Tag Archive | Tin tức

Bài nói chuyện tại Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khoá III) (16-4-1962)

Các đồng chí,

Nướcta: ở về xứ nóng, khí hậu tốt,

Rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu.

Nhân dân dũng cảm và cần kiệm,

Các nướcanh em giúp đỡ nhiều.

Thế là chúng ta có đủ cả ba điều kiện thuận lợi – thiên thời, địa lợi và nhân hoà – để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tức là xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân ta.

Việc mà toàn Đảng, toàn dân ta cần phải làm, là ra sức kết hợp và vận dụng thật khéo ba điều kiện đó vào công cuộc xây dựng kinh tế của miền Bắc nước ta.

Đại hội Đảng lần thứ III đã có Nghị quyết chỉ rõ đường lối chung về phát triển kinh tế.

Hội nghị Trung ương lần thứ năm đã có Nghị quyết về phát triển nông nghiệp.

Hội nghị Trung ương lần thứ bảy đã có Nghị quyết về phát triển công nghiệp.

Thế là chúng ta có phương hướng rõ ràng, biện pháp cụ thể.

Ở đây, tôi chỉ tóm tắt nêu vài ý kiến để giúp các đồng chí tham khảo.

Việt Nam ta có câu tục ngữ: “Có thực mới vực được đạo”. Trung Quốc cũng có câu tục ngữ “Dân dĩ thực vi thiên”.

Hai câu ấy tuy đơn giản, nhưng rất đúng lẽ.

Muốn nâng cao đời sống của nhân dân thì trước hết phải giải quyết tốt vấn đề ăn (rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề khác). Muốn giải quyết tốt vấn đề ăn thì phải làm thế nào cho có đầy đủ lương thực. Mà lương thực là do nông nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, phát triển nông nghiệp là việc cực kỳ quan trọng.

Ở các xứ rét, mỗi năm tuyết giá dai dẳng, chỉ trồng trọt được một mùa. Khí hậu nước ta ấm áp cho phép ta quanh năm trồng trọt, thu hoạch bốn mùa. Như thế là thiên thời rất thuận lợi. Vùng đồng bằng miền Bắc tuy ruộng ít, người nhiều; nhưng chúng ta trồng xen, tăng vụ, thì một mẫu đất có thể hoá ra hai. Miền ngược thì có nhiều vùng đất rộng mênh mông và mầu mỡ, tha hồ cho chúng ta vỡ hoang. Như thế là địa lợi rất tốt.

Hiện nay, ruộng đất là của nông dân. Hơn 85% nông dân đã vào hợp tác xã. Hơn 35% hợp tác xã đã thành toàn thôn. ít lâu nữa, hầu hết nông dân sẽ được tổ chức vào hợp tác xã. Mười mấy triệu đồng bào nông dân được tổ chức chặt chẽ, đó là một lực lượng vô cùng to lớn: Đào non cũng trúc, lấp biển cũng bằng. Thế là điều kiện nhân hoà cũng rất thuận lợi.

Điều quan trọng bậc nhất hiện nay để phát triển mạnh nông nghiệp là: Chỉnh đốn các ban quản trị hợp tác xã cho thật tốt. Ban quản trị tốt thì hợp tác xã tốt. Hợp tác xã tốt thì nông nghiệp nhất định phát triển tốt.

Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế.

Nông nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ lương thực cho nhân dân; cung cấp đủ nguyên liệu (như bông, mía, chè…) cho nhà máy, cung cấp đủ nông sản (như lạc, đỗ, đay…) để xuất khẩu đổi lấy máy móc.

Công nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là cho nông dân; cung cấp máy bơm nước, phân hoá học, thuốc trừ sâu… để đẩy mạnh nông nghiệp; và cung cấp dần dần máy cấy, máy bừa cho các hợp tác xã nông nghiệp. Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển. Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khoẻ và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích. Thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân.

Do sự cố gắng của bản thân ta và nhờ sự giúp đỡ tận tình của các nước anh em, nhất là Liên Xô và Trung Quốc, công nghiệp của ta phát triển khá nhanh. Ví dụ: trong tổng giá trị sản lượng công nghiệp và nông nghiệp, năm 1955 công nghiệp chỉ chiếm non 17%. Năm 1961 công nghiệp đã chiếm hơn 43%. Tuy vậy, so với nhu cầu thì công nghiệp vẫn còn non kém. Sức điện, gang thép, máy móc, hoá chất…, chưa đủ cung cấp cho nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Các thứ đã sản xuất được thì chất còn kém, giá còn đắt.

Để đạt mục đích công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức thực hiện đầy đủ Nghị quyết của Hội nghị thứ bảy của Trung ương.

Theo ý tôi, cái thìa khoá của việc phát triển nông nghiệp là chỉnh đốn tốt ban quản trị hợp tác xã. Cái thìa khoá của việc phát triển công nghiệp là ở cơ sở thì đẩy mạnh quản lý xí nghiệp và cán bộ, công nhân phải thạo kỹ thuật; các cơ quan lãnh đạo thì phải đi sâu đi sát, phục vụ sản xuất.

Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta nhất định có những khó khăn. Biến đổi một xã hội cũ thành một xã hội mới, không phải là một chuyện dễ. Nhưng đó là những khó khăn trong sự trưởng thành. Toàn Đảng, toàn dân đồng sức đồng lòng thì khó khăn gì cũng nhất định khắc phục được.

Mặt khác chúng ta có những điều kiện rất thuận lợi về thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Phong trào thi đua yêu nước, nhất là từ năm 1961, đã chứng tỏ điều đó. Công nhân, nông dân và cán bộ ta đã có hàng vạn sáng kiến để khắc phục khó khăn, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Trong phong trào thi đua yêu nước, đã nảy nở ra hàng chục anh hùng lao động, hàng nghìn chiến sĩ thi đua, hàng vạn lao động tiên tiến và hàng trăm tổ và đội lao động xã hội chủ nghĩa.

Đó là những lực lượng đầu tàu cực kỳ hùng mạnh. Với sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp phong trào thi đua yêu nước với cuộc vận động chống tham ô, lãng phí, quan liêu, làm cho mọi người thấm nhuần ý thức làm chủ nước nhà và tinh thần cần kiệm xây dựng Tổ quốc, thì chúng ta nhất định thắng lợi trong việc công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm cơ sở vững mạnh cho sự nghiệp đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Mong các đồng chí nghiên cứu thật kỹ, phổ biến thật khắp và chấp hành thật đúng hai Nghị quyết thứ năm và thứ bảy của Trung ương, biến quyết tâm của Đảng thành quyết tâm của quần chúng. Làm được như vậy thì chúng ta nhất định thắng lợi!

————————

Nói ngày 16-4-1962.
Báo Nhân dân, số 3009, ngày 20-6-1962.
cpv.org.vn

Cần phải ra sức trồng nhiều hoa màu (17-4-1962)

Ngô, khoai, sắn, là những thứ lương thực phụ rất cần thiết cho người và gia súc. Nếu hoa màu thu hoạch kém thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến nhiều việc. Điều đó bà con ai cũng biết.

Nhưng hiện nay các nơi trồng hoa màu còn yếu và chậm. Có nơi trồng ngô khá, thì trồng khoai và sắn chậm. Nơi trồng khoai và sắn khá, thì trồng ngô chậm. Vài ví dụ:

Ngô đã trồng được so với kế hoạch:

Những tỉnh tốt – Bắc Ninh 112%;

Hồng Quảng l09%.

Những tỉnh khá – Thái Bình 96%;

Hà Đông 92%.

Những tỉnh kém – Bắc Giang 40%;

Ninh Bình 47%.

Tính đổ đồng thì kế hoạch trồng ngô mới đạt 47%.

Khoai tính đổ đồng mới đạt hơn 74%.

Những tỉnh tốt – Phú Thọ đạt mức;

Hải Dương đạt mức.

Những tỉnh khá – Nghệ An 98%;

Thái Nguyên 92%.

Những tỉnh kém – Hải Phòng 66%;

Hưng Yên 64%.

Có những tỉnh còn nhiều diện tíchchưa trồng, như:

Thanh Hoá – 6.000 mẫu tây;

Hà Đông – 2.700 mẫu tây;

Vĩnh Phúc – 2.l00 mẫu tây, vân vân.

Sắn tính đổ đồng thì mới trồng được non 45% so với kế hoạch.

Những tỉnh tốt – Hải Dương 205%;

Hà Giang l09%.

Những tỉnh khá – Hà Nam 98%;

Hồng Quảng 93%.

Những tỉnh kém – Thanh Hoá 35%;

Vĩnh Phúc 30%.

Nói tóm lại: so với kế hoạch, khoai mới đạt non 3 phần 4, ngô và sắn đều chưa đạt 5 phần l0. Thời vụ thì không còn bao lâu nữa. Đó là một tình hình nghiêm trọng.

Để tránh tình trạng lương thực gặp khó khăn, các cấp uỷ từ tỉnh đến huyện và xã cần phải cấp tốc đến tận nơi động viên và hướng dẫn đồng bào nông dân và các cơ quan, bộ đội trồng đủ và chăm bón tốt ngô, khoai, sắn, quyết tâm thu một vụ hoa màu thắng lợi.

