Tag Archive | Tin tức

Bài báo cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tác giả: NGUYỄN QUỐC DŨNG (VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG ÐẢNG)

Dưới bút danh T.L, ngày l-6-1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài viết “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” (1) đăng trên Báo Nhân Dân, số 5526. Ðây là bài báo cuối cùng trong tổng số hơn 1.000 bài báo mà Bác đã viết trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình.

Bài báo có nội dung không dài, trong đó Bác đề cập những thành tích của thiếu niên, nhi đồng hai miền nam, bắc; những vấn đề tồn tại. Và từ đó Người đề ra trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc chăm sóc, giáo dục các em.

Mở đầu bài báo, Bác khẳng định: “Nói chung trẻ con ta rất tốt”. Ðể minh chứng điều này, Bác lấy dẫn chứng về các em bé ở hai miền nam, bắc đã không quản ngại hy sinh, gian khổ để góp sức mình vào sự nghiệp cách mạng của Ðảng. Ðối với các em bé miền nam, hằng ngày, hằng giờ phải đối mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt do kẻ thù gây ra, song không vì thế mà làm chùn bước các em. Bác viết: “Ở miền Nam, các cháu bé rất dũng cảm, đã hăng hái giúp đỡ bộ đội, giúp đỡ gia đình có người kháng chiến, làm giao liên, đánh du kích, v.v. Nhiều cháu mới hơn 10 tuổi đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ”. Ðó là sự khen ngợi mà Bác dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng miền nam- thành đồng của Tổ quốc.

Còn đối với thiếu nhi miền bắc, Bác đã dành những lời khen ngợi thân thiết: “Ở miền Bắc, các cháu đều hăng hái thi đua làm “nghìn việc tốt” như giúp đỡ gia đình bộ đội, trả lại của rơi, gan góc liều mình cứu bạn, v.v. Ở nông thôn thì nhiều nơi các cháu tổ chức giúp các hợp tác xã chăm sóc trâu bò béo khỏe, trồng cây và bảo vệ cây xanh tốt”. Không những thế, “các cháu sơ tán xa gia đình vẫn cố gắng vượt mọi khó khăn, kính thầy yêu bạn, đoàn kết với đồng bào địa phương và thi đua học tập tốt, lao động tốt. Nhiều cháu học giỏi, tất cả các môn đều đạt điểm 5, điểm 10, đã được giải thưởng của Bác Hồ”.

Niềm mong mỏi của Bác năm nào (tháng 9-1945) khi Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (2)  đã được các em gắng công thực hiện bằng những việc làm cụ thể.

Các em bé miền bắc mặc dù không phải đối mặt trực tiếp và thường xuyên với cuộc chiến tranh tàn khốc do đế quốc Mỹ gây ra, song đã nỗ lực để không thua kém các bạn miền nam, hằng ngày đã góp sức với ông bà, cha mẹ, anh chị lao động, sản xuất và học tập. Với những hành động “tuổi nhỏ làm việc nhỏ” rất thiết thực, các em đã được Bác Hồ ghi nhận và biểu dương về những thành tích đó. Bài báo viết: “Hàng trăm cháu có thành tích xuất sắc đã được Bác Hồ thưởng huy hiệu. Hơn hai triệu cháu được bình bầu là Cháu ngoan Bác Hồ”. Ðó quả thực là những đóa hoa tô thắm cho truyền thống yêu nước nồng nàn của các em vào lịch sử của dân tộc. Ðó cũng là kết quả mà Ðảng ta và Bác Hồ đã giáo dục, rèn luyện các em để các em trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh : “Nhân dân ta rất tự hào có nhiều con cháu tiến bộ như thế. Mong các cháu ngày càng cố gắng hơn nữa và tiến bộ hơn nữa”. Bên cạnh những em đã có nhiều cố gắng trong học tập, lao động, sản xuất, Bác cũng chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm đối với một số thiếu niên, nhi đồng khác. Người viết : “Song vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn”.  Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Bác Hồ đã dành nhiều công sức, tâm huyết để đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam. Khi ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, thời điểm mà Người sắp phải từ biệt thế giới này, Người một lần nữa đặt vấn đề chăm sóc và giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng và khẳng định: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà”. Người yêu cầu: “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Ðảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ”.

Sinh thời, Bác từng viết: “Trẻ em như búp trên cành/Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”… Các em thiếu niên, nhi đồng phát triển tốt hay xấu đều do công tác chăm sóc, giáo dục của xã hội mà nên. Do đó, phải chăm sóc và giáo dục các em trở thành những người “vừa hồng, vừa chuyên”, và “phải làm kiên trì”,  “bền bỉ”.

Ðể chăm sóc, giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ đã đặt ra kế hoạch: “Trong thời gian tới và trong dịp hè này, cần phải đẩy mạnh công tác thiếu niên, nhi đồng đạt nhiều kết quả tốt và thiết thực”. Muốn vậy, Bác căn dặn: “Trước hết các gia đình (tức là ông bà, cha mẹ, anh chị) phải làm thật tốt công việc ấy. Các đảng ủy đường phố và hợp tác xã phải phụ trách chỉ đạo thiết thực và thường xuyên. Ủy ban thiếu niên, nhi đồng, Ðoàn thanh niên, ngành giáo dục và các ngành, các đoàn thể cần phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc, giáo dục các cháu càng ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ. Các tỉnh ủy, thành ủy cần phải phụ trách đôn đốc việc này cho có kết quả tốt”.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam

Về điều này, trong Di chúc, Bác đã từng đặt ra nhiệm vụ chăm sóc thế hệ trẻ nước nhà, trong đó có các em thiếu niên, nhi đồng. Bác viết: “Ðảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”; “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(3).Kết thúc bài báo, Bác chỉ rõ: “Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”. Ðây là lời di huấn mà Bác chỉ thị cho toàn Ðảng, toàn xã hội phải có trách nhiệm để thực hiện.

Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ niệm 85 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6) đọc lại bài báo “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta thấy vẫn nóng hổi tính thời sự. Mỗi người chúng ta ở mỗi cương vị công tác hãy thực hiện tốt hơn nữa di huấn của Người về việc chăm sóc và giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng.

—————

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 12, tr 467 – 468.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb  Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 4, tr 33.
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 12, tr 510.

Theo Báo Nhân dân

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và người học trò Võ Văn Kiệt

Lý thuyết là mầu xám, cây đời mãi mãi xanh tươi – một triết lý sâu sắc, đơn giản, trở thành câu thơ nổi tiếng của Goethe trong vở kịch “Faust”, thường được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhắc đi nhắc lại với nhiều người chung quanh mình trong công việc, đến mức trở thành một quan niệm, một phương thức làm việc, và còn hơn thế nữa: một phương thức và một lẽ sống…

Sau này, trong những ngày được giúp cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, tôi có dịp làm “nhân chứng” cho ảnh hưởng lan tỏa của điều nhắc nhủ nêu trên.

Một lần tình cờ tôi hỏi Anh Sáu Dân, nhân lúc đang phải triết lý về cuộc đời:

– Anh Sáu ạ, điều gì khiến anh có ấn tượng sâu sắc như vậy khi anh thường nói với chúng tôi về lời nhắc nhủ của anh Tô (Thủ tướng Phạm Văn Đồng)?

– Chuyện đó quan trọng lắm: Điều nhắc nhủ ấy của Anh Tô khiến tôi hiểu Ông Cụ đầy đủ hơn, dậy tôi cách học Ông Cụ, không như thế thì không thể hiểu được Ông Cụ! – Anh Sáu nói như thế về Bác Hồ với tất cả kính yêu và mến phục của mình.

Ngày tháng vùn vụt trôi đi trong công việc ngập đầu, hầu như không thấy Anh Sáu viện dẫn sách vở hay lý luận ra để giải thích quyết định của mình. Ngay cả trong những công việc rất khó, Anh Sáu không lý luận dài dòng, mà đi thẳng vào tình huống, vào công việc, nói rõ mục đích phải đạt được. Đôi ba lần, gặp phải công việc còn nhiều ý kiến tranh cãi ngang ngửa, nếu cần thúc giục những người chung quanh động não góp ý, tôi thấy Anh Sáu không áp đặt ý kiến của mình, mà thường nhắc đến những quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những giờ phút quyết định vận mệnh đất nước, hoặc trong tình huống hiểm nghèo.

– Không chần chừ được. Thời cơ không chờ đợi! Nếu Bác không quyết nắm lấy thời cơ thì làm sao có Cách Mạng Tháng Tám, làm sao thành công được!.. Cứ suy nghĩ kỹ mà xem… Khó khăn của chúng ta bây giờ ăn nhằm gì!..

– Phải đi nước ngoài thương thuyết trong tình hình đất nước nghìn cân treo sợi tóc, việc quán xuyến cả đất nước Bác trao vào tay cụ Huỳnh Thúc Kháng. Đức độ nào, tầm nhìn và sự từng trải nào khiến Bác dám quyết như vậy?

– Vân… vân…

– …

Anh Sáu không giải thích, không nói nhiều, mà cứ nêu câu hỏi như thế, đòi hỏi mọi người chung quanh phải suy nghĩ, phải noi gương.., để tìm ra giải pháp cho vấn đề đang đặt ra trước mặt!

Bác Hồ… Ảnh tư liệu

Tôi nhớ lại đấy là những lúc Anh yêu cầu chúng tôi tìm mọi lý lẽ và chuẩn bị mọi việc để trình bầy với Bộ Chính trị quyết định những việc hệ trọng: sớm bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Trong bối cảnh lúc bấy giờ, cần nói thẳng thắn là phía ta có “hội chứng Mỹ” rất nặng, rất lo ngại “diễn biến hòa bình”, đầy nghi ngờ sự thao túng của các nước lớn đối với WTO, lo mở cửa nền kinh tế chế độ chính trị của đất nước sẽ bị uy hiếp, vân vân…

Khổ một nỗi hồi ấy lực cản đối với những quyết định hệ trọng như thế rất lớn! Gần như là một lẽ tự nhiên! Kể cả trong hàng ngũ trí thức nữa, chứ không phải chỉ trong những cán bộ chính trị! Hiểu rõ lịch sử vô cùng gian truân đất nước đã trải qua, sẽ hiểu được sự giằng co quyết liệt này để quyết định cho đất nước những bước đi tất yếu như vậy!

Tôi không muốn tôn sùng vai trò cá nhân, nhưng nhìn lại lịch sử thì cần công bằng. Trong sự hiểu biết của mình, tôi dám cả quyết cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, kể cả sau này với tư cách

Cố vấn, thực sự là người tiên phong của những người đi tiên phong trong lựa chọn những quyết định thay đổi hẳn cục diện đất nước như vừa trình bầy trên.

Trong những năm tháng ấy, tâm sự với chúng tôi, Anh Sáu cho biết, Anh luôn luôn nghĩ đến những quyết định và việc làm của Bác, để học tập, để noi gương, để mổ xẻ cặn kẽ tình huống công việc mình đang đối mặt.., nhất là để kiên định quan điểm và sự lựa chọn quyết định của chính mình. Trong những năm tháng giúp anh Sáu, hình như tôi chưa thấy một lần nào có chuyện Anh Sáu nói hay viết “Hồ Chủ tịch nói rằng…”, “Hồ Chủ tịch dạy rằng…” Quả thực đến nay tôi chưa tìm lại được một diễn văn nào của Anh Sáu trong thời gian tôi giúp việc có trích nguyên văn một câu nói nào đó của Bác! Có điều kiện, tôi sẽ xác minh kỹ hơn để khẳng định điều này. Song tôi tin rằng hầu như ở Anh Sáu không có chuyện lý luận hay ngôn từ theo kiểu trích cú tầm chương như vậy mỗi khi nói về Bác Hồ, dù là trong hội nghị, buổi nói chuyện, hay là trong các cuộc họp bàn công việc với những người chung quanh.

Trong những năm tháng làm việc cạnh Anh Sáu, không dưới một lần, anh em chúng tôi hỏi trực tiếp – đương nhiên là để hiểu rõ cái chất “Sáu Dân” của Anh:

– Anh Sáu ạ, sao anh hay làm trái nghị quyết của Đảng thế?

– Thế thì tôi đáng bị kỷ luật nặng rồi!

– Nếu chiểu theo câu chữ của văn bản chính thức thì không oan Anh Sáu ạ.

