Tag Archive | Tin tức

Bác Hồ và nhà triết học Anh Bertrand Russel

– Ngày 7/4/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về tình hình chiến sự trên cả nước và một số vấn đề về ngoại giao.

Bìa sách Hồ chí minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bìa sách Hồ Chí Minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bác lưu ý việc tăng cường công tác vận động ngoai giao nhân dân, cần tuyên truyền về Toà án xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam do Huân tước và triết gia nổi tiếng người Anh (năm đó đã 94 tuổi), một người có cảm tình đặc biệt đối với nhân dân ta, đề xướng để tranh thủ dư luận quốc tế.

Bertrand Russel (1872 – 1970) là một nhà triết học và cũng là một chiến sĩ hoà bình nổi tiếng người Anh. Tháng 7/1964, ông đã dẫn đầu một đoàn đại biểu các tầng lớp nhân dân Anh đến Sứ quan của Mỹ và London phản đối những chính sách xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam và khu vực Đông Dương. Uy tín của ông đã thu hút được nhiều nhân vật tên tuổi tham gia.

Ngay sau khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại, ném bom miền Bắc, Bertrand Russet đã gửi điện đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án hành động chiến tranh của Mỹ.

Ngày 10/8/1964, Bác đã gửi điện cảm ơn, trong đó nêu rõ: “Chúng tôi luôn thiết tha với hoà bình và chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng phương pháp hoà bình. Tôi cảm ơn cụ đã quan tâm đến tình hình nghiêm trọng do Mỹ gây ra trên đất nước chúng tôi và xin gửi cụ lời chào kính trọng”.

Ngày 15/11/1966, theo sáng kiến của Bertran Russel, một Toà án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ, mang tên ông được thành lập và đã tiến hành hai phiên xét xử, lần thứ nhất từ 2 đến 13/5/1967 tại Stockholm (Thuỵ Điển) và lần thứ hai từ 20/11 đến 1/12/1967 tại Copenhaguen (Đan Mạch) gây tiếng vang thu hút ngày càng đông đảo giới tri thức và nhân dân các nước ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Ngày 19/11/1966, Bác đã gửi điện tới Betrand Russel nhấn mạnh “… Toà án sẽ góp phần thức tỉnh lương tri của nhân dân… Kiên quyết đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng vì sự nghiệp chính nghĩa của mình, nhân dân Việt Nam đánh giá cao và hết lòng ủng hộ sáng kiến cao quý của cụ…”.

Sau phiên xét xử đầu tiên, Bác lại gửi điện tới nhà triết học Anh khẳng định: “Sự nghiệp cao cả mà cụ đã đề xướng ra nay bước đầu được thực hiện… Đó là một sự kiện quốc tế rất quan trọng… Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới đều mong đợi sự thành công của Toà án quốc tế”.

Cũng nhân dịp này, Bác còn gửi điện tới Nhà triết học nổi tiếng người Pháp Jean Paul Satre là đồng chủ tịch Toà án này bày tỏ niềm tin tưởng: “… Chắc chắn các dân tộc và tất cả những người yêu chuộng hoà bình và công lý sẽ sát cánh với các vị, nhiệt tình ủng hộ các vị”.

X&N
bee.net.vn

“Chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan”

– Ngày 6/4/1954, báo Nhân Dân đăng bài báo ký tên “C.B” có nhan đề “Nhiệm vụ của chi bộ ở các cơ quan” trong đó Bác đề cập tới vai trò quan trọng của tổ chức chính trị này trong thời điểm cuộc kháng chiến đang ở thời kỳ quyết định, chiến dịch Điện Biên Phủ đang diễn ra quyết liệt nhưng niềm tin chiến thắng đang đòi hỏi tổ chức chi bộ phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng nặng nề của sự nghiệp cách mạng…

Chân dung Hồ Chủ tịch

Chân dung Hồ Chủ Tịch

Bài báo viết: “Chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan. Bởi vậy nhiệm vụ của chi bộ là:

– Làm sao cho toàn thể nhân viên đều cố gắng thực hiện đầy đủ chính sách của Đảng, của Chính phủ và hết lòng phụng sự nhân dân.

– Làm sao cho mọi người thực hành cần, kiệm, liêm, chính.

– Làm sao để tẩy trừ những bệnh quan liêu, hình thức, tham ô, lãng phí, a dua, dối trá, trái luật lệ của Chính phủ, trái kỷ luật lao động. Vạch rõ các khuyết điểm và đề ra cách sửa chữa, không để khuyết điểm nhỏ chồng chất thành khuyết điểm to …

Mà muốn làm được như vậy thì mỗi đảng viên phải xung phong làm guơng mẫu trong mọi việc, đồng thời phải thật thà đoàn kết và giúp đỡ anh em ngoài đảng. Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan. Phải luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp miệng em” ngăn cản quần chúng phê bình. Một đảng viên ở địa vị càng cao thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ

Cần chú ý, để làm những việc trên đây, chi bô phải dùng cách chính trị, giáo dục, giải thích, khai hội bàn bạc với quần chúng… Chứ tuyệt đối không được lạm quyền, mệnh lệnh. Phải nhớ rằng chi bộ là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chứ không phải là một tổ chức hành chính”.

