Tag Archive | Tin tức

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Tìm về chân lý Mác – Lê Nin trên con đường cứu nước của Bác

Ngày 5/6/1911, trên tàu Đô đốc Latouche Tréville, từ bến cảng Nhà Rồng (thành phố Sài Gòn), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh) đã ra đi tìm đường cứu nước.

Gần 10 năm bôn ba, vừa lao động kiếm sống vừa tìm hiểu thực tiễn nhiều nước tư bản và nước thuộc địa, nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản ở các nước Pháp, Anh, Mỹ…Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng: Cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi; nó đã phá tan gông xiềng của chế độ phong kiến để giải phóng sức lao động của con người, xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ hơn chế độ xã hội phong kiến, nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ cực, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn toan tính làm cách mạng. Nguyễn Tất Thành đã nhận thấy những mặt trái của xã hội phương Tây, thấy được “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của tầng lớp thống trị. Điều đó giúp cho Người nhận thức rằng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Từ những hoạt động thực tiễn phong phú và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin (đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920), Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Luận cương đã giúp cho Người tìm thấy con đường đấu tranh cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc; trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo cách mạng, lực lượng tham gia cách mạng, mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn. Thứ nhất, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm ra con đường phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu phát triển chung của nhân loại và xu thế của thời đại. Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc đã đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường cho phong trào đấu tranh cách mạng ở trong nước, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại và trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh. Thứ ba, tìm ra con đường cứu nước và phát triển cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã có những đóng góp to lớn, chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới nói riêng.

Trong hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ nhận con đường cách mạng Việt Nam. Trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động; tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới; vững bước đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quang Lợi (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

snv.binhdinh.gov.vn

Tư tưởng “Vì con người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 40 năm di chúc của Bác Hồ:

Bác Hồ đã đi xa 40 năm song giá trị tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Từ khi ra đi tìm đường cứu nước đến những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, Người luôn đau đáu vì nền độc lập tự do của dân tộc, hạnh phúc ấm no của mỗi con người. Tư tưởng, tình cảm của Bác đối với giai cấp nông dân, đối với nền nông nghiệp nước nhà là một phần tư tưởng lớn, vĩ đại bậc nhất của Bác: Vì con người.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đến mọi tầng lớp xã hội, trong đó Người đặc biệt quan tâm đến nông dân. Những việc của nghề nông đối với Bác không có gì xa lạ. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người: Chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người bôn ba chân trời góc biển vì nền độc lập của dân tộc, để “người cày có ruộng”, để “ruộng đất về tay dân cày”, để “mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ái cũng được học hành”. Trong con đường đi đến hạnh phúc ấm no, người nông dân Việt Nam luôn có Bác đi cùng.

Trước khi đi xa, người để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng chí, đồng bào. Bản di chúc kết tinh tư tưởng, tình cảm vì con người của Người ngắn gọn, súc tích nhưng dung dị, chứa đựng tình cảm bao la như trời biển. Bản di chúc được Người viết, bổ sung, sửa chữa nhiều lần, lần nào cũng có những dòng, những đoạn dành cho nông dân. Trong phần bổ sung Di chúc được Bác viết tháng 05/1968, Bác dành một đoạn nói về giai cấp nông dân Việt Nam.

Người dùng từ “đồng bào nông dân” rất gần gũi, rất riêng để tuyên dương công lao to lớn và lòng trung thành vô hạn đối với Đảng và Chính phủ trong kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ. Người căn dặn miễn thuế nông nghiệp cho nông dân. Người viết: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các HTX nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Người đã nhìn đến tận cùng gốc rễ sâu xa của kế sách an dân sâu rễ bền gốc mà ông cha ta ngàn năm trước vẫn dùng. Đó là sau chiến tranh phải chú ý chính sách vỗ về, an dân để nông dân từng đóng góp nhiều sức người, sức của cho kháng chiến, chịu nhiều thiệt thòi, mất mát trong chiến tranh có cơ thoát khỏi cơ hàn mà thêm hỉ hả, trung thành với chế độ.

Thực hiện theo di chúc của Người, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 đã ra Nghị quyết “Thực hiện miễn thuế nông nghiệp theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Miễn giảm thuế nông nghiệp tiến tới hạn chế và xoá bỏ dần những đóng góp ở khu vực nông thôn để người nông dân có điều kiện tái đầu tư sản xuất chính là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta thực hiện theo đúng tinh thần và mong muốn của Người.

Bác Hồ luôn coi trọng mặt trận sản xuất nông nghiệp. Ngay trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng mong muốn mọi người khi đến thăm viếng đều có ý thức trồng cây, gây rừng để có lợi cho sản xuất nông nghiệp. Người từng nói: “Nông dân ta giàu, thì nước ta giàu – Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”. Thực tế càng khẳng định vai trò của sản xuất nông nghiệp, nhất là trong thời điểm khủng hoảng kinh tế như hiện nay, thì sản xuất nông nghiệp chính là giá đỡ của nền kinh tế. Ngôi nhà kinh tế của đất nước sẽ nghiêng ngả khi nền móng sản xuất nông nghiệp không vững chắc.

Tư tưởng, tình cảm của Bác đối với giai cấp nông dân, đối với nền nông nghiệp nước nhà là một phần tư tưởng lớn, vĩ đại bậc nhất của Bác. Bác lập luận một cách nôm na, dễ hiểu: “ Dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời”. Chính vì vậy, Người yêu cầu và chỉ rõ trách nhiệm của Đảng và Chính Phủ: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin vào sức mạnh, vị trí của nông dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước. Người cho đây là cuộc Cách mạng nông dân và sản xuất nông nghiệp là một mặt trận. Thắng lợi trên mặt trận nông nghiệp chính là thắng lợi của Cách mạng. Từ đây, vấn đề an ninh lương thực lại càng trở nên quan trọng.

Thực hiện di chúc của Bác, làm theo lời Bác, vấn đề nông nghiệp-nông thôn-nông dân đã được đặt lên bàn nghị sự và ngày 5/8/2008, Nghị quyết số 26- NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 10 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ra đời, đã xác định rõ “Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển”. Theo đó, một loạt vấn đề về nông nghiệp-nông thôn-nông dân trở thành những vấn đề thời sự, nóng hổi của đất nước.

Mới đây, Nghị định 69/CP về quy hoạch sử dụng đất, đền bù, hỗ trợ người dân sau thu hồi đất đã có nhiều quy định có lợi cho nông dân và nhiều chính sách như kích cầu cho khu vực nông thôn, bảo hiểm lúa gạo cho bà con nông dân ĐBSCL… Đó là những tin vui liên tiếp đến với nhà nông vào dịp kỷ niệm 64 năm Quốc khánh đất nước và kỷ niệm 40 năm Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đúng như mong muốn của Người, để làm sao: “Người nghèo thì đủ ăn; người đủ ăn thì khá, giàu; người khá, giàu thì giàu thêm”./.

Tuyết Yến

phunu.hochiminhcity.gov.vn

Làm theo Bác bằng những việc cụ thể thường ngày

Ở xã Tam Tiến và các xã lân cận thuộc huyện Yên Thế (Bắc Giang), rất nhiều người biết và cảm phục chị Phan Thị Hạnh, sinh năm 1967, Bí thư Chi bộ bản Rừng Dài, từ một nông dân nghèo khó đã vươn lên làm giàu và trở thành một cán bộ năng nổ, gương mẫu. Chị Hạnh là điển hình trong phong trào thi đua yêu nước và tích cực học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Từ tỉnh lộ 265, con đường vào bản Rừng Dài vẫn là đường đất, nhưng hai bên đường là màu xanh mát của những ruộng lúa và vườn cây ăn quả. Ngôi nhà cao tầng khang trang của gia đình chị Hạnh nằm giữa vườn cây sum suê nào vải, nào hồng nhân hậu, đang hứa hẹn được mùa. Chị Hạnh người nhỏ nhắn, nước da bánh mật, nhanh nhẹn và cởi mở. Chị rất tự hào về thành quả đạt được sau bao năm vợ chồng chị đã khổ công, nỗ lực phấn đấu từ nghèo khó. Nhớ lại đầu những năm 1990, khi vợ chồng chị ra ở riêng, từ xã Tam Hiệp (cùng huyện) về đây, nhà ở còn tường trình và lợp lá, phải đào giếng lấy nước dùng, khu vườn đồi gần như hoang hóa. Rồi vợ chồng chị bỏ công cải tạo khu vườn trồng cây ăn quả, chăn nuôi để lấy vốn đầu tư trở lại vườn cây ăn quả, mở rộng thêm diện tích trồng cây lấy gỗ và tăng dần quy mô chăn nuôi. Cứ thế đầu tư quay vòng, kinh tế gia đình ngày càng đi lên. Hiện khu vườn đồi đang mở rộng khoảng 2 ha và những khu vườn đồi khác của gia đình có tổng diện tích gần 10 ha, chủ yếu trồng vải, bạch đàn và hồng nhân hậu. Gia đình chị còn thường xuyên nuôi khoảng 7.000 con gà thịt/lứa (khoảng hơn 2 vạn con/năm). Năm 2010, gia đình chị thu lãi hơn 350 triệu đồng từ trồng trọt và chăn nuôi, riêng nuôi gà lãi hơn 280 triệu đồng.

Không chỉ làm kinh tế giỏi, chị Hạnh đã nhiều năm làm Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ, Trưởng ban công tác mặt trận của bản; từ năm 2006-2009 làm Trưởng bản và từ đầu năm 2010 đến nay là Bí thư Chi bộ của bản Rừng Dài. Chị Hạnh tâm sự: Là phụ nữ, chỉ riêng việc gia đình đã rất bận, nên phải năng động, có kế hoạch sắp xếp hài hòa giữa việc nhà với việc chung sao cho chu đáo, vẹn toàn. Là cán bộ mình phải luôn gần dân, sát dân, lắng nghe ý kiến bà con để hiểu thấu, xem họ cần gì rồi cùng tập thể lãnh đạo bàn bạc cách giải quyết thấu tình, đạt lý và tuyên truyền, vận động bà con thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong Chi bộ để tập trung lãnh đạo, giải quyết những khó khăn thực tế đặt ra. Muốn bà con trong bản tin và làm theo thì trước hết bản thân, gia đình, anh em, họ hàng mình phải gương mẫu làm trước. Mình làm có kết quả rồi thì vận động, giúp đỡ, hướng dẫn bà con làm theo cho được. Vì vậy, trong số hơn 220 hộ của bản đến nay đã có 180 hộ chăn nuôi từ 500-2000 con gà/lứa/hộ, hơn 60 hộ trồng hồng cho thu hoạch từ 5-7 tấn quả/vụ.

