Tag Archive | Tin tức

Giữ cái phúc của dân

TTO – Bác coi người cán bộ là đầy tớ của dân. Dân có phúc khi gặp người cán bộ biết lo cho dân. Còn cán bộ mà tha hóa về đạo đức thì đó là cái họa cho dân.

Bác Hồ là một tấm gương sáng về thực hành tiết kiệm. Với Bác tiết kiệm không có nghĩa là kiệt sỉ. Tiết kiệm phải phù hợp với tình hình thực tế, chi tiêu phải đúng lúc, đúng chỗ, phải đạt được hiệu quả cao!

Trong thời kì hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, Bác vẫn thường mặc chiếc áo len vừa cũ kĩ lại vừa bị rách. Bà Tống Khánh Linh khuyên Bác nên đổi chiếc áo khác nhưng Bác từ chối với lí do áo còn tốt. Cảm động quá, bằng bàn tay khéo léo của mình, bà Tống Khánh Linh đã mạng lại chiếc áo bị rách cho Bác.

Rõ ràng trong hoàn cảnh đó, tiết kiệm của Bác là đúng chỗ, và hiệu quả cao. Những người phục vụ khi thấy Bác vẫn mặc chiếc áo bông đã có nhiều miếng vá, ái ngại muốn Bác thay chiếc khác. Bác nói “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Hội phụ nữ cứu quốc Hà Động tặng Bác tấm áo lụa, trên ngực có thêu dòng chữ “Kính dâng Hồ Chủ tịch”. Bác cất đi không dùng, để tặng cho người có công với Tổ quốc!

Đến thăm làng Lỗ Khê (Đông Anh – Hà Nội), nơi có phong trào thi đua sản xuất giỏi, Bác căn dặn đồng bào: “Làm giỏi nhưng phải tiết kiệm giỏi”. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn thấy hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với bộ quần áo ka-ki màu sáng, cùng chiếc mũ cát-két và đôi dép cao su đã đi vào huyền thoại! Những người phục vụ vẫn thường thấy Bác mặc chiếc quần đùi cũ và chiếc áo may ô sờn vai…

Đề thi viết tháng thứ tư (từ 10-9 đến 10-10)

Sinh thời, Bác Hồ thường nhận được tặng phẩm như vải lụa, quần áo do các tầng lớp nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế gửi biếu, Bác đã dùng những tặng phẩm đó để tặng lại các cụ phụ lão, các anh em chiến sĩ, bộ đội, thương binh, bệnh binh và những người có nhiều thành tích trong học tập, lao động sản xuất, chiến đấu.

Trong khi đó, Bác vẫn mặc một chiếc áo bông đã được vá nhiều chỗ. Bác nói với các đồng chí phục vụ “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi”.

Bạn hiểu thế nào về câu nói và về tấm gương cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh? Qua câu nói của Bác, bạn hãy viết lên những suy nghĩ của mình và liên hệ với thực tiễn ở địa phương, ngành mình… trong bối cảnh chúng ta đang thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí?

Bài dự thi không quá 1.000 chữ, gửi e-mail: theoguongbac@tuoitre.com.vn, hoặc qua bưu điện đến địa chỉ: Báo Tuổi Trẻ, 60A Hoàng Văn Thụ, Q.Phú Nhuận, TP.HCM.

TTO

Sáng ngày 24/7/1957, lúc đó Bác đang ở thăm Ba Lan, tại phòng lễ tân vào khoảng 9 giờ sáng, khi mặt trời đã lên cao mà ba chùm đèn với hàng trăm ngọn sáng trưng, Bác Hồ đã yêu cầu gặp Vụ trưởng lễ tân. Bộ trưởng Bộ ngoại giao nước bạn liền có mặt. Bác hỏi: “Chỗ tắt điện ở đâu?”. Lập tức mấy chiến sĩ bảo vệ đi tắt điện. Chủ tịch Ba Lan Zawasdzki nói giọng nghiêm trang: “Xin cảm ơn đồng chí Hồ Chí Minh. Tôi thành thật nhận khuyết điểm chưa nghiêm túc thực hiện chỉ thị tiết kiệm của Lênin”.

Khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà J.Xtin-sơn, nhà sử học Mỹ đã viết: “Tôi xin ca ngợi lời ca đẹp nhất về Người, tôi ngưỡng mộ Người bằng cả đầu óc khoa học của tôi, đồng thời bằng cả trái tim của người con gái hậu thế…. Hồ Chí Minh là một người cộng sản vĩ đại, là một siêu nhân. Người càng vĩ đại hơn ở chỗ Người là một con người bình dị…”.

Soi tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào thực tế hiện nay mà thấy chạnh lòng. Nhiều cơ quan đoàn thể thi nhau sắm xe hơi sang trọng đắt tiền, đập nhà cũ xây nhà mới. Nhiều lãnh đạo cũng thi “xem xe ai hơn xe ai” để bằng mọi cách mua xe đắt tiền, với tư tưởng “con gà tức nhau tiếng gáy”. Chính vì thế mới sinh ra tham ô, tham nhũng.

Có xe rồi phải biết ăn sang! Tôi từng chứng kiến nhiều hội nghị, tiệc tùng thấy có những vị lãnh đạo cứ nâng li liên tục, mồm hét lớn “Dzô! Dzô! Dzô!”. Họ uống rượu ngoại, bia hảo hạng, thứ ăn ê hề, thừa mứa… Như thế không chỉ là lãng phí mà còn thậm lãng phí.

Có thủ trưởng đứng trước cơ quan thì nói hay lắm, “tiết kiệm” lắm, nhưng thực tế là một người lãng phí có hạng. Lãng phí về sức khoẻ do chơi bời nhậu nhẹt; lãng phí về thì giờ do nói nhiều, bởi vì không có chuẩn bị trước; lãng phí tiền bạc của cơ quan vì “ tiếp khách”… Cán bộ xa hoa lãng phí, chắc chắn là phải phải dính tới gian trá, tham ô … Vậy, lớp trẻ, người dân học gì ở họ ? Hy vọng gì ở họ?

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt về thực hành tiết kiệm thật đáng để mọi người (trong đó có tôi) phải suy ngẫm…

ĐÀO SỸ QUANG
GV Trường Cao đẳng nghề Đồng Nai, P. Thống Nhất, TP. Biên Hòa

tuoitre.vn

Từ bài học đầu tiên

Cách đây đúng 65 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng,toàn thể dân tộc Việt Nam đã tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công. Cách mạng Tháng Tám, như tên gọi, là một cuộc cách mạng. Xét về ý nghĩa của một cuộc cách mạng, chúng ta đã rút ra nhiều bài học vô cùng quý báu. Và bài học đầu tiên trong những bài học đó là: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để lãnh đạo cách mạng thành công, Đảng phải dựa vào nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu và phục vụ, luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân.

Khi phát động cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, chúng ta chỉ có ít vũ khí thô sơ, Đảng ta cũng chỉ có khoảng 5.000 đảng viên – một con số rất nhỏ bé so với tổng số dân nước ta lúc đó là khoảng 20 triệu người. Nhưng nhiều hơn như vậy và mạnh mẽ hơn như vậy chính là sức mạnh bão táp của cả dân tộc, sức mạnh được tổ chức và tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản vì khát vọng độc lập, tự do.

Với đường lối đúng đắn của Đảng tiên phong cách mạng, Đảng ta đã gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội và những quyền lợi thiết thực của tất cả các tầng lớp nhân dân, từ đó động viên được hàng chục triệu người tham gia vào dòng thác của một cuộc cách mạng toàn dân để chỉ trong vòng nửa tháng đã xác lập chính quyền nhân dân trong cả nước. Trong những ngày tháng ấy, Đảng đã làm tất cả những gì cần phải làm và có thể làm để quần chúng nhân dân ý thức về quyền lợi và sức mạnh của mình, để nhân dân tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của mình, đồng lòng theo Đảng làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Dù thời cuộc trải qua bao biến động, song bài học về sức mạnh to lớn của nhân dân và sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân từ Cách mạng Tháng Tám vẫn luôn có ý nghĩa thời sự, sâu sắc. 65 năm qua, Đảng ta đã luôn phát huy bài học của Cách mạng Tháng Tám trong việc huy động lực lượng quần chúng tham gia các phong trào cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn trong toàn xã hội, quan tâm đến lợi ích chính đáng, trực tiếp của nhân dân, dựa vào dân, phát huy vai trò sáng tạo của nhân dân để thực hiện mục tiêu bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đang được thể chế hóa, hệ thống pháp luật, chính sách ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ, tạo điều kiện khơi dậy sức mạnh nội lực, tranh thủ ngoại lực cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Bên cạnh những thành tựu, chúng ta cũng nhận rõ những khó khăn, thách thức không nhỏ, đặc biệt là khi đất nước đang chủ động hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám trong bối cảnh cả nước đang tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Thấm thía bài học lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám, chúng ta cũng thấy rõ hơn những điều mới mẻ, gần gũi với thực tế và vận mệnh đất nước đang diễn ra hôm nay.