– Tôi hiểu câu hỏi của các anh…

Mỗi lần trả lời loại câu hỏi này trong các vấn đề khác nhau, chúng tôi hiểu thêm một khía cạnh mới trong suy nghĩ của Anh.

Không biết bao nhiêu lần Anh thường nói với chúng tôi: Không nên và không được tư duy theo cách đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống. Cũng không thể nói “ý Đảng lòng dân” đến mức như là một khuôn sáo… Đúng ra phải nghĩ ngược lại: Đưa cuộc sống vào đường lối chính sách của Đảng, nguyện vọng của dân phải trở thành ý chí của Đảng!.. Tự nhận là con cháu Bác Hồ thì phải làm như thế, học tập Bác thì phải làm như thế…

Anh Sáu hỏi lại chúng tôi nhiều lần: Hãy thử tìm xem, trong Tuyên ngôn Độc lập, rồi đến Hiến pháp 1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, trong nhiều sự việc quan trọng khác, và ngay cả trong Di chúc của Bác nữa, có thấy chỗ nào Bác làm theo cách “đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống” không? Hay là Bác xuất phát từ những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống vạch ra chương trình hành động cho đất nước, cho Đảng?..

Anh Sáu nhấn mạnh: Cái chính là phải trung thành với mục tiêu của cách mạng và không được để lợi ích cá nhân xen vào. Nghĩ được như vậy thì sẽ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm… Nghĩ được như thế, mới có thể hiểu được những quyết định có một không hai của Bác Hồ. Anh giục chúng tôi: Các anh cứ đi sâu tìm hiểu, phân tích những quyết định động trời của Bác thời kỳ cách mạng trứng nước, khi quyết định toàn quốc kháng chiến, khi phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước…[1] Phân tích cho kỹ xem kết luận như vậy có đúng không! Rõ ràng chỉ có Bác mới dám quyết như vậy! Trung thành với sự nghiệp cách mạng mới dám quyết như vậy! Trung thành với “chủ nghĩa” thì không dám và không thể làm như vậy!.. Lần nào cũng thế, Anh Sáu trở nên sôi nổi khác thường khi nói đến những chuyện này.

Chúng tôi hiểu thêm Anh Sáu học Bác như thế nào. Nếu thống kê các việc “làm trái” như thế của Anh Sáu, chắc chắn có thể kết luận: Trong mọi thời kỳ công tác và ở bất kể cương vị gì, Anh Sáu cũng có hàng chuỗi các việc “làm trái” như thế – từ những năm tháng chỉ đạo kháng chiến trong vùng địch hậu, rồi đến cương vị đứng mũi chịu sào Thành phố Hồ Chí Minh vừa mới được giải phóng, Thủ tướng Chính phủ, Cố vấn…

Quả thực, vấn đề không phải là câu chuyện của câu chữ văn bản chỉ thị hay nghị quyết, mà là điều anh Sáu tâm đắc: … Cây đời mãi mãi xanh tươi…

Khi nói đến Bác Hồ, hầu như trong hoàn cảnh nào cũng vậy, Anh Sáu trước hết nói về tinh thần, về ý nghĩa, việc Bác làm, về cách xử sự tình huống của Bác, về cách Bác giải quyết vấn đề…, trước hết là về lòng trung thành vô hạn với lợi ích dân tộc, là ý chí và sự mẫn tiệp của

Bác trong sứ mệnh chèo lái con thuyền quốc gia, trong nhiệm vụ là biểu tượng tinh thần của dân tộc, trong cương vị là lãnh tụ sáng lập và rèn luyện Đảng…

Qua những mẩu chuyện cũ anh kể lại khi sống trong vùng địch hậu, cả những lúc cơ sở cách mạng mất trắng từng mảng lớn, bản thân tôi càng hiểu sâu sắc thêm Bác Hồ là linh hồn, là niềm tin bất khuất của đồng bào Nam Bộ trong những năm chiến tranh khốc liệt nhất! Có nhiều mẩu chuyện nhỏ rất cảm động. Anh Sáu tâm sự, nếu không có niềm tin sắt đá như vậy, chính Anh cũng sẽ không dám dựa vào đồng bào, sẽ không có gan quay lại sống với đồng bào và xây dựng cơ sở mới ngay trong vùng địch đã chà đi xát lại sạch bong.

Trong những năm tháng giúp Anh Sáu, điều Anh Sáu nói với chúng tôi nhiều nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh lại là những vấn đề liên quan đến Đảng, cụ thể là vấn đề dân chủ trong Đảng, đổi mới sinh hoạt Đảng, chống sự tha hóa của đảng viên – trước hết là những đảng viên có chức có quyền, về đổi mới xây dựng Đảng. Có lẽ sau này có dịp, nhất là khi bàn đến đổi mới Đảng, các cơ quan nghiên cứu của Đảng nên sưu tầm và công bố những ý kiến đóng góp của Anh Sáu chung quanh chủ đề xây dựng Đảng với tư cách là đảng lãnh đạo đất nước trong thời bình để toàn Đảng và cả nước tham khảo.

… và người học trò xuất sắc Võ Văn Kiệt. Ảnh tư liệu

Câu hỏi lớn nhất bàn về xây dựng Đảng Anh Sáu nêu ra cho chúng tôi là: Vì sao Bác Hồ, chỉ có Đảng với 5000 đảng viên, đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám và giành lại được đất nước?

Tôi không thể nhớ lại được anh em chúng tôi trong nhóm giúp Anh Sáu, với tính cách nguyên là các thành viên trong Ban Nghiên cứu của Thủ tướng do Anh Sáu thành lập, đã có bao nhiêu cuộc họp bàn và tranh luận với anh Sáu chung quanh chủ đề này. Cứ mỗi khi buổi thảo luận kết thúc, Anh Sáu thường kết luận với câu hỏi mới, đặt vấn đề mới cho cuộc họp sau. Bao nhiêu cuộc họp như thế thì chịu không nhớ được. Ít nhất là phần lớn các cuộc họp của chúng tôi trong hai, ba năm cuối cùng trước khi Anh Sáu đi xa đều xoay quanh chủ để này. Điều tôi hoàn toàn chắc chắn, cuộc họp cuối cùng của Anh Sáu với chúng tôi, chỉ một hai tuần trước khi Anh Sáu lâm bạo bệnh, là bàn về đổi mới Đảng như thế nào. Viết đến đây, tôi liên tưởng đến lời dặn cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc của Người: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi… Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng…”.

Trong những năm tháng này, ngoài anh em chúng tôi, Anh Sáu còn đi gặp không biết bao nhiêu chiến hữu và bạn bè của mình ở khắp đất nước. Trong những chuyến đi như vậy, bàn về xây dựng Đảng là chủ đề chính của Anh Sáu. Khi về, Anh kể lại cho chúng tôi nghe nhiều thông tin phong phú vể tình hình các đảng bộ địa phương.

Chủ kiến của Anh Sáu là: Cách mạng Tháng Tám, Bác đã lãnh đạo Đảng với 5000 đảng viên làm nên sự nghiệp, trước hết vì đường lối cách mạng đúng, người lãnh đạo sáng suốt, đảng viên chiến đấu ngoan cường, số lượng đảng viên không phải là điều quyết định… Anh dẫn chứng trong Cách Mạng Tháng Tám nhiều nơi không có đảng viên, nhưng nhân dân hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, tự vùng lên cướp chính quyền, tự lập nên chính quyền cách mạng…

Anh Sáu phân tích: Không tin vào nhân dân, không dựa vào nhân dân như thế làm sao Cách mạng có thể thành công? làm sao có thể bảo vệ được Cách mạng trong những hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc?.. Vì coi cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì không độc quyền yêu nước, nên Bác thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, trở thành hiện thân của đại đoàn kết dân tộc, thực sự phát huy được sức mạnh vô địch của nhân dân!.. Quan trọng hơn tất cả, chỉ có như vậy, Bác mới làm cho sự nghiệp Cách mạng trở thành sự nghiệp của nhân dân. Anh Sáu thẳng thắn: Phải thừa nhận chính điểm này chúng ta học tập Bác chưa tốt, làm chưa tốt. Bác nói xây dựng nhà nước của dân, do dân vì dân chính là nói theo tinh thần này! Anh Sáu hỏi lại chúng tôi: Trong lịch sử Chính phủ các thời kỳ cho đến nay, có thời kỳ nào có được đông đảo các nhân sỹ trí thức lớn ngoài Đảng tham gia như Chính phủ cụ Hồ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 không? Tại sao bây giờ hễ là bộ trưởng nhất thiết cứ phải là uỷ viên Trung ương mà lại không phải là trí thức có đức có tài đúng với lĩnh vực phụ trách? Ngoài Đảng cũng được chứ sao?.. Tại sao bây giờ không chọn được người tài đức vào đúng chỗ đúng việc? Đảng ta bây giờ với 3 triệu đảng viên, nếu cứ 3 loại đi 2 yếu kém, Đảng vẫn còn được một triệu đảng viên có đủ phẩm chất, vẫn nhiều gấp 20 lần khi làm Cách Mạng Tháng Tám, nếu có đường lối đúng đắn, vẫn hoàn toàn có thể lãnh đạo thành công xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất dân chủ và giầu mạnh… Phải học Bác như thế từ trong lý tưởng, trong thực tiễn…

Trong nhiều buổi họp khác nhau, Anh Sáu còn nhắc đi nhắc lại: Tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do!”, tinh thần “độc lập tự chủ và sáng tạo” thì phải học Bác suốt đời!.. Anh nhấn mạnh: Cứ khi nào không thấm nhuần hai điều cốt yếu này, là cách mạng y như gặp khó khăn, là y như phát sinh nhiều vấn đề…

Có thể nói qua những buổi trao đổi như thế, hầu như bao giờ cũng sôi nổi, chúng tôi chẳng những hiểu thêm Anh Sáu học tập Bác Hồ như thế nào, mà còn hiểu rõ được cái chất “Sáu Dân” của người đảng viên Võ Văn Kiệt, nhất là trong tình hình ngày nay cái tính đảng chân chính trong con người đảng viên, trong bản chất và đường lối chính sách của Đảng hình như rất ít được nói tới, được coi trọng mỗi khi bàn về Đảng, về xây dựng Đảng.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thực là người hiểu sâu sắc Bác Hồ, nêu một tấm gương sáng về học tập tư tưởng và đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh, xứng đáng là học trò xuất sắc của Người.
Hà Nội, 19-05-2010

—–

[1] Những câu chuyện này diễn ra vào lúc Anh Sáu và chúng tôi có nhiều cuộc thảo luận đánh giá lại lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám, với mục đích tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đổi mới Đảng cho phù hợp với đòi hỏi của giai đoạn cách mạng hiện tại. Trong những cuộc thảo luận như thế, chúng tôi đụng chạm tới nhiều sự kiện phức tạp: Cách ứng xử với các đảng phái và các nhân vật chính trị khác chính kiến và đối lập, đối phó với những lực lượng chống phá Cách mạng Tháng Tám và Tầu Tưởng, việc Bác chủ động đề nghị Việt Nam đứng trong khối Liên hiệp Pháp trong quá trình thương lượng không thành với Pháp, việc Bác quyết định nhất thời giải tán Đảng để tránh né những đòn chí mạng đánh vào nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời trứng nước, việc Bác chủ động cho tiến hành chủ trương tìm cách thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, các hòa hoãn chính trị nhằm tranh thủ thời gian tối thiểu chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến chống Pháp, việc Bác phát động toàn quốc kháng chiến chống Mỹ xâm lược trong bối cảnh phe xã hội chủ nghĩa rạn nứt và chia rẽ ngày càng sâu sắc… Vân vân…

Nguồn tin: Vietnamnet.vn

thanhnienphuockien.com

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ

(VTC News) – Những bức ảnh Bác Hồ với công nhân, thiếu nhi, khách quốc tế… được nhà báo Mai Nam – một trong những nhiếp ảnh gia có nhiều bức hình đẹp và độc nhất về Bác Hồ ghi lại.

Hơn 40 năm làm phóng viên ảnh báo Tiền Phong, nhà báo Mai Nam đã có nhiều bức hình đẹp và sinh động về cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân ta. Ông cũng là một trong những nhiếp ảnh gia có nhiều bức hình đẹp và độc nhất về Bác Hồ.

