Tag Archive | Tin tức

Hình ảnh Bác Hồ dưới con mắt sinh viên Nhật

Hinh anh Bac Ho duoi con mat sinh vien Nhat

Bác Hồ ôm hôn cháu bé tại Việt Bắc năm 1950.

Có lần, tôi hỏi em Simizu, sinh viên sắp tốt nghiệp của Khoa tiếng Việt, trường ĐH Ngoại ngữ Tokyo, nơi tôi đang giảng dạy, là “vì sao em học tiếng Việt?”. Simizu trả lời rất nghiêm túc, bằng tiếng Việt rất chuẩn: “Vì em muốn tìm hiểu tại sao Bác Hồ được đông đảo nhân dân Việt Nam kính trọng, còn ở Nhật, thì chưa có vị lãnh tụ nào được như thế”.

Bác không dạy cái tục xấu đó

Tôi thực sự kinh ngạc trước câu trả lời của em Simizu, một sinh viên Nhật giỏi của Khoa tiếng Việt. Các sinh viên người Nhật học tiếng Việt ở trường Đại học ngoại ngữ Tokyo phần đông học tiếng Việt vì yêu thích Việt Nam, vì có thiện cảm với Việt Nam, và với nhiều em, vì hình ảnh đáng kính của Bác Hồ.

Đề tài luận văn tốt nghiệp của em Simizu là về Bác Hồ. Simizu nói với tôi rằng em đã tự hài lòng được phần nào về câu trả lời cho câu hỏi trên của em. “Theo em, sở dĩ phần lớn nhân dân Việt Nam kính trọng, yêu thích Bác Hồ, là vì Bác Hồ có đạo đức rất trong sáng, và có phong cách rất dản dị, dễ gần với nhân dân. Và điều dĩ nhiên nữa, là Bác Hồ đã lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến giành độc lập cho nhân dân Việt Nam, mà nhiều nhà kháng chiến khác không làm được”.

– Thế cá nhân em thì sao? Em có yêu thích Bác Hồ không? tôi hỏi.

– Vâng, tất nhiên. Em nghĩ người nước ngoài biết đến nhân dân Việt Nam, cũng một phần nhờ hình ảnh của Bác Hồ. Nhưng tiếc rằng, giờ đây ở Việt Nam, có nhiều điều Bác Hồ dạy, người ta không thực hiện đâu. Em rất buồn.

Sau khi tốt nghiệp, Simizu làm việc cho một văn phòng đại diện của một cơ quan Việt Nam ở Tokyo. Nhưng sau đó em nhanh chóng bỏ việc, vì thấy ở đấy làm việc thiếu trong sáng. Hiện nay, Simizu đã thi đỗ, trở thành phóng viên hãng truyền hình NHK, hãng truyền hình lớn nhất Nhật Bản.

Kimura, một sinh viên khác cũng đã tốt nhiệp Khoa tiếng Việt, và đang làm việc cho một công ty Nhật có đầu tư ở Việt Nam. Kimura học tiếng Việt vì có thiện cảm với Việt Nam. Nhưng em đã bị một ấn tượng xấu về lớp cán bộ Việt Nam hiện nay. Có một đại diện cơ quan Việt Nam sang Tokyo liên hệ việc mua hàng của công ty Nhật, nơi Kimura làm việc. Người này đã gợi ý là muốn bán được hàng cho phía Việt Nam, thì công ty Nhật phải biết “nhập gia tùy tục”.

Kimura nói với tôi: “Em biết văn hóa người Việt Nam, là “nhập gia phải tùy tục”, khách đến nhà thì phải theo phong tục, tập quán của chủ nhà. Nhưng cái văn hóa đó không phải theo cái “tục xấu” mà người kia gợi ý. Em đã mời người đó về. Mời anh đi mua hàng ở công ty khác. Bác Hồ không dạy cái “tục xấu” đó cho các anh”.

Những lỗi lầm chính của quan chức

Hinh anh Bac Ho duoi con mat sinh vien Nhat

Cô Suzuki Kotona đang nghiên cứu về văn hoá ở Việt Nam: “Em chỉ mong người dân Việt Nam được thực sự hạnh phúc như Bác Hồ mong muốn”.

Có một em tên là Suzuki, tuy không học tiếng Việt tại Khoa tiếng Việt, trường Đại học ngoại ngữ Tokyo, nhưng rất giỏi tiếng Việt. Gần đây, Suzuki đưa cho tôi một cuốn sách đầu đề “Văn kiện Đảng 1945-1975”, do Ban nghiên cứu lịch sử đảng trung ương xuất bản năm 1978. Ngoài bìa thấy đề “lưu hành nội bộ”. Giở cuốn sách Văn kiện ra, tôi thấy các tài liệu về hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam rất tốt, nhiều bài viết rất hay của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rất đáng lưu hành rộng rãi cho nhân dân được biết, chẳng có gì đáng phải ghi là “lưu hành nội bộ” cả. (Bây giờ – năm 2005, đã gần 30 năm trôi qua, kể từ khi xuất bản cuốn sách Văn kiện này, có lẽ tình hình đã thay đổi, không cần phải “lưu hành nội bộ” nữa).

Suzuki muốn tôi giải thích giúp em về một bài viết của Bác Hồ in trong tập sách này. Trang 16 có bài viết nhan đề “Gửi các ủy ban nhân dân, các Bộ, Tỉnh, Huyện và các Làng”, tháng 10/1945, ký tên Hồ Chí Minh. Nội dung đại khái như sau (xin trích):

“Hỡi các bạn. Nước ta bị Tây áp bức hơn 80 năm, bốn, năm năm bị Nhật áp bức. Dân ta đói rét khổ sở không thể nói hết… Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có nghĩa lí gì. Chính phủ ta đã hứa với dân sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc…

Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, thì dân mới yêu ta, kính ta.

Tôi vẫn biết rằng trong các bạn có nhiều người làm theo đúng chương trình của chính phủ và rất được lòng nhân dân. Song cũng có nhiều người phạm những lầm lỗi rất nặng nề.
Những lầm lỗi chính là:

1. Trái phép – Những tên Việt gian phản quốc chứng cớ rõ ràng thì phải trừng trị đã đành, không ai trách được. Nhưng cũng có lúc vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu gia sản, làm dân oán thán.

2. Cậy thế – Cậy mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng muốn sao làm vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân.

3. Hủ hóa – Ăn uống cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ở đâu mà ra? Thậm chí lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, đến các cô, các cậu ủy viên cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai chịu?…”

Trong thư này Bác Hồ còn liệt kê thêm lỗi lầm tư túng, kéo bè kéo cánh để bổ nhiệm chức vụ cho nhau. Chia rẽ, bênh vực lớp này, chống lớp khác. Kiêu ngạo, tự coi mình là thần thánh, coi khinh nhân dân. Để kết luận, Bác Hồ viết: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa…Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà mà tôi phải nói. Chúng ta phải ghi sâu những chữ công bình, chính trực vào lòng”.

Sau khi tôi giải thích xong các khái niệm khó trong bức thư này của Bác Hồ – bức thư Bác viết sau khi Bác đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa đầy một tháng – Suzuki vô cùng thích thú. Em nói: “Giá như bây giờ người ta thực hiện tốt các lời Bác Hồ nói nhỉ”. Suzuki nói là bà chủ nhà ở Hà Nội, nơi em thuê nhà khi học ở Hà Nội, thường phàn nàn về tệ hách dịch, cửa quyền, xếch mé với dân ở chính quyền phường, khi dân có việc đến phường.

Đừng để tiếng ta thán nhiều thêm

Đọc lại lời Bác Hồ dạy từ 60 năm trước, ngay sau khi chính quyền cách mạng mới thành lập, người ta thấy vẫn còn nguyên giá trị. Ở Việt Nam giờ đây, nhiều người viện dẫn lời Bác Hồ rất nhuần nhuyễn, nhất là trên các diễn đàn hội nghị, nhưng trong thực tế không hề làm theo lời Bác Hồ dạy. Chính vì thế mà giờ đây, tiếng ta thán của người dân mới tăng lên, tệ tham nhũng tràn lan, người bất tài, đạo đức giả được trọng dụng, người tài bị khinh rẻ.