Những nhiệm vụ này, cho dù thời thế đã thay đổi nhiều nhưng nó vẫn là những nguyên lý mang lại uy tín và năng lực lãnh đạo của một tổ chức cách mạng

X&N
bee.net.vn

Dàn xếp xích mích giữa đồng bào lương – giáo

– Ngày 4/4/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đặc phái viên Chính phủ tại Thanh Hoá là Vũ Đình Huỳnh giao nhiệm vụ cùng giám mục Lê Hữu Từ “dàn xếp việc xích mích giữa đồng bào lương – giáo để thực hiện đoàn kết kháng chiến. Vì vậy, cần phải khôn khéo và cẩn thận từ lời nói đến việc làm” và bằng mọi cách để giải toả những việc hiểu lầm dẫn đến có hại cho đoàn kết.

Đây là những nỗ lực thể hiện thiện chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một vị giám mục đứng đầu giáo phận Bùi Chu (Ninh Bình), ngay từ sau khi Cách mạng thành công đã được mời làm  thành viên ban cố vấn của Chính phủ (mà cựu hoàng Bảo Đại, tức công dân Vĩnh Thuỵ làm cố vấn tối cao) nhằm tăng cường đoàn kết các tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc.

Bác với các đại biểu theo Đạo Thiên ChúaBác với các đại biểu theo Đạo Thiên Chúa

Giữa tháng 1/1946, Bác về tận Nho Quan, Ninh Bình gặp và nói chuyện với Giám mục Lê Hữu Từ và hơn 100 vị linh mục. Bác gọi “Đức Cha Từ là bạn của tôi” và nói: “Công giáo hay không công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo phải nên nỗ lực tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà. Nhiệm vụ của toàn thể chúng ta là phải giữ vững nền độc lập… Đức Chúa đã hy sinh vì Nhân loại. Người đã vì loài người mà hy sinh phấn đấu, còn chúng ta thì hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc” (Cứu Quốc 14&15/1/1946).

Khi toàn quốc kháng chiến đã bùng nổ, ngày 23/1/1947, Bác viết thư động viên “Xin Đức Cha cầu nguyện cùng Chúa cho Tổ quốc” ; tiếp đó trong thư đề ngày 1/2/1947, Bác lại viết thư trả lời lá thư của Giám mục, trong đó giải thích một số thắc mắc khi xảy ra một số xích mích ở địa phương: “Trong hiến pháp nước ta đã định rõ quyền tự do tín ngưỡng, kẻ nào vi phạm hiến pháp và khiêu khích bà con Công giáo sẽ bị xử lý.

Đức Cha chưa bao giờ tin rằng Việt Minh bách hại tôn giáo, tôi dám tin chắc như vậy, bởi vì Đức Cha biết rằng Mặt trận Việt Minh tìm cách đoàn kết toàn thể đồng bào lo cho nền độc lập của Tổ quốc, chứ không phải chia rẽ hay chống lại tôn giáo.

Về phần tôi, tôi không bao giờ tin rằng đồng bào Công giáo chống lại Việt Minh, đồng bào Công giáo tha thiết với nền độc lập của Tổ quốc và tự do tín ngưỡng thật đầy đủ; và tôi cũng tin rằng mọi người đều tuân theo khẩu hiệu: Phụng sự Thượng đế và Tổ quốc. Những vụ đụng độ nhỏ giữa đồng bào với nhau là điều đáng tiếc, vì đạo đức giáo hoá chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta…”.

Đến 2/3/1947, trong một bức thư dài tiếp tục phân tích và động viên Giám mục góp phần gải quyết những xích mích ở địa phương, vị Chủ tịch nước viết: “Đường lối mục đích của Chính phủ nhằm 3 mục tiêu sau đây: 1. Giải phóng nhân dân khỏi đói, khỏi rét (khổ sở) và khỏi dốt; 2. Đem lại cho nhân dân tự do, tự do sống, tự do tín ngưỡng; 3.Bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Nếu Cộng sản mà thực hiện những việc trên đây, tôi tin chắc rằng mọi người sẽ chấp nhận thứ Cộng sản đó…”

Bác còn chỉ đạo rất cụ thể chính quyền địa phương giải quyết theo một số yêu cầu của Giám mục. Trong lá thư đề ngày 4/4/1947 gửi Vũ Đình Huỳnh, Bác còn yêu cầu người phái viên của mình: “Bất kỳ thế nào, chú phải lập tức đi gặp cụ Từ và giải thích rõ ràng, làm cho hết sự hiểu lầm đó rồi nói với Cụ viết thư cho tôi”…

Đó là những bằng chứng ghi nhận tấm lòng thiện chí cùng sự kiên trì phấn đấu cho đại đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho dù sau đó, đáng tiếc là vị Giám mục Bùi Chu đã từng bước quay sang hàng ngũ thực dân chống lại kháng chiến (cũng như vị Cố vấn tối cao, cựu hoàng Bảo Đại vậy).

 X&N
bee.net.vn

“Một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”

– Ngày 3/4/1946, trong số các sắc lệnh được ký trong ngày đáng chú ý có bản sắc lệnh số 44 cử nhân sự vào Ban Vận động Trung ương Đời sống mới, trong đó có các vị Đoàn Tâm Đan, Trần Huy Liệu, Vũ Đình Hoè, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Nguyễn Huy Tưởng, Đỗ Đức Dục, Phạm Biểu Tâm…

“Đời sống mới” là một cuộc vận động do Bác khởi xướng nhằm thực hiện một trong những mục tiêu được coi là nhiệm vụ cấp bách được xác định ngay từ sau khi giành được độc lập.

Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời được triệu tập chỉ 1 ngày sau Lễ Tuyên ngôn Độc lập (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ, ngoài việc chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, tổ chức Tổng tuyển cử và soạn thảo Hiến pháp là phải “giáo dục lại nhân dân chúng ta, chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc dũng cảm yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” .

 Tháng 4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp HĐCP tại Phủ chủ tịch.Tháng 4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp HĐCP tại Phủ chủ tịch.

Trong hồi ức của một số nhà hoạt động văn hoá đương thời như Nguyễn Đình Thi, Cù Huy Cận với tư cách là thành viên của Hội Văn hoá Cứu quốc, thành phần tham gia tích cực vào cuộc vận động này, khi đến gặp Bác bày tỏ rằng cái “tôn chỉ, mục đích” của cuộc vận động nếu là “Cần, Kiệm, Liêm , Chính, Chí công vô tư”  thì e rằng câu chữ có phần “cổ lỗ” không hợp với một cuộc vận động cho cái “mới”, thì Cụ Chủ tịch giải thích: Con người ta từ thượng cổ tới nay vẫn lấy cơm để ăn, nước để uống, không khí để thở mà sống và xây đắp văn minh; vậy thì, đến nay có ai chê cơm ăn, nước uống, không khí thở là “cổ lỗ mà từ bỏ hay không?! Chỉ có điều giờ đây câu chữ vẫn của người xưa nhưng phải mang những nội dung mới thích hợp với thời đại mới…

Đến khi chiến tranh đã bùng nổ, cả nước kháng chiến, Bác Hồ vẫn duy trì phong trào “Đời sống mới”. Trong một bài viết đăng trên báo “Cứu Quốc” (2/9/1947) có nhan đề “Cán bộ và Đời sống mới”, Bác viết: “Cán bộ muốn cho xứng đáng phải làm được việc. Muốn làm được việc thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn được dân tin dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới”.

Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc giây leo trời… Hoang phí là một tội ác. Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền.

Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí làm chợ đen, chợ đỏ, thụt két, buôn lậu. Có cần mới kiệm, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính… Chúng ta phải nêu ra khẩu hiệu: Cán bộ phải thực hành Đời sống mới!”.

X&N
bee.net.vn

“Chủ nghĩa đế quốc Pháp dám làm những gì?”

– Cách đây 86 năm, ngày 2/4/1921, tại tư gia của luật sư Phan Văn Trường ở Paris, Nguyễn Ái Quốc đã họp bàn với nhiều Việt kiều đang sống ở Pháp về việc thành lập một tổ chức lấy tên là “Hội Thân Ái”. Sau cuộc họp này, Hội đã được thành lập ngay trong tháng 4/1923 và cử Trần Nam Tiến làm chủ tịch và Lê Đức Long là phó chủ tịch Hội.

Ngày 2/4/1924, Tập san “Inprekorr” của Quốc tế Cộng sản (bản tiếng Pháp) đăng bài “Chủ nghĩa đế quốc Pháp dám làm những gì?” của Nguyễn Ái Quốc. Bài báo kết luận bằng câu: “Chủ nghĩa đế quốc Pháp quả là không hề ngại ngùng nhúng tay vào những tội ác bỉ ổi nhất “ sau khi thuật lại các sự kiện mà thực dân Pháp đồng loã với đế quốc Anh ở Ấn Độ hay đối với những người dân Tripôli đang trốn sang lánh nạn tại Tuynidi vì bị đế quốc Ý lùng bắt .

Ngày 2/4/1956, Bác đón Chủ tịch HĐBT Liên Xô Micôian tại Phủ Chủ tịchNgày 2/4/1956, Bác đón Chủ tịch HĐBT Liên Xô Micôian tại Phủ Chủ tịch

Cũng trong tháng 4/1924 (chưa xác định được ngày), trên Tạp chí “Quốc tế Nông dân” Nguyễn Ái Quốc viết bài “Nông dân Bắc Phi” khảo sát nền văn hoá và đời sống của nông dân ở các nước như Tuynidi, Marốc hay Angiêri… đã trở thành thuộc địa của Pháp và tại đó, “Chế độ thuộc địa Pháp đã phá vỡ tính tập thể của dân bản xứ và thay vào đó bằng sự cướp đoạt trắng trợn… Bọn thực dân rốt cuộc là kẻ chiến thắng và những người dân bản xứ phải ngoan ngoãn phục tùng chúng và nhường đất cho chúng”.

Bài báo cũng đưa ra câu hỏi “Chế độ thuộc địa đem lại lợi ích gì cho những người nông dân nghèo nước Pháp? Không! Chỉ có những tên chính khách bẩn thỉu, những bọn con buôn tham lam và tư bản lớn được lợi mà thôi!”.

Từ thực tiễn tại các thuộc địa Pháp ở Bắc Phi, Nguyễn Ái Quốc liên hệ “Khó có thể nói rằng ai trong số họ: người An Nam ở Đông Dương, người da đen ở Cônggô hay là Xênêgan, hay là người bản xứ ở Bắc Phi, bị bóc lột nhiều hơn?” để rồi đi đến kết luận “Người Bắc Phi sẽ biến khỏi mặt đất nếu giai cấp vô sản giác ngộ không đến cứu họ khỏi nền “văn minh” quái vật”.