VTC News xin giới thiệu một số bức ảnh trong tổng số 200 bức ảnh mà nhà báo lão thành này đã chụp Bác Hồ trong suốt cuộc đời:

Xem thêm ảnh lớn, đẹp về Bác Hồ ở đây:

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác HồBác Hồ và các cháu thiếu nhi đón khách quốc tế tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác HồBác Hồ với các trí thức Cách mạng là Đại biểu Quốc hội.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Hồ Chủ tịch nói chuyện với các học viên trường Nguyễn Ái Quốc năm 1963.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác HồHồ Chủ tịch bắt tay Tổng thống Ghine, ông Secuture tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Hồ Chủ tịch, Thủ tướng Phạm Văn Đồng (bên trái), cùng Đại tướng
Võ Nguyên Giáp duyệt đội danh dự của quân đội Việt Nam, trước khi lên đường
đi thăm các nước XHCN năm 1957.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Bác Hồ với các đại biểu Đại hội Đoàn Toàn quốc lần thứ III, năm 1963.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Thiếu nhi Hà Nội chào mừng Bác Hồ đến bỏ phiếu Quốc hội khóa II, năm 1960

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Bác Hồ thăm các gia đình công nhân trường cán bộ công đoàn, năm 1961

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Nhân dân Thủ đô chào mừng Hồ Chủ tịch và Chủ tịch nước Trung Hoa,
ông Lưu Thiếu Kỳ đến thăm Việt Nam.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Bác Hồ cấy thử máy cấy tại trại thí nghiệm của thanh niên ở huyện Gia Lâm,
Hà Nội, năm 1960.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Bác Hồ nói chuyện với nhân dân thôn Lỗ Kê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh,
Hà Nội, năm 1964.

Những bức hình đẹp về cuộc đời Bác Hồ
Bác Hồ xem các cháu thiếu nhi bơi tại bể bơi quận Ba Đình, Hà Nội, năm 1962.

Xem thêm ảnh lớn, đẹp về Bác Hồ ở đây:

Nhà báo Mai Nam tên thật là Nguyễn Hữu Thống, sinh năm 1931 tại Bắc Ninh. Ông từng công tác tại Ban Tuyên huấn, Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc. Năm 1953 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1954 ông làm ở báo Tiền Phong cho đến năm 1994 thì nghỉ hưu.

Trong cuộc đời làm báo của mình, Mai Nam đã chụp hơn 200 tấm ảnh về Bác Hồ. Ông bảo, được chụp ảnh một lãnh tụ như Bác là một vinh dự lớn cho những người làm báo như ông.“

Hồ Chủ tịch có một phong thái rất đặc biệt. Bác hay hỏi han sức khỏe mọi người, hay ôm hôn và cho kẹo các cháu nhỏ…Ở Bác Hồ toát lên tình yêu bao la với quần chúng mà những bức ảnh dù chụp thế nào cũng không thể hiện hết được điều đó” – nhà báo Mai Nam nhớ lại.

Hoàng Lan
(Ảnh chụp lại từ bộ ảnh của nhà báo Mai Nam)

vtc.vn

Nhớ Bác, trong mỗi việc làm

Dẫu bận trăm điều quốc kế, dân sinh, Bác Hồ vẫn luôn dành thời gian đến thăm và chỉ đạo các địa phương. Sáng ngày 6 tháng 4 năm 1961, ngày vinh dự, tự hào và thật đáng nhớ của nhân dân Bắc Giang, Bác Hồ về thăm và nói chuyện với ba vạn người tại sân vận động thị xã.

Bây giờ, những người may mắn được chứng kiến buổi gặp gỡ thân thiết và trang trọng ấy nay đã ở bậc cao niên. Nhưng với họ, được nghe Bác căn dặn là những lời luôn thấm thía nhắc nhở suốt cuộc đời. Thân thiết, cởi mở, Bác căn dặn việc xây dựng Đảng, chính quyền, phát triển kinh tế, chăm lo thế hệ trẻ… sao cho Bắc Giang vững vàng về kinh tế, phát triển văn hoá – xã hội ổn định. Bác đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng và nhắc nhở: “Đảng ta là đảng lãnh đạo cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân, đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì vậy, cán bộ và đảng viên phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đày tớ hết sức trung thành với nhân dân”. Trước đó, Người đã từng căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải coi việc nước, phụng sự nhân dân là trước hết và trên hết. Trong cuộc sống của mình, Người luôn làm gương cho việc hy sinh quyền lợi cá nhân, gia đình vì sự nghiệp lớn của dân tộc.

Trong bối cảnh năm đầu của thập niên sáu mươi thế kỷ trước, khi chuẩn bị bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất có nhiều vấn đề đặt ra sau khi cải tạo kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, riêng với Bắc Giang, Bác còn căn dặn: “cán bộ phải thật sự đoàn kết, nhất trí, phải đi sâu, đi sát, phải lãnh đạo thiết thực và toàn diện. Phải chống tư tưởng bảo thủ, chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chống lãng phí, tham ô”, “một điểm quan trọng nữa là cần phải củng cố tốt và phát triển tốt các chi bộ Đảng và các chi đoàn thanh niên”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ luôn được Bác coi trọng. Trong thực tế lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước ngay sau khi nước nhà độc lập, Bác đã khẳng định: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết phải có nhân tài. Trong số hai mươi triệu đồng bào không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiến năng, các địa phương cần phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết”.

Bàn sâu về công tác tuyển dụng, đào tạo và sử dụng cán bộ, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10 – 1947), khi nói về việc dạy cán bộ và dùng cán bộ, Bác luôn quan tâm đến vấn đề đào tạo, quy hoạch thay thế cán bộ và coi đó là một tất yếu. Bác viết: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, Đảng ta phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Nhấn mạnh tính chiến đấu trong Đảng, lường trước sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ và việc đào tạo cán bộ thay thế, Người viết: “Đảng ta là một đoàn thể đấu tranh. Trong cuộc tranh đấu thường hao tổn một số cán bộ quý báu. Vì vậy chúng ta càng phải quý cán bộ, phải bổ sung cán bộ, phải giữ gìn cán bộ cũ và đào tạo cán bộ mới”. Bác biết rằng: “Trong Đảng ta có những nơi thường dùng những người văn hay, nói khéo, nhưng không làm được việc, không ra tranh đấu. Mà những đồng chí viết không hay, nói không thạo nhưng rất trung thành, hăng hái, rất gần gũi quần chúng, thì bị dìm xuống. Chúng ta phải sửa chữa ngay quan điểm đó”. Tuy nhiên, khi nói đến chính sách cán bộ và việc tạo điều kiện cho họ phấn đấu hết mình, Bác yêu cầu: “Phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Khi họ đau ốm phải có thuốc thang. Tuỳ theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đề gia đình. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ và sự đoàn kết thân ái trong Đảng. Không phải vài ba tháng , vài ba năm mà đào tạo được một người cán bộ tốt… Phải thương yêu cán bộ giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm”. Khi dùng cán bộ phải hiểu rằng: “Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay, vì vậy chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ”. Những dòng Di chúc cuối cùng để lại, Bác vẫn nhắc nhở “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ (đoàn viên thanh niên), đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Từ đó, qua nhiều kế hoạch 5 năm, qua nhiều nhiệm kỳ đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, cán bộ và nhân dân trong tỉnh đã đẩy năng suất cây trồng, vật nuôi lên từng bước vững chắc, tự túc được lương thực thực phẩm và sản xuất được hàng hoá xuất khẩu. Với Bác Hồ, nhân đạo tức là phải chống thứ giặc nghèo nàn – cội nguồn của những tệ nạn xã hội, suy dinh dưỡng, bệnh tật, kém văn hoá – giáo dục, suy thoái thể chất, tinh thần và nhân cách. Bởi vậy Bác khát khao cho mọi người “ngày càng tiến bộ lên, càng ngày càng giầu có”. Lời Người căn dặn năm nào, bây giờ đang được lớp lớp con cháu chứng minh bằng thực tế sinh động. Dẫu còn những gia đình phải đương đầu vật lộn trong cuộc sống khó khăn nhưng những thành tựu về giáo dục, y tế, văn hoá và một số lĩnh vực trên địa bàn tỉnh đã có những bước tăng trưởng đáng mừng. Cán bộ, nhân dân Bắc Giang đã có thể báo công dâng Bác những gì đã làm được trong bốn chục năm làm theo Di chúc của Người và hơn hai năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Lan Hương – BGO

sites.google.com

Hồ Chí Minh – Chân dung một con người

Xem phần một: Hồ Chí Minh – Chân dung một con người

Ở Paris có bức tường “Những người làm nên thế kỷ 20″ (Ils ont fait le XX Siecle) có nụ cười Bác Hồ ở đây, giữa những trí tuệ, những tâm hồn lớn ở thời đại chúng ta. Trong một thế giới vẫn còn nhiều bạo ngược và lẫn lộn, đã có một cuộc đời Hồ Chí Minh, một con người Hồ Chí Minh.

Người ta có thể gọi Bác bằng nhiều cách khác nhau: 1 vị lãnh tụ, 1 người cộng sản chân chính, 1 tâm hồn và trí tuệ lớn lao, 1 con người của những quyết định lịch sử; nhưng trên hết thảy, Hồ Chí Minh là 1 người con yêu nước vĩ đại đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Ngày 19 tháng 5 năm 1890, cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời tại quê ngoại làng Chùa, Nam Đàn, Nghệ An. 500 năm trước, chúng ta có người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. 500 năm sau, theo đúng lời sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:“Đụn Sơn phân giải, Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh”, chúng ta có Hồ Chí Minh.

Tuổi thơ của cậu bé Cung đã chứng kiến kiếp sống nô lệ lầm than của dân tộc dưới nhiều tầng áp bức. Ngày vua Thành Thái bị thực dân Pháp bắt đi đầy, vua đã khẳng khái: “Muôn dân nô lệ từng đàn. Vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta”. Khi đó Nguyễn Sinh Cung đang ở Huế cùng cha, trước cảnh đó, cậu đã cúi mặt xuống để không rơi lệ; nhưng cha cậu – nhà Nho yêu nước Nguyễn Sinh Sắc đã nhắc cậu ngẩng mặt lên nhìn để không quên thù nhà nợ nước vẫn còn chưa trả xong. Từ đó cho đến mấy chục năm về sau, người thanh niên yêu nước đó không bao giờ cúi mặt nữa, không bao giờ chịu khuất phục trước bất kỳ sức mạnh nào; kể cả sau này là Nguyễn Tất ThànhNguyễn Ái QuốcVăn BaLý ThuỵHồ QuangBác Hồ, hay Hồ Chí Minh.

Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Nhà Rồng với đôi bàn tay trắng. Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Pháp. Rồi anh sang Liên Xô để hoạt động cách mạng Quốc tế. Năm 1924, Lý Thụy sang Trung Quốc, thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội ở Quảng Châu, đồng thời viết cuốn Đường kách mệnh.

Sau 30 năm bôn ba, đến năm 1941, Người trở về Việt Nam, thành lập Mặt trận Việt Minh, từ đây Người là Hồ Chí Minh, trực tiếp lãnh đạo Đảng Cộng Sản Đông Dương và phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Bác viết:

Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài, nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta.

Năm 1946, trong lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, Người khẳng định:

Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ.

Bằng niềm tin sắt đá và nhiệt huyết của mình, Người đã nêu gương sáng của 1 người Việt Nam sống có lý tưởng:

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Trí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập, nhất định thành công.

Cuộc đời Bác còn có gì đặc biệt ? Trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tùng, Bác đã tự nhận là người không có gia đình và không có con nhưng “gia đình tôi là Việt Nam, con cái tôi là các thanh niên Việt Nam”. Hiếm có vị lãnh tụ nào nếm mật nằm gai chịu khổ cùng quân dân trong những năm kháng chiến, rồi lại sát cánh cùng cả nước dựng xây trong những năm hòa bình như Hồ Chí Minh đã làm. Cho dù không phải tất cả đều diễn ra như mong muốn  Trước những sai lầm nặng nề trong cải cách ruộng đất bởi tính giáo điều bảo thủ và áp đặt cộng sản, Bác đã khóc nhận trách nhiệm và tự phê bình trước toàn dân:

Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận những khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có, và tìm mọi cách sửa chữa những khuyết điểm đó, như thế mới là một đảng mạnh dạn, chắc chắn, và chân chính.