Xin lỗi – Trong báo Nhân dân (14-3-1962), dưới đầu đề “Làm thế nào cho lạc thêm vui” đúng ra là 1 tấn lạc đổi được l,5 tấn (l tấn rưỡi) gang. Vì để sót một dấu phẩy (,) mà viết sai thành 15 (mười năm) tấn gang. Đó là một thái độ không nghiêm túc, cẩn thận, T.L. xin thật thà tự phê bình và xin lỗi các bạn đọc.

T.L.

———————

Báo Nhân dân, số 2946, ngày 17-4-1962.
cpv.org.vn

Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam (22-4-1962)

Từ ngày thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam (1858) đến ngày Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Lao động Việt Nam) thành lập (1930), nhân dân Việt Nam đã có nhiều cuộc vận động cách mạng chống Pháp nhằm giải phóng dân tộc, nhưng chưa đạt mục đích vì chưa có đường lối chính trị đúng. Nhóm thì chủ trương phải trải qua một thời gian lâu dài để “mở mang dân trí”, rồi mới đánh đuổi được bọn xâm lược. Nhóm thì chủ trương nhờ sự giúp đỡ của Nhật Bản “da vàng máu đỏ” như mình để đánh đuổi bọn thực dân da trắng. Những cuộc vận động đó đều không mang lại kết quả gì.

Giữa lúc đó, tiếng súng đại bác của chiếc tàu “Rạng Đông” báo hiệu một giai đoạn mới trong lịch sử của loài người nói chung và của các dân tộc bị áp bức nói riêng. Dưới sự lãnh đạo thiên tài của Lênin, Cách mạng Tháng Mười đã kết hợp thắng lợi cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở Nga thành một lực lượng vô địch, một phần sáu quả đất đã được giải phóng; đồng thời nó đã giáng một đòn sấm sét vào đầu chủ nghĩa đế quốc và đẩy mạnh làn sóng giải phóng dân tộc ở châu á, châu Phi. Từ đó, nhân dân Việt Nam chúng tôi hướng về nước Nga cách mạng, hướng về Lênin và Đảng Cộng sản (bônsêvích).

Được nghiên cứu sách vở Lênin về vấn đề dân tộc, vấn đề thuộc địa, vấn đề nông dân…, những người cách mạng Việt Nam thấy rõ đó là con đường duy nhất để giải phóng dân tộc mình khỏi ách nô lệ.

Lênin dạy rằng: Muốn đánh đuổi bọn xâm lược, muốn giành lại tự do, độc lập cho dân tộc mình thì cần phải tổ chức một chính đảng của giai cấp công nhân, phải tập hợp mọi lực lượng yêu nước thành lập một mặt trận chống đế quốc, phải dựa vào lực lượng đông đảo nhất và nghèo khổ nhất là nông dân và phải đoàn kết chặt chẽ với giai cấp vô sản thế giới.

Chúng tôi đã cố gắng làm đúng như Lênin dạy. Dưới sự lãnh đạo của Đảng chúng tôi, nhân dân Việt Nam đã thành công trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân. Nhân dân chúng tôi đã thắng lợi trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống bọn xâm lược Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Miền Bắc Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng. Đảng chúng tôi đã đưa lại ruộng đất cho nông dân và đưa nông dân vào con đường hợp tác hóa. Hiện nay, nhân dân Việt Nam đang xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh để thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.

Trên con đường cách mạng lâu dài của mình, nhân dân Việt Nam chúng tôi luôn luôn được sự giúp đỡ tận tình của Đảng của Lênin, của Chính phủ và nhân dân Liên Xô, (và các nước anh em khác trong phe xã hội chủ nghĩa).

Đối với tất cả mọi công tác cách mạng, việc thành lập Đảng và Nhà nước cũng như việc xây dựng kinh tế và vǎn hóa, chúng tôi đều cố gắng làm theo đường lối Lênin đã vạch ra. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là một thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin ở một nước trước đây là thuộc địa. Những kinh nghiệm thành công của cách mạng Việt Nam cũng góp phần ít nhiều vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Nhờ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, nhờ sự hình thành và phát triển của phe xã hội chủ nghĩa, nhờ sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, hiện nay hàng trǎm triệu nhân dân trên thế giới, trước kia là những nô lệ quằn quại

dưới gót sắt của bọn thực dân, nay đã giành được tự do, độc lập. Chủ nghĩa thực dân cũ đang sụp đổ, chủ nghĩa thực dân mang hình thức mới do đế quốc Mỹ đẻ ra nhất định cũng sẽ sụp đổ. Lời dự đoán của Lênin đã thành sự thật.

Lênin có dạy rằng: để xoá bỏ tàn tích chủ nghĩa thực dân, các nước mới giành được độc lập về chính trị cần phải giải quyết vấn đề kinh tế quốc dân của mình không lệ thuộc vào kinh tế đế quốc, thì mới độc lập hoàn toàn và thật sự. Để giúp thực hiện lời dạy đó, Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Liên Xô đang giúp 23 nước á, Phi và Mỹ latinh xây dựng 383 xí nghiệp lớn làm nền tảng cho nền kinh tế quốc dân độc lập của những nước ấy.

Việt Nam có câu tục ngữ “Uống nước phải nhớ đến nguồn”. Nhân dân Việt Nam và nhân dân lao động khắp thế giới đời đời nhớ ơn Lênin vĩ đại, nhớ ơn Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Liên Xô. Nếu còn thọ đến nay để trông thấy sự hùng mạnh của phe xã hội chủ nghĩa và sự tiến bộ của lực lượng hoà bình thế giới, thì chắc Lênin tôn kính của chúng ta sẽ vui lòng lắm thay.

Chủ nghĩa Mác-Lênin muôn nǎm!
Đảng của Lênin vĩ đại muôn nǎm!

———————

Báo Nhân dân, số 2951, ngày 22-4-1962
cpv.org.vn

Chủ nghĩa Lênin vĩ đại muôn nǎm! (22-4-1962)

Từ xưa đến nay, (trừ thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ) lịch sử loài người có thể chia làm hai giai đoạn.

– Giai đoạn 1 – Từ chế độ nô lệ sang chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản; tuy chế độ thay đổi, nhưng chế độ nào cũng là chế độ người bóc lột người.

Từ năm 1917, nhờ Lênin mà lịch sử loài người bước lên một giai đoạn hoàn toàn mới, mở đầu một chế độ không có người bóc lột người.

Lênin và Đảng của Lênin lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười thành công. 200 triệu người xây dựng trên một phần sáu quả đất một chế độ không có giai cấp bóc lột.

Có thể nói rằng những phát súng lớn do chiếc tàu Rạng Đông bắn lúc cách mạng nổ bùng đã và đang vang dội khắp thế giới. Cái tên Rạng Đông thật có ý nghĩa, vì cũng từ đó mà loài người tiếp tục thoát khỏi đêm tối và chào đón rạng đông.

– Giai đoạn 2 – Từ năm 1917 trở đi, lực lượng cộng sản phát triển vô cùng mạnh mẽ. Tháng 8 năm ấy, chỉ có Đảng của Lênin là Đảng Cộng sản với 24 vạn đảng viên. Đầu năm 1919, khi Quốc tế Cộng sản thành lập, cũng mới có 30 đảng tham gia, mà trong số đó lại có mấy đảng thuộc xã hội chủ nghĩa phe tả. Mặc dù bọn đế quốc thẳng tay khủng bố, các đảng cộng sản lần lượt phát triển khắp năm châu:

Năm 1928 – 46 đảng với l triệu 30 vạn đảng viên.

Năm 1935 – 61 đảng với 3 triệu đảng viên.

Năm 1957 – 75 đảng với 33 triệu đảng viên.

Năm 1962 – 88 đảng với 42 triệu 60 vạn đảng viên.

Tính cả những đoàn thanh niên, do các đảng cộng sản lãnh đạo, thì lực lượng cộng sản có ngót l00 triệu người đoàn kết dưới ngọn cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Đồng thời với lực lượng cộng sản, các lực lượng giải phóng dân tộc cũng phát triển rất mạnh, rất nhanh. Cách đây không lâu, hầu hết các nước châu á, châu Phi và châu Mỹ latinh đều là thuộc địa hoặc phụ thuộc của bọn thực dân đế quốc. Ngày nay đại đa số các nước ấy đã độc lập, tự do. Ví dụ như các nước châu Phi mà trước đây bọn đế quốc gọi là “xứ Mọi đen” và đều bị chúng thống trị. Ngày nay 30 nước gồm 80% số nhân dân châu Phi đã đập tan ách nô lệ của bọn thực dân. Các nước như Rôđêdi, ănggôla, v.v.. thì đang vũ trang chiến đấu chống đế quốc.

Hai lực lượng to lớn nói trên đã đẩy lùi lực lượng thực dân đến chỗ gần hoàn toàn sụp đổ.

Mặc dù chủ nghĩa thực dân kiểu Mỹ đang huênh hoang ở Đài Loan, Nam Triều Tiên, Nam Việt Nam… nhưng tiền đồ của nó chẳng khác nào cái pháo thăng thiên: ầm lên một lúc, rồi cũng bị dập tắt. Kinh nghiệm lịch sử đã chứng tỏ rằng không lực lượng ngoại xâm nào thắng được lực lượng của một dân tộc đoàn kết chiến đấu. Cách mạng Cuba thắng đế quốc Mỹ, cách mạng Việt Nam và cách mạng Angiêri thắng đế quốc Pháp càng chứng thực điều đó và càng khuyến khích những dân tộc hiện đang bị Mỹ xâm lược quyết tâm vượt mọi gian khổ chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.