Theo chị Hạnh, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có ý nghĩa rất thiết thực, giúp mỗi người nhìn lại mình mà cố gắng hơn. Làm theo Bác trước hết là làm theo những việc thường ngày, mà nếu cố gắng ai cũng có thể làm được, qua đó rèn cho mình nền nếp tốt ở mỗi việc làm, lời nói; người cán bộ bớt quan liêu, sách nhiễu, vi phạm và có chuyển biến tốt hơn trong lề lối làm việc. Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức của Bác là học mãi, học suốt đời.

Ông Vũ Văn Kháng, Thường trực Đảng ủy xã Tam Tiến, khẳng định: Là một trong 2 nữ Bí thư Chi bộ của xã, chị Hạnh là một đảng viên vững vàng, năng nổ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Chị sống hòa nhã, giản dị, gần gũi bà con và được bà con tin yêu, nể phục. Bản Rừng Dài là bản đông dân nhất xã nhưng luôn trong danh sách các bản dẫn đầu về các phong trào thi đua. Chi bộ Đảng bản Rừng Dài nhiều năm liền đạt trong sạch, vững mạnh; bản Rừng Dài nhiều năm liền là Làng văn hóa cấp huyện.

Với những thành tích đạt được, chị Hạnh đã được tặng Bằng khen của UBND tỉnh Bắc Giang năm 2007, của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2008 và được Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang tặng Bằng khen về thành tích xuất sắc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh “ trong 4 năm 2007-2010./.

Theo dangcongsan.vn

hcmpc.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người Việt Nam bình dị

Không bao giờ đề cao mình, Bác luôn coi mình cũng là người phục vụ như mọi người, nên không bao giờ để người khác phải cung phụng, vất vả vì mình. Dù ở cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn chưa lúc nào coi mình là vua, là quan, dù là quan cách mạng mà vẫn coi mình là đầy tớ của nhân dân, hòa đồng với nhân dân, với những người cần lao nghèo khổ.

Sau mấy mươi năm xa cách, Bác mới có dịp trở về thăm quê hương xứ Nghệ. Bữa cơm quê hương đón Bác thật sang trọng, những tưởng Bác sẽ hài lòng. Nào ngờ Bác chỉ nhìn thoáng rồi lắc đầu: “Dân Nghệ ta sống khổ quen rồi. Bác không quen dùng mấy thứ này. Các chú đã bày thì cứ dùng cho tự nhiên. Bác đã chuẩn bị khẩu phần riêng từ nhà rồi”. Và thế là Bác cùng người cảnh vệ ra xe mở cơm nắm cùng ăn.

Theo đồng chí Vũ Kỳ, những chuyến đi công tác của Bác thường ít khi địa phương nào, cơ quan nào mời được Bác ăn cơm. Thường là Bác tranh thủ về ngay để ăn cơm nhà. Nếu xa, bao giờ Bác cũng yêu cầu các đồng chí bảo vệ chuẩn bị sẵn cơm nắm mang theo. Cơm vẫn độn ngô, mì như một công chức bình thường.

Một lần về thăm Thái Bình sau một trận lụt nặng, Tỉnh ủy làm cơm cố nài Bác ở lại ăn. Bác nói: “Đi thăm cảnh lụt còn ăn uống nỗi gì…”. Bác làm thế không phải cố ý khác người mà thực ra đó chính là một phần những gì thuộc về phong cách Bác, nhân cách Bác. Giản dị, khiêm nhường đã trở thành nét bản chất trong nhân cách Bác. Bác coi đó như một thứ đạo, một niềm vui, một hạnh phúc mỗi ngày.

Hãy nghe lời tự bạch của Bác khi sống và làm việc giữa những ngày thiếu thốn, khó khăn ở hang Pắc Bó những năm đầu thập kỷ 40:

Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ măng tre vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Là một nhà cách mạng lỗi lạc, một nhà thơ, một danh nhân văn hóa, song ở đâu và bất cứ lúc nào ta vẫn thấy Bác nguyên vẹn là người Việt Nam bình dị với cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Ngay khi ở giữa thủ đô Hà Nội sau 1954, bữa ăn hàng ngày của Bác vẫn chỉ là tương cà, rau dưa, đặc biệt là món cá bống kho lá gừng.

Hàng ngày Bác vẫn đi bộ đến nhà ăn, ngồi ăn cùng với các cán bộ nhân viên trong phủ Chủ tịch. Nhiều ngày trời mưa, lối đi bị ngập nước, Bác xắn quần cao quá gối, cầm ô lội nước sang nhà ăn. Mọi người thương Bác trào nước mắt nhưng vẫn không sao thuyết phục được Bác cho dọn cơm bên nhà sàn. Bác nghiêm khắc nói: “Các chú muốn chỉ một người vất vả hay muốn cho nhiều người cùng vất vả vì Bác”.

Một hôm vào ngày 3-7-1967, Bác mời cơm nữ anh hùng miền Nam Trần Thị Lý. Vì thương chị còn đang mang thương tật, trời lại mưa lớn nên Bác đồng ý để đồng chí Vũ Kỳ dọn cơm tại nhà sàn. Hôm sau, tưởng đã thành tiền lệ, các đồng chí phục vụ lại dọn cơm ở nhà sàn mời Bác ăn. Bác gọi ngay đồng chí Vũ Kỳ đến và phê bình: “Các chú muốn để Bác hư thân đi có phải không?”.

Câu chuyện trên về Bác đã dạy ta bài học lớn: Sự rèn luyện không phải chỉ ở những thử thách lớn lao, những công việc trọng đại sống còn mà còn ngay trong những hoạt động sinh hoạt nhỏ nhặt đời thường nhất. Càng trưởng thành, càng thành đạt, càng có chức vị, quyền uy càng dễ “hư thân” nếu không nghiêm khắc với mình, không tiếp tục rèn luyện và rèn luyện.

Là Chủ tịch nước, là vị tổng tư lệnh tối cao giữa những ngày gian khổ ác liệt nhất của cuộc kháng chống Pháp, ấy vậy mà khi cần thiết Bác vẫn chủ động sắm vai người phụ bếp giỏi giang khéo léo. Chuyện kể hồi ở Việt Bắc, có lần đi công tác, buổi trưa, Bác cháu dừng chân bên một bờ suối nấu ăn. Bác bảo các chú nấu cơm để Bác rán trứng. Trứng rán xong mà cơm chưa chín, Bác lấy que sắt nung trên than hồng rồi đặt lên khoanh trứng thành những hình quả trám rất đẹp, anh em đều cười thán phục. Được phục vụ mọi người, góp phần làm cho bữa ăn thêm ngon, thêm sắc màu thì còn gì hạnh phúc hơn. Đây là bài học đáng suy nghĩ cho không ít người đang nhiễm căn bệnh quyền uy trong xã hội và ở gia đình.

Càng đi sâu tìm hiểu Bác, ta càng cảm nhận những bài học văn hóa, nhân văn sâu sắc. Chuyện kể rằng hồi ở Việt Bắc, có bữa bận phải ăn sau, Bác dặn các cô chú cứ ăn thịt cá, nhớ để phần Bác món cà dầm mắm. Có hôm Bác làm việc quá khuya, sợ Bác mệt, đồng chí phục vụ liền bưng lên mời Bác bát chè đậu đen đường phèn. Vừa lúc đồng chí liên lạc mang công văn đến, thương đồng chí đi đường xa đêm khuya vất vả gió sương, thế là Bác chia bát chè làm hai “bắt” anh liên lạc phải ăn bằng được Bác mới chịu ăn.

Ngồi ăn chung với mọi người Bác luôn nhắc ăn món gì cho hết món ấy. Món gì liệu chừng không dùng hết thì Bác tự tay đặt riêng một chỗ để người sau hoặc bữa sau dùng lại, không mang tiếng là đồ thừa. Có món gì ngon bao giờ Bác cũng gắp cho mọi người trước. Ăn xong, không bao giờ Bác quên thu xếp gọn gàng bát đĩa để đỡ vất vả cho người phục vụ.

Bác Hồ của chúng ta là thế. Chủ tịch Hồ Chí Minh của dân tộc ta là thế. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, mỗi chúng ta dù ở chức danh, địa vị nào xin hãy chớ vội nghĩ đến những gì to tát, cao xa mà trước hết hãy bắt đầu ngay từ những gì nhỏ bé nhất, đời thường nhất.

Theo: SGGP Online

hcmpc.com.vn

Bác Hồ nêu gương nói phải đi đôi với làm

Ông Lê Bá Cải – Ủy viên Ban Liên lạc những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ hiện ở khu tập thể Văn phòng Chính phủ phường Phương Mai (Hà Nội) còn giữ được tấm ảnh quý giá và kể những bài học Bác dạy ông còn nhớ mãi.

Bac Ho neu guong noi phai di doi voi lamBác Hồ hỏi chuyện anh Nguyễn Văn Nuôi – đang chống que chọc lò rèn lưỡi cày.
Ảnh: Đinh Đăng Định

Cưa cây phải để hở mạch

Đầu năm 1953, ông Cải cùng nhiều thanh niên quê Thanh Hóa được tuyển chọn điều lên chiến khu Việt Bắc, bổ sung vào Đội Xây dựng thuộc Ban kiểm tra 12 – bí danh của Chủ tịch Phủ – Thủ tướng phủ tại An toàn khu (ATK) Sơn Dương, Tuyên Quang.