Những năm sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ bị phá vỡ, đất nước bị chia cắt, lại phải lo thù trong giặc ngoài; một mặt là sự đánh phá khốc liệt của đế quốc Mỹ tại miền Bắc Việt Nam, một mặt là sự chống Cộng điên cuồng của chính quyền tay sai miền Nam Việt Nam; dân tộc ta vẫn kiên cường đi theo con đường đã vạch ra, đấu tranh không mệt mỏi giữa một bên là sức mạnh vật chất kinh khủng và mù quáng với một bên là sự lựa chọn trí tuệ và tình thương của từng con người. Trong những lúc cam go khó khăn nhất đó, Người vẫn vững một niềm tin, bởi đến ngày thống nhất, chúng ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Thế giới đánh giá ra sao về vị Chủ tịch nước này ? Họa sĩ Thụy Điển Eric Johansonnói về Nguyễn Ái Quốc:

Đó là một con người kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, một con người uyên bác.

Còn nhà thơ Xô Viết Oxit Măngđenstand đã viết:

Cả khuôn mặt Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và tế nhị, từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải nền văn hóa ở châu Âu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai. Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bỉển lặng của nền hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương.

Tạp chí TIME đánh giá Bác là 1 trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ 20.

Cuộc sống riêng của Người cũng có nhiều điểm đáng nói. Quê hương nghĩa nặng tình sâu, nhưng cả một đời vì nước vì non, cho đến khi luống tuổi, Bác mới chỉ kịp về thăm quê đôi lần. Trong dịp đi thăm quê Bác năm ngoái, người viết có được nghe hướng dẫn viên khu di tích kể lại rằng khi nhà nước có ý định trùng tu lại khu di tích này có đặt cổng ở phía vườn; lúc Bác về thăm mới chỉ rằng xưa kia cổng nhà Bác nằm ở phía này, khung cửi cũ của mẹ Bác – bà Hoàng Thị Loan – đặt ở phía kia. Vậy là suốt mấy chục năm bôn ba, cậu bé Cung vẫn nhớ như in những hình ảnh ngôi nhà nhỏ của ông Phó bảng đã nuôi dưỡng tâm hồn Người ngày nào.

Trong thư gửi anh cả Nguyễn Sinh Khiêm, Bác viết:

vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc Anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc Anh tạ thế, tôi không thể lo việc. Than ôi! Tôi chịu tội bất đễ trước linh hồn Anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước.

Thân sinh Bác, cụ Nguyễn Sinh Sắc, mất tại miền Nam, Bác còn chưa đến thăm được.

Tuổi xế chiều, Bác Hồ đã về sống ở đây, đúng như mong muốn của Người được sống trong ngôi nhà nhỏ, có vườn cây, ao cá, sớm chiều bầu bạn với các cụ già em nhỏ, xa lánh vòng danh lợi. Cuộc sống vật chất của Người chỉ nhỏ bé vậy thôi, trái ngược với ham muốn to lớn của Người:

Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

Xin mượn câu nói của đồng chí Lê Duẩn thay cho lời kết bài: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, và non sông đất nước ta.”

Trong phòng riêng của người viết có treo 1 tấm ảnh “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” như một lời nhắc nhở noi theo tấm gương của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, với niềm tự hào được làm một người con đất Việt – Trên ngực áo này không một tấm huân chương, và sau làn vải ngực áo này có một trái tim.

Nhân ngày này, xin được viết đôi dòng gửi đến Bác tình cảm kính yêu chân thành nhất. Chúc mừng 19 tháng 5 với 2 mốc son chói lọi: 1890 và 1983, chúc mừng sinh nhật Hồ Chủ Tịch

———–

Bài viết có sử dụng tư liệu:

  • Phim “Hồ Chí Minh – Chân dung một con người”
  • Phim “Việt Nam – Cuộc chiến mười nghìn ngày”
  • Chuyên đề “Bác Hồ kính yêu
  • Truyện “Bác Hồ viết di chúc” (Vũ Kỳ)

sites.google.com

Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn

Người Chánh Văn phòng Khu giải phóng Tân Trào ngày ấy là cụ bà Trần Thị Minh Châu, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, Cục trưởng Cục Xuất bản Bộ Văn hóa… năm nay 88 tuổi đời, 70 tuổi Đảng. Chiều 19/8, đúng kỷ niệm 65 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám, tôi đến thăm cụ.

Có thể nói rằng, cụ bà Trần Thị Minh Châu là một nhà báo lão thành, vì cụ từng tham gia viết Báo Đảng bí mật từ thời kỳ Mặt trận Bình dân năm 1939 với các đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư Trường Chinh, đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Đào Duy Kỳ… Rồi sau đó cụ là người phụ trách (như tổng biên tập bây giờ) tờ Báo Bãi Sậy ở Hưng Yên (cùng nhà văn Học Phi)… Những năm gần đây, cụ vẫn viết báo, viết sách. Còn bây giờ: “Bà già rồi, yếu rồi, không còn viết nữa, chứ cũng có nhiều chuyện đáng để viết lắm đấy”. Tôi xin cụ kể cho nghe những kỷ niệm ở Tân Trào ngày cụ làm Chánh Văn phòng Khu giải phóng. Cụ Trần Thị Minh Châu hồi tưởng…

Cho tôi gặp đồng chí Chi

Tháng 4 năm 1945, đang công tác tại Võ Nhai – Đình Cả (Thái Nguyên), sau khi chỉ huy Cứu Quốc quân đánh thắng thực dân Pháp liên tiếp ở Tràng Xá, La Hiên và Đình Cả thì có quyết định của cấp trên điều tôi về Tân Trào nhận nhiệm vụ mới.

Sau nhiều ngày trèo đèo lội suối, tôi đã đến được Tân Trào thuộc châu Tự Do (Sơn Dương – Tuyên Quang) Thủ đô cách mạng. Tại Tân Trào đã thành lập Ủy ban khu giải phóng Trung ương lâm thời gồm sáu tỉnh: Cao Bằng – Bắc Kạn – Lạng Sơn – Hà Giang – Tuyên Quang – Thái Nguyên do đồng chí Tống (Phạm Văn Đồng) làm Chủ tịch, đồng chí Hưng (Võ Nguyên Giáp) làm Ủy viên Thường trực. Cạnh nhà của Ủy ban khu giải phóng Trung ương có hai đơn vị là Ban quản lý do đồng chí Lý (Hoàng Hữu Kháng) phụ trách và Văn phòng, khi tôi về liền được cử phụ trách, lấy bí danh là Chi.

Một hôm có một đồng chí lên Tân Trào vào Văn phòng đề nghị: Cho tôi gặp đồng chí Chi. Vâng, mời anh vào. Ông ấy cứ loay hoay mãi: Tôi có việc cần lắm, chị cho tôi gặp đồng chí Chi ngay, càng sớm càng tốt. Tôi chỉ muốn gặp đồng chí Chi để giải quyết công việc này, xong tôi phải về ngay. Lúc bấy giờ buồn cười, tại sao mình không nói tôi là Chi đây, lại cứ vâng mời anh vào làm việc.

Thấy khách cứ băn khoăn đi ra đi vô, cậu Nguyễn Chính (tức Du Phong) đang ngồi đánh máy ở phòng trong, chạy ra bảo: Thì đồng chí Chi là đồng chí này chứ còn ai nữa mà từ nãy giờ cứ lằng nhằng mãi. Ông kia ngạc nhiên, chị là đồng chí Chi à? Vâng, tôi là Chi. Ngồi làm việc một lúc lâu, đến khi xong việc, ông ấy đứng lên bảo: Tôi xin lỗi chị, tôi tưởng Chi là anh Chi. Tôi bảo có gì đâu mà phải xin lỗi.

Thì ra, các tỉnh trong vùng giải phóng nhận được công văn từ Văn phòng Khu giải phóng, lại nghe nói người phụ trách Văn phòng là đồng chí Chính trị viên Cứu Quốc quân từng chỉ huy đánh thắng quân Pháp ở Võ Nhai. Họ cứ yên chí đây là một nam giới nên rất bất ngờ khi thấy đó là một cô gái trẻ đẹp mới 23 tuổi.

Chiếc áo Bác Hồ

Thời gian ở Tân Trào, tôi cùng anh em được xếp ở nhà ông Tiến Sự là một già bản có uy tín nhất làng Kim Long. Hằng ngày, tôi được anh em và đồng bào kể nhiều chuyện về “Ông Ké” người dong dỏng cao, quắc thước, nhanh nhẹn, đặc biệt ông có đôi mắt rất sáng, rất tinh anh. “Ông Ké” mới về đây được vài tháng đã dựng lán bên lưng núi Nà Lừa để ở và làm việc. Nhưng ông luôn quan tâm đến đồng bào nên được đồng bào vô cùng quý mến.

Phải hơn một tháng sau khi tôi đến Tân Trào công tác, đồng chí Lê Giản mới “bật mí” cho tôi biết “Ông Ké” chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, là Cụ Hồ Chí Minh.

Với anh em phục vụ, “Ông Ké” luôn gần gũi và quan tâm. Lúc đó bên cạnh lán của Bác còn có lán điện đài liên lạc với quân Đồng Minh do một số người Mỹ trong nhóm tình báo “Con Nai” của OSS làm việc. Mỗi lần đi công tác với các bạn Mỹ về, bao giờ Bác cũng có quà, dù món quà rất đơn giản, cho mọi người, nhưng đó là thể hiện tấm lòng của Bác.

Có một kỷ niệm tôi không bao giờ quên trong cuộc đời của mình. Một hôm, Bác được các bạn người Mỹ tặng chiếc áo bludông để mặc vào mùa đông giá rét. Bác không dùng cho riêng mình mà đem ra cho anh em. Nhưng cơ quan Ủy ban Giải phóng rất đông người nên Bác bảo hãy bắt thăm để cho công bằng. Thấy tôi ngồi im lặng không tham gia, Bác bảo tôi cũng phải bắt thăm. Tôi giãy nảy vì người tôi bé nhỏ, còn cái áo thì vừa to vừa rộng thùng thình làm sao tôi mặc được. Bác ôn tồn nói: “Cô vẫn phải tham gia bắt thăm, không phân biệt nam nữ”. Cuối cùng tôi lại chính là người bắt trúng, cái áo thuộc về tôi. Lúc đó Bác mới nhẹ nhàng: “Bác không tặng cái áo này cho cô Chi đâu. Cô giữ lấy đến khi nào chú ấy ở ngoài Côn Đảo về thì để chú ấy mặc”.

Tôi sửng sốt quá vì chưa bao giờ tôi thấy Bác hỏi về hoàn cảnh gia đình tôi. Vậy mà Bác biết rõ anh Đào Duy Kỳ, chồng tôi, đang ở nhà tù Côn Đảo. Tôi cảm động quá không cầm nổi nước mắt, nước mắt cứ nhạt nhòa. Tôi thấy tấm lòng của Bác thật mênh mông. Đó là tấm lòng của người cha vô cùng tôn kính, vô cùng thân thương, luôn luôn lo lắng, chăm sóc hết mực cho con cái. Từ đó, đi đâu tôi cũng mang chiếc áo theo bên người.

Hà Nội tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Bác và các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn… về Hà Nội. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Lê Giản… và tôi được Bác giao nhiệm vụ vẫn tiếp tục ở lại xây dựng và củng cố căn cứ Việt Bắc.

Cuối tháng 9/1945, trước yêu cầu mới của cách mạng, chúng tôi lần lượt về Hà Nội nhận nhiệm vụ. Đồng chí Phạm Văn Đồng làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, đồng chí Lê Giản làm Giám đốc Nha Công an Trung ương. Tôi tham gia phong trào Nam tiến, cùng đoàn với đồng chí Lê Đức Thọ, để có điều kiện sớm gặp anh Đào Duy Kỳ vừa được đón từ Côn Đảo về đất liền.

Bà Trần Thị Minh Châu (thứ 3, từ phải qua) và Đội Du kích Võ Nhai.

Bác Hồ và những người lính Mỹ (0SS)

Cũng trong khi ấy người Mỹ muốn xâm nhập Đông Dương để ngăn chặn sự tấn công của Nhật ở phía Nam Trung Quốc và Đông Dương. Họ gặp phải nhiều khó khăn, nên cũng cần tìm một đối tác hợp lý để nhanh chóng vào sâu Đông Dương.

Một sự kiện tình cờ đã đến – một máy bay của Mỹ bị trúng đạn Nhật, phi công đã nhảy dù xuống vùng núi gần thị xã Cao Bằng – được Việt Minh cứu.