Tôi thường cố gắng nói đến những thành quả của công cuộc đổi mới ở Việt Nam cho sinh viên Nhật nghe. Nhưng nhiều sự thật không thể dấu được, nhất là với các sinh viên đã đi Việt Nam học, như chuyện thủ tục hành chính, chuyện tham nhũng, chuyện hành dân, chuyện oan sai. “Em chỉ mong người dân Việt Nam được thực sự hạnh phúc như Bác Hồ mong muốn” – Suzuki nói…

Minh Tuấn (từ Tokyo)
vietbao.vn

Gặp người Séc dịch “Nhật ký trong tù” của Bác Hồ

GS.TS Ngôn ngữ học và Quốc tế học Ivo Vasiljev là người Séc đầu tiên và đến nay là người duy nhất dịch trọn tập thơ “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông kể rằng từ năm 1953 ông bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam. Ivo Vasiljev và vợ cùng học một trường đại học ở Praha (Tiệp Khắc ngày đó). Sau khi tốt nghiệp đại học, ông chọn ngành nghiên cứu Việt Nam học, còn vợ ông nghiên cứu về Nhật Bản.

Ivo Vasiljev chỉ học tiếng Việt ở Praha song ông nói không khác là mấy so với người Hà Nội. Lúc đầu là học từ thầy người Tiệp Khắc, sau được học 2 thầy giáo người Việt Nam là Dương Khắc Từ hiện là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và ông Trần Xuân Đài, Đại học Sư phạm Hà Nội.

Ông Dương Khắc Từ đã dịch nhiều tác phẩm văn học Tiệp Khắc sang tiếng Việt Nam. Ông Từ đã dạy tiếng Việt cho Ivo Vasiljev một thời gian ngắn khi sang Tiệp Khắc học đại học.

Sau đó, Ivo Vasiljev tiếp tục học tiếng Việt từ ông Đài khi đó được Chính phủ Việt Nam cử sang Tiệp Khắc dạy tiếng Việt. Thời gian này, Ivo Vasiljev và thầy Đài làm việc theo kiểu một thầy, một trò mỗi tuần 18 giờ.

Ít lâu sau ông Ivo Vasiljev đủ trình độ cùng với thầy Đài đứng lớp dạy tiếng Việt cho học sinh Tiệp Khắc.

Năm 1966, lần đầu tiên Ivo Vasiljev được gặp Bác Hồ tại Hà Nội. Đó là lần ông làm phiên dịch cho đoàn đại biểu Chính phủ Tiệp Khắc sang thăm Việt Nam. Lần ấy ông có ấn tượng rất sâu sắc về Bác Hồ, đặc biệt là sự ân cần thăm hỏi của Người đối với người phiên dịch Ivo Vasiljev.

Từ ấn tượng sâu sắc được gặp Bác Hồ lần ấy, khoảng năm 1982 ông Ivo Vasiljev tìm hiểu và quyết định bắt đầu dịch Nhật ký trong tù.

Ivo Vasiljev cho biết ông không có năng khiếu thơ nên chỉ dịch ý từ nguyên bản, sau đó một nhà thơ Tiệp Khắc đã dịch sang thơ bằng tiếng Séc, một năm thì việc dịch xong xuôi. Trong cả tập thơ Nhật ký trong tù, ông Ivo Vasiljev thích nhất 2 bài thơ Nghe tiếng giã gạo và bài Học đánh cờ.

Giáo sư cho rằng cả tập thơ Nhật ký trong tù toát lên sự khao khát tự do cháy bỏng không chỉ của tác giả bị cầm tù mà còn của cả dân tộc của Người đang phải sống dưới ách đô hộ của ngoại bang. Ivo Vasiljev cho rằng Bác Hồ không chỉ là một nhà chính trị tài ba, một lãnh tụ vĩ đại mà còn là một người có sự hiểu biết rất sâu sắc về con người.

Theo Nguyễn Đại Phượng
Tiền phong
dantri.com.vn

Những giờ phút cuối đời của Bác Hồ

Suốt 45 năm say mê theo đuổi sự nghiệp điện ảnh, hai tác phẩm mà đạo diễn Phạm Quốc Vinh mãn nguyện nhất và mãi mãi không thể quên là “Những giờ phút cuối đời Bác Hồ” và “Bác đi chiến dịch”.

Năm 1989, khi UNESCO chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới, ông Vinh đang chuẩn bị nghỉ hưu thì được Điện ảnh Quân đội và Bảo tàng Hồ Chí Minh giao một trách nhiệm trọng đại trong đời làm điện ảnh: Hoàn thành bộ phim về những giây phút cuối cùng của Bác Hồ ở thời điểm sau 20 năm kể từ ngày Bác ra đi.

Suốt 20 năm trước đó, những thước phim tư liệu do 2 nhà quay phim quân đội Nguyễn Thanh Xuân và Trần Anh Trà thực hiện về những ngày cuối cùng của Bác cho đến khi các chuyên gia Liên Xô (cũ) thực hiện kỹ thuật gìn giữ, bảo quản thi thể của Người đã được cất giữ, bảo quản cẩn mật, và lúc này cần phải dựng lại thành phim hoàn chỉnh để lần đầu tiên công bố trước nhân dân.

Trước khi bắt tay làm phim, ông Vinh đã tìm gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Vũ Kỳ – Thư ký của Bác, để tìm thêm tư liệu cần thiết. Và từng dòng ký ức dần hiện ra…

Bác bắt đầu lâm bệnh ngày 12/8/1969. Hôm ấy, trời Hà Nội đã vào thu, se lạnh. Hay tin phái đoàn nước ta từ cuộc đàm phán Paris về, Bác chủ động đến thăm, làm việc.

Đến ngày 28/8, sức khỏe của Bác bắt đầu suy giảm nghiêm trọng, từ nhà sàn Người phải chuyển xuống tầng trệt. Tuy vậy Người vẫn không ngừng lo toan cho vận mệnh quốc gia, cho cuộc sống của nhân dân…

Đương khi nước sông Hồng dâng cao, sợ cơn lũ có đột biến, các đồng chí gần gũi chăm sóc ngỏ ý muốn đưa Bác tới nơi an toàn, nhưng Bác nói: “Tôi không thể xa dân”.

Các vị lãnh đạo Đảng lúc ấy hằng ngày túc trực bên giường Bác. Đại tướng Võ Nguyên Giáp mỗi ngày vào thăm Bác ba lần. Trong cuốn sổ tay, đại tướng ghi rõ từng ngày:

– 24/8/1969 trở đi Bác mệt nặng.

– 26/8/1969: Khi vào thăm, giơ tay chào, Bác chào lại rồi bảo: “Chú về nghỉ”.

– 28/8/1969: Buổi chiều Bác hỏi việc chuẩn bị Quốc khánh 2/9 và dặn đồng chí Phạm Văn Đồng tổ chức lễ kỷ niệm cho thật vui, thật tốt. Tối có bắn pháo hoa nữa.

Dù cuộc sống chỉ còn gang tấc, Bác vẫn muốn ra dự lễ để gặp đồng bào năm, mười phút.

Bác đã trao đổi với đồng chí Lê Văn Lương và đồng chí Vũ Kỳ rất cụ thể: “Bác sẽ buộc khăn che cổ, Bác ra ngồi sẵn trong đoàn chủ tịch rồi mới kéo màn che của hội trường và bắt đầu cuộc mittinh. Bác sẽ nói sao cho đồng bào không biết là Bác đau”.

Thế nhưng, trên lễ đài kỷ niệm Quốc khánh ngày 2/9/1969 Người đã không thể có mặt! Bác Hồ đã trút hơi thở cuối cùng lúc 9 giờ 47 ngày 2/9/1969, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho tất cả nhân dân VN đến tận hôm nay.

Đến sáng 1/9/1969, Bác đã rất mệt. Phải đến 16 giờ cùng ngày 2 quay phim Nguyễn Thanh Xuân, Trần Anh Trà mới lần đầu tiên được vào hẳn phòng bệnh để ghi hình Bác trong những giờ phút cuối cùng quanh sự vây bọc, canh nom, lặng im, thương xót, cảm động của các vị lãnh đạo trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương…

Cho đến sáng 2/9/1969, khi tất cả các đồng chí cách mạng, học trò, người thân cận… sờ lên ngực, lên trán Bác và… cùng bật khóc!

Đạo diễn Phạm Quốc Vinh.
Ông Vinh kể lại: “Thanh Xuân giơ máy lên mà nước mắt cứ giàn giụa làm ướt cả thước ngắm của máy quay. Trong giây phút đó anh ấy chỉ còn biết để ống kính góc rộng và cứ thế giơ lên bấm máy”.

