ngũ cán bộ chủ trì và cấp ủy; làm tốt công tác bồi dưỡng năng lực, kinh nghiệm hoạt động công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị, nhất là phương pháp, tác phong công tác và nâng cao chất lượng các khâu trong quá trình lãnh đạo của Đảng.

5. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, các tổ chức chính trị – xã hội tham gia tích cực vào công tác xây dựng đảng, nhất là việc góp ý kiến, phê bình cho cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Có quy chế tiếp nhận, xử lí thông tin, chế độ tiếp thu và trả lời ý kiến đóng góp, nguyện vọng hoặc khiếu nại, tố cáo của quần chúng đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.

——————————–

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H. 2000, tr.250, 267, 269, 273, 285.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H. 2000, tr.496.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

hcmpc.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc ta và của nhân loại, đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, một hệ thống tư tưởng về nhiều mặt. Trong đó tư tưởng về đại đoàn kết là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta và của toàn nhân loại. Đấy là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận và trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh và đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc.

I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố và được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là đã vận dụng và phát triển sáng tạo, chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng.

1-Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam.

Đề cập đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: ” Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.

Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc Việt Nam đã hình thành và củng cố, tạo thành một truyền thống bền vững. Tinh thần ấy, tình cảm ấy theo thời gian đã trở thành lẽ sống của mỗi con người Việt Nam, làm cho vận mệnh mỗi cá nhân gắn chặt vào vận mệnh của cộng đồng, vào sự sống còn và phát triển của dân tộc. Nó là cơ sở của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần dũng cảm hy sinh vì dân, vì nước của mỗi con người Việt Nam, đồng thời là giá trị tinh thần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng và của mỗi cá nhân trong quá trình dựng nước và giữ nước, làm nên truyền thống yêu nườc, đoàn kết của dân tộc. Dù lúc thăng, lúc trầm nhưng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam bao giờ cũng là tinh hoa đã được hun đúc và thử nghiệm qua hàng nghìn năm lịch sử chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc của ông cha ta. Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộng đồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

2- Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin

Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò là lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng. Chủ nghĩa Mác-lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng. Lê-nin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh giai cấp công nhân với nông dân là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản. Rằng nếu không có sự đồng tình và ửng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được.

Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

3- Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới.

Không chỉ được hình thành từ những cơ sở lý luận suông, tư tưởng này còn xuất phát từ thực tiễn lịch sử của dân tộc và nhiều năm bôn ba khảo nghiệm ở nước ngòai của Hồ Chí Minh.

a-Thực tiễn cách mạng Việt Nam

Là một người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc mình, Hồ Chí Minh nhận thức được trong thời phong kiến chỉ có những cuộc đấu tranh thay đổi triều đại nhưng chúng đã ghi lại những tấm gương tâm huyết của ông cha ta với tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” và “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước”. Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc trong chiều sâu và bề dày của lịch sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh và được người ghi nhận như những bài học lớn cho sự hình thành tư tưởng của mình.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi vùng cao Việt Bắc (1960)

Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, từ đó, các phong trào yêu nước , chống pháp liên tục nổ ra, rất anh dũng, nhưng cuối cùng đều thất bại. Hồ Chí Minh đã nhận ra được những hạn chế trong chủ trương tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối và trong việc nắm bắt những đòi hỏi khách quan của lịch sử trong giai đọan này. Đây cũng chính là lý do, là điểm xuất phát để Người quyết tâm từ Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.

b- Thực tiễn cách mạng thế giới

Từ 1911 đến 1941 Hồ Chí Minh đã đi đầu khắp hết các châu lục. Cuộc khảo nghiệm thực tiễn rộng lớn và công phu đã giúp Người nhận thức một sự thực:

“Các dân tộc thuộc địa tiềm ẩn một sức mạnh vĩ đại, song cuộc đấu tranh của họ chưa đi đến thắng lợi bởi vì các dân tộc bị áp bức chưa biết tập hợp lại, chưa có sự liên kết chặt chẽ với giai cấp công nhân ở các nước tư bản, đế quốc, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức…”

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã đưa Hồ Chí Minh đến bước ngoặt quyết định trong việc chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giành dân chủ cho nhân dân. Từ chỗ chỉ biết đến Cách mạng Tháng Mười theo cảm tính, Người đã nghiên cứu để hiểu một cách thấu đáo con đường Cách mạng Tháng Mười và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đã mang lại cho phong trào cách mạng thế giới. Đặc biệt là bài học về sự huy động, tập hợp, đoàn kết lực lượng quần chúng công nông binh đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng.

II. NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục, tập hợp và tổ chức cách mạng và tiến bộ, nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Nói một cách khác, đó là tư tưởng xây dựng, củng cố, mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

1- Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cách mạng.

Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Người cho rằng: Muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động phải tự mình cứu lấy mình bằng cách mạng vô sản.

Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được Người coi là vấn đề sống còn của cách mạng.

– Đoàn kết không phải là thủ đoạn chính trị nhất thời mà là tư tưởng cơ bản, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.

– Đoàn kết quyết định thành công cách mạng. Vì đoàn kết tạo nên sức mạnh, là then chốt của thành công. Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải có lực lượng đủ mạnh, muốn có lực lượng phải quy tụ cả dân tộc thành một khối thống nhất. Giữa đoàn kết và thắng lợi có mối quan hệ chặt chẽ, qui mô của đoàn kết quyết định quy mô,mức độ của thành công.

– Đoàn kết phải luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng.

Tại sao Đế quốc Pháp có ưu thế về vật chất, về phương tiện chiến tranh hiện đại lại phải thua một Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu trong cuộc chiến xâm lược? Đó là vì đồng bào Việt Nam đã đoàn kết như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

“Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ. Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước. Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng vững chắc xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”.

Chính sức mạnh của lực lượng toàn dân đoàn kết làm nên thắng lợi của Cách Mạng Tháng Tám. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích:

“ Vì sao có cuộc thắng lợi đó?

Một phần là vì tình hình quốc tế thuận lợi cho ta. Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo là cờ Việt Nam để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc.Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai thắng được lực lượng đó”.

Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận:

“Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

Và Người khuyên dân ta rằng:

“Dân ta xin nhớ chữ đồng:

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”

Đây chính là con đường đưa dân ta tới độc lập, tự do.

2- Đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng

Hồ Chí Minh cho rằng “ Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc”. Bởi vì, đại đoàn kết dân tộc chính là nhiệm vụ của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người.

3-Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “dân” chỉ mọi con dân đất Việt, con rồng cháu tiên, không phân biệt dân tộc đa số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt già trẻ , gái, trai, giàu, nghèo. Nói dến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung. Người đã nhiều lần nói rõ: “ ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu nước- nhân nghĩa- đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người. Xác định khối đại đoàn kết là liên minh công nông, trí thức. Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân. Người cho rằng: liên minh công nông- lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân, nền tảng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng được mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.

4- Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng

Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng theo những nguyên tắc:

– Trên nền tảng liên minh công nông (trong xây dựng chế độ xã hội mới có thêm lao động trí óc) dưới sự lãnh đạo của Đảng.

– Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương, dân chủ lấy việc thống nhất lợi ích của tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng.

– Đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Phương châm đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là: “Cầu đồng tồn dị” – Lấy cái chung, đề cao cái chung, để hạn chế cái riêng, cái khác biệt.

Đầu năm 1951, tại hội nghị đại biểu Mặt trận Liên – Việt toàn quốc, Người vạch rõ: “ Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác… Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Người chỉ rõ: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”. Người còn nhấn mạnh: ”Đoàn kết rộng rại, chặt chẽ, đồng thời phải củng cố. Nền có vững, nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi. Trong chính sách đoàn kết phải chống hai khuynh hướng sai lầm: cô độc, hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc”.

Cũng tại Đại hội đó, Người chỉ rõ:

“Tôi rất sung sướng được lãnh cái trách nhiệm kết thúc lễ khai mạc của Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt. Lòng sung sướng ấy là của chung toàn dân, của cả Đại hội, nhưng riêng cho tôi là một sự sung sướng không thể tả, một người đã cùng các vị tranh đấu trong bấy nhiêu năm cho khối đại đoàn kết toàn dân. Hôm nay, trông thấy rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân, và nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão”. Vì vậy cho nên lòng tôi sung sướng vô cùng.”

Người đã nói lên không chỉ niềm vui vô hạn trước sự lớn mạnh của Mặt trận dân tộc thống nhất, mà còn là sự cần thiết phải mở rộng và củng cố Mặt trận cũng như niềm tin vào sự phát triển bền vững của khối đại đoàn kết dân tộc lâu dài về sau. Điều này được thể hiện trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.

III- NGUYÊN TẮC ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA HỒ CHÍ MINH

Dù cách mạng Việt Nam trải qua những thời kỳ lịch sử khác nhau, song chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh luôn được xây dựng, hoàn thiện và tuân theo những nguyên tắc nhất quán sau.

1- Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng của con người:

Trong mỗi quốc gia dân tộc bao giờ cũng tồn tại những tầng lớp, giai cấp khác nhau. Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp lại có lợi ích khác nhau nhưng tất cả các lợi ích khác nhau đó đều có một điểm chung là lợi ích dân tộc. Quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp có thực hiện được hay không còn phụ thuộc vào dân tộc đó có được độc lập tự do, có đoàn kết hay không và việc nhận thức, giải quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích đó như thế nào.

Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh là tìm kiếm, trân trọng và phát huy những yếu tố tương đồng, thu hẹp đến mức thấp nhất những yếu tố khác biệt, mâu thuẫn và Người bao giờ cũng tìm ra những yếu tố của đoàn kết dân tộc thay cho sự đào sâu tách biệt, thực hiện sự quy tụ thay cho việc loại trừ những yếu tố khác nhau về lợi ích.

Theo Hồ Chí Minh, lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, là bình đẳng, dân chủ, tự do. Lợi ích tối cao này là ngọn cờ đoàn kết, là sức mạnh dân tộc và là nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Việt Nam. Đó cũng là nguyên tắc bất biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh để Người tìm ra những phương pháp để thực hiện nguyên tắc đó trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của mình.

2- Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân

Đây là nguyên tắc xuất phát từ tư tưởng lấy dân làm gốc của ông cha ta được Người kế thừa và nâng lên một bước trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa mác-Leenin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử.

Tin vào dân, dựa vào dân và lấy dân làm gốc có nghĩa là phải tin tưởng vững chắc vào sức mạnh to lớn và năng lực sáng tạo của nhân dân, phải đánh giá đúng vai trò của lực lượng nhân dân. Người viết: “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”.

3- Đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết rộng rãi, lâu dài, bền vững

Theo Hồ Chí Minh, có đoàn kết mới tạo nên sức mạnh của cách mạng. Muốn đoàn kết thì trước hết phải có Đảng cách mạng để trong thì vận động, tổ chức dân chúng, ngoài thì liên minh với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản ở mọi nơi. Như vậy, để đoàn kết và lãnh đạo cách mạng, điều kiện tiên quyết là phải có một Đảng cách mạng với tính cách là Bộ tham mưu, là hạt nhân để tập hợp quần chúng trong nước và tổ chức, giữ mối liên hệ với bè bạn ở ngoài nước. Đảng cách mạng muốn thống nhất về chính trị và tư tưởng, đảm bảo được vai trò đó, thì phải giữ vững bản chất của giai cấp công nhân, phải được vũ trang bằng chủ nghĩa chân chính, khoa học và cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin: ”Để làm trọn trách nhiệm người lãnh đạo cách mạng, Đảng ta phải dựa vào giai cấp công nhân, lấy liên minh công nông làm nền tảng vững chắc để đoàn kết các tầng lớp khác trong nhân dân. Có như thế mới phát triển và củng cố được lực lượng cách mạng và đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng”.

Đại đoàn kết một cách tự giác là một tập hợp bền vững của các lực lượng xã hội có định hướng, tổ chức và có lãnh đạo. Đây là sự khác biệt mang tính nguyên tắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược đại đoàn kết dân tộc với tư tưởng đoàn kết, tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và một số lãnh tụ cách mạng trong khu vực và trên thế giới. Đi vào quần chúng, thức tỉnh quần chúng, đoàn kết quần chúng vào cuộc đấu tranh tự giải phóng mình là mục tiêu nhất quán của Hồ Chí Minh.

4- Đại đoàn kết chân thành, thân ái, thẳng thắn theo nguyên tắc tự phê bình, phê bình vì sự thống nhất bền vững

Giữa các bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc, bên cạnh những điểm tương đồng còn có những điểm khác nhau cần phải giải quyết theo con đường đối thoại, bàn bạc để đi đến sự nhất trí; bên cạnh những nhân tố tích cực vẫn có những tiêu cực cần phải khắc phục. Để giải quyết vấn đề này, một mặt Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương châm “cầu đồng tồn dị”; mặt khác, Người nêu rõ: Đoàn kết phải gắn với đấu tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết và căn dặn mọi người phải ngăn ngừa tình trạng đoàn kết xuôi chiều, nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình để biểu dương mặt tốt, khắc phục những mặt chưa tốt, củng cố đoàn kết: “Đoàn kết thật sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học hỏi những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”.

Trong quá trình xây dựng, củng cố và phát triển, Đảng ta và Mặt trận dân tộc thống nhất luôn đấu tranh chống khuynh hướng hẹp hòi, một chiều, chống coi nhẹ việc tranh thủ tất cả những lực lượng có thể tranh thủ được; đồng thời chống khuynh huớng đoàn kết mà không có đấu tranh đúng mức trong khối đại đoàn kết dân tộc. “Chúng ta làm cách mạng nhằm mục đích cải tạo thế giới, cải tạo xã hội. Muốn cải tạo thế giới và cải tạo xã hội thì trước hết phải tự cải tạo bản thân chúng ta”.

5- Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân

Ngay khi thành người cộng sản, Hồ Chí Minh đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới và chỉ có thể giành được thắng lợi hoàn toàn khi có sự đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới. Trong quá trình cách mạng, tư tưởng cuả Người về vấn đề đoàn kết với cách mạng thế giới càng được làm sáng tỏ hơn và đầy đủ hơn. Cách mạng Việt Nam phải gắn với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng tiến bộ đấu tranh cho dân chủ, tiến bộ và hoà bình thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công 3 tầng Mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt-Miên-Lào và Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Đây là sự phát triển rực rỡ và là thắng lợi to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ:

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

Thành công, thành công, đại thành công.

Đoàn kết trong Đảng là cơ sở để đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở để thực hiện đại đoàn kết quốc tế. Tư tưởng Đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thực hiện thành công là một nhân tố quyết định cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn và đưa cách mạng Việt Nam lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.

IV. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1- Thực trạng

Hiện nay, sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã thu được những thành tựu cơ bản. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Việt Nam đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển.

Trong những năm đổi mới, nền kinh tế của đất nước tiếp tục phát triển với nhịp độ cao so với các nước khác trong khu vực. Tình hình chính trị của đất nước luôn luôn giữ được ổn định. Tình hình xã hội có tiến bộ. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Vị thế của đất nước không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Thế và lực của đất nước ta mạnh lên rất nhiều so với những năm trước đổi mới cho phép nước ta tiếp tục phát huy nội lực kết hợp với tranh thủ ngoại lực để phát triển nhanh và bền vững. Phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản làm cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Mặt khác, nước ta đang đứng trước cơ hội lớn và thách thức lớn đan xen nhau.

Sự nghiệp đổi mới trong những năm tới có nhiều cơ hội để phát triển. Những cơ hội tạo cho đất nước ta có thể đi tắt, đón đầu, tiếp thu nhanh những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới. Mặt khác, chúng ta rút ra được nhiều bài học từ cả những thành công và yếu kém của gần hai chục năm tiến hành sự nghiệp đổi mới để đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng. Những thành tựu và thời cơ đã cho phép nước ta tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp, tiếp tục ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy hơn nữa nội lực.

Tuy vậy, chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức, nguy cơ hay những khó khăn lớn trên con đường phát triển của đất nước. Ví như nạn tham nhũng, tệ quan liêu cũng như sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang cản trở việc thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây bất bình và làm giảm niềm tin trong nhân dân. Các thế lực phản động không ngừng tìm mọi cách thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Mặt khác, các thế lực thù địch ra sức phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lợi dụng các vấn đề “nhân quyền”, “ dân tộc”, “tôn giáo” hòng li gián, chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” đang đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc ở chiều sâu. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

2- Nhiệm vụ và yêu cầu

Hiên nay, hơn bao giờ hết phải quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết trong tình hình mới. Qua hơn một phần tư thế kỷ thực hiện công cuộc đổi mới, với nhiều chủ trương lớn của Đảng, chính sách của Nhà nước hợp lòng dân, khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị của đất nước. Các hình thức tập hợp nhân dân đa dạng hơn và có bước phát triển mới, dân chủ xã hội được phát huy; bước đầu đã hình thành không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội.

Có thể khẳng định chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng đã thực sự là một bộ phận của đường lối đổi mới và góp phần to lớn vào những thành quả của đất nước.

Tuy nhiên, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân đang đứng trước những thách thức mới. Lòng tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ của một bộ phận nhân dân chưa vững chắc, tâm trạng của nhân dân có những diễn biến phức tạp, lo lắng về sự phân hoá giàu nghèo, về việc làm và đời sống. Nhân dân bất bình trước những bất công xã hội, trước tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí, v.v…

Sở dĩ có những khuyết điểm, yếu kém trên là do Đảng ta chưa kịp thời phân tích và dự báo đầy đủ những biến đổi trong cơ cấu giai cấp – xã hội trong quá trình đổi mới đất nước và những mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân để kịp thời có chủ trương, chính sách phù hợp; có tổ chức đảng, chính quyền còn coi thường dân, coi nhẹ công tác dân vận – mặt trận; ở không ít nơi còn tư tưởng định kiến, hẹp hòi làm cản trở cho việc thực hiện chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, v.v… không thực hiện được vai trò tiên phong gương mẫu.

Mặt khác, các thế lực thù địch ra sức phá hoại khối đại đoàn kết của nhân dân ta, luôn kích động cái gọi là “dân chủ, nhân quyền”, kích động vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng li gián, chia rẽ nội bộ đảng, nhà nước và nhân dân ta.

Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn cách mạng hiện nay là: phải củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Một là, Đảng ta phải luôn xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới, Việt Nam tiếp tục đoàn kết và giúp đỡ, ủng hộ các phong trào cách mạng, các xu hướng trào lưu tiến bộ của thời đại vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Hai là, giữ vững nguyên tắc độc lập dân tộc, tự chủ tự cường, chủ trương phát huy sức mạnh dân tộc… trên cơ sở đó tranh thủ sự đồng tình ủng hộ từ lực lượng bên ngoài, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu mỗi thời kỳ

3-Những chú ý khi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

Lý luận gắn liền với thực tiễn. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của quá trình kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn cách mạng từng thời kỳ. Hồ Chí Minh vạch rõ lý luận không được áp dụng vào thực tiễn là lý luận suông, đồng thời thực tiễn không có lý luận soi sáng là thực tiến mù quáng.

Trong tình hình hiện nay, để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng, củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần chú ý những vấn đề sau đây:

Một là, phải thấu suốt quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Hai là, lấy mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai.

Ba là, bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân- tập thể- toàn xã hội; thực hiện dân chủ gắn với giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc, tinh thần tự lực tự cường xây dựng đất nước; xem đó là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc.

Bốn là, đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

4- Ý nghĩa tư tưởng đại đoàn kết của hồ chí minh
Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc với cách mạng nước ta. Tư tưởng này có nhiều giá trị, biểu hiện tập trung ở những điểm chính sau:
– Đoàn kết là bài học hàng đầu và có tính chiến lược, quyết định mọi thành công. Biết đoàn kết thì vượt qua khó khăn, thử thách, không đoàn kết, chia rẽ là thất bại.
– Đoàn kết phải có nguyên tắc, vì mục tiêu và lợi ích chung. Không đoàn kết một chiều, đoàn kết hình thức, nhất thời.
– Đoàn kết trong tổ chức, thông qua tổ chức để tạo nên sức mạnh. Đoàn kết cá nhân và đoàn kết tổchứckhông tách rời nhau.
– Đoàn kết phải có nội dung thích hợp với từng địa phương, từng tổ chức, từng thời kỳ. Đoàn kết trong chính sách tập hợp các tầng lớp nhân dân.
– Đoàn kết đi liền với bao dung, thực hiện tính nhân đạo cao cả, hướng tới tương lai.
– Lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết là nhiệm vụ của Đảng, là biện pháp phát huy sức mạnh của đảng, của toàn dân tộc.
– Muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải thực sự đoàn kết trong Đảng.
– Thực hiện đồng bộ đoàn kết trong Đảng – Đoàn kết toàn dân – Đoàn kết quốc tế.
– Đoàn kết trong mọi chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước trên cơ sở bảo vệ và tôn trọng lợi ích của mọi thành viên cộng đồng quốc gia, dân tộc, quốc tế.

5- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới hiện nay

1- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng, Nhà nước phải xây dựng và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Trong thời gian qua, nhìn chung, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững ổn định chính trị xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trong khi sự nghiệp đổi mới đang có yêu cầu cao về tập hợp sức mạnh của nhân dân thì việc tập hợp nhân dân vào Mặt trận và các Đoàn thể, các tổ chức xã hội còn nhiều hạn chế, nhất là ở khu vực kinh tế tư nhân, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo, đồng bào dân tộc thiểu số,v,v.

Trong công cuộc đổi mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tính chất là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất của nhân dân ta, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, nơi hiệp thương và thống nhất hành động của các thành viên, đã phối hợp với chính quyền giải quyết ngày càng có hiệu quả những vấn đề bức xúc của nhân dân, thực hiện dân chủ, đổi mới xã hội, chăm lo lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; tham gia ngày càng thiết thực vào việc xây dựng, giám sát, bảo vệ đảng và chính quyền.

Với tư cách là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp ngày càng nhiều hơn với chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại nhằm cùng nhau nỗ lực xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải chủ động góp phần cùng Đảng và Nhà nước xây dựng và hoàn thiện một số chính sách chung để sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương “đoàn kết rộng rãi, đoàn kết chân thành mọi thành viên trong xã hội có thể đoàn kết được, không phân biệt quá khứ, thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, ở trong nước hay ở nước ngoài trên cơ sở mục tiêu chung là giữ vững độc lập thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”; đoàn kết giữa nhân dân với nhân dân các nước trên thế giới; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để trở thành động lực chủ yếu để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc”.

Trong những năm trước mắt, mặt trận tập trung đẩy mạnh hơn nữa các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, nhất là cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và cuộc vận động “ngày vì người nghèo”, phấn đấu xoá xong nhà dột nát cho người nghèo, góp phần cùng đảng và nhà nước thực hiện mục tiêu đến năm 2010 đưa đất nước ta ra khỏi

tình trạng nước kém phát triển.

2- Khơi dậy và phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc

Trong thực tiễn, việc chuyển sức mạnh đoàn kết dân tộc trong thời kỳ giữ nước sang thời kỳ dựng nước không phải là việc dễ dàng. Lịch sử đang đòi hỏi những nỗ lực lớn của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực này. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xu thế hiện nay là hội nhập kinh tế quốc tế, một loạt vấn đề đặt ra mà chúng ta phải chú ý:

– Khơi dậy và phát huy cao độ sức manh nội lực, phải xuất phát từ lợi ích dân tộc, từ phát huy nội lực dân tộc mà mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi khả năng có thể tranh thủ được để xây dựng, phát triển đất nước.

– Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa, để khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao ý chí tự cường dân tộc, trong chính sách đại đoàn kết, phải chú ý phát huy tính năng động của mỗi người, mỗi bộ phận để mọi việc từ lãnh đạo, quản lý, đến sản xuất kinh doanh, học tập và lao động đều có năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao. Đồng thời, phải khắc phục được những tiêu cực của kinh tế thị trường, đặc biệt tâm lý chạy theo đồng tiền, cạnh tranh không lành mạnh làm phai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa tương thân tương ái của dân tộc, giải quyết đói nghèo, thu hẹp khoảng cách, ranh giới giữa kinh và thượng, giữa nông thôn và thành thị, cũng cố khối đại đoàn kết 54 dân tộc anh em, chăm lo đời sống đồng bào dân tộc ít người, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo, các tập quán tốt đẹp của dân tộc, kiên quyết loại bỏ những âm mưu lợi dụng tôn giáo, tà giáo để gây rối.

– Phải xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Phải chống các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn tham nhũng, quan liêu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, phải biết lắng nghe những ý nguyện chính đáng của nhân dân, phải kịp thời giải quyết những oan ức của nhân dân, làm cho lòng dân được yên. Phải tiếp tục đổi mới chính sách giai cấp, chính sách xã hội, đặc biệt coi trọng việc xây dựng mặt trận, đổi mới, hoàn thiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách đối với công nhân, với nông dân, với trí thức, chính sách đối với cộng đồng người việt nam ở nước ngoài, chính sách đối với các thành phần kinh tế, tập hợp đến mức rộng rãi nhất mọi nhân tài, vật lực vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

– Trong điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa kinh tế ngày càng phát triển, đòi hỏi phải củng cố sự đoàn kết với phong trào cách mạng các nước, đồng thời phải nắm vững phương châm ngoại giao mềm dẻo, có nguyên tắc nhằm thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại hiện nay của Đảng và Nhà nước ta là: Việt Nam muốn là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển.

Trong tình hình thế giới hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có những chủ trương đúng đắn, sáng tạo trong việc nắm bắt cơ hội, vượt qua thử thách, đẩy lùi nguy cơ, để vừa nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, vừa giữ vững bản sắc dân tộc, giữ vững đinh hướng xã hội chủ nghĩa.

Ngoài ra, Đảng và Nhà nước ta phải chủ trương phát huy mạnh mẽ sức mạnh dân tộc – sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh của người làm chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở sức mạnh bên trong mà tranh thủ và vận dụng sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của lực lượng

bên ngoài.

3- Những bước làm cụ thể hơn

a- Xác đinh hướng đi

Đại đoàn kết dân tộc – Cội nguồn sức mạnh của đất nước là yếu tố quyết định cho phát triển. Một trong những kẻ thù của chúng ta hiện nay là sự nghèo nàn, lạc hậu. Lạc hậu thì sẽ tụt hậu. Tụt hậu thì khó thoát khỏi vòng lệ thuộc. Tất cả những ai có thể góp một phần vào việc chống kẻ thù đó đều nên và có thể có mặt trong hàng ngũ của chúng ta.

Từ ngày Đảng ta có chủ trương đổi mới, tư tưởng hòa hợp dân tộc lại được phục hưng và ứng nghiệm với nhiều kết quả khả quan. Quan điểm kinh tế nhiều thành phần, quan điểm kinh tế mở, tư tưởng vn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, khép lại quá khứ, hướng về tương lai,v,v., đã giúp cho nước ta khai thác được cả nội lực và ngoại lực để vượt khỏi khủng hoảng, liên tiếp thu được những thành quả về mọi mặt.

Bây giờ, chúng ta đã có một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và đang trên đường tiến tới thực hiện lý tưởng dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta đã từng bước nâng cao uy tín quốc tế. Do đó, chúng ta càng có sức cảm hóa, thuyết phục nhiều hơn. Những kinh nghiệm quốc tế vừa qua càng chỉ rõ thêm rằng nếu chỉ dùng đối đầu và bạo lực để giải quyết những thù hận thì chỉ đẻ ra thù hận. Nếu dùng cách đối thoại, thuyết phục, cảm hóa để giải quyết thù hận thì có thể triệt tiêu được thù hận và tạo ra sức mạnh càng ngày càng dồi dào hơn. Nhìn ra thế giới, càng nghiệm thấy rằng tài nguyên lớn nhất cho mọi quốc gia chính là tài nguyên con người. Nếu quy tụ được sức người, thì nhiều nguồn lực khác cũng có thể được quy tụ. Con người mà không quy tụ thì mọi nguồn lực khác cũng rơi rụng.

b- Xây dựng, kiện toàn hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh:

– Xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam vững mạnh

– Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong sạch, vững mạnh, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân.

– Luôn luôn chăm lo xây dựng Mặt trận và các Đoàn thể nhân dân

Hệ thống chính trị ở Việt Nam hoạt động theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Đây là một cơ chế có sự thống nhất, không có đối lập và không tách rời nhau.Vấn đề làm chủ của nhân dân được thể hiện rõ qua quyền giám sát của dân thông qua việc các đại biểu Quốc hội chất vấn các thành viên chính phủ tại mỗi kỳ họp Quốc hội; người dân có quyền tham gia vào các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở cho phép người dân được tham gia trực tiếp vào việc lập kế hoạch, quản lý và thực thi các chính sách phát triển tại địa phương. Người dân cũng được tạo điều kiện phát triển kinh tế trong khuôn khổ pháp luật.

b- Dựa vào sức mạnh của toàn dân,lấy dân làm gốc

Sự nghiệp đổi mới là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân, cho nên mọi chủ trương chính sách của Đảng ta đều xuất phát từ dân, dựa vào dân mà thực hiện. Do đó, cần phải phát triển nguồn nhân lực con người, đào tạo đội ngũ cán bộ tốt, đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khơi dậy, phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, coi dân chủ là mục tiêu, là động lực để xây dựng đất nước, chú trọng nâng cao ý thức làm chủ cho nhân dân.

” Dễ trăm lần không dân cũng chịu,

Khó vạn lần dân liệu cũng xong “.

Dân là gốc của nước. Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta coi đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo là động lực chủ yếu để phát triển đất nước. Vì vậy, chúng ta cần phải:

c- Thường xuyên chăm lo xây dựng và phát triển nguồn lực con người. Cần xây dựng và phát triển nguồn nhân lực

– Bồi dưỡng tư tưởng yêu nước kết hợp với tinh thần quốc tế chân chính

– Có đạo đức, lối sống cách mạng trong sáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham nhũng và mắc các tiêu cực khác.

– Đội ngũ nhân lực có trình độ cao

* Tiếp tục xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết tạo thành sức mạnh vô biên. Lịch sử nước nhà và lịch sử thế giới cho thấy rằng, thời kỳ nào dân tộc không đoàn kết thì thời kỳ đó dân tộc không phát triển lên được, thậm chí sẽ bị mất nước, bởi các thế lực ngoại bang xâm chiếm.

d- Tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Xã hội càng phát triển thì trình độ dân chủ của một xã hội càng cao. Dân phải được tôn trọng, phải phát huy được tính tích cực của mình trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Kinh tế thị trường đã và đang tạo ra những mặt tích cực đáng kể cho sự phát triển kinh tế- xã hội nhưng đồng thời cũng có những mặt trái, làm trầm trọng thêm một số tiêu cực đã có trước đây và nảy sinh một số tiêu cực mới. Mọi âm mưu và hành động, dù là nhỏ, làm tổn hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc đều là có tội đối với đất nước, cần được lên án. Tạo điều kiện cho nhân dân làm tròn nghĩa vụ công dân.

e- Phát triển nguồn lực con người

Trong thế giới ngày nay, nguồn lực hàng đầu là trí thức. Nói như thế không có nghĩa là đề cao những con người trí thức cụ thể, mà nói đến một điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển: trong cuộc đua tranh để phát triển, không thể chỉ dựa vào nhiệt tình và ý chí, mà phải dựa vào kiến thức, học vấn, sự nhận thức các quy luật của thiên nhiên và của xã hội.