Cuối năm đó, một đêm cả vùng bị cơn lốc mạnh làm đổ nhiều cây chắn ngang đường. Đội được lệnh phân làm nhiều tổ đi giải tỏa các con đường mòn khi trời sáng.

Tổ ông Cải có 6 người: Nguyễn Văn Chừng, Nguyễn Văn Quang, Lê Văn Tước, Phạm Văn Chi và Nguyễn Văn Sách. Anh em chia từng cặp, đang chăm chú cưa từng đoạn cây thì bỗng thấy Bác đi ngựa cùng bốn người nữa đi tới.

Anh em vội đứng lên chào Bác, luống cuống quên cả việc đang làm. Bác xuống ngựa, rồi tiến tới chỗ mọi người đang bối rối. Bác bảo: – Các chú chào Bác xong lại tiếp tục công việc, khẩn trương lên chứ, sao còn đứng đấy! Lúc bấy giờ ai nấy mới vội chạy về vị trí đang làm, cầm cưa.

Nhưng luống cuống cưa mắc kẹt, kéo đẩy đều không được. Bác bảo cặp cưa Cải – Quang: – Các chú phải một chân giữ cây, một chân đè lên thân cây hai bên cho nó hở mạch thì cưa mới nhanh được.

Bác nhìn sang cặp Tước – Chi, lưỡi cưa cũng đang mắc kẹt giữa thân cây dài vắt qua đường. Người nói vui, thân mật: – Mấy chú này chắc chưa quen cầm cưa. Cây này dài, đè chân lên mạch càng ngậm chặt, các chú phải kê đỡ dưới mạch hoặc một người nâng mạch cưa lên.

Một người đi cùng Bác cũng đứng hướng dẫn thêm. Anh vừa nói, vừa chỉ tay ra hiệu. Bác đến bên vỗ vai: – Chú nói đúng. Nhưng miệng nói tay làm giúp các chú cho nhanh, càng đúng hơn.

Mọi người cùng cười vui vẻ và Bác cũng giúp một tay dọn dẹp rất nhanh một lối đi nhỏ.

May mà Bác ra sớm

Tác phong làm việc của Bác Hồ rất sâu sát và đặc biệt, giao việc cho ai, dù tin vẫn phải kiểm tra. Lần ấy, hè năm 1957, Bác tiếp Đoàn văn công Trung Quốc sang biểu diễn.

Ông Trần Quý Kiên – Phó Văn phòng được Chánh văn phòng Phan Mỹ giao nhiệm vụ trực tiếp bày bàn ghế để Chủ tịch nước tiếp khách.

Ông Cải cùng anh em được phân công xếp bàn ghế hình chữ T phủ khăn trắng và sắp ghế hai bên. Trước 8 giờ 15 phút, Bác ra xem liền hỏi: – Chú Mỹ, chú Kiên đâu? Anh em nhớn nhác nhìn nhau, vội tìm hai ông. Bác chỉ dãy bàn vội hỏi:

– Các chú quên rồi sao? Hôm nay Bác tiếp khách hoa quả. Bày chữ T thế này khách đến họ lại tưởng được ăn tiệc mặn…

Nói rồi, Bác tự tay ra hiệu mọi người xúm vào kê lại bàn ghế hình chữ U khách ngồi quanh. May, vừa bày lại xong, nhìn ra cổng Phủ Chủ tịch, đoàn xe khách đang từ từ tiến vào sân.

Tinh thần thế là tốt

Năm 1962, trên khắp miền Bắc, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển mạnh. Đâu đâu cũng nêu cao khẩu hiệu tất cả để phục vụ nông nghiệp.

Chi đoàn Thanh niên cơ quan đề xuất, được Chánh Văn phòng Phan Mỹ ủng hộ, anh em xây một lò đúc lưỡi cày 51 ở phía sau đình Hội đồng (nay là phòng họp lớn của Chính phủ).

Hôm khai lò, anh em không ngờ Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến xem. Bác hỏi đoàn viên đứng lò Nguyễn Văn Nuôi: – Các chú đúc được bao nhiều lưỡi cày rồi?

– Dạ thưa Bác, chúng cháu mới đúc thử 10 chiếc ạ!

Bác lại hỏi: – Thế các chú đúc ra định đem bán hay làm gì?

Cả Bác cháu cùng cười ồ lên. Anh em chưa ai nghĩ ra nên trả lời Bác như thế nào thì Chánh Văn phòng Phan Mỹ đỡ lời: – Thưa Bác, chi đoàn báo cáo là lưỡi cày đúc được sẽ đem tặng các hợp tác xã làm ăn giỏi ạ.

Bác khen: – … Làm được cày 51 là “Tất cả cho nông nghiệp. Tinh thần của việc làm như thế là tốt…”

Trịnh Tố Long
Theo Việt Báo

hcmpc.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà báo vĩ đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo (năm 1960) Ảnh - Tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà tên tuổi cùng những phẩm chất cao đẹp của Người vang khắp năm Châu. Người là một nhà cách mạng lỗi lạc, nhà văn hóa lớn, một nhà báo vĩ đại. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế – xã hội, trong đó có hoạt động báo chí.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam với tờ báo đầu tiên là tờ Thanh niên mà chính bản thân Người cũng là một cây bút tài ba. Người đã để lại một khối lượng tác phẩm báo chí đồ sộ, với trên 2000 bài báo thuộc nhiều thể loại như: kịch, phóng sự, bút ký… các tác phẩm của Người còn được viết bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, đề cập đến toàn bộ các vấn đề rộng lớn của cách mạng cũng như đời sống xã hội Việt Nam.

Vốn là người am hiểu sâu sắc hoạt động báo chí, coi báo chí là một thứ vũ khí cách mạng sắc bén và đã sử dụng báo chí một cách tài tình để tuyên truyền cách mạng, để vận động nhân dân tham gia sự nghiệp cách mạng. Chính vì thế, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, người làm báo trước hết phải có tư tưởng chính trị vững vàng. Phát biểu tại Đại hội Hội nhà báo Việt Nam lần thứ II năm 1959, Người đã căn dặn: “Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”. Đây cũng chính là tư tưởng lớn xuyên suốt toàn bộ đường lối thông tin đại chúng của Đảng ta trong nhiều thập kỷ, mặc dù cách diễn đạt của từng văn kiện lúc này, lúc khác không giống nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người làm báo: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, “Cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”.

Cùng với lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, người làm báo phải có kiến thức sâu rộng, am hiểu thực tế. Theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà báo phải là người có trí thức rất rộng và rất sâu, đặc biệt là có trách nhiệm với công việc của mình, với sản phẩm của mình, với mọi hiệu quả, hệ quả của sản phẩm đó. Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lớp viết báo đầu tiên Huỳnh Thúc Kháng, Người đã chỉ ra rằng: “Muốn viết báo khá thì cần: Gần gũi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thi không thể viết thiết thực; ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài mà học kinh nghiệm của người; Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu; Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ…”.

Người có nhiều bài nói về công việc viết báo, chia sẻ kinh nghiệm viết báo với đồng nghiệp hoặc cán bộ cấp dưới. Trong bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8-9-1962, Bác nói: “Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm.”

Với Chủ tịch Minh, mỗi khi đặt bút viết, Người luôn xác định: viết cái gì? (nội dung),Viết cho ai? (đối tượng),Viết để làm gì? (mục đích), Viết thế nào? (hình thức)

Những kinh nghiệm làm báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành những nguyên tắc cơ bản không thể thiếu đối với những người cầm bút. Đây chính là những bài học vô cùng quý báu mà Người đã để lại cho các nhà báo, nhất là đối với những người mới chập chững bước vào nghề. Bởi lẽ, trước khi viết nhà báo cần xác định được đối tượng của báo chí thì để từ đó viết có nội dung, mục đích cũng như hình thức viết sao cho rõ ràng và đạt hiệu quả.

Ngoài những nguyên tắc trên, thông tin trong tác phẩm báo chí phải chân thực, chính xác. Tính chân thật luôn được xem là đạo đức của người làm báo cách mạng. Vì thế, báo chí cách mạng Việt Nam là tiếng nói của Đảng và là diễn đàn của nhân dân. Báo chí đã phản ánh những ý kiến xây dựng của nhân dân, nói lên tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của dân đối với công cuộc xây dựng đất nước. Đồng thời báo chí cũng quyết liệt chống nạn tham nhũng, buôn lậu; chống lại tội ác và các tệ nạn xã hội; chống lại những biểu hiện tha hóa, sa sút về phẩm chất, đạo đức và lối sống. Với việc làm đó, báo chí đã đem đến cho công chúng niềm tin ở sự thật, tin ở sự nghiêm minh của pháp luật, đặc biệt tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào truyền thống cách mạng và nhân văn của nhân dân ta.

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà báo khi viết phải “chân thực” – chân thực là sức mạnh vì nó có lòng tin. Mỗi bài viết của phóng viên phải bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét kiểm tra, chọn lọc. Bài viết phải đem lại cho người đọc lượng thông tin cao và chính xác. Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra, không nêu nói ẩu, chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết”.

Cùng với những nguyên tắc trên, theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài báo phải có bố cục “ngắn gọn”; ngôn ngữ “trong sáng, giản dị, dể hiểu” Theo Người ngắn gọn không có nghĩa là cộc lốc mà ngắn gọn là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn. Còn muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu, trước hết nhà báo phải học cách nói của quần chúng. Phải thực sự học quần chúng để có cách viết được quần chúng chấp nhận như những gì của chính họ. Sự trong sáng, giản dị, dễ hiểu là bắt nguồn từ sự hiểu biết thấu đáo, bản chất của sự vật, từ sự gắn bó với truyền thống dân tộc trong cách cảm, nếp nghĩ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những am hiểu ngôn từ của nhiều dân tộc mà còn là bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Người đề cao và khẳng định: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao?”.