Cũng trong khoảng thời gian này, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Đoàn kết giai cấp” thuật lại một sự kiện diễn ra trong phong trào công nhân ở Brazil lúc này đang là thuộc địa của Bồ Đào Nha để đi đến một kết luận quan trọng: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”.

Đây chính là thời gian nở rộ nhiều bài viết chuẩn bị cho Nguyễn Ái Quốc xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân” ra mắt bạn đọc sau đó không lâu (1925) tổng hợp tất cả những bài viết từ 1921-1925 về chủ đề này.

Ngày 2/4/1947, trên chiến khu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dọn đến một địa điểm mới là làng Xảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Bác ở trong một cái lán và tăng gia sản xuất gần gũi với dân bản.

Ngày 2/4/1958, Biên bản phiên họp của Bộ Chính trị nghe báo cáo kết quả Hội nghị văn nghệ sĩ lần thứ nhất ghi những ý kiến đóng góp của Bác, nhấn mạnh: cần phải rút kinh nghiệm công tác giáo dục vì từ trước đến nay, công tác này rất kém. Trong đấu tranh, đánh phải đúng và phải làm triệt để. Quần chúng ủng hộ ta. Phải củng cố công tác chi bộ ở cơ quan”.

Ngày 2/4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp của Hội đồng Chính phủ. Trong phát biểu cuối cùng, Bác nêu lên “tình trạng tham ô lãng phí nhắc từ lâu nhưng lâu nay không ai làm” và phân tích tình trạng đó xuất phát từ việc quản lý, kỷ luật tài chính và tinh thần trách nhiệm kém, kiểm tra đôn đốc kém và cho rằng “bốn cái đó mở cửa cho tham ô lãng phí”. Bác chỉ thị cho các bộ phải khắc phục tình trạng trên bằng cuộc vận động kết hợp với phong trào thi đua sản xuất, kết hợp tuyên truyền giáo dục, kỷ luật, thưởng phạt và tăng cường công tác kiểm tra.

Ngày 2/4/1964, Chủ tịch Hồ Chi Minh tiếp và tổ chức chiêu đãi Thủ tướng Hoàng thân Xuvana Phuma cùng Đoàn đại biểu Chính phủ Liên hiệp Vuơng quốc Lào đang thăm Việt Nam.

Ngày 2/4/1969, Bác làm việc và nghe Bí thư thứ nhất Lê Duẩn báo cáo một số vấn đề về công tác Đảng.

X&N
bee.net.vn

Từ “Người Cùng khổ” đến “Việt Nam độc lập”

– Ngày 1/4/1922, số đầu tiên của tờ “Le Paria” (Người Cùng khổ), “Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa” ra mắt bạn đọc tại Paris. Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí gốc dân các thuộc địa của Pháp như Bắc Phi, Tây Phi, Madagasca, Antilles và Guam…

Nguyễn Ái Quốc cũng là một cây bút tích cực của tờ báo lấy mục tiêu là lên án chủ nghĩa thực dân, giác ngộ nhân dân các nước thuộc địa cũng như vận động nhân dân Pháp đấu tranh chống chế độ thuộc địa thể hiện trong “Lời kêu gọi”: “Le Paria tố cáo những sự lạm quyền về chính trị, lối cai trị độc đoán, tình trạng bị bóc lột về kinh tế mà nhân dân các vùng lãnh thổ hải ngoại đang là nạn nhân.

 Ngày 1/4/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm trường Học sinh miền Nam số 7 TP Hải PhòngNgày 1/4/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm trường Học sinh miền Nam số 7 TP Hải Phòng

Báo kêu gọi họ đoàn kết lại đấu tranh cho tiến bộ về vật chất và tinh thần của chính họ. Báo Le Paria là vũ khí để chiến đấu… Le Paria đã sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu, mục đích của báo chắc chắn sẽ đạt được: đó là giải phóng loài người!”.

Ngay trên trang nhất của số báo ra mắt này đăng thông báo đề tài “Sân khấu Việt Nam” do Nguyễn Ái Quốc sẽ trình bày trong chương trình sinh hoạt của Câu lạc bộ Ngoại ô tháng 4/1922. Từ 1/1924 “Le Paria” được đổi thành “Diễn đàn của vô sản thuộc địa” tồn tại cho đến tháng 4/1926 thì đình bản sau khi đã ra được 38 số. Đây là tờ báo đầu tiên Nguyễn Ái Quốc đã tham gia như một thành viên sáng lập.

Và 20 năm sau, ngày 1/4/1942, báo “Việt Nam Độc lập” xuất bản tại Cao Bằng đăng bài “Bài ca sợi chỉ” gồm 20 câu thơ lục bát của Nguyễn Ái Quốc khích lệ tinh thần yêu nứơc và cổ động đồng bào tham gia Mặt trận Việt Minh: “Hỡi ai con Lạc cháu Hồng/ Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau/ Yêu nhau xin nhớ lời nhau/ Việt Minh hội ấy mau mau phải vào”.