Tất cả đã lùi xa 20 năm nhưng ông Vinh vẫn ngỡ như giây phút lịch sử ấy mới vừa xảy ra hôm qua. Trong vai trò một đạo diễn, ông cùng các đồng sự phải chọn lọc những tư liệu, cảnh quay súc tích, đắt giá nhất của 2 nhà quay phim Thanh Xuân, Anh Trà và của chính ông quay được hình ảnh Bác trong những năm trước đó để làm một bộ phim để đời.

Từ những tư liệu cũ, ông Vinh thổi vào sự sáng tạo và với niềm rung cảm chân thành trong tim ông.

Với những cảnh Bác nằm bên dưới ngôi nhà sàn, đôi mắt nhìn đăm đăm ra xa, khi miền Bắc đương mùa nước lụt, ông Vinh liên tưởng ngay những thước phim tư liệu cũ ông quay những năm trước khi Bác còn khỏe, trong cảnh nước lụt mênh mang Người xắn quần, chân thấp chân cao bước lên cầu Long Biên để cùng bà con chống lụt.

Rồi ông chợt nghĩ đến những gì đã mãi mãi trở thành lần cuối cùng của đời Bác: bài viết cuối cùng về “người tốt việc tốt” Bác còn để lại, cây đa cuối cùng Bác trồng ở xã Vật Lại (Ba Vì, Hà Tây), buổi sinh hoạt vui cuối cùng với các cháu thiếu nhi… Cảnh ngôi nhà sàn đã buông rèm, căn phòng với giường chiếu đơn sơ của Người giờ trở nên trống lạnh với những kỷ vật nằm im, lưu giữ lại một phần lịch sử…

Kết thúc phim, ông Vinh muốn nhấn mạnh sự sống mãi của Hồ Chủ tịch trong lòng nhân dân VN bằng hình ảnh cuộc sống bình dị, thường ngày của Bác quanh ngôi nhà sàn thân yêu khi bài hát Bác Hồ, một tình yêu bao la cất lên.

“Những giờ phút cuối đời Bác Hồ” của đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã được Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trực tiếp duyệt ngày 17/4/1989; sau đó phim được tặng các bạn bè quốc tế và từ đó đến nay được chiếu thường xuyên tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Thủ đô.

Năm 1990, chỉ với hơn 20 bức ảnh tư liệu của nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp tại chiến dịch biên giới năm 1950 cộng với một vài cảnh tài liệu do Phan Nghiêm quay được cùng năm đó, đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã sử dụng lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để dựng nên những cảnh phim rất sinh động trong Bác Hồ đi chiến dịch Biên giới.

Một số nhà phê bình đánh giá đây là bộ phim tài liệu vào loại đặc biệt nhất trong các phim tài liệu VN do đạo diễn đã tìm được cách làm phim rất sáng tạo trong bối cảnh nguồn tư liệu có được quá ít ỏi.

Từ năm 1960 đến nay, đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã thực hiện tổng cộng 101 bộ phim, trong đó có 71 phim nhựa 35mm; năm phim nhựa 16mm.

Những tác phẩm mà ông trong vai trò biên kịch và đạo diễn đến nay vẫn còn nguyên giá trị như: Tiếng hát những người chiến thắng (1974), Ngọn cờ chiến thắng, Phía nam sông Hậu (1975), Chiến thắng Tà Xanh (1979), Lính Mỹ lại đến Hà Nội (1989), Bác nhớ miền Nam (1992), Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1993), Chiếu văn chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2004)…

Hiện đã ở tuổi 79, nhưng ông vẫn còn hợp tác với Điện ảnh Quân đội làm phim tài liệu về đề tài chiến tranh cách mạng…

Những cuốn phim tư liệu nay xếp chật trong ngôi nhà đạm bạc của ông ở phố Đội Cấn (Ba Đình, Hà Nội) và được bảo quản bằng cách cứ 2 – 3 tháng lại một lần rang gạo bỏ vào các túi để chống ẩm!

Theo Đoài Sơn
Tuổi trẻ Chủ nhật
dantri.com.vn

Gặp em bé được Bác Hồ đặt tên

Ảnh minh họa

(Dân trí) – Sinh thời Bác Hồ luôn dành tình cảm đặc biệt cho các cháu thiếu nhi. Có một em bé may mắn được Người đặt tên nay đã là Phó phòng quan hệ Quốc tế – Trường ĐH Xây Dựng Hà Nội.

Nhà văn Đào Vũ (tác giả “Cái sân gạch”, “Vụ lúa chiêm” được giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật) sinh con gái đầu lòng năm 1958, nhưng chưa biết đặt tên con là gì. Mấy hôm sau, nhà văn chợt loé lên rồi bàn với vợ: Xin Bác Hồ đặt tên cho con. Nghĩ là làm, ông bèn viết thư gửi Bác. Thư gửi đi rồi vợ chồng nhà văn hồi hộp chờ đợi.

Họ không ngờ rằng, tuy bận trăm công nghìn việc, nhưng ngay hôm sau người cần vụ của Bác đã chuyển đến gia đình một bức thư, ngoài phong bì ghi rõ “đưa đến tận nhà”. Vợ chồng nhà văn rưng rưng xúc động đọc thư Bác. Trong thư có đoạn: Cả nước đang chuyên tâm tăng gia sản xuất và thực hiện tiết kiệm, bác đặt tên cho cháu là Tăng Kiệm – Đào Tăng Kiệm.

Để cảm ơn tấm thịnh tình của Bác Hồ, nhà thơ đã viết bài thơ “Bác đặt tên cho cháu là Tăng Kiệm”: “…Chính người đã âu lo suốt đời cho núi sông. Hai vai người gánh giang sơn trời biển. Người vẫn còn chăm chút từng cháu sơ sinh… Xin Bác an tâm. Nôi cháu đã buông mùng.”

Bé Tăng Kiệm hay ăn chóng lớn, và rất ngoan. Năm học lớp 1, Kiệm viết thư báo cáo với Bác về thành tích học tập, hứa sẽ học thật giỏi để xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ. Hình ảnh Bác luôn hiện lên trong giấc mơ của Tăng Kiệm, bé mơ ước sẽ có ngày được gặp Bác.

Ngày 1/6/1969, Kiệm cùng các Bạn học sinh vinh dự được gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. May mắn, em được xếp ngồi ngay sau Bác. Kiệm rất muốn khoe với Bác: “Cháu là Đào Tăng Kiệm. Tên cháu chính là do Bác đặt cho đấy ạ”. Miệng mấp máy nhưng không sao thốt lên được. Khi tất cả các bạn hát bài “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên, nhi đồng” của nhạc sĩ Phong Nhã, mắt Kiệm long lanh, ao ước được xà vào lòng Bác. Cái khoảng khắc ấy đến nhưng Kiệm không sao nói được nên lời để rồi Bác chỉ còn trong tâm tưởng mình.

Ngày muôn triệu người tiễn biệt vị cha già kính yêu của dân tộc, hai chị em Kiệm được bố đưa vào viếng Bác. Trước anh linh Người, Tăng Kiệm nguyện sẽ học thật giỏi để góp sức nhỏ của mình đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc trên thế giới như niềm mong mỏi của Bác.

7 năm học piano ở trường Âm nhạc Việt Nam, cùng lớp với nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn, tưởng chừng tiếng đàn hút hồn cô bé sải chân bước vào con đường nghệ thuật của gia đình. Nhưng Kiệm tự thấy âm nhạc không phải là con đường đi của đời mình. Kiệm đã rời Nhạc viện để theo nghề xây dựng. Tại thời điểm đó, đây là một quyết định táo bạo với phận nữ nhi. Sau khi tốt nghiệp, cô đã được nhà trường giữ lại làm giảng viên.

Ở đó cô được phân công giảng dạy bộ môn tin học – ngành còn khá mới khi ấy ở Việt Nam. Cùng đồng nghiệp, cô đã xóa mù tin học cho nhiều thế hệ sinh viên, viết giáo trình và đi dạy ở các công ty xây dựng…

Hiện nay, cô là Phó phòng đối ngoại trường ĐH Xây Dựng. Cô hồ hởi khoe mới đưa về cho trường 3 dự án do EU tài trợ, mỗi dự án trị giá khoảng 300.000 euro. Dự án được thực hiện với hi vọng đưa Đại học xây dựng Việt Nam đứng đầu khu vực Đông Nam Á về lĩnh vực công nghệ thông tin.