Thực tế tình hình đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh sự đổi mới trong xây dựng Đảng, kiện toàn bộ máy Nhà nước, kiên quyết chống tệ nạn tham nhũng đang làm xói mòn niềm tin và quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin trong nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nên bước đột phá của đất nước trong thời kỳ mới là cách thiết thực nhất kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám.

Theo: SGGP online

hcmpc.com.vn

Những lời Bác dạy đầu tiên

Mùa thu năm 1946, tôi và ba đồng chí nữa được vinh dự theo Bác về nước trên chiếc tàu Đuymông Đuếvin. Tàu này là một chiếc tàu chiến đã cũ, chạy lừ đừ chậm chạp. Lúc bấy giờ, tình hình ở trong nước đang căng thẳng ai nấy đều sốt ruột mong về sớm, nhưng giờ đây nghĩ lại, đối với chúng tôi, đó là một dịp may hiếm có để được kéo dài những ngày chung sống với Bác.

Trên chuyến xe lửa từ Pari đi Macxây, Bác nói:

– Nước ta còn nghèo vì 80 năm bị đế quốc bóc lột, chiếm đóng. Đồng bào Nam bộ giờ đây còn đổ máu. Chúng ta còn gian khổ chiến đấu nhiều chứ chưa được sung sướng ngay đâu. Các chú về nước chính là để phục vụ Tổ quốc, phục vụ đồng bào…

Lên tàu rồi, một hôm Bác dặn:

– Ở nhà không có gì đâu. Nước ta thiếu máy móc, nguyên liệu, thiếu cả thợ lành nghề, tiền của ta lại ít. Song nước ta giàu về rừng núi, sông biển, đồng bào ta giàu về quyết tâm, dũng cảm và sáng tạo. Các chú về phải chịu thương, chịu khó làm ăn, đưa những cái đã học ở nước ngoài về áp dụng thiết thực vào trong nước, giúp đỡ và hướng dẫn anh em trong nước cùng làm.

Tôi còn nhớ lúc đi tàu, thỉnh thoảng có những hôm tên đại tá chỉ huy tàu tổ chức tập trận trên giữa biển cả mênh mông, tiếng súng đại bác, súng máy các loại thi nhau gầm thét, khói mịt mù, nước biển tung toé ngoài khơi. Trong chúng tôi, thoạt tiên cũng có người hồi hộp, nhưng riêng Bác vẫn điềm nhiên, ung dung hút thuốc lá, đứng xem. Bác mỉm cười bảo chúng tôi:

– Đấy, người ta thử kiểm tra tinh thần của các chú. Các chú có sợ không?

Nhân đó, Bác chỉ cho chúng tôi thấy bọn đế quốc thường hay phô trương, khoe khoang về sức mạnh vật chất, còn nhân dân cách mạng tuy nghèo nhưng hàng triệu người đoàn kết thành một khối, có tinh thần dũng cảm và mưu trí, nhất định đánh bại được bọn chúng…

Tại Đại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, tôi được Bác khen…

Vinh dự đó thuộc về anh em ngành quân giới trong đó tôi nhờ sự chỉ bảo, dẫn dắt của Bác đã đóng góp một phần.

Những lời dạy của Bác như bức cẩm nang quyết định mọi thắng lợi trong công tác của tôi.

Theo dayhocintel.net

hcmpc.com.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kỳ 2

Người cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Giadinh.net – Ông là người cận vệ đã bảo vệ Bác Hồ khi từ Côn Minh (Trung Quốc) về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ông vinh dự và tự hào được Bác Hồ đặt tên, từng là Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không – Không quân và 23 năm liền giữ cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng.

>> Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Ông là Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ đứa trẻ lang lang ở Côn Minh

Tên thật của ông là Phùng Văn Thụ, sinh ra trong một gia đình nghèo tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (cũ). Nhà đông anh em nên làm ruộng quanh năm mà không đủ ăn. Thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên mấy bà con đi buôn bán bên Trung Quốc bảo ông sang xin việc làm để kiếm sống.

Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Năm 1933, khi đó mới 13 tuổi, ông theo một người làng đi kiếm sống. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là thị trấn Chỉ Thôn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Thị trấn này là một trạm hoả xa trung chuyển tất cả đầu máy từ Vân Nam về, từ Lào Cai của Việt Nam sang. Vì nhỏ tuổi nên ông không xin được việc của người lớn. Một gia đình bản địa nhận ông về làm giúp việc nhà.

Nhưng ở được một thời gian, vì không chịu được cảnh hống hách bắt nạt của con chủ nhà nên ông bỏ lên Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Suốt một tuần lễ không xin được việc gì. Giữa trời đông lạnh giá, bụng đói meo, quần áo tơi tả không có một bộ mang theo, ông lang thang rồi mệt ngủ luôn trên ghế đá công viên Hạ Lầu, ngoại thành Côn Minh. Đang thiu thiu, có một người đàn ông đánh thức dậy và nói bằng tiếng Việt: “Em từ đâu đến mà nằm ngủ ở đây?”

Sau khi trình bày hoàn cảnh của bản thân, ông được người đàn ông này đưa về hãng dầu cù là Nhị Thiên Đường. Qua một thời gian thử thách và được giác ngộ, ông được tham gia các đoàn thể và đi theo cách mạng.

Người gặp ông buổi tối ở công viên Hạ Lầu chính là đồng chí Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải). Thời gian đó đồng chí Vũ Anh được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, làm Biện sự sứ, xây dựng cơ sở trong công nhân lao động. Năm 1939, chính đồng chí Vũ Anh đã dìu dắt, giúp đỡ và giới thiệu kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (đồng chí Vũ Anh đã nhận ông làm con nuôi). Người thứ hai giới thiệu kết nạp ông là đồng chí Thanh Bình (sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đồng chí Thanh Bình là thứ trưởng Bộ Nội Vụ).

Thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Một buổi sáng đầu năm 1940, có người khách đến hãng Nhị Thiên Đường tìm gặp đồng chí Vũ Anh. Hai người đến địa điểm khác trao đổi công việc. Đến chiều, đồng chí Vũ Anh cho biết người đến tìm gặp là ông Trần và giao Phùng Thế Tài bảo vệ người này. Nhìn thái độ và nghe đồng chí Vũ Anh dặn dò cẩn thận, ông biết đây là một người rất quan trọng. Sau này, ông mới biết ông Trần chính là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và ông đã trở thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ từ thời khắc ấy. Sau này ông được Bác đặt tên là Phùng Hữu Tài (một thời gian sau ông xin Bác cho đổi tên là Phùng Thế Tài).

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sỹ Đoàn không quân Sao Vàng.

Về kỷ niệm ngày đầu bảo vệ Bác Hồ, Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Sau khi đồng chí Vũ Anh giới thiệu tôi là cận vệ, ông Trần nhìn tôi tỏ ý hài lòng. Tuần lễ đầu, ông Trần và tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Quốc, sau mới dùng tiếng Việt. Do nguyên tắc hoạt động bí mật nên cả ông Trần và tôi làm như không quen biết nhau. Gọi là đi bảo vệ nhưng thực ra tôi có súng ống gì đâu. Tôi vốn hiếu động, dạo trước đã làm một quả đấm sắt, một con dao. Vậy là giờ đây nó hữu ích. Tôi không được phép vào nhà ở của ông Trần, mà chỉ được đứng chếch ở bên phải hoặc bên trái lề đường để quan sát. Thấy ông Trần đi là tôi đi theo cách 5 đến 10 mét”.

Trong dịp Tết Tân Tỵ (năm 1941), ông cũng nằm trong số những cán bộ đi cùng để bảo vệ Bác Hồ về nước. Khi về đến cột mốc 108, ông Phùng Thế Tài được tổ chức phân công ở lại Côn Minh hoạt động. Vì thạo tiếng Trung Quốc nên quân đội Tưởng tuyển ông làm cho cơ quan tình báo để chuẩn bị cho kế hoạch “ Hoa quân nhập Việt” và cho ông vào học lớp quân chính về nghiệp vụ tình báo của trường quân sự Hoàng Phố.