Kết luận: Chủ nghĩa Lênin vĩ đại đã đưa lịch sử loài người lên giai đoạn mới – giai đoạn chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

T.L.

———————

Báo Nhân dân, số 2951, ngày 22-4-1962.
cpv.org.vn

Điện mừng Liên đoàn thanh niên dân chủ thế giới (22-4-1962)

Các bạn thân mến,

Tôi rất sung sướng gửi lời chúc mừng thân ái đến các bạn và toàn thể thanh niên thế giới nhân dịp ngày 24-4, ngày kỷ niệm Hội nghị Bǎngđung và ngày thanh niên thế giới đấu tranh để thanh toán chủ nghĩa thực dân và đòi chung sống hoà bình.

Từ sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, được sự ủng hộ của tất cả mọi người yêu chuộng công lý và hoà bình trên thế giới, cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa thực dân đã giành được những thắng lợi có tính chất quyết định.

Ở khắp mọi nơi, thanh niên anh dũng đã góp phần vô cùng quý báu vào cuộc chiến đấu chung.

Chúc các bạn thu được nhiều thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh để thanh toán ngay chủ nghĩa thực dân, giành độc lập hoàn toàn cho các dân tộc, đòi tổng giải trừ quân bị và chung sống hoà bình, bảo vệ hoà bình thế giới.

Thân ái
Bác
HỒ CHÍ MINH

———————–

Báo Nhân dân, số 2951, ngày 22-4-1962
cpv.org.vn

Lời khai mạc Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III (38) (4-5-1962)

Các đồng chí,

Bác rất sung sướng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ nhiệt liệt hoan nghênh các đại biểu ưu tú trong phong trào thi đua yêu nước của chúng ta.

Bác sung sướng báo cho Đại hội biết rằng: trong số anh hùng lao động Việt Nam, chúng ta có thêm hai vị anh hùng là đồng chí Gagarin và đồng chí Titốp.

Chúng ta nhiệt liệt chào mừng các đồng chí đại biểu các nước anh em, đại biểu Công hội Liên Xô và Công hội Trung Quốc và các đồng chí chuyên gia đã đến dự Đại hội này.

Có nhiều chiến sĩ thi đua xứng đáng được tham gia Đại hội này, nhưng không đến dự được, Bác thân ái gửi lời hỏi thăm các chiến sĩ đó.

Các đồng chí,

Từ tháng 6 năm 1948, trong lúc toàn dân ta đang anh dũng kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta phát động phong trào thi đua yêu nước và đã được đồng bào hăng hái ủng hộ. Đến nay là 14 năm, trong thời gian đó đã có những biến đổi và những tiến bộ rất to lớn. Vài ví dụ:

– 14 năm trước đây, phần lớn nước ta đang bị giặc xâm chiếm. Về công nghiệp chúng ta chỉ có một số máy cũ kỹ, lẻn lút trong rừng, để làm các thứ vũ khí thô sơ. Số nhiều ruộng đất là của địa chủ. Nền giáo dục của ta còn non yếu…

– Ngày nay, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng. Chúng ta có hàng trăm nhà máy hiện đại, do giai cấp công nhân làm chủ. Ruộng đất là của nông dân và 85% đồng bào nông dân đã đoàn kết thành những đại gia đình hợp tác xã, đang đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp. 95% nhân dân ta xoá xong nạn mù chữ, số trường học và số học trò đã tăng gấp mười mấy lần so với trước ngày Cách mạng Tháng Tám, văn hoá khoa học phát triển nhanh chóng. Đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ta ở miền Bắc đều tiến bộ rõ rệt.

Nhìn lại những kết quả tốt đẹp đó, nhân dân ta có quyền tự hào rằng sự hy sinh phấn đấu của mình đã thu được thắng lợi lớn. Đồng thời chúng ta hết lòng biết ơn sự giúp đỡ tận tình của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác trong phe ta. Tuy vậy, chúng ta quyết không vì những thắng lợi đó mà tự mãn.

Hiện nay chúng ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy. Muốn đạt mục đích đó, thì nhân dân ta phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm; mỗi người phải cố gắng trở thành lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, anh hùng lao động, mỗi người phải nâng cao tinh thần làm chủ nước nhà.

Về phong trào thi đua yêu nước, chúng ta cũng tiến bộ khá nhiều.

Tại Đại hội liên hoan lần thứ II (1958)(39) có 456 đại biểu và tất cả có 41.130 chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến. Đại hội lần này có hơn 1.000 đại biểu và tất cả có 288.144 chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến. Một điều mới đáng nêu lên là phong trào thi đua đã từ từng người tiến dần lên từng tập thể. Hiện nay đã có hơn 1 vạn tổ và đội tiên tiến và 563 tổ và đội đã ghi tên thi đua để giành lấy danh hiệu lao động xã hội chủ nghĩa. Đó là một bước tiến rất tốt.

Ngoài lời khen ngợi chung, Bác muốn khen ngợi riêng chị em phụ nữ đã tiến bộ khá nhiều. ở Đại hội này có hơn 160 cô đại biểu, trong số đó có 80 đại biểu nông nghiệp và 28 đại biểu thuộc đồng bào miền ngược. Trong các tổ và đội tiên tiến gồm có những tổ và đội phụ nữ, ví dụ đội C.9 toàn là các cháu gái thanh niên. Tổ in bao xi măng Hải Phòng thì có những thành tích đặc biệt như đã bớt từ 6 máy xuống 2 máy, từ 34 người bớt còn 13 người, mà năng suất thì từ 12.000 bao tăng lên 32.000 bao. Điều đáng khen nữa là chị em rất đoàn kết thương yêu nhau. Khi được thưởng hơn 15% về tăng năng suất chị em đã tình nguyện chỉ lĩnh dưới 15%, còn lại để giúp tích luỹ cho Nhà nước. Phụ trách tổ này là cô Trần Thị Hảo liên tục 4 năm chiến sĩ thi đua.

Các đồng chí,

Các đồng chí đã đưa hết tinh thần sáng tạo và ý chí quật cường, vượt mọi khó khăn để không ngừng nâng cao năng suất lao động, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước – thế là các đồng chí đã trở thành người xung phong của nhân dân ta trong phong trào thi đua yêu nước, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong phong trào thi đua, chúng ta cần phải làm đúng khẩu hiệu nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Nâng cao không ngừng năng suất lao động, kết quả sẽ nhiều và nhanh. Nhưng nếu sản xuất ra nhiều mà phẩm chất kém, thì sẽ gây nhiều lãng phí cho Nhà nước, cho nhân dân. Vì vậy, khi sản xuất phải bảo đảm chất lượng cho tốt.

Nếu sản xuất ra nhiều và tốt, nhưng giá đắt quá, ít người mua được, thì hàng hoá sẽ ứ đọng, sản xuất sẽ bế tắc và không nâng cao được đời sống của nhân dân. Vì vậy, sản xuất đã phải tốt lại phải rẻ. Muốn đạt mục đích đó thì phải ra sức tiết kiệm. Tiết kiệm tiền vốn, tiết kiệm sức người, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm lương thực, tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu. Nếu mỗi năm chúng ta tiết kiệm được từ 5 đến 10%, thì chúng ta sẽ có thêm khoảng 100 triệu đồng để xây dựng thêm nhà máy, để sản xuất thêm, để nâng cao thêm đời sống của nhân dân.

Trong phong trào thi đua, rất nhiều sáng kiến nảy nở. Chỉ trong năm 1961 ở các nhà máy, hầm mỏ, công trường, hợp tác xã, nhà thương, trường học, các đơn vị bộ đội, v.v., tất cả có hơn 13 vạn sáng kiến. Điều đó chứng tỏ rằng nhân dân lao động ta rất thông minh. Cán bộ và cơ quan phụ trách cần phải tổng kết phân tích, chọn lọc và phổ biến rộng khắp những sáng kiến đó thì kết quả sẽ to lớn gấp bội.

Mấy điểm quan trọng nữa: kỷ luật lao động phải thật nghiêm, tinh thần cảnh giác phải thật cao. Trong khi ra sức sản xuất, nhân dân ta phải luôn luôn sẵn sàng đập tan âm mưu địch phá hoại thành quả lao động của chúng ta. Quân đội, công an, dân quân cần tiếp tục phát huy truyền thống chiến đấu dũng cảm, củng cố quốc phòng, bảo vệ trật tự, an ninh.

Chúng ta ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời từng giờ từng ngày chúng ta phải nhớ đến đồng bào ta ở miền Nam đang đau khổ dưới chế độ phát xít dã man của Mỹ – Diệm và đang đấu tranh vô cùng anh dũng. Mỗi một tấn than, mỗi một cái máy, mỗi một tạ lương thực, v.v., mà chúng ta tăng gia thêm và tiết kiệm được đều giúp vào tốc độ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đều là ủng hộ cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam, đều là góp phần thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Công việc của chúng ta ngày càng phát triển, chúng ta phải khắc phục nhiều khó khăn. Nhưng nhân dân ta cần cù và dũng cảm. Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến và ngày nay xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta luôn luôn tin tưởng ở Đảng, đoàn kết khăng khít với Đảng ta. Nước ta có rừng vàng biển bạc, của cải tiềm tàng rất nhiều. Ta lại có các nước anh em giúp đỡ. Đó là những điều kiện căn bản vô cùng thuận lợi để phát triển, cho nên tương lai của ta rất tươi sáng, vẻ vang.