Theo kinh nghiệm lịch sử của thế giới và bản thân nước ta, nhất là qua những kinh nghiệm của Hồ Chí Minh, thấy rằng trí thức tận tụy hay không là tùy thuộc vào chúng ta có tin dùng trí thức hay không, có giao cho họ đảm nhiệm những trọng trách mà họ xứng đáng được đảm nhiệm hay không.

Điều đó không tùy thuộc vào bản thân trí thức, mà vào lãnh đạo: có đủ khả năng thu phục nhân tâm và nhân tài hay không. Thu hút được nhân tài cũng là một tài năng.

Hiện nay, nước ta đã có một giai cấp công nhân ngày càng đông đảo, hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau, trong các thành phần kinh tế khác nhau. Yêu cầu về trình độ nghề nghiệp ngày càng cao, nhất là trong điều kiện công nghệ ngày càng hiện đại, tin học hoá và tự động hoá ngày càng nhiều. Nếu có chính sách phù hợp thì người công nhân sẽ có những sáng kiến, sáng tạo lớn. Có thể nói sản xuất hiện đại vẫn đòi hỏi và rèn luyện người công nhân những phẩm chất ưu việt của riêng người công nhân. Đó là tính kỷ luật, chính xác, tính tập thể, là ý thức chính trị tốt. Đó cũng là những phẩm chất mà người cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cần có. Vì vậy hiện nay, chú ý phát triển đội ngũ cán bộ xuất thân từ giai cấp công nhân vẫn là một hướng đi đúng cần quan tâm.

Đất nước ta cũng có một đội ngũ trí thức khá lớn. Họ có mặt trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực từ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học công nghệ, văn hoá nghệ thuật,v,v,. Họ xuất thân từ các giai cấp và tầng lớp khác nhau kể cả nông dân, công nhân. Họ có mối liên hệ khá gần gũi với các giai cấp và tầng lớp khác, với quần chúng lao động. Họ có thể hiểu rõ tâm tư nguyện vọng, những giá trị của quần chúng lao động. Rất nhiều người trong số đó có khả năng lãnh đạo, quản lý.

Để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp hiện nay, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao, chúng ta phải khắc phục những định kiến vẫn còn rơi rớt. Đó là tâm lý coi thường những người xuất thân từ các giai cấp lao động, đặc biệt từ giai cấp công nhân, nghĩ rằng họ quen lao động chân tay, ít chữ nghĩa, ít hiểu biết, hạn chế tầm nhìn đối với những vấn đề đại sự quốc gia. Do đó chỉ chú ý vào những người “có học”, đã qua trường lớp chính quy, bài bản.

Ngược lại, có tâm lý coi thường hoặc kỳ thị những người trí thức, coi họ chỉ sách vở, quan liêu, không thực tế, thiếu hiểu biết cuộc đời. Thậm chí coi họ là điển hình của thói tiểu tư sản, cá nhân chủ nghĩa, yếu đuối. Do đó chỉ chú ý đối với những người đã từng kinh qua “thực tiễn”.

Tuy nhiên, nhìn một cách thực tế, hậu quả của cả hai khuynh hướng đều không tốt. Chúng ta phải đề phòng một khuynh hướng nửa vời trong đội ngũ cán bộ, một mặt chạy theo vỏ trí thức, với những văn bằng, học vị nọ kia chứ không thực sự là trí thức, mặt khác cũng không có lập trường quan điểm, tác phong công nhân thực sự. Đây là một tình trạng chứa đựng nguy cơ của chủ nghĩa cơ hội trong đội ngũ cán bộ của chúng ta.

f- Để ngọn lửa yêu nước và đại đoàn kết dân tộc sáng mãi

Chúng ta cần ôn lại mấy bài học lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Đất nước Việt Nam, giang sơn Việt Nam cùng mọi thành quả của nền văn hóa Việt Nam không phải là của riêng ai, của một giai cấp hay đảng phái nào, mà là tài sản chung của mọi người Việt nam, của cả dân tộc Việt Nam.

Mọi người Việt Nam đều có trách nhiệm và có quyền được đóng góp vào việc tô điểm cho giang sơn đó, làm giàu thêm và đẹp thêm cho nền văn hóa đó.

Phải làm sao để cho mọi người Việt Namn đều được sống với giang sơn gấm vóc

này, được hưởng mọi giá trị vật chất và tinh thần của nền văn hóa này.

V. KẾT LUẬN

Trong tất cả mọi người Việt Nam sống ở trong nước hay ở nước ngoài đều luôn luôn tiềm ẩn tinh thần, ý thức dân tộc trong tâm thức của họ. Vì vậy, khơi nguồn và phát triển đến đỉnh cao sức mạnh dân tộc và trí tuệ của con người Việt Nam, thực thi chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, quy tụ lực lượng dân tộc bằng nội dung và hình thức tổ chức thích hợp với mọi đối tượng tập thể và cá nhân trên cơ sở lấy liên minh công nông và trí thức làm nòng cốt do Đảng cộng sản lãnh đạo, phấn đấu vì độc lập của tổ quốc, tự do, hạnh phúc của của toàn dân là một bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị bền vững lâu dài, đặc biệt có ý nghĩa chính trị quan trọng trong sự nghiệp thực thi đường lối đổi mới, thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay.

Cách mạng nước ta đã bước sang giai đoạn mới có sự khác biệt về chất so với thời kỳ đấu tranh bảo vệ tổ quốc và giải phóng đất nước, thậm chí cũng đã khác rất nhiều so với thời kỳ trước đổi mới. Đại hội XI của Đảng ta xác định: Hơn bao giờ hết cần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các cấp uỷ đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân; tin dân, tôn trọng những người có ý kiến khác; làm tốt công tác dân vận, có cơ chế, pháp luật để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình./.

Bài từ http://www.scribd.com/ đã được biên tập lại.

tutuonghochiminh.vn

Tư tưởng “Vì con người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 40 năm di chúc của Bác Hồ:

Bác Hồ đã đi xa 40 năm song giá trị tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Từ khi ra đi tìm đường cứu nước đến những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, Người luôn đau đáu vì nền độc lập tự do của dân tộc, hạnh phúc ấm no của mỗi con người. Tư tưởng, tình cảm của Bác đối với giai cấp nông dân, đối với nền nông nghiệp nước nhà là một phần tư tưởng lớn, vĩ đại bậc nhất của Bác: Vì con người.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đến mọi tầng lớp xã hội, trong đó Người đặc biệt quan tâm đến nông dân. Những việc của nghề nông đối với Bác không có gì xa lạ. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người: Chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người bôn ba chân trời góc biển vì nền độc lập của dân tộc, để “người cày có ruộng”, để “ruộng đất về tay dân cày”, để “mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ái cũng được học hành”. Trong con đường đi đến hạnh phúc ấm no, người nông dân Việt Nam luôn có Bác đi cùng.

Trước khi đi xa, người để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng chí, đồng bào. Bản di chúc kết tinh tư tưởng, tình cảm vì con người của Người ngắn gọn, súc tích nhưng dung dị, chứa đựng tình cảm bao la như trời biển. Bản di chúc được Người viết, bổ sung, sửa chữa nhiều lần, lần nào cũng có những dòng, những đoạn dành cho nông dân. Trong phần bổ sung Di chúc được Bác viết tháng 05/1968, Bác dành một đoạn nói về giai cấp nông dân Việt Nam.

Người dùng từ “đồng bào nông dân” rất gần gũi, rất riêng để tuyên dương công lao to lớn và lòng trung thành vô hạn đối với Đảng và Chính phủ trong kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ. Người căn dặn miễn thuế nông nghiệp cho nông dân. Người viết: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các HTX nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Người đã nhìn đến tận cùng gốc rễ sâu xa của kế sách an dân sâu rễ bền gốc mà ông cha ta ngàn năm trước vẫn dùng. Đó là sau chiến tranh phải chú ý chính sách vỗ về, an dân để nông dân từng đóng góp nhiều sức người, sức của cho kháng chiến, chịu nhiều thiệt thòi, mất mát trong chiến tranh có cơ thoát khỏi cơ hàn mà thêm hỉ hả, trung thành với chế độ.

Thực hiện theo di chúc của Người, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 đã ra Nghị quyết “Thực hiện miễn thuế nông nghiệp theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Miễn giảm thuế nông nghiệp tiến tới hạn chế và xoá bỏ dần những đóng góp ở khu vực nông thôn để người nông dân có điều kiện tái đầu tư sản xuất chính là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta thực hiện theo đúng tinh thần và mong muốn của Người.

Bác Hồ luôn coi trọng mặt trận sản xuất nông nghiệp. Ngay trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng mong muốn mọi người khi đến thăm viếng đều có ý thức trồng cây, gây rừng để có lợi cho sản xuất nông nghiệp. Người từng nói: “Nông dân ta giàu, thì nước ta giàu – Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”. Thực tế càng khẳng định vai trò của sản xuất nông nghiệp, nhất là trong thời điểm khủng hoảng kinh tế như hiện nay, thì sản xuất nông nghiệp chính là giá đỡ của nền kinh tế. Ngôi nhà kinh tế của đất nước sẽ nghiêng ngả khi nền móng sản xuất nông nghiệp không vững chắc.

Tư tưởng, tình cảm của Bác đối với giai cấp nông dân, đối với nền nông nghiệp nước nhà là một phần tư tưởng lớn, vĩ đại bậc nhất của Bác. Bác lập luận một cách nôm na, dễ hiểu: “ Dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời”. Chính vì vậy, Người yêu cầu và chỉ rõ trách nhiệm của Đảng và Chính Phủ: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin vào sức mạnh, vị trí của nông dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước. Người cho đây là cuộc Cách mạng nông dân và sản xuất nông nghiệp là một mặt trận. Thắng lợi trên mặt trận nông nghiệp chính là thắng lợi của Cách mạng. Từ đây, vấn đề an ninh lương thực lại càng trở nên quan trọng.

Thực hiện di chúc của Bác, làm theo lời Bác, vấn đề nông nghiệp-nông thôn-nông dân đã được đặt lên bàn nghị sự và ngày 5/8/2008, Nghị quyết số 26- NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 10 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ra đời, đã xác định rõ “Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển”. Theo đó, một loạt vấn đề về nông nghiệp-nông thôn-nông dân trở thành những vấn đề thời sự, nóng hổi của đất nước.