Là ngưòi thông minh, tiếp thu nhanh, chỉ sau khóa học ông được phong cấp Thiếu Hiệu (ngang với Thiếu Tá). Chúng cấp cho ông một số giấy chứng nhận đặc biệt, có đóng dấu Tưởng Thống chế. Giấy này cho phép được đi lại trong toàn quốc. Lợi dụng sự ưu đãi này, ông đã tranh thủ hoạt động có lợi cho phía ta. Những giấy tờ đó cũng đã thực sự trở thành “bảo bối” cứu nguy cho những chuyến công tác bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc sau này.

Đầu năm 1942, ông được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách đợt chuyển vũ khí về nước. Sau đó, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Vũ Anh cho ở lại Pác Bó tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Dạo đó, tổ bảo vệ “Ké Thu” (bí danh của Bác Hồ ở Pác Bó) gồm có: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đinh Đại Toàn, Đặng Văn Cáp, Dương Đại Lâm, Phùng Thế Tài… Thời gian này cuộc sống của Ké Thu và tổ bảo vệ rất thiếu thốn. Lúc rảnh rỗi anh em trong tổ bảo vệ đi mò cua bắt ốc, đào củ mài. Thấy lãnh tụ Nguyễn ái Quốc gầy yếu anh em ưu tiên dành gạo nấu riêng. Người không cho làm như vậy và bảo: “Các chú chịu khổ được, Bác cũng chịu được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết Đoàn không quân Sao Vàng và các đơn vị bảo đảm kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không Không quân vào sáng mồng 1 Tết Đinh Mùi (9/2/1967). Cùng đi có Thượng tướng Văn Tiến Dũng-Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (người đi bên trái Bác) và Đại tá Phùng Thế Tài-Tư lệnh quân chủng Phòng không Không quân (người đi bên phải Bác).

Một mình bảo vệ Bác trở lại Trung Quốc

Tháng 8/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh và quyết định sang Trung Quốc gặp đại diện quân đồng minh để tranh thủ sự giúp đỡ. Đồng chí Phùng Thế Tài được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác trong chuyến đi này.

Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Lần ấy chỉ có một mình tôi đi bảo vệ Bác. Tôi mặc bộ dạ sỹ quan Tưởng oai lắm, nói thạo tiếng Trung Quốc, lại có sẵn giấy thông hành đặc biệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch cấp hồi còn học ở trường quân sự Hoàng Phố nên yên trí. Bác mặc bộ quần áo của quân đội Tưởng, người ngoài nhìn chẳng khác anh lính trẻ đi với ông lính già. Khi đến Tĩnh Tây, cơm nước xong, Bác vào làm việc tại trụ sở của Quốc dân đảng Trung Hoa và là tổng hành dinh của Trung tướng Trần Bảo Xương.

Tối hôm đó, Bác ngủ ngay ở chỗ làm việc. Tôi không rõ Bác liên lạc với Trần Bảo Xương để làm gì, không dám hỏi vì nguyên tắc bí mật. Trên đường về phòng nghỉ, Bác nói bỏ quên mũ ở phòng khách bảo tôi quay lại lấy. Nhờ thế, tôi vô tình nghe lỏm được bọn Trần Bảo Xương đang bàn trong phòng kín tìm cách bắt giữ hai Bác cháu tôi. Tôi nghe thế rất lo, vội quay báo ngay với Bác. Bác rất bình tĩnh, chỉ thoáng một chút đăm chiêu. Suy nghĩ một lúc, Bác quyết định quay về Việt Nam ngay trong đêm hôm đó”.

“Nhưng làm sao mà ra khỏi hai cánh cổng sắt có lính gác của tổng hành dinh Trần Bảo Xương được? Như hiểu được ý tôi, Bác khẽ nói: “Ta đi ngay, không mang hành lý gì, đi người không, giả bộ với lính gác ra ngoài mua bao thuốc lá!”. Thoát khỏi được tổng hành dinh của Trần Bảo Xương, hai Bác cháu quên cả mệt, đi như chạy ra khỏi Tĩnh Tây và cuốc bộ một mạch không nghỉ. Sáng hôm sau trông thấy Bác quá mệt, người phờ phạc, lòng tôi quặn lại”.

Thời gian sau thấy năng khiếu chỉ huy quân sự và nguyện vọng của ông Phùng Thế Tài được đi chiến đấu ngoài mặt trận, Bác đồng ý. Trước khi ra mặt trận, Bác dặn ông: “Chú sẵn sàng đi chiến đấu, thế là tốt, nhưng nhớ đừng có “hữu dũng, vô mưu” đó nhé…”. Những lời Bác dạy, ông luôn thấm thía và là hành trang luôn theo ông, giúp ông vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong suốt cuộc đời. Ông đã trở thành vị tướng mà nói đến ai cũng biết: “Tướng Tài”.

Nguyễn Đức Qúy

giadinh.net.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kỳ 1

Kỳ 1: Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Giadinh.net – Cuối tháng 2/1940, được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng đã cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người.

Sau gần 3 tháng, đến tháng 5/1940 đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác.

Những người bảo vệ Bác về nước

Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái đồng chí Bùi Thanh Bình, Hoàng Văn Lộc về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường sá. Người chịu trách nhiệm nhóm công tác bảo vệ Bác trong thời gian chuẩn bị về nước là đồng chí Phùng Thế Tài.

Hưởng ứng cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và tiến tới kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Người, Báo GĐ&XH khởi đăng loạt tư liệu đặc biệt về công tác bảo vệ an ninh cho Bác.

Báo GĐ&XH cảm ơn Trung tá Nguyễn Đức Quý – Đội trưởng đội Nghiên cứu khoa học, Phòng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ – người đã trực tiếp chắp bút cho loạt bài này. Chúng tôi cũng trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo và cán bộ, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đã giúp đỡ để hoàn thành loạt tư liệu này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhưng bất ngờ cuối tháng 6/1940 đường giao thông Côn Minh- Lào Cai bị tắc nghẽn nên kế hoạch không thực hiện được. Bác chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Lộc phải trở lại ngay Côn Minh.

Ngày 5/1/1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tân Khư (Tĩnh Tây- Quảng Tây- Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng và việc tổ chức thành lập Ban Công tác đội cũng như phong trào cách mạng ở đây.

Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ nêu nguyện vọng của Trung ương Đảng, đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đồng chí cũng đề nghị Bác về qua ngả Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và cán bộ ở đây vững vàng.

Ngày 6/1/1941, Bác Hồ cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đi qua Nậm Bo xuống Nậm Quang (Tĩnh Tây- Trung Quốc) để chuẩn bị lập kế hoạch cụ thể cho việc về nước. Tại đây, Bác Hồ đang mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 đồng chí trong Ban công tác đội do Trung ương cử sang. Thời gian lớp học kéo dài khoảng 20 ngày, kết thúc vào dịp gần Tết Âm lịch năm 1941 (Tân Tỵ).

Bức họa bảo vệ Bác về đến cột mốc 108, ngày 28/1/1941 tại Pác Bó (Cao Bằng).

Sau khi kết thúc lớp học, Bác mới chỉ đạo kế hoạch về nước. Người quyết định qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Đoàn về nước được chia làm 3 nhóm. Nhóm thứ nhất do đồng chí Hoàng Sâm phụ trách về nước bằng đường Xuyên Sơn tới Pác Bó.

Nhóm thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách đi qua cột mốc 108, rồi theo đường 203 về Pác Bó. Hai nhóm này về trước nắm tình hình hoạt động của địch, và tổ chức khảo sát đường đi để Bác về nước. Ngay khi hai nhóm đầu lên đường về nước thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây-Trung Quốc) để chờ tin trong nước, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi. Khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ có một chiếc vali nhỏ quần áo cũ và một chiếc máy chữ xách tay hiệu “Ba Bi”. Chiếc máy chữ này là vật dụng cá nhân quý giá mà Bác luôn mang theo bên mình.