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần phải học tập Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác. Ví dụ: khi chúng ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì nhân dân Liên Xô

anh em – dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản – đang hăng hái thi đua thực hiện Nghị quyết của Đại hội lần thứ XXII của Đảng, xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Hiện nay có hơn 20 triệu người (tức là độ 10 người dân kể cả gái, trai, già, trẻ thì có 1 người) đang ra sức thi đua để giành lấy danh hiệu vẻ vang là “chiến sĩ thi đua lao động cộng sản chủ nghĩa”. Chúng ta phải cố gắng học theo nhân dân Liên Xô. Miền Bắc nước ta có 16 triệu người. Nếu chúng ta có 1 triệu 60 vạn người ra sức thi đua để giành lấy danh hiệu “chiến sĩ thi đua lao động xã hội chủ nghĩa”, thì khoảng 20 năm nữa, khi Liên Xô đã thắng lợi hoàn thành chủ nghĩa cộng sản, chúng ta cũng sẽ thắng lợi hoàn thành chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng, toàn dân ta phải cố gắng làm cho được như vậy.

Anh hùng, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến phải làm đầu tàu lôi cuốn người khác cùng tiến bộ; đồng thời phải luôn luôn khiêm tốn, luôn luôn cố gắng học hỏi thêm để tiến bộ không ngừng. Đảng viên, đoàn viên thanh niên và cán bộ công đoàn phải làm gương mẫu trong mọi công việc. Như vậy thì đội ngũ lao động to lớn của chúng ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn, đánh thắng sự bần cùng và lạc hậu, xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân ta ngày thêm sung sướng, vui tươi. Miền Bắc ta lớn mạnh càng làm cho đồng bào ta ở miền Nam thêm hăng hái đấu tranh, Tổ quốc ta mau đến ngày thống nhất, Nam Bắc mau sum họp một nhà.

Chúc các đại biểu, các chiến sĩ thi đua mạnh khoẻ và luôn luôn tiến bộ.

——————————–

Phát biểu ngày 4-5-1962. Báo Nhân dân, số 2.963, ngày 5-5-1962.

(38) Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III: Họp từ ngày 4 đến ngày 6-5-1962, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội gồm 1.060 đại biểu anh hùng và chiến sĩ thi đua thuộc các ngành, các giới, các địa phương và đại diện của nhiều đơn vị tiên tiến.
Đại hội đã biểu dương thành tích thi đua của lao động toàn quốc từ Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua lần thứ II (1958) tới nǎm 1962.
Đại hội đã tuyên dương các đơn vị lá cờ đầu trong phong trào thi đua là Nhà máy cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng), Hợp tác xã nông nghiệp Đại Phong (Quảng Bình), Hợp tác xã thủ công nghiệp Thành Công (Thanh Hoá), Trường phổ thông cấp II Bắc Lý (Nam Hà) và phong trào Ba nhất trong quân đội. Tại Đại hội, 45 đại biểu xuất sắc được tuyên dương là Anh hùng lao động. Tr. 555.
(39) Đại hội liên hoan anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ II: Họp từ ngày 7 đến ngày 8-7-1958, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội gồm
446 đại biểu anh hùng và chiến sĩ thi đua của các ngành và 75 đại biểu các đơn vị tiên tiến toàn miền Bắc.
Đại hội đã nhiệt liệt biểu dương những thành tích thi đua của lao động toàn quốc trong việc thực hiện kế hoạch 3 nǎm khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh (1955-1958).
Tại Đại hội, 26 đại biểu thuộc các ngành, các giới đã được tuyên dương Anh hùng lao động. Tr.556.

cpv.org.vn

Nói chuyện trong buổi lễ bế mạc Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III (6-5-1962)

Các đồng chí,

Đại hội này đã tiến hành và kết thúc trong bầu không khí đoàn kết, vui vẻ và phấn khởi. Đại hội đã tổng kết những kinh nghiệm và những thành tích trong những nǎm qua và đã chỉ rõ phương hướng tiến tới để thi đua giành những thắng lợi to lớn hơn nữa từ đây về sau.

Quyết tâm nêu trong bức thư của Đại hội phải được phổ biến thành quyết tâm của toàn thể nhân dân lao động miền Bắc nước ta.

Ai là người phụ trách thực hiện việc phổ biến?

Mỗi anh hùng lao động và chiến sĩ thi đua,

Mỗi đảng viên, đoàn viên thanh niên và cán bộ công đoàn,

Mỗi cán bộ phụ trách các ngành, các nghề, các địa phương, đều là người có trách nhiệm phổ biến quyết tâm đó. Như vậy, thì con số Bác nói hôm nọ, tức là 1 triệu 60 vạn người thi đua giành danh hiệu “chiến sĩ thi đua lao động xã hội chủ nghĩa” nhất định sẽ đạt được và kế hoạch Nhà nước nǎm nay cũng như kế hoạch 5 nǎm nhất định sẽ hoàn thành và hoàn thành vượt mức.

Trong Đại hội này, chưa nêu rõ vai trò quan trọng của những cán bộ làm báo và cán bộ nghệ thuật trong việc phục vụ phong trào thi đua yêu nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các báo chí phải khuyến khích những người tốt, việc tốt và thẳng thắn phê

bình những điều xấu như: lười biếng, tham ô, lãng phí, quan liêu. Đó là một việc rất cần thiết.

Trong phong trào thi đua yêu nước của đồng bào miền Bắc và cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam có những người, những việc vô cùng anh dũng, oanh liệt. Đó là những “đề tài” cực kỳ phong phú để cổ vũ đồng bào ta và để giáo dục con cháu ta.

Miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn những người, những việc ấy, bằng vǎn, bằng thơ, bằng vẽ và bằng các nghệ thuật khác, v.v… Đó cũng là một trách nhiệm của các cán bộ vǎn nghệ góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Một lần nữa, chúng ta cảm ơn các đồng chí anh hùng Gagarin và Titốp, cảm ơn Công hội Liên Xô và Công hội Trung Quốc, các đại biểu các nước anh em, các bạn quốc tế. Đại hội cảm ơn đồng bào các nơi đã gửi điện mừng Đại hội.

Cuối cùng, nhờ các đại biểu chuyển lời chào thân ái của Trung ương Đảng, của Quốc hội, của Chính phủ và của Bác đến đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ở các đơn vị, các địa phương.

Cảm ơn các đồng chí phục vụ đã tận tụy làm việc.

Chúng ta hãy hǎng hái thi đua, chuẩn bị Đại hội lần thứ IV với nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

———————-

Nói ngày 6-5-1962. Báo Nhân dân, số 2.965, ngày 7-5-1962.
cpv.org.vn

Bác Hồ kể chuyện Tây du ký

 – Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn đánh lớn, đánh tập trung. Thấy cán bộ chưa nhận thức đầy đủ tình hình, nhiệm vụ. Bộ Chính trị quyết định triệu tập cán bộ, mở lớp học ngắn ngày. Nội dung lớp học là “Quán triệt tình hình, nhiệm vụ, chống tham ô lãng phí, quan liêu, quân phiệt”.

Học viên là cán bộ cao cấp các ngành quân, dân, chính, đảng trên mọi chiến trường trong cả nước. Lớp học được tổ chức giữa khu rừng đại ngàn khá đẹp, cạnh cơ quan Trung ương, gần nơi Bác ở và làm việc.

Ông Lê Văn Lương, Chánh văn phòng Trung ương Đảng được Bác chỉ định phụ trách lớp. Bác trực tiếp biên soạn giáo án, làm giáo viên hướng dẫn học tập, kiểm điểm. Công việc dạy và học được tiến hành rất thuận lợi, kết quả khả quan, Bác rất vui. Hôm làm kiểm thảo Bác nói:

– Các chú học đã thông lý thuyết, tranh luận cũng đã nhiều. Vận dụng lý luận đã học vào kiểm thảo là rất cần thiết. Bác bận không có thời gian xem hết lý luận của các chú. Tình hình, nhiệm vụ, các chú đã quán triệt, không cần thiết phải trình bày. Các chú đi vào kiểm điểm cá nhân, viết cụ thể xem mình tham ô, lãng phí bao nhiêu? Tất cả quy thành tiền. Quan liêu, quân phiệt bao nhiêu lần? Hành động thô bạo với nhân dân, với chiến sĩ bao nhiêu lần? Bao nhiêu người? Vậy thôi, không cần dài dòng.

Hôm trả bài, mọi người vừa có mặt đông đủ ở hội trường thì Bác bước vào. Nét mặt của Bác hôm đó không được vui. Cán bộ trực ban hô “Nghiêm!” rồi báo cáo Bác. Bác vừa ra hiệu cho mọi người ngồi xuống thì một đồng chí đứng lên hô to:

– Đả đảo tham ô, lãng phí, quan liêu, quân phiệt!