Bác Hồ đã lệnh phải bảo vệ an toàn và bí mật đưa về gặp Bác. Người phi công ấy là Trung úy Sao (William Shaw).

Bác Hồ đã gặp Sao nói chuyện chân tình. Quà tặng cho Sao là một tấm lụa trắng thêu dòng chữ tiếng Anh “Chúc mừng khách đến”, một tấm vải đỏ có chữ ký của nhiều hội viên Mặt trận Việt Minh ủng hộ Đồng Minh chống phát xít.

Bác Hồ còn tặng Sao một bản dịch tiếng Anh toàn văn bản Chương trình Việt Minh rồi cho người đưa Sao về Côn Minh. Sao đã báo cáo tất cả những gì tai nghe mắt thấy, tất cả sự chăm sóc bảo vệ của Việt Minh cho tướng Sê-nô (Claire L. Chernault).

Sau đó không lâu, Bác Hồ với danh nghĩa là phái đoàn của Việt Nam độc lập đồng minh sang đàm phán với Mỹ – Đồng minh về hợp tác đánh Nhật, đã gặp được tướng Sê-nô. Qua sự phản ánh của Trung úy Sao – qua tình báo riêng của Bộ Tư lệnh – và cũng qua sự tiếp xúc với Bác Hồ, người Mỹ rất vui mừng vì đã nhận được những thông tin hết sức quan trọng về quân Nhật trên lãnh thổ Đông Dương. Ngoài ra Việt Minh còn giúp đỡ cứu trợ những phi công Mỹ bị nạn và những gì mà Đồng minh yêu cầu.

Về phía Việt Minh, Bác Hồ chỉ mong muốn Mỹ giúp đỡ vũ khí, điện đài và giúp đào tạo cán bộ, nhân viên sử dụng vũ khí, điện đài.

Tướng Sê-nô đã tin cậy đáp ứng mọi yêu cầu của Bác Hồ.

Khi trở về Việt Nam, theo Bác có hai người Mỹ cùng đi. Họ trở thành những người Mỹ đầu tiên có mặt ở Khu giải phóng Việt Nam. Họ có nhiệm vụ đón tiếp những người Mỹ khác sẽ lần lượt đến.

Trong chuyến đi này, Bác giành được hai mục đích: Một là đã gây được thiện cảm với Mỹ – Đồng minh, tranh thủ được sự giúp đỡ của Mỹ – được Mỹ công nhận vai trò của Việt Nam trong sự hợp tác đánh Nhật. Hai là đã tạo được thế vững chắc cho cách mạng Việt Nam bên cạnh người bạn láng giềng Trung Quốc.

Vào lúc 16h ngày 16/7/1945, chúng tôi đón đoàn phi công nhảy dù xuống Tân Trào gồm 6 người do Thiếu tá Tô-mát chỉ huy.

Để chuẩn bị tiếp đoàn Mỹ, Bác Hồ bảo chúng tôi phải làm một bữa tiệc mừng.

Chúng tôi lại chụm đầu vào bàn bạc: Khó quá, ở giữa rừng này làm gì có thực phẩm, bát đĩa cũng không. Cũng chẳng ai biết nấu cơm tây, lại còn tiệc tây nữa.

Biết nỗi lo của chúng tôi nên Bác nói:

– Các chú, các cô bí rồi phải không? Vậy hãy cho người sang Định Hoá nhờ Chủ tịch Chanh mua giúp cho con bê – đem về thui chín vàng, để cả con nằm trên chõng tre. Hai bên làm dẫy ghế ngồi cũng bằng tre nứa. Sắp mỗi người một con dao (người Mỹ đã sẵn có dao và nĩa). Có đĩa muối, đĩa gừng, có rượu do đồng bào tự nấu, uống bằng bát to. Mọi người tự do thích ăn chỗ nào thì tự cắt lấy.

Chúng tôi nhìn nhau ngần ngừ. Bác như đã hiểu, Người giải thích luôn: “Không có gì ngại cả – kể cả Tây và ta, không phải ai cũng được ăn một bữa tiệc dân dã trong rừng đâu. Cứ làm đi, để rồi xem họ có thích không? Còn thú vị lắm nữa kia!”.

Quả là sau đó, đoàn Mỹ rất hài lòng, mừng rỡ lắm. Chúng tôi lại thì thầm với nhau:

– Đúng là Bác không chỉ rành việc lớn mà thạo cả việc nhỏ, mọi việc đều chu đáo!

Đoàn Mỹ sang Việt Nam chỉ mang theo lương khô. Bác lại bàn phải lo thực phẩm tươi sống cho họ. Mỹ bây giờ là đồng minh, là bạn của mình, nên phải chăm lo sức khỏe cho họ, không để họ sống thiếu thốn, kham khổ như mình.

Ủy ban Khu giải phóng đóng ở Tân Trào, nhân dân huyện Sơn Dương vốn rất nghèo. Chúng tôi phải sang huyện Định Hóa bàn với Chủ tịch Chanh. Đồng chí Chanh nhận lời ngay và cử hai hội viên là Nguyễn Văn Sách và Ma Văn Bầu lo việc này.

Từ đấy cứ cách hai ba ngày có một đoàn người vừa gánh vừa khiêng những đậu, thịt, rau, trứng, măng từ Định Hóa sang… Họ phải leo qua đèo De, luồn rừng trên 20 cây số mới đến được Tân Trào. Các bạn Mỹ thích ăn thịt thú rừng nên có khi được cả một con dê, hay có lần một con nai còn nguyên cặp lộc nhung mềm.

Có mấy tháng liền nhân dân Định Hóa tiếp tế cho cả Khu giải phóng, trong khi ấy gia đình con cái họ chỉ ăn con cá, con ốc bắt được ở suối với lọ măng ngâm ớt.

Đồng bào nói: Mình nuôi bạn Mỹ để Mỹ cùng Bộ đội Cụ Hồ đánh Tây, đuổi Nhật, nước Việt Nam được độc lập tự do, mình sẽ được ấm no.

Trước khi Bác về Hà Nội, Bác lại dặn chúng tôi:

– Ta chẳng có tiền, cũng chẳng có vật gì kỷ niệm cho đồng bào. Có đống dù của Mỹ, các cô chịu khó tháo từng ô đem biếu đồng bào. Tính theo đầu người, mỗi người một mảnh. Đồng bào có thể cắt may áo, may chăn.

Nhận được món quà nhỏ từ những tấm vải dù nhân dân rất là phấn khởi.

Đồng bào Sơn Dương, Định Hóa, cũng như mọi người dân Việt Nam đã có tập quán nuôi quân, khi còn là du kích, dân quân tự vệ. Nhân dân không chỉ nuôi ăn mà còn mang cả quần áo, lo giày dép, thuốc men. Không bao giờ nhân dân đòi thanh toán. Họ nói: Con cái góp cho cách mạng còn được, thì tài sản của dân cũng là của cách mạng, của nước nhà

Kiều Mai Sơn

cand.com.vn

Ký ức của những người con Tây Nguyên được gặp Bác Hồ

Lúc sinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm và dành nhiều tình cảm thân thương đối với đồng bào Tây Nguyên. Trong những năm tháng chiến tranh, nhiều người con Tây Nguyên ra miền Bắc học tập, lao động và chiến đấu đã vinh dự được gặp Bác Hồ. Được gặp Bác, được Bác khuyên dạy những điều hay, lẽ phải là niềm vinh dự to lớn và trở thành kí ức gắn bó mãi mãi với cuộc đời của mỗi người con Tây Nguyên…

Vinh dự được gặp Bác Hồ

Ở Tây Nguyên cùng với Anh hùng Núp, trong kí ức của những người con ưu tú ở Tây Nguyên được gặp Bác Hồ hôm nay còn sống, ai ai cũng bồi hồi nhớ Bác. Một trong những người cán bộ cách mạng đầu tiên ở Tây Nguyên hiện đang sống ở Pleiku là ông KSor Ní, năm nay đã bước sang tuổi 87.

Tháng 8/1945 sau khi đón đại diện của Việt Minh về tiếp nhận chính quyền tại Pleiku, ông KSor Ní cùng với bạn bè, những người thanh niên yêu nước về quê tổ chức khởi nghĩa, bao vây huyện lỵ Cheo Reo, buộc chính quyền tay sai thân Nhật phải hạ vũ khí đầu hàng. Trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước ta năm 1946, ông KSor Ní được bầu là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai khoá I.

Tháng 5 năm 1946, ông ra Hà Nội dự Đại hội Thanh niên các dân tộc Việt Nam và lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Nhớ lần ấy, chàng thanh niên Jơ Rai trẻ tuổi KSor Ní đứng giữa phố Hà Nội tình cờ nghe đài Pháp đưa tin không đúng sự thật rằng: “Pháp đã chiếm được Tây Kỳ (Tây Nguyên) và nhân dân Tây Kỳ vui khi thấy quân Pháp trở lại”.

Nghe những lời tuyên truyền sai sự thật ấy, KSor Ní tức giận không sao chịu được và ông đã lập tức viết bài báo bằng tiếng Pháp, phản đối lại những luận điệu xuyên tạc ấy của Pháp và kêu gọi nhân dân Tây Kỳ đoàn kết để đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước Việt Nam. Khi bài báo đăng trên tờ “Le Peuple” (Nhân Dân), Bác Hồ đã đọc và cho người mời KSor Ní cùng Y Ngông Niek Đam (Thường trực Quốc hội khóa I) đến gặp Bác.

Nhận được giấy mời của Bác, cả KSor Ní và Y Ngông vừa mừng nhưng cũng vừa lo vì không biết Bác mời gặp có chuyện gì. KSor Ní kể rằng, khi gặp Bác ở phòng làm việc, Bác thân mật hỏi thăm sức khỏe và tình hình ở Tây Kỳ nên anh em cảm thấy rất gần gũi. Tại buổi gặp gỡ đầu tiên ấy, Bác Hồ đã căn dặn, chúng ta phải đoàn kết đánh Pháp mới bảo vệ được nền độc lập. Bác xoè bàn tay và giải thích: “Một bàn tay hoàn chỉnh phải có năm ngón, thiếu một ngón là một bàn tay không hoàn chỉnh. Một ngón tay đau thì cả bàn tay cũng đau.

Các già làng dâng hoa Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Gia Lai-Kon Tum.

Cũng như cả nước Việt Nam độc lập thì Tây Kỳ phải được độc lập, vì Tây Kỳ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam”. Cuối buổi gặp gỡ, Bác đã căn dặn: “Các cháu phải cố gắng học tập và công tác tốt, đặng góp phần đánh thắng giặc Pháp, để Việt Nam mau giải phóng và được độc lập hoàn toàn”. Sau lần được gặp Bác Hồ, đồng chí KSor Ní trở về kể lại cho anh em đồng đội nghe và động viên đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng đi theo cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Hôm nay đã ở tuổi xế chiều, nhưng niềm hạnh phúc được gặp Bác Hồ vẫn mãi dâng trào với người cán bộ lão thành cách mạng KSor Ní. Ông luôn nhớ Bác, khắc ghi lời Bác dạy và luôn nhắc nhở các thế hệ con cháu: “Tây Nguyên là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của một nước Việt Nam thống nhất”.

Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn

Cùng với nhiều người con ưu tú của Tây Nguyên được gặp Bác Hồ, khắc ghi lời dạy của Bác Hồ, ông Nguyễn Văn Sỹ (Ksor Krơn), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai – Kon Tum, người đã trọn một đời sắt son với Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân đã xúc động mỗi khi nhắc đến những lần được gặp Bác Hồ.

Ông Ksor Krơn kể, cuộc đời mình từng hàng chục năm làm cách mạng nhưng không hề có lương, chỉ toàn là ăn cơm của dân, được nhân dân nuôi và che chở. Ý thức gần dân, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân trong con người Ksor Krơn là một minh chứng sinh động. Ông luôn sống và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại. Ông tâm sự, sau hơn 35 năm đất nước hoàn toàn thống nhất, cấp ủy Đảng và chính quyền ở các tỉnh Tây Nguyên từng ngày thực hiện theo lời dặn của Bác là làm sao cho đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Lời mong ước của Bác Hồ ngày càng đến được hiện thực với nhiều gia đình hơn ở Tây Nguyên. Đó là niềm hạnh phúc mà chúng ta đã thực hiện theo lời dạy của Bác.