Sau một thời gian nắm tình hình, thời cơ đến, Bác Hồ quyết định lên đường về nước. Nhóm bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ lúc này ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, còn có những người sau: Hoàng Văn Lộc- một cán bộ người dân tộc Tày, có kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp là thanh niên rất khoẻ, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đặc biệt là những đường đi tắt; Lê Quảng Ba cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất am hiểu phong tục của đồng bào dân tộc ít người, thông thạo tiếng Dao, Mán, Nựng và tiếng Quan Hoả (Trung Quốc). Nhóm trực tiếp bảo vệ Bác Hồ do đồng chí Lê Quảng Ba phụ trách, tuy nhiên Bác Hồ chỉ đạo trực tiếp.

Cái Tết quê hương đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Bác Hồ đã thống nhất kế hoạch hóa trang và phân công nhiệm vụ cho từng người. Về hóa trang, Bác phân tích: Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ. Bác Hồ cũng mặc một bộ quần áo đặc trưng của đàn ông Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu.

Khu vực Bác làm việc trước đây.

Sáng sớm 28/1/1941, tức ngày mồng 2 Tết (Tân Tỵ), nhận được tin từ trong nước báo sang tình hình thuận lợi, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang từ rất sớm. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12h trưa thì cả đoàn đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Cùng lúc đó, nhóm được cử nhiệm vụ đi đón Bác do đồng chí Hoàng Sâm từ trong nước cũng có mặt tại cột mốc 108. Tất cả đều xúc động khi thấy Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp của tỉnh Cao Bằng- mảnh đất địa đầu của Tổ quốc. Sau 30 năm xa Tổ quốc, bôn ba đi tìm đường cứu nước, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước. Người cúi xuống cầm nắm đất lên hôn. Sau đó Bác vui vẻ bắt tay chúc Tết mọi người.

Rời cột mốc 108, cả đoàn theo con đường mòn xuống thung lũng Pắc Bó. Tại đây đoàn công tác bảo vệ bố trí Bác ở gia đình nhà ông Máy Lỳ, dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng tin cậy. Gia đình ông Máy Lỳ chỉ có hai vợ chồng và một người con gái. Đây là địa điểm thường được Trung ương Đảng chọn làm nơi hội họp và trạm dừng chân cho cán bộ đi công tác qua lại. Gia đình ông Máy Lỳ rất nghèo nhưng lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Căn nhà của ông nằm độc lập ở dưới một quả đồi nhưng thoáng đãng. Từ sân nhà nhìn ra có thể thấy toàn cảnh thung lũng ở phía trước. Sau nhà là một con suối, kế đến là một khu rừng rậm rất tiện cho yêu cầu bảo vệ khi có tình huống bất trắc có thể xảy ra.

Gia đình ông Máy Lỳ hầu như đã quen mặt biết tên hết các cán bộ trong đoàn nhưng không biết Bác là ai. Khi đến nhà ông Máy Lỳ, Bác mặc áo chàm, đi dép rơm, tay cầm gậy. Mọi người gọi Bác là ông Ké và giới thiệu là cán bộ dưới xuôi lên. Ông Máy Lỳ gọi con gái mang ra một thau nước nóng, mời ông Ké rửa trước.

Nghỉ ngơi một lát, ông Máy Lỳ lại sai con gái bưng một mâm cỗ Tết ra mời ông Ké và đoàn cán bộ dùng. Bên mâm cỗ Tết, mọi người trò chuyện râm ran, riêng Bác cứ lặng yên, nét mặt rất xúc động. Ông Máy Lỳ nâng bát rượu mời Bác và anh em cán bộ cùng đi. Bác chúc sức khoẻ ông Máy Lỳ. Ông Máy Lỳ rất vui, gọi vợ và con gái ra tiếp khách để tỏ lòng mến khách.

Đến ngày 8/2/1941, đoàn cán bộ bảo vệ tiếp tục đưa Bác vào ở và làm việc trong hang Cốc Bó.

(Còn nữa)
Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Bác dạy về vai trò, nhiệm vụ của thanh niên

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ luôn luôn coi trọng vai trò của thanh niên.

Trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ 20, khi những cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân ta chống thực dân Pháp đều thất bại, những phong trào cứu nước do các sỹ phu đề xướng đã hiện rõ là những phương pháp ảo tưởng, Bác Hồ đã xuất hiện như một vì sao chói lọi đưa dân tộc ta đi vào con đường đấu tranh đúng đắn để cứu nước, cứu nhà. Khác với các sỹ phu yêu nước trước đó, Bác Hồ đã đặt vấn đề thanh niên lên một vị trí mới, xứng đáng. Bác cho rằng muốn cứu đất nước thì trước hết phải thức tỉnh dân tộc, muốn thức tỉnh được dân tộc thì trước hết phải thức tỉnh được thanh niên. Năm 1925, trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” Bác Hồ đã kêu gọi “Hỡi Đông Dương đáng thương hại người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên sớm già của người không sớm hồi sinh”. Trong xã hội ta, Bác Hồ coi “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của Dân tộc”. Ngay từ những buổi ban đầu sơ khai của cách mạng nước ta, Bác đã rất chú trọng đến vai trò của thanh niên. Năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, Bác thành lập tổ chức cách mạng đầu tiên – tiền thân của Đảng cộng sản Việt nam – mang tên “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội”. Tập hợp dưới ngọn cờ “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội” đa số là các thanh niên, mang trong lòng mình một khát khao mãnh liệt – giải phóng dân tộc. Tên gọi của tổ chức cách mạng này thể hiện một tư tưởng chiến lược của Bác: Đảng ta phải trẻ như thanh niên, khỏe như thanh niên. Khi nói về Thanh niên trong lòng Dân tộc, trong cuộc cách mạng mà chúng ta tiến hành, Bác đã dùng một cách so sánh không thể nào hay hơn được nữa “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Bất cứ nơi đâu trên trái đất này, mùa xuân cũng đẹp nhất., tràn trề sức sống nhất. Tuổi trẻ chính là giai đoạn của đời người có khả năng cống hiến cho dân tộc mạnh mẽ nhất. Khả năng của tuổi trẻ là vô địch.

Trong chiến tranh, Bác Hồ xem Thanh niên có thể “dời núi và lấp biển”, là “đại biểu cho tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại”. Trong công cuộc xây dựng đất nước Thanh niên cũng là lực lượng tiên phong đi đầu trong mọi phong trào thi đua kiến quốc. Thanh niên có khả năng tiếp thu nhanh kiến thức, “học kỹ thuật – chìa khóa để làm cho dân mạnh, nước giàu”. Bác căn dặn “Sau 80 năm trời nô lệ làm cho nước nhà yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó nước nhà trông mong ở các cháu rất nhiều.”.

Thanh niên có vai trò quan trọng không những vì khả năng cách mạng to lớn, mà còn do vị trí thế hệ đặc biệt. Thanh niên là cầu nối giữa thế hệ đi trước và thế hệ mới lớn, đảm bảo tính kế thừa, “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai – tức là các cháu nhi đồng”. Quan niệm xuyên suốt của Bác “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên.”. Tư tưởng này đã được Bác phát biểu lần đầu trong “Thư gửi các thanh niên ngày 17 – 8 – 1947”, và sau đó được Bác khẳng định thường xuyên trong các bài viết, nói chuyện với thanh niên..

Bác đánh giá cao khả năng của thanh niên, đồng thời cũng chỉ cho chúng ta thấy thanh niên có nhiệm vụ to lớn và nặng nề. Không phải tự nhiên mà thanh niên ta có thể đảm đương được vai trò quan trọng của mình, mà “Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó”. Trong các thời kỳ lịch sử khác nhau của đất nước, Bác đề ra cho thanh niên những nhiệm vụ cụ thể khác nhau, nhưng có có một nhiệm vụ mà khi nào Bác cũng nhắc tới đó là “nhiệm vụ chính của thanh niên là học tập. Muốn xứng đáng vai trò người chủ thì phải học tập”. Nền giáo dục nói chung và việc học tập của thanh niên nói riêng phải đảm bảo cho thế hệ trẻ thực sự có đủ nhân cách, kiến thức để “làm người chủ đất nước”.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hòa bình lập lại ở Miền Bắc, Người dạy chúng ta những nội dung cần học là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức. Mục đích của việc học tập là để phụng sự cho nhân dân, cho Tổ quốc. Việc học tập cần phải tiến hành thường xuyên và ở mọi nơi, mọi lúc, “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân”. Bác nhấn mạnh “không học ở nhân dân là một thiếu sót rất lớn”.

Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, “khi mà quyền lợi dân tộc giải phóng là cao hơn hết” thanh niên phải hành động theo tinh thần“Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”.