“Việt Nam Độc lập” là tờ báo cũng do nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, vào thời điểm này đã mang tên Hồ Chí Minh, sáng lập ngay sau khi trở về nước trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, số đầu ra ngày 1/8/1941, là cơ quan ngôn luận của Mặt trận Việt Minh mới được thành lập (19/5/1941) với mục tiêu: “Việt Nam độc lập thổi kèn loa/ Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già/ Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta”. Tờ báo tồn tại và tham gia vào quá trình vận động cho đến ngày Các mạng thánh Tám thành công (8/1945).

Có thể nói, đây là hai tờ báo đầu tiên và cuối cùng mà Bác Hồ đã tham gia sáng lập và trực tiếp điều hành trong cuộc đời cách mạng và làm báo cách mạng của mình.

X&N
bee.net.vn

“Đoàn kết không phải ngoài miệng”

– Có 2 sự kiện đáng nhớ diễn ra trong ngày này, ngày 31/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm và kiểm tra cảng Hải quân Bãi Cháy và lên tàu T554. Bác đi thăm trận địa pháo của Đại đội 34 trên đảo Hòn Rồng trong vịnh Hạ Long.

Nói chuyện với các chiến sĩ, Bác động viên phải cố gắng khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, an tâm với nhiệm vụ, tích cực học tập quân sự, chính trị, văn hoá, tăng gia sản xuất để cải thiện sinh hoạt, đời sống, sẵn sàng chiến đấu.

 31-3-1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phóng.jpg (89KB)Ngày 31/3/1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phòng

Cũng trong chuyến đi này, Bác giao trách nhiệm cho lãnh đạo Tổng cục Hậu cần phải nghiên cứu, bảo đảm cung cấp sách báo và nước ngọt cho các chiến sĩ… Đây chính là địa bàn mà 6 năm sau đó, không lực của Mỹ đã ném bom ngay trong ngày đầu tiên khi phát động chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và cũng là nơi lập chiến công đầu bắn rơi và bắt sống phi công Mỹ (5/8/1964).

Cũng trong chuyến đi này, Bác đến thăm các đảo Cát Hải và Cát Bà, thăm hỏi một số cư dân trên đảo, thăm Trường huấn luyện Hải quân và buổi tối nói chuyện với cán bộ các ngành quân, dân, chính, đảng thành phố Hải Phòng.

Bác nhấn mạnh đến những bất cập của một thành phố cảng quan trọng nhất miền Bắc nhưng chưa phát triển đúng với yêu cầu mà mấu chốt là công tác quản lý. Do vậy “phải chống tư tưởng bảo thủ, chống chủ quan tếu, đồng thời chống bi quan…

Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí. Đoàn kết không phải ngoài miệng mà đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ… Kết quả công tác của địa phương là thước đo sự lãnh đạo của Đảng”.

Ngày 31/3/1960, Bác Hồ gửi thư tới Hội nghị Thể dục Thể thao trong đó viết: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khoẻ. Muốn giữ sức khoẻ thì nên thường xuyên tập thể dục, thể thao. Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp.

Câu nói “Yêu xe như con, quý xăng như máu” đã từng trở thành phương châm hành động của các chiến sĩ lái xe trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ mà đến nay vẫn chưa phải đã cũ. Bác đã nói câu đó vào tháng 3/1951, khi đến thăm đoàn xe đầu tiên của quân đội được thành lập trên cơ sở những chiến lợi phẩm trong Chiến dịch Biên giới và biên chế thành những đơn vị cơ giới vận tải.

Nói chuyện với các bộ và chiến sĩ đơn vị, Bác căn dặn: “Các chú đã thu được một số xe của địch, thế là tốt, vì các chú lấy xe của địch diệt địch, “Gậy ông lại đập lưng ông”. Đấy là cái vốn, các chú phải giữ gìn lấy. Vốn này sẽ phát triển nhiều thêm… Các chú phải giữ gìn xe, tiết kiệm xăng để phục vụ bộ đội. Xe xăng là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân. Các chú phải chăm sóc xe, phải yêu xe như con, quý xăng như máu…”.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ với những tù binh Pháp

– Ngày 30/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thả 200 tù binh Bắc Phi đã bị quân ta bắt trên các chiến trường để thể hiện thiện chí của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với dân các nước thuộc địa của Pháp.

Cần nói rằng chính sách đối với tù binh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán. Không đầy một tuần sau khi đưa ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” nhiều binh sĩ của quân đội Pháp đã bị bắt làm tù binh. Là người tha thiết không muốn cuộc chiến tranh bùng nổ, chủ trương hoà hiếu nhưng quyết tâm bảo vệ nền độc lập của mình, nhân ngày Thiên Chúa Giáng sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư “gửi các tù binh Pháp” (24/12/1946). Thư viết :

30-3-1959 HCM thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh.jpg (111KB)Ngày 30/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh

“Các bạn, tôi rất lấy làm phiền lòng vì thấy các người đang ở trong tình trạng như thế này. Tôi coi các người là bạn của tôi. Tôi biết rằng đó không phải là bởi các bạn, nhưng các bạn cũng như chúng tôi, đều là nạn nhân của bọn thực dân Pháp. Bọn này vì quyền lợi ích kỷ riêng của họ, chỉ muốn đi chinh phục nước người khác.