Mới đây, Nghị định 69/CP về quy hoạch sử dụng đất, đền bù, hỗ trợ người dân sau thu hồi đất đã có nhiều quy định có lợi cho nông dân và nhiều chính sách như kích cầu cho khu vực nông thôn, bảo hiểm lúa gạo cho bà con nông dân ĐBSCL… Đó là những tin vui liên tiếp đến với nhà nông vào dịp kỷ niệm 64 năm Quốc khánh đất nước và kỷ niệm 40 năm Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đúng như mong muốn của Người, để làm sao: “Người nghèo thì đủ ăn; người đủ ăn thì khá, giàu; người khá, giàu thì giàu thêm”./.

Tuyết Yến

phunu.hochiminhcity.gov.vn

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng về Đảng lãnh đạo quân đội là một bộ phận hợp thành, giữ vai trò trọng yếu trong tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Người về tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Ngay từ đầu năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề “tổ chức ra quân đội công nông”(1) và trong suốt quá trình xây dựng, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta, Người đã yêu cầu “Xây dựng quân đội – một quân đội nhân dân thật mạnh, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng”(2). Người nói: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3). Người nhiều lần nhắc nhở “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội”(4), bởi theo Người đó là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sức chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta.

Để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc thiết lập hệ thống tổ chức đảng trong quân đội từ Quân uỷ Trung ương đến các tổ chức đảng ở cơ sở; đồng thời tổ chức quân đội theo những nguyên tắc tổ chức phù hợp với đường lối chính trị, quân sự và tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ đội vũ trang đầu tiên – Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Người đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng theo mô hình lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo, có đại diện của Đảng (chính trị viên) bên cạnh người chỉ huy quân sự để chăm lo công tác chính trị. Bằng công tác tư tưởng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải thường xuyên giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội lòng trung thành với Đảng. Sự trung thành ấy thể hiện trước hết ở chỗ phải trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phải làm cho mọi quân nhân sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; phải lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho các hoạt động của quân đội. Hồ Chí Minh yêu cầu sự trung thành của quân đội đối với Đảng phải được thể hiện ở việc hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho, mà trước hết là hoàn thành thật tốt chức năng chiến đấu, đánh thắng mọi kẻ thù. Trong lần về thăm Trường Chính trị trung cấp quân đội (tháng 10-1951), Người nói: “Riêng về các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc. Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực hiện. Nếu thuộc lầu mà không biết đánh giặc thì vô dụng”(5). Trong buổi chiêu đãi mừng Quân đội ta 20 tuổi, Người đã khen ngợi: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(6). Đó vừa là sự khẳng định bản chất, truyền thống và mục tiêu chiến đấu của Quân đội, vừa là yêu cầu có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh đối với mọi hoạt động của Quân đội.

Lịch sử hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã chứng tỏ tư tưởng của Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo quân đội luôn luôn được quán triệt sâu sắc. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, thực sự là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng Quân đội ta theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại đang đứng trước nhiều thuận lợi và thách thức to lớn. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hậu gia nhập WTO có nhiều nội dung mới, đòi hỏi quân đội phải thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN trong mọi tình huống. Đồng thời, những biến đổi kinh tế-xã hội to lớn ở trong nước gắn liền với tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp đang tác động đa chiều đến việc giữ vững bản chất cách mạng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; trong đó phải kể đến những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta. Những vấn đề đó đang đòi hỏi việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội theo Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được đặt lên hàng đầu.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong giai đoạn hiện nay, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp về tổ chức, tư tưởng và chính sách, mà trước hết là đẩy mạnh công tác xây dựng đảng, để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, lãnh đạo Quân đội trong thời kỳ mới, bởi theo Hồ Chí Minh “Đảng có vững, cách mệnh mới thành công”. Vì vậy, một mặt, cần tiếp tục đi sâu, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với những yêu cầu, biện pháp mới, phù hợp; đồng thời tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; mặt khác, cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc các Quy định số 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115-QĐ/TW ngày 20-8-2004 về chức năng, nhiệm vụ của 8 loại hình tổ chức đảng trong Quân đội và “Xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước đối với hoạt động quốc phòng, an ninh”(7), chỉ đạo tốt việc thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20-7-2005 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm thấu triệt trong toàn xã hội nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội.

Hai là, tăng cường xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh (TSVM); tập trung vào nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Trong giai đoạn hiện nay, cần hết sức quan tâm nâng cao năng lực của các cấp uỷ đảng trong việc quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng; nâng cao tính tiền phong gương mẫu của đảng viên, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, gắn chặt công tác rèn luyện, quản lý đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng tổ chức đảng TSVM với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; tích cực tìm các giải pháp tăng cường vững chắc số chi bộ đại đội có cấp uỷ, chăm lo xây dựng cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị để nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội.

Ba là, làm tốt hơn nữa công tác giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng trong Quân đội, đặc biệt là ở cơ sở; làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội hiểu sâu sắc nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, cùng những nội dung mới trong tư duy của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc được Đại hội X của Đảng xác định. Đó là “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”. Trên cơ sở đó, mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội tự giác rèn luyện, phấn đấu, góp phần cùng toàn quân hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng và Tổ quốc giao phó, tiếp tục xứng đáng là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 3, tr.1. (2) Sđd, tập 7, tr.220. (3,6) Sđd, tập 11, tr.350. (4) Sđd, tập 7, tr.14. (5) Sđd, tập 6, tr. 319. (7) Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ X, NXBCTQG, H.2006, tr.111.

THIẾU TƯỚNG, PGS, TS. NGUYỄN NGỌC HỒI
Phó tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân

xaydungdang.org.vn

Một nguyên tắc cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh “nói đi đôi với làm”, phải nêu gương về đạo đức

Hồ Chí Minh trở thành một nhà đạo đức chân chính, một tấm gương đạo đức tuyệt vời, là vì suốt đời Người không ngừng tự hoàn thiện mình theo lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ; nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, nên đã thực sự nhất quán giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng với đạo đức hàng ngày.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức không phải là đạo đức tu thân mà là đạo đức dấn thân, có nghĩa là đạo đức gắn liền với hành động. Nói về đạo đức phải gắn liền với thực hành đạo đức, đặc biệt phải có hiệu quả. Một người làm việc gì cũng không có hiệu quả, thì không thể coi là một người có đạo đức, Người chỉ ra rằng “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất”.

Hồ Chí Minh nói nhiều đến vai trò, tác dụng của đạo đức, nêu ra những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cho cán bộ, nhân dân từ đời công đến đời tư. Song, Hồ Chí Minh thực hành đạo đức nhiều hơn những điều Người nói và làm rất lặng lẽ. Theo Người, muốn giáo dục mọi người phải nêu gương trước của mình đã, sau đó mới giáo dục bằng lời nói.

Ở Hồ Chí Minh luôn luôn có sự nhất quán giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức với thực hành đạo đức. Người nói “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó”. Cho đến khi qua đời, Người còn viết trong Di chúc “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Cả cuộc đời Người đã là minh chứng cảm động cho sự nhất quán giữa nói và làm đạo đức. Nhờ kiên trì thực hành đạo đức, Người đã để lại cho dân tộc ta một tấm gương sáng ngời về đạo đức của một vị lãnh tụ thực sự của nhân dân.

Sở dĩ Hồ Chí Minh trở thành một nhà đạo đức chân chính đã để lại cho chúng ta một tấm gương đạo đức tuyệt vời, là vì suốt đời Người không ngừng tự hoàn thiện mình theo lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ; nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, nên đã thực sự nhất quán giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng với đạo đức hàng ngày.

Trong xã hội, tấm gương của các thế hệ trước đối với các thế hệ sau rất quan trọng. Mỗi thế hệ đều có trách nhiệm của mình, nhưng thế hệ trước bao giờ cũng có trách nhiệm rất nặng nề với thế hệ sau trong việc giáo dưỡng, nhất là bồi dưỡng về đạo đức. Chính vì vậy, ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu việc giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Người kiên quyết đấu tranh chống lại nguy cơ xa rời quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của một đảng cầm quyền. Người nhắc nhở: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. “Muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người… mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”. Người đã từng cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Theo Người, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội không phải ở lý tưởng cao xa nào mà trước hết, cụ thể và trực tiếp là ở những người cộng sản ưu tú bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho lý tưởng đó thành hiện thực. Củng cố hay làm suy giảm niềm tin của quần chúng vào tương lai của chủ nghĩa xã hội không phải ở những sai lầm và thất bại tạm thời khó tránh khỏi trên con đường mới khai phá mà chủ yếu ở sự sa sút, thoái hóa của những người được mệnh danh là “những chiến sĩ tiên phong” trước thắng lợi hay khó khăn của cách mạng.

Sự lành mạnh của đời sống đạo đức xã hội phụ thuộc một phần rất quan trọng vào sự nêu gương của người lãnh đạo, nhất là những người đứng đầu các ngành, các địa phương, các đơn vị. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: Muốn thực sự làm người lãnh đạo, người chỉ huy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải hết sức giữ gìn và nêu gương về mặt đạo đức.

Để thực hiện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng ta vừa qua đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị học tập và làm theo Người. Đặc biệt Đảng ta yêu cầu những người lãnh đạo cao cấp phải nêu tấm gương về đạo đức, lối sống lành mạnh, phải là những chiến sĩ đi đầu trong việc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, sa hoa, lãng phí, không chỉ trong xã hội mà cả trong gia đình riêng của mình.

Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chưa lúc nào từ bỏ âm mưu và thủ đoạn thâm độc để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nước ta. Chúng luôn thực hiện “diễn biến” về tư tưởng, đạo đức lối sống qua con đường giao lưu, hội nhập kinh tế, qua các mạng thông tin để lôi kéo dân ta đi chệch khỏi các định hướng giá trị của dân tộc, đánh phá từ bên trong. Chính vì vậy, để Đảng ta mãi mãi “là đạo đức, là văn minh” mỗi cán bộ đảng viên không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân như lời Bác Hồ đã dạy.

Th.S Nguyễn Thị Giang – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

dalat.gov.vn

Xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tượng Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Gia Lai: Ảnh gialai.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, luôn đặc biệt chú ý giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên ý thức bảo vệ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Người khẳng định: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công. Tư tưởng của Người về đoàn kết thống nhất của Đảng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính nguyên tắc tổ chức kỷ luật trong Đảng với tình thương yêu đồng chí mang đậm nét văn hoá phương Đông, giữa truyền thống dân tộc và phẩm chất tiên tiến của giai cấp công nhân.