Trong quan hệ giữa cái riêng và cái chung, giữa quyền lợi cá nhân và tập thể, giữa hưởng thụ và cống hiến…, Bác dạy “nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì? mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà”. Trong hoàn cảnh ngày nay, khi mà tư tưởng tự tư, tự lợi đang làm suy yếu nhiều lĩnh vực trong đời sống và đạo đức, thì lời dạy đó của Bác càng làm cho chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều, và cũng không phải chỉ riêng thanh niên suy nghĩ….

Để đóng góp tốt hơn cho xã hội, thì thanh niên phải hoạt động có tổ chức, có kế hoạch. Hoạt động của phong trào thanh niên cần phải to lớn, mạnh mẽ nhưng thiết thực. Những lời dạy của Bác về cách tổ chức phong trào thật sâu sắc, Bác nói “…chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được…việc gì cũng phải thiết thực…một chương trình nhỏ mà thực hiện được hẳn hoi, hơn là một trăm chương trình to tát mà làm không được”. Bác rất coi trọng yếu tố tổ chức trong trong hoạt động của phong trào thanh niên, mà nòng cốt là tố chức Đoàn. Trong việc xây dựng tổ chức Đoàn, Bác căn dặn “cần phát triển đoàn hơn nữa, nhưng phải chọn lọc cẩn thận, trọng chất lượng hơn số lượng”. Một nhiệm vụ lớn mà Bác trao cho thanh niên là “phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai, tức là các cháu nhi đồng”. Người còn lưu ý thanh niên nội dung và phương pháp dạy các cháu nhi đồng “phải giữ gìn toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng”. Bác luôn lưu ý đến đặc điểm lứa tuổi của thế hệ trẻ khi giáo dục, không chỉ nói đến học tập, công tác mà còn dặn dò phải biết vui chơi, giải trí, đừng để cho thanh niên, nhi đồng biến thành những người “già sớm”.

Thanh niên không những phải học cái tốt trong sách vở, trong nhân dân mà còn có nhiệm vụ chống cái xấu ngay trong bản thân mình. Bác chỉ rõ những khuyết điểm mà thanh niên thường mắc phải là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng v.v. chỉ khi nào chúng ta loại bỏ được “kẻ thù” ngay trong chính bản thân mình thì chừng đó chúng ta mới có thể trở thành con người chí công vô tư được.

Những lời dạy của Bác về vai trò, nhiệm vụ của thanh niên rất rộng lớn, từ cuộc sống, từ đạo đức, nhân cách đến tinh thần quốc tế vô sản v.v. Đó là một kho tàng vô giá vì đã được minh chứng bằng chính cuộc sống, bằng chính sự nghiệp của Người. Trong các lời dạy của Bác, chúng ta thấy  truyền thống, văn hóa của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại. Trong các lời dạy của Người chúng ta thấy thực tiễn sinh động của cách mạng nước ta. Những lời dạy của Bác có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, đã qua bao năm tháng nhưng vẫn còn mang tính thời sự, tưởng như Bác mới nói với chúng ta hôm qua, tưởng chừng như Bác mới nói với chúng ta hôm nay! Để làm theo lời Bác dạy, cần phải nghiên cứu tỷ mỷ, công phu, nhưng quan trọng hơn hết là phải biết áp dụng và dám áp dụng vào thực tiễn..

Niềm tin của Bác vào thế hệ trẻ Việt Nam đã truyền lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Chúng ta tin tưởng “tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang” vì có “một thế hệ thanh niên hăng hái kiên cường”. Thanh niên Việt Nam đã, đang và sẽ xứng đáng đáng với lòng tin của Bác.

Huỳnh Nam Yên
Bí thư chi bộ, Phó hiệu trưởng

thptphandangluu.edu.vn

Cuộc đời vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với báo chí

Là một người học trò, một cộng sự gần gũi nhất và lâu năm nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết:

“Hồ Chí Minh là nhà chiến lược, nhà lãnh đạo, nhà tổ chức, đồng thời là nhà văn hóa, nhà báo, nhà thơ lớn, Người đã mở đầu và góp phần quan trọng hiện đại hóa ngôn ngữ và câu văn Việt Nam. Suốt đời Hồ Chí Minh là người cầm bút chiến đấu trên mặt trận văn hóa, báo chí, với một văn phong đa dạng, nhiều sắc thái, mà điểm nổi bật là tính quần chúng, cách suy nghĩ và diễn đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu vang vọng trong lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao, thúc đẩy những việc làm tốt đẹp, bằng những lời lẽ giản dị, giàu hình tượng, nói lên được điều lớn bằng những chữ nhỏ”.

Là những người làm báo Việt Nam, con cháu của Bác, chúng ta có thể nói một cách tự hào: Suốt cả cuộc đời vĩ đại của Bác là gắn liền với báo chí.

Một lần, phóng viên của Báo Giôvanni Giécmanétto, một tờ báo của Đảng cộng sản Ý, hỏi Bác:

– Tại sao anh lại sang châu Âu? Bác trả lời:

– Trước đây, tôi có đọc một số tờ báo Pháp, do những người lính lê dương đưa cho, một vài tờ có tính chống đối ở An – Nam. Vì thế, tôi nảy ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao, và thế là tôi đã tới Paris.

Ở một bài báo khác, Bác cũng viết, lúc đó đọc trên báo Pháp, thấy người ta nói đến những từ đẹp đẽ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” thế là mình muốn tới đó xem sao?

Như vậy là, ngay từ những ngày đầu “Tìm đường” của Bác, đã có sự tác động của báo chí. Sau này, trong hành trình qua Pháp, qua Mỹ, Anh, rồi cuối năm 1917 trở lại nước Pháp, hòa mình vào cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và trí thức Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi đầu sự nghiệp cách mạng của mình bằng những hoạt động của báo chí.

Anh Nguyễn hiểu rằng, cách mạng muốn thắng lợi thì quần chúng đông đảo phải được tuyên truyền, phải được giác ngộ, phải được tập hợp. Và phương tiện tốt nhất để làm việc đó, không có gì hữu hiệu và sắc bén hơn là báo chí. Sau này, khi đã trở thành người lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói: Báo chí là tờ hịch của cách mạng!

Những ngày đầu học viết báo của Bác như thế nào, thì chúng ta đã nghe kể nhiều lần. Nhưng điều làm chúng ta ngạc nhiên, mà không phải chỉ chúng ta, nhiều bạn bè trên thế giới cũng ngạc nhiên là anh Nguyễn vừa phải kiếm sống, vừa phải học tập, vừa phải né tránh sự theo dõi, bắt bớ của kẻ thù, thế mà anh vẫn trở thành một nhà báo quốc tế lớn.

Thời kỳ ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết báo bằng tiếng Pháp (1919 – 1923), tiếng Anh, tiếng Nga (1929 – 1925), tiếng Trung Quốc (1927 – 1935), tiếng Thái Lan (1928 – 1929).

Nhiều tờ báo lớn như báo “Nhân Đạo” của Đảng cộng sản Pháp, “Người Thợ” của Liên đoàn Lao động Pháp, “Thư Tín Quốc Tế”, “Ngọn lửa nhỏ”, “Sự Thật” của Đảng Cộng sản Nga và nhiều tờ báo khác của phụ nữ, nông dân, thanh niên quốc tế… đều in nhiều bài của Bác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đã sáng lập và trực tiếp chỉ đạo, viết bài, kể cả phát hành những tờ báo cách mạng: “Người cùng khổ” (1922), “Thanh Niên” (1925), “Việt Nam Độc Lập” (1941), “Cứu Quốc” (1942), vv…

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, với 50 năm làm báo (1919 -1969) Bác Hồ đã viết hơn 2.000 bài báo với nhiều thể loại và hàng trăm bút danh khác nhau.

Trưởng đại diện văn phòng UNESCO tại Việt Nam tại Hội thảo quốc tế về Di sản Hồ Chí Minh vừa được tổ chức tại Hà Nội ngày 12 – 5 – 2010 đã phát biểu:

“Trong lĩnh vực truyền thông và thông tin, chúng ta thấy vai trò của Người trong việc phát triển báo chí. Ví dụ: như Người đã lập ra tờ báo riêng của mình, tờ Le Paria, có nghĩa là “Người cùng khổ” vào năm 1922, và sáng lập ra “Thanh niên” tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam vào năm 1925 và trở thành tổng biên tập đầu tiên của ấn phẩm này. Người cũng lập ra tờ báo “Nhân Dân” cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã đưa ra một phong cách làm báo mới ở Việt Nam, lấy dân tộc và nhân dân làm chủ đề thời sự chính… Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam… Suốt đời mình, Người là một nhà báo. Người viết nhiều thể loại văn chương và báo chí: Bút ký, truyện thời sự, xã luận, thơ cùng các thể loại khác. Các bài báo của Người đi thẳng vào vấn đề và được viết một cách giản dị, rõ ràng và súc tích, rất dễ hiểu với độc giả đông đảo của Người”.