Trần Gia Bảo
dantri.com.vn

Người đúc tượng Bác Hồ nhiều nhất Việt Nam

(Dân trí) – Dân trong làng Ngũ Xã, Ba Đình (Hà Nội), nói nhiều đến ông Nguyễn Văn Ứng vì cái tài đúc tượng danh nhân bằng đồng, đặc biệt là tượng Bác Hồ. Ông đã táo bạo giữ lửa cho làng nghề ấy bằng cách thế chấp nhà để lấy tiền đầu tư vào việc đúc các sản phẩm bằng đồng.

Vực dậy một làng nghề

Nghề đúc đồng làng Ngũ Xã đã có từ hơn bốn trăm năm về trước (ngày 1/11 âm lịch hàng năm là ngày giỗ tổ của làng). Ông tổ nghề đúc đồng là Quốc sư Nguyễn Minh Không, do tài cao đức trọng, giỏi về đúc đồng và tinh thông nghề thuốc để cứu dân độ thế nên đã được vua Lý Thái Tổ phong là Lý Triều Quốc Sư.

Thời gian qua đi cùng với bao thăng trầm biến cố, làng Ngũ Xã đã ít dần đi những người đúc đồng. Ngày nay, chỉ còn lại vài hộ giữ nghề bằng cách đúc những đồ thờ cúng như tượng phật, chuông, lư hương, đỉnh, nến, lọ… sự mai một ấy như một tổn thất lớn của làng những năm gần đây. Ông Ứng lớn lên đã nghe ông bà cha mẹ kể về nghề. Thời gian qua đi cùng với bao binh biến loạn lạc nhưng cái nghề ấy đã thấm vào ông lúc nào không hay và ông chỉ biết đón nhận nó như một cơ duyên vậy.

Còn nhớ năm 1968 khi trận Mậu Thân đang diễn ra ác liệt, những lúc tạm ngưng tiếng súng, anh bộ đội Nguyễn Văn Ứng lại nhớ về Hà Nội, nhớ về cái nghề đúc đồng truyền thống của làng mình. Anh mang chuyện ấy kể cho các bạn cùng nghe một cách rành rọt, có đồng đội thấy thú vị liền nói vui rằng bao giờ đất nước thống nhất cho mình về Hà Nội học nghề này nhé. Sau khi rời quân ngũ ông trở về làng với mong muốn bằng chính đôi tay của mình sẽ tạo ra những sản phẩm có giá trị đích thực.

Ông vào nghề với hai bàn tay trắng, khó khăn cứ thế nối tiếp nhau, ông phải quay sang đúc nhôm để lấy vài chục ngàn nuôi gia đình sống qua ngày. Mặt bằng nhà xưởng chỉ có 40m2. Nhưng rồi trong cái khó ló cái khôn, ông đã tính chuyện “giật gấu vá vai” bằng cách nhận những hợp đồng nhỏ như đúc lư hương, tiền đồng, đỉnh đồng, tượng Phật cỡ nhỏ… lấy tiền trang trải trước mắt, bên cạnh đó ông có thời gian đào tạo đội ngũ thợ trở thành những đôi tay tài hoa sau này. Đó là công tác chuẩn bị cho một kế hoạch lâu dài.

Ông mạnh dạn tham gia các triển lãm, hội thảo… để giới thiệu các tác phẩm của mình. Minh chứng cho thành công đó là việc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tặng giải thưởng “kỹ năng thủ công tinh xảo” với tác phẩm lọ củ tỏi đúc đồng khảm tam khí do cơ sở đúc đồng Hoa Mai của ông làm. Như được tiếp thêm sức mạnh, lần lượt những tác phẩm quy mô ra đời tại xưởng của ông. Số tiền vay được do thế chấp nhà, ông đầu tư thêm vào việc thuê 1000m2 đất ở Yên Phụ, Tây Hồ, đầu tư máy mài, máy tiện, xây lò nung, mua vật liệu… và bắt đầu nhận những hợp đồng lớn với trị giá hàng trăm triệu đồng.

Cái thần, cái hồn ở mỗi chi tiết

Ông lẳng lặng bước về phía những người thợ đang hoàn thiện những pho tượng Bác Hồ với vẻ mặt không hài lòng khi thấy thợ hơi mạnh tay ở chi tiết chòm râu. Đối với những bức tượng danh nhân mà đặc biệt là tượng Bác Hồ thì không được cẩu thả, phân tán tư tưởng. Cần phải tập trung cao độ, sao cho phải toát lên vẻ uy nghi, phong thái mà lại gần gũi từ chòm râu, ánh mắt. Mẫu mang đến mà xấu thì ông không làm dẫu công có cao đến mấy. Cẩu thả, ẩu là mang tiếng cả đời.

Nghề này làm hết đời cũng không thấy mình giỏi, có thợ theo nhà ông làm nghề gần 20 năm vậy mà cũng đành giải nghệ. Còn Long, người con nuôi của ông thì từng nghiện ma tuý, đến với ông đã cai nghiện thành công, giờ đây Long trở thành thợ giỏi.

Khi nhận được yêu cầu đúc tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh cao 1,7m lần đầu tiên dát vàng để Đảng bộ và nhân dân Thủ đô kính dâng lên kỳ đại hội Đảng ông vừa thấy vinh dự vừa lo lắng nhiều, đêm nhưng cuối cùng đã hoàn thành tốt đẹp. Năm 2003, tiếp tục hoàn thành và kính dâng tượng Bác tại Khu di tích lịch sử Ba Đình. Năm 2004, Ban Giám đốc khu di tích tiếp tục đặt hàng 200 pho tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh để kính biếu các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các vị khách quốc tế nhân dịp 35 năm ngày Bác đi xa… Ông không nhớ nổi mình đã đúc bao nhiêu tượng Bác Hồ nữa, chỉ biết rằng nhiều lắm nhưng lần nào đúc ông cũng thấy niềm vinh dự và cứ hồi hộp như mình đúc pho tượng đầu tiên.

Cơ sở của ông vừa hoàn thiện 2 đơn hàng của chùa Đông và chùa Phố tỉnh Hưng Yên, tác phẩm tượng Phật có khối lượng 2 tấn với giá 300 triệu đồng. Trong năm nay, ông đã mang hai quả chuông nặng 30kg/quả sang Australia để trưng bày, mọi người kể cả người Việt định cư tại đây cũng lấy làm thích thú gửi thư về khen ông và mong muốn được mua những chiếc chuông đó làm quà tặng cho các nhà chùa. “Tôi mong sản phẩm của mình ra nước ngoài, sẽ tạo đà cho làng nghề vươn vai sau kỳ nghỉ dài” – Đó là mong muốn của ông.

Tiến tới 1000 năm Thăng Long Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội đã cấp cho gia đình ông 82,4m2 đất để xây dựng phòng trưng bày các sản phẩm làng nghề. Dự kiến đầu xuân này sẽ trưng bày những sản phẩm làng nghề để giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước. Tiền thế chấp nhà ông chủ yếu dồn vào việc xây dựng phòng trưng bày. Khó khăn cũng đã qua, 15 thợ luôn có việc làm ổn định với mức lương từ 1 triệu đến 1,5 triệu đồng một tháng, tay nghề họ ngày càng vững chắc.

Nguyễn Đông Hà
dantri.com.vn

Mong ước cuối đời của người được Bác Hồ đặt tên

(Dân trí) – 25 tuổi, ông rời xứ Nghệ hành quân ra Tây Bắc. May mắn là, trong khoảng thời gian bám núi, bám rừng Việt Bắc ông đã được gần gũi với Bác Hồ. Cuộc đời ông thay đổi từ đó với cái tên mới do chính Cụ Hồ đặt – chú Kiệm. Bây giờ, ở cái tuổi xấp xỉ 90, ông chỉ có một ước vọng trước lúc nhắm mắt: được ra thăm Lăng Bác!

Cậu bé mồ côi ra Tây Bắc gặp Bác

Tên thật của ông là Lê Nhạ, sinh năm 1920 tại làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. 12 tuổi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Gánh nặng đặt trên vai cậu bé Nhạ là mấy đứa em thơ dại. Thế rồi anh em rau cháo nuôi nhau, khi không đủ sức, có đứa được cho đi làm con nuôi của người khác.

Cha Nhạ vốn là thợ mộc, trước lúc mất đã kịp truyền cho cậu nghề cầm cưa đục. Nhạ rất khéo tay trong việc nối nghiệp cha theo nghề. Dẫu vậy, cuộc sống đói khổ vẫn đeo đẳng anh em Nhạ suốt nhiều năm trời. 20 tuổi, Nhạ kết hôn với một cô gái cùng làng. Cưới nhau mãi nhưng đôi vợ chồng trẻ vẫn chưa có con. Mãi tới năm 1947, họ mới sinh được đứa con đầu lòng.