Giáo sư Trần Văn Giàu nói: “Đến Cụ Hồ thì đại đoàn kết được xây dựng trên cả một lý luận chứ không còn đơn thuần là tình cảm tự nhiên của người trong một nước phải thương nhau cùng”(1). Theo số liệu thống kê, trong 1.921 bài viết của Bác có tới 839 bài Bác đề cập đến vấn đề đoàn kết thống nhất và có tới 1.809 lần Bác dùng từ “đoàn kết”, “đại đoàn kết”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, vấn đề đoàn kết trong Đảng được Bác nhắc đi, nhắc lại tới 16 lần. Trong “Di chúc” thì thuật ngữ “đoàn kết” được Bác nhấn mạnh 7 lần. Bác căn dặn “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng ta và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(2). Đoàn kết thống nhất trong Đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải chỉ là “đoàn kết một chiều”, “bằng mặt mà không bằng lòng”, “liên minh”, lúc cần thì hợp lực, không cần thì tìm cách lật đổ nhau… mà phải là đoàn kết có lý, có tình – tình cảm cách mạng trong sáng, tình thương yêu đồng chí, đồng bào. Bác từng nói: “Toàn Đảng, toàn dân đồng sức đồng lòng thì khó khăn gì cũng nhất định khắc phục được”(3).

Với Hồ Chí Minh, đoàn kết thống nhất trong Đảng phải là một chiến lược lâu dài, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam: “Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí, đoàn kết không phải ngoài miệng mà phải đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ”(4). Bác luôn tâm niệm, Đảng ta tuy đông người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người và nhờ vậy “Cách mạng nhất định thành công. Ta thành công chính vì ta đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng”(5).

Bác khuyên các đồng chí trong Đảng phải thương yêu đoàn kết, nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh công thần, địa vị, hẹp hòi, cục bộ, kèn cựa… “Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, phải kiên quyết chữa cái bệnh hẹp hòi đó để thực hành chính sách đại đoàn kết. Chính sách thành công thì kháng chiến mới dễ thắng lợi”(6).

Có thể nói, xây dựng, củng cố và tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng là nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm lớn lao của toàn thể cán bộ, đảng viên, trước hết là của những cán bộ chủ chốt.

Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh, thật sự đoàn kết thống nhất thì mới đảm bảo sự lãnh đạo, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng đến bến bờ thắng lợi. Do đó, mỗi đảng viên phải nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sự đoàn kết thống nhất, tự giác rèn luyện đạo đức cách mạng, năng lực hoạt động để góp sức xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đồng tâm nhất trí, đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Hiện nay, để bảo vệ và giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng “như giữ gìn con ngươi của mắt mình” cần thực hiện nhiều giải pháp, trong đó:
1. Thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân.

Tự phê bình và phê bình không những là vũ khí sắc bén mà còn là động lực bên trong giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình phải khách quan, trung thực, thẳng thắn, công khai, chân thành. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(7). Do đó, tự phê bình và phê bình cần tiến hành từ trên xuống, từ dưới lên, phê bình việc chứ không phê bình người và phê bình phải thường xuyên như “rửa mặt hằng ngày”. “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”(8).

2. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đề cao tính tổ chức và kỷ luật trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng.

Dân chủ trong Đảng là phải làm cho tất cả đảng viên đóng góp ý kiến của mình cho Đảng với ý thức trách nhiệm xây dựng trong nguyên tắc sinh hoạt đảng. Các cấp uỷ đảng phải bảo đảm dân chủ từ cơ sở. Mặt khác, từng cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm đóng góp ý kiến vào những vấn đề chung, nhất là những vấn đề thuộc về đường lối, chính sách và giải pháp thực hiện. Thực hiện tập trung dân chủ thực sự trong sinh hoạt đảng nhằm tạo cơ sở bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

3. Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hiện tượng mất đoàn kết và nguyên nhân dẫn đến mất đoàn kết, thực hiện tốt chế độ thi đua khen thưởng và kỷ luật của Đảng.

Công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Công tác kiểm tra giúp cho các cấp uỷ kịp thời phát hiện và ngăn chặn nguyên nhân, hiện tượng mất đoàn kết. Bên cạnh đó, tổ chức thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng có tác dụng kịp thời động viên, khích lệ những tập thể, cá nhân, cán bộ, đảng viên có thành tích trong xây dựng khối đoàn kết thống nhất, nhắc nhở giáo dục cán bộ, đảng viên không ngừng xây dựng, vun đắp cho khối đoàn kết thống nhất.

4. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt tiêu biểu cho phẩm chất, năng lực của đội ngũ đảng viên, đủ uy tín và khả năng quy tụ đội ngũ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong tổ chức đảng.

Cán bộ quyết định sức mạnh và hiệu quả lãnh đạo của Đảng. Người cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có năng lực, trình độ, uy tín mới có thể tập hợp, tổ chức, quy tụ được sức mạnh đội ngũ đảng viên và quần chúng. Cùng với việc quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ, công tác đánh giá, quản lý cán bộ cần phải được chú trọng hơn, phải quan tâm bồi dưỡng thường xuyên kiến thức về công tác tổ chức, cán bộ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết thống nhất trong Đảng mãi mãi là kim chỉ nam cho hành động, là ngọn đèn pha soi đường để mỗi chúng ta phấn đấu, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao ý thức đoàn kết góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

____

(1) Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Tư tưởng Hồ Chí Minh xuất bản, H.1993, tập 2, tr.34. (2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.510. (3) Sđd, tập 10, tr.545. (4) Sđd, tập 9, tr.400. (5) Sđd, tập 11, tr.467. (6) Sđd, tập 5, tr.238. (7) Sđd, tập 5, tr.261. (8) Sđd, tập 5, tr.232.

NGUYỄN THỊ NGỌC CẢNH
Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị khu vực III

xaydungdang.org.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM: Tư tưởng lớn từ những mẩu chuyện nhỏ

Khi Bác hỏi: “Lãnh đạo ở tỉnh, chú thấy khó khăn nhất là gì?”. Tôi trả lời: “Khó khăn nhất là rất thiếu cán bộ chỉ huy”. Bác hỏi ngay: “Ở tỉnh chú, có bao nhiêu cán bộ tiểu đội đã qua hai năm làm công tác tốt mà chưa được đề bạt làm cán bộ trung đội?”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện thân mật với bà con nông dân và cán bộ huyện, xã, hợp tác xã Cầu Thành, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, Thái Nguyên ngày 3-2-1958. Ảnh: T.L.

Tôi không trả lời được. Bác bảo: “Chú về coi lại, nếu chú không chỉ đạo đề bạt, thì báo cho Bác để Bác đề bạt”. Rồi Bác nói: “Nếu lãnh đạo, chỉ huy ở trên mà hiểu được tình hình chiến sĩ, cán bộ dưới rồi biết chọn người tốt từ bên dưới đề bạt lên cấp trên thì cán bộ không bao giờ thiếu”.

Năm 1952, tôi được Bộ Chính trị triệu tập ra dự lớp chỉnh huấn ở Việt Bắc. Hai giờ chiều ngày 24-7-1952, tôi được gặp Bác. Đó là một buổi gặp Bác mà tôi không bao giờ quên.

Vào làm việc, tôi báo với Bác là có chuẩn bị một bản báo cáo, xin được đọc cho Bác nghe, nhưng Bác bảo là Bác chỉ muốn hỏi một số việc thôi. Rồi Bác hỏi, hỏi câu nào tôi trả lời câu đó. Bác hỏi nhiều về đời sống của nhân dân, của chiến sĩ và hỏi rất cụ thể đến bữa ăn, đến áo mặc lúc trời rét, thuốc men lúc đau ốm, việc học hành của các cháu, hỏi đến trường hợp anh em chiến đấu bị chết bị thương đã được chăm lo như thế nào?

Khi nghe tôi báo cáo tình hình đời sống của đồng bào Công giáo nơi nhà thờ bị địch biến thành đồn bót, Bác nói: “Địch biến nhà thờ thành đồn bót, lấy giáo dân làm bia đỡ đạn lại gây chia rẽ lương giáo, đó là âm mưu rất thâm độc. Phải tuyên truyền giải thích cho bà con cả giáo và lương hiểu để tăng cường đoàn kết”.

Khi tôi báo cáo cho Bác biết là Tỉnh ủy đã hướng dẫn cho nông dân bàn để chia ruộng đất công được công bằng hợp lý, bà con rất phấn khởi, tôi thấy nét mặt Bác vui hẳn lên. Bác nói: “Tỉnh Quảng Trị là nơi có rất nhiều ruộng đất công. Hướng dẫn cho nông dân bàn bạc để việc phân chia được công bằng hợp lý, không làm thay là rất tốt, chú về báo lại là Bác có lời khen”. Bác lại hỏi: “Chú là Bí thư Tỉnh ủy từ lúc nào, đã có mấy lần chú xuống trực tiếp làm việc với chi bộ xã, kiểm tra công việc ở xã?”. Bác hỏi gì tôi cũng trả lời được cả. Chỉ duy nhất có một câu hỏi mà tôi không trả lời được.

Khi Bác hỏi: “Lãnh đạo ở tỉnh, chú thấy khó khăn nhất là gì?”. Tôi trả lời: “Khó khăn nhất là rất thiếu cán bộ chỉ huy”. Bác hỏi ngay: “Ở tỉnh chú, có bao nhiêu cán bộ tiểu đội đã qua hai năm làm công tác tốt mà chưa được đề bạt làm cán bộ trung đội?”. Tôi không trả lời được. Bác bảo: “Chú về coi lại, nếu chú không chỉ đạo đề bạt, thì báo cho Bác để Bác đề bạt”. Rồi Bác nói: “Nếu lãnh đạo, chỉ huy ở trên mà hiểu được tình hình chiến sĩ, cán bộ dưới rồi biết chọn người tốt từ bên dưới đề bạt lên cấp trên thì cán bộ không bao giờ thiếu”.

Đến đây thì đồng chí giúp việc cho Bác đến báo với Bác là có các đồng chí Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Thi và Nông Quốc Chấn đến. Bác bảo mời vào. Tôi chuẩn bị ra về nhưng Bác bảo ở lại để nghe. Đồng chí Lưu Hữu Phước báo với Bác là mới sáng tác được bài Lãnh tụ ca, xin được hát để Bác nghe và cho ý kiến. “Chú hát đi!”, Bác bảo. Đồng chí Lưu Hữu Phước đằng hắng rồi lên giọng hát, Bác chăm chú nghe.