Cũng tại Hội thảo quốc tế về Di sản Hồ Chí Minh, các nhà ngôn ngữ học đều nói, Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết.

Nhà báo Phan Quang kể lại, vụ chiêm 1958 nắng hạn to, nông dân huyện Tiên Lữ, Hưng Yên ra sức đào một con sông nhỏ thì Bác Hồ về thăm. Bác đi bộ rất nhanh giữa cánh đồng khô hạn, thăm hỏi bà con. Mọi người hoan hô Bác. Bác xua tay: “Đừng hoan hô Hồ Chủ tịch, hãy hoan hô nước khi nào nước về!”. Nhìn trong đám đông, thấy có một cụ già đang làm cùng con cháu, Bác đi lại nắm chặt tay cụ: “Tôi cảm ơn cụ đã làm gương cho con cháu!”

Hôm ấy, được đi theo Bác, nhà báo đã viết ngay một bài tường thuật dài đăng trên Báo Nhân Dân. Hôm sau, văn phòng Phủ Chủ tịch điện cho nhà báo đến gặp Bác. Bác đang làm việc, ngẩng lên:

– Chú Quang à, Bác đã đọc bài báo của chú. Viết thế là được. Nhưng Bác hỏi chú, trong bài mấy lần chú nhắc đi nhắc lại chuyện Hồ Chủ tịch đi bộ giữa cánh đồng. Vậy ra từ trước tới nay, Bác Hồ toàn đi xe, chưa từng lội bộ bao giờ à? Bác Hồ đi bộ thì có cái gì mà viết lắm thế?

Nhà báo bối rối, cảm ơn Bác và hứa lần sau sẽ viết cố gắng hơn.

Một lần khác, Bác đi thăm bà con nông dân gặt lúa ở ngoại thành. Hôm ấy, nữ sinh Trường Trưng Vương về lao động giúp dân. Bác vui vẻ động viên: “Các cô tiểu thư Hà Nội lao động có thành tích thì chú nhà báo này (Bác chỉ phóng viên báo Thủ đô Hà Nội) sẽ viết bài đăng lên báo để Bác khen thưởng”. Song Bác quay sang dặn thêm nhà báo: “Chú nhớ viết cho đầy đủ, không được để sót. Nhưng Bác bảo chú viết đầy đủ, chứ không phải là viết dài đâu nhé!

Bác cũng thường dặn dò các nhà báo:

“Báo chí của ta đã có một địa vị quan trọng trong dư luận thế giới. Địch rất chú ý, bạn rất quan tâm đến báo chí ta. Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết”.

“Tiếng nói là thứ của cải lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”. Và Bác là người đã có đóng góp lớn cho sự phong phú của tiếng Việt. Nhiều từ ngữ mới mà các nhà báo chúng ta đang dùng là do Bác sáng tạo ra như: Giặc đói, giặc dốt, óc bè phái, óc hẹp hòi, thói ba hoa, bệnh quan liêu, nạn tham nhũng, tệ lãng phí, chữ thập đỏ, các dân tộc anh em, các nước bầu bạn, vv…

Nhiều lần Bác nói với các nhà báo:

Trong nghề làm báo, ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài”.

Bác Hồ của chúng ta, trong lý lịch ở Quốc tế cộng sản Bác ghi biết 6 ngoại ngữ. Nhưng một nhà văn Mỹ nghiên cứu về Bác thì nói Bác Hồ biết thành thạo 12 ngoại ngữ.

Trong bài “Sen của loài người”, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Cuộc đời của Bác đâu phải một cuộc đời, mà là tổng hợp nhiều cuộc đời. Người thủy thủ có lịch sử 10 năm đi biển, ngang dọc các đại dương trên thế giới. Người làm báo lỗi lạc ở những thủ đô văn hóa lớn. Nhà thơ, nhà hiền triết có cái hồn yên tĩnh, trầm mặc của những vòm trời màu mây phương Đông… Cuộc đời nào cũng đẹp, các văn phong của Người lối nào cũng tài năng. Nhưng cuối cùng, Người đã vì ta chỉ sống có một cuộc đời: Cuộc đời lãnh đạo chúng ta làm cách mạng. Chỉ viết có một lối văn, lối văn giản dị, thuần phác. Chỉ mang một cái tên: “Bác” mà con cháu ta sẽ nhớ đến muôn đời!”.

(baothanhhoa.vn)
Người đăng: hoa bovai

tuoitrethanhhoa.com

Điện mừng Quốc khánh nước Cộng hoà Thống nhất Tandania (3-4-1969 )

Kính gửi Ngài Mơonlimu Duyliút K.Niêrêrê, Tổng thống nước Cộng hoà thống nhất Tandania, Đa ét Xalam.

Nhân dịp kỷ niệm lầnthứ nǎm Quốc khánh nước Cộng hoà thống nhất Tandania tôi xin gửi đến Ngài, Chính phủ và nhân dân Tandania anh em lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Nhân dân Việt Nam rất vui mừng trước những thành tích tốt đẹp về mọi mặt mà nhân dân Tandania, dưới sự lãnh đạo của Ngài, đã thu được trong nǎm nǎm qua. Nhân dân Việt Nam chân thành chúc nhân dân Tandania thu được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đấu tranh nhằm củng cố độc lập dân tộc, xây dựng nước Cộng hoà thống nhất Tandania phồn vinh, góp phần giữ gìn hoà bình ở châu Phi và trên thế giới, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới do đế quốc Mỹ đứng đầu.

Trong những nǎm qua, quan hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta đã không ngừng phát triển. Chính phủ và nhân dân Tandania đã luôn luôn nhiệt tình ủng hộ cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân chúng tôi. Đó là biểu hiện rõ rệt của tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân các nước á – Phi. Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Tandania về sự ủng hộ quý báu đó.

Chúc tình hữu nghị giữa Việt Nam và Tandania ngày càng củngcố và phát triển.

Chúc Ngài sức khoẻ.

Hà Nội, ngày 23 tháng 4 nǎm 1969
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

———————–

Báo Nhân dân, số 5491, ngày 26-4-1969.

cpv.org.vn

Người quay những thước phim cuối cùng về Hồ Chủ tịch

“9h47 ngày 2/9, Bác trút hơi thở cuối cùng. Nén nỗi đau, chúng tôi cố gắng ghi lại hình ảnh thiêng liêng này, nhưng cứ đưa máy lên là nước mắt giàn giụa, ướt nhòa cả thước ngắm máy quay”, ông Nguyễn Thanh Xuân nhớ lại.

Trong căn nhà nhỏ ở Làng Sen xã Kim Liên (Nam Đàn, Nghệ An), thiếu tá Nguyễn Thanh Xuân đã kể về cuộc đời cũng như việc thực thi nhiệm vụ đặc biệt của mình.

Năm 1952, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang bước sang giai đoạn khó khăn, chàng trai 21 tuổi Nguyễn Thanh Xuân ở Làng Sen lên đường nhập ngũ tham gia các chiến dịch giải phóng Tây Bắc, Điện Biên Phủ… Kháng chiến chống Pháp thành công, Thanh Xuân tiếp tục cuộc đời binh nghiệp với nhiệm vụ tiếp quản thủ đô, tham gia diễu binh chào mừng chiến thắng, đón Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về từ chiến khu.

ông XuanNhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân. Ảnh tư liệu.

Năm 1961, nhờ khả năng tổ chức văn nghệ, lại nhanh nhẹn và có năng khiếu nên Nguyễn Thanh Xuân được chuyển về công tác ở xưởng phim quân đội. Từ đây, người lính trẻ bắt đầu làm quen với chiếc máy quay Liên Xô và những thước phim. “Mặc dù được phân công phụ trách khói lửa cho những cảnh quay về chiến trường, nhưng hễ rảnh là tôi lại mày mò chiếc máy quay phim. Sau những ngày tháng học lỏm về thước ngắm, góc ảnh, tiêu cự, lấy nét… tôi đã sử dụng thành thạo máy quay Convat của Nga. Thấy vậy, cấp trên cho tôi đi học lớp nghiệp vụ để về quay phim”, ông Xuân kể về cơ duyên đến với nghề quay phim.