Hiện nay, trên cả nước có khoảng 620 cơ quan báo chí, 1 hãng thông tấn, 1 đài phát thanh, 1 đài truyền hình quốc gia… Báo chí đã tích cực tuyên truyền, cổ vũ phong trào thi đua, lao động sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, động viên đồng bào cả nước vượt qua khó khăn, thử thách, khắc phục hậu quả nặng nề của thiên tai, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, kế hoạch đề ra.

Có thể thấy, sau 85 năm hình thành và phát triển, ở nước ta đã hình thành một hệ thống báo chí hoàn chỉnh với các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử, đảm nhiệm chức năng vừa là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội, vừa là diễn đàn của nhân dân.

Nhân kỷ niệm 85 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, các thế hệ những người làm báo không thể không nhớ tới Chủ tịch Hồ Chí Minh – người đã khai sinh ra nền Báo chí cách mạng Việt Nam, người thầy của các thế hệ nhà báo Việt Nam. Tư tưởng cùng nhưng lời dạy của Người về báo chí mãi còn nguyên giá trị và đặc biệt đối với thế hệ những người cầm bút hôm nay và mai sau càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết trong việc dùng ngòi bút của mình đấu tranh cho sự tiến bộ, công bằng và dân chủ của nhân dân.

Theo tdtt.gov.vn

nhoNguoicha

Bác Hồ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110 phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Đến ngày 28-5-1948, tại buổi lễ phong quân hàm cho vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội ta, Hồ Chủ tịch long trọng tuyên bố: “Nhân danh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng, để chú điều khiển binh sỹ, làm trọn sứ mệnh mà quốc dân phó thác”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25-8-1911, tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Thân sinh là cụ Võ Nguyên Thân – một nhà nho yêu nước và giàu chí khí. Cụ bị Pháp bắt ở Huế (khoảng 1946-1947). Chúng đánh cụ rất dã man và mắng: “Không biết dạy con, để con chống lại quân đội Pháp”. Cụ Thân cười bảo: “Tôi đẻ con ra, chưa kịp dạy thì nó đã bỏ nhà đi làm cách mạng. Chừ tôi muốn dạy con thì còn mô mà dạy? Vậy tôi nhờ quân đội Pháp hùng mạnh đi bắt giúp con tôi về đây để tôi dạy thử, coi con tôi có chịu nghe không”. Chúng lại càng điên cuồng tra tấn nhưng vẫn không moi được một lời khai nào, sau đó chúng đã thủ tiêu cụ.

Từ bé, Đại tướng đã được cụ thân sinh dạy học tại nhà và sau đó đi học ở trường làng. Đại tướng luôn được bố mẹ rèn cặp, hun đúc lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Đến năm 13 tuổi, Đại tướng vào học ở trường Quốc học Huế, sau ra Hà Nội học tiếp và đã hăng hái tham gia các hoạt động yêu nước của sinh viên, học sinh. Năm 1929, Đại tướng tham gia cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, sau đó tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục, làm thầy giáo dạy lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long và có nhiều bài viết cho các tờ báo ra công khai lúc bấy giờ như Tin Tức, Nhân Dân, Lao Động. Giai đoạn 1936-1939, Đại tướng là một trong những người sáng lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương và có nhiều hoạt động nổi bật về vấn đề đấu tranh đòi ruộng đất cho nông dân. Sau thời kỳ này, Đại tướng đã ra nước ngoài, hoạt động trong phong trào hải ngoại ở Trung Quốc.

Tháng 6-1940, Đại tướng được gặp Bác Hồ lần đầu tiên ở Thúy Hồ (Trung Quốc). Được sự dìu dắt của Bác, ngay trong năm 1940, Đại tướng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1941, Đại tướng trở về nước hoạt động, tích cực tham gia thành lập Mặt trận Việt Minh và được giao phụ trách Ban Xung phong Nam tiến.

Cuối năm 1944, Bác Hồ tin tưởng giao cho Đại tướng chọn lựa những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất với những vũ khí tốt nhất, lập thành một đội vũ trang mang tên là “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân”. Bác đã nói: Việc quân sự thì giao cho chú Văn (Văn là bí danh của Đại tướng). Sau một thời gian chuẩn bị, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập vào ngày 22-12-1944, tại một khu rừng ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Sau này, khu rừng ấy được đặt tên là khu rừng Trần Hưng Đạo, còn Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trước khi thành lập, Bác nói với Đại tướng là trong vòng một tháng phải có hoạt động. Điều kỳ diệu là chỉ hai hôm sau, vào ngày 24 và 25-12-1944, Đội đã liên tiếp đánh thắng hai trận vang dội, diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần của địch.

Trong những ngày cả nước sục sôi khí thế cách mạng, khi chiến tranh thế giới lần thứ II đã dần ngã ngũ với thắng lợi thuộc về phe đồng minh thì ở căn cứ Việt Bắc, Bác bị ốm rất nặng. Lúc này, cán bộ Trung ương ở bên cạnh Bác chỉ có Đại tướng. Bác sốt liên tục, hễ tỉnh lại lúc nào là nói chuyện tình hình và nhiệm vụ cách mạng như có ý dặn lại mọi việc với Đại tướng. Trong những điều Bác dặn dò ấy, có một câu nói đã mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập!”.

Cách mạng Tháng Tám vừa thành công thì thù trong giặc ngoài ráo riết chống phá, hòng bóp chết Nhà nước Cộng hòa non trẻ. Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ra sức chèo lái vận mệnh sơn hà và đã phải nhân nhượng với kẻ thù nhiều điều nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn, chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến. Song những nhân nhượng ấy cũng có một số cán bộ chưa đồng tình. Để thông suốt chủ trương, trong một cuộc họp, Bác đã hỏi: “Mình đứng đây, cái bục ở đây – Bác chỉ vào cái bục ở ngay trước ngực – Mình có thể nhảy qua cái bục này được không?”. Mọi người ngạc nhiên, chưa biết Bác định nói gì, thì Bác chỉ tay vào Đại tướng: “Chú Giáp! Chú là người giỏi văn, giỏi võ, chú thấy có thể nhảy qua được không?”. Đại tướng từ tốn trả lời: “Thưa Bác! Có thể nhảy qua được với một điều kiện”. Bác hỏi tiếp: “Điều kiện gì?”. Đại tướng bình tĩnh đáp: “Thưa Bác! Mình phải lùi lại một khoảng để lấy đà”. Bác liền khen: “Chú nói đúng! Chúng ta nhân nhượng với giặc chính là đang lùi lại để lấy đà đấy!”.

Đến một cuộc họp Hội đồng Chính phủ sau đó, Bác Hồ hỏi Đại tướng: “Nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền Bắc, Hà Nội có thể giữ được bao lâu?”, Đại tướng trả lời: “Thưa Bác! Có thể giữ được một tháng”. Bác lại hỏi: “Các thành phố khác thì sao?”, Đại tướng trả lời: “Các thành phố khác thì ít khó khăn hơn”. Bác hỏi tiếp: “Còn vùng nông thôn?”, Đại tướng trả lời: “Vùng nông thôn ta nhất định giữ được”.  Sự trả lời vững vàng của Đại tướng làm cho Bác nhanh chóng quyết định “Ta lại trở về Tân Trào”,  chọn căn cứ địa Việt Bắc làm Thủ đô kháng chiến. (Thực tế khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, chúng ta đã giữ được Hà Nội hơn 2 tháng).

Xuân Mậu Tý 1948, tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã ra một vế đối: “Giáp phải giải pháp”, ý nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp phải chỉ huy quân đội đánh thắng giặc Pháp, nhưng vế đối khó ở chỗ 2 chữ Giáp phải khi nói lái sẽ trở thành giải pháp. Mọi người còn đang đăm chiêu suy nghĩ thì ông Tôn Quang Phiệt đứng lên xin đối là: “Hiến tài hái tiền”. Hiến chỉ Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến và Hiến tài  nói lái sẽ trở thành hái tiền. Thật là hay! Vế xướng nói về kháng chiến, vế đối nói về kiến quốc, chính là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong thời kỳ này.

Cuối năm 1953, Đại tướng được giao nhiệm vụ ra mặt trận làm Tổng tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi Đại tướng lên đường, Bác Hồ đã căn dặn: “Chú ra mặt trận, tướng quân tại ngoại, có toàn quyền quyết định. Trận này rất quan trọng. Các chú nhất định phải thắng. Chắc thắng thì đánh. Không chắc thắng, không đánh”. Nhớ lời căn dặn của Bác, khi đến Điện Biên Phủ, trực tiếp theo dõi tình hình địch suốt 11 ngày đêm, thấy địch đã xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố, Đại tướng xét thấy phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” không bảo đảm chắc thắng. Từ đó, Đại tướng đã quyết định thay đổi phương châm từ đánh nhanh, giải quyết nhanh thành đánh chắc, tiến chắc. Thực tế đã chứng minh sự thay đổi ấy là một yếu tố cực kỳ quan trọng để làm nên Chiến thắng  lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu và Bác Hồ đã gọi đó là “cây cột mốc bằng vàng”.

Những chiến công của quân đội ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ luôn gắn liền với tên tuổi của Đại tướng. Là một vị tướng lừng danh thế giới, nhưng Đại tướng luôn coi mình là người học trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiện nay, Đại tướng là Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Đại tướng thường kể lại với mọi người về những ấn tượng sâu sắc trong lần đầu tiên được gặp Bác Hồ: “Ngay từ đầu, tôi đã cảm thấy như mình được ở rất gần Bác, được quen biết Bác từ lâu rồi! ở Bác toát ra một cái gì đó rất trong sáng, gần gũi. Một điều làm tôi  hết sức cảm phục là khi nói chuyện với tôi, Bác nói rất nhiều tiếng địa phương. Tôi không ngờ một người xa đất nước lâu năm như Bác mà vẫn giữ được nguyên vẹn tiếng nói của quê hương…”

Theo Báo Bắc Ninh

hcmpc.com.vn

Học và làm theo Bác từ điều bình dị

Bí thư Thành đoàn TP.HCM Nguyễn Văn Hiếu cho biết: Năm năm qua đã có nhiều mô hình, chương trình để việc thực hiện “Tuổi trẻ VN học tập và làm theo lời Bác” lan tỏa trong đời sống của tuổi trẻ TP.Hồ Chí Minh.