Bác giơ cao tập kiểm thảo của học viên lên nói:

– Lý thuyết! Lý thuyết! Thực tế đây này. Nhiều đồng chí sợ địch, ngại gian khổ, ngại hy sinh, ngại kháng chiến lâu dài. Nhiều đồng chí thiếu trách nhiệm để kẻ địch đốt hàng trăm tấn gạo, đổ xuống sông hàng trăm tấn muối, phá hủy hàng chục tấn súng đạn. Có đồng chí tham ô hàng vạn, hàng triệu đồng…, đánh đập, chửi mắng chiến sĩ, nhân dân.

Bác phân tích tác hại của hành động, làm ảnh hưởng xấu tới chính sách đại đoàn kết dân tộc, tới chính sách mặt trận, tới tài sản của nhân dân, ảnh hưởng tới thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Cả hội trường im phăng phắc nghe Bác nói.

Trưa hôm đó, một trưa hè oi nồng, vì không ngủ được nên một số anh em rủ nhau ra suối tắm. Giữa rừng sâu nên anh em tha hồ vừa thoải mái ngâm mình dưới dòng nước, vừa trao đổi về bài tổng kết của Bác. Ngay lúc đó, Bác từ trên nhà sàn bước xuống. Ai cũng đoán Bác đi sang khu Trung ương.

Người thoăn thoắt đi về phía anh em đang tắm. Mọi người hoảng, chưa biết xử trí ra sao, thì một cán bộ nhanh nhẹn mặc quần áo lên hướng dẫn Bác đi lối khác. Bác gạt đi:

– Bác cùng tắm với các chú cho vui!

Thế là Bác cháu cùng ngâm mình xuống dòng nước trong mát. Đàn cá con luồn lách trong khe đá, lượn lờ chung quanh mọi người. Cán bộ Lương Tuấn Khang cọ lưng cho Bác, xúc động thưa với Bác:

– Thưa Bác, Bác gầy quá!

Bác im lặng một chút, rồi hỏi đồng chí Khang:

– Kiểm thảo vừa rồi, chú có khuyết điểm gì không?

– Thưa Bác có chứ ạ! Cháu tham ô một vạn tư.

– Chú một vạn tư, chú kia một vạn tư, chú này một vạn tư thì Bác làm sao béo được!

Anh em tắm quanh đó lặng người, chú ý theo dõi câu chuyện của hai Bác cháu.

Cán bộ Khang lại hỏi Bác:

– Thưa Bác, không phải cháu tham ô, mà vì cháu đã có áo mưa, quân nhu không biết lại phát cho cháu một chiếc nữa. Cháu lãnh, rồi đem cho đồng chí khác chưa có (chiếc áo mưa hồi đó trị giá một vạn tư). Thưa Bác, như vậy có phải khuyết điểm không ạ?

Bác quay lại:

– Thôi chú cọ lưng cho Bác sạch rồi. Ta đổi công cho nhau.

Bác cọ lưng cho  Khang, rồi nói:

– Phải xem xét động cơ. Chú cho anh em không có sự đòi hỏi gì, cho với tinh thần vô tư thì việc cho của chú là tốt. Còn, chú cho bạn với động cơ có đi, có lại hoặc có điều kiện nào đó, thì việc cho áo mưa của chú cần phải xem xét.

Thời hạn lớp học sắp kết thúc. Hôm đó, Bác giải đáp để hôm sau các học viên trở về đơn vị. Bác yêu cầu anh em kể Tây du ký cho mọi người nghe… Câu chuyện cần phù hợp với nội dung bài học.

eBác Hồ với các chiến sĩ tại khu di tích Đền Hùng năm 1954. Ảnh TL.

Ông Tôn Quang Phiệt được Bác chỉ định kể đầu tiên. Suy nghĩ một hồi, ông Phiệt kể cho anh em nghe đoạn Tôn Hành Giả ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Một lần Tôn đánh chết ông cụ, một lần đánh chết bà cụ, một lần đánh chết cô gái, nên bị Tam Tạng đuổi về Hoa Quả Sơn.

Ông Tôn Quang Phiệt tóm tắt:

– Tôn Hành Giả biết phân biệt kẻ thù. Đã phân biệt chính xác kẻ thù thì tấn công quyết liệt, gặp bất cứ trở ngại gì cũng vượt qua.

Bác chỉ định một người khác kể. Cán bộ đó kể đoạn Bát Giới xin ở lại làm con rể phú ông. Cán bộ đó kết luận:

– Làm cách mạng là phải triệt để đừng như Bát Giới ham phú quý, giàu sang giữa đường định bỏ dở sự nghiệp.

Một cán bộ nữa xin Bác cho phép kể đoạn Đại Thánh đại náo thiên cung. Cán bộ kết luận:

– Đã là người anh hùng nắm chắc chân lý, thì ông trời cũng không sợ.

Bác cười khen:

– Các chú nhớ cả đấy. Chuyện nào cũng vậy, đều có thiện, có ác, có chính, có tà. Chuyện nào cũng dạy người ta ăn ở nhân nghĩa, bỏ điều ác, làm điều thiện. Có gian khổ mới có vinh quang thắng lợi. Thầy trò Đường Tam Tạng từ Đại Đường sang tận Tây Trúc lấy kinh, trải qua không biết bao nhiêu gian khổ, thử thách, gặp bao nhiêu yêu quái mới thỉnh được kinh đem về cho vua Đường. Thầy trò Đường Tăng đã vượt qua ba điều cấm: Một là không ham tiền tài, hai là không ham địa vị, ba là không ham gái đẹp.

Khi gặp Phật tổ Như Lai, lấy được kinh, Đại Thánh thưa với sư phụ: “Thưa thầy, chúng ta đã thành chính quả”. Tam Tạng nói với Đại Thánh: “Chưa đâu, đây mới là thành công bước đầu của thầy trò ta, đạt đến chính quả còn gian khổ lắm”.

Cuộc kháng chiến của chúng ta mới chỉ là những bước giống như những bước đi đầu tiên trên chặng đường thầy trò Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh mà thôi. Kháng chiến thành công, nước nhà độc lập cũng mới chỉ là bước đầu. Bác cháu ta còn phải kiến quốc làm cho dân giàu, nước mạnh, nhân dân hạnh phúc, ấm no. Điều đó mới thực vất vả, khó khăn.

Bác cháu ta hiện nay mới chỉ bước những bước đầu tiên trên con đường kháng chiến, mà đã có nhiều đồng chí ham tiền tài, địa vị, gái đẹp thì kháng chiến ta làm sao thành công được. Xưa cũng như nay, muốn thành chính quả thì phải tránh ba điều răn. Muốn kháng chiến thắng lợi phải tránh ba điều cấm. Vì cuộc kháng chiến của Bác cháu ta còn phải trải qua muôn vàn gian khổ, có nỗ lực vượt qua được thì mới thành công, thắng lợi. Kết luận của Bác có thế thôi.

Sau đó, Bác cho phép mọi người nêu thắc mắc để Bác giải đáp. Đồng chí Nam Long đứng lên xin phép Bác được nêu thắc mắc:

– Thưa Bác, Bác nói trong con người ta có ông Thiện, ông Ác. Ông Thiện bảo ta làm những điều tốt lành. Ông Ác xúi ta làm những việc độc ác. Thưa Bác, trong Bác có ông Thiện, ông Ác không ạ?

Bác cười tủm tỉm:

– Có chứ! Bác cũng như mọi người đều có ông Thiện ông Ác. Từ nơi Bác ở tới lớp học phải qua một cái đèo cao. Leo tới đỉnh đèo thì Bác đã mệt. Phong cảnh tuyệt đẹp, trời trong xanh, mây bay vượn hót, chim kêu, nước chảy.

Ông Ác nói với Bác: “Dừng chân nghỉ một chút cho đỡ mệt, ngắm mây trôi, nước chảy, nghe vượn hót chim kêu, hút một điếu thuốc cho sảng khoái rồi lại lên đường. Kháng chiến còn lâu dài gian khổ, nghỉ một chút có sao đâu”.

Ông Thiện lại nói với Bác: “Không được! Hàng trăm người đang chờ đợi Bác. Chỉ cần chậm một phút là lãng phí hàng trăm phút. Mình là giảng viên, lại càng cần phải gương mẫu”.

Ông Ác nói cũng phải – mệt ngồi nghỉ một chút là lẽ thường tình, có chi phương hại. Ông Thiện nói cũng đúng – bắt hàng trăm con người chờ đợi, hao phí thời gian, đành tâm sao được.

Biết nghe ai bây giờ? Nghe ai và không nghe ai? Khó thật đấy! Song, cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình. Suy nghĩ một hồi, Bác quyết định nghe theo ông Thiện. Bác nhét điếu thuốc lá vào bao, cất bật lửa vào túi. Bác đi tới lớp học.

Đó, ai dạy mình điều phải. Ai xui mình làm điều sai. Cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình.

Mỗi khi gặp khó khăn, các học viên lớp học ngày ấy lại nhớ tới lời dạy của Bác qua các câu chuyện trong Tây du ký.

Trần Kỳ – Tap chí Hồn Việt
bee.net.vn

Lời tuyên cáo quốc dân của Chính phủ lâm thời

 – Ngay sau khi Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trên cả nước, mọi công việc được gấp rút chuẩn bị để Chính phủ mới ra mắt nhân dân. Trước ngày 27/8/1945, Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam – đã được Quốc dân đại hội Tân Trào giao cho nhiệm vụ lãnh đạo toàn thể nhân dân như một Chính phủ lâm thời – đã ra tuyên cáo khẳng định đây là Chính phủ của toàn dân, kêu gọi nhân dân ủng hộ Chính phủ, xây dựng Tổ quốc.