Tôi mong nột ngày gần đây, hai dân tộc Pháp – Việt có thể cùng cộng tác trong vòng hoà bình và thân ái để mưu cầu hạnh phúc chung cho hai dân tộc. Trong khi chờ đợi, các bạn hãy yên lòng và sống dưới sự che chở của chúng tôi, cho đến khi hết chiến tranh, khi đó các bạn sẽ được tự do. Tôi chúc các bạn một ngày Noel vui và một năm tốt đẹp”.

Trong suốt những năm tháng chiến tranh gian khổ và đầy hy sinh Bác cũng thực hiện một chính sách nhân dân đối với các tù binh của quân đôi Pháp, nuôi dưỡng trong hoàn cảnh chính những chiến sĩ của mình còn đói, rét, thiếu thuốc men… Do chính sách binh vận tốt nên nhiều tù binh Pháp và đoàn quân Lê dương cũng như những lính thuộc địa đã tình nguyện đi theo kháng chiến.

Sau Chiến dịch Biên giới (1950) cả 2 viên đại tá chỉ huy cấp binh đoàn là Lepage và Charton đều bị quân ta bắt sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đích thân đến nơi giam giữ để an ủi.

Hồi ức của Đại tá Hoàng Thế Dũng người tháp tùng Bác, kể lại rằng, khi giải thích những khó khăn của tù binh Pháp gặp phải, Bác, trong vai cố vấn chính trị của Mặt trận, nói: “Các ông biết chiến tranh là chiến tranh. Nhưng quân đội Việt Nam chỉ làm chiến tranh trong các trận đánh thôi. Sau trận đánh, đối với quân đội bại trận, quân đội Việt Nam coi binh sĩ của nó như là nhân dân Pháp. Sự thiếu thốn chỉ là vì hoàn cảnh…”.

Và trong một lần thăm tù binh Pháp, Bác đã cởi tấm áo khoác của mình cho một sĩ quan ốm yếu của đối phương mà người nhận không hề biết rằng người nhường tấm áo rét cho mình là người đứng đầu Việt Minh đang tổ chức kháng chiến.

X&N
bee.net.vn

Hồ Chí Minh và viên tướng Mỹ

– Ngày 29/3/1945, Hồ Chí Minh gặp Tướng Mỹ Claire Chennault, Tư lệnh không đoàn số 14 của Mỹ, cũng là người đại diện cao nhất của Đồng Minh ở vùng Hoa Nam, Trung Quốc để thoả thuận sự hợp tác chống phát xít Nhật ở Đông Dương.

Cuộc gặp này được bố trí bởi Trung uý hải quân Charles Fenn, công tác tại cơ quan Cứu trợ mặt đất của Mỹ ở Trung Hoa (AGAS), người đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Hồ Chí Minh cách đó 10 ngày (18/3/1945).

Sau này, trong cuốn sách viết về tiểu sử chính trị của Hồ Chí Minh xuất bản bằng tiếng Anh vào năm 1973 của Ch.Fenn, được trích dẫn lại trong cuốn “Tại sao Việt Nam?”(Why Vietnam?) của Đại tá Archimedes Patti, chi tiết này được đánh giá như một bước ngoặt quan trọng vì sự xác lập được mối quan hệ đồng minh giữa Việt Minh và Hoa Kỳ cũng như xác lập được vị thế “đứng về phía Đồng Minh” trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít của Hồ Chí Minh nói riêng và lực lượng Việt Minh nói chung.

Tháng 8-1945, tạ Hà Nội,Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp ảnh kỷ niệm với đơn vị OSS củ (90KB)Tháng 8/1945, tạ Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp ảnh kỷ niệm với đơn vị OSS.

Ch.Fenn cho biết, ông đã được nghe nói về một người An Nam tên gọi là “Hu Tze-ming” đã giúp cho viên phi công Mỹ tên là trung uý Shaw, nằm trong số 9 viên phi công trên những phi cơ tham gia các cuộc không kích ở vùng sông Sài Gòn bị quân Nhật bắn hạ. Trung uý Shaw được Việt Minh cứu sống và Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Phạm Văn Đồng tổ chức đưa viên phi công này qua Côn Minh (Trung Quốc) để giao lại cho Đồng Minh.

Thực hiện đề nghị của Hồ Chí Minh, Ch.Fenn đã bố trí cuộc gặp này và thuật lại trong hồi ức của mình: “Chelnault rất cảm ơn ông Hồ về việc người phi công được cứu thoát, ông Hồ đáp lại bao giờ ông cũng sung sướng được giúp đỡ người Mỹ và đặc biệt là giúp tướng Chelnault mà ông ta hết mực ca tụng. Họ trò chuyện về đội “Hổ Bay” (biệt danh của các đơn vị tinh nhuệ trong Tập đoàn không quân số 14 của viên tướng này)… Họ bàn chuyện cứu các phi công bị nạn.

Không ai nói gì đến người Pháp hoặc nói chuyện chính trị. Tôi thở phào khi mọi người sắp từ biệt nhau. Lúc đó ông Hồ nói rằng ông muốn xin một vật kỷ niệm nhỏ… và tất cả cái mà ông ta muốn chỉ là một cái ảnh của tướng Chelnault.”

Viên tướng Mỹ vốn rất hãnh diện với diện mạo và những chiến tích của mình đã đưa ra một sấp ảnh khổ 8X10cm và đề nghị Hồ Chí Minh chọn lấy một chiếc. “Ông Hồ cầm lấy một chiếc và hỏi tướng Chelnault có vui lòng cho xin chữ ký? Chelnault liền viết ở dưới tấm ảnh “Bạn chân thành của Anh. Claire L.Chelnault”.