Có những tư tưởng, việc làm của Bác mang tầm vóc vĩ đại nhưng cũng có không ít suy nghĩ, việc làm rất đỗi bình dị, dễ tiếp thu, dễ học và làm theo trong cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, chúng ta có thể khai thác di sản vô giá đó từ nhiều góc độ, tùy vào đặc điểm, tính chất và công việc của mỗi người. Khi đề cập đến tấm gương đạo đức của Bác, chúng ta thấy lối sống giản dị và thực hành tiết kiệm là hai phẩm chất mà người trẻ nào cũng có thể học và làm theo.

* TP.HCM có cách làm đa dạng với nhiều mô hình để triển khai cuộc vận động “Tuổi trẻ VN học và làm theo lời Bác”. Đâu là điểm nổi bật và sức lan tỏa của cuộc vận động trong tuổi trẻ TP thế nào, thưa anh?

– Gắn với từng đối tượng cụ thể, tuổi trẻ TP có nhiều phương thức triển khai cuộc vận động. Đơn cử như với đội viên là tập trung thực hiện “năm điều Bác Hồ dạy”; cán bộ, công chức trẻ là tham gia cải cách hành chính gắn với phong trào “ba trách nhiệm” (trách nhiệm với bản thân, với công việc, với nhân dân); thanh niên trên địa bàn dân cư là xây dựng nếp sống văn minh đô thị, khu phố, ấp “An toàn – sạch đẹp – văn minh – nghĩa tình”; thanh niên công nhân tập trung chương trình “Thanh niên đồng hành cùng hàng Việt”; học sinh, sinh viên, thầy cô giáo trẻ thực hiện các cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Sinh viên năm tốt”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Nhà giáo trẻ tiêu biểu”, “Học sinh ba tích cực”…

Tôi cho rằng điểm nổi bật chính là tuổi trẻ TP đã lựa chọn đúng phong trào, phát huy thế mạnh vốn có và sự chỉ đạo sát sao của Ban thường vụ Thành đoàn với cơ sở. Chọn lựa phong trào và chú trọng hiệu quả tổ chức nên cuộc vận động đã thật sự lan tỏa, tác động tích cực đến số đông, góp phần nâng cao nhận thức và rèn luyện đạo đức, tác phong, lối sống của các bạn trẻ.

Anh Nguyễn Văn Hiếu - Ảnh: Q.NGUYÊN

Nhưng thực tế một số nơi chưa thật chủ động, còn hình thức và đối phó khi triển khai cuộc vận động. Điều này sẽ được khắc phục ra sao?

– Đúng là có lúc, có nơi tại cơ sở vẫn còn tình trạng hình thức, đối phó. Chúng tôi thường xuyên kiểm điểm và tự phê bình nghiêm túc lẫn nhau đối với những cách làm hời hợt, thiếu trách nhiệm này. Tuy nhiên trên bình diện chung, tôi cho rằng các nội dung học tập và làm theo lời Bác đã được cơ sở Đoàn, các bạn đoàn viên, thanh thiếu nhi nhiệt tình hưởng ứng.

Mục tiêu là từng bước tác động sâu vào suy nghĩ và hành động trong cuộc sống hằng ngày của thanh thiếu niên. Chúng tôi luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ Đoàn – Hội – Đội phải là lực lượng nòng cốt, tích cực đi đầu để thể hiện vai trò gương mẫu. Đây là hướng đi đúng và sẽ được tiếp tục phát huy để thực hiện có hiệu quả các quan điểm chỉ đạo mới đây của Thành ủy TP.HCM thời gian tới, làm sao để mỗi bạn trẻ nhận ra việc học và làm theo lời Bác như một nhu cầu thường xuyên, cần thiết trong đời sống.

* Yêu cầu xuyên suốt cuộc vận động là chuyển từ “học” sang “làm theo” lời Bác. Thành đoàn TP.HCM đã có chủ trương gì để thực hiện trọng tâm này thời gian tới?

– Việc học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách của Bác Hồ tiếp tục được duy trì như một yêu cầu hết sức quan trọng để giáo dục đạo đức, lối sống cho đoàn viên, thanh thiếu nhi trong hệ thống tổ chức Đoàn – Hội – Đội. Đồng thời việc “làm theo lời Bác” sẽ được tăng cường theo hướng khuyến khích sự năng động, sáng tạo của mỗi cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh niên tại cơ sở để việc học tập và làm theo lời Bác gắn với nhiệm vụ chuyên môn, quá trình học tập và rèn luyện đạo đức, lối sống của mỗi bạn trẻ.

Giải pháp chính là kịp thời phát hiện và nhân rộng các nhân tố điển hình, những mô hình tích cực, hiệu quả. Song song đó sẽ tạo môi trường rèn luyện để người trẻ có điều kiện tham gia các công trình, sản phẩm, phần việc thanh niên làm theo lời Bác. Mà phải là tham gia trực tiếp, sâu rộng vào các dự án phát triển kinh tế, an sinh xã hội của TP và đất nước. Đặc biệt là các dự án tại chính địa phương, đơn vị, vừa phục vụ nhu cầu của thanh thiếu nhi, vừa phục vụ nhu cầu của cộng đồng xã hội một cách thiết thực, hiệu quả.

Theo Tạp chí Tuyên Giáo

hcmpc.com.vn

Di chúc Bác Hồ và trăn trở của Người về quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ

Tài liệu “Tuyệt đối bí mật”- bản Di chúc thiêng liêng, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết lúc 9 giờ sáng ngày 10/5/1965 đúng dịp sinh nhật lần thứ 75 của Người. Từ ngày 10 đến 14/5/1965, mỗi ngày Người dành một giờ đồng hồ để viết. Những năm sau đó, cũng vào dịp tháng 5, Người lại dành thời gian để đọc lại hoặc viết thêm vào tài liệu ấy. 9 giờ sáng ngày 10/5/1968, khi xem lại tài liệu này, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy cần và Người đã viết thêm một số vấn đề nữa. Trong số những vấn đề đó, Người đã viết về phụ nữ như sau: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”

Những lời tâm huyết này trước lúc đi xa, phải chăng là sự đúc kết ngắn gọn của sự trăn trở cả cuộc đời Người về vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người và giải phóng phụ nữ – thực hiện quyền bình đẳng cho mỗi dân tộc, mỗi con người và quyền bình đẳng thật sự của phụ nữ so với nam giới.

Từ những năm đầu thế kỷ XX, khi đang còn hoạt động ở nước ngoài (Pháp), Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhìn thấy rất rõ nỗi khổ nhục của người phụ nữ Việt Nam và đanh thép tố cáotội ác của thực dân Pháp đối với phụ nữ xứ thuộc địa An Nam lúc đó: “Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược, ngoài phố,trong nhà, giữa chợ, hay ở thôn quê, đâu đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của bọn quan lại cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga”. Người đã đưa ra những dẫn chứng rất cụ thể về những hành vi bạo ngược để minh hoạ cho lời tố cáo đó của mình và còn thấy rõ: Cùng với sự áp bức của thực dân Pháp thì lễ giáo phong kiến Việt Nam cũng coi người phụ nữ là những “đàn bà phải quanh quẩn bếp núc”, “trong xã hội và trong gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì”. “Dưới chế độ phong kiến và thực dân, phụ nữ bị áp bức tàn tệ. Ngoài xã hội thì phụ nữ bị xem khinh như nô lệ. Ở gia đình thì họ bị kìm hãm trong xiềng xích “tam tòng”. Trước sự khổ nhục của người phụ nữ An Nam như vậy, Người vẫn có niềm tin vào sức mạnh ở họ. Người đề cao vai trò, vị trí của giới phụ nữ nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng. Người khẳng định:“muốn thế giới cách mệnh thành công thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước…An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”. Từ đó, Người đã động viên, khích lệ, kêu gọi “Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công như vậy”, “… bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!”

Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo năm 1930, Người đã đưa nội dung “Nam nữ bình quyền” thành một mục ngang bằng với các mục “Dân chúng được tự do tổ chức”, “Phổ thông giáo dục theo công nông hoá”…

Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng, khi sáng lập Mặt trận Việt Minh (5/1941) để tập hợp lực lượng đánh thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, Người đã đề ra 10 chính sách của Việt Minh, trong đó có chính sách về phụ nữ: “Đàn bà cũng được tự do, bất phân nam nữ đều cho bình quyền”. Trong Chương trình Việt Minh, Nguời viết: “Sau khi đánh đuổi đế quốc phát xít Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà…. Chính phủ nhân dân của nước VNDCCH do Quốc dân đại hội cử lên sẽ thi hành những chính sách Phổ thông đầu phiếu: hễ ai là người Việt Nam, vô luận nam, nữ từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử và ứng cử… Về chính trị: Nam nữ bình quyền. Về các phương diện kinh tế , chính trị,văn hoá: đàn bà đều được bình đẳng với đàn ông”

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, chỉ một ngày sau khi tuyên bố Việt Nam độc lập, ngày 3/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Người đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước VNDCCH. Trong đó, nhiệm vụ thứ ba, Người nêu: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử”[8][9]. Người còn chủ trương: “Trong cuộc tổng tuyển cử hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái, trai… hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó”[9][10].Dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập đã giành thắng lợi lớn. Trong số 333 đại biểu Quốc hội, có 10 đại biểu là phụ nữ.