Các già làng Tây Nguyên nghe đọc lại thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam.

Ông Ksor Krơn nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác Hồ trong một chuyến công tác thăm đập thủy lợi Bái Thượng (Thanh Hóa). Lúc về Bác dừng chân nói chuyện với nhân dân ở địa phương và có mời các sinh viên đến nghe, trong đó có Ksor Krơn. Bác nêu gương Anh hùng Lao động Trịnh Xuân Bái ở Thanh Hóa cho mọi người noi theo và dặn mọi người muốn làm được việc lớn phải đoàn kết phát huy trí tuệ, sức mạnh tập thể, noi gương sáng, bỏ đi những ý thức cá nhân hẹp hòi ích kỷ…

Lời dạy ấy của Bác là kim chỉ nam đã đi suốt cuộc đời làm cách mạng của ông Ksor Krơn. Hôm nay, luôn tâm huyết với những điều Bác dạy, ông Ksor Krơn nói: “Những người làm cách mạng mà không loại bỏ được sự cá nhân ích kỷ, không phát huy được cái mạnh vì lợi ích chung của nhân dân thì sẽ không tồn tại lâu được”.

Chính vì thế mà mỗi lần có dịp được tâm sự, nói chuyện với thế hệ cán bộ trẻ hôm nay ở Tây Nguyên, ông Ksor Krơn luôn khuyên mọi người phải nhớ và thực hiện theo những lời dạy tốt đẹp của Bác Hồ. Còn với nghệ sĩ nhân dân Y Brơm tham gia cách mạng khi mới tròn 12 tuổi. Chàng thanh niên của núi rừng Tây Nguyên được gặp Bác Hồ khi anh là diễn viên của đoàn văn công Tây Nguyên. Hồi ấy, Y Brơm được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để phục vụ khách quý của Bác.

Một lần vào tháng 5/1967, Y Brơm dựng vở “Múa Trống Tây Nguyên” để biểu diễn cho khách quốc tế xem. Trước khi đi biểu diễn nước ngoài, Bác Hồ đã xem và xúc động đứng dậy tặng hoa cho các nghệ sĩ biểu diễn. Xem xong vở diễn, Bác gọi Y Brơm đến bảo: “Cháu giỏi lắm, sau này về dạy lại cho bà con Tây Nguyên nhé!”. Y Brơm xúc động muốn khóc và khắc ghi mãi lời Bác dạy trong suốt cuộc đời mình. Đối với Y Brơm hình tượng Bác Hồ như một vị thần, mà theo tiếng địa phương gọi là Yàng. Những lời nói, việc làm của Bác đã trở thành động lực mạnh mẽ đối với cá nhân ông cũng như đồng bào Tây Nguyên, giữ vững khối đại đoàn kết, lao động, sáng tạo để xây dựng Tây Nguyên ngày càng giàu đẹp.

Nhớ lời Bác dạy, Nghệ sĩ Nhân dân Y Brơm suy nghĩ: phải học nhiều hơn, sáng tạo nhiều hơn về nghệ thuật gắn với đời sống văn hóa đồng bào Tây Nguyên để góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc ấy. Cũng chính từ sự lao động sáng tạo miệt mài mà Y Brơm là một trong 3 nghệ sĩ múa được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân đầu tiên ở Việt Nam (1984). Trong 140 tác phẩm đặc sắc của Y Brơm, có 40 tác phẩm được Nhà nước công nhận, trong đó có một chùm tác phẩm đạt Giải thưởng Nhà nước.

Sau giải phóng, về công tác ở quê hương, Y Brơm đã dành hết tình cảm, tâm huyết của mình cống hiến cho đồng bào Tây Nguyên yêu thương mà không bao giờ nghĩ đến việc phải được hưởng một chút gì về vật chất. Y Brơm quan niệm, chức quyền, giàu sang cũng chỉ là phù du, nhưng văn hóa đặc trưng của buôn làng Tây Nguyên thì mãi mãi trường tồn với thời gian và ông đã sống hết mình với nghệ thuật

Ngọc Như (Báo CAND Tết 2011)

cand.com.vn

Chuyện Bác Hồ đi bầu cử

Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: “Ai đến trước, bầu trước. Bác đến sau, Bác chờ”.

Chuyện Bác Hồ đi bầu cửNgày 8/5/1960, nhân dân và thanh thiếu niên Thủ đô Hà Nội chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bỏ phiếu bầu Quốc hội Khóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại phòng bỏ phiếu số 1, tại số nhà 67 phố Cửa Bắc, khu phố Ba Đình – Hà Nội. Ảnh: Mai Nam.
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong hoàn cảnh chính quyền non trẻ gặp muôn vàn khó khăn, cùng một lúc phải chống lại thù trong giặc ngoài và giặc đói giặc dốt, Bác Hồ vẫn đề nghị Chính phủ lâm thời tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

Tại cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên (Quốc hội khoá I) năm 1946,Thủ đô Hà Nội là nơi Bác Hồ ra ứng cử. Gần đến ngày bầu cử, có 118 vị là Chủ tịch Ủy ban Hành chính đã công bố một bản đề nghị “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi ủng hộ và suy tôn vĩnh viễn Cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.

Đây cũng là nguyện vọng của đông đảo nhân dân ta. Mặc dù vậy, Bác Hồ đã viết một bức thư ngắn cảm tạ đồng bào và đề nghị đồng bào cho Người thực hiện quyền và nghĩa vụ của người công dân.

Bức thư có đoạn viết: “Tôi là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nên tôi không thể vượt qua thể lệ của cuộc Tổng tuyển cử đã định”.

Trước ngày Tổng tuyển cử một hôm, tại khu Việt Nam học xá (Nay là khu vực Trường Đại học Bách Khoa, Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dự mít tinh của hơn hai vạn đồng bào Hà Nội ủng hộ cuộc bầu cử Quốc hội.

Tại cuộc mít tinh, Người nói: ” Làm việc bây giờ là hy sinh, là phấn đấu quên lợi ích riêng mà nghĩ lợi ích chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu”.

Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I, Người đã trúng cử với số phiếu rất cao. Khi kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khoá I tín nhiệm bầu vào vị trí Chủ tịch Chính phủ kháng chiến, Người phát biểu: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác, thì tôi phải gắng làm, cũng như mọi người lính vâng lệnh Quốc dân ra trước mặt trận”.

Đúng 14 năm sau, sáng 15/4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 12 Quốc hội khoá I. Sau khi nêu lên: “Quốc hội ta là Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam châu Á, cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do”.

Là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Quốc hội khoá I đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ cộng hòa. Do điều kiện đất nước bị chia cắt, nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khoá I kéo dài từ tháng 1/1946 đến tháng 5/1960.

Thông qua 12 kỳ họp, đặc biệt là hoạt động của Ban Thường trực Quốc hội, luôn có mặt bên cạnh Chính phủ để chỉ đạo công tác kháng chiến – kiến quốc; xây dựng Hiến pháp, Luật Cải cách ruộng đất; đàm phán, ký kết và đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ ne vơ; khôi phục kinh tế miền Bắc.

Quốc hội khóa I đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy, giải phóng và đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, chi viện cho công cuộc giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những cống hiến của Quốc hội khoá I suốt 14 năm và khẳng định: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân, vì nước, đã làm tròn một cách vẻ vang nghĩa vụ của người đại biểu của dân”.

Người cảm ơn Quốc hội khóa I và tin chắc rằng Quốc hội khóa II của chúng ta sẽ đưa hết tinh thần và lực lượng để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Cùng năm 1960 ấy, ngày 24/4, phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ra mắt cử tri Thủ đô, sau khi cảm ơn đồng bào đã nhất trí yêu cầu Người và các vị khác ra ứng cử vào Quốc hội khoá II, Người đã nêu lên tính chất dân chủ của Luật Bầu cử, giá trị cao quý của lá phiếu cử tri và tin tưởng rằng những cử tri sáng suốt sẽ bầu ra được một Quốc hội có những đại biểu thật xứng đáng.

Người thay mặt các ứng cử viên hứa với đồng bào: ” Những người được cử vào Quốc hội khoá II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đầy tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội.

“Bác đến sau, Bác chờ”

Sự tôn trọng, dân chủ, nghiêm túc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc làm rất nhỏ của công tác bầu cử. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác Hồ, sau này là Cục trưởng cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ – Bộ Công an) kể lại: Chiều 27/4/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử HĐND cấp huyện và xã. Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, Tiểu khu 1, Khu phố Ba Đình, Hà Nội đặt tại Nhà thuyền (Hồ Tây).

Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: “Ai đến trước, bầu trước; Bác đến sau, Bác chờ”. Sau đó, Người đã gương mẫu chờ đến lượt mình mới lấy lá phiếu và bầu cử. Nghĩa vụ là vậy, còn về “quyền” Bác cũng kiên quyết thực hiện đúng quyền của mình. Bác yêu cầu đưa lý lịch những người ứng cử để Người cân nhắc lựa chọn.

Một nhà báo định chụp ảnh Bác đang bầu cử, Người đã lấy tay che lá phiếu và ngăn lại: “Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải tôn trọng cử tri. Phải tôn trọng tự do và bí mật của công dân!”.

Sau khi bỏ phiếu xong, ra về đến Phủ Chủ tịch, Bác xuống xe quay sang hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng: “Chú có biết vì sao Nguyễn Hải Thần bị nhân dân khinh ghét không?”

Năm 1945, mỗi lần Nguyễn Hải Thần đi đâu bọn lính bảo vệ ông ta ngồi trên xe tay lăm lăm súng lưỡi lê tuốt trần và còn đặt khẩu đại liên diễu võ giương oai, trông rất lố lăng.

Nghe Bác hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng chột dạ và cảm thấy cuộc bảo vệ hôm đó có điều gì sơ suất khiến Bác không hài lòng. Sau này đồng chí bảo vệ tiếp cận ngồi cùng xe Bác nói lại, khi Bác đến nơi bỏ phiếu, nhìn thấy vắng cử tri, Bác không vui. Bác muốn như mọi người dân bình đẳng khi đi thực hiện quyền làm chủ của mình.

Ôn lại những câu chuyện về Bác, chúng ta càng thấy rõ hơn tâm huyết và tầm nhìn xa trông rộng của Bác; Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho một xã hội bình đẳng, dân chủ và dày công vun đắp, xây dựng một Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân.

Theo Nguyễn Đức Quý

Công An Nhân dân

vtc.vn

Đoàn kết, thống nhất trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đoàn kết là một truyền thống quý báo của dân tộc ta. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đã hun đúc nên con người Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn, sống thuỷ chung, nhân ái và sự cố kết cộng đồng sâu sắc thể hiện ở triết lý: “thương người như thể thương thân”; “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, toàn dân góp sức”. Truyền thống văn hoá ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo giáo dục cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an dựa trên giác ngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân.

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đặc biệt tới việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng phải là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, phải hoàn thiện mình để lãnh đạo đất nước. Mỗi khi cách mạng chuyển giai đoạn chiến lược, Người đều nhắc nhở phải chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng xứng đáng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Một trong những vấn đề mà người luôn đặc biệt quan tâm, nhắc nhở cán bộ, đảng viên đó là phải giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người coi việc giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Thật vậy, Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã gắn bó với dân tộc, hòa mình cùng dân tộc, sinh tồn trong dân tộc. Tập hợp trong hàng ngũ Đảng là những người xuất thân từ nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau, chủ yếu là công nhân và nông dân, nhưng đều cùng chung lý tưởng, cùng chung mục tiêu và cùng chung lợi ích. Lý tưởng đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Mục tiêu đó là độc lập dân tộc và CNXH, là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Lợi ích đó là phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, ngoài ra Đảng không có lợi ích riêng tư nào khác. Chính lý tưởng chung, mục tiêu chung và lợi ích chung là cơ sở của sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Và đoàn kết thống nhất thực sự là động lực chủ yếu của sự phát triển của Đảng. Thống nhất là cơ bản, các hình thức đấu tranh nội bộ mang tính chất xây dựng góp phần quan trọng củng cố và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Đoàn kết thống nhất trong Đảng là nguyên tắc cơ bản nhất trong các nguyên tắc xây dựng Đảng. Nguyên tắc đó phản ảnh quy luật vận động và phát triển của Đảng. Đoàn kết trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đoàn kết toàn dân. Bác Hồ nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” là bao gồm cả sự đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, và chỉ có sự đoàn kết cơ bản và rộng rãi như thế mới thật sự là sức mạnh vô địch, cơ sở cho mọi thắng lợi và thành công của cách mạng. Thống nhất trong Đảng là sự thống nhất cao nhất và toàn diện nhất. Từ đó thống nhất về hành động. Có thể nói đoàn kết thống nhất trong Đảng là vấn đề sinh tử của toàn Đảng và từng đảng bộ các cấp.