Sau này cả hai viên sĩ quân tình báo của đơn vị OSS (Cơ quan tình báo chiến lược), tiền thân của CIA sau này, là Ch.Fenn và A.Patti, đều đánh giá rằng nhà cách mạng Việt Nam đã khôn khéo sử dụng tấm ảnh có lời đề tặng này để gây thanh thế đối với các nhà lãnh đạo Trung Hoa cũng như lực lượng người Việt đang có mặt tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

 Hơn thế từ cuộc gặp mặt này những mục tiêu của Hồ Chí Minh đã được thực hiện nhằm xác lập vị thế của Việt Minh và những sự hỗ trợ cụ thể (chủ yếu là phương tiện thông tin, vũ khí, tin tức tình báo) giữa hai bên góp phần vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tháng Tám giành độc lập cho dân tộc Việt Nam gắn với cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít Nhật.

Về sau này, trải qua nhiều biến thiên của thời cuộc, kể cả việc Mỹ tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, 2 cựu sĩ quan Mỹ này vẫn giữ được sự trân trọng đối với cá nhân cũng như sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Chelnault đã cảm ơn việc cứu phi công Mỹ và hỏi Việt Minh có sẵn sàng giúp cứu phi công Đồng Minh bị rơi ở Đông Dương không? Hồ Chí Minh trả lời rằng “bổn phận của những người chống phát xít là làm tất cả những việc có thể làm được để giúp đỡ Đồng Minh”.

Trước khi chia tay, viên tướng Mỹ đã tặng Hồ Chí Minh một tấm chân dung của mình kèm theo lời đề tặng “Bạn chân thành của ông”. Sau cuộc gặp này nhiều hoạt động chuẩn bị được thiến hành và tháng 5/1945, Hồ Chí Minh về nước đưa theo 2 báo vụ viên và một số thiết bị liên lạc về chiến khu Việt Bắc.

X&N
bee.net.vn

“Mỗi người làm việc bằng hai”

– Ngày 28/3/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo bế mạc Hội nghị Chính trị đặc biệt. Đây là hội nghị theo quy định của Hiến pháp,  cho phép Chủ tịch nước được triệu tập nhằm bày tỏ ý chí của nhân dân trước những vấn đề trọng đại của đất nước và những ý kiến của Hội nghị sẽ được chuyển cho Quốc hội, Hội đồng Chính phủ và các cơ quan hữu quan khác thảo luận và ra quyết định (điều 67 Hiến pháp 1959).

Hội nghị Chính trị đặc biệt có 325 đại biểu chính thức và hơn 300 đại biểu dự thính đại diện cho các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo và các tầng lớp nhân dân, nhân sĩ trí thức tiêu biểu cùng đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc và Việt kiều, họp tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa khai mạc vào sáng 27/3 và bế mạc vào ngày 28/3/1964.

3-1960 - Hồ Chủ tịch thăm Trường thiếu nhi các dân tộc vùng cao ở Thái Nguyên.jpgTháng 3/1960, Hồ Chủ tịch thăm Trường thiếu nhi các dân tộc vùng cao ở Thái Nguyên

Hội nghị được triệu tập vào thời điểm 19 năm sau Hiệp định Giơnevơ ký kết, miền Bắc đã giải phóng nhưng tổng tuyển cử chưa thực hiện được và cuộc chiến tranh giải phóng đang diễn ra ở miền Nam Việt Nam, đồng thời nguy cơ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc của đế quốc Mỹ có nguy cơ trở thành hiện thực.

Trong báo cáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới… là 10 năm đấu tranh gian khổ và thắng lợi vẻ vang…

Chúng ta vô cùng tự hào với miền Nam anh hùng của dân tộc ta, 10 năm qua ở  miền Nam là 10 năm đấu tranh oanh liệt, 10 năm thắng lợi vẻ vang. Suốt 20 năm trời, đồng bào miền Nam ta đã không ngừng đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc. Hết chống thực dân Pháp, lại chống đế quốc Mỹ, lực lượng yêu nuớc miền Nam đã vượt mọi gian khổ khó khăn, càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng. Thật xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”.

Báo cáo phân tích tình hình trong nước và quốc tế, đưa ra những đường lối cơ bản để thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, góp phần bảo vệ hoà bình thế giới.

Còn trong phát biểu bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và kêu gọi: “Đại biểu cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân, tất cả các vị đại biểu đều nhất trí và quyết tâm cùng với toàn dân nâng cao hơn nữa chí khí cách mạng, ra sức thi đua yêu nước, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên, vượt qua mọi gian khổ, khó khăn giành những thắng lợi rực rỡ hơn nữa…

Tôi đề nghị các cụ và các đồng chí sẽ đem tinh thần nhất trí, ý chí cách mạng và lòng tin tưởng quyết tâm của tất cả chúng ta ở Hội nghị này đến nhân dân cả nước ta, biến thành một sức mạnh vĩ đại, một sức phấn khởi mới, hăng hái tiến lên !”

Từ sau Hội nghị này một phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” đã được phát động và trong lịch sử sự kiện này được coi là một “Hội nghị Diên Hồng” thứ hai.