Nghe xong Bác cười rồi hỏi: “Trong bài hát của chú có câu “Hồ Chí Minh xuất hiện trong ánh sao”, vậy Hồ Chí Minh nào đã xuất hiện trong ánh sao? Nếu từ trên trời rơi xuống thì chết thôi, có làm việc gì được? Phải là xuất hiện từ nhân dân mà ra, mới đúng”. Đồng chí Lưu Hữu Phước nói lại: “Thưa Bác, Hồ Chí Minh xuất hiện trong ánh sao là xuất hiện cùng với lá cờ đỏ sao vàng ạ!”. Nhìn anh Phước, Bác cười: “Đó là nói đùa cho vui thôi, chứ Bác cũng hiểu được ý chú”.

Bác nhìn vào chúng tôi hỏi: “Các chú có nghe người nào ca ngợi Bác, cho rằng Bác là vị cha già dân tộc không?” Bác chỉ vào tôi. Tôi trả lời: “Cháu có nghe và chính cháu cũng có nói như thế, với lòng kính trọng Bác”. Bác nghiêm nét mặt: “Nghĩ như vậy, nói như vậy về Bác là rất sai, hóa ra Bác là con người rất hỗn, làm cha cả dân tộc! Khi nói về Bác, phải nói Bác là con em của nhân dân”. Rồi Bác hỏi: “Các chú thấy nói như vậy có đúng không?”. Cả bốn anh em chúng tôi đều trả lời: “Đúng ạ!”.
Tiếp theo, đồng chí Nông Quốc Chấn lại báo thêm với Bác: “Nhiều gia đình vùng đồng bào dân tộc, thấy họ treo hình Bác để thờ”. Bác hỏi: “Theo chú, làm như vậy có nên không?”. Đồng chí Nông Quốc Chấn thưa: “Cháu nghĩ rằng, đồng bào thờ như vậy cũng là tỏ lòng quý trọng tôn kính Bác”.
Suy nghĩ một lát, Bác nói: “Nơi nào bà con đã treo ảnh Bác để thờ, đã thành tín ngưỡng như vậy thì đừng bảo gỡ ra. Nhưng không nên tuyên truyền khuyến khích. Chỉ nên nói với bà con, khi nghe Bác nói điều gì, suy nghĩ thấy đúng thì làm theo, như vậy Bác sẽ rất vui”. Bác chỉ vào đồng chí Nông Quốc Chấn hỏi: “Bác nói vậy có đúng không?”. Đồng chí Nông Quốc Chấn: “Bác dặn vậy là rất đúng”. Bác hỏi lại: “Chú cho là đúng thì hãy nhắc lại cho Bác nghe”. Đồng chí Nông Quốc Chấn nói: “Bác dặn, nơi nào bà con đã treo ảnh Bác để thờ thì đừng bảo gỡ ra, nhưng không nên tuyên truyền khuyến khích. Chỉ nên nói với bà con, khi nghe Bác nói điều gì, thì làm theo. Như vậy Bác sẽ rất vui”.

Bác hỏi ba chúng tôi: “Có đúng là Bác dặn như vậy không?”. Anh Thi, anh Phước và tôi đều trả lời là anh Chấn đã nhớ rất giỏi, thuật lại rất đúng. Bác nói ngay: “Có mấy chữ Bác dặn, rất quan trọng nhưng các chú đều đã quên. Bác dặn, khi nghe Bác nói điều gì, suy nghĩ kỹ thấy đúng thì làm theo. Bác đâu có dặn cứ nghe Bác nói là làm theo!”.

Đến đây, đồng chí giúp việc cho Bác đến đề nghị Bác nghỉ. Chúng tôi chào Bác, ra về.

Buổi gặp Bác chỉ diễn ra non một buổi chiều và cách đây đã khá lâu nhưng nay xin kể lại để chúng ta cùng suy nghĩ./.

Theo Tạp chí Ban Tuyên giáo TW

binhthuansports.vn

Tư tưởng đoàn kết quân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Congannghean.vn) – Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ quân dân là mối quan hệ đặc biệt, “quan hệ cá nước”. Trong đó, “nhân dân là nền tảng, là cha là mẹ của bộ đội” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5).

Quân đội muốn hoàn thành được nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó thì phải gắn bó mật thiết máu thịt với nhân dân. Bởi vì, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng mọi sức mạnh đều ở nhân dân, từ cơm ăn, áo mặc, xe cộ đi lại đến vũ khí đánh giặc đều do mồ hôi công sức nhân dân mà có.

Trước ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trong một lần trò chuyện với đồng chí Võ Nguyên Giáp ở Pắc Bó (Cao Bằng), Bác nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng: “Phải biết dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được”.

Đó chính là nền tảng ban đầu cho vấn đề đoàn kết quân – dân. Ngay trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Bác cũng đã nêu rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”.

Những ngày đầu thành lập, những người đứng đầu Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân hỏi Bác: Đội tuyên truyền hoạt động theo kế hoạch của liên tỉnh, khi tới địa phương thì quan hệ thế nào? Bác nói: “Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực và địa phương. Ba lực lượng ấy đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với nhau…”. Đó cũng chính là phương châm mà quân đội ta đã thực hiện trong suốt hai cuộc kháng chiến lâu dài.

Trong hồi ký “Một lòng theo Bác”, Thượng tướng Chu Văn Tấn có viết: Bác căn dặn rằng: “Cán bộ không được tự kiêu, tự mãn như ông tướng, mà phải khiêm tốn… Phải lấy dân làm gốc như cá dựa vào nước tùy theo lực lượng của quần chúng mà nâng dần lên; Phải gương mẫu, chịu hi sinh gian khổ, đi đầu trong mọi khó khăn…”. Bộ đội về Bắc Sơn, Vũ Nhai đánh giặc, tới Đông – Ngàn, thấy quần chúng đông nghịt như hội, hát si, hát lượn… Hỏi ra thì biết, nhân dân tổ chức si lượn để che mắt địch, đón bộ đội.

Trong điều kiện hiện nay của đất nước ta, nhắc lại tư tưởng của Bác về vấn đề đoàn kết quân dân vẫn là điều vô cùng cần thiết và quan trọng. Để thực hiện tốt tư tưởng trên của Người và không ngừng tăng cường, củng cố, phát triển mối quan hệ máu thịt này, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đang ra sức thi đua và thực hiện tốt những vấn đề lớn theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quân dân.

Người khẳng định: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do nhân dân đẻ ra, vì nhân dân mà chiến đấu” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5). Người luôn nhắc nhở, giáo dục cán bộ, chiến sĩ phải hiểu rõ: nhân dân là nền tảng, là gốc rễ sinh ra quân đội. Muốn quân đội vững mạnh thì phải dựa vào cái gốc, cái nền tảng ấy: “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 2, Bác đã có thư gửi đồng bào, chiến sĩ và nêu rõ: “… Chúng gây nên chiến tranh… muốn chia rẽ dân ta… Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc, nhờ tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường đó, mà hai năm kháng chiến… lực lượng của địch thì ngày càng hao mòn, ta thì càng đánh càng hăng, càng mạnh… Hãy tin tưởng vào vận mệnh lớn lao của Tổ quốc, tin tưởng vào sức đoàn kết, chiến đấu của ta… Tướng sĩ ở mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ… thì cuộc trường kì kháng chiến của ta nhất định thành công” (Hồ Chí Minh toàn tập, T4).

Bác dạy: “Mình đánh giặc là vì dân, nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân mà mình phải có trách nhiệm phụng sự nhân dân” (HCM toàn tập.T6). “Phải giúp đỡ nhân dân bất kì việc to, việc nhỏ” … Đó là điều “Thương dân, trọng dân, tốt với dân”. Có vậy, mới gắn bó chặt chẽ được với nhân dân, mới được dân tin, dân phục, dân yêu.

Quán triệt, thấm nhuần và tiếp thu tư tưởng đoàn kết quân dân của Hồ Chủ tịch, 67 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, mối quan hệ quân dân cá nước, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó.

Nguyễn Thanh

congannghean.vn

Vận dụng tư tưởng, tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh

Tự học và học suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và chính Người là tấm gương sáng ngời về tinh thần suốt đời bền bỉ và khiêm tốn học hỏi. Người căn dặn: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học hỏi ở nhân dân”, “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời.

Học tập phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”

Truyền thống gia đình, quê hương đã hun đúc nên tinh thần hiếu học của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Trong những năm tháng ra đi tìm đường cứu nước, Người chứng kiến và thấu hiểu được cảnh lầm than, thất học của nhân dân các dân tộc thuộc địa. Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước sống ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Versailles bản yêu sách gồm tám điểm, trong đó điểm thứ sáu là: “Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh”. Chính quá trình tự nghiên cứu, học tập và khảo sát mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc: Đó là sự kết hợp và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác coi việc diệt giặc dốt quan trọng và cấp bách như diệt giặc đói, giặc ngoại xâm: “Giặc đói, giặc dốt là bạn đồng hành của giặc ngoại xâm” vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Bác động viên khích lệ đồng bào: “Đi học là yêu nước”. Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ do Hồ Chí Minh chủ trì đã nêu xóa nạn mù chữ và nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân lao động là một trong những nhiệm vụ cấp bách. Ngày 8/9/1945, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ và kêu gọi toàn dân tham gia xóa nạn mù chữ. Mỗi người biết chữ đều phải tham gia dạy cho người mù chữ: “Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo…”. Trong bài “Chống nạn thất học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “ Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

Năm 1946, trong “ham muốn tột bậc” của vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của chúng ta, bên cạnh ham muốn “nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc”, là ham muốn “ai cũng được học hành”. Cũng nhờ sự ham muốn đó mà Bác Hồ không ngừng học tập, rèn luyện trong mọi hoàn cảnh để có một  kiến thức uyên bác,  tài năng lỗi lạc, trở thành “Danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc”, vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt muôn trùng sóng gió để tới bến bờ vinh quang.

Với sự nghiệp trồng người, Bác căn dặn “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Bác khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Theo Bác, trong cách học thì “lấy tự học làm cốt”, phải coi trọng trách nhiệm tự học của mỗi người, tự học thêm để làm chủ được tri thức. Những điều được học, được nghiên cứu tại trường chỉ có thể ví như một “hạt nhân bé nhỏ” mà người học “sẽ tiếp tục săn sóc, vun xới, làm cho mọc thành cây và dần dần nở hoa, kết quả”. Mục đích của việc học là để làm cán bộ phục vụ cho Tổ quốc “phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, “Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Người cảnh báo trước cho cán bộ thấy là “không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Để thực hiện được mục đích giáo dục thì nội dung giáo dục phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn. Bác nhấn mạnh: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn là thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Bác nêu ra nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành”, “kết hợp lý luận với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn kết hợp với thực tiễn nước nhà…”.