Lời tuyên cáo quốc dân của Chính phủ lâm thời (1)

Hỡi quốc dân đồng bào !

Toàn quốc đại biểu đại hội họp ngày 16 – 17/8/1945 đã cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức là Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam để lĩnh đạo nhân dân tranh đấu giành quyền độc lập.

Sau ngày lịch sử 19/8/1945, chính quyền toàn quốc đã vào trong tay Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam. Toàn dân tộc đúc thành một khối, ủng hộ chính quyền mới. Thể lòng dân, nhà vua cũng vui lòng thoái vị, nhường quyền cho Chính phủ nhân dân lâm thời.

Phong trào cứu quốc cao vọt. Các tầng lớp nhân dân sôi nổi một bầu nhiệt huyết. Ai nấy đều sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi của Chính phủ nhân dân lâm thời, sẵn sàng đứng dậy chống ngoại xâm, phá âm mưu khôi phục nền thống trị của Pháp.

Chính phủ lâm thời VNDCCHChính phủ lâm thời nước VNDCCH

Nhiệm vụ của Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam hết sức nặng nề. Làm sao cho Chính phủ lâm thời tiêu biểu được Mặt trận dân tộc thống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ. Bởi vậy, tuân theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã quyết định tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó cho.

Chính phủ lâm thời không phải là Chính phủ riêng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) như có người đã lầm tưởng. Cũng không phải là một chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của các chính đảng. Nó thật là một chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ dân chủ cộng hòa chính thức.

Hỡi quốc dân đồng bào !

Vận mệnh ngàn năm của dân tộc ta đang quyết định trong lúc này đây. Toàn thể quốc dân hãy khép chặt hàng ngũ, đứng dưới lá quốc kỳ, làm hậu thuẫn cho Chính phủ lâm thời, đặng nắm chắc tự do, độc lập, cải tạo Tổ quốc bấy nhiêu lâu đã bị bọn giặc nước tàn phá.

Cuộc tranh đấu cho “độc lập, tự do, hạnh phúc” của dân tộc đang tiếp tục, bước đường giải phóng dân tộc còn nhiều chông gai, hiểm trở. Quốc dân hãy sẵn sàng nghe hiệu lệnh của Chính phủ, hy sinh phấn đấu để bảo vệ nền độc lập hoàn toàn.

Khẩu hiệu của chúng ta lúc này là:

Toàn dân đoàn kết !
Tranh thủ hoàn toàn độc lập !

Một dân tộc có những trang lịch sử oanh liệt phải được quyền sống chính đáng. Một dân tộc đã góp một phần xương máu vào cuộc chiến tranh chống phát-xít xâm lược trong mấy năm nay, phải được độc lập tự do.

Đoàn kết phấn đấu, nhất định chúng ta sẽ thành công.

Ngày 27/8/1945
CHÍNH PHỦ LÂM THỜI
NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

1. Sau khi giành được chính quyền, Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt nam tự cải tổ, thâu nạp thêm một số nhân sĩ vô đảng phái vào và rút bớt người của Việt minh ra để thành lập Chính phủ lâm thời có tính chất toàn dân đoàn kết.

Bản tuyên cáo này phát ra khi Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam vừa cải tổ. Một tang chứng tỏ rõ Việt minh không giành chính quyền cho riêng mình. Việt minh lãnh đạo nhân dân giành chính quyền cho nhân dân. Sau khi chính quyền vào tay nhân dân rồi, Việt minh vui vẻ mời những bậc ái quốc, những người thật tâm yêu nước cùng mình gánh việc nước. Thái độ chân chính của Việt minh đã được đồng bào nhiệt liệt tán thưởng. Nó đã giúp một phần lớn cho mặt trận dân tộc thống nhất giành quyền độc lập ngày một rộng rãi và vững vàng thêm.

(Theo Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006).
bee.net.vn

Nhìn lại Chính phủ Liên hiệp kháng chiến VNDCCH 2/3/1946

 – Nhiệm vụ của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến vô cùng nặng nề: ứng phó với kẻ thù, thống nhất quốc dân, động viên nhân lực, tài sản quốc dân chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Ngày 6/1/1946, lần đầu tiên cuộc tổng tuyển cử tự do được tổ chức trên toàn quốc trong không khí náo nức phấn khởi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời. Ngày 2/3/1946, Quốc hội khoá I đã tiến hành  kỳ họp thứ nhất tại Thủ đô Hà Nội, bầu ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chính phủ liên hiệp kháng chiến ra mắtChính phủ liên hiệp kháng chiến ra mắt 2/3/1946

Quốc hội trao cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nhiệm vụ “thực hiện triệt để sự thống nhất các lực lượng của quốc dân về phương diện quân sự, tuyên truyền, hành chính, tư pháp”, tổng động viên nhân lực và tài  sản của quốc gia theo nhu cầu của tình thế để đưa kháng chiến đến thắng lợi và nước nhà đến độc lập hoàn toàn.

Trong thời gian hoạt động của mình, ở tình thế thù trong giặc ngoài, Chính phủ đã có những quyết sách và hành động đúng đắn, sáng tạo. Để đối phó với quân Tưởng, Chính phủ đã cử phái đoàn Việt Nam gồm 5 thành viên là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh, Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp và Phó chủ tịch Kháng chiến Ủy viên hội Vũ Hồng Khanh ký với Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 đồng ý cho 15.000 quân Pháp thay thế cho 20 vạn quân Tưởng ở miền Bắc.

Sau đó, Chính phủ thay mặt quốc dân đàm phán với Pháp tại Hội nghị Đà Lạt, Hội nghị Fontainebleau và ký với Pháp bản Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946, tạo sự hòa hoãn tạm thời để kiện toàn lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ.

Ngày 9/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố bản Hiến pháp đầu tiên của nước VNDCCH.

Danh sách thành viên

Chủ tịch: Hồ Chí Minh
Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam
Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng
Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Chu Bá Phượng
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Lê Văn Hiến
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Phan Anh
Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động: Trương Đình Tri
Bộ trưởng Bộ Giáo dục: Đặng Thai Mai
Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Đình Hoè
Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính: Trần Đăng Khoa
Bộ trưởng Bộ Canh nông: Bồ Xuân Luật (đến 4-1946)
Huỳnh Thiện Lộc  (từ 4-1946)
Đoàn Cố vấn tối cao:  Vĩnh Thụy
Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội: Võ Nguyên Giáp

(Theo Chinhphu.vn)

1. Chủ tịch: Hồ Chí Minh (xem kỳ trước)

2. Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần (xem kỳ trước)

3. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam

Nguyễn Trường Tam

Nguyễn Trường Tam (1905-1963)

Nguyễn Tường Tam (1905-1963), quê ở làng Cẩm Phổ, Hội An, Quảng Nam. Ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ 02/03/1946 đến 03/11/1946 trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Ông cũng tham gia Quốc hội khóa I đặc cách không qua bầu cử.

Ngoài ra, ông từng là chủ bút những tờ báo lớn như Phong Hóa, Ngày Nay… Ông là người thành lập nhóm văn chương Tự Lực Văn Đoàn và là cây bút chính của nhóm với bút danh Nhất Linh.

4. Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng (1876–1947) là người làng Thạnh Bình, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Năm 1926, ông đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kì. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông ra tham gia nội các Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Năm 1946, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm quyền Chủ tịch nước. Thời gian này ông còn là Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Liên Việt). Cuối năm 1946, ông là đặc phái viên của Chính phủ vào cơ quan Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

5. Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Chu Bá Phượng

Chu Bá Phượng là đại biểu Việt Nam Quốc dân đảng, được cử làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, thay Nguyễn Tường Long trong Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ngày 4/6/1946, ông được Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa cử làm phái viên trong phái đoàn Việt Nam sang Paris.

6. Bộ trưởng Bộ Tài chính: Lê Văn Hiến (xem kỳ trước)

Ông Lê Văn Hiến trong hai Chính phủ Lâm thời 2/9/1945 và Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 1/1/1946 giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động, nay chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Tài chính.

7. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Phan Anh

Phan Anh

Phan Anh (1912-1990)

Phan Anh (1912-1990) quê làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là luật sư nổi tiếng, được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngoài ra, ông được Chính phủ giao chức Tổng thư ký phái đoàn Chính phủ Việt Nam (1946), Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954) và là phái viên phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Genève (1954).

Sau năm 1954, ông liên tục giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương trong Chính phủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Từ năm 1988, ông giữ cương vị phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

8. Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động: Trương Đình Tri

Bác sĩ Trương Đình Tri làm Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động tròng Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 1/1/1946 và Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến 2/3/1946.

9. Bộ trưởng Bộ Giáo dục: Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai (1902-1984)

Đặng Thai Mai (1902-1984) quê ở làng Lương Điền (nay là Thanh Xuân), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I, Ủy viên Ban dự thảo Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là Bộ trưởng Bộ giáo dục trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

Đặng Thai Mai cũng là nhà nghiên cứu phê bình văn học. Ông là Hội trưởng Hội văn hóa Việt Nam, Giám đốc Trường dự bị đại học và Sư phạm cao cấp Liên khu IV, Giám đốc trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện trưởng Viện Văn học, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

10. Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Đình Hoè (xem kỳ trước)

Ông làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục từ tháng 2/9/1945 đến tháng 1/1/1946, rồi làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp từ 2/3/1946 đến 15 năm sau.

11. Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính: Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa (1907-1989)  quê ở ngoại ô thành phố Huế. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được giao nhiều chức vụ quan trọng: Giám đốc Công chính Trung bộ, Bộ trưởng Bộ Giao thông – Công chính (từ tháng 3/1946  đến tháng 9/1955), Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi và Kiến trúc, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi.

Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khóa VII, Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI, là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt – Xô trong nhiều năm.

12. Bộ trưởng Bộ Canh nông:

– Bồ Xuân Luật (2/3/1946 đến 4/1946)

Bồ Xuân Luật

Bồ Xuân Luật (1907-1994)

Bồ Xuân Luật (1907-1994) quê ở xã Ngô Quyền, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Sau khi Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến thành lập, Bồ Xuân Luật được Hồ Chủ Tịch giao cho giữ chức Bộ trưởng Bộ Canh nông, sau này là Bộ trưởng không Bộ, Ủy viên Thường vụ Quốc hội từ khóa I đến khóa IV, Ủy viên Ủy ban Trung ương và Ủy viên Ban thư ký Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (I, II, III).

– Huỳnh Thiện Lộc (từ 4/1946)

Huỳnh Thiện Lộc (1910-1952) sinh ra tại Rạch Giá, miền Tây Nam Bộ. Tháng 1/1946, là một trí thức, ông được Chính phủ Cách mạng chọn vào đoàn đại biểu Quốc hội. Tháng 4/1946, ông được Chính phủ bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Canh nông trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến và được chọn vào phái đoàn đi dự Hội nghị Fontainebleau ở Pháp. Năm 1947, ông được bổ nhiệm chức vụ Ủy viên Ủy ban kháng chiến Hành chính Nam Bộ, kiêm Phó Chủ tịch Hội Liên Việt Nam Bộ. Năm 1952, ông ngã bệnh và một thời gian sau ông qua đời.

13. Cố vấn Vĩnh Thụy

Vĩnh Thụy

Vĩnh Thụy (1913-1997)

Vĩnh Thụy (1913-1997) là tên húy của vua Bảo Đại – vị Hoàng đế thứ mười ba và cuối cùng của triều Nguyễn. Tháng 9 năm 1945, ông được Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mời ra Hà Nội nhận chức “Cố vấn tối cao Chính phủ Lâm thời Việt Nam”, ông là một trong 7 thành viên của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh đứng đầu.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đại diện đoàn cố vấn tối cao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

15. Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp (xem kỳ trước)

LỜI TUYÊN THỆ NHẬM CHỨC
CỦA CHÍNH PHỦ DO HỒ CHỦ TỊCH ĐỌC NGÀY 2-3-1946
Chúng tôi, Chính phủ Kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Tối cao cố vấn đoàn và Uỷ viên Kháng chiến hội, trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hoà Việt Nam, mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2002, t. 4, xuất bản lần thứ hai, tr. 195.

Ngọc Ánh (Tổng hợp từ chinhphu.vn/quochoi.vn/ các báo, tạp chí và website Việt Nam)
bee.net.vn

Chính phủ 1945 của Cụ Hồ bắt đầu từ đâu?

– Được thành lập trong “một cái nháy mắt của lịch sử”, chính quyền Việt Nam non trẻ đã đứng vững trong cuộc đối chọi được với quân Tàu Tưởng ở miền Bắc, quân Anh – Pháp ở miền Nam. Đó cũng là nhờ những tinh hoa nước Việt đã theo Cụ Hồ gánh vác những trọng trách trong thời điểm ngàn cân treo sợi tóc.

“Trí thức hoá” nội các

Điều hành guồng máy Đảng giành và giữ chính quyền trong thế “đơn thương độc mã” (essentially alone – chữ dùng của học giả David Marr – chưa nhận được ủng hộ từ khối Xô viết) là Ban thường vụ Trung ương bốn người, do Cụ Hồ đứng đầu. Ba uỷ viên Thường vụ còn lại là Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Võ Nguyên Giáp lại chính là nòng cốt của “nhóm Le Travail”, nổi tiếng thời kỳ Mặt trận bình dân 1936 – 1939 vì tờ báo cách mạng tiếng Pháp cùng tên.

Một số thành viên nữa của nhóm Le Travail, như Đặng Thai Mai, Khuất Duy Tiến, Phan Anh… dưới bàn tay dụng nhân của Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện trong thành phần nội các ở những thời điểm khác trong năm đầu của nền dân chủ cộng hoà này.

Đêm đầu tiên của ông Ké Tân Trào – Hồ Chí Minh ở Hà Nội 25 tháng 8, một danh sách nội các đã đợi Người trên bàn. Danh sách này đã đăng trên tờ Cứu quốc, ra ngày hôm trước. Nhưng, Cụ Hồ đã không ngại ngần “rút” khỏi đó năm lãnh tụ cộng sản, thay vào đó là các nhân sĩ nổi tiếng.  Thế là trong số 15 bộ trưởng, chỉ còn 6 người là đảng viên CSĐD.

Trường Thăng Long… “đào tạo” Bộ trưởng?

Trong ảnh chụp chính phủ ra mắt đầu tiên, dân chúng thấy có ba thầy giáo trường Thăng Long: Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hoè, Hoàng Minh Giám. Đây là những những đại diện nòng cốt của khối giáo viên và học sinh trường Thăng Long mà  tuyệt đại đa số đã đi theo cách mạng từ trước đó, thời tiền khởi nghĩa. Người dân sẽ nhận thấy thầy Nguyễn Dương làm Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam (từ tháng 2/1946); thầy Trịnh Văn Bính Thứ trưởng Bộ Tài chính (từ 11/1946), thầy Vũ Bội Liên (con tuần phủ thời) cán bộ Bộ Tư pháp, hy sinh ngay từ đầu kháng chiến chống Pháp…

Chính phủ lâm thời nước VNDCCHChính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Mái trường Thăng Long từng âm thầm chứng kiến sự ra đời và lớn mạnh của nhóm Le Travail trẻ (JC: Jeunese communiste), Đoàn thanh niên dân chủ, Đoàn thanh niên phản đế, Đoàn thanh niên cứu quốc… trong từng bước đi tới cách mạng tháng Tám. Nay nhiều cựu học sinh Thăng Long sẽ giúp tạo trụ cột của chính quyền mới, vào các ngành Nội vụ, Tư pháp, Cảnh sát, Thuế quan, quân đội… Báo Cứu quốc (15/10/46) báo tin Lý Chính Thắng bị Pháp giết dã man. Một cựu học sinh Thăng Long khác, Lê Trung Toản, chỉ huy Trung đoàn Thủ đô phòng thủ Hà Nội cuối 1946…

Tài đức “dành trợ dân này”

Một nhà đại trí thức gần gũi với nhóm trí thức Thăng Long là Nguyễn Văn Tố, Hội trưởng Hội truyền bá Quốc Ngữ, cũng được mời vào nội các. Đó là vị bộ trưởng đầu tiên, Chủ tịch quốc hội đầu tiên của Việt Nam, hy sinh trong kháng chiến.

Từ đầu năm 1946, chính phủ Cụ Hồ được bổ sung thêm các trí thức Việt Minh Nam Bộ, để Chính phủ có thể điều hành cả một nửa kia của “sơn hà nguy biến”. Những tên tuổi Ca Văn Thỉnh, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu… đã lập tức hoà vào guồng máy việc công ở Hà Nội, chống thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

…Một ngày giữa năm 1946, ông Võ Nguyên Giáp ghi vào kế hoạch công tác “(Nhớ) hỏi anh Bửu những người tài”.

Tạ Quang Bửu từng tu nghiệp ở các Đại học Sorbonne, Paris, Bordeaux, Oxford.

“Thanh niên tiền tuyến” thành tướng lĩnh cách mạng

Đồng Tổng Hướng đạo sinh Đông Dương Tạ Quang Bửu và Bộ trưởng Thanh niên của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Phan Anh lập ra trường Thanh niên tiền tuyến vào tháng 5/1945. Không hẹn mà nên, cùng lúc với Trường quân chính kháng Nhật huấn luyện cán bộ quân sự cách mạng.

Trưa 21 tháng 8/1945 hai học viên Trường Thanh niên tiền tuyến, trước mắt hàng ngàn dân Kinh đô Huế, đã hạ cờ quẻ ly của triều Nguyễn, treo cờ đỏ sao vàng lên Kỳ đài tại Ngọ Môn, như hồi chuông đầu “nguyện hồn” nền quân chủ một ngàn năm. Đó là các ông Đặng Văn Việt, ba năm sau sẽ khét tiếng là “Hùm xám trên đường số 4”, Cao Pha – một cán bộ quân báo đầu tiên, một anh hùng Điện Biên Phủ.