Những năm đó, gia đình Nhạ cùng chung cảnh ngộ của người nông dân cả nước, nghèo đói, xác xơ. Giữa lúc ấy, thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nuớc ta. Một buổi trưa năm 1949, ông bất ngờ nhận được lệnh lên đường ra Bắc. Nhiệm vụ của ông là lên Tây Bắc lập lán trại, nhà ở tạm cho cán bộ cách mạng.

Sáng sớm hôm sau tiễn biệt vợ và đứa con nhỏ không hẹn ngày về, hành lý mang theo là đôi dép cao su và mấy bộ quần áo cũ. Từ Hà Tĩnh ra đến căn cứ kháng chiến Tây Bắc mất ròng rã hơn một tháng trời đi bộ. Cơm không có ăn, áo không đủ mặc, đến đâu mỏi là nhà. Chặng đường hành quân gian nan là thế nhưng ông và anh em trong đoàn cùng ra Tây Bắc đều bấm chí quyết tâm vì thắng lợi của cách mạng.

Cuối cùng thì đoàn bộ đội hành quân từ Miền Trung cũng lên đến Tây Bắc. Một cuộc sống hoàn toàn khác biệt, anh em phải vào tận rừng sâu dựng trại để tránh bọn Pháp truy quét. Vốn là người giỏi nghề mộc ông Nhạ được đưa ngay vào kiến thiết, lập trại cho chiến khu kháng chiến.

“87 tuổi, tui không nhớ rõ nữa, chỉ biết ra ngoài nớ bám núi bám rừng được một thời gian thì có anh Chiến sang lấy người (ông Tạ Quang Chiến – Nguyên Bí thư Trung ương đoàn, Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục thể dục thể thao – PV) về kiếm gỗ lập nhà. Khi đó có tui và 3 người khác nữa. Ấn tượng đầu tiên khi tui gặp Cụ Hồ là người Cụ gầy, giọng nói ấm áp. Cụ từ trong nhà bước ra, bắt tay từng người một rồi trò chuyện với anh em. Trong cuộc gặp ấy, Cụ đã đặt tên cho chúng tôi là Cần, Kiệm, Liêm, Chính… một trong những khẩu hiệu của Bác đề ra trong kháng cuộc chiến chống Pháp. Tôi được mang tên chú Kiệm từ đấy” – ông Nhạ bồi hồi nhớ lại.

Với nhiệm vụ lập trại, sửa nhà, ông Nhạ đã có quãng thời gian gần 3 năm sống bên Bác Hồ. Ông được gặp Bác, được Bác dạy bảo thường xuyên cho đến ngày Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi.

Sau thắng lợi lịch sử ấy, số anh em được Bác Hồ đặt tên đi làm nhiệm vụ mới. Họ mất liên lạc với nhau. Chiến sỹ cách mạng Lê Nhạ – Chú Kiệm được chuyển về công tác trong một nhà máy sản xuất tổng hợp ở giữa thủ đô Hà Nội. Ở đấy, ngoài công việc của nhà máy, ông vẫn tiếp tục nghiệp mộc của mình khi tham gia thi công nhiều ngôi nhà phục vụ cho cách mạng. Sau đấy, ông chuyển về công tác tại Công ty xây dựng Hà Tĩnh.

Chiến tranh lại tiếp tục buộc những người công nhân như ông lên tận Phú Thọ, Cao Bằng vừa tránh bom đạn của đế quốc Mỹ, vừa bảo đảm nhiệm vụ của đơn vị. Năm 1975, đất nước thống nhất cũng là thời gian ông nghỉ hưu trở về quê hương. Ông sinh được 4 người con, sống một cuộc sống đầy khó khăn ở làng Đức Trung, huyện Đức Thọ suốt nhiều năm nay.

Bức thư bất ngờ và ước vọng cuối cùng của “chú Kiệm”

Ngày 19/8/2006, mưa như trút nước, từ quê nhà ở Đức Trung (Đức Thọ), chú Kiệm nhận được một lá thư của một đồng chí, đồng đội mà hơn 60 năm trước họ cùng có những giây phút khó quên trên núi rừng Việt Bắc – ông Tạ Quang Chiến, người đã trực tiếp đưa anh thanh niên Lê Nhạ vào gặp Cụ Hồ năm xưa.

Bức thư viết: “Vừa qua, bác Lê Đức Thỉnh – Nguyên Phó bí thư tỉnh uỷ Hà Tĩnh hồi trước 1975 nay đã 91 tuổi – là bạn già ở gần nhà tôi cho tôi xem báo Hà Tĩnh ngày 12/4/2006 có đăng bài về bác Kiệm. Tôi rất mừng bác đã 87 tuổi mà vẫn còn tương đối khoẻ, chụp ảnh cùng bác gái. Lâu nay tôi không có tin tức cụ thể về bác Kiệm.

Trước hết xin gửi biếu hai bác tấm ảnh chụp cách đây 55 năm ở căn cứ Việt Bắc – nơi Bác Hồ đã ở, nơi tập thể chúng ta được phục vụ Bác.

Chú Kiệm – Lê Nhạ, người đứng ngoài cùng bên phải chụp ảnh chung với đồng đội ở Việt Bắc năm 1951. (Ảnh tư liệu do cụ Lê Nhạ cung cấp).

Nhận được thư này đề nghị bác Kiệm cho biết thêm về gia cảnh hiện nay ra sao? Nếu có dịp ra Hà Nội Bác ghé qua nhà tôi ở 149 phố Nguyễn Thái Học và đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh, vào Lăng viếng Bác Hồ…”

Đọc được những dòng trong lá thư của người bạn một thời, chú Kiệm đã không cầm nổi nước mắt, nước mắt của vui sướng vì đã bắt được liên lạc với người bạn cách đó hàng chục năm trời ông không hề có thông tin. Ông cầm tấm ảnh ngắm nghía, hồi tưởng lại năm tháng ở núi rừng Việt Bắc. Tấm ảnh đen trắng đã nhoè nhưng ông vẫn chỉ đủ tên của các đồng đội của mình. Dẫu bức ảnh chụp cách đây hơn nửa thế kỷ, nhưng nhìn tấm ảnh vẫn dễ dàng nhận ra “chú Kiệm” với mái tóc cắt ngắn, dựng đứng, khuôn mặt nhỏ.

Chợt nhớ đến lời mời trong lá thư của ông Chiến, ông Nhạ bật khóc vì nhớ lại cái thời gian khổ gắn bó với nhau ở Chiến khu. Ông đáp thư trả lời cho ông Tạ Quang Chiến, bày tỏ mong muốn được ra Hà Nội thăm Lăng Bác một lần và mong được gặp lại người bạn xưa.

Trò chuyện với Dân trí trong những ngày cả nước chuẩn bị kỷ niệm 117 năm ngày sinh nhật Bác, chú Kiệm rưng rưng tâm sự: “Đã mấy chục năm rồi không được ra thăm Lăng Bác, cũng chưa được về quê Bác để thắp cho Người một nén nhang. Như rứa lòng tui thấy có lỗi lắm. Để thỏa lòng, tui có ý định dịp sinh nhật Bác năm nay sẽ ra thăm Người nhưng rồi mong muốn ấy không thể thực hiện được. Căn bệnh zôna thần kinh quái ác lại hành hạ, nên không đủ sức khỏe để đi”…

Chia tay ông Nhạ với những thông tin ít ỏi, chúng tôi mang theo ước vọng cao đẹp của ông – được một lần ra thăm Lăng Bác.

Văn Dũng – Minh San
dantri.com.vn

Bác Hồ lần đầu về thăm quê

(Dân trí) – Ngày 14/6 năm Đinh Hợi này là chẵn 50 năm ngày Bác Hồ về thăm quê lần thứ nhất, cũng là ngót 100 năm từ ngày Bác rời quê hương làng Sen bôn ba đi khắp góc bể chân trời.

Bác Hồ về thăm quê ở Kim Liên, Nghệ An ngày 8-12-1961

Nghe tin Bác về thăm quê, không riêng dân làng Sen quê nội, Hoàng Trù quê ngoại mà nhân dân cả huyện Nam Đàn, cả tỉnh Nghệ An đều náo nức mong chờ. Thời điểm đó miền Bắc mới được giải phóng, vừa bước qua thời kỳ 2 năm khôi phục kinh tế và văn hoá, hàn gắn vết thương chiến tranh; đời sống nhân dân còn nghèo, cơm ăn còn bữa có bữa không, áo quần chưa thật lành, nhưng đã hạnh phúc trong độc lập, tự do. Tin Bác về, từ trẻ em đến người già, ai ai cũng náo nức, phấn khởi, mặc những bộ quần áo đẹp nhất, mới nhất đi đón người con quê hương – lãnh tụ kính yêu của mình.