Là Trưởng ban dự thảo Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa vào bản Hiến pháp đầu tiên (1946) của nước ta những điều luật ngang tầm với nền chính trị tiên tiến của thế giới, trong đó, Điều 9 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử, người phụ nữ đã được quyền bình đẳng, ngang với đàn ông cả trong quy định pháp lý và cả trên thực tế.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ: Hàng vạn phụ nữ Kinh, Tày, Nùng, Mán, Mèo xung phong tham gia dân công, không quản trèo đèo lội suối, ăn gió nằm sương. Phụ nữ ở xí nghiệp, ở nông thôn, ở cơ quan, kể cả chị em tiểu tư sản đều hăng hái tham gia thi đua yêu nước, thành tích không kém đàn ông. “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Người còn chỉ ra nhiệm vụ chính trị của phụ nữ lúc bấy giờ: “Thắt chặt mối đoàn kết giữa các tầng lớp phụ nữ trong nước, giữa phụ nữ Việt Nam và phụ nữ các nước bạn cùng phụ nữ dân chủ thế giới. – Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu.- Hăng hái tham gia chính quyền…

Người cũng nhấn mạnh: Đóng góp của phụ nữ thì to lớn như vậy, nhưng để thực sự nam nữ bình đẳng – bình quyền là “một cuộc cách mạng to và khó”. Bởi vì, “ách áp bức dân tộc và bóc lột giai cấp của bọn thực dân Pháp và tay sai đã gây nên những nỗi đau khổ, cơ cực của người phụ nữ”. Và “vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trongđầu óc của mọi tầng lớp xã hội… phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân dù to và khó nhưng nhất định thành công”. Người chỉ rõ về tầm quan trọng của cuộc cách mạng này: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội mới một nửa”. Tư tưởng về thực hiện quyền bình đẳng và giải phóng phụ nữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã được ghi trong Hiến pháp năm 1959, tại Điều 24. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trươngxây dựng Luật Hôn nhân và gia đình, và ngày 13/1/1960, Người đã ký Lệnh số 02- LCT công bố đạo Luật này. Luật đã dành các Điều 3;12;13;18 để nói về quyền bình đẳng vợ chồng và phải yêu thương quý trọng nhau.

Trong công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các Bộ, các ngành, các cơ quan, đoàn thể, đơn vị phải chú ý đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện đưa phụ nữ tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo. Có như vậy, phụ nữ mới thực sự bình đẳng. Ngườithường xuyên quan tâm theo dõi từng bước tiến của phụ nữ. Người nhận xét “Thời kỳ thuộc Pháp, phụ nữ ta làm gì đựơc tham gia chính quyền. Nhưng đến nay, số phụ nữ hiện công tác ở các cơ quan Trung ương đã có trên 5.000 người, ở huyện, xã có hơn 16.000 người và các tỉnh có hơn 330 người, đặc biệt trong quốc hội khoá II này có 53 đại biểu phụ nữ”. Người còn động viên chị em noi gương phụ nữ thế giới…; phụ nữ trong nước… như “Phó tổng tư lệnh quân giải phónglà cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”

Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để phụ nữ Việt Nam được hưởng quyền bình đẳng thật sự thì không chỉ làm cách mạng giải phóng họ, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của họ mà còn phải bồi dưỡng, giúp đỡ họ, đưa họ tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo Đảng và chính quyền. Đây là biểu hiện rõ nét nhất về việc thực hiện quyền bình đẳng đối với phụ nữ. Cả cuộc đời Người luôn trăn trở để đem lại quyền bình đẳng thật sự đó.

phunu.hochiminhcity.gov.vn

Quyền bình đẳng của phụ nữ – một vấn đề quan trọng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thạc sĩ, Phó chủ tịch Hội LHPN Hoàng Thị Ái Nhiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới là người sớm quan tâm đến vai trò, vị thế của phụ nữ, là một trong những người đi đầu, giương cao tư tưởng chống áp bức và nô dịch phụ nữ.

Trong một bài phát biểu của mình, nhà sử học người Mỹ, bà Giô-xơ-phin Sten-sen đã khẳng định: Trong số những lãnh tụ là nam giới như Tô-mát Giéc-phéc-sơn, Mahatma Găng-đi, Các Mác, Lê-nin, Mao Trạch Đông, Lu-thơ-kinh và Nen-sơn Men-đê-la… Tất cả những lãnh tụ nói trên đều quan tâm sâu sắc đến công lý cho toàn thể xã hội. Song, chỉ có Hồ Chí Minh là đã luôn luôn nói về quyền bình đẳng của phụ nữ…

Còn với chúng ta – những người dân Việt Nam, những người phụ nữ Việt Nam – hơn ai hết, chúng ta hiểu sâu sắc rằng trong suốt quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh cho độc lập tự do, xây dựng chế độ mới, có một tư tưởng xuyên suốt, có một điều luôn thường trực trong tâm khảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu là làm thế nào, làm gì để giải phóng phụ nữ nước ta, để thực hiện nam nữ bình quyền, để quyền lợi của phụ nữ thật sự được tôn trọng, thật sự được bảo đảm.

Vì lẽ đó, cho đến trước lúc đi xa, Người vẫn luôn tâm niệm, dành một phần trong bản Di chúc thiêng liêng để nói về một vấn đề quan trọng là quyền bình đẳng của phụ nữ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phụ nữ có vai trò rất to lớn trong sự nghiệp cách mạng; giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ là một nội dung quan trọng của quyền con người, một nhiệm vụ của cách mạng. Ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong Bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”

Với lực lượng một nửa nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao những đóng góp to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp Cách mạng, Người khẳng định: “Trong lịch sử phát triển của đất nước, ở bất cứ thời kỳ nào, phụ nữ Việt Nam cũng giữ một vai trò rất quan trọng”; “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ!”.

Như vậy, cả về hai mặt pháp lý và đạo đức, quyền bình đẳng của phụ nữ là một nội dung quan trọng của quyền con người. Trong suốt cuộc đời làm cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn canh cánh một nỗi niềm, một nhiệm vụ: Giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ. Người ý thức sâu sắc rằng giải phóng phụ nữ thuộc địa phải gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Là một vị lãnh tụ nói và làm luôn đi đôi với nhau, tư tưởng thống nhất với hành động, Chủ tịch Hồ chí Minh thấu hiểu nổi thống khổ và sự ràng buộc xã hội đối với người phụ nữ; qua đó thức tỉnh họ đứng lên tranh đấu để giành lấy sự bình đẳng; trong công tác phụ nữ Người luôn đòi hỏi ở cả hai phía: Tổ chức Đảng và bản thân người phụ nữ.

Thấu hiểu và thông cảm với phụ nữ, Người luôn quan tâm thức tỉnh, xây dựng cho họ lòng tự tin, niềm tự hào. Người chỉ rõ: “Dưới CNXH, CNCS, người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ đó đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực”. Là một lãnh tụ nói đi đôi với làm, Người đã biến sức mạnh tiềm tàng to lớn của phụ nữ thành động lực mạnh mẽ, thành mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Theo Người, một vấn đề cực kỳ quan trọng là phụ nữ phải được tham gia bình đẳng vào quá trình xây nền kinh tế mới của xã hội; sự tiến bộ của nền kinh tế, văn hóa, xã hội là tiền đề để đi tới giải phóng phụ nữ triệt để.

Không chỉ quan tâm đến quyền bình đẳng của nữ giới trong mọi quan hệ xã hội mà Bác Hồ còn lo cho hạnh phúc của nữ giới trong quan hệ vợ chồng,Bác khuyên chị em ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình để tự đấu tranh giải phóng mình khỏi những ràng buộc phi lý kiểu “chồng chúa vợ tôi”. Bác phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật: “Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong cuộc sống đời thường, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm động viên phụ nữ.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, suốt 40 năm qua, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển một cách toàn diện tư tưởng của Người trong công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; các tầng lớp phụ nữ đã có nhiều cố gắng nỗ lực để hướng tới sự bình đẳng thực chất cho phụ nữ.

Xuyên suốt từ Cương lĩnh chính trị năm 1930 đến Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, vấn đề quyền bình đẳng của phụ nữ tiếp tục được thể chế hoá trong nhiều văn bản Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quan trọng về bình đẳng nam nữ và công tác phụ nữ.

Năm 1981, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Ngày 12/7/1993, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 04/NQ – TW về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Tiếp tục phát triển các quan điểm của Đảng và Bác Hồ, Nghị quyết xác định phụ nữ là “người thầy đầu tiên” của mỗi đời người; phụ nữ có “những đặc điểm riêng…”; để phát huy vai trò của phụ nữ, Đảng ta đã xác định những nhiệm vụ cơ bản: “phát huy trí tuệ phụ nữ”, “tránh khắt khe, hẹp hòi”, cần “thông cảm, giúp đỡ phụ nữ”, “nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ là thật sự thực hiện quyền bình đẳng và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ”… Về phần mình: “phụ nữ cần kết hợp hài hoà công việc gia đình với công tác xã hội”…

Quan điểmấy tiếp tục được thể hiện trong Chỉ thị 37/CT-TW của Ban Bí thư ngày 16/5/1994 về công tác cán bộ nữ; được cụ thể hoá trong “ Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010” do Chính phủ công bố ngày 4/10/1997.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ cụ thể: “Đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳnggiới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng X, tiếp tục cụ thể hóa quan điểm của Đảng đối với việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời kỳ mới, Ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 11/NQ-TW “Về công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Ngày 29/11/2006 Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Bình đẳng giới; ngày 21 tháng 11 năm 2007 Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua Luật Phòng chống bạo lực gia đình. Đây là những văn bản pháp lý có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội, góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về bình đẳng giới, là công cụ pháp lý thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình phấn đấu thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở nước ta.

Bên cạnh những thành tựu về chủ trương, đường lối và luật pháp; về tổ chức bộ máy, lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta có một cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới, có văn bản chính thức giao cho Uỷ Ban các vấn đề xã hội của Quốc Hội phụ trách về Bình đẳng giới; hằng năm Chính phủ có báo cáo với Quốc Hội về thực hiện các mục tiêu quốc gia về Bình đẳng giới. Những thành tựu đó đã ngày càng tạo điều kiện cho phụ nữ bình đẳng về quyền và cơ hội phát triển; phát huy vai trò, khả năng của lực lượng phụ nữ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới của đất nước. Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật của đất nước, sự nghiệp “giải phóng phụ nữ”, “nam, nữ bình quyền”, vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam ngày càng thu được nhiều thành tựu.

Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, thực hiện lời giáo huấn trong Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu, với lòng biết ơn vô hạn, các tầng lớp phụ nữ trên khắp mọi miền của đất nước đã đoàn kết phấn đấu, năng động, sáng tạo phát huy sức mạnh nội lực, giá trị truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam, chủ động, tự tin, đóng góp quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phầnthực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Trong vai trò người vợ, người mẹ, với tấm lòng thuỷ chung, nhân hậu, phụ nữ đã cùng nam giới xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Phụ nữ Việt Nam ngày càng trưởng thành về mọi mặt. Trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, địa vị của phụ nữ trong gia đình và xã hội được nâng lên. Quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng được thực hiện đầy đủ hơn. Đời sống vật chất, tinh thần và sức khoẻ của đại bộ phận chị em được cải thiện.

Là tổ chức đại diện, chăm lo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ Việt Nam, Hội LHPN Việt Nam đã giữ vững vai trò nòng cốt trong phong trào phụ nữ. Bám sát chức năng của Hội, nhiệm vụ chính trị của đất nước, các cấp Hội đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt hơn vai trò đại diện quyền làm chủ của phụ nữ; chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành một số chính sách, luật pháp có ý nghĩa chiến lược về công tác phụ nữ, cán bộ nữ và bình đẳng giới. Các cấp Hội đã tích cực vận động phụ nữ và các tầng lớp phụ nữ sôi nổi hưởng ứng thực hiệnphong trào thi đua yêu nước “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc’’. Đặc biệt, đối vớiCuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh”, hơn 2 năm qua cán bộ, hội viên phụ nữ cả nước đã nỗ lực thực hiện không chỉ bằng trách nhiệm mà bằng cả tấm lòng yêu thương và biết ơn vô hạn đối với Bác. Cuộc vận động đã trở thành một đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa, bước đầu đã tạo được những chuyển biến tích cực trong việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức trong cán bộ, hội viên, xây dựng được phong trào “làm theo” tấm gương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí củaBác bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát, quan niệm bất bình đẳng, tư tưởng trọng nam hơn nữ vẫn tồn tại trong xã hội ta dưới nhiều hình thức, ở nhiều nhóm xã hội khác nhau, kể cả đội ngũ cán bộ, công chức, thậm chí cả trong nữ giới. Giữa chủ trương, chính sách và pháp luật với thực tiễn còn khoảng cách lớn, để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ còn nhiều khó khăn, thách thức. Trong thực tế, phụ nữ đang phải đối mặt với đói nghèo, lạc hậu, thiếu việc làm, sự bất cập về trình độ học vấn, chuyên môn chính là những bước cản trở đến sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ. Ngay tại các bộ, ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp những khó khăn nhất định. Việc bồi dưỡng, phát triển cán bộ nữ còn hạn chế. Tỷ lệ thất nghiệp trong nữ giới có xu hướng cao dần lên trong cả khu vực công và tư; tình trạng bạo lực gia đình mà nạn nhân chủ yếu là phụ nữ vẫn còn cao; tình trạng thất học, bỏ học của các cháu gái ở vùng sâu, vùng xa còn khá phổ biến; khoảng cách giàu nghèo giữa đô thị với nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn khá lớn…

Để tiếp tục thực hiện nội dung quan trọng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ, đồng thời thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, trong thời gian tới, cần tiếp tục có sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động trên lĩnh vực xã hội và bình đẳng giới; sự nỗ lực của toàn dân và của phụ nữ.

Từ diễn đàn hội thảo này, chúng tôi mong muốn Đảng và Nhà nước, tiếp tục lãnh đạo, thể chế hoá những quan điểm về bình đẳng giới thông qua các chính sách, pháp luật; tiếp tục hoàn thiện các chính sách có liên quan đến vấn đề bình đẳng giới. Đề ra các giải pháp hữu hiệu để đưa Nghị quyết, chính sách, pháp luật vào cuộc sống; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao hơn nữa nhận thức của toàn xã hội về bình đẳng giới; tăng cường sự tham gia của cán bộ nữ vào bộ máy các cơ quan lãnh đạo các cấp; định kỳ hàng năm kiểm tra việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

Về phần mình, Hội LHPN Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, tổ chức các hoạt động thiết thực phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của phụ nữ và nhiệm vụ chính trị được giao. Chú trọng nâng cao năng lực của đội ngữ cán bộ các cấp để thực hiện tốt hơn vai trò đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ. Tăng cường tham mưu cho Đảng có những chính sách cụ thể, kịp thời động viên khuyến khích chị em vươn lên đảm nhận trách nhiệm trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhân kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cấp Hội tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người trong cán bộ, hội viên phụ nữ cả nước; đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh” trong cán bộ, hội viên phụ nữ bằng những việc làm cụ thể thiết thực.

Với tất cả lòng thương yêu và biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu, tưởng nhớ Bác, cán bộ, hội viên phụ nữ cả nước quyết tâm đoàn kết, phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đóng góp tài năng, sức lực trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu bình đẳng, phát triển của phụ nữ, xứng đáng với niềm tin yêu và lòng mong muốn của Bác Hồ.

phunu.hochiminhcity.gov.vn

Những mẩu chuyện về Bác Hồ với phụ nữ

Cẩm Chương
(Ghi theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ)

Bình sinh, Bác Hồ là người luôn quan tâm đến phụ nữ và phong trào phụ nữ. Nhân kỷ niệm 110 nǎm ngày sinh của Người, phóng viên báo Phụ nữ Việt Nam đã tới gặp bác Vũ Kỳ – thư ký riêng của Bác Hồ nǎm nay đã trên 80 tuổi. Để ghi lại những mẩu chuyện về Bác Hồ với phụ nữ, Bác Hồ với vấn đề phê bình và tự phê bình, vấn đề xây dựng chỉnh đốn Đảng.

Phụ nữ muốn được bình đẳng không phải bảo Đảng và Chính phủ hay nam giới giải quyết mà phải tự đấu tranh phấn đấu giành lấy“.

Thường hay được đi với Bác, đến đâu tôi cũng thấy Bác quan tâm hỏi về phụ nữ. Một lần, tới một hội nghị, nhìn suốt dọc hội trường Bác hỏi: “Này các chú, phụ nữ đâu mà không thấy phụ nữ ngồi hàng đầu?” Rồi Bác lại hỏi tiếp “Các cô gái có đấy không? Có ạ. “Vậy mời lên đây ngồi. Ngay việc ngồi cũng không bình đẳng. Phụ nữ muốn được bình đẳng không phải bảo Đảng và Chính phủ hay nam giới mời lên ngồi mới ngồi mà phải tự đấu tranh phấn đấu giành lấy”. Đó chính là lời cǎn dặn cũng như mong muốn của Bác Hồ đối với phụ nữ bởi đối với phụ nữ bao giờ Bác Hồ cũng dành sự quan tâm nhiều nhất. Thường khi đi tới đâu hoặc làm việc gì Bác Hồ cũng nói đến phụ nữ và phong trào phụ nữ. Bác thường nhắc: lực lượng phụ nữ không nhỏ, có khi số lượng còn đông hơn nam giới vì thế khi giải quyết việc gì trong dân, điều quan trọng là phải làm như thế nào đối với phụ nữ. ở Việt Nam, châu á, châu Phi, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ rất rõ rệt. Phụ nữ Việt Nam có hoàn cảnh đặc biệt hai lần bị bóc lột: Đế quốc và ý thức hệ phong kiến với “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” đã đè nặng lên người phụ nữ.

Bác Hồ luôn nhấn mạnh như vậy. Vì thế mọi đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ bao giờ cũng chú ý đến phụ nữ. Trong di chúc của Bác Hồ cũng có những đoạn riêng viết về phụ nữ: “Tháng 5-1968, khi tôi xem lại thư này, tôi thấy cần viết thêm mấy điểm. Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước; phụ nữ đảm đang đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là một cuộc cách mạng”.

Thẳng thắn phê bình nhưng vẫn giữ tình đồng chí thương yêu

Bác nhắc đến phụ nữ thường nhắc đền quyền bình đẳng vì vậy hiện nay nếu Bác còn, ngay trong cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng, chắc Bác cũng sẽ đặt ra: Giới phụ nữ sẽ phải làm gì? Trách nhiệm ra sao? Bác chú ý đến quyền lợi song cũng chú ý đến trách nhiệm của phụ nữ vì vậy phụ nữ cũng nên tìm lấy cái gì trong cuộc vận động này và nên làm thế nào cho tốt. Khi đi thǎm các nước, Bác thường nói với phụ nữ các nước đó: Phụ nữ Việt Nam làm được nhiều việc cho đất nước, phụ nữ Việt Nam thay thế nam giới thực hiện phục vụ cho chiến đấu, sản xuất. Đặc biệt, khi làm chủ nhiệm hợp tác xã (HTX), phụ nữ làm tốt hơn nam giới, cần cù hơn, không lãng phí, không đánh chén. Có lần tại một hội nghị cấp huyện Bác hỏi: ở đây có Hải Phòng không? Có ạ. Hợp tác xã các chú làm thế nào mà phải sang HTX khác mượn lợn để lừa dối cấp trên? Có không? Có ạ. Vậy không nên làm như thế nữa. Lúc đó, gần tết, Bác hô hào kêu gọi tiết kiệm. Bác nói: “Các chú phải có vǎn hóa không được đánh vần chữ “tiết kiệm” thành “tiết canh”. Phụ nữ người ta làm chủ nhiệm đâu có đánh chén. Chủ nhiệm phụ nữ thật thà, phải đưa nhiều phụ nữ tham gia làm chủ nhiệm. Lúc nào, ở đâu, Bác cũng nhắc, liên hệ đến phụ nữ. Vì vậy trong cuộc vận động này, phụ nữ phải tham gia thúc đẩy làm tốt. Trong di chúc Bác Hồ đã viết: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là phải chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi Đảng viên, mỗi Đoàn viên; mỗi Chi bộ…”. Hiện nay, Đảng ta thực hiện xây dựng chỉnh đốn Đảng là thực hiện di chúc của Bác. Tôi tin phụ nữ cũng sẽ là lực lượng tiên phong thực hiện. Muốn chỉnh đốn Đảng tốt là phải phê bình và tự phê bình. Một lần được ǎn cơm với Bác, tôi có hỏi: Thưa Bác không hiểu tại sao cháu ở với Bác lâu, Bác chưa hề cáu gắt mà cháu lại hay cáu gắt với anh em. Bác trả lời luôn: “Chú ở với Bác lâu, Bác cũng ở với chú lâu nhưng có bao giờ thấy chú gắt với Bác đâu. Sở dĩ chú cáu gắt là vì chú chưa tôn trọng đầy đủ với anh em”.