Những người lãnh đạo Thanh niên Tiền tuyến từ đầu đã để cho Việt Minh thâm nhập vào tổ chức của họ. Kết quả Cụ Hồ có thêm những chỉ huy quân sự đầu tiên xuất thân từ tầng lớp trên. Người dân đau đớn nghe tin con trai học giả Lê Thước, Lê Thiệu Huy – tham mưu trưởng liên quân Việt Lào đã hy sinh 26/3/46, khi tháp tùng Hoàng thân Souphanouvong. Nếu lực lượng học viên Iunker lập ra Bạch vệ, quyết liệt chống chính quyền xô viết, thì nhiều học sinh sĩ quan Trường “Thanh niên tiền tuyến” lại trở thành những tướng lĩnh cách mạng thông thái mà dày dạn trận mạc, như Cao Văn Khánh, Mai Xuân Tần, Đoàn Huyên, Phan Hạo, Tôn Thất Hoàng…

Một đồng Tổng Hướng đạo sinh nữa là nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý. Ngay sau Lễ tuyên ngôn Độc lập, ông được Hồ Chí Minh triệu tập để thành lập ra binh chủng đầu tiên của Quân đội Việt Nam – Thông tin Liên lạc. Một sĩ quan tham mưu đầu tiên, ông Trần Trọng Trung, nhớ mãi hình ảnh các đội mô tô đeo thẻ bài “Hoả tốc”, phóng xuống các vùng nông thôn xa chuyển phát các công văn mật, khẩn cấp của việc quân. Họ do một trí thức ngoài Đảng, ông Phạm Thành Vinh, lúc đó là Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng, chỉ huy.

Tướng tình báo do phương Tây đào tạo

Năm 1950, giới thiệu Hoàng Đạo Thuý, tư lệnh thông tin, với tướng Trần Canh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho vị cố vấn Trung quốc này “choáng”. “Đồng tử quân (Hướng đạo sinh) phục vụ thông tin cho chiến dịch ư?” Trần Canh hỏi lại, vì Đồng tử quân ở Trung Quốc là lực lượng phản cách mạng. “Nhà chú” (Trung Quốc) không hiểu nổi đâu. Đây là Đồng tử quân Việt Nam mà”, Cụ Hồ đáp.

Lãnh đạo chủ chốt của công an, tình báo, an ninh đầu tiên của Việt Nam là do… tình báo phương Tây đào tạo. Khoảng năm 1944 Lực lượng nhiệm SOE của Anh, có “sáng kiến” đào tạo các tù cộng sản Việt Nam, bị Pháp giam ở hải ngoại, để tung vào hậu phương phát xít Nhật. Một số đảng viên đã tương kế tựu kế, dùng vỏ bọc này để mang vũ khí, khí tài, và nhất là kiến thức tình báo về phục vụ cách mạng.

Đó là các ông Lê Giản, phó giám đốc Sở Liêm phóng (Công an) Bắc Bộ đầu tiên; Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), trong ảnh Chính phủ liên hiệp kháng chiến 1946 là thứ trưởng Nội vụ; Nguyễn Văn Ngọc, Giám đốc Sở Trinh sát Trung Bộ đầu tiên; Trần Hiệu, phó Giám đốc Sở CA Bắc Bộ, Hoàng Đình Rong (Vũ Đức), chỉ huy quân sự hy sinh ở Nam Bộ đầu kháng chiến. Đây là hiện tượng vô song trong lịch sử, vì các tình báo viên do phía đối phương đào tạo thường không thể trở thành lãnh đạo chủ chốt về an ninh, tình báo…

Cách dùng người như thế chỉ thấy ở Hồ Chí Minh.

Bộ trưởng không lương, nhận phụ cấp “cơm chan nước mắm”

Tri thức, tình yêu nước và biết “ăn cơm nhà vác ngà voi” có lẽ là những điều kiện cần để trí thức trở thành thành viên của chính quyền đầu tiên của nước Việt Nam DCCH. Hồi ký của các bậc lão thành cho biết “bữa ăn cơ quan” năm 1946 chỉ có cơm chan nước mắm, mà cũng không đủ.

Ông Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng Kinh tế đầu tiên, người Công giáo, nhớ lại trong những ngày nước sôi lửa bỏng 1946, Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh và Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp từng có những lần chạy ào qua nhà ông, xem “còn cơm nguội không”… Nhưng trong kế hoạch làm việc năm 1946 của lãnh đạo ngành Nội vụ và LLVT Võ Nguyên Giáp, đã đôi ba lần xuất hiện câu: “(Lo) phụ cấp cho nhân viên cơ quan”.

Lê Đỗ Huy
bee.net.vn

Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam DCCH qua ảnh

 – Ngày Độc lập huy hoàng 2/9/1945, Chính phủ Cách mạng Lâm thời nước Việt Nam DCCH ra mắt nhân dân Việt Nam trong sự chào đón nô nức. Nhưng sau độc lập là bộn bề công việc, và Chính phủ non trẻ ngay lập tức bắt tay vào xây dựng chính quyền, ổn định cuộc sống người dân, với các hoạt động sáng tạo và thiết thực như “Tuần lễ Vàng”, tổ chức đào tạo cán bộ Bình dân học vụ, phát động phong trào tiễu trừ giặc đói…

Bee.net.vn tổng hợp một số hình ảnh về Ngày Độc lập 2/9/1945, và các hoạt động khẩn trương của Chính phủ đầu tiên.

1. Ảnh Xe loa phát lệnh Tổng khởi nghĩa tại Hà Nội, tháng 8/1945. Lệnh phát ra đúng thời cơ, đúng với lòng người dân đang náo nức vùng lên. Ngày 19/8/1945, Hà Nội giành chính quyền đầu tiên trong cả nước, khuấy động làn sóng nổi dậy khắp toàn quốc.

2. 2/9/1945 – “Người đứng trên đài, lặng phút giây/ Trông đàn con đó, vẫy hai tay/ Cao cao vầng trán… Ngời đôi mắt/ Độc lập bây giờ mới thấy đây!” – Tố Hữu.

3. Những hình ảnh sáng ngày 2/9/1945 sẽ mãi đi vào lịch sử như một dấu son chói lọi cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc của dân tộc, là một phần quan trọng trong lịch sử của Việt Nam. Ảnh quang cảnh Lễ duyệt binh tại quảng trường Ba Đình, 2/9/1945.

4. Bản “Tuyên ngôn độc lập” được Hồ Chí Minh đọc trong ngày Quốc khánh của dân tộc. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

5. Chính phủ họp phiên đầu tiên, ngày 3/9/1945, bàn 6 vấn đề cấp bách: chống đói; xóa mù chữ; Tổng tuyển cử và Hiến pháp; giáo dục cần – kiệm – liêm – chính; bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo.

6. Chính phủ Việt Nam lâm thời sau phiên họp Chính phủ đầu tiên, ngày 3/9/1945.

7. Đề ra chương trình Tuần lễ Vàng 17-24/9/1945, Chính phủ đã huy động được sự ủng hộ lớn của nhân dân, nhân dân đã góp tổng cộng quyên góp được 20 triệu đồng và 370 kg vàng. Trước đó, sau khi giành chính quyền, quốc khố chỉ có 1,2 triệu đồng. Trong ảnh là những người giàu có xếp hàng trên phố Tràng Tiền đến nơi quyên góp, 16/9/1945

8. Ngày 27/9/1945 diễn ra Đại hội Thanh niên Cứu quốc. Các nhiệm vụ được đặt ra cho thanh niên là: Chuẩn bị luôn luôn: một mặt ủng hộ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, một mặt chuẩn bị chiến đấu ở Trung và Bắc Bộ; Cứu đói: mang gạo từ chỗ có đến chỗ không có; Quyên gạo, khuyến nông, không để thừa một tấc đất hoang nào; Chuẩn bị Tổng tuyển cử: tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ bổn phận của mình trong cuộc Tổng tuyển cử.

9. Hồ Chủ tịch đang trao đổi với những người tham dự khai mạc “Triển lãm Văn hóa”  tổ chức tại trụ sở cũ của hội Khai trí Tiến Đức (16 Lê Thái Tổ, Hà Nội) ngày 7/10/1945. Bộ Thông tin Tuyên truyền của Nhà nước Việt Nam trẻ tuổi đứng ra tổ chức, Hội Văn hóa Cứu quốc với những văn nghệ sĩ tên tuổi chủ trì. Triển lãm đã giới thiệu những hình ảnh, hiện vật về cuộc cách mạng nước ta, các bản nhạc, sách báo cách mạng; tranh, tượng mỹ thuật của các họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ đó.

10. Lễ khai giảng lớp đầu tiên đào tạo cán bộ phụ trách Bình dân học vụ các tỉnh Bắc Bộ tổ chức tại Hà Nội, ngày 8/10/1945. Tại buổi lễ, Hồ Chí Minh nói: “Chống nạn thất học cũng quan trọng như chống ngoại xâm”.

11. Ngày tiễu trừ giặc đói xuất phát từ Nhà hát lớn Hà Nội,11/10/1945. “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo” – Hồ Chí Minh.

12. Lễ xuất phát Đội tuyên truyền xung phong tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 20-10-1945. Đội tuyên truyền được Hồ Chủ tịch căn dặn là cần hiểu mục đích công việc và lên kế hoạch trước, nhẫn nại, không quan cách, nói năng giản dị.

13. Chính phủ gấp rút tổ chức chuẩn bị Tổng tuyển cử trong cả nước, ngày 6/1/1946, lần đầu tiên người dân Việt Nam được cầm lá phiếu để bầu ra những vị lãnh đạo của đất nước. Ảnh nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội tại Hà Nội.

Duyên Anh – Diệu Thủy (Tổng hợp)
bee.net.vn