Buổi sáng ngày tháng sáu ấy trời nắng chan hoà. Những tia nắng như cùng reo vui chiếu rọi lên từng nét mặt chan chứa vui sướng tự hào cuồn cuộn đổ về Nam Đàn, về Kim Liên.
Bác kia rồi! Trong bộ quần áo ka ki bạc màu, đôi dép cao su mòn gót, Bác tươi cười vẫy chào nhân dân. Cả rừng người hò reo mừng đón Bác.

Một đồng chí lãnh đạo tỉnh Nghệ An trịnh trọng mời Bác đi vào nhà khách mới được xây cách đấy không lâu, nhưng Bác ngăn lại:

– Tôi xa nhà, xa quê đã lâu nay mới có dịp trở về, tôi phải về thăm nhà tôi trước đã. Nhà tiếp khách là để dành cho khách, tôi có phải là khách đâu!

Nói rồi Bác rẽ đi về lối nhà mình. Đến trước chiếc cổng tre dẫn lối đi vào nhà ngang thấy hàng chữ ghi trên tấm bảng nhỏ “nhà Bác Hồ”, Bác quay lại bảo với mọi người:

– Đây là nhà Cụ phó bảng chứ có phải là của Bác Hồ đâu!

Đúng vậy. Ngôi nhà gỗ 5 gian lợp tranh là của dân làng Kim Liên xuất quĩ công mua và dựng mừng quan đại khoa Nguyễn Sinh Sắc vừa thi đậu Phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901. Người anh của Cụ là Nguyễn Sinh Trợ cùng bỏ tiền dựng 3 gian nhà nhỏ dùng làm nhà ngang, mừng người em sắp vinh qui bái tổ.

Bác đứng tần ngần, nhìn bao quát 2 ngôi nhà, sân vườn. Khi nghe tiếng người cán bộ hướng dẫn mời Bác đi vào nhà, Bác ngập ngừng trong vài thoáng rồi thong thả đi dọc theo hàng rào bước đến góc vườn rẽ phải, theo hàng rào dâm bụt đi thẳng vào sân:

– Các chú mở lối đi vừa rồi là sai, cổng nhà Cụ Phó bảng ở hướng đông này chứ!

Bác dừng lại giữa sân, như muốn thu toàn bộ cảnh quan vào đôi mắt. Người chỉ cho những người đi theo đâu là nơi trồng cây ổi, chỗ nào có cây thanh yên đã mọc trên mảnh vườn xưa của nhà Bác. Bác đi vào nhà lớn, đi hết năm gian, đi đến đâu Bác chỉ cho mọi người vị trí đặt, để các đồ vật theo ký ức của Người.

Ở gian thứ nhất có kê bộ phản lớn làm nơi cụ Nguyễn Sinh Sắc tiếp khách. Chính tại nơi đây, Nguyễn Sinh Cung đã được nghe không ít cuộc đàm đạo của các chí sĩ yêu nước, những người đồng chí hướng với thân phụ mình. Bàn thờ được đặt ở gian thứ 2. Chiếc bàn thờ này không có chân mà nó được đỡ trên 2 tấm gỗ đóng ống vào cột nhà. Bàn thờ là một tấm liếp bằng nứa trên trải chiếu mộc. Đồ thờ đều làm bằng gỗ mộc không sơn son thiếp vàng. Gian thứ 3 được quây kín thành một gian buồng giành cho chị gái bác là Nguyễn Thị Thanh tức Bạch Liên. Gian thứ 4 giành riêng để Cụ Phó bảng đọc sách, nghỉ ngơi. Ngoài bộ phản còn có một cái án thư. Gian thứ 5 cũng được kê một bộ phản dành riêng cho 2 anh em Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung. Bác chỉ cho mọi người biết chiếc võng đay được mắc ở đâu, cái rương gỗ đựng thóc kê ở vị trí nào, cái tủ 2 ngăn đựng chén bát được đặt ở đâu… Đi hết nhà lớn, Bác bước xuống nhà ngang, ngày trước dùng để nấu nướng và để đồ.

Bác lại đi ra sân, đứng ngắm lại ngôi nhà đã gắn bó một giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời Bác. Ngôi nhà này là một kỷ vật chứng kiến quá trình lao động, học tập và trưởng thành từ năm mười một tuổi đến năm mười sáu tuổi của Bác, là nơi ghi dấu những cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước, về nhận thức xã hội và ghi dấu những hoạt động cứu nước bước đầu của Người.

Đã 50 năm trôi qua, những ai được vinh dự có mặt trong giờ phút thiên liêng của buổi sáng ngày 14/6/1957, hẳn không quên lời Bác:

– Tôi xa quê đã 50 năm rồi. Thường tình người ta xa nhà, lúc trở về thì mừng mừng tủi tủi. Nhưng tôi không tủi mà chỉ thấy mừng. Bởi, khi tôi ra đi, nhân dân ta còn nô lệ, bị bọn phong kiến đế quốc đè đầu cưỡi cổ. Bây giờ tôi về thì đất nước đã được giải phóng, nhân dân đã được tự do.

Quê hương nghĩ nặng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình

Nguyễn Hoàng Tửu
(ghi theo Vũ Kỳ)
dantri.com.vn

Gặp người 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

(Dân trí) – Một ngày tháng 6, ông Nguyễn Đình Ngọc, người lái chiếc xe Com-măng-ca BKS BAA400 nhận lệnh của cấp trên: Chở một cán bộ cấp cao từ Hà Nội về thăm quê. Khi vị khách bước lên xe, ông mới ngỡ ngàng nhận ra: Bác Hồ.

Giờ đã ở cái tuổi xấp xỉ 100 nhưng cứ nhớ lại lần được chở Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê, cụ Ngọc vẫn thấy tự hào lắm.

Nhà cụ Ngọc ở phía sau Bến xe Vinh thuộc khối 4, phường Lê Lợi, TP Vinh, Nghệ An. Để vào được nhà cụ phải đi qua một đoạn đường đất, cỏ cây mọc lút hai bên. Tiếp chúng tôi là anh con trai út của cụ, Nguyễn Đình Hằng (sinh năm 1953). “Hơn 10 năm ni cha tui chẳng tự đi lại được vì bị tai nạn bể đôi đầu gối chân phải. Muốn đi mô lại phải đỡ thôi nhưng ông còn minh mẫn lắm”, anh Hằng mở đầu câu chuyện.

Cụ Ngọc ngồi bên cạnh, mái tóc đã bạc trắng, đôi mắt trõm sâu chỉ còn nhìn thấy mờ mờ nhưng đôi tai còn rất tinh tường. Cụ tiếp lời: “Lúc đó xe cộ đông lắm. Xe tui làm nhiệm vụ bảo vệ, còn xe chở Bác là xe khác. Nhưng Bác nỏ đi mà lại lên chiếc xe cọc cạch tui ngồi. Bác vận đồ rất giản dị. Cả hai lần Bác về thăm quê đều thế. Tui run và bất ngờ lắm vì trước đó nỏ ai thông báo là Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê mô”.

“Thế Bác có nói chuyện chi với cụ không?”. “Tui chỉ biết cầm chắc tay lái vì nghĩ có răng Bác mới lên xe mình. Lỡ có chuyện chi thì dở. Bác ngồi phía sau xe chẳng nói chi cả. Mà có hỏi tui mô mà nói”.

Cụ Nguyễn Đình Ngọc sinh năm 1909, quê gốc Thọ Hạc, Đông Sơn (nay là TP Thanh Hoá). Năm 1946 cụ vào Nghĩa Đàn (Nghệ An) tham gia kháng chiến. Năm 1954 làm lính lái xe chở hàng tiếp viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau đó lại được nhận nhiệm vụ chở đoàn Ấn Độ về thực hiện hiệp định Giơnevơ ở Việt Nam. Năm 1955, làm lái xe cho Tỉnh uỷ Nghệ An chuyên chở công văn, tài liệu hoả tốc đi khắp nơi.

Cụ Ngọc có 5 người con 3 trai, 2 gái. Năm 1980 một người con đã hy sinh. Hiện cụ đang ở với người con út.