Đúng là tôi chưa dám cáu gắt với cấp trên bao giờ. Sau đó Bác còn nói thêm: Chú thấy bánh ga tô có ngon không. Dạ rất ngon: Thế mà Bác thấy chú ǎn no, Bác mới mang ra, chú có thấy ngon không? Dạ bớt ngon. Nếu Bác nhét vào mồm chú, chú còn thấy ngon không? Dạ hết ngon. Phê bình cũng vậy, phải đúng lúc, đúng chỗ, đúng cách thì mới giải quyết được. Bản thân Bác trong lúc làm việc cũng rất lắng nghe, chấp nhận sự góp ý của mọi cộng sự. Cụ thể có lần (nǎm 1968), Ban Tuyên huấn chuẩn bị cho Bác bài báo viết về việc nâng cao đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân để đǎng trong dịp kỷ niệm. Sau nhiều lần Bác sửa, đến khi chuẩn bị in có ý kiến đề nghị Bác đảo lại tít bài “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” vì Đảng viên nói chung là tốt, Bác chấp nhận đảo lại tiêu đề mặc dù Bác vẫn hỏi: ở nhà vợ con các chú mua tủ mới, trước khi kê vào phải quét dọn phòng vậy phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân thì đạo đức cách mạng mới đến được chứ. Điều này nếu mang áp dụng vào cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng thật là đúng bởi mỗi Đảng viên phải gạt bỏ được cá nhân của mình thì mới có thể tiến bộ được. Bác nói phải phê và tự phê bình song vẫn khẳng định “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta” và nǎm 1966 Bác còn viết thêm trong di chúc: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” – về việc này phụ nữ thực hiện tốt hơn. Tuy nhiên, Bác cũng nói: phụ nữ ta thường tự ti, có thói quen rụt rè không dám đấu tranh. Phụ nữ là đảng viên cũng mang thói quen đó vào. Bởi thế, trong cuộc vận động này, phụ nữ phải cố gắng để xứng đáng với sự quan tâm, tin yêu mà Bác đã dành cho.

Chúng ta biết Bác là người sáng lập Đảng, rèn luyện Đảng nên vững mạnh. Bác nhắc: “Toàn tâm toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ Tổ quốc thì Đảng mới lãnh đạo được, dân mới noi theo. Người dân có câu: “Đảng viên đi trước làng nước theo sau” là như vậy. Nǎm nay là nǎm 2000, là nǎm chúng ta kỷ niệm lần thứ 110 ngày sinh của Người càng nhớ về Người càng phải cố gắng làm theo lời Người dặn, cố gắng làm theo cách Người làm.

Báo Phụ nữ Việt Nam, ngày 15/5/2000

govap.hochiminhcity.gov.vn

Bác Hồ với phong trào phụ nữ “ba đảm đang”

Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao tinh thần yêu nước và sự đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Từ thân phận người nô lệ, phụ nữ đã vùng lên làm cách mạng, tham gia vào cuộc đấu tranh chung, trở thành người chủ thực sự, có quyền lợi, có trình độ văn hóa và địa vị xã hội. Hòa trong công cuộc cách mạng lớn của dân tộc, phong trào thi đua của phụ nữ việt Nam đã phát triển sâu rộng chưa từng thấy trong công cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ.

Đặc biệt khi đế quốc Mỹ dùng mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ, tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, mở rộng chiến tranh, dùng máy bay đánh phá miền Bắc. Người người đều căm giận tội ác tày trời của đế quốc Mỹ đối với nhân dân việt Nam. Phong trào chống Mỹ sục sôi trong cả nước.

Tháng 3 năm 1965 (nhân dịp kỷ niệm lần thứ 15 Ngày toàn quốc chống Mỹ: 3/1950 -3/1965) Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam kêu gọi phụ nữ toàn quốc khắc sâu lòng căm thù đế quốc Mỹ, biến căm thù thành quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, Trung ương Hội đã phát động phong trào “Ba đảm nhiệm” trong phụ nữ toàn miền Bắc với nội dung:

1. Phụ nữ đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho chồng con đi chiến đấu.

2. Phụ nữ đảm nhiệm việc gia đình cho chồng, con, anh em tòng quân và phục vụ lâu dài trong quân đội.

3. Phụ nữ đảm nhiệm phục vụ chiến đấu, tham gia dân quân tự vệ, tập luyện quân sự để sẵn sàng chiến đấu; phục vụ bộ đội, công an, dân quân tự vệ khi chiến đấu.

Quan tâm tới phong trào thi đua yêu nước của các tầng lớp nhân dân, Bác Hồ rất chú ý phong trào của chị em phụ nữ, Người đã chỉ thị sửa từ “Ba đảm nhiệm” thành “Ba đảm đang” đúng với bản chất của người phụ nữ trong gian khó. Lần đầu tiên phong trào “Ba đảm đang” được Bác viết trong văn bản “Lời kêu gọi nhân ngày 20-7-1965”, khuyến khích chị em thực hiện thật tốt phong trào này, để làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng “Chống Mỹ cứu nước”.

Phong trào “Ba đảm đang” từ ngày ấy được phát triển, thực sự là một phong trào cách mạng sâu rộng, đi đến mọi nhà lôi cuốn mọi tầng lớp phụ nữ tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Những giá trị tinh thần, những đóng góp to lớn của phụ nữ trong phong trào “Ba đảm đang” của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ được thể hiện trong chiến đấu, trong lao động và cuộc sống hàng ngày. Một cuộc chiến hết sức gay go quyết liệt với tên đế quốc có tiềm lực kinh tế mạnh nhất thế giới. Trong lịch sử Việt Nam chưa có thời kỳ nào lực lượng phụ nữ lại có cả bà già, phụ nữ có con nhỏ tham gia phong trào chiến đấu, phục vụ chiến đấu đông đảo như cuộc kháng chiến này. Ý thức được nghĩa vụ chống Mỹ cứu nước, ở hậu phương, chị em đều đảm đang việc gia đình, thay thế chồng con sản xuất và trực tiếp chiến đấu. Ban ngày các chị tay cày, tay súng, tối về lo việc nhà, dạy dỗ con thơ. Nhiều tấm gương của chị em đã được cả nước biết đến như các trung đội nữ dân quân bắn rơi máy bay Mỹ ở huyện Hậu Lộc, huyện Tĩnh Gia, huyện Hoằng Hóa, huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa; huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình…và đã được Bác Hồ gửi thư khen.

Đó là gương chị La Thị Tám – người con gái sông La, tỉnh Hà Tĩnh tham gia bảo vệ an toàn cho những con đường huyết mạch trong tỉnh, trực tiếp quan sát, dũng cảm cắm tiêu hàng trăm quả bom nổ chậm. Chị Nguyễn Thị Thứ, nữ dân quân ở Hậu Lộc, Thanh Hóa cùng chị em bắn rơi ba máy bay Mỹ… Biết bao tấm gương không thể kể hết của các chị từng một mình nuôi mẹ già, chăm sóc con nhỏ để chồng đi chiến đấu xa mà vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Các chị xứng đáng là những Anh hùng trong thời đại anh hùng, thể hiện nét đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam đoàn kết, yêu nước, thương nhà.

Trong kháng chiến chống pháp, ngày 8-3-1952 tại chiến khu Việt bắc, Bác Hồ đã kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ Quốc. Tỏ lòng biết ơn các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ, Người nói: “Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng”. Trong kháng chiến chống Mỹ, phát biểu tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (19-10-1966), Người đánh giá :“phong trào “Năm tốt” của phụ nữ miền Nam, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ miền Bắc là phong trào yêu nước nồng nàn và rộng khắp, lôi cuốn đông đảo phụ nữ hai miền thi đua sản xuất, phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu, góp phần to lớn vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của toàn dân… Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật anh hùng”.

Tin tưởng vào khả năng và lòng hy sinh dũng cảm của phụ nữ Việt Nam, Bác luôn động viên chị em phát huy truyền thống yêu nước của Hai Bà Trưng, Bà Triệu để tự hào, noi gương, phấn đấu. Bác gửi thư khen, tặng huy hiệu, tổ chức gặp gỡ các mẹ, các chị, các nữ dân quân, du kích bắn rơi máy bay Mỹ. Có khi Bác trực tiếp, tự tay trao huy hiệu của Người cho phụ nữ có nhiều thành tích trong phong trào “Ba đảm đang” của Thủ đô (2-12-1965). Bác đã trao tặng cho phụ nữ Việt Nam danh hiệu vinh dự “Phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang, chống Mỹ cứu nước”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác kính yêu, phát huy sức mạnh tổng hợp, cùng với các phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai” trong công nhân, nông dân; phong trào “Ba sẵn sang” trong thanh niên, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ… một thời đã góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

45 năm đã trôi qua, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ đã được ghi nhận là một mốc son trong lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam, một phong trào đã có tác dụng vận động to lớn trong một giai đoạn lịch sử dân tộc. Ngày nay phát huy phong trào của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước, chị em luôn ghi nhớ lời dạy và sự quan tâm của Bác, chú ý nâng cao trình độ, tham gia công tác xã hội, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích cực tham gia các phong trào do Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam phát động.

Nguyễn Thị Nhi

hoilhpn.org.vn