Tư tưởng của Người về đoàn kết thống nhất trong Đảng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính nguyên tắc tổ chức kỷ luật trong Đảng với tình cảm thương yêu đồng chí đậm đà văn hóa phương Đông; giữa truyền thống dân tộc và tính tiên tiến của giai cấp công nhân thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đoàn kết là sức mạnh. Đảng ta là một Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tất cả cán bộ đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng của giai cấp và của nhân dân lên trên hết, cao hơn hết, tất cả các đảng viên dù ở những cương vị khác nhau cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ của Đảng giao cho. Sinh thời Chủ tịch Hồ Minh không chỉ đề ra những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp để xây dựng, củng cố, giữ gìn, phát huy sức mạnh đại đoàn kết của Đảng, toàn quân, toàn dân mà chính Người đã cảm hoá, cổ vũ động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng tấm lòng “Trung với nước, hiếu với dân”; bằng phẩm chất “cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”. Người là hiện thân của khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Sự thống nhất hài hoà giữa tư tưởng và hành động, đạo đức, nhân cách, sự mẫu mực trong lời nói và việc làm vì lợi ích dân tộc, giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự trở thành động lực, sức mạnh to lớn cảm hoá giáo dục, rèn luyện xây dựng tình đoàn kết giữa cấp trên, cấp dưới, giữa đảng viên với quần chúng, giữa quân và dân, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành.

Muốn xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong các tổ chức của Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tự học tập, rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của người đảng viên cộng sản, tuyên truyền, vận động để mọi đảng viên, quần chúng tự nhận thức được sự cần thiết phải đoàn kết, từ đó tự giác tham gia xây dựng, bảo vệ sự đoàn kết thống nhất trong mọi tổ chức của Đảng; phải có chủ trương chính sách, chế độ chăm lo lợi ích chính đáng của tất cả mọi người. Người căn dặn, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là một tấm gương đoàn kết, mẫu mực từ lời nói đến việc làm vì lợi ích của dân, của nước, thực sự làm hạt nhân đoàn kết trong chi bộ đảng.

Để mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt trong tổ chức đảng được phát huy sức mạnh, cần phải kiên quyết chống bệnh quan liêu, độc đoán chuyên quyền, cá nhân chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức quần chúng trong tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, làm nòng cốt để xây dựng, củng cố giữ gìn mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng là người tổ chức, hướng dẫn, lãnh đạo khối đại đoàn kết, do vậy Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một Đảng trí tuệ, cách mạng, thống nhất, phải luôn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Với Hồ Chí Minh đoàn kết thống nhất trong Đảng không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời mà phải là một chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng. Đoàn kết không đơn thuần là tập hợp lực lượng mà cao hơn nó là bộ phận hữu cơ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam: “Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí, đoàn kết không phải ngoài miệng mà phải đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ”. Do đó, Bác luôn tâm niệm, Đảng ta tuy đông người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người: “Cách mạng nhất định thành công, ta thành công chính vì đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng”.

Và theo Bác, chính sự đoàn kết làm cho mọi người hành động thống nhất, không bị gượng ép, bắt buộc. Vì thế, Bác gọi “Đảng ta là một bà mẹ rất nghiêm ngặt và cũng rất hiền từ”. Bác cũng khuyên các đồng chí trong Đảng phải thương yêu đoàn kết, nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh công thần, địa vị, hẹp hòi cục bộ, kèn cựa… “Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, phải kiên quyết chữa cái bệnh hẹp hòi đó để thực hành chính sách đại đoàn kết. Chính sách thành công thì kháng chiến mới dễ thắng lợi”.

Đã 42 năm kể từ ngày Bác đi xa và 81 năm xây dựng và phát triển của Đảng và của cách mạng nước ta, chúng ta tự hào về đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại. Càng tự hào, chúng ta càng phải quyết tâm làm theo lời căn dặn trước lúc đi xa của Bác: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”./.

K.A (t/h)

soctrang.gov.vn

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bố

(VTC News) – Nhiều hình ảnh về Bác lần đầu tiên được công bố, như Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng Lơcléc…

Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh vừa phối hợp phát hành cuốn sách ảnh “Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh,” nhân kỷ niệm 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011).

Cuốn sách tập hợp nhiều bức ảnh quý ghi lại những khoảnh khắc bình dị, trải theo cuộc đời của Người. Cuốn sách sẽ được phát hành rộng rãi tới đông đảo bạn đọc cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế.

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bốChủ tịch Hồ Chí Minh thăm thắng cảnh hồ Lasuk (Nga), tháng 7/1959.

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bốChủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi thành phố Kiép, tháng 7/1959.

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bốChủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà lưu niệm của đại thi hào Tagor trong chuyến thăm Ấn Độ tháng 2/1958.

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bốChủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm Kim tự tháp Sekherat, Ai Cập trên đường thăm chính thức nước Pháp ngày 9/6 năm 1946.

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bốChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Thủ đô Vácxava (Ba Lan), tháng 7/1957.

Trong cuốn sách, nhiều hình ảnh về Bác lần đầu tiên được công bố, như Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng Lơcléc – Trưởng phái đoàn quân sự Pháp đến chào Người tại Bắc Bộ Phủ, tháng 3/1946; Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm Kim tự tháp Sekherat, Ai Cập, trên đường sang thăm chính thức nước Pháp, ngày 9/6/1946; Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà lưu niệm của đại thi hào Tagor trong chuyến thăm Ấn Độ, tháng 2/1958…

vtc.vn

Đường Kách Mệnh

Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Lý luận của tác phẩm không sách vở mà vạch ra lý luận cách mạng Việt Nam thiết thực, tri thức lý luận cách mạng Việt Nam đã được hiện diện trong tác phẩm rất mácxít nhưng cũng rất Việt Nam, dễ hiểu, dễ tiếp thu, kết hợp rất tài tình phương pháp lịch sử và lôgích. Dùng lịch sử để nói lý luận, từ Cách mạng Pháp đến Cách mạng Nga và kết luận ở Cách mạng Nga, rồi lấy lý luận soi sáng thực tiễn Việt Nam, và kết luận: Chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng được dân tộc.

I – Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

1. Thế giới 

Chủ nghĩa Mác – Lênin là sự tiếp nối và phát triển những tư tưởng giải phóng con người của nhân loại. Nó đã trở thành vũ khí tư tưởng của giai cấp vô sản đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Được học thuyết khoa học và cách mạng soi đường, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản các nước trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản như: Đảng xã hội – dân chủ Nga được thành lập (1903); Đảng Cộng sản Pháp được thành lập (1920); Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời (1921)…

Năm 1917, Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Cách mạng Tháng Mười Nga là bằng chứng khẳng định giá trị thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời cũng báo hiệu thời kỳ đấu tranh giành thắng lợi của giai cấp vô sản thế giới bắt đầu.

Năm 1919, Quốc tế III – Bộ Tham mưu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế được thành lập. Quốc tế III đã quan tâm đến cách mạng thuộc địa. Bản Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã tác động trực tiếp đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Đối với Nguyễn Ái Quốc, Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin là bước tiến nhảy vọt và dứt khoát trong nhận thức tư tưởng của Người. Người quyết định chọn chủ nghĩa Mác – Lênin làm hệ tư tưởng cứu nước. Như vậy, thời đại đã mở ra điều kiện mới – cả tư tưởng chính trị và cả tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở các nước. Chính thời đại cũng dẫn dắt phong trào cách mạng các dân tộc trên thế giới đi vào quỹ đạo chung của cách mạng vô sản.

2. Việt Nam 

Đặc điểm nổi bật của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội Việt Nam lúc đó có hai mâu thuẫn cơ bản là: giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và giữa giai cấp phong kiến Việt Nam với toàn thể nhân dân (chủ yếu là nông dân). Yêu cầu của lịch sử lúc này là phải giải quyết mâu thuẫn cơ bản đó để đưa dân tộc tiến lên.

Dưới ách thống trị của thực dân – phong kiến, đã có hàng trăm cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng phong kiến và tư tưởng tư sản, nhưng rút cuộc, đều không giải quyết nổi nhiệm vụ mà lịch sử đang đặt ra, nhân dân đang mong đợi là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân phong kiến.

Bước vào những năm 20 của thế kỷ XX, trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều tổ chức yêu nước mang sắc màu chính trị khác nhau, như: Tâm tâm xã ( l923 – 1925), Hội phục Việt (1925), Đảng thanh niên (1926), Thanh niên cao vọng Đảng (1926 – 1929), Tân Việt cách mạng Đảng (1926 – 1930), Việt Nam quốc dân Đảng (1927 – 1980). Song, các tổ chức yêu nước này thiếu đường lối chính trị đúng đắn, thiếu tổ chức chặt chẽ như một đảng cách mạng khoa học, cho nên, họ không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử.

Thực tiễn lịch sử đang đòi hỏi phải có một tổ chức mới, được xây dựng trên cơ sở hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, có đường lối chính trị đúng đắn, có tổ chức chặt chẽ thì mới lãnh đạo cách mạng đi đến thành công.

II- Tư tưởng cơ bản và nội dung của tác phẩm 

1. Tư tưởng cơ bản của tác phẩm

Mục đích tác phẩm được tác giả chỉ rõ: “Muốn sống thì phải cách mệnh”. “Hơn hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa. Phải kêu to, làm chóng để cứu lấy giống nòi”. Thà chết tự đo còn hơn sống nô lệ, quyết chiến đấu cho nền độc lập tự do của dân tộc là tinh thần của tác phẩm. Có thể nói, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là quan điểm bao trùm toàn bộ tác phẩm.

Tác phẩm cũng chỉ rõ kẻ thù nguy hiểm nhất của độc lập tự do và vạch con đường cụ thể để giành thắng lợi.

Tinh thần xuyên suốt toàn bộ tác phẩm là vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, phải giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân ra khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc.

Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là quan điểm tư tưởng chỉ đạo con đường cách mạng Việt Nam. Giải phóng nhân dân phải gắn với sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc phải theo quỹ đạo của cách mạng vô sản, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội, lợi ích của dân tộc với lợi ích của giai cấp vô sản phải gắn bó với nhau. Thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc đều phải giải quyết trên cơ sở quan điểm cách mạng vô sản để đưa cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng giải phóng dân tộc chuẩn bị cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng xã hội chủ nghĩa chi phối cách mạng giải phóng dân tộc.

Cách mạng phải triệt để, tích cực, chủ động và sáng tạo. Tác giả đưa dẫn chứng các cuộc cách mạng trên thế giới để đi đến khẳng định rằng, cách mạng Việt Nam phải giành thắng lợi triệt để: “Muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh; phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Cách mạng phải độc lập và sáng tạo, tự lực, tự cường, không ỷ lại ngồi chờ; phải tích cực tấn công, chủ động tiến công, quyết giành thắng lợi. Biết tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng thế giới, nhưng cũng phải có đóng góp cho cách mạng thế giới, cùng cách mạng thế giới đạp đổ chủ nghĩa đế quốc tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những tư tưởng cơ bản trên đã nâng giá trị của tác phẩm lên tầm cao.

2. Nội dung của tác phẩm 

a) Tư cách một người cách mệnh 

Tư cách một người cách mệnh được đặt lên vị trí hàng đầu của tác phẩm. Nội dung gồm 3 phần:

– Tự mình phải cần kiệm – liêm chính – vị công vong tư. Giữ chủ nghĩa cho vững…

– Đối người phải: với từng người thì khoan thứ. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người.

– Làm việc phải : Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể.