Hồi tưởng lại ngày đáng nhớ, đó là ngày 12/6/1957. Trước đó, anh lính lái xe Nguyễn Đình Ngọc chỉ nghe về Bác Hồ qua những câu chuyện người khác kể, qua đài báo. Mong ước được gặp vĩ nhân ngỡ chẳng bao giờ thành hiện thực. Hôm đó lãnh đạo Tỉnh uỷ Nghệ An họp đột xuất và giao nhiệm vụ chuẩn bị đón Đoàn khách trung ương về, ngoài ra không tiết lộ thêm thông tin gì.

Sáng hôm sau, mọi người tập trung đông đủ tại sân bay Vinh đón khách. Bác Hồ giản dị trong bộ trang phục kaki cũ, bước xuống từ chiếc trực thăng trong sự ngỡ ngàng của mọi người. Vinh dự hơn, tự hào hơn cho ông Ngọc là chiếc xe Com-măng-ca ông lái lại được Bác chọn ngồi. Bỗng nhiên ông Ngọc thấy mình thật hãnh diện, xen lẫn cảm giác căng thẳng vì đảm trách một nhiệm vụ lớn lao.

Chiếc xe của ông Ngọc đưa Bác đi một số địa điểm trong TP Vinh rồi chở Bác Hồ về thăm quê nhà Kim Liên. “Cả đoạn đường về quê, muốn được nói chuyện với Bác, hỏi thăm sức khoẻ Bác nhưng sao chẳng nhích môi được, chỉ còn biết chăm chăm vào tay lái” – cụ Ngọc tiếc nuối.

Lần thứ hai, hạnh phúc lại đến với ông Ngọc khi lại được là người chở Bác về thăm quê ngày 8/12/1961. Nhớ lại lần đó, cụ Ngọc còn rưng rưng: “Lần đó Bác đã không còn khoẻ, tóc đã bạc nhiều. Bác căn dặn nhiều lắm… Không ngờ đó lại lần cuối cùng Bác về thăm nơi chôn rau cắt rốn”.

Sau những năm dài triền miên trên các nẻo đường, năm 1971 cụ Ngọc nghỉ hưu. Nhưng suốt gần 15 năm sau đó cụ vẫn không hề ngơi nghỉ vì UBND TP Vinh mời cụ tham gia làm Hội thẩm nhân dân. Nay đã ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng hàng ngày cụ Ngọc vẫn luôn nhắc nhở con cháu gìn giữ hàng chục giấy khen, bằng khen từ Uỷ ban kháng chiến, UBND tỉnh Nghệ An… như những báu vật.

Và có một ký ức cụ mãi mãi không bao giờ quên, đó là 2 lần cụ vinh dự được chở Bác Hồ kính yêu về thăm quê hương.

Đặng Nguyên Nghĩa
dantri.com.vn

Chuyện “bé Vách” hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ

22 tuổi được phong Anh hùng lao động, và hai năm sau trở thành đại biểu Quốc hội liên tiếp ba khóa III, IV, V. Tự hào hơn, “nữ Sơn Tinh” Phạm Thị Vách đã vinh dự hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ.

17 tuổi, cô đoàn viên Phạm Thị Vách (sinh năm 1940, tại xã Hùng Cường, Kim Động, Hưng Yên) đã nổi tiếng trong các phong trào thủy lợi “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, “nghiêng đồng đổ nước ra sông”.

Tuổi đôi mươi, Vách là kiện tướng thủy lợi. 22 tuổi được phong Anh hùng lao động, và hai năm sau trở thành đại biểu Quốc hội liên tiếp ba khóa III, IV, V. Tự hào hơn, “nữ Sơn Tinh” Phạm Thị Vách đã vinh dự hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ.

Tuổi gần thất thập nhưng nữ anh hùng Phạm Thị Vách vẫn nhanh nhẹn, khỏe mạnh, vẫn tinh anh phụ giúp con dâu bán hàng ngay tại nhà ở thị trấn Lương Bằng (huyện Kim Động). Nhớ lại chuyện 50 năm trước, người đàn bà nhỏ nhắn đưa tay vuốt hai khóe miệng thắm đỏ quết trầu, khoe hàm răng hạt na đen nhánh, chậm rãi kể…

Cuối năm 1958, khi về thăm đại công trường Bắc Hưng Hải, Bác Hồ nghe chuyện cô kiện tướng thủy lợi, đã gửi huy hiệu nhờ bí thư tỉnh ủy Hưng Yên tặng lại cho Vách…

Chỉ hơn một năm sau, năm 1960, Bác lại về thăm Hưng Yên và đích thân Người trao huy hiệu lần hai của mình cho Vách. “Tôi không thể nào quên được ngày hôm đó. Bác về Hưng Yên (khi đó luôn dẫn đầu miền Bắc về làm thủy lợi) dự Hội nghị tổng kết công tác thủy lợi toàn miền Bắc. Sau khi nghe báo cáo thành tích làm thủy lợi, Bác hỏi bí thư tỉnh ủy Lê Quí Quỳnh về những điển hình nữ có nhiều không.

Bí thư Quỳnh dẫn tôi lên, Bác cười tươi lắm, gọi tôi là “bé Vách”. Rồi Bác hỏi hội nghị: “Mọi người thấy thành tích của bé Vách có tốt không? Mọi người có đồng ý để Bác tặng bé Vách huy hiệu lần thứ hai không?”. Cả hội trường đều hô to “đồng ý ạ”. Không chỉ trực tiếp gắn huy hiệu trước hội nghị, lời dặn của Bác khi tặng huy hiệu cho bà làm bà nhớ mãi: “Cháu làm tốt rồi, học tập tốt rồi thì phải làm tốt hơn nữa, học tốt hơn nữa. Phải gần gũi lắng nghe quần chúng, học tập quần chúng để mà làm”.

Tuổi gần “thất thập” nhưng AHLĐ Phạm Thị Vách vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn và tinh anh.

Theo lời Bác, cô thôn nữ Phạm Thị Vách quyết đi học thêm. Học bổ túc cấp III xong, cô được bầu giữ chức chủ nhiệm HTX, rồi chủ tịch xã, bí thư đảng ủy xã khi tuổi mới chỉ ngoài đôi mươi. Vinh dự hơn, tháng 5/1962, Vách được bầu đi dự Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần 3 tại Hà Nội. Tại đây, một lần nữa “bé Vách” lại được gặp Bác Hồ. Đêm trước đại hội, Bác mời các đại biểu trẻ, đại biểu nữ đến Phủ Chủ tịch, “đãi” kẹo.

Thấy Vách rụt rè, Bác cười tươi: “Bé thế mà là anh hùng đấy, giỏi quá. Nhưng sao bé Vách không ăn kẹo đi, các cháu trai khác ăn mất phần bây giờ”. Rồi Bác ân cần hỏi chuyện chồng con của Vách. Vách trả lời: “Cháu đợi nước nhà thống nhất mới tính”. Bác cười bảo: “Cháu là con trai như mấy anh kia đâu mà đợi. Con gái có thì, lo làm, lo cho dân thì cũng phải lấy chồng chứ”.

Tại đại hội, với những thành tích đóng góp trong công tác thủy lợi, nhất là những sáng kiến và liên tục là “kiện tướng”, chiến sĩ thi đua bốn năm liền, Phạm Thị Vách đã được phong Anh hùng lao động – và chị là người duy nhất (lại là nữ) trong số hàng vạn người tham gia “đại công trường” thủy nông Bắc Hưng Hải được đón nhận vinh dự ấy khi mới tròn 22 tuổi. Cũng năm ấy, Vách được đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản.

Theo Đức Bình, Đình Tú
Tuổi Trẻ
dantri.com.vn

Những tấm ảnh của Bác Hồ lần đầu được công bố

Triển lãm tài liệu lưu trữ với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc” trưng bày hơn 300 tài liệu hình ảnh và hiện vật, trong đó có nhiều hình ảnh lần đầu được công bố.

Nhân kỷ niệm 117 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cục Văn thư và lưu trữ Nhà nước, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tổng cục Lưu trữ Nhà nước Trung Quốc đã phối hợp tổ chức triển lãm tài liệu lưu trữ với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh để giới thiệu với người xem quá trình hoạt động của Người.