Cùng với Trần Anh Trà, đạo diễn Phạm Quốc Vinh…, Nguyễn Thanh Xuân trực tiếp quay những hình ảnh tư liệu về Hồ Chủ tịch khi đi thăm chiến sĩ pháo cao xạ, hải quân. “Chúng tôi rất xúc động với hình ảnh Bác Hồ xắn quần, lội ruộng thăm hỏi tình hình sản xuất của bà con nông dân như một lão nông tri điền; hình ảnh Bác chia kẹo cho thiếu nhi, chòm râu bạc trắng như một ông tiên với đôi mắt hiền từ bắt nhịp bài ca Kết đoàn và hát say sưa…”, người quay phim già kể.

Sáng 29/8/1969, hai nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân và Trần Anh Trà được Tổng cục Chính trị điều đi làm nhiệm vụ đặc biệt mà không biết đi đâu, làm gì. Nhận lệnh, hai người cẩn thận lau chùi lại máy móc, chuẩn bị phim nhựa rồi lên ôtô. “Xe chở chúng tôi tới Phủ Chủ tịch. Một cảm giác thật lạ, một chút hồi hộp, một chút vui mừng vì lần đầu tiên được đến đây và một chút lo lắng cứ đan xen trong tôi. Gặp Bác, ai cũng lệ nhòa nước mắt. Ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác cho biết sức khỏe của Bác rất yếu. Bộ Chính trị yêu cầu tổ làm phim quân đội ghi lại những giây phút có lẽ là cuối cùng của Người”, ông Xuân nhớ lại.

Ngày 30/8, đoàn làm phim được thông báo “Bác đỡ hơn”. Đến sáng 1/9, ông Vũ Kỳ lại thông báo sức khỏe Hồ Chủ tịch tiến triển không tốt. Chiều hôm đó, 2 nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân, Trần Anh Trà được mang máy vào phòng bệnh để ghi hình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm đó trong lặng im, đứng quanh là lãnh đạo Bộ Chính trị, Ban bí thư, Quân ủy Trung ương…, ai cũng lặng thinh, xúc động.

ông XuânDù đã bước sang tuổi 80 nhưng khi nhắc đến những phút giây được ghi lại hình ảnh cuối cùng về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Xuân lại rưng rưng. Ảnh: T.P.

“Hai chiếc máy Liên Xô đều đã cũ, mỗi lần bấm máy lại phát ra những tiếng kêu rệu rạo nên chúng tôi rất ái ngại sẽ ảnh hưởng đến việc chăm sóc Bác. Để hạn chế tiếng ồn, chúng tôi đã dùng các tấm xốp để cách âm và chăm chú vào thước ngắm”, ông Xuân nhớ lại.

“Sáng 2/9, ông Vũ Kỳ thông báo sức khỏe Bác rất yếu và yêu cầu chúng tôi mang máy vào. 9h47, Bác trút hơi thở cuối cùng trong tiếng nấc nghẹn ngào, thương xót của những người có mặt. Chúng tôi cố gắng ghi lại hình ảnh thiêng liêng này, nhưng cứ đưa máy lên là nước mắt giàn giụa, ướt nhòa cả thước ngắm máy quay. Khi đó, chúng tôi cứ mở ống kính ở độ rộng nhất và cứ thế mà quay”, người quay phim nhớ lại.

Đến trưa, khi xe cứu thương chở thi hài Hồ Chủ tịch về Viện Quân y 108, ông Xuân lại được phân công ghi lại hình ảnh các chuyên gia Liên Xô tìm cách bảo vệ thi hài. Sau khi quay xong gần 5.000 mét phim nhựa lịch sử về những giây phút cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp xới cơm mời Bác, Bác dặn dò các lãnh đạo trong Bộ Chính trị…, toàn bộ hình ảnh được giao lại cho Xưởng phim quân đội để quản lý và bảo mật.

Năm 1989, khi UNESCO chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới, Điện ảnh Quân đội và Bảo tàng Hồ Chí Minh quyết định giao cho đạo diễn Phạm Quốc Vinh dựng bộ phim về những giây phút cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên hình ảnh mà hai nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân và Trần Anh Trà đã thực hiện.

“Đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã dựng thành bộ phim Những giờ phút cuối đời Bác Hồ và được Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh duyệt ngày 17/4/1989. Từ đó đến nay, phim được chiếu thường xuyên ở Bảo tàng, các dịp lễ. Khi xem lại những hình ảnh mình ghi, tôi cũng không cầm được nước mắt vì xúc động”, ông Xuân tâm sự.

Bước sang tuổi 80 nhưng đôi mắt của nhà quay phim quân đội Nguyễn Thanh Xuân vẫn tinh anh, cương nghị. Góc bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong căn nhà nhỏ ở Làng Sen dù giản dị nhưng lúc nào cũng ấm cúng.

“May mắn được sinh ra trên quê hương Hồ Chủ tịch, được làm người lính cụ Hồ, được ghi lại những giây phút thiêng liêng, lịch sử mà xúc động về Người là niềm tự hào lớn nhất của cuộc đời tôi”, ông chia sẻ.

Theo VNEXPRESS

hcmpc.com.vn

Hồ Chí Minh trong hồi ức đẹp của nhà báo Pháp

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Léo Figuèrre (Ảnh tư liệu - Nguồn ảnh: VTV4)

Bộ phim tài liệu Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình (thời lượng 47 phút 50 giây) do bà Dominique de Miscault, một nhà báo, họa sỹ, nhiếp ảnh đồng thời là một nhà hoạt động xã hội thuộc dòng dõi quý tộc Pháp sản xuất vừa được bà đích thân trao tặng cho kênh Truyền hình Đối ngoại VTV4 của Đài Truyền hình Việt Nam.

Dành trọn vẹn một năm để tổ chức sản xuất sau khi đã có một thời gian dài dụng công nghiên cứu và tích lũy vốn hiểu biết về con người vĩ đại Hồ Chủ tịch, nay “đứa con tinh thần” được nuôi dưỡng bằng tất cả niềm say mê, tâm huyết và sự nghiệp của Dominique đã được bà trao về với quê mẹ.

Gian nan một chặng đường…

Bà Dominique cho biết, bộ phim tài liệu này có nội dung dựa theo cuốn sách Je reviens au Vietnam libre (Tôi trở lại đất nước Việt Nam tự do) cùng những ghi chép về chuyến đi trên 20.000km để đến Việt Bắc trong chiến tranh và những cảm nhận của cố nhà báo Léo Figuèrre – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới, Tổng biên tập báo Tiền Phong Pháp đã vừa mất hồi tháng 8/2011 về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc năm 1950.

Bộ phim đã tập trung khắc hoạ sự tài tình trong lãnh đạo, tinh tế trong văn hóa ứng xử và tinh thần yêu chuộng hòa bình, lòng yêu thương con người của Bác.

Hình ảnh ông Léo Figuèrre những năm cuối đời và bà Dominique – Nguồn ảnh: VTV4

Bộ phim được tổ chức theo hình thức phỏng vấn, lồng ghép những cảnh chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhằm thể hiện những ấn tượng tốt đẹp cũng như những suy nghĩ, trải nghiệm của ông Léo Figuèrre về đất nước, con người Việt Nam ngày nay yêu chuộng tự do và độc lập.

Với thời lượng chưa đầy 50 phút, bộ phim đã thể hiện được những giá trị tình cảm lớn lao và khát vọng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như những tiên đoán tài tình của Người trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến và tình cảm yêu mến, kính trọng của bạn bè quốc tế nói chung và nhân dân Pháp nói riêng đối với vị Cha già của dân tộc Việt Nam.

Một năm làm phim cũng làm quãng thời gian đầy những gian khó. Bà Dominique đã phải tiến hành thu thập tư liệu hình ảnh về Bác Hồ và Việt Nam tại Trung tâm lưu trữ vùng Aix Provence, Sucy, Montmorency, Paris và một số địa điểm khác ở Pháp.

Ngoài ra, bà còn gặp gỡ và tác động nhà báo Léo Figuèrre để ông đồng ý tham gia làm phim và trả lời phỏng vấn, sau đó phối hợp với phóng viên Hãng Truyền hình Arte của Pháp và tiến hành quay phim tại Pari và nhiều địa phương khác.