Học tập suốt đời là khâu then chốt để cải cách giáo dục và là nội dung cốt lõi của xã hội học tập. Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bắt gặp xu thế của thời đại khi mô hình xã hội học tập là một trong những đặc điểm và yêu cầu tất yếu của mỗi quốc gia trong nền kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu. UNESCO nhận định: chính việc học tập suốt đời sẽ thúc đẩy tạo ra sự bình đẳng cho mọi người, làm cho mọi người đều có cơ hội học tập trong mọi điều kiện khác nhau vì mục đích của việc học tập là “học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khảng định mình”. Học vấn ở trong nhà trường trang bị không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn và không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của thực tiễn. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã mang lại cho nhân loại một lượng tri thức và thông tin theo hàm số mũ, sự đổi mới công nghệ làm cho kiến thức và tay nghề trước đây mà người học tiếp thu được trong giáo dục ban đầu trở nên lỗi thời, tụt hậu đòi hỏi phải liên tục được đào tạo và tự đào tạo để có khả năng thich ứng với những thực tiễn mới đòi hỏi

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới, Đảng ta đề ra khái niệm giáo dục suốt đời, Văn kiện Đại hội IX của Đảng xác định  mục tiêu  xây dựng “Cả nước trở thành một xã hội học tập nhằm“Tạo điều kiện cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, suốt đời”, Văn kiện Đại hội X nêu rõ thêm “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục”. Điều này phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước, giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân với điều kiện cơ sở vật chất còn  hạn chế.

Từ các Nghị quyết của Đảng, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị 50 – CT/TW ngày 24/8/1999 và Chỉ thị 11/CT/TW ngày 13/4/2007 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, xác định: “Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta” và Chỉ thị 02/2008/CT-TTg ngày 08/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ thể chế hoá về mặt nhà nước, nhằm đưa chủ trương lớn của Đảng vào cuộc sống.

Để xây dựng một xã hội học tập, chúng ta phải tiến hành đổi mới giáo dục cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy lẫn  cách kiểm tra, đánh giá. Việc đề cao phương thức học tập suốt đời đi đôi với đề cao năng lực tự học của mỗi người mà chủ yếu là học cách học, đưa người học từ vị trí thụ động trở thành người chủ động, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Các hình thức giáo dục phải đa dạng và linh hoạt với những phương pháp khoa học, phương tiện hiện đại nhằm biến cả nước trở thành một trường học lớn, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, mọi trình độ đều được học tập, cập nhật kiến thức, công nghệ để tự nâng cao năng lực trí tuệ và khả năng thực hành, đáp ứng tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, chúng ta phải học thường xuyên, học suốt đời, góp phần xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập./.

Tác giả bài viết: Bùi Viết Trung
Nguồn tin: Nội san 2010 – Trường Chính trị

truongchinhtri.edu.vn

Quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong giảng dạy môn học Xây dựng Đảng hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta. Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết xây dựng Đảng của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác – Lê nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để giải quyết đúng đắn những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng Đảng ta, đảm bảo cho Đảng ta luôn thể hiện được bản chất cách mạng và khoa học – thuộc tính căn bản nhất của một Đảng Mác-Lê nin.

Với nhận thức sáng suốt và sâu sắc rằng: Chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công, Hồ Chủ Tịch đã nổ lực phấn đấu để sáng lập Đảng ta và suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Người luôn luôn chăm lo xây dựng Đảng ta lớn mạnh về mọi mặt.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đổi mới tư duy lý luận là một yêu cầu rất quan trọng. Với bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với những nguyên lý xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền Nhà nước đã được cuộc sống kiểm nghiệm và đã trở thành chân lý, Đảng ta khẳng định: Chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Chúng ta không những phải nắm vững những nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí minh, nắm vững những quan điểm cơ bản về xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước mà còn phải tiếp tục phát sáng tạo trong điều kiện lịch sử mới.

Vì vậy, việc nghiên cứu, quán triệt chủ nghĩa Mác – Lê nin và nhất là tư tưởng Hồ Chí Minh một cách thật sự nghiêm túc và sâu sắc là một yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với người giáo viên ở các Trường chính trị nói chung và trường chính trị Nghệ An nói riêng.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo đến công tác xây dựng Đảng, trước lúc vĩnh biệt thế giới này, trong Bản di chúc để lại cho các thế hệ mai sau, điều trước hết Người cũng nói về Đảng. Người căn dặn: “Việc cần làm đầu tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mọi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.

Trong công tác xây dựng Đảng, Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục lập trường và bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng và niềm tin cộng sản, lòng yêu nước thương dân cho cán bộ, đảng viên.

Trong bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, mãi mãi còn in sâu trong tâm hồn các thế hệ đảng viên, Bác viết:

“Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hàng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang…

Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức phẩm chất còn thấp kém.

Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.

Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do chủ nghĩa cá nhân mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm.

Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn đảng về lý tưởng cộng  sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên… Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết “quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”.

Đối với công tác xây dựng Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập rất nhiều nội dung từ việc khẳng định Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và không ngừng phấn đấu nâng cao tính chất giai cấp công nhân của Đảng; và đã là Đảng của giai cấp công nhân thì phải lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, nhưng dân chủ phải đi đôi với kỷ luật. Để giữ vững kỷ luật của Đảng Người căn dặn: cán bộ, đảng viên phải thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình được Người đặc biệt quan tâm, Người coi đó là quy luật phát triển của Đảng, là biện pháp để củng cố và phát triển sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, giữ vững và phát huy sức mạnh của Đảng ta.

Phê bình và sữa chữa, tự phê bình và phê bình được Người đề cập ở rất nhiều bài nói bài viết của mình; Người coi “Tự phê bình và phê bình” cũng như cơm ăn, nước uống, như không khí để thở của người cách mạng. “Ngày nào cũng phải ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn, thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm”.

Nghĩa là tự phê bình phải thường xuyên, chứ không phải chờ khi khai hội mới tự phê bình, không phải khi làm khi không. Bác Hồ cặn dặn chúng ta:

“Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sữa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

“Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ nó mà chúng ta sữa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng”. “Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”.

Để “Tự phê bình và phê bình” có hiệu quả, Người căn dặn rất cụ thể:

“Tự phê bình phải thật thà. Khi tự mình kiểm điểm cũng như khi tự phê bình trước mọi người, có khuyết điểm gì nói hết, không dấu giếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao mà sai lầm. Sai lầm ấy sẽ thế nào. Dùng cách gì mà sữa chữa.

Tự phê bình và sữa chữa khuyết điểm có khi dễ , nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn, vì tự ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh. Tự mình, không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng được kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý. Vì vậy người cách mạng nhất định phải thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm”.

Chúng ta  vì dân, vì nước mà làm cách mạng.Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sữa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình.

Mục đích phê bình là cốt lợi cho công việc chung. Nguyên tắc phê bình là phải nhằm vào tư tưởng và công tác. Tư tưởng không đúng đắn thì công việc ắt sai lầm. Phê bình là cốt đẻ giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang, đúng mực. Phải vạch rõ vì sao có khuyết điểm ấy, nó sẽ có kết quả xấu thế nào, dùng phương pháp gì để sửa chữa. Thuốc phải nhằm đúng bệnh. Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù, không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng”.

Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ. Cấp dưới có quyền phê bình cấp trên. Nhân dân có quyền phê bình cán bộ, phê bình chính quyền, Đảng và đoàn thể. Mọi người có quyền phê bình nhau để cùng nhau tiến bộ.

Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình. Song phê bình phải đường hoàng, chính đáng, quyết không nên thầm thì, thầm thụt “viết thư dấu tên”, như một vài cán bộ ở trung ương đã làm.

Đảng viên và cán bộ, Đảng, các đoàn thể nhân dân và chính quyền cần phải hoan nghênh và khuyến khích nhân dân phê bình. Nếu phê bình sai thì phải giải thích. Phê bình đúng thì phải công khai thừa nhận và sửa chữa.
Dìm phê bình hoặc phớt phê bình  là khinh rẻ ý kiến nhân dân, là trái với dân chủ và rất có hại, cũng như có bệnh mà từ chối uống thuốc.

Phê bình và tự phê bình là công việc thường xuyên. Ngừng phê bình và tự phê bình tức là ngừng tiến bộ, tức là thoái bộ.

Người ta luôn luôn cần không khí để sống. Người cách mạng và đoàn thể cách mạng cần phê bình và tự phê bình thiết tha như người ta cần không khí.

Cách mạng sở dĩ phát triển mãi, tiến bộ mãi, càng gặp nhiều gian khổ càng mạnh mẽ thêm là nhờ có phê bình và tự phê bình.  Cho nên toàn thể đảng viên và cán bộ cần làm gương mẫu, thật thà và tự phê bình để tự giáo dục mình và giáo dục nhân dân, để làm tròn sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ cho chúng ta thấy rõ một số biểu hiện không lành mành của một số cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện tự phê bình :

“Vẫn có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài đảng. Họ không biết rằng: có hoạt động thì khó hoàn toàn tránh khỏi sai lầm. Chúng ta không sợ sai lầm; chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân”.

Tự phê bình và phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng và sự lớn mạnh của Đảng.

Để thực hiện lời dạy của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Người Đảng ta đã ra Nghị quyết TW 6(lần 2) trong đó có nội dung: mở cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng từ 19-5-1999 đến 19-5-2001 và những năm tiếp theo. Năm 2001, Đảng ta đã tổng kết việc thực hiện Nghị quyết TW 6 (lần 2); TW Đảng đã nêu rõ những ưu điểm qua quá trình thực hiện Nghị quyết trên là đã tạo ra được một sự chuyển biến tiến bộ trong sinh hoạt của các tổ chức Đảng đã thể hiện được bầu không khí dân chủ rộng rãi hơn. Tuy nhiên, TW cũng  thẳng thắn nêu rõ mặt còn tồn tại khuyết điểm là kết quả việc thực hiện Nghị quyết TW6( lần 2) chưa đạt được như mong muốn. Những tồn tại trên có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân quan trọng là do nhiều cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng theo tư tưởng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, việc quán triệt nội dung trên trong các bài giảng của môn học Xây dựng Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, đó là một trong những nội dung để xây dựng Đảng ta mãi mãi trong sạch vững mạnh./.

Tác giả : Hồ Sỹ Quế – Trưởng khoa Xây dựng Đảng

truongchinhtrina.gov.vn