Xin giới thiệu với bạn đọc một vài hình ảnh do Tổng cục Lưu trữ Trung Quốc cung cấp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đón Thủ tướng Chu Ân Lai đến thăm Việt Nam, tháng 5/1960

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Tây Giao, Bắc Kinh, mùa đông 1952

Đội viên TNTP Trung Quốc nhờ Bác Hồ chuyển thư tới các bạn nhỏ Việt Nam năm 1957.

Theo Phạm Yên
Tiền Phong
dantri.com.vn

Di chúc của Bác Hồ về quyền của trẻ em

(Dân trí) – Trong bản di chúc của mình, Bác Hồ 2 lần nhắc đến nhi đồng. Một lần ở đoạn mở đầu và một lần ở đoạn kết thúc. Bác viết: “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp 2 miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.

Ở đoạn kết thúc Bác lại viết: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng”.

Xưa nay, ở nước ta và ngay cả trên thế giới quả hiếm có vị lãnh tụ nào dành nhiều tình cảm, suy nghĩ và cả thời gian quý báu cho các cháu thiếu niên, nhi đồng như Bác Hồ, cho đến khi sắp từ biệt thế giới này Bác đã hai lần nhắc đến các cháu “Nhi đồng yêu quý của chúng ta”. Suốt một đời chăm lo những việc lớn của đất nước, Bác vẫn là người quan tâm hơn bất cứ ai đến việc chăm sóc con trẻ, đến việc trồng người. Tình yêu trẻ thơ của Bác không đơn giản chỉ là một tình cảm thông thường.

Đó là một tình cảm sâu sắc, rộng lớn xuất phát từ một chủ nghĩa nhân đạo cao cả với ý thức rõ rệt, là cháu sẽ là những người tiếp tục sự nghiệp của cha ông, những người trực tiếp xây dựng xã hội tương lai. Tình yêu đó, sự quan tâm đặc biệt đó còn bắt nguồn từ lý tưởng cao đẹp của Người: suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp vĩ đại: giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ở Người, quan điểm về bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đã sớm trở thành một bộ phận của tư tưởng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội văn minh, dân giàu, nước mạnh. Dân tộc không được giải phóng thì trẻ em không được bảo vệ, chăm sóc, không được hưởng các quyền lợi cơ bản của mình. Đất nước không được giàu mạnh thì trẻ em không được ấm no, hạnh phúc.

Thật hết sức xúc động khi đọc bài viết của Bác trước khi từ biệt thế giới này để gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, Bác viết: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ… Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.

Là một nhà giáo dục vĩ đại, Bác Hồ coi trọng việc giáo dục thế hệ trẻ không chỉ ở nội dung mà cả phương pháp dạy học và giáo dục. Nói chuyện với lớp cán bộ đào tạo mẫu giáo, Bác nhắc nhở: “…làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ như trồng cây non. Trông cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này cháu trở thành người tốt”. “Trong lúc học cẩn phải làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học…”

Về nội dung giáo dục ở các cấp học, Bác nhắc nhở nhiều lần: “Cần chú trọng hơn nữa về mặt đức dục; Dạy cho các cháu đạo đức cách mạng, biết yêu Tổ Quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, yêu lao động và người lao động, thật thà,dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động và bảo vệ Tổ Quốc”. Những điều Bác dạy về nhi đồng, về việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ toát lên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Thanh Hoàng
Tham khảo Các tư liệu về Hồ Chủ Tịch
cpv.org.vn

Đôi nét về văn phong báo chí của Bác

(Dân trí) – Sinh thời, Bác Hồ luôn viết báo để cổ động, tuyên truyền, giáo dục… gắn liền với hoạt động cách mạng của Người. Từ những ngày còn hoạt động ở nước ngoài, Bác đã viết rất nhiều bài báo với nhiều bút danh khác nhau.

Người viết cho báo ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước khác. Sau này, khi làm Chủ tịch nước, Bác vẫn viết đều đặn cho nhiều báo về nhiều đề tài. Văn phong báo chí của Bác giản dị, ngắn gọn, sâu sắc, thường pha chút hài hước nên rất dí dỏm và sinh động.

Có điều rất đặc biệt là, dù viết để “đánh địch” nhưng mục đích là cảnh tỉnh, giáo hoá, Bác bao giờ cũng giữ được tình lý phân minh, đúng mực, không có những lời thóa mạ, cay độc. Còn viết bài cho nhân dân lao động, bộ đội, thanh niên, thiếu nhi… thì Bác dùng câu văn dễ hiểu, dễ nhớ nhưng lý lẽ xác đáng đầy thuyết phục và tình cảm chân thành, thiết tha đi vào lòng người.

Mời cộng tác

Ban Biên tập báo KH&DT mời các bạn tham gia cộng tác với chuyên mục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Bài vở xin gửi về BBT báo KH&DT, số 2 Giảng Võ, Hà Nội.

Xin trân trọng cám ơn!

Đối với Người, báo chí là công cụ đoàn kết quốc tế, đoàn kết giai cấp công nhân, đoàn kết các dân tộc bị áp bức đấu tranh giải phóng, đoàn kết phong trào cộng sản thế giới. Mặt khác Người cũng đã dùng báo chí để đánh địch. Người viết về con người, sự việc thuộc “đối phương” ở nước ngoài thì rất nhạy bén về chính trị và cách sử dụng ngôn ngữ của Bác thể hiện rất rõ nét, bằng những chứng cứ và số liệu cụ thể để vạch trần tội ác của đế quốc.

Những bài báo Bác viết đăng các báo và tạp chí uy tín ở nước ngoài hiển thị nghệ thuật đánh địch bằng lời, nghệ thuật “đẩy bóng trả lại địch”, nghệ thuật lướt qua những vấn đề tế nhị mà vẫn giữ được nguyên tắc, đường lối, để “lấy gậy ông đập lưng ông”.

Còn những bài báo viết để đánh địch đăng ở trong nước, Bác đã sử dụng rất khéo về từ ngữ nhằm lột rõ bộ mặt thật của chủ nghĩa đế quốc, qua đó cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, cổ vũ ý chí giành thắng lợi cuối cùng bằng chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu và tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại. Không chỉ động viên, mà qua tác phẩm báo chí với văn phong trong sáng của mình, Bác Hồ đã giáo dục và uốn nắn những lệch lạc, yếu kém của các ngành, các địa phương.

Điều đặc biệt ở văn phong báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “tính quần chúng” được thế hiện rất đậm nét. Bác nói: Kinh nghiệm của tôi thế này. Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì, viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Sinh thời Bác luôn giáo dục các nhà báo đồng thời Người cũng yêu cầu khi nói, khi viết: Phải học cách nói quần chúng. Chớ nói như giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng…

Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng có thể hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm làm theo lời kêu gọi của mình. Chỉ thống kê trong 10 năm, từ 1955 đến 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện hơn 700 lượt đi xuống cơ sở, thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội từ miền xuôi đến miền ngược, từ biên giới đến hải đảo… Tính ra mỗi năm có hơn 70 lần Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có 6 lần Người gặp gỡ quần chúng. Con số đó nói rõ phong cách của một lãnh tụ suốt đời gắn bó với quần chúng.

Tư tưởng, quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc sử dụng ngôn ngữ báo chí được thể hiện bằng tình cảm, thái độ của Người đối với dân tộc. Người nói: Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Do đó trong khi viết, Bác rất chú trọng đặt câu và phát triển câu. Người yêu cầu văn phong phải giản dị, ngắn ngọn, rõ ràng, dễ hiểu, không cầu kỳ chữ nghĩa, bố cục chặt chẽ thể hiện ở từng từ, từng câu.

Từ năm 1951 – 1969, Bác đã viết l.205 bài báo với 23 bút danh khác nhau cho báo Nhân Dân và gần 300 bài cho báo chí nước ngoài, hiếm có nhà báo chuyên nghiệp nào viết đạt kỷ lục như vậy. Thế nhưng trong khi viết báo, Bác luôn luôn yêu cầu mọi người xung quanh Người đọc lại bản thảo xem có từ ngữ nào khó hiểu để Bác sửa lại cho trong sáng, từ ngữ giản đơn mà ý tứ sâu sắc.

Bác viết bài báo: ”Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đăng trên báo Nhân Dân số 5409 ra ngày 3/2/1969, bài báo này trước khi gửi đến Toà soạn Bác đã cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia ý kiến. Hiện nay, chúng ta đọc lại bài báo của Bác thấy câu chữ vô cùng sâu sắc, bố cục rất chặt chẽ, còn nguyên tính thời sự nóng hổi.

Thanh Tâm
(12B ngõ 8, đường 800A, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội)
cpv.org.vn