Một cảnh trong phim – Nguồn ảnh: VTV4

Và đương nhiên, để xây dựng được một tác phẩm trọn vẹn, bà Dominique cũng đã phối hợp với các cơ quan hữu quan Việt Nam tiến hành thu thập và thẩm định các thông tin, tài liệu, cứ liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Nam.

… Nghệ sĩ làm phim tài liệu chính trị, lịch sử

Nhà làm phim chuyên nghiệp cũng không dễ dàng nếu muốn sản xuất phim tài liệu, chưa nói đó lại là một bộ phim chính trị, lịch sử. Trong khi Dominique de Miscault lại là một nghệ sĩ vốn chỉ quen cầm cọ vẽ, bút viết, chụp ảnh, quen ghi lại cuộc sống bằng tâm hồn lãng mạn với những gam màu đậm tính thẩm mỹ về cái đẹp chưa chưa làm phim bao giờ.

Có lẽ phải bằng một tình yêu mãnh liệt với Hồ Chí Minh Dominique mới có đủ can đảm và niềm tin để xây dựng nên một Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình dung dị và giàu cảm xúc đến thế.

“Thật khó khăn với tôi bởi tôi là một nghệ sĩ nên đối tượng tôi hướng tới và thường thích là những gì mang vẻ đẹp thẩm mỹ, còn đây lại là danh nhân chính trị, lịch sử. Nhưng dù vậy tôi vẫn muốn cố gắng mang đến một cách nhìn hết sức nhân văn và đậm tính thẩm mỹ về nhân vật Hồ Chí Minh. Vì với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết là một Con Người,” bà Dominique nói.

Bà Dominique cũng cho biết thêm, bộ phim này được làm dựa trên sáng kiến của người bạn Việt Nam. Người bạn này đã “thắp lửa” cho tình yêu Hồ Chí Minh của bà. Khi thực sự bắt tay vào làm mới thấy nhiều khó khăn chồng chất do“độ vênh về văn hóa giữa Việt Nam và Pháp.”

Một cảnh trong phim – Nguồn ảnh: VTV4

Rồi yếu tố tài chính khó khăn đôi khi cũng khiến Dominique mệt mỏi. Bởi phim đã được khởi động trong 10 năm trời trước khi chính thức sản xuất trong vòng một năm, từ tháng 10/2010 và vừa mới hoàn thành tháng 10/2011.

“Nhưng điều quan trọng là chúng ta đã được làm cùng nhau,” bà Dominique khẳng định.

Tiếp nhận Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình, Trưởng ban Truyền hình Đối ngoại, kênh Truyền hình VTV4 Bạch Ngọc Chiến cho biết, phim chưa trình chiếu ở đâu và sẽ được Ban biên tập VTV4 phát sóng vào thời điểm phù hợp như dịp Quốc khánh 2/9, sinh nhật Bác hay dịp Tết…

“Có thể chúng tôi sẽ sử dụng bản tiếng Pháp với phụ đề tiếng Việt hoặc lồng tiếng Việt,” ông Chiến nói.

VTV4 là đơn vị truyền hình đầu tiên tiếp nhận bản quyền phát sóng bộ phim này. Đây cũng chính là cơ hội giúp khán giả cả nước tìm hiểu xem cách nhìn nhận, đánh giá của người nước ngoài về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng./.

ChiLê (Vietnam+)

vietnamplus.vn

Lời giới thiệu Điều lệ tóm tắt của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ( 1-5-1969)

Điều lệ này của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp rất quan trọng.

Nó nhằm bảo đảm thật sự quyền làm chủ tập thể của các xã viên.

Phải thực hiện tốt Điều lệ để hợp tác xã càng thêm vững mạnh, nông thôn ngày càng đoàn kết, sản xuất càng phát triển và nông dân ta càng thêm no ấm và tiến bộ.

Vì vậy, xã viên và cán bộ phải bàn bạc dân chủ để hiểu cho rõ và làm cho đúng. Đảng viên và đoàn viên phải gương mẫu trong mọi việc

Làm được như thế là các hợp tác xã góp phần xứng đáng để giành thắng lợi trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Các ngành và Uỷ ban hành chính các cấp phải thiết thực giúp đỡ các hợp tác xã thực hiện tốt Điều lệ này.

Ngày 1 tháng 5 nǎm 1969
Bác Hồ

——————————

Báo Nhân dân, số 5595, ngày 9-8-1969.
cpv.org.vn

Báo chí thế giới viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bao chi the gioi viet ve Chu tich Ho Chi Minh

Bức ảnh "Bác Hồ với cháu Minh Thu" được nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ Năng An chụp trước ngày Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai ở Việt Bắc.

“Việt Nam có thể có những bước thăng trầm, nhưng ký ức về vị lãnh tụ cộng sản được sinh ra cách đây 122 năm sẽ tồn tại mãi mãi”, phóng viên Denis Gray của hãng tin AP khẳng định.

Không riêng Gray, nhiều phóng viên nước ngoài khác cũng cảm nhận rất rõ tình cảm của người dân Việt Nam dành cho vị lãnh tụ của dân tộc, và đã viết về Hồ Chủ tịch với sự kính phục.

Trong bài viết “Hồ Chí Minh – Chiến thắng một tầm nhìn” trên tạp chí In Asien của Đức, tác giả Dierk Szekielda nói rằng sự ngưỡng mộ của ông với Chủ tịch Hồ Chí Minh và với nhân dân Việt Nam đầy sức sống đã thôi thúc ông viết bài báo này. Ông ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước và là người soi sáng con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, một người có phẩm chất phi thường.

Nhà báo Canađa George Fogarasi kể lại trong bài “Con phượng Hoàng của Bác Hồ đứng dậy từ tro tàn của cuộc chiến tranh” trên tờ The Straits Times của Singapore: “Tôi hỏi một người đạp xích lô về Bác Hồ, người này đã có thời kỳ đi học tập cải tạo vì từng đứng trong hàng ngũ của chế độ Sài Gòn cũ. Nhưng anh vẫn kính trọng đạo đức của Bác Hồ, và gọi bác là một người Việt Nam chân chính”.

Trên tờ Time (Mỹ), nhà báo, tác giả cuốn “Việt Nam – Một lịch sử” Stanley Karnow đã viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau: “Một thân hình gầy gò, chòm râu dài, chiếc áo khoác cũ và đôi dép cao su đã mòn, Hồ Chí Minh đã tạo ra một hình ảnh Bác Hồ hiền lành giản dị. Nhưng người là nhà cách mạng dày dạn kinh nghiệm và một nhà dân tộc chủ nghĩa nồng nhiệt, suốt đời đấu tranh cho một mục đích duy nhất: mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình. Không có sự dao động trong niềm tin của Hồ Chí Minh, không thể lay chuyển ý chí của Người, ngay cả khi cuộc chiến tranh của Mỹ leo thang, tàn phá đất nước, người vẫn giữ niềm tin đối với nền độc lập của Việt Nam. Dưới con mắt phương Tây, điều dường như không thể tưởng tượng được là Hồ Chí Minh có thể cống hiến sự hy sinh to lớn như ông đã làm”. Và Time đã bình chọn Bác Hồ là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ XX.

Xã luận trên tuần báo Bằng chứng Thiên Chúa giáo viết “Cụ Hồ Chí Minh là một trong những chiến sĩ đầu tiên của thế giới thứ 3, của các dân tộc nghèo đói và khát khao cuộc sống cho ra con người”.

Tờ Manila Times thì viết: “Cụ Hồ là là một biểu tượng của châu Á. Không những cụ đã thành công trong sự lãnh đạo một cách mẫu mực, toàn tâm, toàn ý phục vụ quyền lợi của nhân dân mà còn nêu một chân lý chưa từng thấy: Một dân tộc dù nhỏ bé nếu có quyết tâm thì có thể chống lại cả những cường quốc quân sự mạnh nhất”.

Tờ Tiến lên của Xri Lanca nhận định: “Người (Hồ Chủ Tịch) đã làm nên lịch sử hiện đại, là một trong những nhân vật cao quý nhất, đáng kính nhất của thời đại chúng ta. Sự lãnh đạo lâu dài và vẻ vang của người trong cuộc đấu tranh giành tự do ở Việt Nam có ảnh hưởng không chỉ đối với Việt Nam mà còn ảnh hưởng với quá trình phát triển các sự kiện toàn thế giới”.

Theo TTXVN

vietbao.vn