X&N
bee.net.vn

“Dân cường thì quốc thịnh”

– Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp của Hội đồng Chính phủ bàn về nhiều nội dung quan trọng: tổ chức các bộ như Bộ Xã hội, Bộ Ngoại giao; sắc lệnh Tự do cá nhân, sắc lệnh tạm thời về Tự do báo chí, tình hình tài chính, việc Trung Hoa muốn mua và mượn đường sắt của Việt Nam.

Cùng ngày báo “Cứu Quốc” đăng bài “Sức khoẻ và Thể dục” trong đó Bác Hồ kêu gọi đồng bào cả nước tập thể dục.

Bài báo viết: “Giữ gìn dân chủ nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ.

Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người yêu nước. Việc đó không tốm kém, khó khăn gì. Gái, trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Mỗi ngày, lúc ngủ dậy, tập một ít thể dục. Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khoẻ.

Bộ Giáo dục có Nha thể dục, mục đích là để khuyên và dạy cho đồng bào tập thể dục, đặng giữ gìn và bồi đắp sức khoẻ.

Dân cường thì quốc thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”.

1949 Bác và đội bóng chuyền trong Chiến khuTấm ảnh chụp Bác Hồ với anh em cầu thủ đều là những “quan chức” của Chính phủ năm 1949: (Từ trái sang phải. Hàng ngồi: Nguyễn Lương Bằng , (?), Lê Văn Hiến, Bác Hồ, Nguyễn Khánh Toàn , (?), Trần Công Tường (?)- . Hàng đứng : (?), Trần Duy Hưng, Bùi Công Trừng). Những dấu hỏi (?) là những nhân vật chưa xác định được danh tính, mong bạn đọc nếu biết thì cung cấp, hay sửa lỗi.

Cùng trong ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập trong Bộ quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục, đến nay, ngày 27/3 hàng năm đã trở thành Ngày truyền thống của Ngành Thể dục Thể thao nước ta.

Trong đời sống, Bác Hồ không chỉ tự mình tập tành mà còn vận động và lôi cuốn những người gần gũi mình vào những sinh hoạt thể thao tập thể. Trong sách “Nhật ký của một bộ trưởng”, tác giả là Bộ trưởng Tài chính trong Chính phủ Kháng chiến Lê Văn Hiến thuật lại: “Ngày 12/1-/949… Sau câu chuyện bên đống lửa hồng, Hồ Chủ tịch đưa tất cả anh em ra sân volley ball (bóng chuyền), rồi chia ra hai phe đánh bóng.

Hồ Chủ tịch và 5 anh em một bên, mình và 5 anh em khác một bên. Cuộc đánh bóng này là cuộc đặc biệt. Hồ Chủ tịch với cái quần cụt, có vẻ “cầu sĩ” nhanh nhẹn và hoạt động lắm. Buổi đánh bóng chiều nay thật vui…”.

X&N
bee.net.vn

“Người đảng viên phải thế nào?”

– Ngày 25/3/1951, báo “Nhân Dân” đăng bài viết với đầu đề “Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải thế nào?” ký bút danh C.B. Đây là bài báo được Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mới được bầu vào cương vị Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương, vừa tổ chức thành công tại Chiến khu Việt Bắc.

Sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới (1950), nhu cầu thúc đẩy cuộc kháng chiến và với mối liên hệ với các Đảng cộng sản của các nước xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đảng của những người cộng sản phải ra công khai, sau khi đã “tuyên bố tự giải tán” từ tháng 11/1945.

Đại hội Đảng lần thứ II được triệu tập và dẫn đến quyết định trở lại công khai lãnh đạo toàn diện cuộc kháng chiến và kiến quốc, nhưng với tên gọi mới là “Đảng Lao động Việt Nam”(3/3/1951).

Bác Hồ chụp ảnh vói các cháu thiếu nhi trên Chiến khu Việt BắcBác Hồ chụp ảnh với các cháu thiếu nhi trên Chiến khu Việt Bắc

Quyết định chọn tên này là do đề nghị của Bác và cũng phải trải qua những tranh luận quyết liệt. Bài báo này xác định bản chất và những sắc thái mới của tổ chức cách mạng này trong bối cảnh lịch sử mới, nhằm trả lời câu hỏi: “Thế nào mới xứng đáng là người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam?”.

Bài báo xác định “Đảng Lao động Việt Nam sẽ gồm những công nhân, nông dân và lao động trí óc yêu nước nhất, hăng hái nhất, cách mệnh nhất” và là “những người kiên quyết phụng sự lao động, những người chí công vô tư, làm gương mẫu trong cuộc kháng chiến kiến quốc. Như thế là rõ.

Ai mà không như thế, thì không xứng đáng là người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Nói chung, người đảng viên ở bất kỳ đâu, bất kỳ làm việc gì, bất kỳ địa vị và hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn:  Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải ra sức tham gia công việc kháng chiến; phải gần gũi dân chúng, thương yêu giúp đỡ dân chúng, tổ chức là lãnh đạo dân chúng; phải giữ vững đạo đức cách mệnh là chí công vô tư…

Nói tóm lại, người đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo.

Mà muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ. Đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam”.

Đến nay vừa tròn 60 năm, nhắc lại bài báo như thấy một tấm gương để người nay soi vào!

X&N
bee.net.vn