Tác phẩm đã nêu lên những vấn đề cơ bản của đạo đức mới – đạo đức của người cộng sản. Đó là phải có đức và tài, trí và dũng, tư cách và năng lực theo kiểu người cộng sản. Đó là con người một lòng một dạ. Đó là con người có tổ chức, gắn bó với tổ chức, với đoàn thể. Đồng thời biết phát huy năng lực cá nhân. “Tư cách người cách mệnh” khác hẳn với chủ nghĩa anh hùng cá nhân, đặt mình lên trên tổ chức, đề cao cái tôi đạo đức của người đảng viên cộng sản được đề cập trong tác phẩm phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc ta, đáp ứng yêu cầu của cách mạng và cũng rất đúng với nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về đạo đức của người cách mạng. “Tư cách người cách mệnh” đã dễ dàng chinh phục lòng người, tiếp thêm sức mạnh và định hướng phấn đấu cho tất cả những ai yêu nước, thương nòi, muốn giải phóng quê hương xứ sở ra khỏi mọi áp bức bóc lột, xây dựng đất nước theo hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

“Tư cách người cách mệnh” có giá trị khoa học và giáo dục lớn đặt cơ sở cho đạo đức học ở Việt Nam.

b) Con đường cách mệnh 

Tác giả đưa ra khái niệm “cách mệnh”: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”.

Từ đó, tác giả xác định các loại cách mạng:

– Tư bản cách mệnh như cách mệnh Pháp năm 1789, Mỹ cách mệnh độc lập năm 1776; Nhật cách mệnh năm 1864.

– Dân tộc cách mệnh như: Italia đuổi cường quyền Áo năm 1859; Tàu đuổi Mãn Thanh 1911.

– Giai cấp cách mệnh như công nông Nga đuổi tư bản và giành lấy chính quyền 1917.

Tác giả giải thích nguyên nhân sinh ra các loại cách mệnh ấy. Từ phân tích mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp, tác giả xác định tính chất cách mệnh. Dân tộc cách mệnh là dân tộc nô lệ đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi để giành độc lập tự do. Giai cấp cách mệnh là giai cấp bị áp bức cách mệnh để đạp đổ giai cấp đi áp bức mình.

Về dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh, tác giả đều lấy ví dụ Việt Nam. Khi kết luận, tác giả cũng nói đến sự cần thiết phải tiến hành dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh ở Việt Nam. Cách mệnh Việt Nam phải tiến hành giải phóng dân tộc để tiến lên giải phóng giai cấp. Việt Nam phải làm cả dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh.

Tác giả phân tích kỹ Cách mạng tư sản Pháp 1789, Cách mạng tư sản Mỹ 1776, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 và chỉ ra kinh nghiệm lịch sử của các cuộc cách mạng này: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”. “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật”. Từ lịch sử và thực tiễn, tác giả đã định hướng cho các mạng Việt Nam là đi theo con đường Cách mạng tháng Mười Nga “theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.

Tác giả cũng xác định rõ bạn và thù của cách mệnh Việt Nam. Đế quốc Pháp đã chà đạp lên nền độc lập của dân tộc, đặt ách áp bức bóc lột đối với nhân dân ta. Do đó, đế quốc Pháp vừa là kẻ thù của dân tộc và cũng là kẻ thù của giai cấp. Tác giả phân biệt rạch ròi giữa đế quốc Pháp và nhân dân Pháp trước hết là công nông Pháp. Từ đó, nêu mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam với giai cấp cách mệnh Pháp nói riêng và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản chính quốc nói chung.

Còn giai cấp phong kiến địa chủ, tác giả có phân loại: điền chủ nhỏ là bầu bạn cách mệnh công nông, những đại địa chủ thì chớ có cho họ vào hội của dân cày. Việc xác định đúng, chính xác kẻ thù cơ bản là chủ nghĩa đế quốc Pháp có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng, trong việc tập hợp lực lượng, phân hóa, cô lập cao độ kẻ thù, nhằm tăng sức mạnh cho cách mạng. Đây là tầm tư duy của thiên tài rất biện chứng, cách mạng và khoa học vượt lên tầm tư duy đương thời của nhiều người cho rằng, đã địa chủ tất nhiên sẽ là kẻ thù của cách mạng, là đối tượng đứng về phía đế quốc.

c)Về lực lượng cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ rõ: Công nông là người chủ cách mệnh “là vì công nông bị áp bức nặng hơn, là vì công nông là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết, là vì công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc”. “Học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”.

Người đã căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước, thái độ của các giai cấp trong xã hội, đối với cách mạng để vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin cho phù hợp, không giáo điều, máy móc. Vì vậy, lực lượng cách mạng vừa đông, vừa mạnh, nhưng vẫn đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.

d) Về đoàn kết quốc tế, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ rằng, cách mạng Việt Nam phải đoàn kết với các lực lượng cách mạng thế giới: “Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa (như Đệ tam quốc tế)”. Người đưa ra những dẫn chứng cụ thể, đầy sức thuyết phục để xác định lực lượng đồng minh quốc tế của cách mạng Việt Nam “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”. Cách mạng Việt Nam cũng phải liên minh với cách mệnh Pháp và có thể thành công trước cách mệnh Pháp. “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ”.

Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới cũng đều là đồng chí của nhân dân Việt Nam. Đã là đồng chí thì sung sướng cực khổ phải có nhau.

Như vậy, về đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh nêu 3 vấn đề lớn:

– Cách mạng Việt Nam phải đứng hẳn về phía phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc thế giới để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa trên thế giới.

– Xác định rõ quan hệ lợi ích dân tộc và cách mạng thế giới, giữa quyền lợi và trách nhiệm, sự thống nhất của quan hệ này.

– Xác định rõ quan hệ cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc là tác động qua lại. Cách mạng thuộc địa không thụ động ngồi chờ cách mạng chính quốc.

Với những luận điểm trên, tác phẩm đã đặt nền tảng đúng đắn cho đường lối quốc tế của đảng, và đặt cơ sở cho sự giúp đỡ của quốc tế trong thời kỳ thành lập Đảng.

đ)Về phương pháp cách mạng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, phương pháp cách mạng giữ vai trò hết sức quan trọng: “Sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm xã hội mới, ấy là rất khó. Nhưng biết cách làm, biết đồng tâm hiệp lực mà làm thì chắc làm được”. Đó là:

– Phải làm cho dân giác ngộ.

– Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.

– Phải hiểu phong trào thế giới, phải bày sách lược cho dân.

– Phải đoàn kết toàn dân “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người”… “Đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều. Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”.

– Phải biết tổ chức dân chúng lại, tác giả nhấn mạnh vai trò của tổ chức: cách mạng phải có tổ chức rất vững bền thì mới thành công. Tác giả đưa ra cách tổ chức quần chúng như công hội, dân cày, hợp tác xã, thanh niên, phụ nữ, quốc tế cứu tế đỏ…

– Phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng của quần chúng, phải biết chọn thời cơ.

Tóm lại, tác phẩm đã nêu lên những quan điểm cơ bản về phương pháp cách mạng Việt Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tổng kết kinh nghiệm cách mạng các nước. Những quan điểm đó là cơ sở cho Đảng xây dựng phương pháp cách mạng của mình.

Về Đảng Cộng sản, Đảng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo cho sự thắng lợi của cách mệnh. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải theo chủ nghĩa Mác – Lênin. “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Nguyễn Ái Quốc luôn có ý thức xây dựng lập trường chính trị, bản chất giai cấp công nhân, tính cách mạng triệt để của Đảng. Những tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam của Người là những phác thảo cho đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người phân tích sâu sắc lịch sử cách mạng Nga để quán triệt bài học kinh nghiệm về xây dựng Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên được Người đề cập gần như xuyên suốt tác phẩm. Toàn bộ tác phẩm đã thể hiện nội dung đó.

Bằng tư tưởng xây dựng Đảng Cộng sản ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng yêu cầu bức bách của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

III- Ý nghĩa của tác phẩm 

1. Tác phẩm Đường cách mệnh có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự thành lập chính Đảng cách mạng ở Việt Nam.

– Về tư tưởng: Tác phẩm có ý nghĩa giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc cho cán bộ và đông đảo quần chúng nhân dân, nhằm xây dựng sự thống nhất trong nhận thức tư tưởng, chuẩn bị thành lập Đảng.

Tác phẩm khắc phục tư tưởng sai lầm, ám sát cá nhân, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa quốc gia; xác lập hệ tư tưởng mới – tư tưởng của giai cấp công nhân.

– Về chính trị: Tác phẩm xây dựng lập trường, quan điểm của giai cấp công nhận cho cán bộ và quần chúng công nông. Vạch ra được đường hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, làm cơ sở cho việc xây dựng Cương lĩnh chính trị của Đảng. 

Tác phẩm Đường cách mệnh ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam; thúc đẩy phong trào yêu nước, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ .

– Về tổ chức: Đào tạo ra một lớp cán bộ cách mạng kiểu mới chuẩn bị cho việc thành lập Đảng. Tác phẩm cũng đưa ra hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức quần chúng như công hội, nông hội, thanh niên, phụ nữ… để Đảng tập hợp quần chúng, chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng.

2. Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Lý luận của tác phẩm không sách vở mà vạch ra lý luận cách mạng Việt Nam thiết thực, tri thức lý luận cách mạng Việt Nam đã được hiện diện trong tác phẩm rất mácxít nhưng cũng rất Việt Nam, dễ hiểu, dễ tiếp thu, kết hợp rất tài tình phương pháp lịch sử và lôgích. Dùng lịch sử để nói lý luận, từ Cách mạng Pháp đến Cách mạng Nga và kết luận ở Cách mạng Nga, rồi lấy lý luận soi sáng thực tiễn Việt Nam, và kết luận: Chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng được dân tộc.

Tác phẩm cũng là một hình mẫu của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam của tác giả. Ví dụ: Lênin cho rằng, cách mạng thuộc địa chỉ có thể giành được thắng lợi khi có sự giúp đỡ của cách mạng chính quốc, khi cách mạng vô sản chính quốc đã giành thắng lợi, nhưng tác phẩm phát hiện thêm rằng, cách mạng thuộc địa có thể thành công trước cách mạng vô sản ở chính quốc và tác động tích cực đối với cách mạng chính quốc.

Chủ nghĩa Mác – Lê nin bàn nhiều về vấn đề giải phóng dân tộc. Tác phẩm chỉ rõ dân tộc và giai cấp kết hợp với nhau, giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản…

Tác phẩm Đường cách mệnh đã thể hiện thiên tài lý luận cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, tác phẩm có giá trị thực tiễn lớn lao, tạo ra sự chuyển biến căn bản, nhanh chóng trong nhận thức và hành động cách mạng của cán bộ và đông đảo quần chúng, chuẩn bị tiền đề cho việc thành lập Đảng.

Như vậy, trước khi Đảng ra đời, ở Việt Nam đã có sự thống nhất về tư tưởng chính trị và tổ chức. Đó là điều kiện trực tiếp giữ vững sự thống nhất trong Đảng ngay từ khi mới thành lập cũng như sau này. Tác phẩm Đường cách mệnh là một kho tàng tri thức lý luận cách mạng Việt Nam, là sự thể hiện tư tưởng cơ bản của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Giá trị của tác phẩm càng được khẳng định khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố rằng, Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

Theo Giới thiệu tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngnghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Nxb CTQG, H, 1999.

(Nguồn : Website Đảng Cộng Sản Việt Nam)

sites.google.com

Hồ Chủ tịch với các kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

Hơn 200 tư liệu, hình ảnh, hiện vật giới thiệu công lao và sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết tâm thực hiện tổng tuyển cử tự do đầu tiên năm 1946 đang được trưng bày tại thành phố Huế.

Các thành viên Chính phủ lâm thời sau phiên họp đầu tiên ngày 3/9/1945.

Nhân dân lao động thủ đô cổ động cho ngày tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, 6/1/1946.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Quốc hội đầu tiên của Hà Nội ra mắt cử tri, tháng 2/1946.

Giấy chứng nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là đại biểu Quốc hội khóa 1, năm 1946 do Chính phủ lâm thời cấp ngày 1/3/1946.

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 1 (tháng 12/1956), Chủ tịch Hồ Chí Minh xúc động khi nói đến miền Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 11 năm ngày tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (6/1/1946 – 6/1/1957).

Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia bầu cử bổ sung Ban thường vụ Quốc hội và Ban sửa đổi Hiến pháp tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa I.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm khu vực bỏ phiếu số 79 Nhật Tân, Hà Nội, tháng 4/1960.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận phiếu bầu cử Quốc hội khóa 2, Hà Nội 8/5/1960.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 2 tại tiểu khu Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội, ngày 8/5/1960.

Văn Nguyễn (chụp từ ảnh tư liệu)

vnexpress.net